Trong khi đó, nông nghiệp nước ta với điểm xuất phát còn thấp, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, kết cấu hạ tầng nông thôn còn yếu, lao động thuần nông còn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lao
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN BUÔN ĐÔN TỈNH ĐĂK LĂK
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS LÂM MINH CHÂU
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Người cam đoan
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1
4
3 Câu hỏi của đề tài nghiên cứu 4
4
5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 5
7 Bố cục và nội dung nghiên cứu của đề tài 6
8 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP 11
1.1 VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 11
1.1.1 Khái niệm nông nghiệp 11
1.1.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp 12
1.1.3 Vai trò của sản xuất nông nghiệp 17
1.2 NỘI DUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC TIÊU CHÍ CỦA PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 18
1.2.1 Lý thuyết về phát triển nông nghiệp 18
1.2.2 Các tiêu chí của phát triển nông nghiệp 20
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÂN BỐ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 25
1.3.1 Các nhân tố tự nhiên 25
1.3.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội 27
1.3.3 Các điều kiện khoa học công nghệ 28
1.3.4 Chính sách phát triển nông nghiệp 29
1.3.5 Yếu tố thị trường 29
Trang 4CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CỦA
HUYỆN BUÔN ĐÔN - TỈNH ĐĂK LĂK 32
2.1 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CỦA HUYỆN BUÔN ĐÔN 32
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 32
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 37
2.1.3 Các điều kiện khoa học kỹ thuật 41
2.1.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp nông thôn 43
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN BUÔN ĐÔN GIAI ĐOẠN 2008-2013 45
2.2.1 Gia tăng quy mô sản xuất nông nghiệp 45
2.2.2 Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nông nghiệp 50
2.2.3 Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp hợp lý 57
2.2.4 Hoàn thiện các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp 60
2.2.5 Nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của sản xuất nông nghiệp 62
2.2.6 Thị trường đầu vào và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp 65
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN BUÔN ĐÔN TRONG THỜI GIAN QUA 66
2.3.1 Những thành công đạt được 66
2.3.2 Những hạn chế 67
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
HUYỆN BUÔN ĐÔN TRONG THỜI GIAN TỚI 71
3.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN BUÔN ĐÔN 71
Trang 53.1.2 Phương hướng phát triển nông nghiệp huyện Buôn Đôn đến năm
2020 73
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CỦA HUYỆN BUÔN ĐÔN 75
3.2.1 Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng hiệu quả 75
3.2.2 Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trên địa bàn huyện 85
3.2.3 Phát triển hình thức trang trại trong sản xuất nông nghiệp 92
3.2.4 Đẩy mạnh áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp 93
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 96
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)
Trang 7TB&XH Thương binh và xã hội
Trang 8Số bảng Tên bảng Trang Bảng 2.1 Trình độ của lao động trên địa bàn huyện năm 2013 38
Bảng 2.2 Tốc độ tăng GDP huyện Buôn Đôn giai đoạn 2009 -
Trang 9Số hiệu Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 2.1 Sản lƣợng nông nghiệp huyện Buôn Đôn
Biểu đồ 2.2 Giá trị sản xuất nông nghiệp huyện Buôn
Biểu đồ 2.3 Tình hình sử dụng các loại đất huyện Buôn
Biểu đồ 2.4 Cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Buôn Đôn 58
Trang 10MỞ ĐẦU
1
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển do những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao cũng cần những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học - công nghệ phát triển nhưng vẫn chưa có ngành nào có thể thực sự thay thế được Do vậy, lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước
l Sản lượng lúa cả năm 2013 ước tính đạt 44,1 triệu tấn, tăng 338,3 nghìn tấn so với năm trước (Năm 2012 tăng 1,3 triệu tấn so với năm 2011), trong đó diện tích gieo trồng ước tính đạt 7,9 triệu ha, tăng 138,7 nghìn ha, năng suất đạt 55,8 tạ/ha Nếu tính thêm 5,2 triệu tấn ngô thì tổng sản lượng lương thực
có hạt năm nay ước tính đạt 49,3 triệu tấn, tăng 558,5 nghìn tấn so với năm trước (Năm 2012 tăng 1,5 triệu tấn so với năm 2011) Cây công nghiệp lâu năm tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu nên cơ cấu cây trồng được thay đổi phù hợp với điều kiện canh tác của từng vùng Diện tích cho sản phẩm và sản lượng một số cây chủ yếu tăng so với năm 2012, trong đó diện tích chè ước tính đạt 114,1 nghìn ha, bằng cùng kỳ năm trước, sản lượng đạt 921,7 nghìn tấn, tăng 1,3%; cà phê
Trang 11diện tích đạt 584,6 nghìn ha, tăng 2,1%, sản lượng đạt 1289,5 nghìn tấn, tăng 2,3%; cao su diện tích đạt 545,6 nghìn ha, tăng 7%, sản lượng đạt 949,1 nghìn tấn, tăng 8,2%; hồ tiêu diện tích đạt 51,1 nghìn ha, tăng 6%, sản lượng đạt 122,1 nghìn tấn, tăng 5,3% [ 1 ]
2012 (2,68%); trong đó, trồng trọt tăng 2,6%, chăn nuôi tăng 1,4%, lâm nghiệp tăng 5,18%, thủy
76.500 tỷ đồng (tăng 4,22%)
mức tăng của năm 2012 (3,4%), nhưng được đánh giá là mức tăng trưởng khá trong bối cảnh có nhiều khó khăn cả trong và ngoài nước Trong 6 tháng đầu năm 201
trưởng về giá trị tổng sản lượng của toàn ngành là 3,4% (cùng kỳ năm trước
là 2,4%), trong đó, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 2,5%, giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng 6%, thủy sản 6% Tốc độ tăng GDP nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 2,96% (so với 2,14% của năm 2013)
14,88 tỷ USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó, xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 7,17 tỷ USD, tăng 6,9%; thủy sản ước đạt 3,57 tỷ USD, tăng 28,6%; lâm sản ước đạt 2,93 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2013 Thặng dư thương mại của ngành đạt 4,5 tỷ USD [ 2]
Trang 133 Câu hỏi của đề tài nghiên cứu
- Thế nào là phát triển nông nghiệp?
- Thực trạng về phát triển nông nghiệp huyện Buôn Đôn tỉnh Đăk Lăk hiện nay đã hợp lý hay chưa?
- Để phát triển nông nghiệp huyện Buôn Đôn trong thời gian tới đúng hướng cần phải có những giải pháp gì?
phương
Trang 14
- Phương pháp điều tra, khảo sát,chuyên gia…để thu thập tài liệu và các thông tin sau: Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó, tổng hợp các nguồn số liệu thông qua các báo cáo, tổng kết của các phòng, ban và các Sở, Ngành trong tỉnh Tìm thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng: báo chí, internet…kết hợp các phương pháp thu thập số liệu để có dữ liệu nghiên cứu và phân tích đầy đủ
- Phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp mô hình hóa thống kê Các phương pháp này sử dụng để mô tả số liệu bằng bảng biểu và cụ thể mô hình hóa bằng đồ thị
- Các phương pháp khác
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Về lý luận: Góp phần hệ thống hóa về vấn đề phát triển nông nghiệp tại
một huyện của địa phương
Về đánh giá thực trạng: Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nông
nghiệp huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2008-2013
Về giái pháp: Đề xuất những phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm
Trang 15phát triển nông nghiệp huyện Buôn Đôn trong thời gian tới
Điểm mới của đề tài: Đây là lần đầu tiên có một nghiên cứu phát triển
nông nghiệp toàn diện được áp dụng trên địa bàn huyện Buôn Đôn
7 Bố cục và nội dung nghiên cứu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục khác đề tài gồm 03 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nông nghiệp Chương 2 Thực trạng phát triển nông nghiệp của huyện Buôn Đôn giai đoạn 2008-2013
Chương 3 Các giải pháp phát triển nông nghiệp huyện Buôn Đôn trong thời gian tới
8 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Nhu cầu ăn là nhu cầu cơ bản, hàng đầu của con người Xã hội có thể thiếu nhiều loại sản phẩm nhưng không thể thiếu lương thực, thực phẩm cho
xã hội Do đó, việc thỏa mãn các nhu cầu về lương thực, thực phẩm trở thành điều kiện khá quan trọng để ổn định xã hội, ổn định kinh tế Do vậy, sự phát triển của nông nghiệp có ý nghĩa quyết định đối với việc thỏa mãn nhu cầu này Bảo đảm nhu cầu về lương thực, thực phẩm không chỉ là yêu cầu duy nhất của nông nghiệp, mà còn là cơ sở phát triển các mặt khác của đời sống kinh tế - xã hội
Trong các luận văn thạc sỹ với đề tài phát triển nông nghiệp của một địa phương trước đây cũng đã được một số tác giả hệ thống hóa các vấn đề để phát triển nông nghiệp Cụ thể:
- Tác giả Nguyễn Hồng Quang chuyên nghành kinh tế phát triển với
đề tài “Phát triển nông nghiệp huyện Quế Sơn” đã phân tích những mặt mạnh
và những điểm còn hạn chế đặc thù của một huyện trung du miền núi và đề ra
Trang 16những giải pháp như hoàn thiện chính sách, thâm canh tăng năng suất, tăng cường huy động các nguồn lực cho nông nghiệp…[ 4 ]
- Tác giả Nguyễn Thị Vân cũng nghiên cứu đề tài “ Phát triển bền vững nông nghiệp trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng”, đặc thù là một địa phương có nền nông nghiệp phát triển khá, thu nhập bình quân đầu người cao, số hộ nghèo giảm dần qua các năm có nhiều thuận lợi hơn tuy nhiên cũng có những khó khăn cần khắc phục khi phát triển nông nghiệp trong thời gian tới cụ thể như: cần tăng cường đầu tư cho công tác đào tạo nâng cao tay nghề cho lao động trong nông nghiệp, khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tuyên truyền vận động về bảo vệ môi trường… [ 5 ]
- Tác giả Đào Quang Thắng nghiên cứu đề tài “ Phát triển bền vững nông nghiệp Đà Nẵng” Dù là một đô thị hiện đại nhưng Đà Nẵng cũng có nhiều loại đất như Buôn Đôn phù hợp với trồng lúa, trồng rau và vùng đất đỏ đồi núi thích hợp trồng các loại cây công nghiệp dài ngày, dược liệu, chăn nuôi gia súc Đà Nẵng đang trong quá trình chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng trưởng ngành công nghiệp - xây dựng
và dịch vụ Đà Nẵng có thế mạnh là trung tâm của khu vực miền Trung - Tây Nguyên là nơi tập trung các cơ quan nghiên cứu, các cơ sở đào tạo của cả khu vực nên trình độ dân trí, trình độ kỹ thuật nguồn nhân lực của thành phố tương đối cao so với trung bình của cả nước Tuy nhiên, tác giả đã chỉ ra những hạn chế trong nông nghiệp của thành phố như chính sách quy hoạch đất đai của nông nghiệp bất hợp lý, chính sách phát triển nông nghiệp chưa thể hiện được vai trò chủ đạo trong định hướng cho nông nghiệp phát triển bền vững Tình hình áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp bất cập, chuyển đổi cơ chế diễn ra còn chậm, cán bộ hỗ trợ kỹ thuật nông nghiêp chưa hiệu quả Vì vậy tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm cải thiện tình trạng
Trang 17trên như tập trung khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp gắn với sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm Quy hoạch tổng thể, phát triển nông nghiệp theo hướng sạch, đa dạng hóa Đẩy mạnh quá trình chuyển đổi ruộng đất ở những vùng ruộng đất manh mún tiến tới xây dựng các mô hình lớn đáp ứng nhu cầu sản xuất Tăng cường áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến phù hợp Đổi mới tư duy phát triển nông nghiệp [ 6 ]
- Đề tài “Phát triển bền vững nông nghiệp huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam” của tác giả Nguyễn Thanh Liêm nghiên cứu một địa phương nghèo, miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Quảng Nam, diện tích đất sử dụng chưa hợp lý, tỷ lệ thất nghiệp cao, năng suất cây trồng và việc áp dụng những tiến
bộ khoa học vào nông nghiệp không cao Tác giả đã đưa ra một số giải pháp như tăng cường áp dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ làm tiền
đề quan trọng để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, năng suất ruộng đất và năng suất lao động của nông dân Bên cạnh đó chuyển dịch cơ cấu hợp lý để nâng cao hiệu quả sử dụng những nguồn lực phù hợp với tiềm năng thế mạnh của địa phương, phân vùng hợp lý để phát triển tương hỗ lẫn nhau… [ 7 ]
- Cùng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam tác giả Nguyễn Thị Mai chọn phát triển nông nghiệp ở huyện Điện Bàn làm đề tài luận văn của mình Theo nghiên cứu của tác giả huyện Điện Bàn là vùng có tài nguyên đất đai phì nhiêu, gần đầu mối giao thông và các trung tâm kinh tế, văn hóa lớn của khu vực, lợi thế phát triển nông nghiệp là rất lớn Năng suất lao động của huyện ngày càng cao, giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng năm của huyện cũng tăng, chuyển dịch cơ cấu hợp lý và phù hợp với xu thế phát triển Tuy nhiên, tác động của thiên nhiên tới sự phát triển nông nghiệp là khá lớn do địa bàn huyện nằm trong khu vực thời tiết có nhiều biến động phức tạp, mưa bão thường xuất hiện sóm, tình trạng thiếu nước và nguồn nước bị nhiễm mặn làm ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của huyện Do đó, tác
Trang 18giả đã đưa ra một vài giải pháp để phát triển nông nghiệp như tập trung nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng phát triển công nghiệp – dịch vụ, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đồng thời đẩy nhanh quá trình đô thị hóa gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới Sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên nước, đất đai, tăng cường biện pháp chống suy thoái Phân vùng cây trồng hợp lý để bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên nước.… [ 8 ]
- Tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân chọn đề tài phát triển nông nghiệp tại thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai là đề tài luận văn của mình An Khê là huyện miền núi, thời tiết và khí hậu khắc nghiệt, hơn nữa do sự biến đổi khí hậu nên thường xuyên xảy ra thiên tai, hạn hán gây thiệt hại đến công trình hạ tầng kỹ thuật ảnh hưởng tới phát triển kinh tế và đời sống của người dân Bên cạnh đó thực trạng về phát triển kinh tế trang trại tự phát, không theo quy hoạch mô hình nhỏ thiếu định hướng, nguồn lực và tài chính yếu, trình độ ứng dụng khoa học còn thấp Hoạt động của các hợp tác xã cầm chừng, doanh thu và lợi nhuận thấp chưa có phương án sản xuất kinh doanh mang tính khả thi cao Năng suất cây trồng đều giảm, trình độ thâm canh còn thấp, khả năng nắm bắt
kỹ thuật thấp đã phần nào ảnh hưởng tới sự phát triển của thị xã Do vậy, tác giả đã đưa ra một vài giải pháp để khắc phục những hạn chế còn tồn tại nêu trên cụ thể : tập trung đẩy mạnh những ứng dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư đồng bộ hệ thống kết cầu hạ tầng Lập kế hoạch giúp các cơ quan lãnh đạo và quản lý các vùng nông thôn có căn cứ để đưa ra những chủ trương, kế hoạch phát triển, các giải pháp để chỉ đạo, điều hành Quy hoạch bố trí nguồn đất cho vùng sản xuất tập trung, thu hút đầu tư cho phát triển nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng chất lượng cao, có chính sách phù hợp thu hút đầu tư vào các nghành công nghiệp thế mạnh của thị xã phục
vụ xuất khẩu, tập trung sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm chủ lực… [ 9 ]
Trang 19Các công trình nghiên cứu kể trên đã đề cập rất toàn diện, đi sâu phân tích từng mặt tích cực cũng như hạn chế của phát triển nông nghiệp trên địa bàn địa phương Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu cụ thể về vấn đề phát triển nông nghiệp ở huyện như Buôn Đôn, nơi có những nét đặc thù riêng có
về lịch sử, văn hóa, điều kiện tự nhiên, cũng như thế mạnh và tiềm năng như trình bày trong luận văn này
Trang 20CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP 1.1 VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm nông nghiệp
Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam - Nông Nghiệp: Nông nghiệp là
ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng
trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu
lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho
công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên
ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm
cả lâm nghiệp, thủy sản
Tức là nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt,
ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp, cụ thể hơn nông
nghiệp là ngành sản xuất của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật
sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lượng thực, thực
phẩm…để thỏa mãn các nhu cầu của mình Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa
rộng nó còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản
Như vậy nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự
nhiên Những điều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức
xạ mặt trời…trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi
Nông nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là
ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên, là ngành sản xuất mà việc
ứng dụng khoa học – công nghệ gặp rất nhiều khó khăn Ngoài ra sản xuất
trong nông nghiệp ở nước ta thường gắn liền với phương pháp canh tác, lề
thói, tập quán…đã có từ hàng nghìn năm nay [10]
Trang 211.1.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội Cụ thể hơn, nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp
Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học -
kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi Chúng phát triển theo qui luật sinh học nhất định con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các qui luật để có những giải pháp tác động thích hợp với chúng Do vậy sản xuất nông nghiệp
có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có đó là:
Thứ nhất, sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn,
phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt Đặc biệt trên cho thấy ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp Thế nhưng ở mỗi vùng mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết – khí hậu rất khác nhau Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và
sử dụng các loại đất ở các địa bàn có địa hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động nông nghiệp cũng không giống nhau Điều kiện thời tiết khí hậu với lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng v.v… trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và sử dụng đất Đặc điểm này đòi hỏi quá trình tổ chức chỉ đạo sản xuất nông nghiệp cần phải chú ý các vấn đề như: Tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên về nông – lâm – thuỷ sản trên phạm vi cả nước cũng như tính vùng để qui hoạch bố trí sản xuất các cây trồng, vật nuôi cho phù hợp Xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuật phải phù hợp với đặc điểm và yêu cầu sản xuất nông nghiệp ở từng vùng Ngoài ra hệ thống các chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện từng vùng, từng khu vực nhất định
Trang 22Thứ hai, trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không
thể thay thế được Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau Trong công nghiệp, giao thông v.v… đất đai là cơ sở làm nền móng, trên đó xây dựng các nhà máy, công xưởng, hệ thống đường giao thông v.v… để con người điều khiến các máy móc, các phương tiện vận tải hoạt động Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con người không thể tăng thêm, theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất ruống đất là chưa có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản phẩm Chính vì thế trong quá trình sử dụng phải biết quý trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng cơ bản, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất trên đơn vị sản phẩm
Thứ ba, đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống – cây trồng
và vật nuôi Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong) Chúng rất nhạy cảm với yếu
tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến phát triển và diệt vọng của cây trồng, vật nuôi, dẫn đến ảnh hưởng tới kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng Cây trồng và vật nuôi với tư cách
là tư liệu sản xuất đặc biệt được sản xuất trong ngành nông nghiệp bằng cách
sử dụng trực tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản xuất sau Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thường xuyên chọn lọc các giống hiện có, nhập ngoại những giống tốt, tiến hành lai tạo để tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điều kiện từng vùng và từng địa phương
Trang 23Thứ tư, sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao Đó là nét đặc thù
điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt sản xuất nông nghiệp
là quá trình tái sản xuất kinh tế gắn với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian sinh trưởng và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xoá bỏ được, trong quá trình sản xuất chỉ tìm cách hạn chế nó Mặt khác do sự biến thiên về điều kiện thời tiết – khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng – loại cây xanh có vai trò cực kỳ to lớn là sinh vật có khả năng hấp thu
và tàng trữ nguồn năng lượng mặt trời để biến từ chất vô cơ thành chất hữu
cơ, tạo nguồn thức ăn cơ bản cho con người và vật nuôi Như vậy, tính thời vụ
có tác động rất quan trọng đối với nông dân Tạo hoá đã cung cấp nhiều yếu
tố đầu vào thiết yếu cho nông nghiệp, như: ánh sáng, độ ẩm, lượng mưa, không khí Lợi thế tự nhiên đã ưu ái rất lớn cho con người, nếu biết lợi dụng hợp lý có thể sản xuất ra những nông sản với chi phí thấp nhưng chất lượng
Để khai thác và lợi dụng nhiều nhất tặng vật của thiên nhiên đối với nông nghiệp đòi hỏi phải thực hiện nghiêm khắc những khâu công việc ở thời vụ tốt nhất như thời vụ gieo trồng, bón phân, làm cỏ, tưới tiêu v.v… Việc thực hiện kịp thời vụ cũng dẫn đến tình trạng căng thẳng về lao động đòi hỏi phải
có giải pháp tổ chức lao động hợp lý, cung ứng vật tư – kỹ thuật kịp thời, trang bị công cụ, máy móc thích hợp, đồng thời phải coi trọng việc bố trí cây trồng hợp lý, phát triển ngành nghề dịch vụ, tạo thêm việc làm ở những thời
kỳ nông nhàn
Ngoài những đặc điểm chung của sản xuất nông nghiệp nêu trên nông nghiệp Việt Nam còn có những đặc điểm nổi bật khác do những điều kiện tự nhiên và lịch sử đặc biệt hình thành nên
Trang 24Thứ nhất, nông nghiệp nước ta đang từ tình trạng lạc hậu, tiến lên xây
dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa theo định hướng XHCN không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Đặc điểm này cho thấy xuất phát điểm của nền nông nghiệp nước ta khi chuyển lên xây dựng, phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá là rất thấp so với các nước trong khu vực và thế giới Vì vậy, tính đến nay nhiều nước có nền kinh tế phát triển, nông nghiệp
đã đạt trình độ sản xuất hàng hoá cao, nhiều khâu công việc được thực hiện bằng máy móc, một số loại cây con chủ yếu được thực hiện cơ giới hoá tổng hợp hoặc tự động hoá Năng suất ruộng đất và năng suất lao động đạt trình độ cao, tạo ra sự phân công lao động sâu sắc trong nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân Tỷ lệ dân số và lao động trong nông nghiệp giảm xuống cả tương đối và tuyệt đối Đời sống người dân và nông thôn được nâng cao ngày càng xích gần với thành thị Trong khi đó, nông nghiệp nước ta với điểm xuất phát còn thấp, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, kết cấu hạ tầng nông thôn còn yếu, lao động thuần nông còn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lao động xã hội, năng suất ruộng đất và năng suất lao động còn thấp v.v… Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, khẳng định phát triển nền nông nghiệp nhiều thành phần và hộ nông dân được xác định là đơn vị tự chủ, nông nghiệp nước
ta đã có bước phát triển và đạt được những thành tựu to lớn, nhất là về sản lượng lương thực Sản xuất lương thực chẳng những trang trải được nhu cầu trong nước, có dự trữ mà còn dư thừa để xuất khẩu Bên cạnh đó một số sản phẩm khác cũng phát triển khá, như cà phê, cao su, chè, hạt điều v.v… đã và đang là nguồn xuất khẩu quan trọng Nông nghiệp nước ta đang chuyển từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá Nhiều vùng của đất nước đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp tăng sản phẩm phi nông nghiệp
Trang 25Thứ hai, nền nông nghiệp nước ta là nền nông nghiệp nhiệt đới, có pha
trộn tính chất ôn đới, nhất là ở miền Bắc và được trải rộng trên 4 vùng rộng lớn, phức tạp: trung du, miền núi, đồng bằng và ven biển…chính vì vậy, có thảm thực vật phong phú, đa dạng, nhiều loài vật có giá trị kinh tế cho phép phát triển một nền nông nghiệp đa dạng và có thể đi vào chuyên canh nhiều loại cây, con Đặc điểm này đem lại cho nông nghiệp nhiều thuận lợi cơ bản
Cụ thể, đó là hàng năm có lượng mưa bình quân tương đối lớn, đảm bảo nguồn nước ngọt rất phong phú cho sản xuất và đời sống, có nguồn năng lượng mặt trời dồi dào (cường độ, ánh sáng, nhiệt độ trung bình hàng năm là
23oC v.v…) tập đoàn cây trồng và vật nuôi phong phú, đa dạng Nhờ những thuận lợi cơ bản đó mà ta có thể gieo trồng và thu hoạch quanh năm, với nhiều cây trồng và vật nuôi phong phú, có giá trị kinh tế cao, như cây công nghiệp lâu năm, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, điều kiện thời tiết – khí hậu nước ta cũng có nhiều khó khăn lớn, như: mưa nhiều nhưng lượng mưa thường tập trung vào ba tháng trong năm nên thường xuyên gây lũ lụt, ngập úng Nắng nhiều vào mùa hè thường gây nên khô hạn, có nhiều vùng thiếu cả nước cho người, vật nuôi sử dụng Khí hậu ẩm ướt vào mùa xuân nên sâu bệnh, dịch bệnh dễ phát sinh và lây lan gây ra những tổn thất lớn đối với mùa màng [ 11 ]
Thứ ba, nước ta diện tích đất hạn chế, dân số không ngừng tăng lên nên
khả năng mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp khá hạn chế Nhưng việc áp dụng các kỹ thuật cơ giới hoá, hiện đại hoá vào sản xuất nông nghiệp còn yếu
và còn nhiều bất cập dẫn tới sản lượng tăng không đều qua các năm
Thứ tư, việc chuyển nền nông nghiệp Việt Nam sang sản xuất hàng hoá
gặp nhiều khó khăn về vốn, kỹ thuật, trình độ lao động, khả năng quản lý
…[12]
Trang 261.1.3 Vai trò của sản xuất nông nghiệp
Thứ nhất, cung cấp lương thực thực phẩm Hầu hết các nước đang phát
triển đều dựa vào nông nghiệp trong nước để cung cấp lương thực thực phẩm cho tiêu dùng, nó tạo nên sự ổn định, đảm bảo an toàn cho phát triển Cũng cần chú ý rằng, nhập khẩu các yếu tố đầu vào của sản xuất (nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị cho sản xuất) làm tăng vốn sản xuất, còn việc nhập khẩu lương thực thực phẩm là để tiêu dùng, không gia tăng vốn sản xuất cho nền kinh tế
Thứ hai, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp Nguyên liệu từ nông
nghiệp là đầu vào quan trọng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp chế biến nông sản trong giai đoạn đầu quá trình công nghiệp hóa ở nhiều nước đang phát triển
Thứ ba, cung cấp ngoại tệ cho nền kinh tế Thông qua xuất khẩu
nông sản, các nước đang phát triển đều có nhu cầu rất lớn về ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, vật tư, thiết bị, nguyên liệu mà chưa tự sản xuất được trong nước Một phần nhu cầu ngoại tệ đó, có thể đáp ứng được thông qua xuất khẩu nông sản Nông sản còn được coi là nguồn hàng hóa để phát triển ngành ngoại thương ở giai đoạn đầu Trong lịch sử, quá trình phát triển của một số nước cho thấy vốn được tích lũy từ những ngành nông nghiệp tạo ra hàng hóa xuất khẩu Đó là trường hợp của các nước Úc, Canada, Đan Mạch, Thụy Điển, Tân Tây Lan, Mỹ, và cả Việt Nam
Thứ tư, cung cấp vốn cho các ngành kinh tế khác Dạng trực tiếp: như
nguồn thu từ thuế đất nông nghiệp, thuế xuất khẩu nông sản, nhậu khẩu tư liệu sản xuất nông nghiệp Nguồn thu này được tập trung vào ngân sách nhà nước và dùng để đầu tư cho phát triển kinh tế Dạng gián tiếp: với chính sách quản lý giá của nhà nước theo xu hướng là giá sản phẩm công nghiệp tăng
Trang 27nhanh hơn giá nông sản, tạo điều kiện cho gia tăng nhanh tích lũy công nghiệp từ “hy sinh” của nông nghiệp
Thứ năm, làm phát triển thị trường nội địa Nông nghiệp và nông thôn
là thị trường rộng lớn và chủ yếu của sản phẩm trong nước Việc tiêu dùng của người nông dân và mạng dân cư nông thôn đối với hàng hóa công nghiệp, hàng hóa tiêu dùng (vải, đồ gỗ, dụng cụ gia đình, vật liệu xây dựng), hàng hóa
tư liệu sản xuất (phân bón, thuốc trừ sâu, nông cụ, trang thiết bị, máy móc) là tiêu biểu cho sự đóng góp về mặt thị trường của ngành nông nghiệp đối với quá trình phát triển kinh tế Sự đóng góp này cũng bao gồm cả việc bán lương thực, thực phẩm và nông sản nguyên liệu cho các ngành kinh tế khác
1.2 NỘI DUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC TIÊU CHÍ CỦA PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
1.2.1 Lý thuyết về phát triển nông nghiệp
Theo quan điểm của triết học Mac - Lênin nhận định nguồn gốc của sự phát triển là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Do vậy, phát triển
là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu Vì vậy, có thể nhận thấy phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng, song mỗi một sự vật hiện tượng lại có quá trình phát triển không hoàn toàn giống nhau, do tồn tại ở những không gian và thời gian khác nhau, sự vật
sẽ phát triển khác nhau
Nhiều người giả định rằng sự phát triển nghĩa là sự gia tăng số lượng, tuy nhiên đặc tính chủ yếu của nó là sự thay đổi Ngày nay phát triển còn được hiểu là một quá trình lớn lên, tăng tiến mọi lĩnh vực Bất cứ trong lĩnh vực nào, sự phát triển đều thỏa mãn các thành tố như: sự tăng lên về cả chất
Trang 28và lượng; sự thay đổi về cơ cấu, thể chế, chủng loại, tổ chức; sự thay đổi về thị trường; và giữ công bằng xã hội, an ninh, trật tự
Theo lý thuyết phát triển cân đối của R Nurkse là người đi tiên phong trong lý thuyết phát triển, cho rằng cần đầu tư vốn đồng bộ để phát triển rộng rãi các ngành khác nhau, bởi đây là cách duy nhất để tránh khỏi vòng tròn luẩn quẩn của nghèo đói R Nurkse quan tâm đến vấn đề tăng thu nhập quốc dân bình quân đầu người bằng cách tạo ra những chuyển biến để thoát khỏi nông nghiệp, là khu vực thu hút quá nhiều nhân công Ông cho rằng lao động
dư thừa cần phải được chuyển khỏi nông nghiệp, đáp ứng sự hình thành tư bản cho các công trình xây dựng, công xưởng, máy móc Tình hình đó sẽ tăng năng lực sản xuất và nhu cầu chung cần thiết cho sản phẩm có thu nhập cao lâu dài, từ đó đạt được sự cân đối tốt hơn trong nền kinh tế
Tuy nhiên, theo lý thuyết phát triển Oshima hình mẫu phát triển có lẽ phải bắt đầu từ hiệu suất nông nghiệp, nhất là trường hợp ở các nước Châu á gió mùa, nơi thu nhập hàng năm và năng suất lao động theo đầu người quá thấp Những ý đồ nhằm duy trì năng suất do biến đổi cơ cấu sẽ không thành công, nếu trước tiên không tăng hiệu suất nông nghiệp, trừ phi việc tăng thu thập do xuất khẩu sản lượng công nghiệp và nhập khẩu lương thực
Lý thuyết các giai đoạn phát triển kinh tế của W.Rostow còn được gọi
là mô hình suy diễn lịch sử, đã chia tiến trình kinh tế thành năm gian đoạn: Giai đoạn xã hội truyền thống (nông nghiệp là nền tảng của nền kinh tế), giai đoạn chuẩn bị cất cánh (đã xuất hiện các khu vực kinh tế có tác dụng lôi kéo, thúc đẩy sự phát triển), giai đoạn cất cánh (tỷ lệ đầu tư tăng từ 5 đến 10% tổng sản phẩm quốc dân), giai đoạn hướng tới sự chín muồi kinh tế (tỷ lệ đầu
tư cao, xuất hiện nhiều cực tăng trưởng, làm thay đổi cơ cấu kinh tế), và giai đoạn kỷ nguyên tiêu dùng cao Với cách phân chia này các nước đang phát triển hiện nay ở vào giai đoạn 1 đến 3 Xã hội có trình độ phát triển còn thấp
Trang 29thì khu vực nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn về cơ cấu giá trị sản phẩm và
cơ cấu lao động [ 11]
Như vậy, có thể nói rằng hầu hết các lý thuyết của các nhà kinh tế học trước đây đều không thuần túy tập trung nghiên cứu về phát triển nông nghiệp
mà đều đặt nông nghiệp trong mối quan hệ với các ngành, các lĩnh vực khác, trước hết là với công nghiệp Ngày nay, hơn bao giờ hết, phát triển nông nghiệp càng phải đặt trong mối quan hệ tổng thể với các lĩnh vực, các ngành khác như: xuất khẩu, du lịch, công nghiệp, môi trường… Do vậy khi nghiên cứu về phát triển nông nghiệp cũng phải nghiên cứu trong mối quan hệ tổng thể
1.2.2 Các tiêu chí của phát triển nông nghiệp
Tóm lại từ quan niệm chung về phát triển và các mô hình lý thuyết nêu trên có thể thấy phát triển nông nghiệp là quá trình vận động đi lên không ngừng theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn của sản xuất nông nghiệp cả về phân bổ khai thác nguồn lực, tổ chức sản xuất, năng suất để sản lượng nông nghiệp có thể gia tăng và duy trì ở mức tiềm năng.[12]
Sự phát triển nông nghiệp có những đặc điểm riêng thể hiện qua các nội dung sau:
a Gia tăng quy mô sản xuất nông nghiệp
Gia tăng quy mô sản xuất nông nghiệp là tăng tổng sản lượng mà các ngành sản xuất nông nghiệp tạo ra trong môt thời gian nhất định, tuy nhiên sự gia tăng sản xuất này còn phải được duy trì ổn định trong thời gian dài Nghĩa
là trước những biến động từ nhiều nhân tố như điều kiện tự nhiên, biến động thị trường sản lượng của sản xuất nông nghiệp vẫn bảo đảm gia tăng Sản lượng nông nghiệp đạt được cao hay thấp thể hiện quy mô lớn hay nhỏ của nền sản xuất nông nghiệp Sản lượng nông nghiệp đạt được nhờ sự phân bổ và kết hợp sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp nói chung - phát triển theo
Trang 30chiều rộng và nâng cao hiệu quả phân phối và sử dụng nguồn lực - phát triển theo chiều sâu
Do vậy ngành nông nghiệp được coi là gia tăng quy mô thể hiện qua những chỉ tiêu sau:
* Mức tăng tổng sản lượng nông nghiệp qua các năm
* Mức tăng tổng giá trị sản lượng hàng hóa nông nghiệp
* Mức tăng và tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp qua các năm
* Mức tăng tỷ lệ đóng góp của giá trị sản xuất nông nghiệp vào giá trị tổng sản phẩm qua các năm
* Tổng diện tích gieo trồng qua các năm
* Tổng đàn gia súc, gia cầm qua các năm
b Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nông nghiệp
Sự phát triển nông nghiệp có thể đạt được qua nhiều cách: Có thể huy động thêm các nguồn lực để tăng quy mô sản xuất, hoặc nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực như sử dụng giống mới, chủ động tăng diện tích tưới tiêu
để tăng vụ, áp dụng các điều kiện tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất… Nếu lựa chọn cách phát triển thứ nhất thì dường như gặp phải khó khăn hơn khi nhiều nguồn lực trong nông nghiệp bị giới hạn cứng chẳng hạn như diện tích đất canh tác Nhưng nếu lựa chọn xu hướng phát triển thứ hai sử dụng các nguồn lực hiệu quả trong khi các nhân tố khác lại không bị giới hạn thì năng suất nông nghiệp vẫn gia tăng Đây cũng là xu hướng chính để gia tăng sản lượng nông nghiệp trong tương lai
Mức độ huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực nông nghiệp được phản ánh ở các chỉ tiêu gồm:
* Diện tích đất sản xuất nông nghiệp / Tổng diện tích quỹ đất /năm
Trang 31* Giá trị sản lượng nông nghiệp (hay sản lượng nông nghiệp) /đơn vị diện tích đất/ năm
* Tỷ lệ diện tích được cơ giới hóa/ tổng diện tích canh tác
* Tổng số vốn đầu tư cho nông nghiệp và giá trị sản lượng /đơn vị vốn
* Tổng số lao động nông nghiệp và giá trị sản lượng (hay sản lượng)/đơn vị lao động [ 12 ]
c Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp hợp lý
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp là quá trình phát triển của các ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành
và làm thay đổi mối quan hệ tương tác giữa chúng so với một thời điểm trước
đó mà thường là so với năm trước Lý do cần phải chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp gắn liền với thực tiễn khách quan để tận dụng những tiềm năng chưa khai thác hết và tăng lợi thế sinh thái của từng vùng cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn
Do đó chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp phù hợp là một tất yếu, cần thiết để phát triển nông nghiệp bởi sự thay đổi các bộ phận và yếu tố của sản xuất nông nghiệp từ đó thay đổi tỷ trọng các yếu tố đầu ra trong đó các bộ phận cấu thành được tạo ra từ các yếu tố đầu vào có trình độ kỹ thuật công nghệ canh tác có trình độ cao và hiện đại có xu thế tăng dần làm cho sản lượng tăng lên
Nội dung này được phản ánh bằng các chỉ tiêu sau:
* Sự thay đổi sản lượng hay giá trị sản lượng của cây trồng hay vật nuôi trong tổng sản lượng hay giá trị tổng sản lượng trồng trọt hay chăn nuôi theo thời gian
* Sự thay đổi tỷ trọng của sản lượng hay giá trị sản lượng của từng ngành trong tổng sản lượng hay giá trị tổng sản lượng nông nghiệp theo thời gian
Trang 32* Sự thay đổi sản lượng hay giá trị sản lượng của ngành trong tổng sản lượng hay giá trị tổng sản lượng nông nghiệp theo thời gian
d Hoàn thiện các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp
Trong nông nghiệp tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau tùy mỗi quốc gia, mỗi vùng mà số lượng các thành phần kinh tế cũng khác nhau Các thành phần kinh tế cơ bản như : kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, tư nhân,
hộ gia đình….Vì vậy, việc lựa chọn những mô hình phát triển tổ chức sản xuất nông nghiệp cho phù hợp từ mô hình sản xuất hộ gia đình sản xuất tổng hợp tự cung tự cấp với năng suất thấp sang mô hình trang trại, hợp tác xã, kinh tế tập thể… Trong đó kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại là lực lượng chủ yếu trực tiếp tạo ra các nông, sản phẩm cho nền kinh tế quốc dân
và kinh tế hộ tự chủ chuyên canh với năng suất cao cùng cách thức kết hợp các yếu tố đầu vào theo hướng tiến bộ hơn nhờ đó mà làm gia tăng sản lượng, nông dân tích lũy được vốn, kinh nghiệm trong quản lý và sản xuất, tích tụ ruộng đất, thúc đẩy hình thành các cơ sở chế biến tập trung, tạo điều kiện thu hút lao động nông thôn, phân công lao động xã hội và thúc đẩy xây dựng nông thôn mới
Nội dung này được thể hiện qua các tiêu chí :
* Số lượng các hộ và đơn vị sản xuất nông nghiệp tăng hay giảm qua các năm
* Quy mô lớn, vừa hoặc nhỏ của các hộ và các đơn vị sản xuất tăng hay giảm qua các năm
* Số lao động được thuê làm trong các hộ gia đình và các đơn vị sản xuất tăng hay giảm qua các năm
* Giá trị hàng hóa của các mô hình sản xuất đạt được tăng hay giảm qua các năm
Trang 33g Nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của sản xuất nông nghiệp
Nội dung này thể hiện ở việc tạo ra nhiều việc làm và gia tăng thu nhập cho người lao động tức là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thoả đáng đến kết quả sản xuất Khi nông nghiệp đảm bảo thu nhập cho người sản xuất điều này sẽ đóng góp vào gia tăng sản lượng ở nông thôn nói chung và nông nghiệp nói riêng vì chúng gắn với lợi ích của họ
Do đó rất cần phải nâng cao trình độ cho người sản xuất để họ có thể áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất Nhận thức đúng đắn trong việc sử dụng những loại giống mới, phân bón, thuốc trừ sâu khi đại bộ phận người nông dân có thể áp dụng được những kỹ thuật canh tác khi
đó sản lượng sẽ tăng nhanh
Khi tỷ lệ nông dân nghèo đói tại các vùng nông thôn gia tăng, nông dân sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của bản thân bằng cách khai thác tận lực các nguồn lực tự nhiên để kiếm thêm thêm thu nhập như phá rừng, săn bắt, khai thác triệt để mọi loại sinh vật với đủ mọi kích cỡ Hệ quả là ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên đất, không khí và nguồn nước dẫn tới thu nhập của họ bị giảm sút và lạo rơi vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo
Do đó với các chính sách hỗ trợ của nhà nước thông qua nhiều kênh sẽ
là những nỗ lực thúc đẩy cải thiện cuộc sống cho người nông dân đảm bảo an sinh xã hội ổn định, lâu dài
Nội dung này được phản ánh bằng những tiêu chí sau:
* Tạo thêm việc làm hàng năm cho lao động nông thôn
* Tạo thêm việc làm phi nông nghiệp từ khu vực nông thôn cho lao động nông thôn
* Thực hiện tốt và sử dụng hiệu quả các chính sách nông nghiệp
* Gia tăng thu nhập bình quân của lao động nông nghiệp
Trang 34* Số lượng các lớp tập huấn đối với lao động hàng năm
* Số lượng lao động được tập huấn hàng năm
* Tỷ lệ hộ nghèo được giảm hàng năm
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÂN BỐ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
đó ta sẽ phân bố được cây trồng, vật nuôi phù hợp, bố trí các ngành nghề, quy hoạch thành vùng sản xuất tập trung cho phù hợp với điều kiện tự nhiên vùng nhằm khai thác hiệu quả nhất các nguồn lực, lợi thế và hạn chế rủi ro cũng như tác động bất lợi của thiên nhiên tới năng suất nông nghiệp Đồng thời không ngừng nuôi dưỡng và tái tạo tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái
Đây là những nhân tố quan trọng nhất Do đặc trưng của ngành nông nghiệp không thể không dựa vào các yếu tố tự nhiên Nhóm nhân tố này bao gồm: Đất đai, khí hậu, sông ngòi, động thực vật…
a Tài nguyên đất:
Vai trò của nhân tố này vô cùng quan trọng vì nó là tư liệu sản xuất của nông nghiệp, nếu thiếu đất sẽ không có ngành kinh tế này Nước ta có tổng diện tích đất sanh tác khoảng 20 triệu ha Gồm rất nhiều lại đất như:
Trang 35+ Đất phù sa : Chủ yếu phân bố ở các vùng đồng bằng và chủ yếu để
sản xuất lúa nước và một số cây công nghiệp ngắn ngày Chiếm khoảng 3 triệu ha
+ Đất Feralit :có diện tích khoảng 16 triệu ha với nhiều loại khác nhau
tập trung phân bố ở các vùng trung du, vùng núi và cao nguyên Chủ yếu thích hợp với các loại cây công nghiệp
+ Các loại đất khác: có diện tích khoảng 1 triệu ha phân bố chủ yếu
các vùng đất ven biển, thích hợp với các loại cây ngập mặn …
Đây là những thuận lợi rất lớn cho sự phát triển nông nghiệp ở nước ta Tuy nhiên do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nên hiện nay nước ta đang đứng trước nguy cơ sói mòn đất, đốt nương làm rẫy, sử dụng các hóa chất độc hại gây thoái hóa đất …
b Tài nguyên khí hậu
Sự tồn tại và phát triển của bất kỳ sinh vật nào trên trái đất cũng đều chịu sự tác động của thời tiết, khí hậu Đây là yếu tố tạo ra tính vụ mùa trong nông nghiệp Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm nhưng do vị trí và sự
đa dạng về địa hình tạo nên các kiểu khí hậu đặc trưng khá phong phú thích hợp cho nhiều loại cây trồng khác nhau Những biến động của thời tiết cũng làm ảnh hưởng tới năng suất của cây trồng: bão, thời tiết sương muối, mưa nhiều, nắng hạn, rét đậm…
c Tài nguyên nước
Có thể nói sự sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất đều phụ thuộc vào nước Chính vì vậy, nguồn nước tưới rất quan trọng đối với nông nghiệp là nhân tố ảnh hưởng tới diện tích gieo trồng, năng suất cây trồng,vật nuôi Hệ thống sông ngòi, ao hồ, đầm lầy phong phú ở nước ta rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp
Trang 36d Tài nguyên sinh vật
Nguồn sinh vật bao gồm động vật, thực vật và vi sinh vật Đây là những sản vật của tự nhiên, là nguồn của cải quý báu của con người Nguồn tài nguyên động thực vật phong phú là điều kiện thuận lợi cho nhân dân thuần chủng và lai tạo giống mới có năng suất cao và chống chịu hạn hán tốt
1.3.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội
a Dân cư và nguồn lao động
Sản xuất rất cần có lao động và đây đồng thời cũng là thị trường tiêu thụ sản phẩm Nước ta hiện với dân số trên 90 triệu người, có tỷ lệ nhóm dân
số trẻ từ 10-24 tuổi chiếm gần 40 % dân số, nước ta đang bước vào thời kỳ“
Cơ cấu dân số vàng” với tỷ lệ thanh - thiếu niên cao nhất trong lịch sử Đây thực sự là lực lượng lao động dồi dào cho phát triển kinh tế nói chung và cho ngành nông nghiệp nói riêng
Nông nghiệp nước ta là ngành sản xuất vật chất lâu đời gắn liền với nền văn minh, nền văn hóa khác nhau Việt Nam hiện có 54 dân tộc anh em thì tương ứng với 54 phương thức canh tác, phong tục, tập quán, kinh nghiệm trong quá trình sản xuất nông nghiệp cũng như sinh hoạt đời sống hàng ngày khác nhau Hơn nữa, mật độ dân số, quy mô và tốc độ tăng dân số cũng không đồng đều, điều này cũng tác động tới việc bố trí, quy hoạch giống cây trồng, vật nuôi dẫn tới ảnh hưởng đến vấn đề xã hội nhất là việc làm,thu nhập, nghèo đói và bất bình đẳng xã hội
Bên cạnh đó nguồn vốn sử dụng trong việc đầu tư tái sản xuất của ngành nông nghiệp cũng rất quan trọng bởi có nguồn vốn mới có thể đầu tư giống cây, vât nuôi, con giống tốt nhất, trang bị những thiết bị hay những máy móc dùng trong nông nghiệp cũng cần lượng vốn nhất định nên cần xem xét tăng cường cơ chế đầu tư vốn trong nông nghiệp
Trang 37Hơn nữa, truyền thống người Việt Nam cần cù sáng tạo lao động, giàu kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, và tiếp thu khoa học kỹ thuật nhanh đều là những điều kiện giúp cho phát triển nông nghiệp Việt Nam phát triển thuận lợi Do vậy cũng cần đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực, tận dụng năng lực cũng như phát huy mọi tiềm năng của tập thể cũng như cá nhân
để tạo ra chất lượng và hiệu quả kinh tế [5],[6],[7]
b Cơ sở vật chất kỹ thuật:
Hệ thống cơ sở hạ tầng có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của mọi ngành kinh tế Do đó kết cấu hạ tầng ở nông thôn là điều kiện rất quan trọng để phát triển nông nghiệp Cơ sở hạ tầng phát triển tốt sẽ đảm bảo cho kinh tế hàng hóa phát triển, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho dân
cư nông thôn Bởi có hình thành hệ thống thủy lợi, kênh mương, với các thiết
bị tưới tiêu hiện đại mới có thể tính tới việc tăng năng suất và chất lượng các sản phẩm nông nghiệp, giảm dần sự phụ thuộc vào tự nhiên góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động cho phù hợp tránh lãng phí nguồn nhân lực
1.3.3 Các điều kiện khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ như đã nêu ở phần trên tuy chỉ làm giảm thiểu thiệt hại do môi trường tác động tới kết quả sản xuất nông nghiệp nhưng trong một số khâu, một số lĩnh vực của ngành nông nghiệp việc áp dụng những tiến
bộ và khoa học công nghệ hiện đại cho phép tạo ra những kết quả vượt xa khỏi sự mong đợi Vì vậy, cần thúc đẩy và nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất, thay đổi phương thức sản xuất tuy nhiên khi áp dụng những tiến bộ, khoa học – công nghệ cần phải đảm bảo phù hợp với điều kiện vùng, trình độ lao động, cũng như sự phát triển của nông nghiệp trong từng giai đoạn, từng thời kỳ nhất định
Trang 381.3.4 Chính sách phát triển nông nghiệp
Các chính sách về phát triển nông nghiệp có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển nông nghiệp gồm những chính sách như: Chính sách đất đai, thuế, chính sách về tín dụng phát triển nông nghiệp, lãi suất ưu đãi hỗ trợ nông dân, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ lao động…Dù phát triển với tầm nhìn chiến lược nhiều năm tới hay phấn đấu trong thời gian ngắn với các chỉ tiêu đã ra quyết sách thì các chính sách về phát triên nông nghiệp luôn là những công cụ hỗ trợ tốt nhất của chính quyền hay của quốc gia về phát triển nông nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung
Những quy định, những chính sách, những định hướng về phát triển nông nghiệp nhằm điều tiết và quản lý kinh tế nông nghiệp là những công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước có ảnh hưởng rất sâu và rộng tới sự phát triển nông nghiệp Mặt khác, trình độ thực thi, tổ chức và quản lý những chính sách này đánh giá và thể hiện năng lực điều hành của một chính quyền địa phương hay một quốc gia Vì vậy, vai trò quản lý và điều hành của chính quyền địa phương hay của quốc gia đóng vai trò tác động rất lớn tới sự phát triển của ngành nông nghiệp
Trên đây chỉ là một trong nhiều tác động của thị trường quyết định tới
sự phát triển nông nghiệp Điều này phản ánh tác động rất lớn, quan trọng và sâu sắc của thị trường đối với sự phát triển của toàn bộ ngành nông nghiệp
Trang 39Trong nền kinh tế thị trường hiện nay những vấn đề cơ bản như: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? và Sản xuất cho ai? Đều do thị trường chi phối dù có ở bất kỳ lĩnh vực nào, hay bất cứ ngành nào cần phát triển đều không thể bỏ qua những câu hỏi như vậy Ngành nông nghiệp muốn phát triển thì cần phải căn cứ vào nhu cầu thị trường Hiện nay với xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu và rộng với xu hướng trao đổi hàng hóa, mở rộng thị trường, hợp tác cùng phát triển thì thị trường càng cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng Vì vậy, thị trường dù là khâu cuối cùng của chuỗi sản xuất nhưng lại là nơi quan trọng nhất để đánh giá sự phát triển, bởi sự tăng lên của sản lượng cũng như của giá cả hàng hóa là những thước đo quan trọng nhất cho cả một quá trình sản xuất lâu dài trước đó
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này, tác giả trình bày những lý luận cơ bản về phát triển nông nghiệp, đồng thời tác giả cũng đã phân tích những nội dung của phát triển nông nghiệp cùng các tiêu chí đánh giá
Bên cạnh đó tác giả cũng đã nêu ra những tác động của các nhóm nhân
tố ảnh hưởng tới sự phát triển của nông nghiệp bao gồm: những điều kiện tự nhiên, điều kiện về kinh tế - xã hội, điều kiện khoa học công nghệ, về cơ chế quản lý của nhà nước cũng như những yếu tố thị trường sẽ có những ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực tới sự phát triển nông nghiệp thực tế trên địa bàn huyện Buôn Đôn sẽ được trình bày ở các phần sau