Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề trên, tôi đã thực hiện nghiên cứu đề tài “Nhận thức của kiểm toán viên về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán Báo cáo tài chính: Trường hợ
Trang 1NGUYỄN HẢI YẾN
NHẬN THỨC CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VỀ CÁC NHÂN
TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH: TRƯỜNG HỢP CÁC CÔNG TY
KIỂM TOÁN TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 2NGUYỄN HẢI YẾN
NHẬN THỨC CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VỀ CÁC NHÂN
TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH: TRƯỜNG HỢP CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁNTRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐƯỜNG NGUYỄN HƯNG
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp và nguồn dữ liệu nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài 5
7 Kết cấu của luận văn 5
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BCTC VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BCTC 16
1.1.KHÁI QUÁT VỀ KIỂM TOÁN BCTC VÀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BCTC 16
1.1.1 Kiểm toán BCTC và vai trò của kiểm toán BCTC 16
1.1.2.Chất lượng kiểm toán BCTC 18
1.1.3.Khung (khuôn mẫu) CLKT 20
1.2.CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BCTC 31
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BCTC: TRƯỜNG HỢP CÁC CÔNG TY TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐẴNG 40
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG 40
Trang 52.3 XÂY DỰNG BẢNG CÂU HỎI VÀ THU THẬP SỐ LIỆU NGHIÊN
CỨU 44
2.3.1.Xây dựng thang đo 44
2.3.2.Thiết kế câu hỏi khảo sát 45
2.3.3.Chọn mẫu và lựa chọn đối tượng khảo sát 47
2.3.4.Phương pháp khảo sát và thu hồi phiếu khảo sát 48
2.4.PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ, PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 49
2.4.1.Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến Chất lượng kiểm toán BCTC và đánh giá độ tin cậy 50
2.4.2.Xếp hạng tầm quan trọng của từng nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC và tầm quan trọng của các tiêu chí đo lường nhân tố tương ứng 51
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC CỦA KTV VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BCTC: TRƯỜNG HỢP CÁC CÔNG TY TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG 56
3.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ 56
3.2 XÁC ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BCTC 58
3.2.1 Phân tích nhân tố khám phá EFA 58
3.2.2 Đo lường độ tin cậy Cronbach’s Alpha 60
3.3 XẾP HẠNG TẦM QUAN TRỌNG CỦA TỪNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BCTC 66
3.4 BÌNH LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 72
Trang 6CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BCTC: TRƯỜNG HỢP CÁC CÔNG TY TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG 77
4.1 SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BCTC 77 4.2.CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BCTC 77 4.2.1.Giải pháp nâng cao Chất lượng kiểm toán từ góc độ Công ty kiểm toán 78 4.2.2.Giải pháp nâng cao Chất lượng kiểm toán từ góc độ Kiểm toán viên 81 4.2.3.Giải pháp nhằm nâng cao Chất lượng kiểm toán từ góc độ Đặc điểm khách hàng 84 4.2.4.Giải pháp nhằm nâng cao Chất lượng kiểm toán từ góc độ Môi trường kiểm toán 86
KẾT LUẬN 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7Kí hiệu Diễn giải
BCTC Báo cáo tài chính CLKT Chất lượng kiểm toán
KSNB Kiểm soát nội bộ KSCL Kiểm soát chất lượng
TTCK Thị trường chứng khoán
Trang 8Số hiệu
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá CLKT liên quan đến quy trình
kiểm toán (PCAOB, 2013)
25
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến Chất lượng kiểm toán BCTC 31 2.1 Danh sách một số công ty kiểm toán trên địa bàn TP Đà
3.1 Thông tin KTV và Công ty kiểm toán tham gia khảo sát 49
3.5 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha nhóm nhân tố 1 60 3.6 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha nhóm nhân tố 2 61 3.7 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha nhóm nhân tố 3 61 3.8 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha nhóm nhân tố 4 62 3.9 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha nhóm nhân tố 5 62 3.10 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha nhóm nhân tố 6 63 3.11 Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha nhóm nhân tố 7 63
Trang 103.1 Trọng số các nhân tố ảnh hưởng chất lượng kiểm toán BCTC 68
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm toán BCTC là một hoạt động đặc biệt, một loại hoạt động dịch vụ đảm bảo, nhằm giúp các đối tượng liên quan có thể tin cậy về tính trung thực, đúng đắn, hợp pháp và đầy đủ của các thông tin trên BCTC Trong hơn 2 thập
kỉ qua, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã cố gắng định nghĩa CLKT, xây dựng khung về CLKT cũng như tìm các nhân tố tác động đến CLKT CLKT là một khái niệm đa diện, khó quan sát và khó đo lường, phụ thuộc rất nhiều vào cảm nhận của người sử dụng hoặc người thực hiện dịch vụ kiểm toán Chính vì vậy, cho đến hiện nay, khái niệm và quan điểm về CLKT vẫn chưa được thống nhất và các nghiên cứu về chủ đề này vẫn tiếp tục được thực hiện
Năm 2001, vụ phá sản với con số thiệt hại khổng lồ lên tới 63,4 tỷ USD của tập đoàn công nghiệp năng lượng Enron đã gây chấn động thị trường chứng khoán Mỹ Liên quan đến vụ việc này là sự phá sản của hãng kiểm toán hàng đầu thế giới Arthur Andersen sau khi hãng này bị phạt và kiện hàng triệu USD và hoàn toàn mất uy tín trên thị trường kiểm toán Tiếp sau đó là hàng loạt các bê bối tài chính khác trên thị trường chứng khoán có liên quan đến các công ty kiểm toán như vụ gian lận tài chính tại tập đoàn viễn thông Worldcom vào năm 2005 (cũng do Arthur Anderson kiểm toán) hay vụ gian lận tại Tập đoàn bán lẻ lớn thứ hai nước Mỹ Kmart (do PWC kiểm toán) Gần đây nhất, tại Nhật Bản, vụ khai khống tài chính lên tới 1,2 tỷ USD của tập đoàn TOSHIBA cũng đã gây chấn động thế giới Công ty kiểm toán tư vấn Ernst & Young đã phải nộp phạt 17,4 triệu USD và bị cấm không được tham gia ký kết hợp đồng trong vòng 3 tháng sau những cáo buộc thiếu thận trọng khi không phát hiện ra sai sót trong quá trình kiểm toán tập đoàn này
Trang 12Còn tại Việt Nam, những vụ bê bối tài chính do vấn đề về CLKT cũng không hề ít Điển hình nhất là vụ bê bối kiểm toán tại Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết (BBT) do 2 công ty kiểm toán A&C và AISC thực hiện vào các năm 2005 – 2007 Trong vụ việc này, các công ty kiểm toán đã bị cáo buộc không cẩn trọng trong việc kiểm toán và không báo cáo các sai phạm trọng yếu ngay cho Uỷ Ban Chứng Khoán Đây là vụ việc khiến cho BBT trở thành
mã cổ phiếu đầu tiên bị hủy niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Gần đây, vụ điều chỉnh hồi tố do xuất hiện khoản mục “Hàng tồn kho phát hiện thiếu” lên tới 980 tỷ đã khiến cho BCTC quý 2/2016 của Công ty Cổ phần tập đoàn kỹ nghệ Gỗ Trường Thành (TTF) bất ngờ gánh một khoản lỗ lên tới cả nghìn tỷ đồng và giáng một đòn choáng váng vào các cổ đông Trong vụ việc này, công ty kiểm toán DFK bị nghi ngờ là đã bắt tay với TTF trong việc đưa ra ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần trong các kì kiểm toán trước đó
Những vụ việc nêu trên đã gióng lên một hồi chuông báo động về chất lượng của hoạt động kiểm toán Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO, là thành viên của Hiệp định thương mại tự do TPP, tham gia vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN như hiện nay; cùng với sự bùng nổ của thị trường chứng khoán; vấn đề về CLKT BCTC ngày càng được coi trọng không chỉ nhằm giúp các cổ đông, nhà đầu
tư, các tổ chức tín dụng có thể tin cậy các thông tin trên BCTC mà còn hỗ trợ các nhà quản lý DN trong nâng cao chất lượng hoạt động của mình Thực trạng này đòi hỏi cần có nhiều nghiên cứu về CLKT cũng như các nhân tố tác
động đến CLKT để phục vụ cho những người quan tâm
Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề trên, tôi đã thực hiện nghiên cứu
đề tài “Nhận thức của kiểm toán viên về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán Báo cáo tài chính: Trường hợp các công ty kiểm toán trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng” nhằm góp phần làm sáng tỏ vấn đề đang được
Trang 13quan tâm về mặt lý luận cũng như đưa ra các gợi ý về mặt chính sách nhằm giúp Cơ quan quản lý Nhà nước có thể đưa ra được các giải pháp cấp thiết trong thực tiễn hoạt động kiểm toán tại Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là xác định các nhân tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC và xếp hạng tầm quan trọng của từng nhân tố đến chất lượng kiểm toán BCTC, làm cơ sở để đề xuất các giải pháp cần tập trung nhằm nâng cao CLKT Theo đó, mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là:
- Xác định các nhân tố (gắn liền với các tiêu chí đo lường nhân tố) có thể ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC theo đánh giá của KTV trên địa bàn TP Đà Nẵng và xếp hạng tầm quan trọng của các nhân tố đó
- Từ kết quả nghiên cứu, rút ra những hàm ý về các nhân tố có thể ảnh hưởng đến CLKT BCTC
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng được đưa ra
- Câu hỏi 1: Những nhân tố nào có thể ảnh hưởng đến chất lượng kiểm
toán BCTC theo đánh giá của KTV trên địa bàn TP Đà Nẵng ?
- Câu hỏi 2: Tầm quan trọng của từng nhân tố đến chất lượng kiểm toán BCTC theo đánh giá của KTV trên địa bàn TP Đà Nẵng ?
- Câu hỏi 3: Giải pháp nào cần được đưa ra và chú trọng nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán BCTC ?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nhân tố có thể ảnh hưởng đến
chất lượng kiểm toán BCTC
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 14Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu các nhân
tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC theo đánh giá của KTV/ trợ lý KTV trên địa bàn TP Đà Nẵng Thời gian thực hiện khảo sát và phỏng vấn KTV/ trợ lý KTV là từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2016
5 Phương pháp và nguồn dữ liệu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp hỗn hợp: kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng
+ Phương pháp nghiên cứu định tính: Phân tích và tổng hợp thông tin thứ cấp từ các nguồn dữ liệu có sẵn cả trong nước lẫn quốc tế về đối tượng nghiên cứu Tác giả tiến hành thu thập, phân tích, so sánh và đánh giá một số nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC để hình thành khung lý thuyết cơ bản của luận văn Qua đó, xác định các nhân tố
và các tiêu chí đo lường nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC
+ Phương pháp nghiên cứu định lượng: Dựa trên hệ thống nhân tố đã được xác định về mặt lý thuyết, tác giả thiết kể Bảng câu hỏi để thực hiện khảo sát nhận thức và đánh giá của KTV về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC Khi đã có dữ liệu khảo sát, tác giả xử lý bảng câu hỏi thông qua phần mềm SPSS, áp dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA và nhất quán nội tại qua hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha; đồng thời
sử dụng phương pháp phân tích thứ bậc FAHP và FTOPSIS để xếp hạng tầm quan trọng của các nhân tố đến chất lượng kiểm toán BCTC
Nguồn dữ liệu sử dụng bao gồm dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
+ Nguồn dữ liệu sơ cấp: Nguồn dữ liệu sơ cấp do chính tác giả thu thập được thông qua Bảng câu hỏi khảo sát KTV/ trợ lý KTV để nhận biết các nhân tố và sau đó đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố đến chất lượng kiểm toán BCTC
+ Nguồn dữ liệu thứ cấp: Các nguồn tham khảo từ các nghiên cứu trước
Trang 15đây hoặc qua thông tin báo chí, các thông tin của công ty kiểm toán được công bố trên website…
6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài
Đề tài mang tính chất thời sự, có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn, nhận được sự quan tâm của nhiều đối tượng khác nhau Theo đó:
Về mặt khoa học, lý luận: luận văn góp phần làm rõ các nhân tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC cũng như đưa ra một phương pháp để đánh giá, xếp hạng tầm quan trọng của các nhân tố đến chất lượng kiểm toán BCTC Từ đó tạo cơ sở để đưa ra hàm ý về các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT BCTC tại Việt Nam
Về mặt thực tiễn: luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các công
ty kiểm toán ở Việt Nam nhằm vận dụng các nhân tố thích hợp để nâng cao CLKT BCTC phục vụ cho khách hàng, cũng như giúp cho các nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam, các tổ chức tín dụng có thể đánh giá chất lượng thông tin trên BCTC mà họ quan tâm Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu từ luận văn cũng có thể hỗ trợ cho các cơ quan quản lý Nhà nước đưa ra những biện pháp, chính sách phù hợp nhất để nâng cao chất lượng của hoạt động kiểm toán BCTC hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, luận văn còn được chia thành 4 chương và được trình bày theo thứ tự nội dung chính như sau:
Phần Mở đầu: Trình bày sự cấp thiết của nghiên cứu; mục tiêu; câu hỏi; đối tượng, phạm vi, phương pháp và ý nghĩa của luận văn; cũng như tổng quan về các tài liệu của các nghiên cứu liên quan trước đó
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng kiểm toán BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT BCTC
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Nhận thức của KTV về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC: Trường hợp các công ty kiểm toán
Trang 16trên địa bàn TP Đà Nẵng
Chương 3: Kết quả nghiên cứu Nhận thức của KTV về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC: Trường hợp các công ty kiểm toán trên địa bàn TP Đà Nẵng
Chương 4: Hàm ý chính sách rút ra từ kế quả nghiên cứu Nhận thức của KTV về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC: Trường hợp các công ty kiểm toán trên địa bàn TP Đà Nẵng
Trang 17TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Tính đến nay, các nghiên cứu về CLKT là không nhiều, chủ yếu do các nhà nghiên cứu nước ngoài thực hiện
Trong các nghiên cứu ở nước ngoài, quan điểm CLKT được hiểu là khả năng KTV phát hiện và báo cáo về những sai phạm trọng yếu trong việc trình bày và công bố BCTC của khách hàng được kiểm toán (quan điểm của DeAgelo, 1981) [47] Khi đó, khi đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT, kết quả chỉ ra rằng khả năng KTV phát hiện được sai phạm trọng yếu phụ thuộc vào nhiều nhân tố, đặc biệt là năng lực nghề nghiệp của KTV; còn khả năng báo cáo sai phạm phụ thuộc vào tính độc lập của KTV (Lam and Chang, 1994) [42] Nhiều cuộc nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng kiến thức tích lũy thông qua làm việc với khách hàng, các kinh nghiệm chuyên môn có liên quan đến sự đánh giá cao hơn về chất lượng của những người sử dụng dịch vụ kiểm toán (Bonner, 1990) [19] Những cuộc nghiên cứu khác cũng cho rằng kiến thức và khả năng của KTV đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc khám phá ra các sai phạm trong quá trình kiểm toán (Owhoso et al., 2002) [58], hoặc trong quá trình thực hiện thủ tục phân tích (Wright, 1997) [67] hoặc trong việc đánh giá rủi ro kiểm toán (Low, 2004) [51] Một cuộc nghiên cứu khác của O’Keefe et al (1994) [57] cũng chỉ ra có mối liên
hệ giữa khả năng và kiến thức của KTV với việc tuân thủ các Nguyên tắc kiểm toán chung được chấp nhận (GAAPs)
Trong khi đó nghiên cứu của Chen và cộng sự (2009) [24] đã ghi nhận một mối quan hệ tích cực giữa thái độ hoài nghi nghề nghiệp và CLKT Cụ thể, KTV thực hiện mức độ cao hơn của sự hoài nghi nghề nghiệp nếu nhận thấy có nhiều khả năng mâu thuẫn với một khách hàng hoặc thực hiện các thủ tục bổ sung khi có bất thường (Shaub và Lawrence, 1996) [65], hoặc nhận thấy có nhiều khả năng để phát hiện gian lận, ít tin tưởng vào khách hàng, và
Trang 18nhiều khả năng phải đầu tư mức độ cao đối với các nỗ lực trong quá trình kiểm toán
Một hướng nghiên cứu khác có liên quan đến việc tính cách của KTV
có ảnh hưởng đến CLKT hay không cũng rất được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Kelly và Margheim (1990) [38], Raghunathan (1991) [60] đều cho rằng: Nếu KTV có xu hướng bỏ sót các thủ tục kiểm toán thì chắc chắn CLKT sẽ bị ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực Các tác giả này nhận định hành vi làm giảm CLKT được định nghĩa là hành động của KTV thực hiện trong cuộc kiểm toán mà hậu quả của nó là làm giảm tính hiệu lực và tính thích hợp của các bằng chứng kiểm toán thu thập được
Các nghiên cứu đi sau như của Maletta và Roberts (1996) [52] về mối quan hệ giữa sự tác động của hành vi làm giảm CLKT và áp lực thời gian đối với nhiệm vụ được giao đã chỉ rõ sự cảm nhận áp lực của mỗi KTV về thủ tục quản lý và soát xét CLKT của công ty mà họ đang làm việc có mối quan hệ tỷ
lệ nghịch với hành vi làm giảm CLKT Đồng thời Wooten (2003) [66] cũng cho rằng, việc kiểm soát của chủ phần hùn và chủ nhiệm kiểm toán, kinh nghiệm của từng KTV về ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng, tính chuyên nghiệp của KTV, sự kiên trì và thái độ hoài nghi nghề nghiệp có ảnh hưởng đến CLKT
Quan điểm của thập kỷ trước cho rằng, quy mô công ty kiểm toán quyết định CLKT Với quan điểm đó, công ty kiểm toán lớn thường cung cấp dịch
vụ kiểm toán có chất lượng tốt hơn các công ty kiểm toán nhỏ (Lennox, 1999; Krishnan và Shayor, 2000) [43], [39]; các công ty kiểm toán danh tiếng hơn
sẽ cung cấp CLKT tốt hơn (DeAgelo, 1981) [48] Nghiên cứu của tác giả Chia – Chi Lee (2008) [25] cũng chỉ ra rằng quy mô công ty kiểm toán có ảnh hưởng cực kì quan trọng tới việc thực hiện công việc kiểm toán, đặc biệt là trong mối quan hệ so sánh giữa các hãng kiểm toán quốc tế, hãng kiểm toán
Trang 19quy mô lớn và hãng kiểm toán có quy mô vừa; tuy nhiên ảnh hưởng này là không đáng kể khi so sánh giữa các hãng kiểm toán có quy mô vừa và hãng
có quy mô nhỏ CLKT còn phụ thuộc vào việc cung cấp các dịch vụ phi kiểm toán (như dịch vụ tư vấn) sẽ làm giảm tính độc lập và do đó làm giảm CLKT (Chen, 2005) [23]
Quan điểm CLKT phụ thuộc vào phí kiểm toán cũng đã được đưa ra Nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này được thực hiện bởi De Angelo (1981) [47] khi tác giả này giới thiệu mô hình Chi phí và Phí kiểm toán Mô hình này giúp nhận ra mối quan hệ giữa chi phí cuộc kiểm toán và quan hệ với khách hàng Đặc biệt, các hãng kiểm toán có xu hướng đưa ra phí kiểm toán trong năm đầu tiên thực hiện hợp đồng thấp hơn so với chi phí thực tế mà công ty kiểm toán bỏ ra nhằm đạt được mức lợi nhuận cao hơn trong tương lai từ việc duy trì hợp đồng khách hàng Điều này cũng tạo ra một mối liên hệ về kinh tế với khách hàng, vì thế làm giảm tính độc lập của KTV và giảm CLKT Các nghiên cứu khác cũng cho rằng phí kiểm toán cao sẽ tạo thêm giá trị để KTV phát hiện ra các lỗi quản lý hoặc các sai phạm bất thường trong BCTC (Defond và Jambalvo, 1993) [26] Các công ty kiểm toán có nhiều khách hàng hơn sẽ thúc đẩy họ giữ gìn danh tiếng hơn và do đó CLKT cao hơn (Fransic
và Wilson, 1988; Becker, 1998) [31], [20] Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy thị trường chứng khoán đã phản ứng tích cực hơn đối với DN chuyển đổi chủ thể kiểm toán từ công ty kiểm toán nhỏ sang công ty kiểm toán lớn hơn (Eisenberg và Macey, 2003; Tilis, 2005) [28], [66]
Bên cạnh đó, mối liên hệ giữa CLKT và sự tồn tại của kiểm toán nội bộ trong công ty khách hàng cũng đã được tìm thấy Theo đó, năm 1999, Abbott
và Parker đã thực hiện cuộc nghiên cứu đối với các kế toán và nhận thấy rằng nếu có công ty khách hàng có một ủy ban kiểm toán độc lập và hữu hiệu thì CLKT sẽ gia tăng [17]
Trang 20Nhiệm kỳ của KTV đối với khách hàng cũng là một nhân tố được xem xét trong các nghiên cứu trước đây liên quan tới CLKT Nhiều cuộc nghiên cứu đã cho thấy rằng nếu nhiệm kỳ của KTV càng ngắn thì KTV càng có ít hiểu biết về khách hàng (Odia J.O, 2015) [55] Điều này dẫn đến một cuộc kiểm toán với chất lượng không cao Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc nhiệm kỳ kiểm toán càng dài thì CLKT càng được đảm bảo Ngược lại, rất nhiều cuộc nghiên cứu được tiến hàng bởi Adenuyi và Mieseigha (2013) [18]; Lin (2008) [45], … đã cho thấy nhiệm kỳ kiểm toán dài sẽ làm giảm CLKT do tính độc lập của KTV giảm
Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, CLKT là không đồng nhất giữa các công ty kiểm toán có quy mô lớn (Libby, 2006) [50] và việc đảm bảo CLKT không chỉ phụ thuộc vào các nhân tố của các công ty kiểm toán mà quan trọng hơn là phụ thuộc vào chính các KTV - những người trực tiếp thực hiện cuộc kiểm toán tại công ty khách hàng
Cấu trúc sở hữu vốn của khách thể kiểm toán cũng được xem là một nhân tố ảnh hưởng đến CLKT Dong và Zang (2008) [27] đã chỉ ra rằng cấu trúc sở hữu là một trong những đặc điểm quan trọng của DN được kiểm toán,
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến Ban điều hành và vì vậy sẽ tác động đến CLKT Theo kết quả nghiên cứu của Zureigat (2011) [68] tại Jordan, những DN mà quyền sở hữu phân tán về những nhà đầu tư nước ngoài, hoặc thuộc về các quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm thì có tác động tích cực đến CLKT Ngược lại, những DN mà quyền sở hữu tập trung phần lớn vào một hoặc một nhóm
cổ đông, thì có tác động tiêu cực đến CLKT do nhóm cổ đông lớn này có thể ảnh hưởng đến công tác quản lý, đặc biệt là khi trở thành thành viên Ban điều hành
Bên cạnh đó, các cuộc nghiên cứu không chỉ tập trung vào một nhân tố nhất định ảnh hưởng đến CLKT, mà các tác giả gần đây đã đề cập đến hàng
Trang 21loạt các nhân tố có thể ảnh hưởng đến CLKT Chẳng hạn một nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT của Kym Boon (2007) [41], cùng một nghiên cứu mở rộng của Kym Boon và các cộng sự (2008) [40] đã xác định
14 nhân tố thuộc về KTV và công ty kiểm toán như kinh nghiệm, khả năng chuyên sâu, ý thức, cam kết chất lượng của công ty kiểm toán, quy mô công ty , đồng thời đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này tới CLKT và đưa ra kết luận quan trọng, đó là nếu các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT được đảm bảo thì cũng đảm bảo sự hài lòng của người sử dụng đối với CLKT
Nghiên cứu của Lin Ling và Tepalagul Nopmanee Kong (2010) [44] đã chỉ ra rằng các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT tập trung vào một số nhân tố liên quan đến tính độc lập của KTV, chẳng hạn như: tầm quan trọng của khách hàng, các dịch vụ ngoài kiểm toán, nhiệm kỳ KTV, mối quan hệ giữa khách hàng và đội ngũ KTV Trong khi đó, Robert Knechel (2012) [62] lại cho rằng: nhiệm kỳ KTV, nhận thức của thị trường về CLKT, phí cho các dịch vụ ngoài kiểm toán, áp lực công việc cũng như kiến thức chuyên môn…
là những nhân tố ảnh hưởng đến CLKT
Trong khi đó, Hội đồng BCTC Anh Quốc (UK Financial Reporting Council – FRC) vào năm 2008 đã đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT như là: văn hóa của hãng kiểm toán, sự hiệu quả của quá trình kiểm toán, kĩ năng và chất lượng của nguồn nhân lực, các nhân tố kiểm soát bên ngoài đối với KTV [29] Với mỗi nhân tố ảnh hưởng, FRC lại có những phân tích sâu hơn và cung cấp những tiêu chí để đánh giá Chẳng hạn như nhân tố liên quan đến văn hóa của hãng kiểm toán thì được đo lường bởi một vài tiêu chí như: việc tạo ra một môi trường để đạt được một giá trị cao hơn về chất lượng, chính sách trả thưởng và đảm bảo cho nhân viên có đủ thời gian và nguồn lực
để giải quyết các vấn đề khó khăn Trong khi đó, nhân tố liên quan đến sự hiệu quả của quá trình kiểm toán được phân tích dựa trên các tiêu chí như
Trang 22thiết kế phương pháp luận kiểm toán, công cụ kiểm toán, tuân theo các chuẩn mực về đạo đức và chuẩn mực kiểm toán, các hỗ trợ về mặt kĩ thuật…
Tóm lại, trong các nghiên cứu về CLKT trên thế giới, các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT đã được bàn luận và đánh giá từ nhiều đối tượng khác nhau, như từ chính KTV (chủ thể kiểm toán), công ty khách hàng được kiểm toán (khách thể kiểm toán) và những người sử dụng kết quả kiểm toán (các bên quan tâm)
Tại Việt Nam, nghiên cứu về CLKT BCTC cũng đã được bàn luận nhiều Trước đây, nhân tố ảnh hướng đến CLKT BCTC không phải là mục tiêu và đối tượng nghiên cứu chính, mà chỉ là một phần hoặc được dùng để phân tích, bình luận liên quan Chẳng hạn như trong đề tài luận án Tiến sĩ của Trần Khánh Lâm (2011) “Xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng cho hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam”, tác giả đã đề cập: “Các hãng kiểm toán độc lập ở Việt Nam, với quy mô lớn hơn, nguồn lực tài chính dồi dào hơn, với
sự luân chuyển KTV thường xuyên thì luôn đạt CLKT cao hơn; còn việc giảm chi phí cho cuộc kiểm toán chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến CLKT Phần lớn các công ty kiểm toán có quy mô nhỏ, do thiếu nguồn lực nên không thể duy trì hoặc thi hành các thủ tục kiểm soát chất lượng một cách hiệu quả, vì thế việc kiểm soát chất lượng bên trong công ty kiểm toán sẽ không được chú tâm đầy đủ” [9]
Tuy nhiên gần đây, cũng đã có một vài tác giả đã chọn các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT là mục tiêu xem xét chính trong các nghiên cứu của
họ Cụ thể:
Tác giả Mạn Đình (2010) [4] và Trần Thị Giang Tân (2009) [12] cho rằng Kiếm soát chất lượng từ bên ngoài sẽ ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC Còn Vũ Minh Hải (2007) [6] lại đánh giá rằng kiểm soát chất lượng kiểm toán từ bên trong đóng một vai trò quan trọng đến chất lượng của
Trang 23kiểm toán BCTC và cung cấp được nhiều thông tin tài chính cho người sử dụng Bên cạnh đó, nhiều cuộc nghiên cứu của các tác giả Việt Nam chỉ ra rằng có mối liên hệ mật thiết giữa CLKT với chiến lược phát triển ngành do
Cơ quan Nhà nước và Hiệp hội nghề nghiệp đưa ra, cũng như với sự cạnh tranh giữa các hãng kiểm toán Điều này được chứng minh thông qua cuộc nghiên cứu của các tác giả Trần Thị Kim Anh (2008) [1]
Năm 2013, tác giả Bùi Thị Thủy của Việt Nam cũng đã nghiên cứu
“Nhân tố ảnh hưởng đến CLKT BCTC các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” [14] Kết quả là 14 nhân tố ảnh hưởng đến CLKT đã được tìm ra và phân thành 3 nhóm lớn:
+ Nhóm nhân tố thuộc về nhóm kiểm toán/ KTV, bao gồm 8 nhân tố: Tính độc lập; Trình độ chuyên môn nghề nghiệp; Khả năng chuyên sâu, Kinh nghiệm đối với khách hàng; Thái độ nghề nghiệp, Tính chuyên nghiệp; Ý thức tuân thủ chuẩn mực, đạo đức nghề nghiệp; và Áp lực mùa vụ kiểm toán
+ Nhóm nhân tố thuộc về công ty kiểm toán, gồm 5 nhân tố: Quy mô công ty; Danh tiếng công ty; Điều kiện làm việc; Phí/thời gian kiểm toán; Hệ thống KSCL
+ Nhóm nhân tố bên ngoài, bao gồm 3 nhân tố: Hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán; Khách thể kiểm toán, Nhân tố bên ngoài khác
Bên cạnh đó, vào năm 2015, tác giả Phan Văn Dũng của Việt Nam trong luận án tiến sĩ “Các nhân tố tác động đến CLKT của các DN kiểm toán Việt Nam theo định hướng tăng cường năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế” cũng đã phát hiện ra 13 nhân tố ảnh hưởng đến CLKT, trong đó có 9 nhân tố kế thừa từ các cuộc nghiên cứu trong và ngoài nước trước đó (bao gồm: (i) - Quy mô, mức độ chuyên ngành của DN kiểm toán; (ii) - Phương pháp luận kiểm toán; (iii) - Nhận thức của KTV và Ban giám đốc DN kiểm toán; (iv) - Mức độ chuyên sâu trong lĩnh vực kiểm toán; (v) - Tính độc lập; (vi) - Nhiệm kỳ kiểm toán; (vii) - Giá phí kiểm toán; (viii) - Tác
Trang 24động của hệ thống pháp lý và (ix) - Chất lượng đào tạo nhân lực kiểm toán)
và 4 nhân tố phát hiện mới((i) - Chiến lược kinh doanh, (ii) - Chi phí kiểm toán, (iii) - KSCL từ bên trong và (iv) - KSCL từ bên ngoài) [3]
Cũng trong năm 2015, tác giả Đỗ Hữu Hải đến từ Học viên Công nghệ Thông tin – Việt Nam cũng đã nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT BCTC trong các DN Việt Nam” và đưa ra 6 nhóm nhân tố chính bao gồm: (i) – Môi trường pháp lý; (ii) – Nhân tố thuộc về khách hàng; (iii) Tính độc lập của nhóm kiểm toán; (iv) - Năng lực của KTV; (v) - Hệ thống KSCL của hang kiểm toán; (vi) – Nhân tố khác [5]
Tổng kết lại các nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy rằng trong nhiều thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu đã nỗ lực tìm kiếm một định nghĩa chung về chất lượng kiểm toán theo các hướng tiếp cận khác nhau, trong đó có 2 quan điểm nổi bật về CLKT:
Quan điểm thứ nhất cho rằng CLKT là khả năng phát hiện và báo cáo sai phạm của KTV (DeAngelo, 1981) [47]
Quan điểm thứ hai cho rằng CLKT là sự thỏa mãn đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán (ISA 220)
Bên cạnh việc nghiên cứu CLKT theo chủ thể tác động, gần đây xu hướng của một số tác giả cũng đã chuyển sang nghiên cứu CLKT theo quá trình, điển hình như Francis (2011) [70], Defond và Zhang (2014) [71]; hoặc nghiên cứu CLKT theo khuôn khổ đặc điểm của từng quốc gia (Duff, 2004)[69]
Tại Việt Nam, dựa trên nền tảng của các nghiên cứu quốc tế, các tác giả trong nước cũng đã đưa ra thêm một số nhân tố phù hợp với thực tế tại Việt Nam như sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kiểm toán, Chất lượng đào tạo nhân lực kiểm toán…
Tuy nhiên, tác giả nhận thấy rằng, bên cạnh những kết quả đạt được,
Trang 25các nghiên cứu tại Việt Nam cần được tiếp tục bàn luận hoặc mở rộng, có thể
kể đến vấn đề sau:
Các nghiên cứu tại Việt Nam mới chỉ khám phá ra các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT, đưa ra một số nhân tố mới phù hợp với thực tế môi trường kiểm toán trong nước nhưng vẫn chưa có một cách tiếp cận khoa học trong việc đánh giá, xếp hạng tầm quan trọng của từng nhân tố Chính vì vậy, trong nghiên cứu này, bên cạnh việc thực hiện phân tích khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT theo đánh giá của KTV, tác giả sẽ đưa ra một phương pháp khoa học để xếp hạng tầm quan trọng của các nhân tố đã được khám phá Phương pháp mới này đã được chấp nhận và ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau, tuy nhiên ở lĩnh vực kiểm toán thì vẫn chưa hề được sử dụng trong bất cứ nghiên cứu, đề tài nào tại Việt Nam Tác giả cũng
hi vọng rằng cách tiếp cận này sẽ mở ra những hướng nghiên cứu mới cho các đề tài thuộc lĩnh vực kế toán – kiểm toán trong tương lai
Trang 261.1.1 Kiểm toán BCTC và vai trò của kiểm toán BCTC
a Kiểm toán và kiểm toán BCTC
Theo Liên đoàn Kế tóan quốc tế thì “Kiểm toán là việc các KTV kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về BCTC” (IFAC, 2007) [2]
Theo Hiệp hội Kế toán Mỹ (AAA): “Kiểm toán là quá trình có tính hệ thống của việc thu thập và đánh giá các bằng chứng liên quan đến các cơ sở dẫn liệu về các sự kiện kinh tế để xác nhận về mức độ của sự phù hợp giữa cơ
sở dẫn liệu và các tiêu chuẩn đã được xác lập và truyền đạt kết quả này đến những đối tượng có quan tâm” [16]
Dù còn nhiều khác biệt trong góc độ nhìn nhận, nhìn chung có thể hiểu kiểm toán là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động cần được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ
và ngoài chứng từ do các KTV có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực
Kiểm toán BCTC (hay kiểm toán độc lập đối với BCTC) là một hoạt động đặc trưng của kiểm toán với mục tiêu cụ thể là “đưa ra ý kiến về việc liệu rằng BCTC có được lập trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng hay không” (Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200)
Trang 27b Vai trò của kiểm toán BCTC
Mục đích của kiểm toán BCTC là làm tăng độ tin cậy của người sử dụng đối với BCTC, thông qua việc KTV đưa ra ý kiến về việc liệu BCTC có được lập dựa trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng hay không (Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam
số 200) Với mục đích đó, kiểm toán BCTC thể hiện các vai trò sau đây:
Thứ nhất, kiểm toán BCTC giúp tăng cường độ tin cậy của thông tin trên BCTC
Người sử dụng thông tin trên BCTC thường xuyên phải đối mặt với những rủi ro thông tin phát sinh do mâu thuẫn về quyền lợi dẫn đến các gian lận hoặc do khối lượng và sự phức tạp của thông tin trên BCTC ngày càng gia tăng Để giảm thiểu các rủi ro như trên, người sử dụng thông tin BCTC không thể hoàn toàn tin tưởng hoặc tự kiểm tra thông tin mà cần phải có một bên thứ
ba độc lập và có năng lực để xác minh tính trung thực, hợp lý của BCTC, từ
đó gia tăng độ tin cậy của các thông tin trên BCTC
Thứ hai, kiểm toán BCTC là cơ sở để các bên liên quan thực hiện các quyền lợi hoặc ra các quyết định kinh tế
Các thông tin trên BCTC đã được kiểm toán là cơ sở để các cổ đông, nhà đầu tư, tổ chức tín dụng… có quyền lợi hoặc nghĩa vụ với DN đưa ra các quyết định, chẳng hạn như nhà đầu tư quyết định mua vào hoặc bán ra các cổ phiếu, cổ đông có cơ sở nhận cổ tức, ngân hàng có cơ sở để ra quyết định về cho vay, người bán hàng có cơ sở để tiếp tục cung ứng hàng hóa hoặc bán chịu…
Thứ ba, kiểm toán BCTC giúp các DN nâng cao trình độ quản lý và
uy tín
Hoạt động của kiểm toán BCTC sẽ hỗ trợ cho DN phát hiện ra những điểu yếu trong quản lý hoặc hệ thống KSNB, nhờ đó nâng cao hiệu quả của
Trang 28công tác quản lý DN thông qua các tư vấn của KTV Bên cạnh đó, việc một công ty không bắt buộc phải công bố Báo cáo kiểm toán những vẫn quyết định mời bên thứ ba kiểm toán BCTC sẽ gia tăng uy tín, sự trong sạch trong hoạt động của DN
Thứ tư, kiểm toán BCTC giúp các cơ quan chức năng ban hành các văn bản pháp luật phù hợp
KTV là những người trực tiếp thực hiện cuộc kiểm toán, trực tiếp tiếp xúc với nhiều loại giao dịch phát sinh trong thực tế mà các nhà làm luật không thể lường trước được Khi đó, những bất cập về các quy định sẽ được các KTV phát hiện ra và đề xuất với các Cơ quản quản lý Nhà nước sửa đổi
để các quy định pháp luật trở nên phù hợp, gắn với thực tế hơn
1.1.2 Chất lượng kiểm toán BCTC
a Đối tượng quan tâm đến chất lượng kiểm toán BCTC
Thông tin trên BCTC cũng như chất lượng của kiểm toán BCTC nhận được sự quan tâm của rất người sử dụng BCTC, bao gồm các nhóm đối tượng sau đây:
Nhóm thứ nhất là chủ thể kiểm toán (công ty kiểm toán) bao gồm: Ban lãnh đạo công ty, Bộ phận giám sát chất lượng, KTV, nhóm kiểm toán Các đối tượng này có trách nhiệm đảm bảo CLKT theo đúng chuẩn mực nghề nghiệp nhằm giữ gìn và nâng cao uy tín, hình ảnh; bảo đảm sự phát triển bền vững của công ty
Nhóm thứ hai là khách thể kiểm toán (khách hàng), bao gồm: Ban Giám đốc và Ban quản trị DN, cổ đông công ty, người lao động Nhóm đối tượng này quan tâm tới CLKT nhằm phát hiện ra những sai phạm để quản lý
DN hiệu quả hơn
Nhóm thứ ba là các bên liên quan, bao gồm: Cơ quan quản lý Nhà nước, Đối tác của khách hàng, Tổ chức tín dụng, Nhà đầu tư, Chuyên gia Các
Trang 29đối tượng này quan tâm đến CLKT để ra các quyết định kinh tế hoặc ban hành các quy định về pháp luật hợp lý và gắn với thực tiễn
b Các quan điểm về chất lượng kiểm toán BCTC
Chất lượng kiểm toán BCTC được quan sát theo các quan điểm khác nhau tùy thuộc vào góc nhìn của các đối tượng quan tâm, nhưng nhìn chung cho đến nay, có 2 quan điểm chính về chất lượng kiểm toán BCTC như sau:
Thứ nhất, Chất lượng kiểm toán theo quan điểm thỏa mãn đối tượng
sử dụng dịch vụ kiểm toán
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220, “Chất lượng kiểm toán
là mức độ thỏa mãn về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán cho những đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán đồng thời thỏa mãn về mong muốn có được những ý kiến về đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính, kế toán của đơn vị được kiểm toán với thời gian định trước
và giá phí hợp lý” Chất lượng kiểm toán ở đây được hiểu trên khía cạnh mức
độ thỏa mãn của đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán, phổ biến nhất là các nhà đầu tư, sau đó là các cơ quan quản lý và doanh nghiệp được kiểm toán
Thứ hai, CLKT theo quan điểm phát hiện và báo cáo sai sót trọng yếu trong BCTC
DeAngelo (1981) là nhà nghiên cứu đầu tiên xác định CLKT dựa trên khả năng phát hiện và báo cáo sai phạm trọng yếu trong BCTC của công ty khách hàng [47] Theo sau đó, rất nhiều nhà khoa học đã dựa trên quan điểm này để phát triển các lý luận của mình như: Lam và Chang (1994) [42], Francis (2004) [30]… Theo quan điểm này, một cuộc kiểm toán có chất lượng
có nghĩa là KTV cam kết đảm bảo về khả năng phát hiện và báo cáo sai phạm trọng yếu trong BCTC theo đúng các quy định chuẩn mực nghề nghiệp Nhờ
đó, người sử dụng BCTC đã được kiểm toán có thể tin tưởng vào thông tin được cung cấp trên BCTC
Trang 30Trong nghiên cứu này, để phù hợp với thực tế hoạt động kiểm toán tại Việt Nam, tác giả sẽ lựa chọn quan điểm thỏa mãn đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 Dựa trên quan điểm này, các đáp viên tham gia khảo sát sẽ hiểu rõ về khái niệm chất lượng kiểm toán để có thể đưa ra những đánh giá phù hợp nhất các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT
1.1.3 Khung (khuôn mẫu) CLKT
Hiện nay trên thế giới, có một số khung hoặc khuôn mẫu CLKT được ban hành Trong nghiên cứu này, tác giả đề cập đến 3 khung, đó là:
Thứ nhất, Khung CLKT do Hội đồng Báo cáo tài chính Vương quốc Anh (FRC - Financial Reporting Council) ban hành
Thứ hai, Khung CLKT theo Nghiên cứu của Hội đồng giám sát kiểm toán công ty đại chúng Mỹ (PCAOB – Public Company Accounting Oversight Board)
Thứ ba, Khuôn mẫu CLKT của Uỷ ban Chuẩn mực kiểm toán quốc tế (IAASB - International Auditing and Assurance Standards Board)
a Khung Chất lượng kiểm toán của FRC
Khung CLKT của RFC được thiết kế tháng 11 năm 2006 nhằm tạo ra một sự tương tác hiệu quả giữa các KTV, ủy ban kiểm toán, người thiết lập BCTC, nhà đầu tư và các cổ đông trong vấn đề CLKT RFC hi vọng rằng việc phát hành Khung CLKT sẽ hỗ trợ cho các đối tượng sau đây:
+ Đối với công ty kiểm toán: giúp đánh giá các hợp đồng kiểm toán + Đối với Uỷ ban kiểm toán: thực hiện các đánh giá hàng năm về hiệu quả của hoạt động kiểm toán độc lập
+ Đối với các cổ đông: đánh giá chính sách và các hành động do hãng kiểm toán thực hiện để đảm bảo CLKT, kể cả trong và ngoài nước
+ Đối với các nhà làm luật: tiến hành và báo cáo việc điều hành hoạt động kiểm toán chuyên nghiệp
Trang 31Khung CLKT đưa ra 6 thành tố chính của CLKT, bao gồm: (i) - Văn hóa của hãng kiểm toán; (ii) – Kĩ năng và chất lượng của chủ phần hùn và nhân viên kiểm toán; (iii) – Hiệu quả của quá trình kiểm toán; (iv) – Độ tin cậy và hữu ích của báo cáo kiểm toán; (v) – Các nhân tố bên ngoài kiểm soát KTV ảnh hưởng đến CLKT [29]
Bảng 1.1 Khung Chất lượng kiểm toán của FRC (2006)
+ Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc “làm những việc
có ích” đối với công chúng, và ảnh hưởng của việc đó tới danh tiếng của hãng và cả bản thân KTV
+ Đảm bảo chủ phần hùn và nhân viên có đủ thời gian
và nguồn lực để giải quyết các vấn đề khó khăn + Đảm bảo các vấn đề về tài chính không tác động đến hành động và việc ra quyết định gây ảnh hưởng tiêu cực đến CLKT
+ Thúc đẩy những ưu điểm của việc tư vấn đối với các vấn đề khó khăn
+Đảm bảo một hệ thống lành mạnh trong việc duy trì và chấp nhận khách hàng
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống tưởng thưởng và đánh giá đối với chủ phần hùn và nhân viên thúc đẩy những phẩm chất cá nhân cần thiết cho CLKT
+ Đảm bảo CLKT xuyên suốt trong hãng kiểm toán và trong các liên kết quốc tế
Kĩ năng và phẩm + Chủ phần hùn và KTV cần hiểu thực tiễn kinh doanh
Trang 32+ KTV phải có đầy đủ kinh nghiệm và phải được giám sát bởi chủ phần hùn và quản lý
+Cần đào tạo đầy đủ cho nhân viên về kiểm toán, kế toán và các vấn đề liên quan tới ngành được kiểm toán
Sự hiệu quả của
quá trình kiểm toán
+ Phương pháp luận và công cụ kiểm toán phải được xây dựng tốt và: khuyến khích chủ phần hùn và nhân viên chủ động lập kế hoạch kiểm toán; cung cấp một khung và các thủ tục đẻ thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán một cách hữu hiệu và hiệu quả; yêu cầu những tài liệu kiểm toán thích hợp; đảm bảo sự kiểm tra hiệu quả công việc kiểm toán và các thủ tục kiểm soát chất lượng hiệu quả
+ Hỗ trợ kĩ thuật chất lượng cao phải hữu hiệu khi nhóm kiểm toán có yêu cầu
+ Đạt được mục đích của các chuẩn mực về đạo đức, tạo sự tin cậy về tính chính trực, khách quan và độc lập của KTV
+ Việc thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán không
bị sự ép buộc dưới các áp lực về tài chính
Độ tin cậy và hữu
dụng của việc báo
+ Báo cáo kiểm toán phải được thể hiện rõ ràng, không
mơ hồ về ý kiến của KTV đối với BCTC và đáp ứng
Trang 33Các thành tố Chỉ tiêu
cáo kiểm toán được nhu cầu của người sử dụng BCTC trong việc tuân
thủ luật pháp và các quy định +KTV phải đưa ra kết luận một cách trung thực và khách quan về BCTC
+ Truyền thông với Uỷ ban kiểm toán phải bao gồm các thảo luận về: giới hạn cuộc kiểm toán, nguy cơ đối với tính khách quan của KTV, các rủi ro chính được nhận ra
và các điều chỉnh được thực hiện để đạt được ý kiến kiểm toán
Nhân tố bên ngoài
kiểm soát KTV
+ Uỷ ban kiểm toán chủ động, chuyên nghiệp và minh bạch trong việc giải quyết các vấn đề trong suốt cuộc kiểm toán
+Một môi trường kiểm toán tập trung vào các thành tố của CLKT
(Nguồn: FRC, 2006)
b Khung CLKT của PCAOB
Theo PCAOB (2013) thì “Chất lượng kiểm toán đạt được khi cuộc kiểm toán thỏa mãn được yêu cầu về tính độc lập và yêu cầu về bảo đảm sự tin cậy đối với các thông tin trên BCTC của nhà đầu tư, đồng thời thúc đẩy sự trao đổi thông tin giữa các thành viên trong Uỷ ban kiểm toán về BCTC (bao gồm các thông tin công bố khác có liên quan), về sự bảo đảm đối với hệ thống KSNB và các cảnh báo về giả thiết hoạt động liên tục” [10]
Dựa trên khái niệm đó, PCAOB đã xây dựng khung CLKT, bao gồm 3 phần cơ bản là đầu vào kiểm toán, quy trình kiểm toán và kết quả kiểm toán
Trang 34như sau:
Hình 1.1 Khung Chất lượng kiểm toán (Nguồn: PCAOB, 2013)
Đầu vào kiểm toán (đầu vào tác nghiệp) bao gồm 6 yếu tố là Khối lượng công việc của Chủ phần hùn, Khối lượng công việc của KTV, Phân nhóm kiểm toán, Vấn đề đào tạo chuyên môn và Việc giám sát, kiểm tra nhân viên Mỗi yếu tố đều liên quan đến năng lực và trình độ của người thực hiện kiểm toán, vì đây là điều quan trọng ảnh hưởng đến CLKT
Quy trình kiểm toán cũng bao gồm 6 yếu tố là Chính sách truyền thông (thái độ thận trọng nghề nghiệp, tính khách quan và tính độc lập), Quản trị nhân sự, Quy trình đánh giá rủi ro, Hệ thống thông tin và truyền thông, Hoạt động kiểm soát và giám sát các hoạt động kiểm soát, được xác định dựa trên Chuẩn mực kiểm soát chất lượng của PCAOB và khung kiểm soát nội bộ của COSO
Kết quả kiểm toán bao gồm các sản phẩm kiểm toán mà chuẩn mực hiện tại yêu cầu KTV phải cung cấp
Khung CLKT cũng đề cập đến các yếu tố khác ảnh hưởng đến CLKT như áp lực bên ngoài, sự thay đổi của môi trường hoặc áp lực của tăng trưởng
và lợi nhuận
Dựa trên khung CLKT, PCAOB đã xác định các chỉ tiêu đánh giá chất
Trang 35lượng kiểm toán cụ thể như sau
Bảng 1.2 Các chỉ tiêu đánh giá CLKT liên quan đến quy trình kiểm toán
(PCAOB, 2013)
Các chỉ tiêu đánh giá CLKT liên quan đến đầu vào kiểm toán
1 Tỉ lệ Chủ phần hùn/ Nhân viên
2 Số lượng công việc của Chủ phần hùn và nhân viên
3 Giờ tính phí cho mỗi chủ phần hùn, nhân viên
4 Mức thay thế, luân chuyển chuyên gia kiểm toán
5 Thâm niên trung bình tính trên số lượng nhân viên
6 Trình độ chuyên môn và am hiểu về ngành cụ thể
7 Số giờ đào tạo mỗi chuyên gia kiểm toán
8 Số lượng các trao đổi ý kiến về kế toán, kiểm toán
9 Phần trăm công việc thuê ngoài
10 Nguồn lực kĩ thuật
11 Số giờ chuyên gia tính trên tổng giờ chuyên gia hợp đồng
12 Chủ phần hùn, quản lý dịch chuyển trong cuộc kiểm toán
13 Chủ phần hùn, quản lý và số giờ tham gia KSCL kiểm toán và thời điểm KSCL
Các chỉ tiêu đánh giá CLKT liên quan đến quy trình kiểm toán
1 Số lượng và nội dung các lần trao đổi của cấp lãnh đạo về CLKT và yêu cầu của nhà đầu tư
2 Điều tra nhân viên về chính sách truyền thông của đơn vị, chính sách tuyển dụng, đào tạo, giám sát và khen thưởng
3 Phương pháp đo lường, đánh giá tính độc lập, kiểm tra và tính tuân thủ
4 Bản chất và số lượng các đề xuất và tài liệu tuyên truyền về CLKT và tính độc lập
Trang 365 Số lượng và bản chất của kết quả đánh giá chất lượng nội bộ
6 Số lượng và bản chất của các kết quả điều tra của PCAOB
7 Mức lương thưởng bình quân đối với chủ phần hùn và quản lý để đảm bảo động lực tài chính
8 Hướng thay đổi đối với mức lương thưởng của chủ phần hùn bị luân chuyển hoặc sa thải
9 Nhấn mạnh về am hiểu kĩ thuật và sự đánh giá của chủ phần hùn và quản lý và phương pháp khen thưởng
10 Thông báo tuyển dụng căn cứ vào kết quả học tập và mức lương thưởng
11 Kiểm tra mức độ thông thạo về kỹ thuật
12 Đòn bẩy nhân viên/ chủ phần hùn
13 Số lượng và quy mô KTV thôi việc hoặc từ chức
14 Phần trăm khách hàng được đánh giá có rủi ro
15 Mức độ đầu tư của đơn vị vào cơ sở hạ tầng phục vụ cho chất lượng kiểm toán
Các chỉ tiêu đánh giá CLKT liên quan đến sản phẩm kiểm toán
1 Tần số và ảnh hưởng của thị trường của việc sửa lại BCTC do sai sót
2 Số lượng và phần trăm ý kiến chấp nhận toàn phần về hệ thống KSNB nhưng lại phát hiện sai phạm trọng yếu vào năm sau
3 Số lượng các điểm yếu nghiêm trọng tương ứng với các sai sót trọng yếu được nêu ra
4 Số lượng các báo cáo kiểm toán có ý kiến về giả thiết hoạt động liên tục nhưng sau đó khách hàng không bị phá sản
5 Số lượng các báo cáo kiểm toán thiếu ý kiến về giả thiết hoạt động liên tục mà sau đó khách hàng bị phá sản
Trang 376 Điều tra của hội đồng kiểm toán về chất lượng của việc trao đổi thông tin
7 Sự thay đổi của chi phí bảo hộ thực tiễn
8 Sự thay đổi về tần số, quy mô và kết quả của ác vụ kiện KTV
9 Tần số, bản chất và ảnh hưởng thị trương của gian lận được báo cáo
10 Số lượng và bản chất của kết quả đánh giá chất lượng nội bộ
11 Sô lượng và bản chất kết quả điều tra của PCAOB
12 Sự thay đổi quy định của PCAOB và SEC
(Nguồn: PCAOB, 2013)
c Khuôn khổ IAASB về Chất lượng kiểm toán
Năm 2014, Uỷ ban Chuẩn mực kiểm toán quốc tế (IAASB) đã phát triển một khuôn mẫu CLKT mô tả các yếu tố đầu vào, yếu tố quá trình,yếu tố đầu ra, yếu tố tương tác và yếu tố ngữ cảnh nhằm góp phần thực hiện kiểm toán có chất lượng, với sự cam kết trong ngành kiểm toán nói chung và với các quốc gia nói riêng, cho các cuộc kiểm toán BCTC Khuôn mẫu cũng đã thể hiện tầm quan trọng của sự tương tác thích hợp cho các bên liên quan cũng như vai trò của yếu tố ngữ cảnh đối với CLKT [35]
Theo quan điểm của IAASB, chất lượng kiểm toán có thể đạt được khi
ý kiến của KTV về BCTC là có thể tin tưởng nhờ ý kiến này được dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp được thu thập bởi nhóm kiểm toán có đặc điểm:
+ Có những giá trị đạo đức và thái độ phù hợp,
+ Đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm và có đủ thời gian để thực hiện công việc kiểm toán,
+ Thực hiện các thủ tục kiểm toán và thủ tục KSCL nghiêm ngặt,
+ Cung cấp các báo cáo kịp thời, và
+ Tương tác với các nhóm cổ đông khác nhau
Trang 38Mục đích của IAASB là phục vụ cho lợi ích của công chúng bằng cách thiết lập những tiêu chuẩn chung cho kiểm toán, tạo điều kiện thuận lợi cho sự đồng nhất giữa Chuẩn mực kiểm toán quốc tế và Chuẩn mực kiểm toán quốc gia Từ đó nâng cao chất lượng, thống nhất trong việc thực hiện kiểm toán và củng cố niềm tin của công chúng đối với hoạt động kế toán trên toàn thế giới Trong quá trình áp dụng, khuông khổ CLKT không ngừng được điều chỉnh và cập nhập hàng năm Theo Khuôn khổ CLKT (IAASB, 2014), các nhân tố của CLKT bao gồm: Nhân tố đầu vào, Nhân tố đầu ra, Nhân tố quá trình, Nhân tố tương tác, Nhân tố ngữ cảnh
Các nhóm nhân tố tác động đến CLKT theo IAASB (2014) được thể hiện qua Khung các Nhóm nhân tố tác động CLKT
Hình 1.2 Khung các nhóm nhân tố tác động đến CLKT (IAASB, 2014)
Với sự ban hành khuôn khổ CLKT này, IAASB tin tưởng rằng sẽ khuyến khích các DN kiểm toán có mạng lưới quốc tế và các DN kiểm toán
Trang 39trong nước cải thiện CLKT và thông tin liên lạc tốt hơn về CLKT Qua đó:
+ Nâng cao mức độ nhận thức và sự hiểu biết giữa các bên liên quan đối với các yếu tố quan trọng của CLKT
+ Cho phép các bên liên quan nhận diện được vai trò, mức độ tác động của các yếu tố để có biện pháp thích hợp
+ Hỗ trợ việc thiết lập, điều chỉnh, cải tiến các Chuẩn mực kiểm toán, Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, Chuẩn mực quốc tế về Kiểm soát chất lượng, chương trình đào tạo trong cả phạm vi quốc tế và quốc gia
Trang 40Bảng 1.3 Tóm tắt Khuôn khổ CLKT theo IAASB (2014)
Nhân tố đầu
vào
Nhân tố quá trình
Nhân tố đầu
ra
Nhân tố tương tác
Nhân tố ngữ cảnh
- Thủ tục KSCL
- Báo cáo kiểm toán
- BCTC đã kiểm toán
- Báo cáo minh bạch
- Báo cáo KSCL kiểm toán
Tương tác giữa KTV, Cơ quan Nhà nước và Người
sử dụng BCTC
Thực tiễn kinh doanh, Luật, những quy định liên quan đến BCTC; Áp dụng khuôn khổ BCTC; Hệ thống thông tin, Quản trị DN; Các yếu
tố văn hóa bên ngoài; Quy định về kiểm toán; Môi trường cạnh tranh; Thu hút nhân lực; Thời hạn của BCTC
(Nguồn: IAASB, 2014)
Kết luận: Cả 3 khung về Chất lượng kiểm toán đã đề cập ở trên đều
được ban hành bởi các tổ chức về kiểm toán uy tín, thuộc các quốc gia có nền kiểm toán phát triển Mỗi khung đều có những ưu điểm riêng và đều là một cơ
sở đáng tin cậy để chúng ta có thể sử dụng nhằm nâng cao CLKT Tuy nhiên, tác giả nhận thấy rằng, khung CLKT do IAASB ban hành năm 2014 là một khung đầy đủ, toàn diện và có những nội dung gần gũi, phù hợp với hoạt động