Phân tích tình hình tài chính được sử dụng như một công cụ đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại, đánh giá rủi ro và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, từ đ
Trang 1MAI NGUYỄN MINH HƯƠNG
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Đà Nẵng- Năm 2017
Trang 2MAI NGUYỄN MINH HƯƠNG
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Mã số: 60.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Vũ
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 3Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Mai Nguyễn Minh Hương
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Câu hỏi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
7 Kết cấu của luận văn 3
8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 6
1.1 KHÁI NIỆM, MỤC TIÊU VÀ Ý NGHĨA CỦA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 6
1.1.1 Khái niệm 6
1.1.2 Mục tiêu 6
1.1.3 Ý nghĩa 7
1.2 TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 7
1.2.1 Cơ sở nguồn tài liệu 7
1.2.2 Phương pháp phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 8
1.3 NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 10
1.3.1 Phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp 10
1.3.2 Phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 18
1.3.3 Phân tích rủi ro của doanh nghiệp 23
Trang 5CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG 30
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG 30
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty 30
2.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý tại công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng 33
2.1.3 Đặc điểm tổ chức sản xuất của công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng 35
2.2 ĐẶC ĐIỂM KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG 37
2.3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG 38
2.3.1 Phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp tại công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng 38
2.3.2 Phân tích hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng 47 2.3.3 Phân tích rủi ro doanh nghiệp 56
2.3.4 Phân tích giá trị doanh nghiệp 60
2.4 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VÀ HẠN CHẾ CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG 62
2.4.1 Kết quả đạt được 62
2.4.2 Tồn tại 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG 68
3.1 ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA TRONG THỜI GIAN TỚI 68
Trang 63.2.1 Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định 69
3.2.2 Tiết kiệm các loại chi phí 71
3.2.3 Nâng cao hiệu quả vốn lưu động 73
3.2.4 Nâng cao hiệu quả vốn vay 76
3.2.5 Các biện pháp quản trị rủi ro 76
3.2.6 Hoàn thiện hệ thống thu thập, xử lý, trao đổi thông tin và điều hành kinh doanh 77
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 80
KẾT LUẬN 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI
BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG
CÁC NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN
BẢN CHÍNH BẢN TƯỜNG TRÌNH CHỈNH SỮA LUẬN VĂN
PHỤ LỤC
Trang 7bảng
2.7
Bảng so sánh hiệu quả kinh doanh cá biệt Công ty CP
Nhựa Đà Nẵng với 4 doanh nghiệp cùng ngành giai đoạn
2013-2015
49
Trang 82.1 Kết quả kinh doanh giai đoạn năm 2013 đến năm 2015 32
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong kinh doanh nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như các nhà đầu tư, nhà cho vay, nhà cung cấp, khách hàng, Mỗi đối tượng này quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp ở các góc độ khác nhau Song nhìn chung họ đều quan tâm đến khả năng tạo ra các dòng tiền mặt, khả năng sinh lợi, khả năng thanh toán và mức lợi nhuận tối đa, Vì vậy, việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho các nhà doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ đã qua và những dự đoán cho tương lai, xác định đầy đủ đúng đắn nguyên nhân mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính, từ đó đưa những giải pháp hữu hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính
Công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng tiền thân là nhà máy Nhựa Đà Nẵng được thành lập ngày 22/10/1976 Đến năm 2000, Công ty Nhựa Đà Nẵng được cổ phần hoá theo quyết định số 90/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Hiện nay công ty đang tiến hành đổi mới, cơ cấu lại doanh nghiệp, đồng thời cũng để tăng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Như vậy, công ty đang đứng trước bước ngoặt lớn về mặt thay đổi cơ cấu, bên cạnh đó là sức ép cạnh tranh ngày càng lớn từ các doanh nghiệp cùng ngành, do đó việc phân tích tình hình tài chính của công ty là một việc vô cùng cần thiết Phân tích tình hình tài chính được sử dụng như một công cụ đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại, đánh giá rủi ro và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, từ đó giúp nhà quản trị và các đối tượng sử dụng thông tin khác như nhà đầu tư, cơ quan quản lý, chủ nợ…có cái nhìn sâu sắc hơn, toàn diện hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn
Trang 11Từ nhận thức trên nên tôi chọn đề tài: “Phân tích tình hình tài chính
tại công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng” để làm luận văn thạc sỹ của minh
2 Mục đích nghiên cứu
Nội dung đề tài tập trung hệ thống hóa các vấn đề lý luận về phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp; để từ đó phân tích thực trạng về tình hình tài chính doanh của công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng, những tồn tại công ty đang gặp phải, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty trong thời gian đến
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tình hình tài chính ở công ty
4 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng tình hình tài chính tại công ty Nhựa Đà Nẵng trong những năm qua như thế nào? Còn những tồn tại nào, đâu là nguyên nhân dẫn đến tồn tại đó
Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, những phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là: Phương pháp so sánh, phương pháp loại trừ
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Hệ thống hoá cơ sở lý luận cơ bản về phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Trang 12Đánh giá thực trạng tình hình tài chính tại Công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng, giúp doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn tình hình tài chính tại doanh nghiệp từ đó có thể rút ra được những quyết định đúng đắn liên quan đến
doanh nghiệp và tạo điều kiện nâng cao khả năng tài chính của doanh nghiệp
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 phần như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Chương II: Phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng
Chương III: Một số giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng
8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu đề tài: “Phân tích tình hình tài chính tại công ty
cổ phần Nhựa Đà Nẵng”, tác giả tham khảo một số đề tài liên quan:
Trước tiên đó là các sách chuyên khảo như: Phân tích tài chính doanh nghiệp – Học viện tài chính- GS.TS Ngô Thê Chi …,giáo trình tài chính doanh nghiệp của TS.Nguyễn Hoài Nhân, NXB Tài chính năm 2013; phân tích báo cáo tài chính và định giá doanh nghiệp của Phan Đức Lâm, nhà xuất bản thống kê, năm 2009; và một số giáo trình và tài liệu dành cho học viên cao học khác
Quá trình tham khảo các tài liệu trên giúp tác giả hiểu được: các khái niệm liên quan đến phân tích tình hình tài chính, thông tin sử dụng trong phân tích tình hình tài chính, các phương pháp phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp như: phương pháp so sánh, phương pháp lại trừ…Và các chỉ tiêu liên quan đến phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Trang 13Những đề tài thạc sỹ liên quan đến phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp như:
Luận văn thạc sỹ: Phân tích tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần
Vinaconex của Bùi Văn Lâm (2013) Bằng cách dựa trên phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lich sử, luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp so sánh, phương pháp chi tiết, phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng và một số phương pháp phân tích kinh tế, tài chính khác, tác giả đã đánh giá thực trạng phân tích tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần Vinaconex 25 và đề xuất các giải pháp chủ yếu góp phần hoàn thiện công tác phân tích tình hình tài chính phục vụ nhu cầu quản lý tài chính, sản xuất kinh doanh và đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường
Luận văn thạc sỹ: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính
tại công ty TNHH Mai Thành” của Lê Thanh Thảo (2011), thông qua sử
dụng các chỉ tiêu tài chính phân tích,tác giả đã đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh tại công ty, từ đó chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu và đề ra một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho công ty
Luận văn thạc sỹ: “Phân tích hiệu quả tài chính các doanh nghiệp dệt
may trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” cuả Phạm Thị Kim Liên (2014),
bằng những kiến thức và khảo sát thực tế, tác giả chỉ ra các doanh nghiệp chỉ mới dừng lại ở việc phân tích một số chỉ tiêu như: phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, phân tích một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cá biệt và một số chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời, chứ chưa tổ chức phân tích cụ thể
về hiệu quả tài chính tại các doanh nghiệp cũng như các đánh giá về kết quả phân tích còn mang nhiều tính chủ quan của người phân tích bởi chỉ căn cứ vào số liệu tính toán để đưa ra các nhận định về hiệu quả hoạt động công ty
Trang 14Qua những luận văn phân tích tình hình tài chính tại các doanh nghiệp kể trên, giúp tác giả có cái nhìn sâu sắc hơn về quá trình phân tích tình hình tài chính trong một doanh nghiệp Hiểu được để phân tích tình hình tài chính thì phương pháp phân tích ra sao? Và những nội dung trong quá trình phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp Tuy nhiên, tác giả thấy những luận văn đứng trên mỗi giác độ khác nhau, chưa đi sâu vào phân tích tình hình tài chính
để đưa ra các giải pháp
Với đề tài: “Phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần Nhựa
Đà Nẵng”, tác giả đi sâu tìm hiểu tình hình tài chính tại công ty cổ phần
Nhựa Đà Nẵng Kế thừa những nội dung, phương pháp phân tích theo lý thuyết của các sách chuyên khảo và những luận văn kể trên, để phân tích tình hình tài chính trong thời gian qua tại công ty Chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế trong quá trình sử dụng vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong thời gian đến tại công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng
Trang 15về mặt tài chính của doanh nghiệp, qua đó có các quyết định phù hợp với lợi ích của họ (theo giáo trình Phân tích tài chính doanh nghiệp – Học viện tài chính- GS.TS Ngô Thê Chi)
1.1.2 Mục tiêu
Như chúng ta đã biết mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đều nằm trong thể tác động liên hoàn với nhau Bởi vậy, chỉ có thể phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp mới đánh giá đầy đủ và sâu sắc mọi hoạt động kinh tế trong trạng thái thực của chúng Bởi vậy phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu sau:
Cung cấp đầy đủ những thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các chủ nợ
và những người sử dụng khác để họ có thể ra các quyết định về đầu tư, tín dụng và các quyết định tương tự
Cung cấp thông tin quan trọng cho chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người sử dụng khác đánh giá số lượng, thời gian và rủi
ro của những khoản thu bằng tiền từ cổ tức hoặc tiền lãi
Cung cấp thông tin về các nguồn lực kinh tế, vốn chủ sở hữu, các khoản
nợ, kết quả của các quá trình, các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và
Trang 16các tác động của những nghiệp vụ kinh tế giúp cho chủ doanh nghiệp dự toán chính xác quá trình phát triển doanh nghiệp trong tương lai
1.1.3 Ý nghĩa
Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh Chính
vì vậy, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài có liên quan đến tài chính doanh nghiệp
1.2 TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.2.1 Cơ sở nguồn tài liệu
a Nguồn thông tin từ các Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là một trong những báo cáo được lập dựa vào phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát sinh tại những thời điểm hoặc những thời kỳ nhất định
Hệ thống các báo cáo tài chính bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán
- Bảng báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Bảng thuyết minh báo cáo tài chính
b Các nguồn thông tin khác có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu tác động bởi nhiều nhân tố thuộc môi trường vĩ mô nên phân tích tài chính cần đặt trong bối cảnh chung của nền kinh tế Những thông tin thường quan tâm bao gồm: thông tin về sự
Trang 17tăng trưởng, suy thoái nền kinh tế, thông tin về lãi suất ngân hàng, tỷ giá ngoại tệ, tình hình biến động của thị trường chứng khoán, thông tin về tình trạng lạm phát, giảm phát, các chính sách kinh tế lớn; các chính sách về chính trị, ngoại giao
Ngoài những thông tin về môi trường vĩ mô, những thông tin liên quan đến lĩnh vực kinh doanh cũng cần được chú trọng là: mức độ và yêu cầu công nghệ của ngành; mức độ cạnh tranh, khả năng xuất hiện đối thủ cạnh tranh tiềm tàng và quy mô của thị trường; nhịp độ và xu hướng vận động của ngành
Hơn nữa mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm riêng trong hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh và phương hướng hoạt động nên để đánh giá hợp lý tình hình sản xuất, nhà phân tích cần nghiên cứu kỹ lưỡng đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp Những vấn đề cần quan tâm bao gồm: mục tiêu, chiến lược hoạt động kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp; tính thời vụ, tính chu kỳ trong hoạt động sản xuất kinh doanh; mối quan hệ giữa nhà cung cấp, ngân hàng, nhà đầu tư với doanh nghiệp và với các đối tượng khác
1.2.2 Phương pháp phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
a Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp đơn giản nhất, xem xét một chỉ tiêu phân tích bằng cách so sánh dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu gốc Phương pháp này được sử dụng khá phổ biến trong phân tích tình hình tài chính Nó được sử dụng để đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích
Tiêu chuẩn so sánh: kế hoạch đề ra, thực hiện các kỳ trước, công ty tiêu biểu cùng ngành hoặc đối thủ cạnh tranh chính, bình quân ngành, thông số thị trường và các chỉ tiêu có thể so sánh khác
Trang 18Điệu kiện so sánh: các chỉ tiêu so sánh được phải phù hợp về yếu tố không gian, thời gian, cùng một nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tính toán, quy mô và điều kiện kinh doanh
Kỹ thuật so sánh: để đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu khác nhau, trong phân tích người ta thường sư dụng các kỹ thuật so sánh sau:
+ So sánh bằng số tuyệt đối: là việc xác định chênh lệch giữa trị số của chỉ tiêu phân tích với trị số của chỉ tiêu kỳ gốc Kết quả so sánh biểu hiện khối lượng, quy mô của các hiện tượng kinh tế
+ So sánh bằng số tương đối: là xác định % tăng (giảm) giữa thực tế so với so với kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích, cũng có khi là tỷ trọng của một hiên tượng kinh tế trong tổng thể quy mô chung được xác định Kết quả so sánh biểu hiện kết cấu, các quan hệ tỷ lệ, tốc độ phát triển, mức độ phổ biến của các hiện tượng nghiên cứu
+ So sánh bằng số bình quân: số bình quân là dạng đặc biệt của số tuyệt đối, biểu hiện tính chất đặc trưng chung về mặt số lượng nhằm phản ánh đặc điểm chung của một đơn vị, một bộ phận hay một tổng thể có cùng một tính chất
b Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong quan hệ tài chính Sự biến đổi tỷ lệ, cố nhiên là sự biến đổi của các đại lượng tài chính Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị tỷ lệ tham chiếu
c Phương pháp loại trừ
Phương pháp loại trừ là phương pháp xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu cần phân tích Phương pháp
Trang 19này xác định mức độ ảnh hưởng của một nhân tố đến chỉ tiêu cần phân tích bằng cách loại trừ đi ảnh hưởng của các nhân tố khác Nội dung của phương pháp này thể hiện qua hai phương pháp cụ thể là phương pháp thay thế liên hoàn hay phương pháp số chênh lệch
+ Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp này sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân
tố đến chỉ tiêu phân tích khi các nhân tố này có quan hệ tích số, thương số, hoặc vừa tích số vừa thương số với chỉ tiêu phân tích
+ Phương pháp số chênh lệch
Phương pháp số chênh lệch là một dạng đặc biệt của phương pháp thay thế liên hoàn nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của các chỉ tiêu kinh tế Phương pháp số chênh lệch tôn trọng đầy đủ nội dung các bước tiến hành của phương pháp thay thế liên hoàn, chỉ khác nhau ở chỗ khi xác định các nhân tố ảnh hưởng, chỉ việc nhóm các số hạng và tính chênh lệch các nhân tố sẽ cho ta mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích
1.3 NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.3.1 Phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp
a Phân tích cấu trúc tài sản ở doanh nghiệp
Là việc xác định tỷ trọng từng loại tài sản chiếm trong tổng tài sản của doanh nghiệp Phân tích cấu trúc tài sản nhằm đánh giá những đặc trưng trong
cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, tính hợp lý khi đầu tư vốn trong hoạt động kinh doanh
Nguyên tắc chung khi thiết lập chỉ tiêu phản ánh tài sản như sau:
Trang 20Tỷ trọng của tài sản i = Giá trị thuần của tài sản i x 100%
Giá trị của toàn bộ tài sản
- Tỷ trọng tiền và các khoản tương đương tiền
Chỉ tiêu này cho biết giá trị tiền và các khoản tương đương tiền chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản của doanh nghiệp
Nếu tính ra chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp càng cao, rủi ro phá sản càng thấp, đáp ứng được nhu cầu chi tiêu, đầu tư, mua sắm cho doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu chỉ tiêu này quá lớn thì sẽ tạo ra tình trạng tiền nhàn rỗi trong doanh nghiệp cao, dễ xảy ra gian lận và thất thoát
Nếu tính ra chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ khả năng thanh toán của doanh nghiệp không cao, không thuận lợi cho việc đáp ứng các nhu cầu của doanh nghiệp, tuy nhiên khả năng xảy ra sai phạm và gian lận ít
Nói chung tỷ trọng tiền và các khoản tương đương tiền quá lớn hay quá nhỏ đều không tốt cho doanh nghiệp Vì vậy, doanh nghiệp cần phải xác định một mức dự trữ tiền hợp lý
- Tỷ trọng đầu tư tài chính
Tỷ trọng đầu
Tổng tài sản Chỉ tiêu này cho biết giá trị các khoản đầu tư tài chính chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản của doanh nghiệp
Đầu tư tài chính gồm hai loại là đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn Đây không phải là hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp, doanh nghiệp chỉ đầu tư tài chính khi doanh nghiệp có số vốn nhàn rỗi khi đã đáp ứng toàn bộ hoạt
Trang 21động sản xuất kinh doanh, mục đích của đầu tư tài chính là tìm kiếm lợi nhuận
- Tỷ trọng các khoản phải thu
Tỷ trọng các
Tổng tài sản Chỉ tiêu này cho biết giá trị các khoản phải thu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản của doanh nghiệp Chỉ tiêu này phản ánh mức độ vốn kinh doanh của doanh nghiệp đang bị các đơn vị khác tạm thời sử dụng Chỉ tiêu này càng lớn thì lượng vốn lưu động của doanh nghiệp bị chiếm dụng càng nhiều, điều này làm giảm vòng quay vốn lưu động hay nói cách khác làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động Thông thường tỷ trọng khoản phải thu có xu hướng giảm thể hiện doanh nghiệp quản lý tốt các khoản phải thu,
Trang 22- Tỷ trọng tài sản cố định
Tổng tài sản Chỉ tiêu này cho biết giá trị tài sản cố định chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản của doanh nghiệp, phản ánh mức độ tập trung vốn hoạt động của doanh nghiệp Để đánh tính hợp lý trong đầu tư tài sản cố định cần xem xét đến giá trị trung bình ngành Giá trị chỉ tiêu này tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng lĩnh vực kinh doanh, chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp, phương pháp tính khấu hao
b Phân tích cấu trúc nguồn vốn ở doanh nghiệp
Phân tích cấu trúc nguồn vốn là việc xác định tỷ lệ của từng nguồn vốn trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp từ đó có những đánh giá đầy đủ nhất
về tình hình tài chính của doanh nghiệp
Phân tích tính tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp
Nguồn vốn của doanh nghiệp chủ yếu từ hai nguồn lớn đó là nguồn vốn
đi vay và nguồn vốn chủ sở hữu Tính tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp phản ánh khả năng chủ động về tài chính của doanh nghiệp trong việc tài trợ cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
Tính tự chủ về mặt tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
- Tỷ suất tự tài trợ
Tổng tài sản Chỉ tiêu này thể hiện khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp, nó cho biết trong tổng tài sản của doanh nghiệp hiện có được hình thành từ vốn chủ sở hữu là bao nhiêu phần trăm Khi tỷ suất này càng cao, chứng tỏ doanh nghiệp có tính độc lập cao về tài chính, ít bị sức ép của các chủ nợ, đảm bảo vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có nhiều cơ
Trang 23hội tiếp nhận các khoản tín dụng từ bên ngoài bởi vì hầu hết tài sản mà doanh nghiệp hiện có đều được đầu tư bằng số vốn của mình và ngược lại
- Tỷ suất nợ
Tổng tài sản Chỉ tiêu này có ý nghĩa là trong tổng tài sản mà doanh nghiệp hiện có được hình thành từ nợ chiếm bao nhiêu phần trăm
Chỉ tiêu này càng cao thể hiện mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào chủ nợ càng lớn, khả năng tiếp nhận các khoản vay nợ càng khó một khi doanh nghiệp không thanh toán kịp thời các khoản nợ và hiệu quả hoạt động kém Đối với các chủ nợ sẽ gặp khó khăn về vấn đề thu hồi vốn và họ thường không thích đầu tư vào những doanh nghiệp có hệ số nợ quá cao Hệ số nợ cao cho thấy doanh nghiệp đang mất dần tính tự chủ về mặt tài chính, trong trường hợp tỷ trọng của nợ ngắn hạn chiếm đa số trong tổng nợ phải thu thì doanh nghiệp đang đứng trước nguy cơ bị phá sản do mất khả năng thanh toán
Chỉ tiêu này càng nhỏ tức là nợ trong doanh nghiệp ít do đó khả năng thu hút vốn đầu tư bên ngoài cao, các nhà đầu tư ít mạo hiểm thì thông thường muốn đầu tư vào những doanh nghiệp có hệ số nợ nhỏ Trong trường hợp này doanh nghiệp ít bị áp lực về mặt thanh toán
Tuy nhiên, hệ số nợ của một doanh nghiệp lớn hay nhỏ chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định và giá trị của chỉ tiêu này thường xuyên thay đổi Vấn đề đặt ra ở đây là các doanh nghiệp cần phải xác định một hệ số nợ hợp lý, phù hợp với tình hình tài chính và tình hình hoạt động của doanh nghiệp Đây cũng là một trong những chỉ tiêu để các nhà đầu tư đánh giá rủi
ro và cấp tín dụng cho doanh nghiệp
Trang 24- Tỷ suất nợ phải trả với vốn chủ sở hữu
hữu Chỉ tiêu này càng nhỏ thì mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh
nghiệp càng cao và ngược lại
Khi phân tích tính tự chủ về mặt tài chính cần sử dụng số liệu trung bình
ngành hoặc số liệu định mức mà ngân hàng quy định đối với doanh nghiệp
Những số liệu này là cơ sở để các nhà đầu tư, nhà quản trị có giải pháp thích
hợp giải quyết các vấn đề nợ của doanh nghiệp: Nên gia tăng các khoản vay
nợ hay vốn chủ sở hữu và mức gia tăng tối đa là bao nhiêu?
Phân tích tính ổn định của nguồn tài trợ
Nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành: Nguồn vốn tạm thời
(NVTT) và nguồn vốn thường xuyên (NVTX)
* NVTT là ngồn vốn mà doanh nghiệp tạm thời sử dụng vào hoạt động
sản xuất kinh doanh và trong một khoảng thời gian ngắn, bao gồm: Nợ ngắn
hạn, nợ quá hạn, nợ nhà cung cấp
NVTT = Nợ ngắn hạn
* NVTX là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng lâu dài cho hoạt động
sản xuất kinh doanh, bao gồm: vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay nợ trung và
dài hạn (trừ vay - nợ quá hạn)
NVTX = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn Tính ổn định của nguồn tài trợ thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
- Tỷ suất nguồn vốn thường xuyên
Trang 25Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp thì NVTX
chiếm tỷ lệ bao nhiêu phần trăm
- Tỷ suất nguồn vốn tạm thời
Tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp thì NVTT
chiếm tỷ lệ bao nhiêu phần trăm
- Tỷ suất nguồn vốn chủ sở hữu với nguồn vốn thường xuyên
nhiêu phần trăm
c Phân tích cân bằng tài chính
Cân bằng tài chính là sự cân đối giữa các yếu tố tài sản với các yếu tố
của nguồn tài trợ Khi phân tích, có thể chia thành 2 phần như sau:
* Những yếu tố mang tính chất dài hạn: so sánh giữa tài sản sử dụng ổn
định với nguồn vốn ổn định
* Những yếu tố mang tính chất ngắn hạn: so sánh giữa tài sản sử dụng
tạm thời với nguồn vốn tạm thời
Vốn lưu động ròng và phân tích cân bằng tài chính dài hạn
Vốn lưu động (VLĐ) là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản ngắn hạn
(TSNH) tại thời điểm lập bảng cân đối kế toán
Vốn lưu động ròng (VLĐR) là số vốn tối thiểu, cần thiết đảm bảo cho
doanh nghiệp dự trữ các loại tài sản ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt
động của doanh nghiệp Có 2 phương pháp xác định VLĐR của doanh
nghiệp:
Trang 26* Phương pháp 1:
VLĐR = NVTX - TSDH Phương pháp này thể hiện phương thức tài trợ tài sản dài hạn (TSDH) và phản ánh tác động của việc đầu tư lên cân bằng tài chính tổng thể vì nó cho biết nguồn gốc hình thành VLĐR (NVTX sau khi đã tài trợ đủ cho TSDH thì phần dôi ra đó chính là VLĐR)
* Phương pháp 2:
VLĐR = TSNH - NNH Phương pháp này cho biết cách thức sử dụng VLĐR, VLĐR được phân
bổ vào các khoản như: khoản phải thu, hàng tồn kho hay các khoản có tính thanh khoản cao Phân tích mối quan hệ này thể hiện được khả năng thanh toán của doanh nghiệp
- Phân tích chỉ số cân bằng tài chính dài hạn
Tỷ suất NVTX / TSDH
=
Nguồn vốn thường xuyên
x 100% Tài sản dài hạn
Chỉ tiêu này cho phép đánh giá tính ổn định của nguồn tài trợ cho TSDH
và thể hiện phương thức tài trợ TSDH
* Tỷ suất NVTX / TSDH >1 hay NVTX > TSDH: điều đó có ý nghĩa là toàn bộ TSDH của doanh nghiệp được tài trợ hoàn toàn từ NVTX và phần NVTX dư ra dùng để tài trợ thêm cho TSNH Lúc này cân bằng tài chính dài hạn được đánh giá là tốt và an toàn
* Tỷ suất NVTX / TSDH = 1 hay NVTX = TSDH: điều đó có nghĩa là NVTX tài trợ vừa đủ cho TSDH Lúc này cân bằng tài chính dài hạn tuy có tiến triển hơn nhưng độ an toàn chưa cao, có nguy cơ mất tính bền vững
* Tỷ suất NVTX / TSDH < 1 hay NVTX < TSDH: điều đó có nghĩa là NVTX không đủ tài trợ cho TSDH, phần thiếu hụt được bù đắp một phần từ
Trang 27NVTT hay các khoản nợ ngắn hạn Lúc này cân bằng tài chính dài hạn là không tốt vì doanh nghiệp luôn chịu áp lực về thanh toán nợ vay ngắn hạn
- Nhu cầu vốn lưu động ròng và phân tích cân bằng tài chính ngắn hạn
* Trường hợp VLĐR > Nhu cầu VLĐR: Phần chênh lệch là các khoản tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn còn lại sau khi đã bù đắp các khoản vay ngắn hạn, số chênh lệch này được gọi là ngân quỹ ròng (NQR) Lúc này, NQR > 0 nên cân bằng tài chính được đánh giá là an toàn vì doanh nghiệp không phải đi vay để bù đắp sự thiếu hụt về VLĐR
* Trường hợp VLĐR = Nhu cầu VLĐR: Tất cả các khoản tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn được hình thành từ các khoản vay ngắn hạn Lúc này, NQR = 0 nên đây là dấu hiệu về việc doanh nghiệp bị mất cân bằng tài chính
* Trường hợp VLĐR < Nhu cầu VLĐR: Điều này có nghĩa là VLĐR không đủ để tài trợ Nhu cầu VLĐR và doanh nghiệp phải huy động các khoản vay ngắn hạn để bù đắp các khoản thiếu hụt đó Lúc này, NQR < 0 nên cân bằng tài chính được đánh giá là kém an toàn và bất lợi đối với doanh nghiệp
1.3.2 Phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
a Phân tích hiệu quả cá biệt
- Phân tích hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản
Hiệu suất sử dụng toàn bộ
Doanh thu thuần
x 100% Tài sản bình quân
Trang 28Chỉ tiêu này phản ánh khi đầu tư 100 đồng vào tài sản thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng lớn thì càng tốt, chứng tỏ tài sản trong doanh nghiệp được sử dụng có hiệu quả Trong công thức trên ngoài chỉ tiêu doanh thu còn có thể sử dụng một số chỉ tiêu như: giá trị sản xuất, giá trị gia tăng
Trong trường hợp doanh thu thuần cũng chính là doanh thu hoạt động kinh doanh thì hiệu suất sử dụng tài sản được gọi là số vòng quay của tài sản
Số vòng quay tài
sản
- Phân tích hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn
Hiệu suất sử dụng
Doanh thu thuần
x 100% Tài sản dài hạn bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh khi đầu tư 100 đồng vào tài sản dài hạn thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng lớn thì càng tốt, chứng tỏ
tài sản dài hạn trong doanh nghiệp được sử dụng có hiệu quả
- Phân tích hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu suất sử
Doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ
x 100% Tài sản ngắn hạn bình quân
Nếu tính theo số vòng quay hoặc tốc độ luân chuyển vốn lưu động thì:
Trang 29Số vòng quay của VLĐ càng cao thì càng tốt nhưng ngược lại số ngày của một vòng quay VLĐ càng lớn thì càng không tốt
- Phân tích hiệu suất sử dụng lao động
Năng suất lao động là chỉ tiêu biểu hiện khả năng sản xuất, sức sản xuất của lao động trong doanh nghiệp Chỉ tiêu này còn được thể hiện dưới nhiều đại lượng khác nhau như: năng suất lao động năm, ngày, giờ của công nhân trực tiếp sản xuất, công nhân phục vụ quản lý và sản xuất Để thấy rõ hiệu suất sử dụng lao động trong quá trình kinh doanh có thể sử dụng chỉ tiêu chi phí tiền lương so với giá trị sản xuất
Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra được 1 đồng doanh thu thì cần phải bỏ ra bao nhiêu đồng tiền lương Nếu chỉ tiêu này tiến gần đến 1 hoặc càng lớn thì chứng tỏ hiệu suất sử dụng lao động càng thấp, tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn Thông thường chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 là tốt và thông qua việc phân tích chỉ tiêu này sẽ giúp cho doanh nghiệp đánh giá được việc tăng, giảm hiệu quả sử dụng lao động đối với kết quả của doanh nghiệp
b Phân tích hiệu quả kinh doanh tổng hợp
Phân tích khả năng sinh lời của hoạt động kinh doanh
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết khi doanh nghiệp tạo ra được 100 đồng doanh thu thì trong đó lợi nhuận là bao nhiêu đồng và nó còn thể hiện mối quan hệ giữa các chỉ tiêu kết quả của doanh nghiệp Giá trị của chỉ tiêu này càng lớn chứng
Tỷ suất chi phí tiền
Chi phí tiền lương Doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận
trên doanh thu
thuần
Lợi nhuận kế toán trước thuế
Doanh thu thuần
Trang 30tỏ lợi nhuận sinh ra từ hoạt động kinh doanh càng cao, phần lãi trong doanh thu có tỷ trọng lớn và doanh nghiệp được đánh giá là hoạt động hiệu quả Lợi nhuận có thể là lợi nhuận kế toán trước thuế, lợi nhuận sau thuế, lợi nhuận trước thuế và lãi vay
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần hoạt động sản xuất kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết mức sinh lãi của 100 đồng doanh thu khi tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lời của doanh nghiệp càng cao
Ngoài ra ROA còn được xác định bằng công thức:
Khả năng sinh lời từ tài sản (ROA) là tích của hệ số vòng quay vốn với
tỷ lệ lãi thuần trên doanh thu Vốn đầu tư được xác định là tổng cộng tài sản Mặt khác ROA còn có 2 ý nghĩa sau:
* Nó cho phép liên kết 2 con số cuối cùng của 2 báo cáo tài chính cơ bản: Lãi thuần của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và tổng cộng tài sản của Bảng cân đối kế toán
* Nó kết hợp 3 yếu tố cơ bản cần phải xem xét ngay từ đầu trước khi đi vào chi tiết Đó là quy mô của doanh nghiệp được phản ánh qua tài sản, quy
mô hoạt động và tính năng hoạt động được phản ánh qua doanh thu và quá trình sinh lời được phản ánh bằng giá trị của chỉ tiêu ROA
Trên cơ sở số liệu tính toán được ta có thể xác định được các nhân tố chủ yếu dẫn đến sự tăng giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và
từ đó có biện pháp để tăng cường hiệu quả
Trang 31- Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (RE)
Chỉ tiêu này phản ánh khi đầu tư 100 đồng vào tài sản thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước khi tính thuế và lãi vay Mục đích của việc phân tích chỉ tiêu này là nhằm loại trừ tác động của cấu trúc nguồn vốn đến khả năng sinh lời của tài sản Nếu như tính ra RE có giá trị lớn hơn lãi suất vay thì doanh nghiệp nên nhận các khoản vay từ bên ngoài, còn đối với bên đầu tư thì đây cũng là một trong những căn cứ để họ quyết định đầu tư vào đâu là mang lại hiệu quả nhất
Phân tích hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
- Phân tích khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
Tốc độ phát triển của nguồn vốn chủ sở hữu được quyết định bởi khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu và chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp, khi khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu càng cao thì chủ sở hữu dễ dàng chấp nhận để lại phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư
Chỉ tiêu này có ý nghĩa khi chủ sở hữu đầu tư 100 đồng thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Trong điều kiện doanh nghiệp huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau thì khi chỉ tiêu này càng lớn doanh nghiệp sẽ
có cơ hội thu hút được nhiều nguồn vốn mới hơn và ngược lại chỉ tiêu này thấp hơn mức sinh lời cần thiết của thị trường thì khả năng thu hút vốn đầu tư rất khó khăn
x 100%
Trang 32qua hệ số nợ có thể xác định được mức độ góp vốn của chủ sở hữu với số nợ vay, nó có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt, được xem như một chính sách tài chính của doanh nghiệp
Đòn bẩy tài chính có giá trị cao hiệu quả mang lại cho chủ sở hữu càng cao trong trường hợp ổn định khối lượng hoạt động và kinh doanh có lãi Đòn bẩy tài chính càng thấp, mức độ an toàn càng đảm bảo trong trường hợp khối lượng hoạt động bị giảm và kinh doanh thua lỗ
1.3.3 Phân tích rủi ro của doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn các rủi ro Trong điều kiện hiện tại khi mà xu hướng tự do hoá và toàn cầu hoá ngày càng phát triển thì nguy cơ gặp rủi ro của doanh nghiệp càng lớn
Vì vậy, chủ động trong phòng ngừa rủi ro, đảm bảo tình hình tài chính và khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp trở thành vấn đề thời sự, bức thiết trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp Trong phần nghiên cứu này chỉ đề cập tới phân tích rủi ro phá sản của doanh nghiệp
Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là khi gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn Rủi ro phá sản là rủi ro gắn liền với khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp
Tình hình tài chính của một doanh nghiệp được đánh giá là lành mạnh trước hết phải thể hiện ở khả năng chi trả Vì vậy, các nhà phân tích khi tiến hành phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp thường bắt đầu từ việc phân tích khả năng thanh toán thông qua các hệ số khả năng thanh toán
Đòn bẩy tài chính =
Tổng nợ phải trả Tổng vốn chủ sở hữu
x 100%
Trang 33Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là khả năng hoán chuyển thành tiền của các tài sản để đối phó với các khoản nợ ngắn hạn Doanh nghiệp hoạt động tốt thì khả năng thanh toán cao, và ngƣợc lại
Chỉ tiêu này càng lớn thể hiện tình hình tài chính của doanh nghiệp càng tốt, tính ổn định về mặt tài chính càng cao và ngƣợc lại Các hệ số phản ánh khả năng thanh toán, đánh giá trực tiếp khả năng thanh toán bằng tiền mặt của một doanh nghiệp, cung cấp những dấu hiệu liên quan đến việc xem xét liệu doanh nghiệp có thể trả nợ ngắn hạn khi đến hạn hay không
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp đƣợc thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
a Hệ số khả năng thanh toán hiện hành (K hh )
Tổng tài sản
Tổng nợ phải trả Chỉ tiêu này cho thấy mối quan hệ giữa TSNH và NNH Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp càng cao, rủi ro phá sản của doanh nghiệp càng thấp Tuy nhiên, nếu giá trị của hệ số thanh toán hiện hành quá cao thì điều này không tốt vì nó phản ảnh việc doanh nghiệp đã đầu tƣ quá mức vào TSLĐ so với nhu cầu của doanh nghiệp
toán của doanh nghiệp kém, toàn bộ các TSNH của doanh nghiệp không đủ chi trả cho các khoản nợ Hệ số này càng về 0 thì doanh nghiệp càng lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính
Số tiền có thể dùng để trả nợ
Số nợ ngắn hạn phải trả Khả năng thanh toán =
Trang 34b Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn (Knh)
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Hệ số này thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản ngắn hạn với nợ ngắn
hạn Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của
doanh nghiệp cao, rủi ro phá sản của doanh nghiệp càng thấp Nhưng nếu chỉ
tiêu này quá lớn thì chưa hẳn đã tốt vì lúc này doanh nghiệp sẽ có một lượng
TSLĐ rất lớn, nếu nhìn vào sẽ thấy được khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
của doanh nghiệp là rất tốt nhưng có thể dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sản của
doanh nghiệp không tốt Vì số tài sản này sẽ không vận động nên không có
khả năng sinh lãi
c Hệ số khả năng thanh toán nhanh (K n )
Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này thể hiện mối quan hệ giữa các loại TSLĐ có khả năng chuyển
nhanh thành tiền để thanh toán nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này cho phép đánh giá tốt
hơn các rủi ro phá sản của doanh nghiệp Nó còn phản ánh tình trạng tài chính
của doanh nghiệp là tốt hay không tốt theo góc độ về khả năng trả nợ ngay của
doanh nghiệp đối với các khoản nợ đến hạn và quá hạn Nếu hệ số này >1 thì
doanh nghiệp có khả năng thanh toán kịp thời các khoản nợ đến hạn, nếu hệ số
này < 1 thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp bị hạn chế
1.3.4 Phân tích giá trị doanh nghiệp
Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, việc giải thể, đóng cửa,
phá sản hay việc sáp nhập mua lại giữa các công ty, tập đoàn lẫn nhau là một
hiện tượng kinh tế rất bình thường Mặt khác, với thị trường tài chính hoàn
Trang 35hảo - nếu không muốn nói một cách chính xác là thị trường tài chính hoạt động trôi chảy - trong đó có thị trường chứng khoán cùng với các công cụ tài chính truyền thống của nó như chiếc phong vũ biểu tự động, nhạy cảm và đầy sức mạnh, cộng với phương tiện kỹ thuật hiện đại càng giúp cho việc định giá các doanh nghiệp càng trở nên dễ dàng
* Nguyên tắc định giá doanh nghiệp
Định giá doanh nghiệp là việc xem xét, phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp, hay nói cách khác đó là việc xác định giá cả của doanh nghiệp Đây là việc đánh giá thuần tuý giá trị doanh nghiệp căn cứ vào giá trị sử dụng, giá trị hiện tại cũng như cung cầu trên thị trường trên cơ
sở trạng thái tài chính doanh nghiệp
Giá trị doanh nghiệp lúc này được xem xét thông qua giá trị cổ phần Ở nước ta, thị trường này mới hình thành với sự tham gia của một số công ty cổ phần có quy mô lớn, trong khi đó số lượng lớn các doanh nghiệp hiện nay là doanh nghiệp vừa và nhỏ Hơn nữa, việc định giá này chỉ quan tâm đến hiệu quả tài chính, theo yêu câu của nhà đầu tư là nhà quản trị Và rõ ràng nó không quan tâm đến hiệu quả thật sự của doanh nghiệp Do vậy, thị trường này chưa thể là một sơ sở tin cậy cho việc định giá
Việc định giá có thể bằng nhiều tài liệu như bảng cân đối kế toán, kết quả kinh doanh, bảng thuyết minh tài chính Ngoài ra, các tài liệu dự đoán
* Định giá trên cơ sở bảng cân đối kế toán
Theo cách nhìn đơn giản, giá trị của doanh nghiệp chính là tài sản của doanh nghiệp Do vậy, các số liệu để định giá doanh nghiệp là giá trị của các thành phần trong sổ sách kế toán cũng như trên bảng cân đối kế toán Trong trường hợp sổ sách kế toán phản ánh không chính xác hoặc giá phí lịch sử của
Trang 36tài sản quá khác xa với giá trị hiện tại của nó thì nên kiểm kê mọi tài sản và công nợ của doanh nghiệp rồi tiến hành định giá và điều chỉnh các giá trị tương ứng
Đánh giá giá trị theo sổ sách kế toán
Giá trị thực tế của doanh nghiệp là giá trị của toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm đánh giá sau khi trừ đi các khoản nợ phải trả Giá trị này còn được gọi là tài sản thuần của doanh nghiệp Hiển nhiên tài sản này phải ngang bằng toàn bộ tài sản mà doanh nghiệp đã tạo được trong suốt quá trình kinh doanh trong quá khứ mà hiện còn tồn tại sau khi trừ đi các khoản
nợ tồn đọng vào thời điểm định giá Đây là quan điểm tĩnh, được thể hiện bằng công thức sau:
* Định giá dựa trên cơ sở báo cáo kết quả kinh doanh
Theo phương pháp này, định giá doanh nghiệp phải chú ý đến lợi thế kinh doanh thông qua lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận của các năm trước khi định giá và dự kiến lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp Do vậy, có thể xem xét tài sản theo hướng tài sản tài chính, có nghĩa là giá trị mà nhà đầu tư có thể và chuẩn bị trả khi mua tài sản để đạt được một kết quả, hiệu quả nào đó mà họ
dự kiến đạt được Cách tiếp cận này có tính chất “động” hơn phương pháp trước
Định giá dựa trên lợi nhuận quá khứ, và lợi nhuận tương lai
Định giá dựa trên lợi nhuận quá khứ, và tương lai, thực chất là việc hiện tại hoá lợi nhuận dự đoán trong tương lai trên cơ sở lợi nhuận quá khứ Như vậy, kết quả nếu ta khảo sát lợi nhuận trong việc dự đoán này là lợi nhuận sau thuế thì giá trị của doanh nghiệp (V) sẽ là:
Giá trị doanh nghiệp = Tổng tài sản - Nợ phải trả
Trang 37Trong đó:
LN1,i,n : là lợi nhuận dự đoán sau năm thứ nhất, thứ i, thứ n
Định giá bằng phương pháp hỗn hợp
Phương pháp này thường được sử dụng trong thực tiễn trên cơ sở sử dụng đồng thời cả hai phương pháp trên, nó khắc phục các nhược điểm của phương pháp đánh giá theo tài sản và theo hiệu quả Giá trị tổng thể của doanh nghiệp là trung bình số học giữa giá trị tài sản và giá trị năng suất theo công thức sau:
Trong đó các giá trị này được xác định theo các phương pháp định giá trên, trên cơ sở của bảng CĐKT và báo cáo kết quả kinh doanh Có thể xem xét các đánh giá này dưới một dạng khác:
Với r là tỉ lệ vốn hoá lợi nhuận
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại và phát triển một cách vững chắc nếu như doanh nghiệp đó có một tình hình tài chính lành mạnh Nền kinh tế càng phát triển thì các quan hệ tài chính càng đa dạng
và phong phú, đòi hỏi các doanh nghiệp cũng phải thích ứng với điều kiện luôn có sự thay đổi này Xuất phát từ thực tiễn kinh doanh và thực tiễn của thị trường, công tác phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp ngày càng trở nên cần thiết đối với các doanh nghiệp nhằm cung cấp các thông tin tài chính một cách chính xác, đầy đủ và kịp thời phục vụ cho công tác quản trị trong doanh nghiệp và phục vụ cho các nhu cầu về thông tin của các đối tượng khác quan tâm
Do vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm vững nội dung phân tích tình hình tài chính, các phương pháp phân tích, các thông tin cần thiết được sử dụng trong quá trình phân tích Có như vậy, mới đem lại kết quả phân tích chính xác, phản ánh đúng thực trạng tài chính của doanh nghiệp, từ đó đề xuất được các biện pháp hợp lý để nâng cao hiệu quả tài chính nói riêng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung
Chương 1 của luận văn đã trình bày được cơ sở lý luận về tích tình hình tài chính doanh nghiệp như: các khái niệm liên quan đến phân tích tình hình tài chính, thông tin sử dụng trong phân tích tình hình tài chính, các phương pháp phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp như: phương pháp so sánh, phương pháp lại trừ…Và các chỉ tiêu liên quan đến phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp… Để từ đó vận dụng vào thực trạng tại công ty cố phần Nhựa Đà Nẵng, để từ những phân tích ta biết tình hình tài chính doanh nghiệp trên các mặt, hiệu quả sử dụng từng loại vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh và hiệu quả tài chính của hoạt động sản xuất kinh doanh như thế nào?
Trang 39a Thông tin khái quát sơ lược:
- Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG
- Tên giao dịch: DANANG PLASTIC JOINT STOCK COMPANY
- Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số:
- Vốn điều lệ của công ty tại thời điểm thành lập là 15.872.800.000 VNĐ
Đà Nẵng, có trụ sở ban đầu tại 280 - Hùng Vương với diện tích hạn chế
sản xuất Năm 1978, để đáp ứng về công tác sản xuất, Xí nghiệp đã đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất mới tại 199 - Trần Cao Vân, nay là 371- Trần Cao
và đưa vào sử dụng Theo Quyết định số 1844/QĐUB của UBND tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng ngày 29/11/1993, Xí nghiệp chính thức trở thành doanh nghiệp nhà nước với tên gọi là công ty Nhựa Đà Nẵng
Trước xu hướng vận động chung của nền kinh tế và yêu cầu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhằm tăng khả năng cạnh tranh, sản xuất hiệu quả,
Trang 40Công ty Nhựa Đà Nẵng đã chính thức trở thành công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng ngày 04/08/2000 theo quyết định số 90/2000/QĐ - TTG và nghị định số 03/2000/NĐCP ngày 03/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ
Qua hơn 25 năm hoạt động và không ngừng phát triển, công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng đã khắc phục được khó khăn và từng bước đi lên mở rộng quy
mô và đáp ứng nhu cầu về sản xuất, sản phẩm nhựa của công ty dần thay thế hàng ngoại nhập và mở rộng xuất khẩu ra thị trường quốc tế
Hiện nay, công ty đang mở rộng liên doanh với nước ngoài để sản xuất bao bì các loại, đặc biệt là túi xốp cao cấp cho xuất khẩu, liên doanh sản xuất khung cửa nhôm cao cấp, mở rộng dây chuyền sản xuất ống nước, đầu tư dây chuyền sản xuất ống nước, đầu tư dây chuyền sản xuất bao bì ciment Đặc biệt, đây là công ty độc quyền cung cấp nhựa HDPE cho chương trình “Cung cấp nước sạch cho nông thôn” của UNICEF với doanh số trung bình là 2 triệu USD/năm Đồng thời công ty còn ký hợp đồng dài hạn sản xuất bao bì ciment với Công ty ciment Hải Vân, ciment Chinfon
Sau khi cổ phần hoá, công ty hoạt động ngày càng hiệu quả Đồng thời cùng với sự nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty, sản phẩm của công ty luôn được người tiêu dùng bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao trong nhiều năm liền, đạt huân chương lao động hạng I, II, III
và bằng khen đơn vị dẫn đầu trong nghành công nghiệp thành phố Đà Nẵng Với chất lượng sản phẩm tốt và công tác sản xuất quy mô rộng, công nghệ mới (80% thiết bị ngoại nhập), công ty đã góp phần vào công cuộc chuyên môn hoá, hiện đại hoá ngành công nghiệp nhựa của thành phố Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung