1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) nguồn lực con người với vấn đề phát huy nguồn nhân lực khoa học công nghệ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh phú yên

103 267 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguồn Lực Con Người Với Vấn Đề Phát Huy Nguồn Nhân Lực Khoa Học - Công Nghệ Trong Quá Trình Công Nghiệp Hoá, Hiện Đại Hoá Ở Tỉnh Phú Yên
Tác giả Trương Thị Bích
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Văn Đính
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Khoa học xã hội và nhân văn
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 872,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, nhìn chung nguồn nhân lực KH &CN của nước ta hiện nay vẫn còn yếu kém, bất cập: “Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất l

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯƠNG THỊ BÍCH

NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VỚI VẤN ĐỀ PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ,

HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯƠNG THỊ BÍCH

NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VỚI VẤN ĐỀ PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN

ĐẠI HOÁ Ở TỈNH PHÚ YÊN

Chuyên ngành : Triết học

Mã số : 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn: PGS.TS LÊ VĂN ĐÍNH

Đà Nẵng, 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trương Thị Bích

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục của đề tài 5

6 Tổng quan tài liệu tham khảo 5

CHƯƠNG 1 NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI 8

1.1 VỀ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI 8

1.1.1 Các quan niệm về nguồn lực con người 8

1.1.2 Những nhân tố tác động đến nguồn lực con người 13

1.2 PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 18

1.2.1 Khái niệm nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 18

1.2.2 Vai trò của việc phát huy nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá 20

1.2.3 Thực trạng khoa học và công nghệ ở nước ta trong thời gian qua và những vấn đề đặt ra trong việc phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 25

1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC RÚT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM 30

1.3.1 Kinh nghiệm của Singapo 30

1.3.2 Kinh nghiệm của Thái Lan 32

Trang 5

1.3.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc 33

1.3.4 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 35

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ 38 CÔNG NGHỆ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TỈNH PHÚ YÊN 38

2.1 ĐẶC ĐIỂM VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở TỈNH PHÚ YÊN 38

2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của tỉnh Phú Yên 38

2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Yên 43

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở TỈNH PHÚ YÊN THỜI GIAN QUA 50

2.2.1 Đặc điểm nguồn nhân lực tỉnh Phú Yên 50

2.2.2 Thực trạng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 53

2.3 DỰ BÁO NHU CẦU NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI GIAN ĐẾN (GIAI ĐOẠN 2011 - 2020) 59

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 63

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TỈNH PHÚ YÊN TRONG THỜI GIAN ĐẾN 65

3.1 ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH PHÚ YÊN GIAI ĐOẠN 2011-2020 65

3.1.1 Quan điểm định hướng 65

3.1.2 Mục tiêu 67

3.1.3 Yêu cầu 69

Trang 6

3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TỈNH PHÚ YÊN 70 3.2.1 Nâng cao nhận thức của các cấp uỷ Đảng trong việc thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của tỉnh Phú Yên 70 3.2.2 Về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 71 3.2.3 Giải pháp về cơ chế, chính sách thu hút và sử dụng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 76 3.2.4 Mở rộng, tăng cường sự phối hợp và hợp tác để phát triển nhân lực 83 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 86

KẾT LUẬN 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Ký hiệu

2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Phú Yên 44

2.2 Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành phân

theo khu vực kinh tế qua các thời kỳ 47

2.3 Thống kê dân số phân theo giới tính và phân theo

thành thị, nông thôn Phân theo thành thị nông thôn 51

2.4 Phân loại lao động theo tiêu chí thành thạo về

chuyên môn được thể hiện trong bảng sau 52 2.5 Nhân lực KH&CN trên địa bàn tỉnh 54

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Ngay trong thời đại của mình, C.Mác đã nhận định rằng, khoa học ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Ngày nay cùng với sự bùng

nổ của khoa học và công nghệ, vai trò của khoa học và công nghệ ngày càng tăng lên trong đời sống xã hội Trên thế giới đã và đang hình thành nền kinh

tế tri thức Sự thay đổi này đặt ra cho mỗi quốc gia trên thế giới những thời cơ

và thách thức mới

Trong bối cảnh đó, quan niệm phát triển truyền thống dựa vào tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực rẻ đang ngày càng giảm bớt vai trò và thay vào đó là lợi thế phát triển khoa học công nghệ (KH&CN) Cho nên người lao động ngày nay ngoài phẩm chất đạo đức, tinh thần lao động hăng say; thì cần phải có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, tinh thần sáng tạo thì mới

có thể đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển kinh tế Chính vì thế phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đang là một trong những vấn đề bức thiết,

có tính ưu tiên hàng đầu đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển

Việt Nam bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) theo hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) với rất nhiều thời cơ và thách thức của bối cảnh “Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều nước” [23, tr 67] Thách thức lớn nhất đối với nước ta hiện nay là phải nhanh chóng nâng cao tiềm lực mọi mặt để thực hiện rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước - trong số các nguồn lực cần thiết cho sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH thì nguồn nhân lực KH&CN là yếu tố quyết định Trong “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020” cũng đã chỉ

rõ một trong 3 đột phá chiến lược là “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là

Trang 10

nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” [23, tr 106]

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, nhìn chung nguồn nhân lực KH

&CN của nước ta hiện nay vẫn còn yếu kém, bất cập: “Chất lượng giáo dục

và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế… Khoa học, công nghệ chưa thật sự trở thành động lực thúc đẩy, chưa gắn kết chặt chẽ với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội” [23, tr 167, 168]; “hoạt động khoa học và công nghệ nhìn chung còn trầm lắng, chưa thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội Việc huy động nguồn lực của xã hội vào hoạt động khoa học và công nghệ chưa được chú trọng; đầu tư cho khoa học và công nghệ còn thấp, hiệu quả sử dụng chưa cao Việc đào tạo, trọng dụng, đãi ngộ cán bộ khoa học và công nghệ còn nhiều bất cập Cơ chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ chậm được đổi mới Công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển khoa học công nghệ chưa gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; cơ chế tài chính còn chưa hợp lý Thị trường khoa học và công nghệ phát triển chậm, chưa gắn kết chặt chẽ kết quả nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo với nhu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ còn thiếu định hướng chiến lược, hiệu quả thấp” [24] Chính vì vậy, cần phải phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế tri thức; góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước; nâng tỉ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp vào tăng trưởng, phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ phải được xác định là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu

Trang 11

tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp

[23, tr 218] - trong đó “Đầu tư cho nhân lực khoa học và công nghệ là đầu

tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc Đảng và Nhà nước có chính sách phát triển, phát huy và trọng dụng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ” [24]

1.2 Cũng như cả nước tỉnh Phú Yên chỉ có thể thực hiện thành công CNH, HĐH khi phát huy cao độ nguồn nhân lực KH&CN cho sự phát triển kinh tế - xã hội Trong những năm qua nguồn nhân lực KH&CN tỉnh Phú Yên cũng từng bước được bổ sung về số lượng và nâng lên về chất lượng góp phần không nhỏ vào kết quả chung toàn đất nước Tuy nhiên trước yêu cầu phát triển mới theo hướng CNH, HĐH và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, do tác động mạnh mẽ của các chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nước, tiềm năng thế mạnh của đất nước được phát huy, phân công lao động xã hội ngày càng sâu rộng, đòi hỏi nguồn nhân lực KH&CN phải không ngừng phát triển cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu Tuy số lượng cán bộ KH&CN của tỉnh Phú Yên thời gian qua có tăng nhưng về chất lượng nhìn chung còn thấp, việc quản lý nguồn nhân lực KH&CN còn bộc lộ nhiều bất cập, làm cho nguồn nhân lực bị lãng phí Hệ thống cơ chế, chính sách về đào tạo và đào tạo lại chưa đồng bộ; chưa đáp ứng yêu cầu đa dạng của các doanh nghiệp và theo kịp đà phát triển Chính sách và môi trường làm việc chưa tạo được động lực để người lao động phát huy tài năng, tình trạng “chảy máu chất xám” còn xảy ra Vì vậy, vấn đề phát triển nhân lực KH&CN cần

có những giải pháp mang tính cụ thể và đồng bộ

Trước yêu cầu cấp bách đó, với kiến thức của bản thân tôi đã chọn đề tài:

“Nguồn lực con người với vấn đề phát huy nguồn nhân lực khoa học - công nghệ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Phú Yên”

làm đề tài luận văn thạc sĩ

Trang 12

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục tiêu nghiên cứu:

Trên cơ sở làm rõ vấn đề nguồn lực con người và thực trạng phát huy nguồn nhân lực KH&CN ở Phú Yên, luận văn đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực KH&CN của tỉnh

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Làm rõ một số vấn đề lý luận về nguồn lực con người nói chung và nguồn nhân lực KH&CN nói riêng

+ Phân tích thực trạng phát huy nguồn nhân lực KH&CN ở tỉnh Phú Yên

+ Đề xuất một số định hướng và giải pháp để tiếp tục xây dựng, phát triển nguồn nhân lực KH&CN ở tỉnh Phú Yên trong thời gian đến

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về nguồn nhân lực KH&CN của Phú Yên - về mặt số lượng và về mặt chất lượng

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu nguồn nhân lực KH&CN trong quá trình CNH, HĐH ở tỉnh Phú Yên

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nguồn nhân lực chất lượng cao nói chung và nguồn nhân lực KH&CN nói riêng Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp logic - lịch sử

+ Phương pháp thống kê, điều tra, khảo sát thực tiễn

+ Phương pháp phân tích, so sánh, đánh giá

+ Phương pháp kế thừa, nghiên cứu các tư liệu, tài liệu và kết quả của các công trình khoa học

Trang 13

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 Chương, 8 Tiết

6 Tổng quan tài liệu tham khảo

6.1 Vấn đề nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước có ý nghĩa rất quan trọng cho sự phát triển của đất nước nên thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Cho đến nay đã có nhiều công trình được công bố với những mức độ thể hiện khác nhau trong đó có những công trình có liên quan trực tiếp đến đề tài như:

+ Sách: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của TS Mai Quốc Chánh (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999); “Từ chiến lược phát triển giáo dục đến chiến lược phát triển nguồn nhân lực” của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002); “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” của Nguyễn Hữu Dũng (Nxb Lao động

xã hội, Hà Nội, 2003); “Giáo trình nguồn nhân lực” của PGS.TS Nguyễn Tiệp (Nxb Lao động xã hội, 2005); “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của

TS Nguyễn Thanh (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005); “Khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam” của PGS.TS

Nguyễn Văn Phúc, Th.S Mai Thị Thu đồng chủ biên (Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2012); “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thành phố Đà Nẵng” của TS Dương Anh Hoàng (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012)

+ Kỷ yếu hội thảo: Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực III: Kỷ yếu Hội thảo: Phát triển nguồn nhân lực cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

- Tây Nguyên hiện nay, Đà Nẵng, tháng 1/2012; với các bài viết: PGS.TS Hồ

Trang 14

Tấn Sáng: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung từ nay đến năm 2020 PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn: Phát triển nguồn nhân lực cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung TS Nguyễn Văn Thanh: Vai trò nguồn nhân lực với sự phát triển kinh tế miền Trung TS Nguyễn Hòa Nhân: Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Ths Đỗ Văn Nhân: Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Ths Nguyễn Thị Lệ Hậu: Nguồn nhân lực địa phương - cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp vùng duyên hải Nam Trung Bộ

+ Tạp chí: Có các bài viết như sau:

- “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ Chiến lược kinh tế

- xã hội 2011 - 2020 ở các tỉnh duyên hải miền Trung”, (PGS.TS Hồ Tấn Sáng, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số (2) - 2012); “Liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong khu vực duyên hải miền Trung”

(GS.TS Bùi Văn Ga, Tạp chí Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng, số (19) -

2011); “Một số vấn đề về sử dụng nhân lực khoa học công nghệ ở vùng trọng điểm kinh tế Trung bộ hiện nay” (Ths Trần Đình Chín, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số (2) - 2011); “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho các khu công nghiệp ở các tỉnh duyên hải miền Trung” (Ths Trần Đình Chín, Tạp chí

Sinh hoạt lý luận, Số (5) - 2012)

- “Lại bàn về phát triển nhân lực” (Lê Bách, Tạp chí phát triển nhân lực,

số (2) - 2007); “Vấn đề xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực trong

sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam” (TS Hà Văn Ánh, Tạp chí Phát triển nhân lực, số (1) - 2007); "Đào tạo, bồi dưỡng và tái bồi dưỡng cán bộ, công chức là một công cụ phát triển nhân lực” (Nguyễn Thanh Bình, Tạp chí Phát triển nhân lực, số (6) - 2008; “Đầu tư phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” (Nguyễn Văn Sỹ, Tạp

Trang 15

chí cộng sản số (10) - 2011)

+ Luận văn, luận án:

“Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiên đại hóa

ở nước ta” của Trần Kim Hải (Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1999); “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt nam” (Đoàn Văn Khái, luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, bảo vệ năm 2000); “Vai trò của nhân tố chủ quan trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay” (Nguyễn Thị Bích Thuỷ, luận án tiến sĩ triết học, Viện Triết học, bảo

vệ năm 2006); “Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay” của PGS.TS

Trần Ngọc Nam (Luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận chính trị - hành chính, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III, Đà Nẵng, 2012)

6.2 Các luận án, luận văn, hội thảo, bài viết nói trên đã đi sâu phân tích đặc điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn vùng (hoặc tỉnh, thành); làm rõ thực trạng nguồn nhân lực ở các địa phương và trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở

các địa phương đó

Để có công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề nguồn lực con người và phát huy nguồn nhân lực KH&CN trong quá trình CNH, HĐH ở Phú Yên một cách toàn diện (dưới góc độ triết học chính trị) luận văn này sẽ kế thừa và vận dụng sáng tạo những thành tựu của các công trình khoa học đã công bố để làm sáng tỏ thực trạng phát huy nguồn nhân lực KH&CN ở Phú Yên và trên cơ sở

đó, đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng để góp phần thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực KH&CN trong quá trình CNH, HĐH ở Phú Yên

Trang 16

CHƯƠNG 1 NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG

SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở

NƯỚC TA TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI

1.1 VỀ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI

1.1.1 Các quan niệm về nguồn lực con người

Nguồn lực con người trong tiếng Anh thường sử dụng hai từ

“Humanresources” và “ManPower” - dùng để chỉ khả năng và phẩm chất của lực lượng lao động Nguồn lực con người được các nhà nghiên cứu đề cập trên các góc độ sau:

Theo Giáo trình kinh tế lao động thì nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người, đây là nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh

tế - xã hội Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác (nguồn lực tài nguyên, nguồn lực tài chính, công nghệ…) thể hiện ở chỗ trong quá trình vận động, nguồn nhân lực bị tác động của nhiều yếu tố như tỷ lệ sinh, tử; việc làm, môi trường, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… Chính vì vậy, nguồn nhân lực đã được các nhà nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Nguồn nhân lực được hiểu như là nơi sinh sản, nuôi dưỡng và cung cấp nguồn lực con người cho phát triển Mặt khác, nguồn nhân lực còn được hiểu như một yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, là tổng thể những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động; tức là bao gồm những người có khả năng lao động, là một bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong nguồn nhân lực

Trong lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố con người được đề cập với

tư cách là lực lượng sản xuất chủ yếu, là phương tiện để sản xuất ra của cải Ở đây, con người được xem xét từ góc độ là những lực lượng lao động cơ bản

Trang 17

nhu cầu của nền kinh tế, là vấn đề quan trọng nhất, bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội

Theo Ngân hàng thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ "vốn người" (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp ) mà mỗi cá nhân sở hữu Ở đây, nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như tiền, công nghệ, tài nguyên, thiên nhiên Đầu tư cho con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững

Theo định nghĩa của Chương trình Liên Hợp Quốc về phát triển (UNDP): "Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc đang là tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng" Như vậy, nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động con người của một quốc gia đã được chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước; "tiềm năng đó bao hàm tổng hòa các năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách con người của một quốc gia, đáp ứng với một cơ cấu nhất định của lao động do nền kinh tế đòi hỏi Thực chất đó là tiềm năng của con người về số lượng, chất lượng và cơ cấu" [9, tr 9] Cũng như vậy, Liên Hợp Quốc đưa ra khái niệm nguồn lực con người: là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước Đây được coi là một yếu tố quan trọng bậc nhất trong kết cấu hạ tầng kinh tế -

xã hội Quan niệm về nguồn lực con người theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng nguồn lực con người

Theo GS.TS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó” [29, tr.17]

Trang 18

Theo TS Dương Anh Hoàng: “Nguồn nhân lực (nguồn lực con người) là tổng hợp những phẩm chất, năng lực và sức mạnh của lực lượng người đang

và sẽ tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Đó trước hết là những người lao động có sức khoẻ, trí tuệ, đạo đức, trình độ chuyên môn, tay nghề, kỹ năng, kinh nghiệm, quyết tâm phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [30, tr.24]

Các nhà khoa học ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh quan niệm: Nguồn nhân lực là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, trình độ tri thức, vị thế xã hội… tạo nên năng lực của con người, cộng đồng người, có thể sử dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước hoặc một vùng, một địa phương cụ thể [27, tr 192 - 195]

Trong bài phát biểu khi gặp gỡ các nhà doanh nghiệp, các nhà khoa học - công nghệ các tỉnh, thành phố phía Bắc, Thủ tướng Phan Văn Khải cũng nhấn mạnh: "Nguồn lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta" [33, tr 1] Điều khẳng định trên có ý nghĩa rất quan trọng, định hướng cho việc nhận thức và phát huy tiềm năng nhân lực

Từ những cách tiếp cận trên, có thể thấy rằng, nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn là một tập hợp đa phức gồm nhiều yếu tố như trí tuệ, sức lực, kỹ năng làm việc của con người Như vậy, tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận, nhưng các định nghĩa về nguồn nhân lực (nguồn lực con người) đều đề cập đến các đặc trưng chung như sau: Một là, số lượng nguồn nhân lực là chỉ quy mô, cơ cấu tuổi, giới tính; Hai là, chất lượng nguồn nhân lực là khả năng tổng hợp về thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách, đặc điểm lối sống, tinh thần

và đặc biệt là khả năng nghiên cứu, sáng tạo, tiếp thu tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

Trang 19

Ngoài ra, cũng có thể hiểu đầy đủ hơn về nguồn lực con người thông qua tìm hiểu khái niệm "phát triển nguồn nhân lực" Nếu dịch từ cụm từ tiếng Anh thì phát triển nguồn nhân lực hay phát triển nguồn lực con người là Human Resouce Development (HRD), còn phát triển con người nói chung là Human Development (HD) Trong khái niệm về phát triển con người (HD), nguồn lực con người được đề cập đến như một mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội, như là chỉ tiêu về thành tựu kinh tế của dân tộc Ngược lại, phát triển nguồn lực con người (HRD) có xu hướng tập trung vào các hoạt động, nhằm nâng cao khả năng thực hiện các vai trò sản xuất của con người như trí tuệ, kỹ năng làm việc, khả năng tổ chức lãnh đạo và quản lý Ở đây có sự khác biệt, nội hàm khái niệm phát triển nguồn lực con người sâu hơn, hẹp hơn nội hàm khái niệm phát triển con người Phát triển con người - là quan điểm về phát triển, trong đó lấy con người làm trung tâm Đó là sự phát triển của con người, vì con người và do con người Phát triển con người có nghĩa là đầu tư vào phát triển tiềm năng của con người như giáo dục, y tế, kỹ năng để con người có thể làm việc một cách sáng tạo và có năng suất cao nhất Phát triển

vì con người là bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế, mà con người tạo ra phải được phân phối rộng rãi và công bằng Phát triển do con người là hướng vào việc tạo ra cho con người có cơ hội tham gia mọi hoạt động của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội) Lịch sử loài người từ trước đến nay là lịch sử của sự phát triển con người Nói cách khác, sự phát triển của các xã hội, sự thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội là lịch sử đấu tranh, phát triển và giải phóng con người Con người đóng vai trò chủ thể sáng tạo lịch sử thông qua hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới Qua các cuộc đấu tranh đó, con người sáng tạo ra lịch sử, xã hội và sáng tạo ra chính mình Do vậy, con người đạt tới giá trị tổng hòa cao nhất, có ý nghĩa thúc đẩy sự vận động, phát triển của

xã hội Với tư cách là chủ thể xã hội, con người tham gia phát triển sản xuất

Trang 20

vật chất và chính sản xuất vật chất lại tái sản xuất con người - nhân tố quyết định sự tồn tại, phát triển của xã hội Xã hội càng phát triển, con người ngày càng hoàn thiện mọi mặt, càng có nhu cầu tham gia tổ chức, quản lý xã hội và

sự phát triển của bản thân mình Con người, một khi được thỏa mãn những nhu cầu đó, sẽ đóng góp to lớn, trở thành động lực mạnh mẽ để thúc đẩy sự phát triển xã hội Muốn vậy, con người phải hoàn thiện mọi mặt, được đặt vào

vị trí trung tâm Mọi chiến lược phát triển đều hướng vào con người nhưng muốn phát triển, phải dựa vào con người Đích cuối cùng của chiến lược phát triển là vì con người, phục vụ con người, tạo ra sự phát triển với mức sống vật chất cao, đời sống tinh thần phong phú và văn minh hơn Mục tiêu đó có thể đạt được nếu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phù hợp và gắn liền với sự phát triển con người, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng và công bằng xã hội Thực hiện đồng bộ điều đó, con người mới phát huy được mọi mặt, khơi dậy được tiềm năng và sức sáng tạo Thể hiện đầy đủ vai trò quyết định của mình đối với xã hội Như vậy, con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của quá trình phát triển xã hội Theo GS Phạm Minh Hạc thì phát triển nguồn lực con người được hiểu là quá trình làm "gia tăng giá trị cho con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực làm cho con người trở thành những người lao động có năng lực mới đáp ứng yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế - xã hội" [29, 285] Từ sự nhận thức về vị trí, vai trò quan trọng của con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh một trong ba khâu đột phá để thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020 là: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế của đất nước” những chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội này đã góp phần quan trọng vào sự phát triển con người

ở Việt Nam trong thời gian qua, thúc đẩy sự đi lên của đất nước

Trang 21

Tóm lại, từ những phân tích trên, có thể hiểu một cách khái quát về nguồn

nhân lực như sau: Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, trình độ tri thức, vị thế xã hội tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người có thể sử dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hoặc một vùng, mỗi địa phương cụ thể

Nguồn nhân lực có nội hàm rộng lớn và phong phú, nó không chỉ đơn thuần là nguồn lao động mà còn bao gồm nhiều yếu tố vật chất và tinh thần khác của con người và cộng đồng người Cho nên trong quá trình khai thác, phát huy nguồn nhân lực cần phải chú ý đầy đủ những yếu tố vật chất và tinh thần ở từng con người cũng như trong cả cộng đồng xã hội

1.1.2 Những nhân tố tác động đến nguồn lực con người

Việc phát huy nguồn lực con người nhằm đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH luôn chịu tác động của những nhân tố sau:

Thứ nhất: Trình độ phát triển kinh tế - xã hội

Những nước có trình độ phát triển cao về kinh tế - xã hội, GDP/ người

và đời sống chung của nhân dân ổn định ở mức cao, sẽ có điều kiện để đảm bảo và nâng cao chất lượng nguồn lực con người vì tuổi thọ, sức khỏe, trình

độ dân trí, văn hóa và chuyên môn nghề nghiệp có điều kiện phát triển Mặt khác, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao, cũng có nghĩa là thiết bị và công nghệ sản xuất tiên tiến, nên càng đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với công nghệ đó

Khi trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao, con người mới có điều kiện vật chất để cải thiện đời sống, làm tăng thể lực, tinh thần của chính cá nhân, cộng đồng và khi đó, nhà nước mới có điều kiện vật chất để giải quyết tốt hơn các vấn đề: giáo dục, y tế, văn hóa, thực hiện các chính sách xã hội Sự phát triển kinh tế - xã hội là nền tảng vật chất để nhà nước giải quyết vấn đề nguồn lực con người Biện chứng giữa phát triển kinh tế và phát huy nguồn lực con

Trang 22

người là ở chỗ, sự phát triển của kinh tế là cơ sở để phát triển nguồn lực con người, đến lượt nó, sự phát triển của nguồn lực con người lại là điều kiện để phát triển kinh tế

Thứ hai: Trình độ phát triển giáo dục - đào tạo

Giáo dục và đào tạo đóng vai trò quyết định trực tiếp trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Ngày nay, khi tiến bộ khoa học - công nghệ trở thành một nhân tố trực tiếp của lực lượng sản xuất thì chất lượng nguồn nhân lực trở thành nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng Muốn phát triển và sử dụng khoa học và công nghệ một cách hiệu quả không có con đường nào khác

là học tập Theo V.I Lênin: “…việc điện khí hóa không thể do những người

mù chữ thực hiện được, mà chỉ biết chữ không thôi cũng không đủ… Họ phải hiểu rằng điều đó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở một nền học vấn hiện đại và nếu họ không có nền học vấn đó, thì chủ nghĩa cộng sản vẫn chỉ là một nguyện vọng mà thôi” [38, tr 364 - 365]

Chính phủ ở các nước trong những năm gần đây đều tăng các nguồn lực đầu tư cho giáo dục, đào tạo nhằm phát triển nhanh nguồn lực con người Phương thức đầu tư cũng như quá trình phát triển giáo dục ở mỗi nước có đặc điểm riêng, nên chất lượng nguồn lực con người ở các nước rất khác nhau Các nước công nghiệp phát triển và một số nước công nghiệp mới, đầu tư rất lớn cho giáo dục, đào tạo (20% tổng ngân sách nhà nước) [49, tr 58], nhằm phát triển nhanh chất lượng nguồn lực con người Chính phủ các nước đều nhận thấy một nền giáo dục hoàn chỉnh, đồng bộ và toàn diện sẽ có khả năng cung cấp cho nền kinh tế quốc dân "đội ngũ các nhà khoa học, những người lao động có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo" [26, tr 5]

Đó là nguồn vốn quý giá để phát triển kinh tế và thực hiện CNH, HĐH

Đối với cá nhân mỗi người, giáo dục là quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách, thế giới quan với tình cảm, đạo đức Đối với xã hội,

Trang 23

giáo dục là quá trình "tích tụ nguồn vốn con người" để chuẩn bị và cung cấp nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Đối với nước

ta, giáo dục phổ thông là nền tảng, là cơ sở để đào tạo nguồn lực con người Giáo dục chuyên nghiệp trực tiếp sản xuất ra sản phẩm cung cấp cho thị trường sức lao động, những người lao động với những tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu của

sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế và CNH, HĐH Do vị trí quan trọng của giáo dục, đào tạo đối với sự hình thành và phát triển nguồn lực con người nên đầu tư cho giáo dục được coi là đầu tư cho phát triển, đầu tư trực tiếp vào nguồn lực con người

Đối với nước ta, nguồn lực con người được coi là nguồn nội lực cơ bản nhất để thực hiện CNH, HĐH Giáo dục là khâu quyết định chăm lo cho con người; hình thành trí tuệ, kiến thức, phương pháp lao động Muốn thực hiện điều đó thì cần phải cải cách giáo dục và đào tạo một cách căn bản và mạnh

mẽ Đại hội XI của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt” [23, tr 130 - 131] Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” [39, tr 7] Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009 - 2020 đã khẳng định: Quy mô giáo dục được phát triển hợp lý, chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tạo cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 đã được Hội nghị Trung ương 8 khóa XI thông qua về đổi mới căn bản, toàn diện

giáo dục và đào tạo, chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự

nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển

Trang 24

kinh tế - xã hội… Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài… phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan” [25, tr 119 - 120]

Thứ ba: Truyền thống dân tộc và sự phát triển văn hóa

Có thể nói, CNH, HĐH là quá trình biến đổi mọi mặt đời sống của con người và cộng đồng, vì vậy, công nghiệp hóa chỉ có thể tiến hành thành công trong một môi trường văn hóa phù hợp

Ngày nay, văn hóa đang trở thành động lực của sự phát triển kinh tế Văn hóa là tổng thể những tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của mỗi người, cộng đồng - đó là yếu tố tinh thần trong chất lượng nguồn lực con người

Mỗi quốc gia, dân tộc có nền văn hóa mang bản sắc riêng và có một giá trị riêng độc đáo Sự thành công của công nghiệp hóa và phát triển kinh tế của Nhật Bản là một điển hình về vai trò của văn hóa, truyền thống dân tộc đối với

sự phát triển, sử dụng và phát huy có hiệu quả nguồn lực con người

Văn hóa và truyền thống dân tộc là một nhân tố đặc biệt quan trọng để hình thành và phát triển nguồn lực con người Việt Nam Định hướng XHCN của CNH, HĐH đất nước đòi hỏi phải gắn động lực kinh tế với văn hóa nhằm đem lại sự phát triển bền vững

Quá trình hình thành và thực hiện sự bình đẳng về cơ hội phát triển của mọi người; đề cao chất lượng cuộc sống; coi trọng giữ gìn bản sắc dân tộc, gắn với phát triển văn minh của thời đại, đó chính là môi trường văn hóa lành mạnh của quá trình CNH, HĐH Môi trường văn hóa là cơ sở phát triển con người cũng như nguồn lực con người đúng hướng, hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường đối với nguồn lực con người

Việc Nhà nước tạo lập môi trường văn hóa phù hợp cho sự phát triển

Trang 25

nguồn lực con người, là một nhân tố có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả, thời gian

và định hướng đúng đắn của sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam

Thứ tư: Cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội vĩ mô của Nhà nước

Các chính sách vĩ mô của nhà nước có tác động quan trọng đến nguồn lực con người đặc biệt là chính sách kinh tế - xã hội như: Chính sách phát triển giáo dục cơ bản - tạo nền móng ban đầu, là tiền đề cần thiết cho phát triển đào tạo nguồn nhân lực và là nhân tố cơ bản của phát triển nguồn nhân lực; chính sách phát triển đào tạo nguồn nhân lực bao gồm chính sách về quy

mô đào tạo, chính sách về cơ cấu đào tạo, chính sách tài chính trong phát triển đào tạo nguồn nhân lực, chính sách thu hút và sử dụng nguồn nhân lực, chính sách về thị trường lao động, chính sách tiền lương, thu nhập, bảo hiểm xã hội, thất nghiệp, bảo hộ lao động

Nhà nước ta đã tạo ra môi trường pháp lý cho quá trình hình thành và phát triển nguồn lực con người bằng các chính sách vĩ mô của Nhà nước Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống các chính sách luôn thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện, đồng thời phản ánh bản chất của quan hệ sản xuất Chính sách đúng đắn và hợp lý là môi trường, động lực, đòn bẩy kích thích sự phát triển của cá nhân, cộng đồng theo xu hướng tiến bộ Ngược lại, các chính sách không phù hợp sẽ có tác động kìm hãm sự phát triển, thui chột năng lực và tư duy sáng tạo của mỗi người, làm biến dạng động lực cạnh tranh, gây ra tâm lý chán nản, mất lòng tin, kéo lùi sự tiến bộ của con người, ảnh hưởng tới chất lượng nguồn lực con người

Hệ thống các chính sách là sự thể hiện ý chí, nguyện vọng của giai cấp thống trị trong điều hành, quản lý xã hội hướng tới mục tiêu mà nhà nước đã hoạch định Hiệu quả của hệ thống các chính sách được đo ở hoạt động kinh

tế - xã hội, ở sự phát triển của mỗi người và nguồn lực con người

Hiện nay, cơ chế thị trường tác động rất lớn đến sự phát triển của con

Trang 26

người, nguồn lực con người Chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước ta không chỉ tạo môi trường thuận lợi mà còn hạn chế tác động tiêu cực của thị trường đối với nguồn lực con người

Trong bối cảnh đời sống quốc tế hóa, khu vực hóa ngày càng phát triển,

sự phát huy nguồn lực con người của mỗi nước luôn chịu tác động của hội nhập nguồn lực con người khu vực và thế giới Ngày nay, trình độ tri thức, thể lực của nguồn lực con người ở các nước có nền kinh tế phát triển đã vượt xa nguồn lực con người Việt Nam Đây là thách thức lớn đối với nguồn lực con người Việt Nam Nền kinh tế thị trường thế giới, khu vực mang theo cả nhân

tố tích cực và tiêu cực cùng tác động đến sự phát triển của nguồn lực con người Việt Nam Nhà nước có vai trò tạo môi trường thuận lợi để phát triển nhanh nguồn lực con người, nhằm hội nhập vào nguồn lực con người thế giới, đồng thời ngăn cản sự tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đến sự phát triển nguồn nhân lực

Quá trình hình thành, phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam chịu sự tác động của các nhân tố trên Mỗi nhân tố tác động đến từng mặt của nguồn lực con người, bởi vậy, Nhà nước cần sử dụng tổng hợp các nhân tố để kích thích, định hướng quá trình phát triển và phát huy nguồn lực con người nhằm đáp ứng yêu cầu trong CNH, HĐH đất nước

1.2 PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ

1.2.1 Khái niệm nguồn nhân lực khoa học và công nghệ

Nhân lực khoa học và công nghệ (KH&CN) có thể được hiểu theo những cách khác nhau Theo cuốn sách Khoa học và công nghệ Việt Nam 2003 [4,

tr 61] và cuốn “Cẩm nang về đo lường nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ” của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) [57] thì nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau

Trang 27

đây: 1) Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng và làm việc trong một ngành KH&CN; 2) Đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng không làm việc trong một ngành KH&CN nào; 3) Chưa tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương Theo quan niệm của Liên minh châu Âu (EU) thì nguồn nhân lực khoa học & công nghệ là những người thỏa mãn được một trong hai điều kiện sau: Thứ nhất, theo điều kiện đào tạo, nhân lực khoa học & công nghệ là những người

đã tốt nghiệp đại học; Thứ hai, theo điều kiện nghề nghiệp, nhân lực khoa học

& công nghệ là những người đang làm việc trong một lĩnh vực khoa học & công nghệ như những chuyên gia hoặc kỹ thuật viên và chuyên viên chuyên nghiệp [28], [40]

Hiện nay một số nước thường sử dụng khái niệm nguồn nhân lực nghiên cứu và phát triển (R&D) để thể hiện lực lượng lao động KH&CN của mình

Nhân lực R&D được Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (Organisation for Economic Co-operation and Development) phân thành 3 nhóm: (1) Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu) (2) Nhân viên kỹ thuật và tương đương (3) Nhân viên phụ trợ trực tiếp R&D [28], [40] Theo quan niệm này thì nhân lực R&D là đội ngũ nhân lực trực tiếp tham gia hoặc

hỗ trợ hoạt động R&D, bao gồm cả những người được đào tạo có bằng cấp hoặc không bằng cấp

Hiện nay, các lực lượng tham gia hoạt động KH&CN nước ta gồm 5 thành phần chủ yếu sau đây: 1 Cán bộ nghiên cứu trong các viện, trường đại học 2 Cán bộ kỹ thuật, công nghệ (kỹ thuật viên, kỹ sư, kỹ sư trưởng, tổng công trình sư) làm việc trong các doanh nghiệp 3 Các cá nhân thuộc mọi tầng lớp xã hội yêu thích khoa học kỹ thuật, có sáng kiến cải tiến, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống 4 Cán bộ quản lý các cấp (kể cả quản lý doanh nghiệp) tham gia hoặc chỉ đạo công việc nghiên cứu phục vụ việc

Trang 28

hoạch định các quyết sách, quyết định quan trọng trong thẩm quyền của mình

5 Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam [28], [40]

Tóm lại, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ là một bộ phận của

nguồn nhân lực nói chung; là bộ phận nhân lực của xã hội đã được đào tạo về chuyên môn (đã tốt nghiệp cao đẳng/đại học trở lên) và lực lượng lao động (chưa tốt nghiệp đại học/cao đẳng) đang làm việc trực tiếp trong lĩnh vực khoa học và công nghệ Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chỉ là một bộ

phận của nguồn nhân lực chất lượng cao Nguồn nhân lực chất lượng cao là

lực lượng lao động đã được đào tạo chuyên môn, nghề nghiệp, bao gồm nguồn nhân lực khoa học và công nghệ; công nhân, kỹ thuật viên có tay nghề

- lực lượng lao động được đào tạo ở các trường dạy nghề…

1.2.2 Vai trò của việc phát huy nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- CNH, HĐH đất nước là con đường tất yếu phải trải qua trong thời kỳ quá độ lên CNXH và nó càng trở nên cấp thiết đối với nước ta - một nước không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa (TBCN), nền sản xuất lạc hậu, chủ yếu là lao động nông nghiệp lại trải qua nhiều năm chiến tranh tàn phá, xuất phát điểm đi lên CNXH rất thấp

Nghị quyết Trung ương khoá VII chỉ rõ:

“Công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở nước ta là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện, các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động và công nghệ phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động xã hội cao”

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta đã xác

Trang 29

định “Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại…” và “Khoa học

và công nghệ là động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa…” Để thực hiện mục tiêu đó cần “Xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền khoa học và công nghệ tiên tiến Đẩy mạnh các hình thức đào tạo cán bộ khoa học ở trong

Đặc biệt, tại Đại hội X, Đảng ta bổ sung quan điểm “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức” và nhấn mạnh:

“Phải coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá; phát triển mạnh các ngành kinh tế và các sản phẩm kinh tế

có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức”, “Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của khoa học và công nghệ” [22, tr 87, 98]

Đại hội XI đề ra đường lối đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới và

“cần phải phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế tri thức; góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước; nâng tỉ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp vào tăng trưởng” [23, tr 218] và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ phải được xác định là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp - trong đó “Đầu tư cho nhân lực khoa học và

Trang 30

công nghệ là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc Đảng và Nhà nước có chính sách phát triển, phát huy và

trọng dụng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ” [24, tr 3]

Thực tiễn đã khẳng định, nhân tố con người luôn giữ vai trò quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Các nguồn lực khác thường có giới hạn, chỉ nguồn lực con người là vô hạn Hơn nữa, để khai thác, phát huy tốt hiệu quả các nguồn lực khác cho phát triển kinh tế - xã hội cần có nguồn nhân lực

có trình độ, năng lực Có thể khẳng định, phát triển nguồn nhân lực nói chung

và nhân lực KH&CN nói riêng có tác động to lớn đến thành công của công cuộc CNH, HĐH đất nước

- Phát triển nhân lực KH&CN thúc đẩy và nâng cao hiệu quả quá trình hội nhập kinh tế quốc tế - một trong những cơ sở quan trọng thực hiện thành công CNH, HĐH đất nước

Thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới gần 30 năm qua đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, thúc đẩy việc mở rộng các mối quan hệ quốc tế theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu, lôi cuốn tất cả các quốc gia không phân biệt chế độ chính trị

Phát triển nguồn nhân lực KH&CN là một giải pháp hữu hiệu để chúng

ta có thể từng bước vượt qua những thách thức đó nhằm nâng cao sự hấp dẫn đối với đầu tư của nước ngoài, khai thác và phát huy hiệu quả các hoạt động đầu tư, xuất, nhập khẩu hàng hóa, công nghệ, tham gia tích cực vào sự phân công lao động quốc tế Đặc biệt, với tỉnh Phú Yên có truyền thống và kinh nghiệm trong phát triển kinh tế biển

Phát triển nguồn nhân lực tạo ra khả năng di chuyển dễ dàng lao động Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế, do đó có tác động thúc đẩy phát triển xuất khẩu lao động, điều đó tạo cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu lao

Trang 31

động kỹ thuật sang các nước thành viên WTO như: Mỹ, Canada và các nước việc đào tạo nhân lực có chất lượng cao

- Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ sẽ khai thác và sử dụng hiệu quả hơn phương tiện kỹ thuật hiện có và thúc đẩy quá trình đổi mới cơ

sở vật chất kỹ thuật

Tiến trình CNH, HĐH đất nước đòi hỏi tất cả các bước, các khâu của quá trình này đều gắn với phát triển KH&CN Quá trình sản xuất, hoạt động dịch vụ và quản lý trong từng sản phẩm đều đòi hỏi sự kết tinh tri thức khoa học Việc phát triển nguồn nhân lực KH&CN giữ vai trò quyết định hoàn thành được sự nghiệp CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức

Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ giúp khai thác và sử dụng hiệu quả hơn phương tiện kỹ thuật hiện có của nền kinh tế Trong công cuộc đổi mới, chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế nhiều quy trình kỹ thuật, dây truyền công nghệ hiện đại đã được nhập khẩu về Việt Nam góp phần giảm tiêu hao sức lao động, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm tốt hơn Tuy nhiên, còn nhiều tính năng kỹ thuật và thế mạnh của công nghệ tiên tiến chưa được khai thác tốt Nguyên nhân chủ yếu do chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế Phương tiện kỹ thuật hiện đại được nhập khẩu và trang

bị cho các cơ sở sản xuất kinh doanh song việc đào tạo nhân lực, khai thác, sử dụng còn nhiều bất cập dẫn đến tình trạng những công nghệ hiện đại được nhập khẩu bằng nhiều ngoại tệ nhưng không khai thác được, gây lãng phí lớn cho nền kinh tế Điều này sẽ dần được khắc phục khi nguồn nhân lực được quan tâm đào tạo, phát triển, từng bước tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới Nguồn nhân lực được coi trọng phát triển không những giúp việc khai thác tối đa tính năng kỹ thuật của trang thiết bị mà qua thực tiễn sử dụng phương tiện người lao động còn khám phá, cải tạo, nâng cấp để thiết bị đó phục vụ tốt hơn, hiệu quả hơn trong hoạt động chuyên môn

Trang 32

- Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ thúc đẩy quá trình đổi mới cơ sở vật chất - kỹ thuật của các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế

Cùng với khai thác tốt các tính năng kỹ thuật của phương tiện kỹ thuật hiện có, phát triển nhân lực KH&CN còn thúc đẩy quá trình đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Khi có nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ thúc đẩy việc cập nhật và vận dụng thích hợp các phương thức tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh thương mại tiên tiến trên thế giới gắn với các phương tiện hiện đại như: hoạt động thương mại điện tử; tin học hoá và tự động hoá các hoạt động sản xuất, thanh toán và giao nhận, bảo quản, quản lý và giám sát; phát triển các loại hình dịch vụ thuận tiện, chất lượng cao để tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp công nghiệp, các cơ sở sản xuất theo hướng vừa đa dạng hoá sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng hàng hoá, phục vụ tốt đời sống nhân dân, vừa đảm bảo chiếm lĩnh thị trường nội địa và đẩy mạnh xuất khẩu

Hiện nay, công nghệ thông tin, viễn thông và mạng thông tin toàn cầu có bước phát triển vượt bậc và có khả năng ứng dụng vào hầu hết các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng như sản xuất, kinh doanh Vấn đề đặt ra cần quan tâm là tập trung đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để ứng dụng thiết thực những thành tựu KH&CN đó vào những ngành, lĩnh vực mà nước ta có khả năng Phát triển nhân lực KH&CN rất cần chính sách khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng, khai thác và phát huy các sáng chế và các giải pháp hữu ích phục vụ việc đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo cũng như đổi mới quy trình công nghệ bằng việc tạo lập thị trường KH&CN Đổi mới và tăng cường chính sách quản lý về KH&CN, tạo điều kiện thuận lợi cho cả 2 phía: hoạt động sáng tạo KH&CN và hoạt động ứng dụng tiến bộ KH&CN hướng vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

- Phát triển nhân lực KH&CN tạo ra năng suất lao động cao với công

Trang 33

nghệ ngày càng thân thiện thúc đẩy CNH, HĐH phát triển bền vững

Trong hệ thống các nguồn lực xã hội, nguồn lực KH&CN có đặc điểm chung của các nguồn lực khác, đó là đều có tác động tích cực đến sự phát triển chung, nhưng nó khác biệt ở chỗ, các nguồn lực khác chỉ là hữu hạn và cạn kiệt trong quá trình khai thác, sử dụng và chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng

và tự nó không thể phát huy tác dụng nếu không có sự tác động của con người, của KH&CN

Trái lại, nguồn nhân lực KH&CN là nguồn lực trí tuệ và tiềm năng của

nó là vô tận Nếu được sử dụng và phát triển hợp lý trong môi trường thuận lợi thì nguồn lực trí tuệ đó sẽ được nhân lên và không ngừng phát triển, trở thành sức mạnh có vai trò quyết định đến sự phát triển của mỗi quốc gia Nguồn lực trí tuệ không chỉ quyết định hiệu quả việc khai thác và sử dụng các nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác hiện có, mà còn góp phần tạo ra các giá trị mới quyết định tốc độ phát triển, trình độ văn minh của xã hội Vì vậy, nguồn nhân lực KH&CN đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra năng suất lao động cao, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đến lượt nó, những thành quả của tăng trưởng kinh tế lại góp phần trực tiếp vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, tạo tiền đề vật chất cho phát triển giáo dục, đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực KH&CN, thúc đẩy CNH, HĐH phát triển bền vững

1.2.3 Thực trạng khoa học và công nghệ ở nước ta trong thời gian qua và những vấn đề đặt ra trong việc phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ

a Thành tựu

Thời gian qua, những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao nǎng suất lao động, làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của quốc gia và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội:

Trang 34

Khoa học xã hội và nhân vǎn đã góp phần bổ sung, lý giải và làm rõ thêm những quan điểm của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Nhiều kết luận khoa học đã được dùng làm cơ sở để soạn thảo các nghị quyết, hoạch định các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới

Khoa học tự nhiên có những thành tựu trong nghiên cứu, điều tra điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường, góp phần tạo luận cứ cho việc xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, tạo cơ sở cho quá trình tiếp thu và làm chủ công nghệ mới

Các ngành khoa học và công nghệ gắn bó hơn với sản xuất và đời sống Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có bước trưởng thành, được tập hợp,

có thêm điều kiện để phát huy khả nǎng và công hiến cho sự nghiệp chung Đây là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển của đất nước [24, tr.1]

Cụ thể, nguồn lực KH&CN của đất nước ta đã có bước phát triển cả về

số lượng và chất lượng, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ cao, khoa học mới Theo thống kê của Bộ KH&CN, đến cuối năm 2010, cả nước có 1.513 tổ chức KH&CN trong đó tổng số nhân lực của cả nước là 60.543 người, đạt 7 người/1vạn dân Trong đó, trình độ tiến sĩ là 5.293 người (8,74%), trình độ thạc sĩ là 11.081 người (18,30%), trình độ đại học là 28.689 người (47,39%) và trình độ từ cao đẳng trở xuống là 15.480 người (25,57%)

Số lượng này được phân bổ theo 5 lĩnh vực: Khoa học xã hội và nhân văn; khoa học tự nhiên; khoa học nông nghiệp; khoa học y - dược và khoa học kỹ thuật và công nghệ Trong tổng số 60.543 người, có 6.420 người thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, chiếm 10,6% Có 4.460 người thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, chiếm 7,4% Có 15.302 người thuộc lĩnh vực khoa học nông nghiệp, chiếm 25,3% Có 6.548 người thuộc lĩnh vực khoa học y-dược, chiếm 10,8% và có 27.813 người thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công

Trang 35

nghệ, chiếm 45,9% Như vậy, số tổ chức KH&CN cũng như đội ngũ nghiên cứu khoa học đã có sự tăng trưởng đáng ghi nhận So với năm 1996, số tổ chức KH&CN đã tăng gấp gần ba lần; nhân lực KH&CN cũng tăng gấp ba lần So với giai đoạn 2001- 2005 thì tăng gấp gần 1,5 lần về số lượng Tuy nhiên, số liệu thống kê cho thấy, nguồn lao động KH&CN trong các doanh nghiệp Việt Nam chỉ chiếm 7,25% lực lượng lao động Thông qua việc giải quyết các vấn đề KH&CN do thực tiễn đặt ra, năng lực nghiên cứu trong một

số lĩnh vực KH&CN của nước ta đã có sự phát triển vượt bậc, thể hiện qua các công trình công bố quốc tế, các văn bằng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Nhiều sản phẩm từ kết quả nghiên cứu đã đạt được trình độ khu vực và quốc tế,

đã và đang được đưa vào ứng dụng thực tiễn, mang lại hiệu quả kinh tế cao Số lượng bài báo, công trình khoa học công bố quốc tế của người Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 là 4.869; giai đoạn 2001- 2005 là 2.506; Số lượng sáng chế đăng ký bảo hộ giai đoạn 2006 - 2008 là 1.015, tăng 30% so với giai đoạn

2003 - 2005 Với mức đầu tư vẫn còn rất thấp nếu xét về giá trị tuyệt đối, nhưng trình độ nghiên cứu trong một số lĩnh vực của chúng ta đã so sánh được với trình độ của các nước trong khu vực và một số nước tiên tiến Đặc biệt, đã có một số tổ chức khoa học và công nghệ đạt trình độ đứng đầu khu vực Viện lúa Đồng bằng Sông Cửu Long xếp hạng hàng đầu khu vực và thế giới

về nghiên cứu lúa; hướng nghiên cứu về toán tối ưu đứng đầu trong khối ASEAN và thứ 19 của thế giới; hướng nghiên cứu về vật lý đứng thứ 3 trong khối ASEAN và thứ 64 trên thế giới [28]

b Hạn chế

Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu nói trên, nhìn chung nền khoa học và công nghệ nước ta phát triển chậm, chưa tương xứng với tiềm nǎng sẵn có, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, còn thua kém so với nhiều nước trong khu vực Trình độ công nghệ thấp,

Trang 36

chậm được đổi mới trong nhiều ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản

lý Sản phẩm nghiên cứu KH&CN trong nước chưa nhiều, tỷ lệ ứng dụng vào sản xuất và đời sống còn thấp Nhiều vấn đề nảy sinh trong công cuộc đổi mới chưa được làm sáng tỏ về phương diện lý luận; vấn đề kinh tế - xã hội thiếu những dự báo khoa học; việc tổng kết thực tiễn bị coi nhẹ; tình trạng chậm trễ trong một số lĩnh vực lý luận và khoa học xã hội chưa được khắc phục Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ tuy tǎng về số lượng, nhưng tỷ lệ trên số dân còn thấp so với các nước trong khu vực, chất lượng chưa cao, còn thiếu nhiều cán bộ đầu ngành, chuyên gia giỏi, đặc biệt là các chuyên gia về công nghệ Cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho nghiên cứu khoa học quá nghèo nàn, lạc hậu; thông tin khoa học và công nghệ quá thiếu và không kịp thời [24] Cụ thể, trong 10 năm qua, số lượng công bố của các nhà khoa học Việt Nam chỉ bằng 1/3 của Thái Lan và 2/5 của Malaysia Hơn nữa, ở nhiều lĩnh vực, phần lớn những nghiên cứu này là do hợp tác với nước ngoài Trong giai đoạn 2000-2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng ký được 19 bằng sáng chế, trong khi cùng thời gian này Malaysia có 901 bằng sáng chế Thái Lan (310), Philippines (256) và Indonesia (85) cũng đều có số bằng sáng chế hơn Việt Nam nhiều lần [28]

c Những vấn đề đặt ra trong việc phát triển nguồn nhân lực khoa học

và công nghệ

Với thực trạng nói trên, mục tiêu của phát triển khoa học và công nghệ nói chung và nguồn nhân lực khoa học và công nghệ nói riêng nhằm phục vụ

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay là:

- Phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu,

là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp

Trang 37

Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, làm cho khoa học và công nghệ thực sự là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020

và là nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI

- Đầu tư cho nhân lực khoa học và công nghệ là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc; đổi mới quy hoạch phát triển nguồn nhân lực, cơ chế, chính sách sử dụng và trọng dụng cán bộ khoa học và công nghệ

Quy hoạch phát triển nhân lực khoa học và công nghệ phải gắn kết chặt chẽ với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước tới năm 2020 và tầm nhìn năm 2030 Xây dựng và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, nhất là các chuyên gia giỏi, có nhiều đóng góp Tạo môi trường thuận lợi, điều kiện vật chất để cán bộ khoa học và công nghệ phát triển bằng tài năng và hưởng lợi ích xứng đáng với giá trị lao động sáng tạo của mình Nâng cao năng lực, trình độ và phẩm chất của cán bộ quản lý khoa học và công nghệ ở các ngành, các cấp Có chính sách trọng dụng đặc biệt đối với cán bộ khoa học và công nghệ đầu ngành, cán bộ khoa học và công nghệ được giao chủ trì nhiệm vụ quan trọng của quốc gia, cán bộ khoa học và công nghệ trẻ tài năng Chủ động phát hiện và đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ từ các trường phổ thông, cao đẳng, đại học Sử dụng hiệu quả đội ngũ sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh, chuyên gia khoa học và công nghệ học tập và làm việc ở nước ngoài Có chính sách hỗ trợ cán bộ khoa học và công nghệ đi làm việc và thực tập có thời hạn tại các tổ chức khoa học và công nghệ, doanh

Trang 38

nghiệp ở nước ngoài để giải quyết các nhiệm vụ khoa học và công nghệ có ý nghĩa quốc gia Bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của tác giả các công trình khoa học và công nghệ; có chính sách đãi ngộ, khen thưởng đối với tác giả các công trình được công bố quốc tế, các sáng chế được bảo hộ trong và ngoài nước Ðổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, đánh giá và bổ nhiệm cán bộ khoa học và công nghệ Có chính sách tiếp tục sử dụng cán bộ khoa học và công nghệ trình độ cao đã hết tuổi lao động có tâm huyết và còn sức khoẻ làm việc vào công tác nghiên cứu khoa học Hoàn thiện hệ thống chức danh, chức vụ khoa học và công nghệ Cải tiến hệ thống giải thưởng khoa học và công nghệ, danh hiệu vinh dự Nhà nước cho cán bộ khoa học và công nghệ [24]

1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC RÚT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Phát triển nguồn nhân lực nói chung và nhân lực KH&CN nói riêng là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, hàng đầu của các nước trong khu vực cũng như trên phạm vi toàn thế giới Trên thực tế, những nước có sự quan tâm thích đáng, có chính sách đúng đắn về sự phát triển nguồn nhân lực KH&CN đã tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của KH&CN cũng như kinh tế và xã hội của đất nước, nhiều khi sự phát triển đó là vượt trội Vài chục năm trở lại đây, trong khối ASEAN và nước Châu Á đã có một số quốc gia quan tâm thích đáng đến phát triển KH&CN nói chung và phát triển nguồn nhân lực KH&CN nói riêng Điều đó đã tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội và vị thế của các quốc gia

1.3.1 Kinh nghiệm của Singapo

Singapo có dân số 5,1 triệu người (năm 2011) Chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2011 là 0,846, GDP năm 2011 là 314,911 tỷ USD, GDP bình quân đầu người năm 2011 (tính theo sức mua tương đương) là 59.711

Trang 39

USD So với nhiều quốc gia Đông Nam Á, Singapo là quốc gia có diện tích nhỏ, dân số không đông, tài nguyên thiên nhiên ít, nhưng lại có tốc độ phát triển kinh tế mạnh hơn nhiều quốc gia khác trong khu vực Điều này là kết quả của rất nhiều nỗ lực của chính phủ Singapo, song yếu tố lớn nhất đóng góp vào sự thành công này là hiệu quả của bộ máy điều hành đất nước với những chính sách đúng đắn và có chiến lược lâu dài

Một trong những chính sách được đánh giá cao nhất của Chính phủ Singapo là chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao để mở rộng và phát triển khoa học và công nghệ cho nền kinh

tế, từ đó đưa nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao Ở Singapo, Hội đồng Nhân lực Quốc gia được thiết lập ở cấp Bộ, do Bộ trưởng Nhân lực đứng đầu,

để chỉ đạo công tác hoạch định nhân lực của quốc gia

Về thu hút nhân tài: Nguồn nhân lực của Singapo thuộc loại nhân lực lao động tốt nhất thế giới về năng suất, thái độ làm việc và trình độ kỹ thuật Nhân công Singapo nói tiếng Anh tốt, là những người tận tụy, chăm chỉ và rất quan tâm đến việc nâng cao trình độ và kiến thức của mình

Chính phủ thành lập Ủy ban tuyển dụng tài năng Singapo để phát triển

và thực thi các chiến lược thu hút và duy trì tài năng nước ngoài Chính sách nhập cư của nước này ưu tiên đặc biệt đối với người nước ngoài có trình độ chuyên môn cao, là các chuyên gia có bằng cấp và kỹ năng để cấp thị thực lao động Nhân tài nước ngoài được tuyển dụng vào cả bộ máy Nhà nước Singapo đặc biệt ưu tiên hướng vào việc thu hút nhân tài làm việc trong các khu vực công Chính phủ Singapo đã có nhiều chính sách vô cùng linh hoạt

để trọng dụng người tài làm việc trong khu vực công Điều này thể hiện trước hết trong chính sách lương bổng thỏa đáng cho công chức Đồng thời với việc trọng dụng nhân tài, Singapo cũng rất mạnh dạn trong việc thay thế những cá nhân lỗi nhịp trong bộ máy

Trang 40

Định hướng khoa học và công nghệ trong tương lai của Singapo: một trong các động lực chủ chốt để Singapo phát triển cao là tìm cách bảo đảm đủ nguồn nhân lực cần thiết hỗ trợ nền kinh tế tri thức

Như vậy, là một quốc gia đi lên từ điểm xuất phát thấp và đạt được nhiều kết quả ấn tượng mà cả thế giới phải thừa nhận, nên tư tưởng và các chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Singapo luôn được coi là hình mẫu cho các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới

1.3.2 Kinh nghiệm của Thái Lan

Thái Lan có dân số 66,72 triệu người (năm 2011), chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2011 là 0,682, GDP năm 2011 (tính theo sức mua tương đương) là 616,783 tỷ USD GDP bình quân đầu người năm 2011 là 9.396 USD

Để chuyển nền kinh tế nông nghiệp lên công nghiệp, Thái Lan xác định việc phát triển nguồn nhân lực là con đường duy nhất và nhanh chóng nhất Vì vậy, Chính phủ rất quan tâm đầu tư cho giáo dục và đào tạo Từ năm 1960, nền giáo dục - đào tạo của Thái Lan đã bắt đầu phát triển mạnh với các viện đại học, các trường đại học, các trường cao đẳng và trường dạy nghề, viện đại học

mở cả công lập và dân lập… để tạo cơ hội cho mọi người dân có thể học tập Chính sách phát triển nguồn nhân lực được chú trọng cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề Đây là chỗ dựa vững chắc cho thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thái Lan Chính phủ và hệ thống các trường rất quan tâm đến đào tạo kỹ năng cho người lao động, bao gồm cả kỹ năng chung và kỹ năng chuyên ngành Đối với đào tạo kỹ năng chung, Nhà nước chủ trương đào tạo diện rộng các kỹ năng thích ứng với nhu cầu thị trường luôn thay đổi Việc đào tạo kỹ năng chuyên ngành được tập trung cho một số ngành chuyên sâu để đáp ứng yêu cầu cạnh tranh trên thị trường

Do có chính sách phát triển nguồn nhân lực đáp ứng sự phát triển của thị trường và cùng với việc quan tâm đặc biệt đến lĩnh vực đào tạo kỹ năng nên

Ngày đăng: 04/04/2022, 22:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lê Hữu Ái, Nguyễn Tấn Hùng (2010), Triết học, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học
Tác giả: Lê Hữu Ái, Nguyễn Tấn Hùng
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2010
[2]. Ban Tuyên giáo Trung ƣơng (2013), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá XI (dành cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá XI
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ƣơng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
[3]. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ (2010), Báo cáo kết quả điều tra dư luận xã hội về Phát triển nguồn nhân lực, Phú Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả điều tra dư luận xã hội về Phát triển nguồn nhân lực
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ
Năm: 2010
[4]. Bộ Khoa học và Công nghệ (2003), Khoa học và công nghệ Việt Nam 2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ Việt Nam 2003
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2003
[5]. Bộ Khoa học và Công nghệ (2011), Quyết định quy hoạch phát triển nhân lực ngành khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định quy hoạch phát triển nhân lực ngành khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2011
[6]. Nguyễn Trọng Chuẩn (2002), Một số vấn đề về Triết học - Con người Xã hội, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về Triết học - Con người Xã hội
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2002
[7]. Cục Thống kê Phú Yên (2011), Niên giám thống kê Phú Yên, NXB Thống kê, Phú Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Phú Yên
Tác giả: Cục Thống kê Phú Yên
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2011
[8]. Cục Thống kê Phú Yên (2013), Niên giám thống kê Phú Yên, NXB Thống kê, Phú Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Phú Yên
Tác giả: Cục Thống kê Phú Yên
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2013
[9]. Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam, NXB Lao động xã hội, Hà Nội, tr.9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2003
[10]. Phạm Văn Đồng, Về vấn đề giáo dục - đào tạo, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề giáo dục - đào tạo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
[11]. Đảng bộ Tỉnh Phú Yên (2000), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Yên lần thứ XIII, Tuy Hòa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Yên lần thứ XIII
Tác giả: Đảng bộ Tỉnh Phú Yên
Năm: 2000
[12]. Đảng bộ Tỉnh Phú Yên (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Yên lần thứ XIV, Tuy Hòa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Yên lần thứ XIV
Tác giả: Đảng bộ Tỉnh Phú Yên
Năm: 2006
[13]. Đảng bộ Tỉnh Phú Yên (2010), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Yên lần thứ XV, Tuy Hòa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Yên lần thứ XV
Tác giả: Đảng bộ Tỉnh Phú Yên
Năm: 2010
[14]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1948), Văn kiện Đảng, Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng, Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1948
[15]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá VII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
[16]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[17]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) số 07-NQ/HNTW, ngày 30/7/1994 về Phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) số 07-NQ/HNTW, ngày 30/7/1994 về Phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1994
[18]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1996
[19]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII ) về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII ) về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1997
[20]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC CÁC BẢNG - (luận văn thạc sĩ) nguồn lực con người với vấn đề phát huy nguồn nhân lực khoa học công nghệ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh phú yên
DANH MỤC CÁC BẢNG (Trang 8)
Bảng 2.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Phú Yên - (luận văn thạc sĩ) nguồn lực con người với vấn đề phát huy nguồn nhân lực khoa học công nghệ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh phú yên
Bảng 2.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Phú Yên (Trang 52)
Bảng 2.2. Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành phân theo khu vực kinh tế qua các thời kỳ - (luận văn thạc sĩ) nguồn lực con người với vấn đề phát huy nguồn nhân lực khoa học công nghệ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh phú yên
Bảng 2.2. Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành phân theo khu vực kinh tế qua các thời kỳ (Trang 55)
Bảng 2.3. Thống kê dân số phân theo giới tính và phân theo thành thị, nông thôn - (luận văn thạc sĩ) nguồn lực con người với vấn đề phát huy nguồn nhân lực khoa học công nghệ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh phú yên
Bảng 2.3. Thống kê dân số phân theo giới tính và phân theo thành thị, nông thôn (Trang 59)
Bảng 2.4. Phân loại lao động theo tiêu chí thành thạo về chun mơn được thể hiện trong bảng sau - (luận văn thạc sĩ) nguồn lực con người với vấn đề phát huy nguồn nhân lực khoa học công nghệ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh phú yên
Bảng 2.4. Phân loại lao động theo tiêu chí thành thạo về chun mơn được thể hiện trong bảng sau (Trang 60)
Bảng 2.5. Nhân lực KH&CN trên địa bàn tỉnh - (luận văn thạc sĩ) nguồn lực con người với vấn đề phát huy nguồn nhân lực khoa học công nghệ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh phú yên
Bảng 2.5. Nhân lực KH&CN trên địa bàn tỉnh (Trang 62)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w