1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN index

139 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 3,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhiều thập kỷ qua, việc phân tích phản ứng của thị trường chứng khoán trước sự thay đổi của các biến kinh tế vĩ mô luôn là một đề tài hấp dẫn và gây nhiều tranh cãi đối với các nhà

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN TRẦN PHƯƠNG THẢO

PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ

KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ

CHỨNG KHOÁN VN INDEX

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng - Năm 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN TRẦN PHƯƠNG THẢO

PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ

KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ

CHỨNG KHOÁN VN INDEX

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60.34.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐINH BẢO NGỌC

Đà Nẵng - Năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nguyễn Trần Phương Thảo

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

của Dickey Fuller

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN 4

1.1.THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN 4

1.1.1 Thị trường chứng khoán 4

1.1.2 Chỉ số giá chứng khoán 10

1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN 14

1.2.1 Ảnh hưởng của lạm phát đến chỉ số giá chứng khoán 15

1.2.2 Ảnh hưởng của chỉ số sản xuất công nghiệp đến chỉ số giá chứng khoán 16

1.2.3 Ảnh hưởng của lãi suất đến chỉ số giá chứng khoán 17

1.2.4 Ảnh hưởng của tỷ giá đến chỉ số giá chứng khoán 19

1.2.5 Ảnh hưởng của cung tiền đến chỉ số giá chứng khoán 20

1.2.6 Ảnh hưởng của giá xăng bán lẻ đến chỉ số giá chứng khoán 21

1.2.7 Ảnh hưởng của giá vàng trong nước đến chỉ số giá chứng khoán 22 1.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN 22

1.3.1 Nghiên cứu thực nghiệm ở nước ngoài 22

1.3.2 Nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam 28

Trang 6

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31

CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN VN-INDEX 32

2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CHỈ SỐ VN-INDEX 32

2.1.1 Công thức tính chỉ số Vn-Index 32

2.1.2 Diễn biến chỉ số Vn-Index giai đoạn 2005-2014 32

2.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC BIẾN KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN VN-INDEX 34

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu 34

2.2.2 Dữ liệu nghiên cứu 40

2.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45

2.3.1 Phân tích thống kê mô tả dữ liệu 45

2.3.2 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm 47

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57

CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN VN-INDEX 58

3.1 PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ VN-INDEX TỪ KẾT QUẢ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 58

3.1.1 Phân tích kết quả mô hình nghiên cứu 58

3.1.2 Phân tích hàm phản ứng đẩy (Impulse Response Function, IRF) 62

3.1.3 Uớc lượng phân rã phương sai (Forecast Erorr Variance Decomposition, FEVD) 63

3.2 PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ VN-INDEX TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC TẾ TẠI VIỆT NAM 66

3.2.1 Ảnh hưởng của chỉ số giá tiêu dùng đến chỉ số Vn-Index 66

3.2.2.Ảnh hưởng của chỉ số sản xuất công nghiệp đến chỉ số Vn-Index 70

3.2.3.Ảnh hưởng của lãi suất đến chỉ số Vn-Index 73

3.2.4.Ảnh hưởng của tỷ giá VNĐ/USD đến chỉ số Vn-Index 76

Trang 7

3.2.5.Ảnh hưởng của giá xăng bán lẻ đến chỉ số Vn-Index 81

3.2.6.Ảnh hưởng của chỉ số giá vàng đến chỉ số Vn-Index 86

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 91

CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GỢI Ý VỀ CHÍNH SÁCH VĨ MÔ NHẰM PHÁT TRIỂN ỔN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 92

4.1.CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020 92

4.1.1 Quan điểm phát triển 92

4.1.2 Mục tiêu phát triển 93

4.2 GỢI Ý VỀ CHÍNH SÁCH VĨ MÔ NHẰM PHÁT TRỂN ỔN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 94

4.2.1 Kiểm soát lạm phát kịp thời và hiệu quả 95

4.2.2 Thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững 97

4.2.3 Điều hành chính sách lãi suất linh hoạt hướng đến một ức lãi suất chung theo thị trường 98

4.2.4 Nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tỷ giá VND/USD 99

4.2.5 Thực hiện các biện pháp phát triển thị trường xăng dầu 100

4.2.6 Liên thông thị trường vàng trong nước với thị trường vàng quốc tế 103

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 106

KẾT LUẬN 107

MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hình thức sơ khai nhất của thị trường chứng khoán đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm, vào khoảng thế kỷ thứ 15 tại các nước phương Tây Từ đó đến nay, quá trình phát triển của thị trường chứng khoán đã trải qua nhiều bước thăng trầm Lịch

sử đã ghi nhận hai cuộc khủng hoảng lớn; đó là khi các thị trường chứng khoán lớn

ở Mỹ, Tây Âu, Bắc Âu, Nhật Bản bị sụp đổ chỉ trong vài giờ vào “ngày thứ năm đen tối” 29/10/1929 và “ngày thứ hai đen tối” 19/10/1987 Song, dù trải qua các cuộc khủng hoảng, cuối cùng thị trường chứng khoán vẫn phục hồi và tiếp tục phát triển, trở thành một thể chế tài chính không thể thiếu được trong nền kinh tế vận hành theo

cơ chế thị trường

Trong nhiều thập kỷ qua, việc phân tích phản ứng của thị trường chứng khoán trước sự thay đổi của các biến kinh tế vĩ mô luôn là một đề tài hấp dẫn và gây nhiều tranh cãi đối với các nhà nghiên cứu cũng như những nhà đầu tư Ví dụ, nghiên cứu của Chen và các cộng sự (1986) đã tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng giá trị sản xuất công nghiệp, sự thay đổi của phần bù rủi ro, sự thay đổi của cấu trúc kỳ hạn có tác động dương đến tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán, trong khi đó lạm phát lại

có tác động âm đến tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán Murkherjee và Naka (1995) phát hiện giá chứng khoán và các nhân tố kinh tế vĩ mô có mối qua hệ cân bằng trong dài hạn Menike (2006) tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa lãi suất tín phiếu kho bạc và chỉ số thị trường chứng khoán Sri Lanka Hay mới đây, Yu Hsing (2013) đã đưa ra kết luận về mối quan hệ giữa chỉ số thị trường chứng khoán Nhật Bản với các yếu tố kinh tế vĩ mô như chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, tỷ giá, lạm phát, chỉ số thị trường chứng khoán nước ngoài…

Hầu hết mọi người đều cho rằng chỉ số giá chứng khoán chịu ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô cơ bản như lạm phát, tỷ giá, lãi suất… nhưng điều đáng nói là, kết quả của sự tác động đó khi nghiên cứu ở quốc gia này lại có thể giống hoặc không

Trang 11

giống với quốc gia khác Thậm chí, trong cùng một quốc gia nhưng kết quả vẫn có thể khác nhau khi nghiên cứu ở những giai đoạn khác nhau Vì vậy, việc sử dụng kết quả của các nghiên cứu nước ngoài để áp dụng cho thị trường chứng khoán Việt Nam

là điều không thể Do đó, nghiên cứu thực nghiệm tác động của các biến kinh tế vĩ

mô đến thị trường chứng khoán khi sử dụng chuỗi dữ liệu thời gian tại Việt Nam là điều vô cùng cần thiết Đối với các nhà hoạch định chính sách, kết quả nghiên cứu này là kim chỉ nan giúp họ có được sự lựa chọn tối ưu nhất khi muốn tác động vào nền kinh tế theo đúng mục đích; còn đối với các nhà đầu tư, việc nắm rõ mối quan hệ giữa giá chứng khoán với các biến kinh tế vĩ mô giúp họ có thể dự đoán được thị trường và đưa ra các quyết định hợp lý Chính vì lý do đó, tôi đã chọn đề tài nghiên

cứu: “Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng

khoán VN Index”

Tác động đến thị trường chứng khoán nói chung và chỉ số giá chứng khoán nói riêng bao gồm các yếu tố nội sinh, các yếu tố ngoại sinh và những yếu tố khác nữa Tuy nhiên, trong nghiên cứu này chúng ta chỉ quan tâm đến sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô (nhân tố ngoại sinh) đến chỉ số giá chứng khoán Vn-Index

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của đề tài là phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh

tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN-Index Gồm những mục tiêu cụ thể sau:

- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu thực nghiệm về sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán

- Xác định và phân tích ảnh hưởng của các biến kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán Vn-Index

- Gợi ý chính sách kinh tế vĩ mô nhằm phát triển ổn định thị trường chứng khoán Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Sự ảnh hưởng của các biến kinh tế vĩ mô đến chỉ

số giá chứng khoán Vn-Index

Trang 12

 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu ảnh hưởng của các biến kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán Vn-Index trong khoảng thời gian từ tháng 1/2005 đến tháng 09/2014

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp định lượng theo mô hình Vector hiệu chỉnh sai số (VECM) kết hợp với các kiểm định tính dừng ADF và PP; kiểm định đồng liên kết Johansen; kiểm định nhân quả Granger Bên cạnh đó, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp thống kê mô tả (phân tích biểu đồ, hình ảnh, các chỉ số…)

để phân tích sự ảnh hưởng của các biến kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán Index

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Thông qua kết quả thực nghiệm, nghiên cứu đã chỉ ra mức độ và chiều hướng tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán Vn-Index trong giai đoạn từ 12/2005 đến 09/2014 Từ đó, đề xuất một vài gợi ý về điều hành chính sách kinh tế vĩ mô nhằm phát triền ổn định thị trường chứng khoán Việt Nam, đồng thời giúp các nhà đầu tư trong và ngoài nươc giảm thiểu được rủi ro khi đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN

CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN

1.1 THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN

1.1.1 Thị trường chứng khoán

a Khái niệm

Hiện nay, tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về thị trường chứng khoán:

Quan điểm thứ nhất cho rằng thị trường chứng khoán (TTCK) và thị trường

vốn là một, chỉ là tên gọi khác nhau của cùng một khái niệm: Thị trường tư bản

(Capital Market) Nếu xét về mặt nội dung, thì thị trường vốn biểu hiện các quan hệ

bản chất bên trong của quá trình mua bán các chứng khoán TTCK là biểu hiện bên

ngoài, là hình thức giao dịch vốn cụ thể Do đó, các thị trường này không thể phân

biệt, tách rời nhau mà thống nhất và cùng phản ánh các quan hệ bên trong và bên

ngoài của thị trường tư bản

Quan điểm thứ hai của đa số các nhà kinh tế cho rằng TTCK được đặc trưng

bởi thị trường vốn chứ không phải đồng nhất là một Như vậy, theo quan điểm này

TTCK và thị trường vốn là khác nhau; trong đó TTCK chỉ giao dịch, mua bán các

công cụ tài chính trung và dài hạn như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu

công ty Còn các công cụ tài chính ngắn hạn được giao dịch trên thị trường tiền tệ,

không thuộc phạm vi hoạt động của TTCK

Quan điểm thứ ba dựa trên những gì quan sát được tại đa số các Sở giao dịch

chứng khoán lại cho rằng TTCK là thị trường cổ phiếu, hay là nơi mua bán các phiếu

cổ phần được các công ty phát hành ra để huy động vốn Theo quan điểm này TTCK

được đặc trưng bởi thị trường mua bán các công cụ tài chính mang lại quyền tham

gia sở hữu

Các quan điểm trên đều được khái quát dựa trên những cơ sở thực tiễn và trong

Trang 14

và như vậy, thực chất đây chính là quá trình vận động của tư bản, chuyển từ tư bản

sở hữu sang tư bản kinh doanh

Thị trường chứng khoán không giống với thị trường các hàng hoá thông thường khác vì hàng hoá của thị trường chứng khoán là một loại hàng hoá đặc biệt, là quyền sở hữu về tư bản Loại hàng hoá này cũng có giá trị và giá trị sử

dụng Như vậy, có thể nói, bản chất của thị trường chứng khoán là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó, giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư Thị trường chứng khoán là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá

b Phân loại thị trường chứng khoán

- TTCK tập trung: là thị trường chính thức mà ở đó việc giao dịch các loại chứng khoán đã niêm yết được thực hiện một cách tập trung Hình thức điển hình của TTCK tập trung là Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) (Stock exchange), đây là tổ chức có tư cách pháp nhân do nhà nước sở hữu hoặc công ty cổ phẩn hoặc một hiệp hội được thành lập theo quy định của pháp luật sở hữu Mọi việc mua, bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán phải được tiến hành tại Sở giao dịch và thông qua các thành viên của Sở giao dịch theo quy chế của Sở giao dịch chứng khoán

Trang 15

- TTCK phi tập trung (Over the counter – OTC): là thị trường không có địa điểm giao dịch cụ thể, các giao dịch sơ cấp và thứ cấp đều được tiến hành thông qua mạng lưới của các công ty môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán… trên khắp

cả nước bằng hệ thống điện thoại và máy tính nối mạng Cơ chế xác lập giá chủ yếu dựa trên cơ sở thương lượng giá giữa bên mua và bên bán Ngoài các công ty niêm yết, thị trường OTC còn có sự tham gia của các công ty chưa đủ điều kiện niêm yết

- Thị trường sơ cấp: là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới được phát hành Hoạt động của thị trường

sơ cấp tạo ra một kênh huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế, nhà phát hành trực tiếp nhận được nguồn từ việc bán chứng khoán của họ Qua hoạt động này của thị trường

sơ cấp, các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư, trong các tổ chức kinh tế, xã hội được chuyển thành vốn đầu tư dài hạn cho người phát hành chứng khoán

- Thị trường thứ cấp: là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành Đối với nhà đầu tư đang nắm giữ chứng khoán, vì nhu cầu chuyển đổi thành tiền để đầu

tư vào kênh khác hoặc muốn hưởng chênh lệch giá mà họ chuyển nhượng lại chứng khoán của mình Đối với người mua, vì mục đích nắm giữ tài sản tài chính và nhận thu nhập từ cổ tức mà họ tham gia vào thị trường thứ cấp

- Thị trường cổ phiếu: là thị trường giao dịch, mua bán các loại cổ phiếu bao gồm cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi

- Thị trường trái phiếu: là thị trường giao dịch, mua bán các loại trái phiếu đã được phát hành; bao gồm trái phiếu công ty, trái phiếu địa phương và trái phiếu chính phủ

- Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: là thị trường phát hành và mua đi bán lại các giấy tờ có giá như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai…

Trang 16

c Chức năng và vai trò của thị trường chứng khoán

 Chức năng:

Sự hoạt động của TTCK tạo ra một cơ chế chuyển các nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu TTCK cung cấp phương tiện huy động số vốn nhàn rỗi trong dân cư cho các công ty sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như: đầu tư phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất… Nhờ vào sự hoạt động của TTCK mà các công ty có thể huy động một lượng vốn lớn để đầu tư dài hạn Khi các nhà dầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Trong quá trình này, TTCK đã có những tác động quan trọng trong việc đẩy mạnh phát triển kinh tế quốc dân bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của công ty Thông qua TTCK, Chính Phủ

và chính quyền địa phương đã huy động được nguồn tiền cho đầu tư phát triển cơ sơ

hạ tầng phục vụ nhu cầu xã hội của minh

TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro; do đó các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình

Các chỉ số của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén

và chính xác Giá của chứng khoán tăng lên cho thấy nhà đầu tư đang mở rộng hoạt động của mình, do đó làm cho nền kinh tế tăng trường; và ngược lại, khi giá chứng khoán giảm nghĩa là nền kinh tế đang tồn tại nhiều vấn đề tiêu cực Vì thế, TTCK được coi là một chỉ báo của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính Phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, Chính Phủ có thể mua bán trái phiếu Chính Phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, Chính Phủ còn có thể sử dụng các chính cách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư, đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế

Trang 17

 Vai trò:

Nhờ có TTCK mà các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán mà họ đang sở hữu thành tiền hoặc các chứng khoán khác theo ý muốn Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính rất hấp dẫn của chứng khoán đối với nhà đầu tư Đây là yếu tố quan trọng cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và hiệu quả thì tính thanh khoản của chứng khoán càng được nâng cao

Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện Từ đó, tạo ra được một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế, kích thích áp dụng công nghệ và cải tiến sản phẩm

TTCK hỗ trợ cho việc thành lập và phát triển các công ty cổ phần thông qua việc quảng bá thương hiệu, định giá doanh nghiệp, bảo lãnh phát hành, phân phối chứng khoán và đảm bảo thanh khoản một cách nhanh chóng Thông qua đó, TTCK

đã thu hút các nhà đầu tư đến góp vốn, góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hóa của các doanh nghiệp

Ngược lại, chính sự phát triển của mô hình công ty cổ phẩn đã làm phong phú

và đa dạng các loại hàng hóa trên TTCK, thúc đẩy sự phát triển sôi động của TTCK

Có thể nói, TTCK và công ty cổ phẩn là hai định chế song hàng và hỗ trợ cùng nhau phát triển

TTCK không những thu hút các nguồn vốn trong nội địa mà còn giúp Chính Phủ và các công ty phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu của mình ra thị trường vốn quốc tế để thu hút mạnh mẽ hơn nguồn vốn ngoại tệ Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài qua kênh chứng khoán là an toàn và hiệu quả vì các chủ thể phát hành được

Trang 18

toàn quyền sử dụng nguồn vốn huy động được cho muc tiêu của mình mà không bị ràng buộc bởi bất kỳ điều kiện nào của các nhà đầu tư nước ngoài

d Chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán

Chủ thể quản lý có nghĩa vụ bảo đảm cho TTCK hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo cho việc mua bán chứng khoán trên thị trường diễn

ra một cách công khai, minh bạch và hiệu quả, tránh những yếu tố tiêu cực có thể xảy

ra, từ đó giúp bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư

Hiện nay, hầu hết các nước có TTCK đều có cơ quan quản lý và giám sát về chứng khoán và TTCK Tùy theo từng quốc gia có thể có những tên gọi khác nhau nhưng thường là Ủy ban chứng khoán quốc gia Bên cạnh đó, còn có Hiệp hội kinh doanh chứng khoán và các Sở giao dịch chứng khoán Ở mỗi quốc gia, với những đặc trưng riêng mà có những hình thức quản lý khác nhau và thiết lập nên những cở quan quản lý khác nhau

- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty

- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng…phục vụ cho hoạt động của họ

Nhà đầu tư (NĐT) là chủ thể tham gia chính trên TTCK khi thực hiện giao dịch chứng khoán NĐT được chia thành hai loại là NĐT cà nhân và NĐT tổ chức

- NĐT cá nhân: là những cá nhân tham gia mua bán chứng khoán trên TTCK

và thương có những đặc điểm sau: Quy mô vốn nhỏ, khả năng chịu đựng rủi ro thấp; thời hạn đầu tư ngắn; kiến thức kinh nghiệm về đầu tư chứng khoán là không đồng đều và nhìn chung đều thấp

Trang 19

- NĐT tổ chức: là các định chế đầu tư thực hiện giao dịch chứng khoán như các công ty quản lý quỹ, ngân hàng, công ty đầu tư tài chính, công ty bảo hiểm, NĐT tổ chức có những đặc điểm sau: là tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, có kinh nghiệm chuyên sâu trong việc phân tích đầu tư; có quy mô vốn lớn, thường xuyên giao dịch với khối lượng nhiều, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá chứng khoán và xu hướng đầu

tư trên thị trường; có nguồn vốn đầu tư dài hạn nên có thể nắm giữ cổ phiếu trong một thời gian dài – một điều mà NĐT cá nhân khó lòng đạt được Mục đích của NĐT

tổ chức cũng khác hơn so với NĐT cá nhân ở Họ có thể mua một khối lượng lớn cổ phiếu để nắm giữ quyền chi phối hoạt động, thâu tóm doanh nghiệp và có cơ hội tốt hơn NĐT cá nhân trong việc tiếp cận thông tin doanh nghiệp

Chủ thể trung gian tài chính là các chủ thể tham gia nhằm hỗ trợ cho hoạt động của TTCK diễn ra liên tục và đóng vai trò ngày càng quan trọng vào sự phát triển của TTCK, điển hình nhất là công ty chứng khoán

Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian chuyên nghiệp về kinh doanh chứng khoán, thực hiện một số nghiệp vụ như: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán Công ty chứng khoán là thành viên của SGDCK

Các chủ thể khác tham gia trên TTCK như: Trung tâm lưu ký, thanh toán bù trừ, ngân hàng giám sát, các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm,… giúp cho hoạt động của thị trường diễn ra liên tục và thuận lợi hơn

1.1.2 Chỉ số giá chứng khoán

a Khái niệm

Chỉ số giá chứng khoán là chỉ số được dùng để phản ánh sự biến động của giá

cổ phiếu niêm yết trên một TTCK nhất định tại một thời điểm so với thời điểm gốc Chỉ số giá chứng khoán cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư đánh giá và phân tích TTCK, từ đó đưa ra những quyết định đầu tư phù hợp

Trang 20

Chỉ số giá chứng khoán là một số tương đối biểu hiện bằng điểm, thông qua

sự quan hệ so sánh giữa giá cổ phiếu bình quân kỳ nghiên cứu với giá bình quân của

kỳ gốc đã chọn Chỉ số giá chứng khoán được cấu thành bởi hai yếu tố là loại chứng khoán và giá của từng chứng khoán đó Chỉ số chứng khoán được tổng hợp từ danh mục các chứng khoán theo phương pháp tính nhất định Thông thường, danh mục sẽ bao gồm các chứng khoán có những đặc điểm chung như cùng niêm yết tại cùng một SGDCK, cùng ngành hoặc cùng mức vốn hóa thị trường

Ý nghĩa của chỉ số giá chứng khoán:

- Chỉ số giá chứng khoán phản ánh xu hướng vận động chung của toàn thị trường nên nó là một thông tin không thể thiếu trong bất cứ một thông tin báo cáo

nào về hoạt động giao dịch trên TTCK

- Chỉ số giá chứng khoán cung cấp thông tin cho các NĐT đánh giá và phân tích TTCK một cách tổng quát vì nó cho thấy được tình hình biến động của giá chứng khoán nói riêng và của cả thị trường nói chung Chỉ số giá chứng khoán là cơ sở để đưa ra những quyết định đầu tư mang tính chiến lược và dài hạn chứ không phải chỉ nhằm mục tiêu kiếm lời từ những biến động giá tạm thời Đây là thông tin rất quan

trọng đối với các công ty niêm yết, các NĐT trong việc đánh giá TTCK

b Phương pháp tính

Công thức của phương pháp này là lấy tổng thị giá của các chứng khoán đem chia cho số lượng chứng khoán tham gia tính toán:

n: số lượng cổ phiếu đưa vào tính toán

Các chỉ số Dow Jones của Mỹ, Nikkei 225 của Nhật, MBI của Ý đều áp dụng phương pháp này để tính toán Đây là phương pháp tốt khi mức giá của các cổ phiếu

Trang 21

tham gia niêm yết khá đồng đều với nhau, khi đó độ lệch chuẩn của nó thấp

Chỉ số giá bình quân Laspeyres là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị, lấy quyền số là số cổ phiếu niêm yết thời kỳ gốc Như vậy, kết quả tính toán sẽ phụ thuộc vào cơ cấu của quyền số ở thời kỳ gốc như sau:

n: số lượng cổ phiếu tham gia tính toán

Có không nhiều nước áp dụng phương pháp này để tính chỉ số giá chứng khoán Điển hình là ở Đức, phương pháp Laspeyres được dùng để tính toán các chỉ số: FAZ, DAX

Đây là phương pháp được dùng nhiều nhất để tính toán chỉ số giá chứng khoán

Đó là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị với quyền số là số lượng chứng khoán niêm yết ở thời kỳ tính toán Như vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số

ở thời kỳ tính toán như sau:

𝐼𝑃 = ∑ (𝑄𝑡 × 𝑃𝑖)

𝑛 𝑖=1

n: số lượng cổ phiếu tham gia tính toán

Trang 22

Các chỉ số KOSPI của Hàn Quốc, S&P 500 của Mỹ, FTSE 100 của Anh, TOPIX của Nhật, CAC của Pháp, TSE của Đài Loan, Hangseng của Hồng Kông, các chỉ số của Thụy Sỹ,…và chỉ số VN-Index của Việt Nam đều được tính theo phương pháp này

Chỉ số giá bình quân Fisher là chỉ số giá bình quân nhân giữa chỉ số giá Passcher và chỉ số giá Laspeyres Phương pháp này trung hòa được yếu điểm của hai phương pháp trên, tức là giá trị chỉ số tính toán ra phụ thuộc vào quyền số của cả hai thời kỷ là kỳ gốc và kỳ tính toán

Công thức như sau:

Phương pháp này được sử dụng để tính toán chỉ số giá chứng khoán khi độ lệch chuẩn của các chưng khoán là khá cao

Công thức như sau :

Trong đó :

n: số lượng cổ phiếu đưa vào tính toán

Các chỉ số Value Line của Mỹ, FT-30 của Anh áp dụng phương pháp này để tính toán

Trang 23

1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN

Sự ảnh hưởng của các biến kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán có thể tìm thấy trong lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrage Pricing Theory – APT) Theo đó, bất kỳ một thông tin mới nào về các nhân tố vĩ mô như lãi suất, lạm phát, cung tiền…đều có thể ảnh hưởng đến giá chứng khoán/ tỷ suất sinh lợi chứng khoán thông qua tác động đến cổ tức kỳ vọng, tỷ lệ chiết khấu hoặc cả hai (Chen, Roll & Ross, 1986) Năm 1976, lý thuyết APT đã được phát triển bởi Stephen Ross để giải thích tỷ suất sinh lợi của chứng khoán trên thị trường chứng khoán Các nhân tố trong

mô hình APT có thể là các nhân tố kinh tế vĩ mô hoặc các nhân tố kinh tế vi mô Lý thuyết này cho rằng tỷ suất sinh lời kỳ vọng của chứng khoán được xác định bởi công thức:

Bên cạnh đó, theo lý thuyết thị trường hiệu quả, giá cổ phiếu phản ánh tất cả các thông tin có được từ việc phân tích về công ty và nền kinh tế, do đó có mối quan

hệ mật thiết giữa giá cổ phiếu với kỳ vọng về kinh tế vĩ mô trong tương lai

Sau đó, sự phát triển của phương pháp đồng liên kết đã cung cấp một cách tiếp cận hoàn toàn mới và hiệu quả thông qua mô hình Vector hiệu chỉnh sai số (VECM) Nghiên cứu của Murkherjee và Naka (1995) tại thị trường Nhật Bản đã chỉ ra rằng tỷ giá hối đoái, cung tiền, tỷ lệ lạm phát, giá trị sản xuất công nghiệp, lãi suất trái phiếu chính phủ dài hạn và lãi suất tiết kiệm ngắn hạn đều có quan hệ đồng liên kết với chỉ

số giá chứng khoán Ngoài ra, Kwon và Shin (1999) đã sử dụng kiểm định nhân quả Granger và mô hình VECM để chỉ ra sự ảnh hưởng của các biến kinh tế vĩ mô vào thị trường chứng khoán tại Hàn Quốc Và gần đây hơn, Maysami và Koh (2000) cũng

đã sử dụng kiểm định đồng liên kết trong mô hình VECM và cho thấy thị trường chứng khoán Singapore có đồng liên kết với các biến kinh tế vĩ mô

Dựa vào khung lý thuyết nêu trên, nghiên cứu sẽ phân tích ảnh hưởng của các

Trang 24

nhân tố vĩ mô gồm: lạm phát, chỉ số sản xuất công nghiệp, lãi suất, tỷ giá, cung tiền, giá dầu và chỉ số giá vàng đến chỉ số giá chứng khoán dựa trên các lý thuyết có liên quan

1.2.1 Ảnh hưởng của lạm phát đến chỉ số giá chứng khoán

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng hóa tiêu dùng theo thời gian Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối là vì chỉ số này được tính dựa vào một giỏ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng hóa tiêu dùng Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá và sự thay đổi của mức giá, chính là lạm phát Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác

Giá cả của hàng hóa dịch vụ luôn biến đổi theo thời gian, tuy nhiên nếu giá cả thay đổi quá nhanh chóng nó có thể là một cú sốc đối với nền kinh tế Sự thay đổi của giá cả hàng hóa trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến các chứng khoán có lãi suất

cố định Khi giá cả tăng, có nghĩa là đồng tiền đang bị mất giá, khi đó các khoản lãi

cố định sẽ có giá trị thực tế thấp hơn và do đó làm giảm mức sinh lợi của các chứng khoán Lạm phát cũng sẽ gây ảnh hưởng đến các khoản tiền lương, trợ cấp, hưu trí vì chúng là các khoản tiền trả cố định Biến động giá cả có thể ảnh hưởng xấu đến các công ty, người ta thường kỳ vọng mức lạm phát nhẹ trong nền kinh tế đang tăng trưởng, nhưng nếu giá cả của các yếu tố đầu vào tăng quá nhanh sẽ làm giảm lợi nhuận của các nhà sản xuất

Một số cơ chế ảnh hưởng của chỉ số giá tiêu dùng đến chỉ số giá chứng khoán như sau:

khiến chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp tăng và sẽ gây ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường

Trang 25

 Khi lạm phát tăng làm chi phí nguyên vật liệu, tiền lương, chi phí vốn…của doanh nghiệp tăng Do đó, doanh nghiệp phải tăng giá bán đối với sản phẩm đầu ra, điều này gây khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Vì thế, lợi nhuận và cổ tức của doanh nghiệp sụt giảm làm cổ phiếu trở nên kém hấp dẫn đối với nhà đầu tư, kéo theo sự sụt giảm của các cổ phiếu đó trên TTCK

là kênh đầu tư cho các nhà đầu tư tài chính Trong một nền kinh tế khi sức mua của đồng tiền giảm, để bảo vệ cho lợi nhuận của mình các nhà đầu tư sẽ bán ra những chứng khoán được cho là xấu và mua vào những chứng khoán tốt Điều này đã làm thay đổi lượng cung và cầu chứng khoán trên thị trường dẫn đến giá cả chứng khoán cũng thay đổi

pháp như hạn chế tín dụng, tăng lãi suất chiếu khấu… Và hiệu ứng kéo theo là sẽ làm giảm lượng vốn đổ vào TTCK, nhất là đối với các nhà đầu tư vay vốn đê đầu tư vào

cổ phiếu Bên cạnh đó, việc tăng lãi suất chiết khấu khiến cho các ngân hàng cũng phải tăng lãi suất huy động để tăng lượng tiền cho ngân hàng của mình Khi đó, lãi suất Ngân hàng trở nên hấp dẫn hơn lãi suất sinh lợi từ cổ phiếu, điều đó khiến các nhà đầu tư dễ dàng rút vốn từ thị trường chứng khoán để gởi vào ngân hàng

1.2.2 Ảnh hưởng của chỉ số sản xuất công nghiệp đến chỉ số giá chứng khoán

Chỉ số sản xuất công nghiệp là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị sản phẩm (vật chất và dịch vụ) của toàn ngành công nghiệp được sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định so với kỳ gốc Thống kê chỉ tiêu giá trị sản xuất công nghiệp nhằm mục đích tổng hợp, đánh giá kết quả sản xuất của ngành công nghiệp, là căn cứ để tính chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước (GDP), phục vụ tính cơ cấu ngành kinh tế và tốc độ tăng giảm kinh tế Trong một nền kinh tế, để phản ánh tình hình hoạt động và sự tăng trưởng kinh tế người ta thường sử dụng chỉ tiêu GDP để phân tích Trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp là một nhân tố chiếm tỷ trọng khá cao, chính vì vậy bên cạnh GDP thì giá trị sản xuất công nghiệp cũng được xem là một căn cứ của tăng trưởng

Trang 26

kinh tế Giá trị sản xuất công nghiệp được tính theo từng thời kỳ, nó tăng trong thời

kỳ kinh tế phát triển và giảm khi thời kỳ kinh tế đó gặp khó khăn, khủng hoảng Khi chỉ số sản xuất công nghiệp tăng đó chính là báo hiệu cho một sự tăng trưởng kinh tế

và khi chỉ số này giảm đồng nghĩa với việc nền kinh tế đang sụt giảm

Trong các nghiên cứu để phản ánh hoạt động của nền kinh tế người ta thường chọn biến vĩ mô là GDP, tuy nhiên vì bị hạn chế về dữ liệu thống kê theo tháng nên một số nghiên cứu trước đây đã dùng biến chỉ số sản xuất công nghiệp để thay thế Tác động của chỉ số sản xuất công nghiệp đến thị trường chứng khoán cũng tương tự như tác động của GDP đến thị trường chứng khoán:

ngành công nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung khả quan hơn Điều này tác động tích cực đến tâm lý của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Do đó

sẽ giúp ổn định môi trường hoạt động và thu hút nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư vào thị trường này

nghiệp hoạt động tốt và lợi nhuận cũng tăng lên Do đó giá chứng khoán của doanh nghiệp trên thị trường cũng tăng giá và nó sẽ dễ dàng thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư

1.2.3 Ảnh hưởng của lãi suất đến chỉ số giá chứng khoán

Trong một nền kinh tế thị trường, lãi suất được xem là một nhân tố trung tâm

vì mỗi sự thay đổi của nó, bằng con đường trực tiếp hay gián tiếp đều tác động đến hầu hết các hoạt động của nền kinh tế Đặc biệt là trong giai đoạn mà nền kinh tế phát triển quá nóng hay lạm phát thì vai trò của lãi suất càng trở nên quan trọng Các nhà hoạch định chính sách có thể giúp nền kinh tế phát triển ổn định hơn nhờ vào việc sử dụng hợp lý chính sách tiền tệ mà cụ thể là điều chỉnh lãi suất trên thị trường sao cho phù hợp Để giảm lạm phát, ngân hàng trung ương có thể tăng lãi suất làm cho chi phí đi vay của doanh nghiệp tăng lên, tạo rào cản giúp cho nền kinh tế mau chóng hạ nhiệt Ngược lại, một tỷ lệ lãi suất thấp hơn sẽ làm giảm chi phí vay cho doanh nghiệp,

Trang 27

khuyến khích họ mở rộng sản xuất kinh doanh hỗ trợ tăng trưởng kinh tế

Trên thị trường chứng khoán, vai trò của lãi suất được biểu hiện dưới tác động của rủi ro lãi suất Đây là một trong những rủi ro hệ thống mà các nhà đầu tư không thể phân tán được khi đa dạng hóa danh mục đầu tư của họ Rủi ro lãi suất là sự không

ổn định trong giá trị thị trường và số tiền thu nhập trong tương lai, nguyên nhân là do

sự thay đổi mức lãi suất chung Trong đó, nguyên nhân cốt lõi nhất là sự tăng giảm của lãi suất trái phiếu Chính phủ, đây được xem là mức lãi suất chuẩn hay mức lãi suất phi rủi ro Sự lên xuống của lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ dẫn đến sự thay đổi mức sinh lời kỳ vọng của cổ phiếu và trái phiếu khác trên thị trường Như vậy, lãi suất trái phiếu Chính phủ có thể tác động đến toàn hệ thống chứng khoán, từ trái phiếu cho đến những loại cổ phiếu rủi ro nhất.

 Đối với nhà đầu tư: V=∑ 𝐶𝐹𝑡

(1+𝑘𝑒 ) 𝑡

𝑛

1

Trong đó, V là giá cổ phiểu; CFt là dòng tiền hoặc cổ tức được chia ở thời kỳ

Theo đó, khi lãi suất tăng thì giá cổ phiếu sẽ giảm xuống Mặc khác, khi lãi suất tăng thì một lượng vốn lớn sẽ chảy khỏi thị trường chứng khoán để tìm kiếm mức sinh lợi phi rủi ro từ trái phiếu chính phủ hoặc gởi vào ngân hàng Bên cạnh đó, lãi suất tăng cũng ảnh hưởng mạnh đến các nhà đầu tư sử dụng vốn vay để đầu tư chứng khoán

 Đối với doanh nghiệp: Hầu hết các doanh nghiệp đều tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình bằng nguồn vốn đi vay từ ngân hàng Do

đó lợi nhuận của doanh nghiệp cũng trở nên rất nhạy cảm với lãi suất Nếu lãi suất tăng lên dẫn đến chi phí vay của doanh nghiệp tăng làm cho chi phí vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh tăng, điều này đồng nghĩa với lợi nhuận doanh nghiệp giảm.Và kết quả là giá của cổ phiếu cũng giảm

Trang 28

 Trong điều kiện ngân sách Nhà nước bị thâm hụt, Chính phủ sẽ phát hành thêm trái phiếu để bù đắp dẫn đến việc tăng mức cung chứng khoán trên thị trường Và những trái phiếu này chỉ có thể hấp dẫn các nhà đầu tư khi lãi suất mà nó đem lại cao hơn mức lãi suất của các cổ phiếu khác đang lưu hành trên thị trường Hệ quả là, các công ty cũng phải tăng lãi suất trên trái phiếu của mình để cạnh tranh, dẫn đến giá cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi giảm Như vậy, một cơ cấu hợp lý về lãi suất của các công cụ trên thị trường là: nếu tăng lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm cho giá của các loại chứng khoán khác giảm xuống, ngược lại khi giảm lãi suất trái phiếu Chính phủ thì giá của chứng khoán khác sẽ tăng lên

1.2.4 Ảnh hưởng của tỷ giá đến chỉ số giá chứng khoán

Tỷ giá hối đoái giữa hai quốc gia là mức giá mà tại đó đồng tiền của quốc gia này được biểu hiện qua đồng tiền của một quốc gia khác Tỷ giá hối đoài là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ, mặt khác nó thể hiện quan hệ cung cầu về ngoại hối của quốc gia

Tác động của tỷ giá hối đoái đối với một quốc gia được thể hiện rõ nhất qua các quan hệ kinh tế quốc tế ở các mặt sau:

 Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu: nếu đồng nội tệ giảm giá, xuất khẩu sẽ có lợi hơn và doanh nghiệp xuất khẩu có lợi nhuận cao hơn Do đó, tỷ suất sinh lời trên cổ phiếu cũng tăng làm giá cổ phiểu trở nên cao hơn Ngược lại, khi đồng nội tệ tăng giá sẽ làm cho tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu của những doanh nghiệp xuất khẩu giảm xuống vì khi đó khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp này trên thị trường quốc tế bị giảm, bên cạnh đó lượng ngoại tệ thu vào khi chuyển sang đồng nội tệ lại bị giảm nhiều do tỷ giá tăng, làm cho lợi nhuận giảm mạnh

Bên cạnh đó, với những công ty đa quốc gia thì dòng tiền hợp nhất trong

Trang 29

báo cáo thu nhập cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi sự dao động của tỷ giá, làm cho nhà đầu tư có những đánh giá bất lợi đến cổ phiếu

 Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu: khi tỷ giá giảm sẽ làm cho giá nhập khẩu máy móc, nguyên vật liệu trở nên rẻ hơn Vì thế, chi phí sản xuất sẽ giảm và lợi nhuận tăng lên, kéo theo sự tăng lên của giá cổ phiếu Ngược lại,

tỷ giá tăng sẽ làm cho giá cổ phiếu giảm xuống

 Đối với các nhà đầu tư nước ngoài: Khi tỷ giá hối đoái tăng trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi sẽ khuyến khích đầu tư nước ngoài vào trong nước và đồng thời hạn chế đầu tư ra nước ngoài Vì với cùng một giá trị nội tệ các nhà đầu tư sẽ bị mất giá khi đổi chúng sang ngoại tệ để đầu tư ra nước ngoài, ngược lại các nhà đầu tư nước ngoài thì lại có lợi chính vì sự mất giá của đồng nội tệ

1.2.5 Ảnh hưởng của cung tiền đến chỉ số giá chứng khoán

Mức cung tiền hay còn gọi là cung ứng tiền tệ hoặc cung tiền là một khái niệm kinh tế vĩ mô để chỉ lượng cung cấp tiền tệ trong nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản… của các cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp (không kể các tổ chức tín dụng)

Mức cung tiền là một trong những công cụ quan trọng mà Ngân hàng trung ương sử dụng để điều chỉnh chính sách tiền tệ sao cho phù hợp với nền kinh tế trong từng thời kỳ nhất định Trong điều kiện kinh tế suy thoái, để kích thích tăng trưởng kinh tế ngân hàng nhà nước sẽ sử dụng chính sách nới lỏng tiền tệ thông qua cách tăng mức cung tiền Ngược lại, khi cần hạ nhiệt cho nền kinh tế và chống lạm phát, ngân hàng nhà nước sẽ thắt chặt tiền tệ, giảm lượng cung tiền

Tác động của cung tiền đến thị trường chứng khoán thể hiện ở các góc

độ sau:

Trang 30

 Khi mức cung tiền tăng lên sẽ dẫn đến hệ quả lãi suất trong nền kinh

tế giảm Điều này không khuyến khích các nhà đầu tư gởi tiền vào ngân hàng, thay vào đó họ sẽ vay tiền ngân hàng để đầu tư vào những kênh có tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao hơn, một trong những sự lựa chọn đó là chứng khoán Do đó dưới tác động cầu kéo, giá chứng khoán trên thị trường cũng tăng theo Bên cạnh đó, lãi suất thấp làm cho các công cụ có lãi suất cố định như trái phiếu càng không thu hút nhà đầu tư, họ sẽ chuyển từ trái phiếu sang đầu tư vào cổ phiếu

 Về phía các doanh nghiệp, việc nới lỏng tiền tệ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng Họ có thể đi vay với lãi suất thấp để mở rộng kinh doanh, từ đó thu nhập và lợi nhuận cũng tăng lên làm tăng giá cổ phiếu

1.2.6 Ảnh hưởng của giá xăng bán lẻ đến chỉ số giá chứng khoán

Trong một nền kinh tế hiện đại, xăng dầu đã trở thành một yếu tố đóng vai trò huyết mạch Nó không chỉ là một mặt hàng tiêu dùng phổ biến mà còn

là yếu tố đầu vào thiết yếu cho toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ… trong nền kinh tế Với xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang tiếp tục diễn ra trên thế giới thì vai trò này ngày một trở nên quan trọng, nhu cầu tiêu thụ xăng dầu ngày càng gia tăng

Trên thực tế, giá xăng dầu không trực tiếp ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán; nhưng bằng con đường gián tiếp chi phí xăng dầu cũng dẫn đến biến động giá cổ phiếu trên thị trường Việc tăng giảm giá xăng dầu ít nhiều đều ảnh hưởng đến các biến vĩ mô và vi mô, từ đó thông qua các tác động của các nhân tố này chi phí xăng dầu làm cho giá chứng khoán biến động theo

 Chi phí cho xăng dầu làm giảm thu nhập của người tiêu dùng; đồng thời làm tăng chi phí sản xuất của các doanh nghiệp Điều này làm giảm lợi

Trang 31

nhuận và cổ tức của doanh nghiệp, dẫn đến giá cổ phiếu giảm

 Giá dầu tăng tạo áp lực làm lạm phát tăng lên, khi đó các Ngân hàng trung ương sẽ đối phó bằng cách tăng lãi suất chiết khấu Điều đó làm cho trái phiểu trở nên hấp dẫn hơn cổ phiếu dẫn đến giá cổ phiểu sụt giảm

 Đối với các quốc gia xuất khẩu dầu thì ngành công nghiệp khai thác dầu là xương sống cho cả nền kinh tế, nó là nguồn thu nhập chính cho cả quốc gia Đối với quốc gia nhập khẩu dầu thì mọi ảnh hưởng dù nhỏ nhất làm thay đổi lượng cung cầu và giá dầu đều gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh

Khi giá vàng tăng, các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư ít hơn vào cổ phiếu, khiến giá cổ phiếu giảm Vì vậy, cho thấy một mối quan hệ tiêu cực dự kiến giữa giá vàng và giá cổ phiếu

1.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN

1.3.1 Nghiên cứu thực nghiệm ở nước ngoài

Nền tảng của việc định giá chứng khoán là dựa vào dòng tiền chiết khấu

kỳ vọng Do đó, nhân tố quyết định giá chứng khoán chính là tỷ suất sinh lợi

và dòng tiền kỳ vọng ( Elton & Gruber, 1991) Các biến kinh tế vĩ mô sẽ tác

Trang 32

động lên tỷ suất sinh lợi và dòng tiền kỳ vọng trong tương lai của doanh nghiệp,

từ đó sẽ ảnh hưởng đến giá chứng khoán

Fama & Gibbon (1982) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát, tỷ suất sinh lợi và vốn đầu tư Kết quả này ủng hộ cho các nghiên cứu của Mundell (1963) và Tobin (1965) cho thấy rằng lợi nhuận kỳ vọng và tỷ lệ lạm phát có

tương quan âm

Chen, Roll và Ross (1986) với nghiên cứu nổi tiếng về mô hình đa nhân

tố để đánh giá ảnh hưởng của các biến kinh tế vĩ mô lên TTCK Mỹ Các biến kinh tế vĩ mô mà nghiên cứu đã xem xét bao gồm : chỉ số sản xuất công nghiệp (Industrial Production), lạm phát (Inflation), phần bù rủi ro (Risk Premia), cấu trúc kỳ hạn (The Term Structure), chỉ số thị trường (Market Indices), mức chi tiêu thực tế (Consumption) và giá dầu (Oil Prices) giai đoạn từ tháng 1/1953 đến tháng 11/1984 Kết quả cho thấy có một vài biến được chứng minh là có ý nghĩa trong việc giải thích tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của cổ phiếu, đặc biệt là biến sản lượng công nghiệp, biến động trong phần bù rủi ro và đường cong lãi suất ; những biến còn lại có tác động yếu hơn Tác giả cũng kiểm định sự ảnh hưởng của những thay đổi trong tiêu dùng bình quân đầu người thực và thay đổi giá dầu trong việc định giá chứng khoán, nhưng kết quả cho thấy không có một tác động toàn diện nào Công trình này đã cũng cố niềm tin rằng có tồn tại một mối quan hệ cân bằng trong dài hạn giữa giá chứng khoán và các biến số vĩ mô

Tương tự như Chen, Roll và Ross (1986), nghiên cứu của Homoa (1988) cũng

cho kết quả tương tự trên thị trường Nhật Bản

Schwert (1990) phân tích mối quan hệ giữa lợi nhuận trên thị trường

chứng khoán và hoạt động kinh tế thực (được đại diện bởi chỉ số sản xuất công nghiệp) Nghiên cứu cho thấy có tự tương quan dương giữa lợi nhuận chứng khoán và tỷ lệ tăng tưởng sản lượng công nghiệp

Trang 33

Yu Hsing (2013) thực hiện nghiên cứu dựa trên số liệu của thị trường

chứng khoán và các nhân tố kinh tế vĩ mô như chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, tỷ giá, tỷ lệ lạm phát, chỉ số thị trường chứng khoán nước ngoài tại Nhật Bản trong giai đoạn 1975-2009 Kết quả nhận được là giá trị sản xuất công nghiệp có quan hệ cùng chiều với chỉ số thị trường chứng khoán còn các biến

tỷ lệ thâm hụt ngân sách/GDP, lãi suất thực tế trong nước và lạm phát kỳ vọng lại có tương quan ngược chiều với chỉ số thị trường chứng khoán Ngoài ra, nghiên cứu còn tìm thấy mối quan hệ phi tuyến giữa chỉ số chứng khoán với tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu dụng, đó là quan hệ cùng chiều khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu dụng tương đối thấp và ngược chiều khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu dụng tương đối cao Bên cạnh đó, chỉ số thị trường chứng khoán Nhật Bản và tỷ lệ M2/GDP cũng thể hiện mối qua hệ phi tuyến tính Một tỷ lệ M2/GDP cao hơn có thể làm tăng (giảm) chỉ số thị trường chứng khoán nếu tỷ

số đó là thấp hơn (cao hơn) so với giá trị 100,87% Kết quả đảo chiều giữa quan

hệ của chỉ số thị trường chứng khoán Nhật Bản với tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu dụng hoặc tỷ lệ M2/GDP là một sự khác biệt lớn so với các kết quả nghiên cứu trước đây cũng tại thị trường Nhật Bản Mukherjee và Naka (1995) cho thấy sự tăng mức cung tiền M1 làm tăng giá cổ phiếu Nhật Bản Và trong nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng sự mất giá của đồng yên làm tăng giá cổ phiếu Trong khi đó, phát hiện của Choi (1995) cũng như Ajayi và Mougoue (1996) đều đi đến kết quả ngược lại, rằng một sự đánh giá cao đồng yên mới làm tăng giá cổ phiếu Nhật Bản Bên cạnh đó, nghiên cứu của Nieh và Lee (2001) thì không tìm thấy bằng chứng nào về mối quan hệ dài hạn giữa giá cổ phiểu và tỷ giá hối đoái Từ những kết quả nghiên cứu tìm được, Yu Hsing đã đưa ra một

số gợi ý về chính sách Để duy trì một thị trường chứng khoán lành mạnh, các nhà chính sách cần phảm giảm giá đồng yên, giảm tỷ lệ M2/GDP, theo đuổi tăng trưởng kinh tế, chính sách tài khóa thận trọng đồng thời duy trì mức lãi

Trang 34

suất thấp cũng như tỷ lệ lạm phát thấp Ngoài ra, kết quả về mối quan hệ phi tuyến giữa chỉ số thị trường chứng khoán Nhật Bản với tỷ lệ M2/GDP hay tỷ giá hối đoái đã đóng góp một ý nghĩa rất quan trọng khi xây dựng chính sách Việc tăng cung tiền sẽ giúp kích thích tăng hoạt động kinh tế và làm tăng giá chứng khoán, tuy nhiên phải giữ mức tỷ lệ M2/GDP không vượt quá 100,87%

Lý do là, nếu cung tiền M2 tăng quá cao so với GDP dự kiến sẽ làm cho lạm phát kỳ vọng tăng theo và tổn hại đến thị trường chứng khoán Tương tự, sự mất giá của đồng yên được cho là sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho thị trường chứng khoán hơn những tác động xấu miễn là tỷ giá đó không được quá giá trị 52,44

Abdelbaki (2013) đặt ra mục tiêu cho nghiên cứu là trả lời câu hỏi: kinh

tế vĩ mô sẽ hỗ trợ cho việc phát triển thị trường chứng khoán như thế nào? Và

để đạt được mục tiêu nghiên cứu đó, tác giả đã sử dụng các mô hình tự hồi quy

để phân tích và tìm ra mối tương quan giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán Các biến kinh tế vĩ mô được chọn bao gồm: lãi suất thực, lạm phát, tỷ lệ tiết kiệm/GDP, tỷ lệ đầu tư/GDP, tỷ lệ M2/GDP và thu nhập bình quân; và biến đại diện cho sự phát triển của thị trường chứng khoán mà tác giả lựa chọn là tỷ lệ giá trị vốn hóa thị trường/GDP Nghiên cứu đã sử dụng

dữ liệu của các biến từ 2000-2007 để tránh những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến kết quả Bằng phương pháp tự hồi quy, tác giả đã chỉ ra được thu nhập bình quân, đầu tư trong nước, phát triển hệ thống ngân hàng, dòng vốn tư nhân và tăng tính thanh khoản trên thị trường chứng khoán

là các nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển của thị trường chứng khoán Bahrain Các kết quả nghiên cứu này hỗ trợ cho các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô với thị trường chứng khoán Những phát hiện từ nghiên cứu của Abdelbaki đã mang lại những kiến nghị quan trọng cho chính sách của Bahrain Thứ nhất, tính thanh khoản của

Trang 35

thị trường chứng khoán là một yếu tố đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của thị trường Theo đó, cải thiện tính thanh khoản chính là cách để đẩy nhanh sự phát triển của thị trường chứng khoán Bahrain Thứ hai, nghiên cứu này cung cấp bằng chứng cho thấy sự ổn định kinh tế vĩ mô là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến phát triển thị trường chứng khoán Chính phủ Bahrain nên tập trung vào nhận định này bằng cách thực hiện các chính sách vĩ mô một cách hiệu quả Thứ ba, sự phát triển của hệ thống ngân hàng cũng rất quan trọng cho

sự đi lên của thị trường chứng khoán Chính vì thế, Bahrain nên tiếp tục tính đến những biện pháp mạnh để phát triển toàn diện hệ thống ngân hàng Thứ tư, nghiên cứu nhận định rằng chính phủ Bahrain nên thực hiện các chính sách để thu hút đầu tư nước ngoài, khuyến khích dòng vốn chảy vào thị trường chứng khoán, đồng thời thúc đẩy đầu tư trong nước Cuối cùng, tăng trưởng kinh tế cũng là một yếu tố quan trọng đối với thị trường chứng khoán Vì vậy, việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cũng là một mục tiêu mà các nhà chức trách Bahrain cần đạt được

Mohi-u-Din & Mubasher (2013) đã sử dụng mô hình đa nhân tố APT để

phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trường chứng khoán

Ấn Độ Để kiểm tra sự tác động này, sáu biến kinh tế vĩ mô đóng vai trò là sáu biến độc lập được chọn để đưa vào mô hình gồm: lạm phát, tỷ giá hối đoái, sản xuất công nghiệp, cung tiền, giá vàng và lãi suất Các chỉ số thị trường chứng khoán Sensex, Nifty và BSE 100 đóng vai trò là các biến phụ thuộc Dữ liệu thu thập là dạng dữ liệu chuỗi thời gian theo tháng của Ấn Độ trong giai đoạn

từ tháng 4/2008 đến tháng 6/2012 Phương pháp mà tác giả sử dụng là phương pháp hồi quy để xây dựng một mô hình định lượng cho thấy sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trường chứng khoán Kết quả nghiên cứu cho thấy có tồn tại mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô với thị trường chứng khoán Ấn Độ Đầu tiên tác giả cho thấy rằng mức độ tác động của các biến kinh

Trang 36

tế vĩ mô với mỗi chỉ số chứng khoán là khác nhau đáng kể Trong khi chỉ có 40% biến động của các chỉ số Sensex và Nifty có thể được giải thích bởi các biến kinh tế vĩ mô thì sự biến động của chỉ số BSE có thể được giải thích bằng 98% là từ các nhân tố kinh tế vĩ mô Tiếp theo, tác giả xem xét mức ý nghĩa của các hệ số hồi quy của từng biến độc lập đối với từng biến phụ thuộc trong các mô hình Kết quả cho thấy rằng với hai biến chỉ số Sensex và Nifty chỉ có

hệ số của biến tỷ giá là có ý nghĩa trong mô hình thì đối với chỉ số BSE 100 tất

cả các hệ số đều có ý nghĩa ngoại trừ hệ số của biến giá vàng Nghiên cứu đã cung cấp một cái nhìn mới hơn về thị trường chứng khoán Ấn Độ - nơi mà các nhân tố kinh tế vĩ mô đã được chứng minh là rất quan trọng kinh đầu tư vào thị trường Ấn Độ Trong khi tỷ giá có tương quan ngược chiều với các chỉ số thị trường chứng khoán thì các nhân tố kinh tế vĩ mô còn lại đều cho là tương quan ngược chiều với chỉ số chứng khoán, kể cả biến lạm phát vốn được cho là tác động ngược chiều đến thị trường chứng khoán

Jang & Ahmed (2014) tiến hành phân tích ảnh hưởng của các biến kinh

tế vĩ mô đến sự biến động của thị trường chứng khoán tại Mỹ trong dài hạn bằng mô hình MC-GARCH Tác giả đã sử dụng chỉ số S&P 500 để đại diện danh mục đầu tư thị trường và lấy lợi nhuận hàng ngày trên chỉ số S&P 500 làm biến phụ thuộc Các biến kinh tế vĩ mô độc lập bao gồm: GDP danh nghĩa, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế, tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng cung tiền M2, biến động GDP thực tế, tỷ giá hối đoái, lãi suất ngắn hạn và tỷ lệ lạm phát Kết quả của nghiên cứu này đã cung cấp các nhận định có giá trị cho các nhà hoạch định chính sách bằng các bằng chứng cho thấy các biến kinh tế vĩ mô cơ bản của nền kinh tế có tác động đến thị trường chứng khoán Đầu tiên là tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế có mối quan hệ nghịch biến đáng kể với thị trường chứng khoán Kết quả này không giống với nghiên cứu của Engle và Rangel (2008) nhưng phù hợp với nghiên cứu của Hamilton & Lin (1996) hay Fama &

Trang 37

French (1989) Tiếp đó, nghiên cứu cũng chỉ ra được sự biến động của ba biến: GDP thực tế, lãi suất ngắn hạn và tỷ giá hối đoái có mối tương quan cùng chiều với lợi nhuận trên S&P 500 Điều này phù hợp với các lý thuyết kinh tế và nghiên cứu thực nghiệm Và cuối cùng, bài nghiên cứu đưa ra kết quả về sự tác động của biến lạm phát đến thị trường chứng khoán là cùng chiều Tuy nhiên, mối quan hệ đó không có ý nghĩa thống kê Tóm lại, mặc dù bài nghiên cứu này không mang lại kết quả gì đặc biệt, tuy nhiên nó một lần nữa khẳng định mạnh mẽ tầm quan trọng của các chính sách kinh tế vĩ mô đối với việc phát triển thị trường chứng khoán

1.3.2 Nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam

Nguyệt & Thảo (2013) đã chọn sáu nhân tố vĩ mô là: cung tiền, lạm phát,

sản lượng công nghiệp, lãi suất, tỷ giá hối đoái và giá dầu làm biến độc lập Dữ liệu được chọn để thể hiện tình hình của thị trường chứng khoán là chỉ số VN-Index theo tháng trong giai đoạn từ tháng 7/2000 đến tháng 9/2011 (135 quan sát) Chỉ số VN-Index theo tháng được tính trung bình của chỉ số VN-Index đóng cửa cuối mỗi ngày giai dịch trong tháng Bài nghiên cứu áp dụng kiểm định đồng tích hợp theo phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị phần dư Engle Granger để xác định liệu các biến số kinh tế vĩ mô được chọn có mối tương quan với thị trường chứng khoán Việt Nam hay không Ngoài ra, để tránh hiện tượng hồi quy giả mạo, kiểm định nghiệm đơn vị cũng được sử dụng để xem xét tính dừng của các biến số Sau khi kiểm định, bài nghiên cứu dùng phương pháp ước lượng hồi quy bội để phản ánh mối tương quan giữa các biến, và cũng thực hiện hậu kiểm định nhằm nâng cao mức xác thực của phương trình hồi quy như kiểm định Wald (kiểm định ràng buộc tuyến tính), kiểm định Durbin-Watson (kiểm định hiện tượng tự tương quan) Kết quả cuối cùng cho thấy khi các điều kiện khác không đổi thì cung tiền, lạm phát, sản lượng công nghiệp và

Trang 38

giá dầu có mối tương quan dương với thị trường chứng khoán Lãi suất và tỷ giá hối đoái có tương quan âm với thị trường chứng khoán Theo nhận định của tác giả, mối tương quan giữa các biến lạm phát và giá dầu thế giới với thị trường chứng khoán có thể bị sai lệch là do: Thứ nhất, số liệu công bố của các biến kinh tế vĩ mô ở Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề Thứ hai, giá dầu tại Việt Nam chịu sự điều hành, can thiệp rất lớn của Nhà nước, không hoàn toàn tuân theo xu hướng giá thế giới Do đó, kết quả nghiên cứu có nhiều khả năng bị bóp méo Từ kết quả đó, tác giả đưa ra một số gợi ý nhằm xây dựng và hoàn thiện các chính sách điều hành và quản lý kinh tế vĩ mô

Nguyễn & Quyết (2013) nghiên cứu mối liên hệ giữa các nhân tố tỷ giá,

lãi suất với giá cổ phiếu tại TP.HCM trong thời gian qua Dữ liệu sử dụng là dữ liệu chuỗi thời gian theo tháng từ tháng 10/2007 đến tháng 10/2012 Các biến trong mô hình phân tích gồm có tỷ giá USD, lãi suất thị trường liên ngân hàng

và chỉ số giá chứng khoán được lấy logarit tự nhiên trước khi tiến hành phân tích Để đánh giá giá cổ phiếu trong mối quan hệ với tỷ giá hối đoái và lãi suất, tác giả sử dụng mô hình VAR (Vector Autoregression Models) để ước lượng các hàm phản ứng Đầu tiên, bài viết sử dụng kiểm định Dickey-Fuller, Phillips-Perron và KPSS để kiểm định tính dừng của chuỗi dự liệu Tiếp theo, tác giả tiến hành kiểm tra sự ảnh hưởng của các biến thông qua mô hình kiểm định nhân quả Granger để khẳng định sự tác động của tỷ giá và lãi suất đến giá cổ phiếu Cuối cùng là sử dụng mô hình VAR với giả thiết không có biến ngoại sinh để phân tích sự tác động giữa các biến đã chọn Kết quả nghiên cứu cho thấy cả ba biến đều dừng tại phân sai bậc một Kiểm định nhân quả Granger tìm ra lãi suất chính là nguyên nhân của giá cổ phiếu tại mức ý nghĩa 5% Kết quả kiểm định từ mô hình Var chứng tỏ rằng biến giá cổ phiếu có mối liên hệ với lãi suât và tỷ giá, đặc biệt giá cổ phiếu cũng có liên hệ với chính nó tại trễ

1 và 2 Mặt khác, kết quả từ hàm phân rã phương sai cũng cho thấy giá cổ phiếu

Trang 39

có biến động rất lớn từ tháng thứ nhất là 94,744% và 95,66% từ tháng thứ hai

Từ đó, bài nghiên cứu cũng đưa ra một số đề xuất cho chính sách vĩ mô nhằm

ổn định và phát triển thị trường chứng khoán

Yến & Sơn (2014) đã sử dụng các nhân tố vĩ mô gồm: lạm phát, lãi suất,

tỷ giá và cung tiền để phân tích tác động của nó đến chỉ số giá chứng khoán Vn-Index Dữ liệu dùng để phân tích được lấy theo tháng từ tháng 1/2007 đến tháng 12/2012 Để thực hiện nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng phương pháp

định lượng bằng mô hình vector hiệu chỉnh sai số VECM Đầu tiên, nghiên cứu

đã kiểm định tình dừng của chuỗi dữ liệu Tiếp đó, việc xác định độ trễ tối ưu nhằm kiểm tra khả năng đồng liên kết giữa các biến cũng được thực hiện theo phương pháp Johansen Từ kết quả thu được, tác giả thực hiện hồi quy theo mô

hình VECM, đồng thời kiểm định sự phù hợp của mô hình Kết quả cho thấy,

các biến lạm phát và lãi suất có tác động âm đến chỉ số giá chứng khoán, các biến còn lại là tỷ giá và cung tiền thì có tác động dương đến chỉ số VNI Trong

đó, các hệ số đều có ý nghĩa ở mức 5% trừ tác động của biến cung tiền đến chỉ

số giá chứng khoán VNI là không đáng tin cậy ở mức ý nghĩa 5% Để chắc chắn về mối tương quan giữa các biến, nghiên cứu đã thực hiện kiểm định nhân quả Granger Từ đó, bài nghiên cứu đi đến một số kết luận và kiến nghị về

chính sách nhằm phát triển TTCK Việt Nam trong thời gian tới

Trang 40

Dựa vào cơ sở lý luận đã trình bày, đặc biệt là nghiên cứu của Chen, Roll

và Ross (1986) tác giả đã lựa chọn một số biến kinh tế vĩ mô phù hợp với điều kiện kinh tế và thông tin tại Việt Nam để thực hiện phân tích Bên cạnh đó, qua tham khảo các nghiên cứu nước ngoài đã cho thấy sự hữu hiệu của phương pháp hồi quy theo mô hình VECM khi dữ liệu đều là các chuỗi thời gian không dừng; đồng thời, thực tế cho thấy các nghiên cứu trong nước bằng mô hình VECM cũng đạt được những kết quả khả quan nên bài nghiên cứu sẽ thực hiện theo mô hình VECM nhằm khắc phục những hạn chế và nâng cao hơn nữa ý nghĩa thực tiễn của mô hình

Trong phần sau của luận văn, tác giả sẽ từng bước thực hiện việc thiết kế nghiên cứu và phân tích kết quả nhận được; đồng thời đưa ra một số kiến nghị

về chính sách kinh tế vĩ mô nhằm phát triển ổn định TTCK Việt Nam

Ngày đăng: 04/04/2022, 22:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2] Damodar N, Gujarati (1994), Kinh tế lượng cơ sở. Dịch từ tiếng anh. Người dịch Băng Tâm, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế lượng cơ sở
Tác giả: Damodar N, Gujarati
Năm: 1994
[3] Phan Thị Bích Nguyệt và Phạm Dương Phương Thảo (2013), “Phân tích tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trường chứng khoán Việt Nam” Tạp chí phát triển và hội nhập, số 8 (18) – Tháng 01- 02/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trường chứng khoán Việt Nam” "Tạp chí phát triển và hội nhập
Tác giả: Phan Thị Bích Nguyệt và Phạm Dương Phương Thảo
Năm: 2013
[4] Huỳnh Thế Nguyễn và Nguyễn Quyết (2013), “Mối quan hệ giữa tỉ giá hối đoái, lãi suất và giá cổ phiếu tại TP.HCM” Tạp chí phát triển và hội nhập, số 11 (21) – Tháng 07-08/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa tỉ giá hối đoái, lãi suất và giá cổ phiếu tại TP.HCM” "Tạp chí phát triển và hội nhập
Tác giả: Huỳnh Thế Nguyễn và Nguyễn Quyết
Năm: 2013
[7] Lê Văn Tư và Thân Thị Thu Thủy (2006), Thị trường chứng khoán, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán
Tác giả: Lê Văn Tư và Thân Thị Thu Thủy
Năm: 2006
[8] Bùi Kim Yến và Nguyễn Thái Sơn (2014), “Sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam dưới ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô” Tạp chí phát triển và hội nhập, số 16 (26) – Tháng 05-06/2014.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam dưới ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô” "Tạp chí phát triển và hội nhập
Tác giả: Bùi Kim Yến và Nguyễn Thái Sơn
Năm: 2014
[9] Chen, Roll & Ross (1986), Economic Forces And The Stock Market, The Journal of Business, Vol.59, No.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic Forces And The Stock Market
Tác giả: Chen, Roll & Ross
Năm: 1986
[10] Maysami et al, (2005), Relationship Between Macroeconomic Variables And Stock Market Indices: Cointegration Evidence From Stock Exchange Of Singapore’s All-S Sector Indices. Journal Pengurusan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Relationship Between Macroeconomic Variables And Stock Market Indices: Cointegration Evidence From Stock Exchange Of Singapore’s All-S Sector Indices
Tác giả: Maysami et al
Năm: 2005
[11] Alexandra Horobet and Livia Ilie (2007), On The Dynamic Link Between Stock Prieces And Exchange Rates: Evidence From Romania.Academy of Economic Studies Bucharest, Lucian Blaga University of Sibiu Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), On The Dynamic Link Between Stock Prieces And Exchange Rates: Evidence From Romania
Tác giả: Alexandra Horobet and Livia Ilie
Năm: 2007
[12] Yu Hsing (2013), The Stock Market And Macroeconomic Factors In Japan And Policy Implications. International Samanm Journal Of Accounting And Finance, Vol.1, No.1, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Stock Market And Macroeconomic Factors In Japan And Policy Implications
Tác giả: Yu Hsing
Năm: 2013
[13] Ali Falahati Farzad Nouri (2013), The Effect Of Inflation On Development Of Stock Market. Elixir Marketing Mgmt. 58A, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Effect Of Inflation On Development Of Stock Market
Tác giả: Ali Falahati Farzad Nouri
Năm: 2013
[14] Sezgin Acikalin, Rafet Aktas and Seyfettin Unal (2008), Relationship Between Stock Market and Macroeconomic Variables: An Empirical Analysis Of The Istanbul Stock Exchange. Investment Management And Financial Innovations, Volume 5, Issue 1, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Relationship Between Stock Market and Macroeconomic Variables: An Empirical Analysis Of The Istanbul Stock Exchange
Tác giả: Sezgin Acikalin, Rafet Aktas and Seyfettin Unal
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Diễn biến VN-Index giai đoạn 2005-2014 - (luận văn thạc sĩ) phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN index
Hình 2.1 Diễn biến VN-Index giai đoạn 2005-2014 (Trang 41)
Bảng 2.1: Tóm tắt các biến trong mơ hình và nguồn thu thập dữ liệu Tên - (luận văn thạc sĩ) phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN index
Bảng 2.1 Tóm tắt các biến trong mơ hình và nguồn thu thập dữ liệu Tên (Trang 52)
Từ những phân tíc hở phần trước, tác giả xây dựng bảng kỳ vọng về dấu giữa các biến độc lập và các biến phụ thuộc như sau: - (luận văn thạc sĩ) phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN index
nh ững phân tíc hở phần trước, tác giả xây dựng bảng kỳ vọng về dấu giữa các biến độc lập và các biến phụ thuộc như sau: (Trang 53)
Bảng 2.3: Thống kê mơ tả các biến trong mơ hình - (luận văn thạc sĩ) phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN index
Bảng 2.3 Thống kê mơ tả các biến trong mơ hình (Trang 54)
Bảng 2.4: Bảng kết quả kiểm định tính dừng của các biến trong mơ hình - (luận văn thạc sĩ) phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN index
Bảng 2.4 Bảng kết quả kiểm định tính dừng của các biến trong mơ hình (Trang 56)
Bảng 2.5: Kết quả xác định độ trễ tối ưu của mơ hình - (luận văn thạc sĩ) phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN index
Bảng 2.5 Kết quả xác định độ trễ tối ưu của mơ hình (Trang 58)
Bảng 2.6: Bảng ma trận hệ số tương quan giữa các biến độc lập - (luận văn thạc sĩ) phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN index
Bảng 2.6 Bảng ma trận hệ số tương quan giữa các biến độc lập (Trang 59)
c. Kết quả mơ hình Vector hiệu chỉnh sai số (VECM) - (luận văn thạc sĩ) phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN index
c. Kết quả mơ hình Vector hiệu chỉnh sai số (VECM) (Trang 61)
số xác định R2 của mô hình là 93,03% và hệ số R2 hiệu chỉnh là 60,11%. Điều - (luận văn thạc sĩ) phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN index
s ố xác định R2 của mô hình là 93,03% và hệ số R2 hiệu chỉnh là 60,11%. Điều (Trang 62)
hình bằng cách xem xét nghiệm của đa thức đặc trưng có nằm trong vịng trịn đơn vị khơng - (luận văn thạc sĩ) phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN index
hình b ằng cách xem xét nghiệm của đa thức đặc trưng có nằm trong vịng trịn đơn vị khơng (Trang 64)
Hình 2.4: Kiểm định tự tương quan phần dư trong mơ hình - (luận văn thạc sĩ) phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN index
Hình 2.4 Kiểm định tự tương quan phần dư trong mơ hình (Trang 65)
tại. Hệ số điều chỉnh nhận được từ mơ hình nhỏ hơn 1 và có giá trị tuyệt đối là 0,58; điều này nghĩa là nếu có sự mất cân bằng trong kỳ này thì trong kỳ tiếp  theo trung bình 58% sự mất cân bằng đó sẽ được điều chỉnh - (luận văn thạc sĩ) phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN index
t ại. Hệ số điều chỉnh nhận được từ mơ hình nhỏ hơn 1 và có giá trị tuyệt đối là 0,58; điều này nghĩa là nếu có sự mất cân bằng trong kỳ này thì trong kỳ tiếp theo trung bình 58% sự mất cân bằng đó sẽ được điều chỉnh (Trang 71)
Hình 3.2: Kết quả ước lượng phân rã phương sai - (luận văn thạc sĩ) phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN index
Hình 3.2 Kết quả ước lượng phân rã phương sai (Trang 73)
Hình 3.3: Diễn biến CPI và VN-Index giai đoạn 2005-2014 - (luận văn thạc sĩ) phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN index
Hình 3.3 Diễn biến CPI và VN-Index giai đoạn 2005-2014 (Trang 75)
Bảng 4. 18 Các thông số thống kê của từng biến trong mô hình - (luận văn thạc sĩ) phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN index
Bảng 4. 18 Các thông số thống kê của từng biến trong mô hình (Trang 80)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm