Tính cấp thiết của đề tài Kon Tum là tỉnh miền núi của vùng Tây Nguyên - vùng được đánh giá có tiềm năng phát triển nông nghiệp của cả nước, nhưng Kon Tum lại có tổng thu nhập nông nghi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Ninh Thị Thu Thủy
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Hồ Thái Quý
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Cấu trúc của luận văn 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 8
1.1 KHÁI QUÁT VỀ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 8
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của nông nghiệp 8
1.1.2 Khái niệm phát triển nông nghiệp 12
1.1.3 Vai trò của phát triển nông nghiệp 12
1.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 16 1.2.1 Huy động và sử dụng hiệu quả các yếu tố nguồn lực trong nông nghiệp 16
1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp hợp lý 18
1.2.3 Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp 19
1.2.4 Thâm canh trong nông nghiệp 20
1.2.5 Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm 22
1.2.6 Gia tăng kết quả và đóng góp của sản xuất nông nghiệp 23
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 24
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 24
1.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 24
1.3.3 Các chính sách phát triển nông nghiệp 26 1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CỦA MỘT SỐ ĐỊA
Trang 51.4.1 Kinh nghiệm của TP Đà Nẵng 28
1.4.2 Kinh nghiệm của huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN NGỌC HỒI, TỈNH KON TUM 33
2.1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN NGỌC HỒI 33
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 33
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 36
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN NGỌC HỒI TRONG THỜI GIAN QUA 39
2.2.1 Thực trạng huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp 39
2.2.2 Tình hình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp 42
2.2.3 Tình hình tổ chức sản xuất trong nông nghiệp 53
2.2.4 Tình hình thâm canh trong nông nghiệp 56
2.2.5 Thực trạng thị trường tiêu thụ sản phẩm 60
2.2.6 Đóng góp của sản xuất nông nghiệp cho phát triển KT- XH của huyện Ngọc Hồi 61
2.3 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN NGỌC HỒI 64
2.3.1 Những thành công 64
2.3.2 Những hạn chế 65
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 66
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN NGỌC HỒI 68
3.1 CĂN CỨ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 68
3.1.1 Một số dự báo 68
Trang 63.1.2 Quan điểm, định hướng phát triển nông nghiệp của huyện Ngọc
Hồi 71
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN NGỌC HỒI TRONG THỜI GIAN ĐẾN 73
3.2.1 Hoàn thiện qui hoạch phát triển nông nghiệp của huyện 73
3.2.2 Giải pháp huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp 76
3.2.3 Giải pháp chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp 78
3.2.4 Hoàn thiện các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp 79
3.2.5 Đẩy mạnh thâm canh trong nông nghiệp 81
3.2.6 Giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp 82
3.2.7 Giải pháp về hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp 84
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 86
3.3.1 Đối với tỉnh Kon Tum 86
3.3.2 Kiến nghị với nhà nước 86
KẾT LUẬN 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Hiện trạng sử dụng đất đến năm 2015 39
2.2 Số lao động trong các doanh nghiệp đang hoạt động
2.3 Số lao động trong các ngành kinh tế 41 2.4 Tình hình sử dụng vốn của các ngành kinh tế 42 2.5 Cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành kinh tế 43 2.6 Cơ cấu giá trị sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệp 45
2.7 Chuyển dịch cơ cấu lao động trong nội bộ ngành nông
Trang 8Số hiệu
2.18 Doanh nghiệp nông nghiệp huyện Ngọc Hồi 56
2.19 Năng suất các loại cây lâu năm và cây hằng năm phân
2.20 Sản lượng các loại gia súc và gia cầm chủ yếu 58
2.21 Diện tích nuôi trồng và năng suất các loại thủy sản chủ
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kon Tum là tỉnh miền núi của vùng Tây Nguyên - vùng được đánh giá
có tiềm năng phát triển nông nghiệp của cả nước, nhưng Kon Tum lại có tổng thu nhập nông nghiệp bình quân thấp nhất vùng Tây Nguyên do gặp phải rất nhiều khó khăn (bao gồm cả chủ quan và khách quan) như địa hình bị chia cắt, độ dốc lớn, dễ bị mất đất do xói mòn, rửa trôi, đất có khả năng nông nghiệp chỉ bằng 10% của toàn vùng, hơn ¼ diện tích đất bị thoái hóa cần được cải tạo, nguy cơ thiếu nước đe dọa, công tác nghiên cứu, đánh giá các giống cây trồng, vật nuôi bản địa chưa được tiến hành một cách đầy đủ, sản xuất nông nghiệp vùng sâu, vùng xa còn quảng canh, du canh; tình trạng bóc lột tài nguyên đất và trong lòng đất, rừng và động, thực vật rừng đã và đang làm lãng phí nguồn tài nguyên quý hiếm không thể tái tạo được,… Tuy nhiên, nhìn chung nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chủ đạo của tỉnh, trong những năm qua đã đóng vai trò tích cực trong việc đưa nền kinh tế của tỉnh phát triển, góp phần giải quyết việc làm cho khoảng 72% lao động, đóng góp cho tổng thu ngân sách của địa phương khoảng 45 %, giá trị xuất khẩu 70 - 75%; Đáp ứng cơ bản về lương thực, thực phẩm cho nhu cầu thiết yếu của nhân dân
và cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp địa phương phát triển
Huyện Ngọc Hồi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Kon Tum, nền kinh tế của huyện chủ yếu dựa vào nông nghiệp, nên thu nhập chính của người nông dân
là từ trồng trọt và chăn nuôi Huyện Ngọc Hồi có lao động trong nông nghiệp chiếm trên 80,9% trong tổng số lao động Nông nghiệp chiếm 35,1% trong tổng giá trị sản xuất của huyện nên nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Tuy nhiên, phát triển nông nghiệp của huyện còn manh mún, nhỏ lẻ, chưa đi đúng theo quy hoạch phát
Trang 10triển kinh tế xã hội của huyện, chưa phát huy được tối đa thế mạnh tiềm năng của huyện Dẫn đến đời sống của người dân còn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, giá trị sản xuất của nông nghiệp còn thấp
Do vậy, việc cần nguyên cứu và đưa ra các giải pháp có tính khoa học và thực tiễn cao nhằm đưa nông nghiệp huyện Ngọc Hồi phát triển là vấn đề vô
cùng cấp thiết Từ đó việc tác giả chọn đề tài: “Phát triển nông nghiệp
huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum” để làm luận văn, đóng góp một phần
những đòi hỏi thực tiễn về phát triển nông nghiệp nông thôn huyện Ngọc Hồi trong giai đoạn tới
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp, từ đó vận dụng vào điều kiện cụ thể của nông nghiệp huyện Ngọc Hồi
- Phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Ngọc Hồi giai đoạn
từ năm 2011 đến năm 2015
- Đề xuất những giải pháp thực hiện nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp của huyện Ngọc Hồi theo hướng bền vững trong giai đoạn tiếp theo
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp
+ Thời gian: Các số liệu sử dụng để nghiên cứu được cập nhật trong giai đoạn (2011-2015); các giải pháp có ý nghĩa đến năm 2025
Trang 114 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích thống kê,
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp so sánh và các phương pháp khác
Các phương pháp này được sử dụng trong việc phân tích, đánh giá và so sánh giữa nghiên cứu lý luận và thực tiễn địa phương để đề ra phương hướng giải quyết phát triển nông nghiệp huyện Ngọc Hồi
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp
- Chương 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp tại huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum
- Chương 3: Giải pháp phát triển nông nghiệp huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
- PGS.TS Vũ Đình Thắng (2006), giáo trình “ Kinh tế nông nghiệp” đã cung cấp những nội dung sau: Nhập môn kinh tế nông nghiệp, hệ thống kinh
tế nông nghiệp Việt Nam, những cơ sở lý thuyết về kinh tế học nông nghiệp, kinh tế sử dụng các yếu tố nguồn lực nông nghiệp
- GS.TS Nguyễn Trần Trọng (2012), bài viết “Phát triển nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011-2020” đề cập: Để phát triển nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xu thế hội nhập quốc
tế ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, trước tiên đòi hỏi phải đổi mới cách tiếp cận với nông nghiệp theo những góc độ: góc độ thị trường; góc độ công nghiệp; góc độ môi sinh và thực hiện theo những định hướng chủ yếu: Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hoá theo hướng kinh tế thị trường hiện đại trong các đơn vị, ngành, vùng đã hình thành Tiếp tục đẩy
Trang 12mạnh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng năng suất ruộng đất, đồng thời chú ý tới tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất trên một đơn
vị nông sản Hoàn thiện cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển toàn diện trên cơ sở chuyên môn hóa, tập trung hóa trong từng ngành, từng vùng sản xuất nông nghiệp nhằm sử dụng hiệu quả lợi thế so sánh của nông
nghiệp Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước
-GS.TS Võ Xuân Tiến (2015), bài viết “Đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp Việt Nam” đề cập nền kinh tế nước ta đang trong quá trình tái cơ cấu Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, cơ bản và là trụ đỡ cho nền kinh tế, không thể đứng ngoài quá trình đó và đề ra giải pháp để đẩy mạnh quá trình này một cách hiệu quả nhằm giúp nông nghiệp, nông dân phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng cũng như cả nền nông nghiệp và đáp ứng tốt hơn yêu cầu thị trường
-PGS.TS Bùi Quang Bình (2007), bài viết “ Nâng cao trình độ học vấn của đồng bào dân tộc thiểu số và phát triển kinh tế của tỉnh Kon Tum”
đề cập học vấn là nguốn vốn vô hình giúp người lao động nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống và phát triển kinh tế địa phương Đồng bào dân tộc thiểu số ở Kon Tum có trình độ học vấn thấp dẫn tới thu nhập thấp và hạn chế sự phát triên kinh tế xã hội tỉnh Kon Tum Vì vậy để phát triển kinh tế xã hội tỉnh Kon Tum cần phải nâng cao trình độ học vấn cho đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với tình hình thực tế khách quan của địa phương
-GS.TS Đỗ Kim Chung, PGS.TS Kim Thị Dung (2015), bài viết “Nông nghiệp Việt Nam hướng tới phát triển bền vững” đề cập nông nghiệp vẫn chưa thật sự phát triển bền vững: khả năng cạnh tranh của một số sản phẩm nông sản chưa cao, thị trường tiêu thụ thiếu ổn định, chưa hình thành có hiệu quả chuỗi giá trị nông sản, thu nhập của cư dân nông thôn thấp; và chỉ ra
Trang 13hướng tới sự phát triển bền vững, giải pháp cho phát triển nông nghiệp nước
ta đang là câu hỏi lớn đặt ra cho các nhà nghiên cứu lý luận, hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn
- PGS.TS Vũ Đình Hòe (2008), bài viết "Tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến sự phát triển nền nông nghiệp của Việt Nam hiện nay" đề cập Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần quan trọng vào
sự phát triển nông nghiệp Việt Nam; qua đó nêu ra những giải pháp chủ yếu để nâng cao khả năng cạnh tranh của nền nông nghiệp Việt Nam như: thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, kinh tế nông thôn theo hướng tăng dần tỷ trọng chăn nuôi, sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến để nâng cao giá trị gia tăng của các mặt hàng nông sản Hình thành các vùng sản xuất hàng hoá lớn, giá trị gia tăng cao, đặc biệt là các mặt hàng có lợi thế Tăng cường đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn để đưa nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
GS.TS Võ Tòng Xuân (2009), bài viết “Nông dân và nông nghiệp Việt Nam nhìn từ sản xuất thị trường” có những đề xuất để đưa nông nghiệp nước
ta tăng trưởng nhanh và hiện đại hơn các nước trong khu vực với giải pháp để người trồng lúa có lãi, nâng cao thu nhập, ổn định được cuộc sống, đồng thời đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Từ đó, dưới góc độ nhìn từ sản xuất vấn đề đặt ra với ngành nông nghiệp và cả người nông dân cũng cần đổi mới
để tăng tính cạnh tranh
- Tác giả Vũ Trọng Bình (2013), bài viết “Phát triển nông nghiệp bền vững- Lý luận và thực tiễn” đề cập khái niệm phát triển nông nghiệp bền vững, các tiếp cận chiến lược trong phát triển nông nghiệp bền vững, và trình bày tóm tắt một số chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững của một số quốc gia cũng như thực tiễn phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam
Trang 14-ThS Nguyễn Thị Phương Thảo (2016), bài viết “Vai trò của công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn đối với phát triển kinh tế - xã hội nước ta hiện nay ” đề cập công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn có tầm quan trọng đặc biệt đối với phát triển kinh tế - xã hội, đó là con đường tất yếu phải tiến hành đối với bất cứ nước nào, nhất là những nước có điểm xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, muốn xây dựng nền kinh tế phát triển hiện đại
- Tác giả Nguyễn Bá Cầu (2011), luận văn Thạc sĩ kinh tế “ Phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Sa Thầy , tỉnh Kon Tum” đề cập đến các gải pháp phát triển nông nghiệp ở huyện Sa Thầy bằng các giải pháp chuyển dịch cơ cấu cây trồng, dựa vào thế mạnh của địa phương Khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương về quỹ đất, thủy năng, tài nguyên rừng, khoáng sản đồng thời đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Tranh thủ và phát huy mọi nguồn lực cho đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng như cơ sở hạ tầng xã hội nhằm tạo đồng lực cho phát triển nông nghiệp - nông thôn
-Tác giả Ian Coxhead - Vũ Thị Thảo (2010), báo cáo nghiên cứu: “ Được mùa: Những lựa chọn chiến lược để phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam” Báo cáo nghiên cứu thuộc Dự án 00050577 do UNDP tài trợ về “Hỗ trợ xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011-2020” Cơ quan thực hiện Dự án là Viện Chiến lược phát triển (Viện CLPT) của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Bộ KH &ĐT) Báo cáo đề cập đến những vấn đề về hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn Báo cáo đã nghiên cứu phân tích kinh nghiệm và thông lệ quốc tế trong việc (i) thúc đẩy tăng năng suất và khả năng cạnh tranh của ngành nông nghiệp; (ii) kích thích phát triển kinh tế nông thôn; và (iii) đưa ra những kiến nghị cụ thể về những biện pháp thúc đẩy phát triển nông nghiệp và
Trang 15nông thôn trong giai đoạn đến năm 2020
Tuy nhiên, trên góc độ tổng kết và hệ thống hóa các vấn đề của Phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Ngọc Hồi hiện nay vẫn chưa có công trình nào nguyên cứu toàn diện hoàn chỉnh Vì vậy, tác giả đã kế thừa và chọn lọc những công trình đã nghiên cứu ở trên và các nghiên cứu khác để thực hiện đề tài này
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
1.1.KHÁI QUÁT VỀ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1.1.1.Khái niệm, đặc điểm, vai trò của nông nghiệp
a Khái niệm nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế
Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm tất cả những ngành sản xuất có đối tượng tác động là những cây trồng, vật nuôi gắn liền tất yếu với tựnhiên;
có thời gian sản xuất bằng với thời gian lao động cộng với thời gian phát triển của cây trồng vật nuôi dưới sự tác động của điều kiện tự nhiên
Nông nghiệp theo nghĩa hẹp ngành nông nghiệp gồm hai lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi
Trồng trọt là ngành sử dụng đất đai và cây trồng làm nguyên liệu chính để sản xuất ra lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho chế biến Chăn nuôi với các đối tượng sản xuất là các loại động vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người như thịt, trứng, sữa và những mặt hàng khác.[16]
b Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có đó là:
- Sản xuất nông nghiệp được thực hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt Đặc biệt ở đâu
có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp
- Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu
Trang 17sản xuất chủ yếu không thể thay thế được Trong công nghiệp, giao thông v.v đất đai là cơ sở làm nền móng, trên đó xây dựng các nhà máy, công xưởng, hệ thống đường giao thông v.v để con người điều khiến các máy móc, các phương tiện vận tải hoạt động
- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống - cây trồng và vật nuôi Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong)
- Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao Đó là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt quá trình sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế xoắn xuýt với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xoá bỏ được, trong quá trình sản xuất chỉ tìm cách hạn chế nó
c Vai trò của sản xuất nông nghiệp
Trong nền kinh tế quốc dân vai trò của ngành nông nghiệp vô cùng quan trọng Ngành nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học – kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học – cây trồng, vật nuôi
- Sản xuất nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội + Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển Ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông Tuy nhiên ở những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản cuả các nước này khá lớn và không ngừng tăng, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống cho con người những
Trang 18sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm Lương thực thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước
+ Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng
cả về số lượng, chất lượng và chủng loại Điều đó do tác động của các nhân tố: sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con người
+ Thực tiễn lịch sử các nước trên thế giới đã chứng minh, chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã có an ninh lương thực Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển, từ đó sẽ làm cho các nhà kinh doanh không yên tâm bỏ vốn vào đầu tư dài hạn
- Sản xuất nông nghiệp cung cấp yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và khu vực đô thị
+ Nông nghiệp của các nước đang phát triển là khu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị
+ Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường…
+ Khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, bởi
vì đây là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản… trong đó thuế có vị trí rất quan trọng
- Làm thị trường tiêu thụ các sảm phẩm của công nghiệp và dịch vụ
Trang 19Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm của nông nghiệp và có thể cạnh tranh với thị trường thế giới
- Sản xuất nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu
Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn Các loại nông, lâm thủy sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hóa công nghiệp Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để
có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm, thủy sản Tuy nhiên xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản thường bất lợi do giá cả trên thị trường thế giới có xu hướng giảm xuống, trong lúc đó giá cả sản phẩm công nghiệp tăng lên, tỷ giá kéo khoảng cách giữa hàng nông nghiệp và hàng công nghệ ngày càng mở rộng làm cho nông nghiệp, nông thôn bị thua thiệt so với công nghiệp và đô thị.Gần đây một số nước đa dạng hoá sản xuất và xuất khẩu nhiều loại nông lâm thuỷ sản, nhằm đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước
- Sản xuất nông nghiệp có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môi trường tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, thủy văn Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất như phân bón hoá học, thuốc trừ sâu bệnh … làm ô nhiễm đất
và nguồn nước Quá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng… vì thế trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp để
Trang 20duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường
1.1.2 Khái niệm phát triển nông nghiệp
Phát triển được hiểu là một quá trình lớn lên, tăng tiến mọi lĩnh vực Bất
cứ trong lĩnh vực nào, sự phát triển đều thỏa mãn các thành tố như: sự tăng lên về cả chất và lượng; sự thay đổi về cơ cấu, thể chế, chủng loại, tổ chức; sự thay đổi về thị trường; và giữ công bằng xã hội, an ninh, trật tự (Fajardo, 1999)
- Phát triển kinh tế: là quá trình tăng trưởng về mọi mặt của nền kinh tế gồm gia tăng sản lượng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống
- Phát triển nông nghiệp: là quá trình vận động tăng trưởng của sản xuất nông nghiệp gắn với chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp hợp lý nhằm chuyển đổi nền nông nghiệp theo hướng nông nghiệp hiện đại, có hiệu quả kinh tế cao đáp ứng được nhu cầu của thị trường và xã hội
Như vậy, phát triển nông nghiệp với tư cách là ngành kinh tế được hiểu
là việc gia tăng mức độ đóng góp về giá trị sản lượng và sản lượng hàng hoá nông sản của ngành nông nghiệp cho nền kinh tế, đồng thời phát huy vai trò của nó trong việc thúc đẩy tăng trưởng, giải quyết việc làm ở khu vực nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại gắn với yêu cầu bền vững
1.1.3 Vai trò của phát triển nông nghiệp
a Phát triển nông nghiệp tạo cơ sở và động lực cho quá trình CNH, HĐH đất nước
Nông nghiệp và công nghiệp là hai ngành có mối quan hệ mật thiết với nhau, là tiền đề, điều kiện và động lực của nhau Trên cơ sở kinh nghiệm của thế giới và thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính, nếu không phát triển nông nghiệp thì không có cơ sở phát
Trang 21triển công nghiệp và tiêu thụ hàng hóa của công nghiệp làm ra”
Việt Nam xây dựng đường lối và triển khai đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước có hiệu quả Trong đó lấy nông nghiệp làm cơ sở, động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững Có thể thấy vai trò cơ sở, động lực của sự phát triển nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH trên các mặt sau:
Một là, phát triển nông nghiệp hàng hóa tạo nguồn vốn tích lũy cho quá trình CNH, HĐH Để CNH, HĐH đi đến thành công cần phải có những điều kiện nhất định, trong đó vốn là điều kiện quan trọng số một Vốn ở nước ta bao gồm vốn trong nước và vốn nước ngoài, trong đó vốn trong nước được Đảng ta xác định là nguồn vốn quyết định, tức là nội lực của chúng ta Nội lực
đó trước hết là đi từ nông nghiệp, nằm trong nông nghiệp Nguồn vốn tích lũy cho CNH, HĐH có thể bằng nhiều con đường khác nhau Một phần thông qua thuế nông nghiệp trực tiếp đóng vào ngân sách Phần khác từ việc cung cấp nguyên vật liệu cho công nghiệp chế biến và phần chủ yếu là thông qua việc xuất khẩu nông sản để nhập vật tư, thiết bị kỹ thuật, công nghệ cho công nghiệp và dịch vụ Nguồn vốn đó tuy không lớn nhưng là nguồn tích lũy ổn định, có ý nghĩa rất quan trọng trong bước đi ban đầu của CNH, HĐH, nhất là đối với những tỉnh, những huyện thuần nông Khi nông nghiệp càng phát triển, nông sản hàng hóa xuất khẩu ngày càng nhiều, kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng, khả năng tích lũy cho CNH, HĐH ngày càng lớn
Hai là, phát triển nông nghiệp là nguồn cung cấp nhân lực cho quá trình CNH, HĐH Quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH là quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế và theo đó để chuyển dịch cơ cấu lao động Đặc biệt trong giai đoạn đầu của sự nghiệp CNH, HĐH, phần lớn các dân cư sống ở nông thôn và bằng nghề nông Vì vậy, nhân lực nông nghiệp nông thôn thực sự là nguồn nhân lực thực tế và tiềm năng dự trữ dồi dào cho công nghiệp và đô thị Nguồn nhân lực từ nông nghiệp cho quá trình CNH, HĐH, một mặt bổ sung cho khu
Trang 22vực thành thị (đặc biệt là những thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh) và các tỉnh có vốn đầu tư nước ngoài Mặt khác, về lâu dài nó được thu hút vào công nghiệp và dịch vụ phi nông nghiệp ngay trên địa bàn nông thôn, phát triển thị trường nông thôn để người lao động “rời ruộng nhưng không rời làng”, “nhập xưởng nhưng không nhập thành”, giảm sức ép việc làm đối với các đô thị Do vậy, muốn đẩy nhanh CNH, HĐH thì trước hết phải đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp
Ba là, phát triển nông nghiệp là thị trường quan trọng cho công nghiệp
và dịch vụ Công nghiệp và dịch vụ muốn duy trì và phát triển thì phải có thị trường tiêu thụ Thị trường tiêu thụ ở đây, một phần là do nó tự tạo ra trong quá trình phát triển, nhưng phần quan trọng là phụ thuộc vào sự phát triển của các ngành kinh tế, các lĩnh vực hoạt động khác của nền kinh tế quốc dân Ở hầu hết các nước đang phát triển nói chung và ở nước ta nói riêng, trong điều kiện hiện nay với sức mua và sức trang bị các sản phẩm công nghiệp và dịch
vụ còn thấp thì NN, NT là thị trường rộng lớn Sự thay đổi về nhu cầu trong khu vực này sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp Vì vậy, tăng sức mua của nông dân và dân cư nông thôn có vai trò quan trọng, đôi khi là quyết định đối với quy mô và tốc độ phát triển của công nghiệp và dịch vụ
Vậy, phải phát triển mạnh mẽ nông nghiệp và nông thôn, làm cho nó trở thành thị trường rộng lớn trong việc tiêu thụ sản phẩm công nghiệp và dịch
vụ Đồng thời, Nhà nước cần phải có chính sách thích hợp để làm tăng thu nhập cho nông dân, thức hiện tốt các giải pháp kích cầu đối với khu vực này
b Phát triển nông nghiệp tạo nên sự biến đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn
Phát triển nông nghiệp thúc đẩy quá trình chuyển biến nền kinh tế nước
ta từ chỗ mang nặng tính tự cung, tự cấp và cơ cấu sản xuất đơn điệu thành
Trang 23một nền kinh tế nhiều thành phần và cơ cấu sản xuất kinh doanh đa dạng, bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi với công nghiệp chế biến Nông nghiệp phát triển, tất yếu thúc đẩy ngành dịch vụ và các ngành phi nông nghiệp ở nông thôn phát triển Đó cũng là điều kiện cơ bản để tiến hành phân công lao động
và hình thành cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý ở nông thôn, thúc đẩy nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển
Phát triển nông nghiệp tạo nên sự biến đổi to lớn về mặt xã hội trong nông thôn Cụ thể giải quyết việc làm cho lao động dư thừa, tăng thu nhập, cải thiện nâng cao đời sống vật chất và do đó đời sống tinh thần dân cư nông thôn cũng thay đổi, trình độ được nâng lên và làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm phong tục tập quán lạc hậu đã từng ăn sâu từ đời này qua đời khác Khơi dậy tính năng động sáng tạo của người dân, thích ứng với sự biến đổi của cơ chế thị trường, phát triển hợp tác mối quan hệ giữa các vùng, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa giữa thành thị với nông thôn Tuy nhiên, nền nông nghiệp ở nước ta mới phát triển ở giai đoạn đầu, lại đang ở trình độ thấp Vì thế, những năm qua dưới tác động của cơ chế thị trường, sự vận động của nó cũng bộc lộ nhiều khuyết tật như: phân hóa giàu nghèo, tình trạng thiếu việc làm, tệ nạn
xã hội có xu hướng gia tăng và nạn ô nhiễm môi trường sinh thái trở nên nghiêm trọng Mặt khác, nạn chặt phá rừng, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên bừa bãi làm mất cân bằng sinh thái Do đó cần phải phát triển nông nghiệp bền vững Muốn làm được điều đó, Đảng và Nhà nước cần có những chính sách và giải pháp đồng bộ nhằm hạn chế mặt trái của cơ chế thị trường, nhất là khi người nông dân và xã hội nông thôn mới chỉ đi bước đầu tiên vào nền kinh tế thị trường
Như vậy, phát triển nông nghiệp, cho thấy sự biến đổi về mặt kinh tế - xã hội và sự biến đổi ấy là tất yếu khách quan, song điều quan trọng hơn là cần phải quan tâm chất lượng của sự biến đổi ấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
Trang 24“Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp Nền kinh tế của ta là lấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn Nông dân ta giàu th́ nước
ta giàu, nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”
1.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1.2.1 Huy động và sử dụng hiệu quả các yếu tố nguồn lực trong nông nghiệp
Các yếu tố nguồn lực trong nông nghiệp bao gồm: đất đai, lao động, vốn, tiến bộ khoa học - công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật là những tài nguyên quý hiếm và có hạn Những đặc điểm của các yếu tố nguồn lực sử dụng vào nông nghiệp gắn liền với những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
- Đất đai: là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, khác với các tư
liệu sản xuất khác ở chỗ: số lượng diện tích ruộng đất có hạn nhưng sức sản xuất của ruộng đất không bị giới hạn, có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều, không bị hao mòn và đào thải khỏi quá trình sản xuất, nếu sử dụng hợp lý thì chất lượng ruộng đất được nâng lên Vì vậy cần phải đầu tư thêm vốn và lao động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, nếu sử dụng hợp lý thì ruộng đất có chất lượng ngày càng tốt hơn, cho nhiều sản phẩm trên một đơn vị diện tích canh tác
Đất đai được sử dụng trong nông nghiệp tăng lên theo hướng tập trung
và theo yêu cầu phát triển của sản xuất hàng hóa và phát triển nông nghiệp Tập trung ruộng đất là việc sáp nhập hoặc hợp nhất ruộng đất của những chủ
sở hữu khác nhau vào một chủ sở hữu hoặc hình thành một chủ sở hữu mới có quy mô ruộng đất lớn hơn vậy phải đầu tư thêm vốn và lao động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, nếu sử dụng hợp lý thì ruộng đất có chất lượng ngày càng tốt hơn, cho nhiều sản phẩm trên một đơn vị diện tích canh tác
Trang 25- Lao động trong nông nghiệp: Lao động là yếu tố đặc biệt quan trọng
của quá trình sản xuất Mọi hoạt động sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất là người lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động, do đó lao động quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Về số lượng, lao động trong nông nghiệp gồm những người trong độ tuổi, những người trên và dưới độ tuổi tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp
Chất lượng lao động gồm thể lực, trí lực, trình độ nhận thức, trình độ chính trị, trình độ văn hóa, nghiệp vụ, tay nghề Để nâng cao chất lượng lao động cần nâng cao trình độ văn hóa, kỹ thuật và nghiệp vụ của người lao động, cần phải có cải cách hệ thống giáo dục đào tạo phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và thị trường lao động Lao động trong nông nghiệp có đặc điểm riêng, trước hết mang tính thời vụ cao là nét đặc thù điển hình, là thứ lao động tất yếu, xu hướng có tính quy luật là không ngừng giảm về số lượng lao động tuyệt đối và tương đối và được chuyển sang các ngành khác
- Vốn trong sản xuất nông nghiệp:Vốn trong nông nghiệp biểu hiện
bằng tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động bao gồm những tư liệu sản xuất như máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật, v.v được sử dụng vào quá trình sản xuất nông nghiệp Theo Solow, khi tăng mức trang bị vốn trên 1 lao động sẽ làm tăng năng suất và tăng sản lượng, do
đó các biện pháp tạo vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ thúc đẩy nông nghiệp phát triển Tuy nhiên trong thực tế việc tăng thêm sản lượng hàng hóa còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa chẳng hạn chất lượng lao động, trình
độ kỹ thuật Có nhiều biện pháp tạo vốn và sử dụng có hiệu quả của vốn sản xuất trong nông nghiệp
Trang 26- Khoa học công nghệ: Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụng
trong sản xuất đã giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho người lao động và tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế
- xã hội Trong nông nghiệp, đó là tập hợp các phương thức và các biện pháp
kỹ thuật thâm canh, sử dụng hợp lý phân bón, công nghệ nuôi dưỡng, chăm sóc, chế biến, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm ngày càng hoàn thiện và từng bước phát triển Nhờ những kiến thức về nông học đã chuyển giao và áp dụng kỹ thuật công nghệ mới trong quá trình sản xuất, chế biến đã làm cho nông nghiệp ngày càng phát triển, mang đến sự thay đổi năng suất lao động và chất
lượng sản phẩm
Tiêu chí đánh giá gia tăng các yếu tố nguồn lực:
- Diện tích đất sản xuất nông nghiệp và tỷ lệ gia tăng diện tích đất nông nghiệp qua các năm
- Lao động trong nông nghiệp và tỷ lệ gia tăng lao động nông nghiệp qua các năm
- Vốn đầu tư trong nông nghiệp và tỷ lệ gia tăng vốn đầu tư qua các năm
- Số lượng và giá trị cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp
Tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố nguồn lực:
- Năng suất đất nông nghiệp
- Sản lượng, thu nhập của lao động nông nghiệp/ năm (hoặc 1ha)
- Giá trị sản xuất/vốn đầu tư trong nông nghiệp
1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp hợp lý
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với yêu cầu của thị trường, điều kiện tự nhiên và sự phát triển của nền kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp là do yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Mục tiêu chuyển dịch
Trang 27cơ cấu sản xuất là phải hướng tới một cơ cấu hợp lý, khai thác hiệu quả các yếu tố nguồn lực để tạo ra sự gia tăng trong năng suất, thu nhập Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào các nhân tố: điều kiện
tự nhiên, nhân tố kinh tế - xã hội như thị trường, hệ thống chính sách kinh tế
vĩ mô của Nhà nước, cơ sở hạ tầng do đó cần phát triển các ngành chủ lực
có nhiều lợi thế để đáp ứng yêu cầu trong nước và xuất khẩu
Chuyển dịch cơ cấu SXNN được biểu hiện bởi các tiêu chí:
- Sự thay đổi tỷ trọng giá trị sản xuất trong ngành nông nghiệp: Nông nghiệp- lâm nghiệp – thủy sản; trồng trọt – chăn nuôi – dịch vụ nông nghiệp
- Sự thay đổi tỷ trọng giá trị sản xuất trong nội bộ từng ngành
- Sự thay đổi tỷ trọng lao động trong nông nghiêp
- Sự thay đổi tỷ trọng các thành phần kinh tế trong nông nghiệp…
1.2.3 Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp
a.Kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) và mục đích của loạt hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình (không phải mục đích chính là sản xuất hàng hoá để bán) Tuy nhiên cũng cần có sự chú ý
ở đây là các hộ gia đình cũng có thể sản xuất để trao đổi nhưng ở mức độ hạn chế Có một thực tế cần có sự phân biệt rõ ràng giữa kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại
b.Kinh tế trang trại
Kinh tế trại là khái niệm rộng hơn, là tổng thể các yếu tố bao gồm cả kinh tế, xã hội và môi trường Theo Nghị quyết 03/2000/NQ-CP, ngày
2/2/2000 của Chính phủ: “ Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất
hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm
mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt,
Trang 28chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn với chế biến và tiêu thụ ”
c Hợp tác xã
Theo Điều 3 Luật Hợp tác xã số 23/2012/QH13 của Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ Nghĩa Việt Nam “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng
sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã” Khi hợp tác xã
phát triển đến trình độ cao thì sẽ hình thành các doanh nghiệp của hợp tác xã hoạt động theo luật doanh nghiệp
d Doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp
Doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp là doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp và hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì doanh nghiệp bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty cổ phần
Tiêu chí đánh giá sự phát triển của các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp:
- Số lượng các cơ sở sản xuất nông nghiệp theo các năm,
- Tỷ trọng số cơ sở sản xuất nông nghiệp
1.2.4 Thâm canh trong nông nghiệp
Thâm canh nông nghiệp được đặc trưng bằng hệ thống các nhân tố và biện pháp, phản ánh sự tổng hợp và những mối quan hệ tác động qua lại của chúng Vì vậy để đo lường trình độ và hiệu quả kinh tế của thâm canh, hệ thống chỉ tiêu đảm bảo sự so sánh một cách khoa học về chi phí và kết quả trong quá trình thực hiện thâm canh nông nghiệp
Trang 29- Tổng số vốn cố định trên đơn vị diện tích Nó biểu hiện dưới hình thức máy móc, công cụ, các phương tiện giao thông, cây lâu năm, súc vật cày kéo
và sinh sản có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc tăng sản phẩm trên đơn
vị diện tích và hạ thấp chi phí sản xuất Chỉ tiêu này có ý nghĩa trực tiếp đến việc nâng cao vốn trang bị lao động, nâng cao năng suất lao động sống và hiệu quả sản xuất
- Giá trị công cụ máy móc trên đơn vị diện tích Là bộ phận cấu thành trong vốn cố định, máy móc có tác động trực tiếp đến việc hạ thấp chi phí lao động trên đơn vị diện tích, đồng thời có ảnh hưởng gián tiếp đến việc tăng khối lượng sản phẩm, thông qua việc tạo điều kiện để thực hiện các biện pháp kỹ thuật nông học trong thời hạn thuận lợi nhất cho sự phát triển của cây trồng
- Số lượng phân hữu cơ và phân hóa học nguyên chất trên đơn vị diện tích.Số lượng, chất lượng và cơ cấu các loại phân bón (bao gồm cả hữu cơ và
vô cơ) có ý nghĩa trực tiếp để nâng cao khả năng sản xuất của ruộng đất và cây trồng, trên cơ sở đó để tăng sản phẩm trên đơn vị diện tích
- Cơ cấu giống tốt trong ngành trồng trọt và chăn nuôi áp dụng giống tốt
có năng suất cao là một trong những biện pháp có hiệu quả thâm canh nông nghiệp, không chỉ làm tăng năng suất cây trồng và sản phẩm gia súc, mà còn tiết kiệm được chi phí sản xuất, tăng thu nhập
Tiêu chí đánh giá trình độ thâm canh trong nông nghiệp cụ thể như sau:
- Mức đầu tư trên đơn vị diện tích đất nông nghiệp và trên lao động nông nghiệp
- Diện tích đất trồng trọt được tưới tiêu bằng hệ thống thủy lợi
- Số lượng máy kéo trên 100 hộ nông dân, trên 100 ha đất nông nghiệp
- Tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch của mỗi loại sản phẩm
- Năng suất cây trồng, con vật nuôi
Trang 30- Năng suất lao động xã hội của ngành nông nghiệp
Thị trường tiêu thụ nông sản thường phụ thuộc vào mối quan hệ cung cầu về nông sản Cung cầu nông sản có vai trò thúc đẩy sản xuất và góp phần chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp Cung cầu tạo ra cơ chế hình thành giá cả nông sản và thúc đẩy việc mua bán nông sản phù hợp với các quy luật của thị trường Cầu về nông sản là cầu cho tiêu dùng trực tiếp, cầu cho chế biến và cầu cho sản xuất trực tiếp nông nghiệp Cung về nông sản không những đáp ứng nhu cầu cho tiêu dùng, cho xuất khẩu mà còn cho dự trữ Khi tiếp cận sản xuất nông nghiệp theo cung hay theo cầu đều đem lại những kiếm khuyết bởi sự liên kết giữa sản xuất của người nông dân và thị trường luôn có khoảng cách lớn Để đảm bảo cân đối giữa cung và cầu trong sản xuất nông nghiệp, phải phát triển các ngành hàng nông sản làm cầu nối giữa nông dân và thị trường, giảm được những tổn thất mà nông dân phải gánh chịu do sự biến động giá cả nông sản theo vụ mùa
Tiêu chí đánh giá thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp:
- Số lượng thị trường tiêu thụ nông sản
- Kênh phân phối sản phẩm nông sản
Trang 31- Thị phần sản phẩm nông nghiệp trên các thị trường tiêu thụ
1.2.6 Gia tăng kết quả và đóng góp của sản xuất nông nghiệp
Số lượng sản phẩm, giá trị sản phẩm, giá trị sản xuất của nông nghiệp đạt được trong một chu kỳ nhất định được gọi chung là kết quả của sản xuất nông nghiệp Để đạt được kết quả sản xuất nông nghiệp cao nhất cần phối hợp các nguồn lực, các yếu tố sản xuất hiệu quả nhất Khi kết quả sản xuất nông nghiệp gia tăng sẽ nâng cao tích lũy, từ đó nâng cao đời sống của người dân Như vậy, nền nông nghiệp phát triển phải bảo đảm được mục đích là kiến tạo một hệ thống bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường
Về kinh tế, sản xuất nông nghiệp phải đạt hiệu quả cao, làm ra nhiều sản phẩm, không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, thức ăn chăn nuôi, dự trữ lương thực mà còn xuất khẩu ra thị trường quốc tế Về xã hội, một nền nông nghiệp bền vững phải đảm bảo cho người nông dân có đầy đủ công ăn việc làm, có thu nhập ổn định, xóa đói giảm nghèo, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng cao
Kết quả sản xuất nông nghiệp được đánh giá qua các tiêu chí sau:
- Sản lượng nông sản hàng hóa và giá trị sản lượng nông sản hàng hóa
- Mức tăng và tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp
Đóng góp của sản xuất nông nghiệp được phản ánh bằng các chỉ tiêu:
- Tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp cho kinh tế của địa phương: Tỷ trọng GTSX nông nghiệp/Tổng GTSX của địa phương
- Thu nhập của người lao động qua các năm và mức tăng, tốc độ tăng thu nhập của người lao động
- Giải quyết việc làm cho người lao động
- Mức đóng góp cho của nông nghiệp cho ngân sách nhà nước
Trang 321.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên chính là cơ sở tự nhiên của phân công lao động xã hội trong nông nghiệp Mặc dù ngày nay phát triển nông nghiệp còn tùy thuộc vào nhiều yếu khác như khoa học, công nghệ, con người có thể ít nhiều “nhân tạo hóa” các yếu tố tự nhiên, nhưng về cơ bản vẫn phải dựa vào tự nhiên (vị
trí địa lý, đất đai, địa hình, thời tiết, khí hậu) C Mác khẳng định: “Quan hệ
hạn chế của con người ta với tự nhiên quyết định quan hệ hạn chế của con người với nhau”.Do lao động là cha và đất đai là mẹ của mọi của cải, nên
Mác cũng nhấn mạnh: “Chính là tính nhiều vẻ của đất đai, về mặt vật phẩm
hóa học, về mặt cấu tạo địa chất, về mặt hình thể vật chất và tính nhiều vẻ của sản phẩm tự nhiên của đất đai đó mới hợp thành cơ sở tự nhiên của phân công lao động xã hội”
1.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội
a Nguồn nhân lực
Nông dân Việt Nam cần cù lao động, yêu nước, khao khát được đổi đời, được làm giàu và nhiều người đã bước đầu làm quen với cơ chế thị trường Đây là lực lượng lao động dồi dào cho phát triển nền kinh tế nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng.Vấn đề là khả năng, năng lực tự chủ về kinh
tế, đó là năng lực tích lũy, năng lực chuyển đổi, năng lực thích ứng với cơ chế thị trường ra sao Thực tế đã chứng minh, năng lực sản xuất hàng hóa của nông dân còn thấp Trong điều kiện hiện nay, kinh tế thị trường đã phát triển đến sự thống nhất khu vực và toàn thế giới, những người lao động nông nghiệp nước ta muốn là chủ thể sản xuất kinh doanh thì không dừng lại ở nền sản xuất hàng hóa giản đơn mà phải là người có trình độ kinh doanh hàng hóa phát triển, phải có tri thức làm giàu Để người lao động nông nghiệp phát huy hết năng lực của mình trong phát triển nông nghiệp, cần phải có sự trợ giúp
Trang 33của giáo dục đào tạo, dịch vụ khuyến nông, đặc biệt là vai trò của quy hoạch, đầu tư đồng bộ của Nhà nước
b Trình độ thị trường
Muốn nâng cao trình độ của sự phát triển nông nghiệp thì phải thiết lập, nâng cao và phát huy các loại thị trường Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu của xã hội về các loại nông sản hàng hóa trong giai đoạn hiện nay Trình
độ kinh tế thị trường tùy thuộc và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, các quan hệ kinh tế và thiết chế kinh tế - xã hội tương ứng, cũng như phụ thuộc vào sự nắm bắt và vận dụng nhuần nhuyễn các quy luật kinh tế khách quan của các chủ thể kinh tế, nhất là các hộ nông dân
c Sự tác động của hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật và thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại
Hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật chính là “giá đỡ vật chất”, là bộ xương sống của sản xuất Nó là nhân tố trực tiếp làm thay đổi trạng thái của sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa Vì vậy, nó có tính chất quyết định đến sự phát triển nông nghiệp ở nước ta Khi nông nghiệp phát triển lên thì hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật cũng ngày càng đòi hỏi đầy đủ, đồng bộ, có quy mô lớn hơn và trình độ hiện đại hơn
Bên cạnh hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật, nền nông nghiệp nước ta sẽ không phát triển nếu như không đẩy mạnh việc áp dụng rộng rãi tiến bộ kỹ thuật - công nghệ Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, nền nông nghiệp đang gắn liền với cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, những thành tựu công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ chế biến, công nghệ bảo quản sau khi thu hoạch Từ ứng dụng và chuyển giao công nghệ đã tạo ra những giống cây và giống con có năng suất, chất lượng cao, tăng khả năng cạnh tranh Mặt khác, đòi hỏi phải cân nhắc, lựa chọn, quy hoạch ứng dụng
Trang 34những công nghệ mới đó một cách hợp lý với điều kiện tự nhiên và kinh tế
-xã hội của đất nước
1.3.3 Các chính sách phát triển nông nghiệp
a Chính sách ruộng đất
Hiện nay, quỹ ruộng đất nông nghiệp hạn hẹp, chiếm tỷ trọng thấp (21% diện tích đất tự nhiên cả nước), dân số nông thôn lại đông Trong những năm gần đây, do tác động của quá trình đô thị hóa làm cho đất nông nghiệp giảm dần ở các vùng Do vậy, đất nông nghiệp bình quân trên số dân nông thôn đã
ở mức thấp lại có xu hướng giảm ở tất cả các vùng, các tỉnh trên phạm vi cả nước Trước đây, chính sách ruộng đất có nhiều nội dung không hợp lý, chế
độ quản lý kinh tế theo lối cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã tách người nông dân ra khỏi ruộng đất dẫn đến kết quả và hiệu quả sử dụng ruộng đất rất thấp
Vì vậy, đổi mới và hoàn thiện chính sách ruộng đất đã trở thành cấp thiết Một chính sách ruộng đất hợp lý trong bối cảnh trên có một vai trò hết sức quan trọng, một mặt chỉ đạo việc sử dụng đất đai đầy đủ và hợp lý, mặt khác là cơ
sở quan trọng cho việc đổi mới và hoàn thiện các chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn khác, cụ thể:
Một là, chính sách ruộng đất hợp lý sẽ tạo động lực để sử dụng đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả ruộng đất trong điều kiện ruộng đất bình quân đầu người thấp, chất lượng có xu hướng giảm sút
Hai là, thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn Vì hiện nay nông thôn còn mang tính thuần nông, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
và dịch vụ phát triển chậm Để khắc phục được sự yếu kém đó, cần phải giải quyết nhiều vấn đề, trong đó sự đổi mới và hoàn thiện Luật đất đai và các chính sách về ruộng đất là một trong những vấn đề cơ bản và cấp bách
Ba là, chính sách ruộng đất có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi nông nghiệp nông thôn nước ta sang sản xuất hàng hóa Từ cơ chế kế
Trang 35hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, chính sách ruộng đất nước ta có nhiều thay đổi Trong đó, Nhà nước đã có sự điều chỉnh các chính sách để người nông dân quay về với ruộng đất, yên tâm đầu tư khai thác với bảo vệ và nâng cao chất lượng ruộng đất Tuy nhiên, hiện nay ruộng đất vẫn còn trong tình trạng manh mún, một số vùng ruộng đất chưa khai thác đầy đủ và hợp lý Nên để chuyển nông nghiệp nông thôn sang sản xuất hàng hóa cần phải đổi mới và hoàn thiện chính sách theo hướng đẩy mạnh tập trung ruộng đất Chính sách ruộng đất hợp lý, là một trong các biện pháp chủ yếu và quan trọng để giải quyết các vấn đề tranh chấp ruộng đất đang xảy ra tương đối phổ biến ở nông nghiệp nước ta
b Chính sách tín dụng
Tín dụng là hình thức đầu tư vốn quan trọng trong các hình thức đầu tư trong nông nghiệp nông thôn Để chính sách tín dụng đáp ứng tốt nhu cầu về vốn trong kinh tế nông nghiệp nông thôn cần tập trung xử lý các vấn đề sau:
- Xác định đối tượng và hình thức cho vay Nông nghiệp nông thôn là một lĩnh vực hết sức rộng lớn và phức tạp, bao gồm nhiều đối tượng, nhiều lĩnh vực hoạt động cần vốn Vì vậy, căn cứ vào nguồn vốn tín dụng, đặc điểm của hoạt động kinh doanh, các chủ thể kinh doanh để xác định đúng đối tượng được vay và hình thức cho vay phù hợp Trong điều kiện nguồn vốn cho vay còn hạn hẹp, yêu cầu đầu tư lớn nên việc xác định đối tượng và hình thức cho vay cần dựa trên những căn cứ sau: Mục đích của việc cho vay; tính an toàn trong việc bảo tồn và phát triển nguồn vốn vay; hiệu quả của việc sử dụng vốn vay
Trong những năm tới, chính sách tín dụng nông nghiệp nông thôn cần tiếp tục tập trung vào giải quyết các vấn đề sau đây: Vừa tập trung vào các vùng trọng điểm, vừa chú ý đến các vùng còn gặp nhiều khó khăn để tạo nên
sự phát triển đồng đều giữa các vùng trên phạm vi cả nước Chú ý đầu tư vào
Trang 36kết cấu hạ tầng nông thôn, dịch vụ sản xuất và đời sống dân cư nông thôn Đồng thời, tạo điều kiện để áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
- Vấn đề lãi suất cho vay
Về nguyên tắc nông nghiệp nông thôn có những đặc điểm đặc thù so với các ngành, các lĩnh vực khác Vì vậy, đối với khu vực nông nghiệp nông thôn cần áp dụng mức lãi suất thấp Tuy nhiên với tư cách là ngành kinh tế, ngân hàng một mặt phải đáp ứng được yêu cầu của sản xuất, mặt khác phải đảm bảo tự trang trải và kinh doanh có lãi Do vậy, xác định lãi suất tín dụng nông nghiệp nông thôn là rất quan trọng đòi hỏi chính sách can thiệp lãi suất của Nhà nước phải hết sức linh hoạt
c Chính sách đầu tư vốn cho phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn
Vốn và đầu tư vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với nông nghiệp nông thôn Điều đó bắt nguồn từ vai trò của kinh tế nông nghiệp nông thôn trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chính sách đầu tư vốn hợp lý
sẽ cho phép huy động nguồn vốn đủ về số lượng, đáp ứng nhu cầu thời hạn và phù hợp với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Đây là điều kiện quan trọng cho kinh tế nông nghiệp nông thôn phát triển
1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
1.4.1 Kinh nghiệm của TP Đà Nẵng
Đà Nẵng là một thành phố được tách ra từ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng trước đây Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ của đất nước, có vị trí trọng yếu
cả về kinh tế - xã hội và quốc phòng an ninh Là đầu mối giao thông quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường biển, cửa ngõ chính ra biển Đông của các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và các nước tiểu vùng Mê Kông
Trang 37Vị thế quan trọng của Đà Nẵng là tiền đề để nông nghiệp thành phố
“chia tay” với những năm tháng mà ở đó người làm nông nghiệp hăng hái với các phong trào thi đua tăng vụ, phấn đấu đạt sản lượng thóc, lương thực quy thóc tính theo tấn, theo tạ… và không còn tình trạng manh mún về diện tích Bên cạnh đó, người làm nông nghiệp cũng sẽ bắt đầu chia tay với những công việc liên quan đến xóa đói giảm nghèo bằng kỹ thuật canh tác, trồng trọt, chăn nuôi mang tính phổ thông, thay vào đó là những khái niệm, những cụm từ mới thể hiện của dấu ấn khoa học kỹ thuật, của tiên tiến hiện đại Hiện nay, một số khu phát triển nông nghiệp công nghệ cao, cơ sở hiện đại hóa nông nghiệp đã bắt đầu được xây dựng và đưa vào sử dụng ở thành phố Đà Nẵng tạo ra bước phát triển mới cho ngành nông nghiệp Nhìn chung, nông nghiệp
Đà Nẵng đã có những bước phát triển mới theo hướng CNH, HĐH Điều này góp phần quan trọng cho sự ổn định, liên tục của kinh tế nông nghiệp và nông thôn Đà Nẵng Số lượng một số sản phẩm nông nghiệp Đà Nẵng đã tăng so với các năm trước (mặc dù diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm) đóng góp một phần đáng kể cho nền kinh tế của thành phố Cụ thể: khai thác gỗ, lâm sản năm 2004 đạt giá trị 16349 triệu đồng đến năm 2008 đạt tới 18.113 triệu đồng; thủy sản năm 2004 giá trị 395.407 triệu đồng đến năm 2008 đạt tới 451.288,3 triệu đồng… Toàn ngành nông nghiệp Đà Nẵng năm 2010 đạt giá trị 654 tỷ đồng Có được những thành công trên, Đà Nẵng đã xây dựng cho mình một chiến lược đúng đắn cho sự phát triển nông nghiệp TP
Thứ nhất, Thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng của một thành phố phát triển, thành phố công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ Tỷ trọng nông nghiệp đóng góp trong GDP của thành phố ngày càng giảm, nhưng giá trị nông nghiệp thì ngày càng được tăng lên
- Một là, ưu tiên phát triển các vùng rau sạch và rau an toàn mang lại giá trị kinh tế cao cho bà con nông dân Biện pháp là kết hợp giữa khoa học kỹ
Trang 38thuật, công nghệ sinh học với những kinh nghiệm truyền thống trong trồng trọt, nhằm đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của người tiêu dùng
- Hai là, Đà Nẵng tập trung đưa chăn nuôi trở thành lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chính, chiếm 70% trong cơ cấu sản xuất của ngành nông nghiệp nhằm phát triển ngành nông nghiệp ổn định và bền vững Hiện nay, thành phố
đã tập trung khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm và có giải pháp quản lý vùng chăn nuôi an toàn không dịch bệnh
- Ba là, đẩy mạnh hoạt động khai thác hải sản thông qua hỗ trợ ngư dân
về mọi mặt, thực hiện “liên kết 4 nhà” trong khai thác, chế biến, tiêu thụ Tập huấn chuyển giao kỹ thuật công nghệ khai thác, bảo đảm tốt nhất về hậu cần nghề cá Mở rộng diện tích nuôi cá nước ngọt, đẩy mạnh sản xuất giống hải sản chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu nuôi trồng trong nông dân
- Bốn là, nghiên cứu sản xuất giống lúa mới, áp dụng rộng rãi chương trình “3 giảm”, “3 tăng”
- Năm là, chú trọng thanh tra, kiểm tra, khai thác, vận chuyển tiêu thụ lâm sản trái phép Đẩy mạnh trồng rừng phòng hộ, rừng cảnh quan môi trường, phòng cháy, chữa cháy rừng
Thứ hai, coi chính sách kinh tế vĩ mô và khoa học kỹ thuật là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế ngành nông nghiệp nói riêng
Thứ ba, TP tập trung chú trọng đến yếu tố con người Dù ở vị trí nào, người nông dân hay những người làm nông nghiệp ở Đà Nẵng phải là người
có trình độ kỹ thuật cao và có khả năng nắm bắt thị trường, tạo động lực cho nền nông nghiệp thành phố
Thứ tư, phát triển nông nghiệp đô thị gắn với du lịch sinh thái Đây là
Trang 39mô hình phát triển kinh tế nông nghiệp thu lợi nhuận kinh tế cao, giúp cho nền nông nghiệp phát triển bền vững
Thứ năm, xây dựng và phát triển các thư viện, thư viện điện tử phục vụ
và kích thích nông dân phát triển sản xuất Đây cũng là bước để ứng dụng những thông tin khoa học vào sản xuất nông nghiệp, giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp theo hướng chuyên canh bền vững
1.4.2 Kinh nghiệm của huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum
Sa Thầy là huyện miền núi nằm phía Nam Tây Nguyên, trước năm 2014
là huyện biên giới của tỉnh Kon Tum; diện tích tự nhiên 2.408 km2, mật độ dân số 15,2 người/ km2 Sa Thầy có rừng phòng hộ đầu nguồn quan trọng nhất của Thủy điện Ia Ly Địa hình đa dạng, có đủ điều kiện tương đối thuận lợi đẻ phát triên nông – lâm – ngư nghiệp
Nông nghiệp là ngành đóng góp nhiêu nhât trong tổng thu nhập toàn huyện, năm 2010 chiếm gần 40% tổng thu nhập, sự phát triển sản xuất nông nghiệp góp phần giải quyết việc làm cho trên 70 % lao động của huyện Để đạt được những thành tựu trên, huyện Sa Thầy đã xây dựng cho mình một kế hoạch phát triển đúng đắn Đó là ứng dụng tương đối rộng rãi khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất là kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp được tăng cường đầu tư xây dựng Cụ thể:
Thứ nhất, đẩy mạnh công tác khuyến nông và chuyển giao công nghệ
- Đưa giống mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất, xác định cây, con phù hợp với từng vùng
- Đầu tư hỗ trợ các mô hình giống mới có năng suất chất lượng cao, thích nghi với điều kiện đất đai khí hậu của huyện để nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng.[8]
Trang 40Thứ hai, mở rộng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
-Khuyến khích phát triển các cơ sở chế biến nông sản, có qui hoạch, kêu gọi đầu tư để chế biến, tiêu thụ nông sản cho nông dân
-Đẩy mạnh tiêu thụ nông sản Liên kết với các doanh nghiệp thực hiện các hợp đồng đầu tư con giống, cây giống, vốn cho dân và bao tiêu sản phẩm Kí hợp đồng tiêu thụ nông sản với các tổ chức mua để các nông hộ nhận được vốn ứng trước bằng vật tư Tổ chức tốt mạng lưới tư thương, thiết lập quan hệ hợp đồng hai chiều giữa nông hộ với công ty kinh doanh, chế biến nông sản.[8]
Thứ ba, thực hiện tốt mô hình liên kết “ 4 nhà’’ Các doanh nghiệp
làm công tác xuất khẩu nông sản, thu mua và bảo quản sản phẩm Các nhà khoa học xây dựng kế hoạch và chỉ đạo sản xuất, giúp nông dân áp dụng tiến
bộ khoa học công nghệ Các ngân hàng hỗ trợ tín dụng để nông hộ có vốn ứng trước để sản xuất hoặc hỗ trợ vốn cho nông dân khi giá cả xuống thấp chưa bán được sản phẩm.[8]