Đối với kinh tế tư bản tư nhân cần khuyến khích phát triển sản xuất – kinh doanh trong tất cả các ngành nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài
Trang 1ĐẬU QUANG ANH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN
Ở THỊ XÃ AN KHÊ - TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 2ĐẬU QUANG ANH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
Ở THỊ XÃ AN KHÊ - TỈNH GIA LAI
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60 31 01 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VÕ XUÂN TIẾN
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả phương án nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Đậu Quang Anh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục đề tài 2
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 6
1.1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 6
1.1.1 Khái niệm kinh tế tư nhân và phát triển KTTN 6 1.1.2 Ưu điểm và hạn chế của kinh tế tư nhân 11 1.1.3 Vai trò của KTTN trong nền kinh tế 13 1.2 NỘI DUNG CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 17
1.2.1 Gia tăng số lượng các doanh nghiệp tư nhân 17 1.2.2 Gia tăng quy mô các nguồn lực của từng doanh nghiệp 18 1.2.3 Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh 22 1.2.4 Phát triển các hình thức liên kết sản xuất 23 1.2.5 Phát triển và mở rộng thị trường 24 1.2.6 Gia tăng kết quả sản xuất 25 1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 27
Trang 5CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở THỊ XÃ AN KHÊ, TỈNH GIA LAI 31
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA THỊ XÃ AN KHÊ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 31
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở THỊ
XÃ AN KHÊ, TỈNH GIA LAI TRONG THỜI GIAN QUA 70
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở THỊ
XÃ AN KHÊ, TỈNH GIA LAI TRONG THỜI GIAN TỚI 74
3.1 CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG GIẢI PHÁP 74
3.1.2 Căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế của Thị xã An Khê, tỉnh
Trang 63.2 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở THỊ XÃ AN KHÊ TRONG THỜI GIAN TỚI 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢPO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)
Trang 8An Khê
39
KTTN
43
Trang 92.15 Trình độ đào tạo của giám đốc thuộc KTTN ở thị xã
vực KTTN qua các năm
62
tế
65
KTTN
68
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
xã An Khê
49
Trang 11MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược trong phát triển nền kinh
tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Bộ phận kinh tế này luôn được Đảng, Nhà nước coi trọng và chỉ đạo để phát triển đúng hướng, nhằm góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong bối cảnh các nguồn lực kinh tế của Việt Nam đang còn hạn chế, việc xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần, còn kinh tế tư nhân như một động lực phát triển cơ bản là một bước đi hoàn toàn đúng đắn
Thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai trong quá trình xây dựng và phát triển kinh
tế đã chú ý đến phát triển kinh tế tư nhân và đạt được những thành tựu nhất định Đã huy động nhiều nguồn lực đầu tư vào sản xuất kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, duy trì và phát triển ngành nghề truyền thống, hỗ trợ, bổ sung cho kinh tế Nhà nước, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, tạo ra nhiều sản phẩm, hàng hóa, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách Nhà nước
Tuy nhiên, kinh tế tư nhân ở thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai vẫn chưa được khai thác thỏa đáng, chưa thực sự có được một vai trò tương xứng với tiềm năng của nó Vì vậy, việc tìm kiếm giải pháp để phát triển mạnh hơn nữa bộ phận kinh tế tư nhân là một yêu cầu bức thiết Với lý do đó, tôi chọn đề tài
“Phát triển kinh tế tư nhân ở thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai” làm đề tài luận văn cao học của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến phát triển KTTN nói
Trang 12- Phân tích, đánh giá thực trạng về phát triển KTTN ở thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai thời gian qua
- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển KTTN ở thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển KTTN ở thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp
Chương 1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế tư nhân
Chương 2 Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai
Trang 13Chương 3 Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai trong thời gian tới
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Hiện nay ở nước ta, khu vực kinh tế tư nhân đang dần chiếm vai trò rất quan trọng Từ sau đại hội toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) công nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân, sau đó luật doanh nghiệp năm 2000 và gần đây nhất là luật doanh nghiệp năm 2005 Cùng theo đó là nhiều chỉ thị, nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước đã giúp cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ Cũng từ đó nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế tư nhân
đã được tiến hành từ phương diện lý thuyết cho đến nghiên cứu thực tiễn cho
cả nước và từng địa phương
- Bài báo “Phát triển kinh tế tư nhân – Xu thế tất yếu trong nền kinh tế
thị trường ở nước ta hiện nay” tác giả Đặng Minh Tiến tạp chí Triết học Về
nhận thức, chúng ta thừa nhận kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, với lao động của các chủ thể nền kinh tế và lao động làm thuê, bao gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân Tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta tiếp tục khẳng định thành phần kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân
- Trong cuốn “Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối với kinh tế tư
nhân ở nước ta hiện nay” do Hồ Văn Vĩnh chủ biên (2002) Tác giả đã phân
tích thực trạng hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân và còn phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân Mục đích tìm ra những khó khăn, trở ngại để tiếp tục tháo dỡ, hoàn thiện Trên cơ sở đó nhóm tác giả đã đưa ra khuyến nghị, phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân nước ta như sau:
+ Định hướng chiến lược phát triển kinh tế tư nhân: Đối với kinh tế cá thể, tiểu chủ thì tập trung vào một số ngành nghề sử dụng tiềm năng về vốn,
Trang 14sức lao động, tay nghề từng gia đình, đặc biệt là hướng vào phát triển sản xuất
và chế biến nông – lâm – thủy sản Đối với kinh tế tư bản tư nhân cần khuyến khích phát triển sản xuất – kinh doanh trong tất cả các ngành nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài và kinh doanh ra nước ngoài
+ Tiếp tục đổi mới pháp luật và các chính sách đối với kinh tế tư nhân: Về pháp luật: tiếp tục đổi mới pháp luật, tạo cơ sở pháp lý minh bạch, thông thoáng để kinh tế tư nhân hoạt động bình đẳng Về chính sách: tiếp tục hoàn thiện các chính sách ruộng đất, chính sách đầu tư, chính sách thuế, chính sách vốn và tín dụng ngân hàng, chính sách khoa học và công nghệ, chính sách thương mại và giá cả, chính sách lao động – việc làm – đào tạo nguồn nhân lực + Tăng cường chức năng tổ chức của hệ thống quản lý nhà nước về kinh
tế đối với kinh tế tư nhân
- Bài báo “Đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân trong tiến trình hội nhập
nền kinh tế thế giới” của tác giả Võ Xuân Tiến Nói đến kinh tế tư nhân là nói
đến khu vực kinh tế tư nhân, khu vực mà về quan hệ sở hữu gồm cả kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân Mặc dù về mặt lý luận, quan điểm thì kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân là hai thành phần kinh tế khác nhau, khác nhau về trình độ phát triển lực lượng sản xuất và bản chất quan hệ sản xuất Nhưng trong thực tế, việc phân định rạch ròi ranh giới đâu
là kinh tế cá thể, tiểu chủ đâu là kinh tế tư bản tư nhân không phải là đơn giản Bởi hai thành phần này vận động, phát triển, biến đổi không ngừng cũng như sự ảnh hưởng của các yếu tố thời đại, đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực sản xuất… Nếu kinh tế cá thể là kinh tế của một hộ gia đình hay một cá nhân hoạt động dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lao động, không thuê mướn lao động bên ngoài, thì kinh tế tiểu chủ là hình thức có thuê mướn lao động bên ngoài mặc dù vẫn dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lao
Trang 15động làm thuê Tuy nhiên, quy mô về vốn đầu tư, lao động thì kinh tế tiểu chủ vẫn còn nhỏ Về thành phần kinh tế tư bản tư nhân, mà hình thức thể hiện là các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân Kinh tế tư bản tư nhân có quy mô sản xuất lớn, kỹ thuật sản xuất tiến bộ, công nghệ hiện đại, tuy nhiên vẫn được tiến hành dựa trên tư liệu sản xuất và lao động tư nhân Chính những yếu tố này đã làm cho các loại hình tổ chức sản xuất của kinh tế tư nhân tuy khác nhau nhưng vẫn có chung bản chất, có chung đặc tính tư nhân
- Bên cạnh đó, có thể kể ra một số công trình nghiên cứu như: GS.TS Vũ
Đình Bách “Phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình chuyển sang nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN”, Tạp chí Cộng Sản, số 16 Vũ Đình Ánh
(2004) “Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nước ta”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5 Bạch Thị Huyền (2003), “Năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp vừa và nhỏ: những vấn đề đặt ra trong quá trình hội nhập”, Tạp chí
tài chính, số 11, trang 36 -37 GS TS Hồ Văn Vĩnh (2011), Kinh tế tư nhân
và quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân nước ta hiện nay, Đề tài cấp Bộ,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ CHí Minh PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai,
(2005), Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập, NXB Thế giới,
Hà Nội
- Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước Trong luận văn này, tôi hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế tư nhân trong phần nghiên cứu của mình, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế tư nhân trong thời gian qua ở thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai Từ đó, đưa ra những giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai trong thời gian tới
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1.1 Khái niệm kinh tế tư nhân và phát triển KTTN
a Khái niệm về kinh tế tư nhân
Nghị quyết Trung ương 5, khóa IX của Ban chấp hành Trung ương Đảng
là văn bản có ý nghĩa quan trọng cho việc thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay Cùng với quá trình phát triển với những bước thăng trầm, nhưng cho tới nay ở nước ta vẫn chưa có một văn bản nào định nghĩa rõ ràng về KTTN, những quan niệm về KTTN vẫn chưa thống nhất và được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tiêu thức phân loại vẫn chưa rõ ràng nhất quán Tựu trung lại, KTTN chủ yếu vẫn được xem xét chủ yếu trên khía cạnh sở hữu – sở hữu tư nhân
Từ đó có thể hiêu khái niệm KTTN qua hai cấp độ khác nhau Theo cấp
độ khái quát: được xem xét trên góc độ khu vực nhà nước và khu vực ngoài quốc doanh KTTN là khu vực kinh tế nằm ngoài quốc doanh (ngoài khu vực kinh tế nhà nước), bao gồm các doanh nghiệp trong và ngoài nước, trong đó
tư nhân nắm trên 50% vốn đầu tư KTTN cần được hiểu là tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh không dựa trên sở hữu Nhà nước về các yếu tố của quá trình sản xuất Đặc trưng mang tính bản chất của những doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN là họ sử dụng nguồn vốn của chính họ và có quyền được hưởng thành quả lao động mà họ làm ra “DNTN hoạt động bằng tiền túi và cho chính cái túi tiền mình” Đó là điểm khác biệt quan trong giữa khu vực KTTN
và khu vực KTNN trong các nền kinh tế Nguyên tắc hoạt động của các loại hình DNTN đã được khái quát thành nguyên tắc “ bốn tự” Đó là tự bỏ vốn, tự
Trang 17động, một cơ chế hoạt động tối ưu hướng tới kết quả cao Việc chỉ ra đặc trưng cốt lõi của KTTN sẽ hướng sự chú ý của chúng ta tới bản chất chứ không dừng lại ở hình thức của vấn đề Theo cấp độ hẹp hơn: KTTN gồm có kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân
Thông qua cách hiểu trên, chúng ta có thể đi đến nhận định: “KTTN là
khu vực kinh tế gắn liền với loại hình sở hữu tư nhân, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất tồn tại dưới các hình thức DNTN, công ty TNHH, CTCP và các hộ kinh doanh
cá thể” Luận văn nhất trí với quan điểm này và coi đó là quan điểm chính
thống để nghiên cứu và xem xét về KTTN
Hiện nay, vẫn chưa có một khái niệm rõ ràng về KTTN, vì vậy, việc phân loại KTTN rất khó khăn song lại hết sức cần thiết cho việc tìm hiểu nghiên cứu và vận dụng vào thực tế Ở nước ta hiện nay, khái niệm KTTN chủ yếu được hiểu theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5, khóa IX: KTTN không phải là một thành phần kinh tế, mà là một khu vực kinh tế bao gồm 2 thành phần kinh tế: thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và thành phần kinh tế
tư bản tư nhân Mới nhất, theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng Cộng sản Việt Nam thì “KTTN gồm cả kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư
bản tư nhân”
- Kinh tế cá thể, tiểu chủ
+ Về kinh tế cá thể: kinh tế cá thể được hiểu là hình thức kinh tế của một
cá nhân hay một hộ gia đình hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và khả năng lao động của bản thân người lao động và gia đình
+ Kinh tế tiểu chủ: kinh tế tiểu chủ được hiểu là hình thức kinh tế do một
người chủ tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nhưng có thuê mướn lao động Tuy nhiên thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào sức lao động, vốn của bản thân và gia đình người lao
Trang 18động là chủ yếu
- Kinh tế tƣ bản tƣ nhân
Kinh tế tư bản tư nhân là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh dựa trên
cở sở chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê Biểu hiện của nó là các loại hình doanh nghiệp do nhân dân đầu tư vốn
và quản lý kinh doanh theo luật doanh nghiệp bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, CTCP, công ty hợp doanh Theo đó, KTTN không bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị xã hội khi chuyển thành công ty TNHH, CTCP
b Phát triển kinh tế tư nhân
Phát triển kinh tế tư nhân là tổng hợp các biện pháp, phương pháp , chính sách nhằm huy động các nguồn lực để gia tăng quy mô, hiệu quả sản xuất nhằm đáp ứng yêu cầu xã hội, nhu cầu thị trường và gia tăng lợi nhuận sản xuất Phát triển KTTN là quá trình tăng lên yếu tố đầu vào và kết quả sản xuất của khu vực KTTN
c Các hình thức tổ chức của kinh tế tư nhân
Như đã nêu ở phần phạm vi nghiên cứu, nội dung đề tài tập trung nghiên cứu sự phát triển của KTTN thông qua các loại hình doanh nghiệp tư nhân với các hình thức chủ yếu sau
- Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Chủ sở hữu duy nhất của một doanh nghiệp tư nhân là cá nhân
Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có toàn quyền quyết định sử dụng lợi nhuận sau khi nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của
Trang 19pháp luật Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh Trường hợp thuê người khác làm giám đốc quản lý doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Do là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp nên chủ doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật như các loại hình doanh nghiệp khác Tuy nhiên, do không có tư cách pháp nhân nên mức độ rủi ro của doanh nghiệp cao, chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và của chủ doanh nghiệp chứ không giới hạn
số vốn mà chủ doanh nghiệp đã đầu tư vào doanh nghiệp
Như vậy, có thể thấy doanh nghiệp tư nhân sẽ là loại hình ít được lựa chọn trong thời gian đến do những hạn chế và tính rủi ro của nó không đáp ứng được xu hướng thay đổi của nền kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
- Công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty trách nhiệm hữa hạn là doanh nghiệp trong đó thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp Thành viên công
ty có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên tối thiểu là 2 và không vượt quá 50 người Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp phép giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn không được phát hành cổ phiếu để huy động vốn
Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ 2 thành viên trở lên phải có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc Công ty trách nhiệm
Trang 20hữu hạn có trên mười một thành viên phải có Ban kiểm soát
Công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay Hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty TNHH đem lại cho nhà đầu tư nhiều lợi thế như:
+ Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn
+ Số lượng thành viên trong công ty TNHH không nhiều và các thành viên thường là người quen biết, tin cậy lẫn nhau nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp
+ Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư
dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người lạ vào công ty
Tuy nhiên, hình thức công ty TNHH cũng có những hạn chế nhất định như: do chế độ TNHH nên uy tín của công ty trước đối tác, bạn hàng cũng phần nào bị ảnh hưởng; công ty TNHH chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn là doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh; việc huy động vốn của công ty TNHH bị hạn chế do không có quyền phát hành cổ phiếu
- Công ty Cổ phần
Là doanh nghiệp trong đó:
+ Vốn điều lệ được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
+ Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong số vốn đã góp vào doanh nghiệp; có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa
+ Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng
Trang 21nhận đăng ký kinh doanh Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán
ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán
+ Công ty cổ phần phải có Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, và giám đốc (Tổng giám đốc); đối với công ty cổ phần có trên 11 thành viên cổ đông phải có Ban kiểm soát
Do có những đặc thù như vậy CTCP có những lợi thế nhất định, đó là: + Chế độ trách nhiệm của CTCP là trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi ro của các cổ đông không cao
+ Khả năng hoạt động của CTCP rất rộng, trong hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề
+ Cơ cấu vốn của CTCP hết sức linh hoạt, tạo điều kiện nhiều người cùng góp vốn vào công ty
+ Khả năng huy đông vốn của CTCP rất cao thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng của CTCP
Bên cạnh những lợi thế nêu trên, loại hình CTCP cũng có những hạn chế nhất định như: việc quản lý và điều hành CTCP rất phức tạp do số lượng cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ đông đối kháng nhau về lợi ích; việc thành lập và quản lý CTCP cũng phức tạp hơn các loại hình công ty khác do
bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ tài chính kế toán
1.1.2 Ƣu điểm và hạn chế của kinh tế tƣ nhân
a Ưu điểm của KTTN
- KTTN sử dụng vốn của chính người đầu tư Lợi ích gắn liền với cá nhân họ, đây là động lực chính để thúc đẩy KTTN phát triển
- Mục đích KTTN thường rõ ràng và đơn giản là thu lợi nhuận tối đa, ít
Trang 22bị các mục tiêu kinh tế-xã hội khác chi phối nên thường hiệu quả hơn so với doanh nghiệp nhà nước Đây là cơ hội để doanh nghiệp tư nhân tối ưu cục bộ hiệu quả kinh tế
- Mối quan hệ giữa quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ, lợi ích gắn chặt với nhau Do vậy, các cơ sở KTTN có tính chủ động cao, năng động ứng xử trước thị trường Bộ máy quản lý của doanh nghiệp thường gọn nhẹ chứ không cồng kềnh như doanh nghiệp Nhà nước nên dễ thích ứng được với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, Nhà nước không cần đầu tư lớn và trực tiếp cho khu vực này mà chỉ cần có chính sách, chiến
động, giảm bớt rủi ro cho nền kinh tế do tính thay thế lẫn nhau
b Hạn chế của KTTN
- Vì mục tiêu chính của KTTN là lợi nhuận nên họ chỉ tập trung vào nhu cầu có khả năng thanh toán, không chú ý đến nhu cầu cơ bản của xã hội có lợi nhuận thấp như đường xá, các công trình văn hóa, y tế, giáo dục…
- Các cơ sở kinh doanh thuộc KTTN thường không chú ý đến lợi ích cộng đồng nếu không có lợi ích cho doanh nghiệp Nhiều cơ sở tư nhân bất chấp pháp luật tham gia vào các hoạt động phi pháp để có lợi nhuận cao như làm hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng, buôn lậu, gian lân thương mại, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng…
- Quá trình phát triển KTTN với bản chất vốn có chắc chắn sẽ dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, ảnh hưởng không tốt đến vấn đề công bằng xã hội
- Khả năng tài chính hạn hẹp, thường xuyên ở trạng thái thiếu vốn Điều
đó làm hạn chế khả năng tiếp cận các cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, khó đầu tư máy móc, thiết bị công nghệ sản xuất tiên tiến Khi gặp những biến động lớn của thị trường, các doanh nghiệp KTTN dễ phá sản
Trang 23- Mặc dù linh hoạt nhưng các cơ sở KTTN thường mang tính tự phát nên
dễ đổ vỡ và dễ gây ra khủng hoảng cho nền kinh tế nếu nhà nước buông lỏng quản lý
- Do điểm xuất phát thấp, hoạt động của các cơ sở kinh doanh còn nhiều biến động, thiếu vững chắc nên rất khó trong thu hút lao động có trình độ cao vào sản xuất và quản lý doanh nghiệp
1.1.3 Vai trò của KTTN trong nền kinh tế
Việc phát triển KTTN ở nước ta là vấn đề chiến lược trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Bộ phận kinh tế này được Đảng, Nhà nước coi trọng và chỉ đạo để phát triển đúng hướng, góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Có một thời kỳ dài người ta đánh giá không đúng vai trò của khu vực KTTN Do e ngại KTTN dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về TLSX hàng ngày hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản (CNTB), nên đã tìm mọi cách để triệt tiêu khu vực này và chỉ tạo điều kiện để kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể phát triển Hậu quả là nền kinh tế trì trệ, chậm phát triển, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn Hiện nay ở hầu hết các nước, KTTN đóng góp vai trò rất quan trong chi phối rất lớn đến công cuộc phát triển kinh tế - xã hội Vai trò của khu vực KTTN được thể hiện ở những điểm sau:
Một là, khu vực KTTN góp phần khơi dậy một bộ phận quan trọng tiềm năng của đất nước, tăng nguồn nội lực, tham gia phát triển nền kinh tế quốc dân Vai trò này của khu vực KTTN được thể hiện thông qua một số điểm:
- Khu vực KTTN đã góp phần xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp thúc đẩy LLSX phát triển Khu vực KTTN phát triển làm cho các quan hệ sở hữu của nền kinh tế nước ta trở nên đa dạng hơn Sự biến đổi của quan hệ sản xuất
đã kéo theo sự biến đổi của quan hệ quản lý và phân phối làm cho quan hệ sản
Trang 24xuất trở nên linh hoạt, phù hợp với trình độ phát triển của LLSX vốn còn thấp
và phát triển không đồng đầu giữa các vùng, các ngành trong cả nước Nhờ vậy đã khơi dậy và phát huy tiềm năng về vốn, đất đai, lao động, kinh nghiêm sản xuất của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc vào công cuộc CNH- HĐH Thông qua việc phát triển KTTN mà quyền làm chủ của nhân dân, trước hết là quyền làm chủ về kinh tế được phát huy, đó là cơ sở để mở rộng quyền làm chủ của nhân dân về chính trị, văn hóa, xã hội
- Khu vực KTTN góp phần quan trọng thu hút vốn nhàn rỗi của xã hội
và sử dụng tối ưu các nguồn lực của địa phương Việc thành lập các doanh nghiệp thuộc KTTN không đòi hỏi quá nhiều vốn, nhất là với doanh nghiệp quy mô nhỏ Điều đó sẽ tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể tham gia đầu
tư Mặc khác, trong quá trình hoạt động các loại hình DNTN có thể dễ dàng huy động vốn vay dựa trên quan hệ họ hàng, bạn bè… Chính vì vậy, việc đẩy mạnh các loại hình DNTN được coi là phương tiên có hiệu quả trong việc huy động vốn, sử dụng các khoản tiền đang phân tán, nằm im trong dân cư thành các khoản vốn đầu tư riêng
Các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN thường có quy mô vừa và nhỏ, lại được phân tán ở hầu hết các địa phương, các vùng lãnh thổ nên chúng có khả năng sử dụng các tiềm năng về nguyên vật liệu, lao động và kinh nghiệm sản xuất của các ngành nghề truyền thống của địa phương
- Khu vực KTTN đã đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước Theo thống kê cho thấy, hiện nay đóng góp vào ngân sách của khu vực KTTN tuy còn nhỏ (chưa tới 10%) nhưng đang có xu hướng tăng lên
So với đóng góp vào ngân sách Trung ương thì đống góp của khu vực KTTN vào nguồn thu ngân sách địa phương còn lớn hơn nhiều Ngoài đóng góp vào nguồn thu ngân sách các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN còn có
sự đóng góp đáng kể vào việc xây dựng các công trình văn hóa, trường học,
Trang 25thể dục thể thao, đường sá, cầu cống, nhà tình nghĩa và các công trình phúc lợi khác
Hai là, khu vực KTTN đã có những đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân
- Nhìn chung tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực KTTN đều đặn và xấp xỉ với tốc độ tăng GDP của toàn bộ nền kinh tế, trong đó riêng kinh tế tư bản tư nhân bao giờ cũng thuộc bộ phận có tốc độ tăng trưởng cao nhất Sự phát triển nhanh của KTTN đã góp phần không khỏ vào việc thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế của cả nước
- Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, các doanh nghiệp nhà nước thường được ưu tiên xây dựng thành các khu cụm công nghiệp, dịch vụ tổng hợp và các vùng đô thị, nơi có cơ sở hạ tầng phát triển Điều đó sẽ dẫn đến tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xác hội giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng của một quốc gia Chính sự phát triển của KTTN góp phần quan trọng trong việc tạo lập sự cân đối trong phát triển giữa các vùng Nó sẽ giúp cho vùng sâu, vùng xa, các vùng nông thôn có thể khai thác được tiềm năng, thế mạnh của mình để phát triển nhanh các ngành sản xuất và dịch vụ tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các vùng, miền
Ba là, KTTN phát triển góp phần thu hút một bộ phận lớn lực lượng lao động và đào tạo nguồn nhân lực mới cho thị trường lao động
Hiện nay ở nước ta, khu vực KTTN chỉ giải quyết việc làm được cho khoảng trên 3 triệu lao động, trong khi đó chỉ tính riêng các loại hình doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp đã tạo việc làm cho khoảng 6 triệu lao động Khu vực KTTN có ưu thế hơn hẳn về khả năng tạo việc làm
Nhìn chung lợi thế nổi bật của KTTN là có thể thu hút một lực lượng lao
Trang 26động đông đảo, đa dạng, phong phú vả về mặt số lượng cũng như chất lượng
từ lao động thủ công đến lao động chất lượng cao ở tất cả mọi vùng, miền của đất nước ở tất cả mọi tầng lớp dân cư… Như vậy, KTTN góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động
Ngoài việc tạo công ăn việc làm, do những đòi hỏi để đứng vững trong canh tranh, các DNTN phải luôn tìm những biện pháp tổ chức lao động, quản
lý có hiệu quả nhất, vì vậy kỹ thuật lao đông được thực hiện rất nghiêm ngặt Chính điều này đã góp phần vào việc đào tạo nên đội ngũ lao động có kỹ năng
và tác phong công nghiệp Đồng thời thông qua quá trình này, khu vực KTTN cũng được xem là nơi đào tạo, rèn luyện các chủ doanh nghiệp lớn trong tương lai và là cơ sở kinh tế ban đầu để phát triển các doanh nghiệp lớn
Bốn là, khu vực KTTN góp phần thúc đẩy đất nước hội nhập kinh tế quốc tế
Việt Nam muốn phát triển nhanh cần phải hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, thu hút vốn và công nghệ vào nền kinh tế của mình Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu đối với Việt Nam trong quá trình CNH- HĐH đất nước Quá trình hội nhập có thể thực hiện bằng nhiều con đường như: nhà nước liên doanh với nước ngoài, nhà nước cho nhóm đầu tư nước ngoài thuê đất hay các tổ chức kinh tế và KTTN liên doanh, liên kết với nước ngoài Trong những hình thức này hiện nay nổi bật nhất vẫn là con đường thứ ba, sự liên kết thông qua khu vực KTTN
Cũng thông qua quá trình đó, KTTN với những đặc tính của mình là chủ động đổi mới và lựa chọn công nghệ thích hợp để giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị trường, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm… Từ
đó, KTTN góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ, hợp tác đầo tạo nguồn nhân lực và kinh nghiệp quản lý Đồng thời nó góp phần thúc đẩy thương mại Việt Nam phát triển và hội nhập nhanh vào nền kinh tế thế giới
Trang 27Thông qua những vấn đề phân tích trên có thể thấy, tính chất nhiều thành phần là đặc trung của nên kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Các thành phần kinh tế luôn vận động và phát triển trong môi quan hệ, tác động qua lại và đan xen với nhau Vấn đề hiện nay, không còn dừng lại ở khía cạnh xem xét để xóa bỏ hay ưu tiên thành phần kinh tế nào mà cần nhận thấy mỗi thành phần kinh tế có bản chất riêng, có quy luật kinh tế riêng, dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất Vì vậy, điều quan trọng là phải nắm vững bản chất của từng thành phần kinh tế và sử dụng chúng một cách
có hiệu quả nhất để đẩy nhanh quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, chủ động mở cửa hội nhập sâu hơn nữa vào kinh tế quốc tế giúp cho nền kinh tế nước nhà ngày càng vững mạnh
1.2 NỘI DUNG CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN
Phát triển KTTN là một quá trình lớn lên, tăng tiến về mọi mặt của các yếu tố, các bộ phận, các cơ sở trong khu vực KTTN Chính sự phát triển của từng doanh nghiệp là yếu tố quyết định trong việc thúc đẩy sự phát triển của
cả khu vực KTTN Phát triển KTTN gồm các nội dung sau:
1.2.1 Gia tăng số lƣợng các doanh nghiệp tƣ nhân
- Số lượng doanh nghiệp tư nhân là số lượng các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm các công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân được đăng kí thành lập qua các năm
Gia tăng số lượng doanh nghiệp nghĩa là số doanh nghiệp đang hoạt động và đăng kí mới tăng lên qua thời gian Nhưng vấn đề mà chúng ta quan tâm hơn đó là số lượng doanh nghiệp tăng lên hằng năm hoạt động ổn đinh,
có hiệu quả chứ không phải số doanh nghiệp đăng ký mới Vì số doanh nghiệp đang hoạt động không đánh giá đúng thực tế tình hình phát triển số lượng doanh nghiệp khu vực KTTN
Số lượng doanh nghiệp nhiều cũng đồng nghĩa tạo ra giá trị gia tăng lớn
Trang 28phục vụ cho đời sống kinh tế xã hội, giải quyết việc làm, tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế… Do đó tiêu chí gia tăng số lượng doanh nghiệp là quan trọng để đánh giá sự phát triển của KTTN
Phát triển số lượng doanh nghiệp phải đồng thời quan tâm đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Có như thế, các doanh nghiệp KTTN mới đứng vững được trong môi trường hội nhập thường xuyên biến động như hiện nay
Để các doanh nghiệp tư nhân ra đời và phát triển, thì việc cải thiện và đổi mới trong các dịch vụ công đối với khu vực doanh nghiệp, hướng tới nền hành chính và công vụ hiệu quả phục vụ sự phát triển của doanh nghiệp là rất quan trọng, đó là điều kiện thuận lợi đề các doanh nghiệp phát triển
- Tiêu chí đánh giá: Để đánh giá sự gia tăng số lượng các cơ sở sản
xuất kinh doanh, thường sử dụng các tiêu chí sau:
+ Số lượng doanh nghiệp qua các năm (tổng số và từng loại);
+ Mức tăng về số lượng doanh nghiệp qua các năm;
+ Tốc độ tăng về số lượng doanh nghiệp qua các năm;
+ Tỷ lệ doanh nghiệp mới thành lập
1.2.2 Gia tăng quy mô các nguồn lực của từng doanh nghiệp
Ngoài việc phát triển số lượng doanh nghiệp thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh bằng việc gia tăng các yếu tố nguồn lực của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng
Các nguồn lực của doanh nghiệp là tổng thể các yếu tố sản xuất, tổng thể các nguồn lực cụ thể tham gia vào quá trình sản xuất Gia tăng quy mô các nguồn lực là làm cho các yếu tố đầu vào như: vốn, khoa học công nghệ, mặt bằng sản xuất kinh doanh, lao động, thương hiệu… được sử dụng một cách có hiệu quả hơn hay đưa vào quá trình sản xuất nhiều hơn
Trang 29Vốn là yếu tố sống còn của tất cả các doanh nghiệp từ lúc bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, rồi thuê mướn thêm lao động, chiến lược mở rộng thị trường, cơ hội thay đổi công nghệ tiên tiến…tất cả cần đến nguồn vốn Vốn đầu tư của doanh nghiệp là vốn ban đầu cũng như nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động, tùy thuộc chiến lược sản xuất kinh doanh trong từng giai đoạn, các doanh nghiệp
có thể huy động vốn dựa trên quan hệ họ hàng, bạn bè thân thuộc hoặc vay ngân hàng Nói các khác khả năng vay nợ và tự tài trợ ảnh hưởng lớn rất lớn đến khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Tiêu chí đánh giá: Để đánh giá quy mô nguồn vốn của các doanh
nghiệp trong kinh tế tư nhân, thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
+ Vốn chủ sở hữu bình quân của một doanh nghiệp qua các năm;
+ Tỷ trọng doanh nghiệp theo mức vốn;
+ Cơ cấu vốn sản xuất, kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp
b Lao động
Gia tăng yếu tố lao động được thể hiện ở mặt số lượng và chất lượng Về
số lượng là doanh nghiệp tuyển dụng nhiều lao động hơn trước Chất lượng nguồn lao động thể hiện ở cải thiện về trình độ chuyên môn, kỹ năng, tác phong làm việc, đạo đức trong lao động…
Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định thành công của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh Một doanh nghiệp có thể có vốn, máy móc
Trang 30thiết bị hiện đại… tuy nhiên nếu nguồn nhân lực bị hạn chế thì các nguồn lực trên không phát huy tác dụng Để phát triển nguồn nhân lực cần thiết phải: + Đào tạo và thường xuyên đào tạo lại nguồn nhân lực để nâng cao chất lượng, tức là nâng cao năng lực của nguồn nhân lực, bao gồm: trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ kỹ thuật, trình độ nhận thức
+ Nâng cao động lực thúc đẩy nguồn nhân lực bằng cách sử dụng các công cụ tiền lương, điều kiện làm việc, cơ hội thăng tiến, công cụ tinh thần…
Trong nguồn nhân lực phải rất chú ý đến nguồn lực quản lý, bao gồm trình độ quản lý của doanh nghiệp, cụ thể là trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp và đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp Nó thể hiện ở khả năng điều hành, năng lực nghiên cứu thị trường và đăng ký bảo hộ quyển sở hữu… ảnh hưởng đến uy tín, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Tiêu chí đánh giá:
+ Số lượng lao động bình quân 1 doanh nghiệp;
+ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người lao động;
+ Cơ cấu trình độ chuyên môn nghiệp vụ của lao động;
+ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giám đốc;
c Cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất gồm máy móc thiết bị, nhà xưởng, văn phòng, cửa hàng, mặt bằng sản xuất kinh doanh, phương tiện vận tải, nguyên vật liệu… đó là các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất quyết định kết quả của chu kỳ kinh doanh Trong yếu tố cơ sở vật chất ta phân tích các yếu tố cơ bản sau:
- Mặt bằng sản xuất kinh doanh: là nơi để doanh nghiệp đặt nhà máy,
văn phòng, cửa hàng Nó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh Phát triển mặt bằng sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp không đơn thuẩn là mở rộng diện tích sản xuất kinh doanh mà còn là xây
Trang 31dựng các mặt bằng sản xuất kinh doanh phù hợp, thuận tiện và hiệu quả hơn Thực tế cho thấy, mặt bằng sản xuất kinh doanh thuận lợi cũng là một lợi thế
so sánh, tạo ra thế mạnh không nhỏ cho doanh nghiệp
- Máy móc thiết bị: yêu cầu máy móc thiệt bị phải hiện đại khi đó đầu ra
của sản phẩm mới có thể thỏa mãn nhu cầu của thị trường, giúp doanh nghiệp nâng cao sức mạng của mình trên thị trường
- Nguyên vật liệu: để sản phẩm đúng tiêu chuẩn chất lượng, đáp ứng
công suất của máy móc thì nguồn nguyên liệu phải dồi dào, đạt chất lượng
- Tiêu chí đánh giá:
+ Giá trị cơ sở vật chất qua từng năm;
+ Sự thuận lợi của mặt bằng kinh doanh
d Khoa học công nghệ
Nguồn lực công nghệ bao gồm trình độ công nghệ, mức độ hiện đại của máy móc thiệt bị, nhãn hiệu thương mại, bí quyết kinh doanh, phần mềm bản quyền phát minh sáng chế của doanh nghiệp
Để nâng cao năng lực canh tranh trong môi trường hội nhập hiện nay các doanh nghiệp phải thường xuyên đầu tư thay đổi công nghệ, máy móc thiết bị phù hợp Phát triển khoa học công nghệ không chỉ đơn giản là mua máy móc, thiết bị mà phải quan tâm đến các phương pháp, bí quyết sản xuất, năng lực quản lý Phát triển công nghệ giúp cho doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng nhờ đổi mới và cải tiến quy trình công nghệ sản xuất
Những doanh nghiệp từ chỗ sản xuất nhỏ, thủ công có thể mạnh dạn đầu
tư máy móc, học hỏi công nghệ tiên tiến trên thế giới để áp dụng trong lĩnh vực sản xuất, tăng năng suất lao động… là cơ sở cho việc tăng lợi nhuận, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư
- Tiêu chí đánh giá:
+ Mức độ hiện đại của công nghệ áp dụng vào quá trình sản xuất
Trang 321.2.3 Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh
Hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là cách thức tổ chức hoạt động kinh doanh mà biểu hiện ra bên ngoài, đó chính là doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần
Lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu kinh doanh là rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có đặc trưng riêng và đem lại cho chủ sở hữu những lợi thế và những hạn chế khác nhau Sự khác biệt tạo ra giữa các loại hình doanh nghiệp chính là uy tín doanh nghiệp, khả năng huy động vốn, rủi
ro đầu tư, tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp, tổ chức quản lý doanh nghiệp Đồng thời, những lợi thế so sánh mà loại hình doanh nghiệp có thể đem lại cho nhà đầu tư cũng là tiêu chí quan trọng cần được xem xét khi quyết định lựa chọn hình thức doanh nghiệp để đăng ký kinh doanh Nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn là:
+ Loại hình sản xuất kinh doanh
+ Phương hướng sản xuất kinh doanh
+ Điều kiện địa lý, trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp
+ Điều kiện cơ sở vật chất
+ Số lượng và trình độ của nguồn nhân lực
Như đã phân tích ở phần 1.1.1.c về ưu và nhược điểm của các loại hình
doanh nghiệp thì công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có tính tổ chức và
xã hội hóa cao cả về vốn cũng như về hoạt động; công ty trách nhiệm hữu hạn
là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay; DNTN sẽ là
loại hình doanh nghiệp ít được lựa chọn trong thời gian đến do những hạn chế
và tính rủi ro của nó không đáp ứng được xu hướng thay đổi của nền kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
Trang 331.2.4 Phát triển các hình thức liên kết sản xuất
Liên kết sản xuất là hình thức hợp tác, phối hợp do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành nhằm thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất, mang lại lợi ích cho các bên tham gia, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước
Liên kết sản xuất có hai dạng là liên kết dọc và liên kết ngang:
- Liên kết theo chiều dọc: là liên kết giữa nhà cung câp, người mua
hàng… với doanh nghiệp để hình thành nên chuỗi giá trị sản phẩm
- Liên kết theo chiều ngang: là liên kết giữa các doanh nghiệp trong
cùng ngành với nhau giúp cho doanh nghiệp có tiếng nói chung nên tạo ra được sức mạnh tập thể Liên kết này thể hiện thông qua các hiệp hội ngành nghề
Liên kết doanh nghiệp nghiệp mang lại những lợi ích cơ bản sau:
- Tạo điều kiện để tiết kiệm về quy mô, chi phí
- Giúp doanh nghiệp làm chủ tốt hơn tính phức tạp của thị trường truong điều kiện toàn cầu hóa thương mại
- Giúp doanh nghiệp phản ứng nhanh nhạy hơn với những thay đổi của môi trường kinh doanh
- Tạo điều kiện tăng khả năng linh hoạt của doanh nghiệp vì các doanh nghiệp có thể giảm thiểu có cấu theo cấp bậc và như vây, sẽ dễ dàng hơn trong việc thay đổi, tập trung hơn cho một lĩnh vực có thế mạnh của doanh nghiệp
- Giúp doanh nghiệp tiếp cận nhanh chóng hơn với các công nghệ mới Các bên tham gia liên kết có thể chuyển giao công nghệ cho nhau, với những chi phí hợp lý và thời gian nhanh chóng, do sự tin cậy lẫn nhau
- Giúp giảm thiểu các rủi ro Khi tham gia liên kết, rủi ro sẽ được phân
bổ cho các đối tác tham gia, chứ không chỉ tập trung vào một chủ thể, khi đó
Trang 34khả năng vượt qua khó khăn sẽ cao hơn
- Giúp doanh nghiệp dễ dàng chinh phục những thị trường do khả năng tài chính, tận dụng lợi thế chi phí thấp
- Tạo điều kiện giảm nhẹ cơ cấu bên trong doanh nghiệp, thông qua việc chuyên môn hóa trong các công đoạn sản xuất
- Tiêu chí đánh giá:
+ Số lượng doanh ngiệp tham gia vào hiệp hội doanh nghiệp;
+ Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia vào hiệp hội doanh nghiệp;
+ Tỷ lệ liên kết giữa các doanh nghiệp có cùng chức năng;
+ Tỷ lệ doanh nghiệp liên kết trong chuỗi sản xuất
1.2.5 Phát triển và mở rộng thị trường
Trong kinh tế học, thị trường được hiểu là nơi có các quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa vô số những người bán và người mua có quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời gian nào Phát triển và mở rộng thị trường là tăng số lượng sản phẩm cung cấp cho xã hội, khả năng chiếm lĩnh thị phần
Muốn làm được điều đó doanh nghiệp phải:
- Hiểu rõ về thị trường, nắm bắt được cơ hội không những của thị trường trong nước mà cả thị trường thế giới
- Phải am hiểu thật kỹ nên sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Bán ở đâu? Doanh nghiệp phải chủ động trong sản xuất và tìm kiếm thị trường
Việc mở rộng thị trường tiêu thị có thể tiến hành theo hai cách:
- Mở rộng thị trường theo chiều rộng: đây là quan điểm mở rộng thị trường tiêu thụ với quy mô lớn hơn bằng chính những sản phẩm hiện tại của doanh nghiệp Theo quan điểm này, doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thu theo mô hình thị trường mới, sản phẩm cũ Cụ thể là:
+ Doanh nghiệp sẽ xâm nhập vào thị trường mới ở các khu vực địa lý
Trang 35khác nhau
+ Doanh nghiệp sẽ thâm nhập vào thị trường của đối thủ cạnh tranh, tìm cách thu hút khách hàng của các đối thủ cạnh tranh
- Mở rộng thị trường theo chiều sâu: theo quan điểm này, doanh nghiệp
sẽ khai thác tốt hơn thị trường mới và thị trường hiện có bằng cách tạo ra những sản phẩm mới Đây chính là việc tìm ra các phân đoạn thị trường còn
bỏ ngỏ mà các doanh nghiệp khác chưa tiếp cận Với cách mở rộng này thì doanh nghiệp có thể giảm đi sự cạnh tranh của các đối thủ khác Cụ thể là: + Doanh nghiệp sẽ thực hiện chính sách về sản phẩm, cải tiến phát triển sản phẩm mới, da dạng hóa các sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường hiện tại và cả nhu cầu của thị trường mới
+ Doanh nghiệp tiến hành phân đoạn, cắt lát thị trường, cải tiến hệ thống phân phối sao cho có hiệu quả nhất
- Tiêu chí đánh giá:
+ Số lượng khách hàng;
+ Mức tăng số lượng khách hàng;
+ Doanh thu bán hàng;
+ Mạng lưới đại lý phân phối
1.2.6 Gia tăng kết quả sản xuất
a Gia tăng kết quả sản xuất kinh doanh
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là kết quả hoạt động kinh doanh sau một chu kỳ nhất định và được thể hiện bằng số lượng sản phẩm, giá trị sản phẩm, giá trị doanh thu có được của doanh nghiệp
Nói đến kết quả sản xuất là nói đến loại sản phẩm, số lượng sản phẩm, sản phẩm hàng hóa,giá trị sản lượng và giá trị sản lượng hàng hóa được sản xuất ra
Kết quả SXKD của doanh nghiệp thể hiện sự phối hợp các nguồn lực,
Trang 36các yếu tố sản xuất Nó thể hiện sự lớn mạnh tổng hợp về vốn, lao động, máy móc thiết bị công nghệ, lợi thế SXKD Nếu các nguồn lực này được tăng cường đầu tư đồng bộ thì kết quả sản xuất của doanh nghiệp ngày càng phát triển
Sản phầm là tổng hợp các đặc tính vật lý, hóa học, sinh học… có thể
quan sát được, dùng thỏa mãn những nhu cầu cụ thể của sản xuất hoặc đời sống
Giá trị sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của các sản phẩm do DN, đơm vị
sản xuất ra Trong các doanh nghiệp có sản xuất nhiều sản phẩm thì cần thiết phải quy đổi các sản phẩm thành tiền để thuận lợi trong việc tổng hợp, so sánh
Gia tăng kết quả sản xuất là tổng hợp các biện pháp, chính sách để đạt được kết quả sản xuất của năm sau, chu kỳ sau lớn hơn năm trước, chu kỳ trước
Để gia tăng kết quả sản xuất, doanh nghiệp phải làm tốt các công tác sau: Lựa chọn chiến lược kinh doanh; nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao năng lực sử dụng các nguồn lực, làm tốt công tác marketing, đồng thời cần có
sự hỗ trợ tích cực từ phía nhà nước như tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân thuận lợi trong thành lập, kinh doanh, các chính sách pháp lý ổn định, tạo điều kiện về mặt bằng kinh doanh, các thủ tục hành chính
- Tiêu chí đánh giá:
+ Số lượng sản phẩm tăng lên hằng năm;
+ Tốc độ tăng của sản phẩm;
+ Giá trị sản phẩm tăng lên hằng năm;
+ Tốc độ gia tăng giá trị sản phẩm hằng năm
b Nâng cao đời sống người lao động
Phát triển kinh tế tư nhân thể hiện ở kết quả sản xuất, tức là thể hiện sự
Trang 37tích lũy và nâng cao đời sống của người lao động Nó là sự phát triển về chất,
sự đổi mới và tiến bộ về trình độ sản xuất, sự lớn mạnh về thực lực của doanh nghiệp
Đời sống của người lao động tăng nghĩa là năng suất lao động cũng tăng, sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra nhiều, lương của công nhân tăng, chứng tỏ nguồn lực lao động của doanh nghiệp bền vững, là yếu tố đầu vào không kém phần quan trọng để doanh nghiệp phát triển
- Tiêu chí đánh giá: Tiền lương bình quân 1 lao động trên 1 tháng
c Đáp ứng nhu cầu xã hội
Kinh tế tư nhân có tính mềm dẻo linh hoạt nên có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của người tiêu dùng Kết quả sản xuất của doanh nghiệp tăng chứng tỏ ngày càng sản xuất ra nhiều sản phẩm, hàng hóa cho xã hội, giảm bớt áp lực của thị trường, đảm bảo tiêu dùng và xuất khẩu, đồng thời đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo
So với các thành phần kinh tế khác, kinh tế tư nhân có khả năng đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng với giá cả phù hợp hơn
và thuận lợi hơn, nhất là trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ
Để kinh tế tư nhân đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của xã hội, Nhà nước cần tạo sân chơi bình đẳng cho tất cả các thành phần doanh nghiệp, tạo điều kiện thông thoáng và khuyến khích mọi nguồn lực trong xã hội tham gia vào phát triển kinh tế Tạo điều kiện về vốn, lao động, thị trường để các doanh nghiệp sản xuất ra ngày càng nhiều sản phầm, hàng hóa
- Tiêu chí đánh giá: Nộp vào ngân sách nhà nước của doanh nghiệp
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
Khu vực kinh tế tư nhân chỉ có thể tồn tại và phát triển khi có môi trường
Trang 38kinh doanh thích hợp Môi trường kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Sau đây là một
số nhân tố của môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến sự phát triển của từng doanh nghiệp và khu vực kinh tế tư nhân
1.3.1 Các nhân tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên đem lại lợi thế so sánh không nhỏ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc tận dụng tốt vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào, đầu ra, chi phí sản xuất kinh doanh…làm tăng năng lực cạnh tranh của của doanh nghiệp Ngược lại
vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên không thuận lợi sẽ là gánh nặng không nhỏ cho mọi hoạt động của doanh nghiệp Ngày nay vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên tuy không còn đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của khu vực kinh
tế tư nhân nhưng vẫn còn đóng một vai trò hết sức quan trọng
1.3.2 Các nhân tố về xã hội
Các nhân tố xã hội bao gồm: dân số, mật độ dân số, tập quán truyền thống lao động và trình độ lao động Các nhân tố này vừa cung cấp đầu vào (nguồn nhân lực) vừa là thị trường tiêu thụ cũng như quyết định ngành nghề trong sản xuất kinh doanh Các doanh nghiệp trước khi đi vào sản xuất cần nghiên cứu, khảo sát kỹ nguồn cung cấp lao động, thị hiếu thị trường…để từ
đó có kế hoạch sản xuất sản phẩm hàng hóa thích hợp, cho lợi nhuận cao và đóng góp tích cực cho xã hội
1.3.3 Các nhân tố về điều kiện kinh tế
a Kết cấu hạ tầng
Với trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ, cơ sở hạ tầng là một trong những điều kiện quyết định phát triển kinh tế Ở đâu có cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại hoàn chỉnh như: giao thông, cấp điện, cấp nước, thông tin liên lạc… thì ở đó sẽ tạo
Trang 39điều kiện thuận lợi, kích thích được phát triển kinh tế, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân với tính năng động và hiệu quả của mình
b Chính sách kinh tế
Thực tế phát triển kinh tế ở nhiều nước trên thế giới cho thấy KTTN khó
có thể phát triển được nếu mối quan hệ giữa nhà nước với doanh nghiệp không được giải quyết tốt Quan hệ này thực chất là quan hệ giữa cơ quan quản lý, điều tiết Nhà nước, các cấp chính quyền với các đơn vị sản xuất kinh
tế thuộc khu vực kinh tế tư nhân Các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường luôn cần có sự quản lý của Nhà nước, bởi vai trò điều tiết nền kinh tế nói chung và khu vực kinh tế tư nhân nói riêng của Nhà nước là yếu tố khách quan
Chính sách kinh tế đúng đắn sẽ là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp trong khu vực KTTN vốn năng động và hiệu quả, ngược lại chính sách kinh tế không đúng đắn sẽ kìm hãm và để lại hệ quả không nhỏ trong xã hội
Chính sách kinh tế thuận lợi thể hiện qua hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh và đồng bộ, trong đó đảm bảo quyền tự do và bình đẳng trong đầu
tư và kinh doanh, bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, các nhà đầu tư và kinh doanh Mặt khác đảm bảo hoạt động quản lý của các cơ quan Nhà nước minh bạch, công khai, thủ tục hành chính đơn giản, thuận lợi, nhanh chóng, cũng như đội ngũ cán bộ công chức công tâm, thiện chí, quan tâm giải quyết các yêu cầu và tháo gỡ những khó khăn cho doanh nghiệp là điều kiện hết sức quan trọng cho KTTN phát triển Bên cạnh đó, cần chú ý đến yếu tố tâm lý nghĩa là phải khen thưởng, tôn vinh các doanh nghiệp có thành tích cao, đóng góp nhiều cho xã hội
c Thông tin thị trường
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường trong quá trình hội nhập kinh tế
Trang 40quốc tế, các doanh nghiệp muốn tăng cường khả năng cạnh tranh, tận dụng cơ hội, phát huy tính năng động và hiệu quả buộc các doanh nghiệp phải có khả năng, các quyền được tiếp cận và nắm bắt thông tin đầy đủ về môi trường kinh doanh liên quan như: các thông tin về pháp luật, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, những biến động thị kinh tế trong nước, khu vực và thế giới… Tăng cường khả năng tiếp cận thông tin chính là đem lại lợi thế to lớn cho doanh nghiệp trong hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh
Việc thiếu thông tin thị trường và tình hình kinh tế nước ngoài dẫn đến việc các đối tác và thị trường không đến được với nhau Vì vậy thông tin thương mại điện tử rất quan trọng đối với nền kinh tế và các doanh nghiệp, nó giúp doanh nghiệp cập nhật các thông tin về tình hình, nhu cầu của thị trường một cách đầy đủ nhất, doanh nghiệp không chỉ cần quảng bá được những thông tin về quá trình SXKD, mà còn tìm kiếm các nhu cầu trên thị trường cũng thuận tiện
Khả năng tham gia thị trường của một doanh nghiệp phụ thuộc vào nội tại của doanh nghiệp và những yếu tố như môi trường kinh doanh từ phía nhà nước, sức ép từ các cơ sở sản xuất kinh doanh trong ngành Các nhà hoạch định chính sách cần tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch…
Vì thế, các doanh nghiệp phải biết thu thập, tiếp cận và sử dụng thông tin tốt về mọi lĩnh vực liên quan sẽ giúp cho doanh nghiệp dự đoán trước sự thay đổi của thị trường, để từ đó có kế hoạch phát triển đúng đắn cho doanh nghiệp