1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đà nẵng

114 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Việc Vận Dụng Các Chính Sách Kế Toán Trong Các Doanh Nghiệp Trên Địa Bàn Thành Phố Đà Nẵng
Tác giả Lê Hạnh Phúc
Người hướng dẫn TS. Pạm Hoà Hươn
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 6,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Liên quan đến phạm vi các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, các đề tài chỉ tập trung nghiên cứu việc vận dụng chính sách kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoặc một ngàn

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LÊ HẠNH PHÚC

NGHIÊN CỨU VIỆC VẬN DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH

KẾ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN

ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng - Năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LÊ HẠNH PHÚC

NGHIÊN CỨU VIỆC VẬN DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH

KẾ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng

được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Lê Hạnh Phúc

Trang 4

ỤC ỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Cấu trúc của luận văn 3

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ VẬN DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 7

1.1 CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN VÀ VAI TRÒ ĐỐI VỚI QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 7

1.1.1 Khái niệm về chính sách kế toán 7

1.1.2 Vai trò của chính sách kế toán đối với quản trị tại doanh nghiệp 8 1.2 NỘI DUNG VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG CÔNG TÁC KẾ TOÁN Ở CÁC DOANH NGHIỆP 9

1.2.1 Chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho 9

1.2.2 Chính sách kế toán liên quan đến tài sản cố định 15

1.2.3 Chính sách kế toán liên quan đến doanh thu 25

1.3 LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 28

1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP 29

1.4.1 Đặc thù của doanh nghiệp 29

1.4.2 Trình độ của nhân viên kế toán 31

1.4.3 Quy mô công ty 31

1.4.4 Thời gian hoạt động của công ty 32

1.4.5 Mục tiêu quản trị của doanh nghiệp 32

Trang 5

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 36

2.1 THIẾT KẾ BẢNG CÂU HỎI 36

2.2 MẪU NGHIÊN CỨU 37

2.3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 39

2.3.1 Thống kê mô tả 39

2.3.2 Phân tích sự khác biệt 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 41

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42

3.1 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN LIÊN QUAN ĐẾN HÀNG TỒN KHO 42

3.1.1 Mô tả thực trạng vận dụng chính sách kế toán liên quan đến HTK 42

3.1.2 Phân tích đặc điểm của doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc vận dụng các CSKT liên quan đến hàng tồn kho 44

3.2 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 49

3.2.1 Mô tả thực trạng vận dụng chính sách kế toán liên quan đến TSCĐ 49

3.2.2 Phân tích đặc điểm của doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc vận dụng các CSKT liên quan đến TSCĐ 56

3.3 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN LIÊN QUAN ĐẾN DOANH THU 65

3.3.1 Mô tả thực trạng vận dụng chính sách kế toán liên quan đến doanh thu 65

3.3.2 Phân tích đặc điểm của doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc vận dụng các CSKT liên quan đến Doanh thu 69

Trang 6

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 77

4.1 KẾT LUẬN VỀ VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN ĐÀ NẴNG 77 4.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 81 4.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 83 KẾT LUẬN 85

PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BCTC : Báo cáo tài chính

CMKT : Chuẩn mực kế toán Việt Nam

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

3.2 Mô tả số lượng nhân viên và số năm hoạt động 39 3.3 Mô tả về chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho 43 3.4 Bảng phân tích về phương pháp tính giá xuất kho HTK 46

3.5 Bảng phân tích về lý do lựa chọn phương pháp tính giá

HTK

47

3.6 Bảng phân tích về cơ sở lập dự phòng giảm giá HTK 48 3.7 Bảng mô tả về CSKT liên quan đến khấu hao TSCĐ 51

3.8 Bảng mô tả về nguyên nhân lựa chọn phương pháp hạch

toán nghiệp vụ sửa chữa lớn TSCĐ

53

3.9 Bảng mô tả về chính sách kế toán liên quan đến sửa

chữa lớn và nâng cấp TSCĐ

55

3.10 Bảng phân tích về phương pháp tính khấu hao TSCĐ 57

3.11 Bảng phân tích về lý do lựa chọn phương pháp tính khấu

3.13 Bảng phân tích việc thay đổi thời gian khấu hao TSCĐ

trong 2 năm gần đây tại các DN

62

3.14 Bảng phân tích về vốn hóa chi phí nâng cấp TSCĐ 64

3.15 Bảng mô tả về chính sách kế toán liên quan đến doanh

thu

66

3.16 Bảng mô tả về phương pháp ghi nhận và đo lường doanh

thu hợp đồng xây dựng (Tỷ lệ trên 77DN được điều tra)

68

Trang 9

Số hiệu

3.17

Bảng mô tả về phương pháp ghi nhận và đo lường doanh

thu hợp đồng xây dựng (Tỷ lệ trên 54 DN có thực hiện

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết củ đề tài

Trong hoạt động kế toán, báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của công tác kế toán, là mục tiêu của bộ phận kế toán để cung cấp thông tin tài chính cho các đối tượng bên trong và bên ngoài công ty Báo cáo tài chính là kết quả của công tác kế toán ở các doanh nghiệp, là nguồn thông tin quan trọng về tình hình tài chính doanh nghiệp, cần thiết cho các quyết định kinh tế của nhiều đối tượng sử dụng thông tin có liên quan khác nhau Do đó, mức độ trung thực và hợp lý của thông tin trên báo cáo tài chính luôn là vấn đề được các doanh nghiệp chú trọng

Với mỗi phương pháp kế toán được lựa chọn thì thông tin trình bày trên báo cáo tài chính sẽ khác nhau Nhiều khoản mục trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp không thể xác định được chính xác mà chỉ có thể ước tính Trên thực tế trong quá trình vận dụng chính sách kế toán, nhiều doanh nghiệp có thể lựa chọn và vận dụng linh hoạt các chính sách kế toán tùy theo đăc thù của doanh nghiệp Điều này ảnh hưởng nhiều bởi mục đích của người chủ doanh nghiệp như né tránh thuế, hoặc làm tăng lợi nhuận,cố gắng “làm đẹp” bản báo cáo tài chính nhằm thu hút vốn đầu tư vào DN Chính những mục đích trong việc sử dụng chính sách kế toán ít nhiều ảnh hưởng tới sự vận dụng và điều chỉnh chính sách kế toán một cách khách quan, hợp lý và đáng tin cậy

Đà Nẵng là một thành phố trẻ, năng động và đang trên đà phát triển mạnh mẽ Lượng doanh nghiệp trong địa bàn thành phố ngày càng tăng, với nhiều loại hình doanh nghiệp và đăc thù khác nhau Việc đòi hỏi tính minh bạch trong hoạt động và trên báo cáo tài chính rất cần thiết và quan trọng Nhận thấy được ý nghĩa thiết thực trong việc nghiên cứu vận dụng chính sách

kế toán , tác giả đã chọn đề tài “ Nghiên cứu việc vận dụng các chính sách

kế toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm đề

Trang 11

tài luận văn tốt nghiệp, nhằm nghiên cứu xem các đặc điểm của doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc vận dụng các chính sách kế toán như thế nào

2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn thực hiện nhằm vào mục tiêu sau: Nghiên cứu thực trạng vận

dụng chính sách kế toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn Đà Nẵng nhằm tìm hiểu tình hình vận dụng chính sách kế toán tại các doanh nghiệp, đặc điểm của các doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc vận dụng đó như thế nào và từ đó

có thể gợi ý chính sách cho các cơ quan liên quan đến việc ban hành các chuẩn mực và chế độ kế toán Ngoài ra, kết quả nghiên cứu có thể hàm ý giúp cho các đối tượng sử dụng BCTC có những xét đoán cần thiết khi sử dụng

BCTC của các doanh nghiệp

sẽ là những sai sót trọng yếu, ảnh hưởng lớn đến tính chính xác của các báo

cáo tài chính

* Phạm vi nghiên cứu: phạm vi nghiên cứu là các doanh nghiệp trên địa

bàn thành phố Đà Nẵng

4 P ươn p áp n ên ứu

Để thực hiện nghiên cứu các chính sách kế toán đang vận dụng tại các doanh nghiệp tại địa bàn thành phố Đà Nẵng, phương pháp thực hiện nghiên cứu là điều tra chọn mẫu, phỏng vấn thông qua bảng câu hỏi Sau đó, sử dụng

Trang 12

phân tích thống kê mô tả và phân tích sự khác biệt để phân tích kết quả nghiên cứu và rút ra kết luận

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH

KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP

Chương 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 4: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Việc thực hiện các nghiên cứu liên quan đến chính sách kế toán đã được rất nhiều tác giả thực hiên qua nhiều năm Trong quá trình nghiên cứu

đề tài, tác giả nhận thấy một số tài liệu nghiên cứu cơ bản như sau:

Một số đề tài nghiên cứu việc vận dụng chính sách kế toán tại một đơn

vị cụ thể

- Tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh (năm 2012) với đề tài “ Đánh giá sự vận dụng các chính sách kế toán tại Công ty CP lương thực và thực phẩm Quảng Nam” Luận văn đã hệ thống hóa được lý luận chung về chính sách kế

toán Qua nghiên cứu tác giả đã mô tả và đánh giá thực trạng việc vận dụng chính sách kế toán tại công ty CP lương thực thực phẩm Quảng Nam Tác giả

đã chỉ ra các chính sách kế toán vận dụng tại Công ty nhằm né tránh thuế nhưng đồng thời cũng luôn cân nhắc giữa lợi nhuận và chi phí thu nhập doanh nghiệp để duy trì ROE hợp lý

- Tác giả Lê Thị Chi (năm 2012) với đề tài: “ Hoàn thiện chính sách kế toán tại Công ty Cp vật tư tổng hợp Phú Yên Tác giả cũng đã chỉ ra rằng để

quản trị lợi nhuận, Công ty đã sử dụng một số chính sách như: thay đổi thời gian phân bố chi phí trả trước, hoàn nhập dự phòng nợ phải thu khó đòi… Kế

Trang 13

toán viên vẫn chỉ sử dụng những chính sách kế toán đơn giản, chưa chú trọng đến việc vận dụng các chính sách kế toán như vậy đã thực sự hợp lý chưa, đã đáp ứng được nhu cầu quản trị hay chưa…

Các nghiên cứu trên dựa vào BCTC và qua phỏng vấn nhân viên kế toán tại DN để nghiên cứu các chính sách kế toán đang vận dụng tại DN; đồng thời so sánh, đối chiếu với các chuẩn mực kế toán về các chính sách kế toán Nghiên cứu cho thấy việc lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp bao gồm các nhân tố khách quan cũng như chủ quan đã ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như thế nào Bằng việc nêu ra ưu nhược điểm của việc vận dụng các chính sách kế toán, tác giả tiến hành xây dựng và hoàn thiện việc lựa chọn các chính sách kế toán của DN Các đề tài mới chỉ dừng lại ở việc phân tích các ảnh hưởng và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các chính sách kế toán áp dụng tại doanh nghiệp cho phù hợp với tình hình kinh doanh và đặc thù của DN mà chưa tìm hiểu xem các đặc điểm của DN có ảnh hưởng đến việc vận dụng các chính sách kế toán tại DN như thế nào hay không

Một số đề tài nghiên cứu viêc vận dụng chính sách kế toán trên pham vi một địa phương hoặc một ngành

- Tác giả Nguyễn Hồng Hạnh (2015) với đề tài “Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chính sách kế toán tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Tuy Hòa, Phú Yên” Đề tài được

thực hiện theo phương pháp thu thập dữ liệu thông qua bảng câu hỏi Nghiên cứu được thực hiện bằng cách sử dụng phân tích hồi quy logistics đa biến theo

mô hình Kết quả nghiên cứu cho thấy việc lựa chọn các chính sách kế toán tại các DN bị tác động bởi nhiều yếu tố Do đó có thể nói khi lựa chọn các chính sách kế toán bất kỳ nào thì DN đều bị tác động bởi nhiều vấn đề, lý do khác nhau

Trang 14

- Tác giả Đặng Thị Kim Thanh (2014) với đề tài “Nghiên cứu vận dụng các chính sách kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” Luận văn này đạt được một số kết quả như: Nghiên cứu thực

trạng áp dụng chính sách kế toán tại các DN vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Mô tả ảnh hưởng của các yếu tố có liên quan đến việc lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp này Tuy nhiên nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc thống kê mô tả chứ chưa đi sâu vào phân tích ảnh hưởng đặc điểm của các DN này đến việc lựa chọn áp dụng các chính sách kế toán, ngoài ra phạm vi của đề tài cũng chỉ nghiên cứu trên các DN vừa và nhỏ, chưa nghiên cứu tại các DN lớn trên địa bàn

- Tác giả Huỳnh Thị Cẩm Nhung (2015) với đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Thành Phố Đà Nẵng” Đây là đề tài nghiên cứu định

lượng và phân tích mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán trong doanh nghiệp ngành xây lắp tại Đà Nẵng Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên các kỹ thuật phân tích thống

kê mô tả, phân tích độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá, và phân tích hồi quy Mục tiêu là tìm ra mối quan hệ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc áp dụng chính sách và chuẩn mực kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Luận văn này đạt được một số kết quả như: Nghiên cứu thực trạng áp dụng chính sách kế toán tại các công ty xây lắp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố có liên quan đến việc lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn TP Đà Nẵng Đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao tính hiệu quả trong việc lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn TP Đà Nẵng

Hầu hết các đề tài trước đây, khi nghiên cứu các tác giả đều sử dụng

Trang 15

mô hình với biến phụ thuộc là các doanh nghiệp cố tình khai khống hay khai thiếu lợi nhuận Tuy nhiên, việc đo lường biến phụ thuộc mang tính chủ quan của người thực hiện nghiên cứu vì khó có cơ sở để xác định được rằng tại các

DN, từng chính sách kế toán của họ lựa chọn là nhằm mục đích khai khống hay khai thiếu lợi nhuận

Liên quan đến phạm vi các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, các đề tài chỉ tập trung nghiên cứu việc vận dụng chính sách kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoặc một ngành có tính chất đặc thù riêng nên chưa thể hiện được bao quát việc vận dụng chính sách kế toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Từ đó, trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu một phạm vi khác của việc vận dụng các chính sách kế toán,

cụ thể là việc vận dụng các chính sách kế toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng bao gồm cả doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ Luận văn không chỉ mô tả thực trạng vận dụng chính sách kế toán mà còn phân tích ảnh hưởng của đặc điểm doanh nghiệp đến việc vận dụng chính sách kế toán tại doanh nghiệp, cụ thể là việc vận dụng chính sách kế toán liên quan đến các chỉ tiêu quan trọng trên báo cáo tài chính như hàng tồn kho, tài sản cố định và doanh thu

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ VẬN DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH KẾ

TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN VÀ VAI TRÒ ĐỐI VỚI QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

1.1.1 Khái niệm về chính sách kế toán

Trong chuẩn mực kế toán Việt Nam số 29 [1] – “Thay đổi chính sách

kế toán, ước tính kế toán và các sai sót” thì khái niệm chính sách kế toán là

các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính

Các chính sách kế toán quy định việc vận dụng các nguyên tắc kế toán

và phương pháp kế toán như thế nào trong từng đơn vị Mỗi doanh nghiệp cần

áp dụng những chính sách kế toán thích hợp với tình hình kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đảm bảo báo cáo tài chính của doanh nghiệp được trình bày hợp lý, cung cấp thông tin hữu ích, đáng tin cậy cho việc ra quyết định của các bên liên quan cũng như của nhà quản trị doanh nghiệp Việc áp dụng các chính sách kế toán như thế nào phụ thuộc vào quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và trình độ quản lý của doanh nghiệp, đơn vị kinh tế…

Ngoài ra có một khái niệm chúng ta cần xem xét đó là Ước tính kế

toán Theo chuẩn mực kế toán số 29 [1], đoạn số 15 “Ước tính kế toán là một

quá trình xét đoán dựa trên những thông tin tin cậy nhất và mới nhất tại thời điểm đó Các ước tính kế toán trong doanh nghiệp cũng được xem là những chính sách kế toán, vì đây cũng là những xét đoán dựa trên những thông tin tin cậy nhất tại thời điểm cụ thể do nhiều khoản mục không thể xác định được con số chính xác mà chỉ có thể đo lường trên cơ sở các ước tính đáng tin cậy

Trang 17

Mỗi doanh nghiệp đều phải lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán nhất quán đối với các giao dịch, sự kiện tương tự, trừ khi có chuẩn mực kế toán khác yêu cầu hoặc cho phép phân loại các giao dịch, sự kiện tương tự thành các nhóm nhỏ và áp dụng chính sách kế toán khác nhau cho các nhóm này Trường hợp này, một chính sách kế toán phù hợp sẽ được lựa chọn và áp dụng nhất quán đối với mỗi nhóm

1.1.2 Vai trò của chính sách kế toán đối với quản trị tại doanh nghiệp

Các chính sách kế toán ảnh hưởng lớn đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp, đặc biệt là thông tin về lợi nhuận

- Về khía cạnh quản trị lợi nhuận, doanh nghiệp có thể vận dụng các chính sách kế toán, thay đổi hoặc thậm chí vận dụng sai để làm sai lệch thông tin trên báo cáo tài chính nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu Hành vi điều chỉnh lợi nhuận được hiểu như là việc vận dụng không đúng đắn các chính sách kế toán, thực hiện các ước tính kế toán và quyết định thời điểm thực hiện các nghiệp vụ một cách có ý đồ dẫn đến việc phản ánh không trung thực bản chất của thực thể kinh tế của doanh nghiệp (Đường Nguyễn Hưng, 2013)[4] Theo nguyên tắc nhất quán, yêu cầu doanh nghiệp phải thống nhất trong việc lựa chọn chính sách kế toán, các ước tính kế toán qua các kỳ kế toán Tuy nhiên doanh nghiệp vẫn được phép thay đổi các chính sách và sự thay đổi phải được thông báo và trình bày theo quy định Việc được phép thay đổi chính sách kế toán sẽ cho phép nhà quản trị thay đổi các thông tin trên báo cáo tài chính, điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn, làm đẹp báo cáo tài chính, làm thay đổi không nhỏ thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng việc ra quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính Bên cạnh đó, mục tiêu thuế cũng là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới việc vận dụng các chính sách kế toán của doanh nghiệp, việc nộp thuế đúng quy định

Trang 18

của pháp luật mà đảm bảo lợi nhuận của doanh nghiệp là điều quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp được các nhà quản trị doanh nghiệp quan tâm

- Về khía cạnh cung cấp thông tin, việc lựa chọn và vận dụng các chính sách kế toán hợp lý sẽ giúp cho thông tin trình bày trên báo cáo tài chính có chất lượng tốt, hỗ trợ hiệu quả trong việc ra quyết định của nhà quản trị Việc vận dụng các chính sách kế toán một cách hợp lý để đem lại thông tin xác đáng nhất luôn được khuyến khích, nhưng bên cạnh đó có không ít các doanh nghiệp cố tình vận dụng sai, thay đổi các chính sách kế toán không đúng quy định nhằm đạt được những mục tiêu riêng của chủ doanh nghiệp Vì vậy việc lựa chọn và vận dụng chính sách kế toán tại doanh nghiệp của nhà quản trị thường dựa trên mục tiêu của doanh nghiệp là gì, nhằm cung cấp thông tin quản lý hữu ích để nhà quản trị đưa ra các chính sách, quyết định hợp lý cho

sự phát triển của doanh nghiệp hay việc vận dụng chính sách kế toán như thế nào để nhằm làm đẹp báo cáo tài chính, phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu của người chủ hay nhà quản trị doanh nghiệp cũng là vấn đề được doanh nghiệp quan tâm

1.2 NỘI DUNG VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG CÔNG TÁC KẾ TOÁN Ở CÁC DOANH NGHIỆP

1.2.1 Chính sách kế toán l ên qu n đến hàng tồn kho

Theo quy định chuẩn mực kế toán số 02 [1] Hàng tồn kho là những tài

sản:

(a) Được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường;

(b) Đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang;

(c) Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ

Việc lựa chọn chính sách về hàng tồn kho là một trong những chính

Trang 19

sách kế toán quan trọng hàng đầu của các doanh nghiệp, đặc biệt là ở doanh nghiệp sản xuất khi tại các DN này thì đây là một khoản mục trọng yếu trên BCTC của doanh nghiệp Hàng tồn kho của doanh nghiệp trên thực tế rất khác nhau do sự đa dạng về chủng loại, chất lượng, giá cả cũng như cách bảo quản tại mỗi đơn vị đều có những đặc thù riêng phụ thuộc vào đặc điểm của doanh nghiệp, điều này cũng sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn áp dụng các chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho tại các đơn vị sao cho phù hợp với đặc điểm và mục tiêu của doanh nghiệp

Những chính sách kế toán cơ bản liên quan đến hàng tồn kho bao gồm:

- Xác định giá trị HTK tại thời điểm ghi nhận ban đầu

- Tính giá xuất kho

- Ước tính sản phẩm dở dang

- Xác định giá trị HTK tại thời điểm lập BCTC

a Xác định giá trị hàng tồn kho tại thời điểm ghi nhận ban đầu

Theo quy định chuẩn mực kế toán số 02 [1], hàng tồn kho phải được

ghi nhận theo giá gốc Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí

chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại

Chi phí mua: bao gồm giá mua, các loại thuế không được hoàn lại, chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua hàng và các chi phí khác có liên quan trực tiếp tới việc mua hàng tồn kho

Chi phí chế biến: bao gồm những chi phí có liên quan trực tiếp đến sản phẩm sản xuất, như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung cố định và chi phí sản xuất chung biến đổi phát sinh trong quá trình chuyển hoá nguyên liệu, vật liệu thành thành phẩm

Chi phí liên quan trực tiếp khác: bao gồm các khoản chi phí khác ngoài chi phí mua và chi phí chế biến hàng tồn kho

Trang 20

Chi phí không tính vào giá gốc hàng tồn kho gồm: Chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phí nhân công và các chi phí sản xuất, kinh doanh khác phát sinh trên mức bình thường; Chi phí bảo quản hàng tồn kho trừ các khoản chi phí bảo quản hàng tồn kho cần thiết cho quá trình sản xuất tiếp theo và chi phí bảo quản trong quá trình mua hàng ; Chi phí bán hàng; Chi phí quản lý doanh nghiệp

b Tính giá xuất kho

Theo chuẩn mực kế toán số 02 [ 1], có 04 phương pháp để tính giá xuất kho:

+ Phương pháp tính theo giá đích danh;

+ Phương pháp bình quân gia quyền;

+ Phương pháp nhập trước, xuất trước;

+ Phương pháp nhập sau, xuất trước

Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính có hiệu lực thi hành từ 01/01/2015 [12], quy định không áp dụng phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO) và bổ sung kỹ thuật tính giá theo phương pháp bán lẻ Phương pháp này thường được dùng trong ngành bán lẻ để tính giá trị của hàng tồn kho với số lượng lớn, các mặt hàng thay đổi nhanh chóng và có lợi nhuận biên tương tự mà không thể sử dụng các phương pháp tính giá gốc khác Giá gốc hàng tồn kho được xác định bằng cách lấy giá bán của hàng tồn kho trừ đi lợi nhuận biên theo tỷ lệ phần trăm hợp lý

Khi xác định giá xuất kho, doanh nghiệp có thể lựa chọn áp dụng các phương pháp tính giá hàng tồn kho và việc lựa chọn trên sẽ gây ảnh hưởng khác nhau đến các chỉ tiêu trình báo cáo tài chính

- Phương pháp tính theo giá đích danh: là phương án tốt nhất trong các phương pháp tính giá xuất kho, khi áp dụng phương pháp này thì dòng giá trị

và dòng vật chất trùng nhau, nghĩa là giá trị hàng mua vào cũng chính là giá

Trang 21

trị của hàng xuất ra Giá trị của hàng xuất kho đem đi bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho được phản ánh trên BCTC đúng theo giá trị thực tế của nó Tuy nhiên, phương pháp tính theo giá đích danh được áp dụng dựa trên giá trị thực tế của từng thứ hàng hoá mua vào, từng thứ sản phẩm sản xuất ra nên chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có ít mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được

- Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp bình quân gia quyền, giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ, điều này làm cho chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh không sát với thực tế mặc dù đây là phương pháp đơn giản và dễ tính toán

- Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO): Phương pháp nhập trước, xuất trước áp dụng dựa trên giả định là giá trị hàng tồn kho được mua hoặc được sản xuất trước thì được xuất trước, và giá trị hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là giá trị hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho cuối kỳ được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho Phương pháp này có thể tính được ngay trị giá vốn hàng xuất kho từng lần xuất hàng, do vậy đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý Trị giá vốn của hàng tồn kho sẽ tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó Vì vậy chỉ tiêu hàng tồn kho trên báo cáo kế toán có ý nghĩa thực tế hơn Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là làm cho doanh thu hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại vì doanh thu hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hoá đã có được từ trước đó Đồng thời nếu số lượng chủng

Trang 22

loại mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng công việc sẽ tăng lên rất nhiều

Trong từng xu hướng biến động của giá mua vào hàng hoá, nguyên vật liệu thì việc lựa chọn một trong các phương pháp ở trên sẽ đem lại mức chi phí giá vốn trong kỳ cao nhất/thấp nhất có thể theo mong muốn chủ quan của doanh nghiệp Lợi nhuận kế toán trong kỳ có liên quan đến chọn lựa chính sách tính giá hàng tồn kho Trong kế toán quy định phải theo nguyên tắc nhất quán Tuy nhiên trong một số trường hợp doanh nghiệp được thay đổi phương pháp kế toán nếu trường hợp thay đổi là thích hợp với hoạt động của doanh nghiệp Chính vì việc được quyền thay đổi phương pháp kế toán, doanh nghiệp lợi dụng để thay đổi phương pháp nhằm điều chỉnh lợi nhuận theo mục tiêu của nhà quản trị

c Chính sách kế toán liên quan đến ước tính giá trị sản phẩm dở dang

Sản phẩm dở dang là những những sản phẩm, công trình, đơn đặt hàng

mà chưa hoàn thành, chưa hoàn thiện đang còn nằm trên quy trình sản xuất, phải trải qua một hoặc vài công đoạn nữa mới hoàn thành sản phẩm Để xác định được giá thành một sản phẩm thì doanh nghiệp phải tiến hành ước tính giá trị sản phẩm dở dang này Có nhiều phương pháp để đánh giá sản phẩm

dở dang cuối kỳ và với mỗi phương pháp khác nhau thì giá trị của sản phẩm

dở dang cũng như giá thành của sản phẩm sẽ khác nhau Vì đây là một ước tính kế toán nên việc xác định giá trị sản phẩm dở dang ít nhiều sẽ mang tính chủ quan của người thực hiện công việc kế toán, nếu việc xác định và áp dụng phương pháp hợp lý sẽ mang lại thông tin hữu ích cho doanh nghiệp trong việc ra quyết định, ngược lại doanh nghiệp cũng sẽ lợi dụng điều này để điều chỉnh giá trị sản phẩm dở dang, gây ảnh hưởng đến các chỉ tiêu về giá thành sản phẩm, giá vốn hàng bán… trên BCTC, từ đó ảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi

Trang 23

nhuận của doanh nghiệp theo hướng mà doanh nghiệp mong muốn

d Xác định giá trị hàng tồn kho tại thời điểm lập báo cáo tài chính

Theo chuẩn mực kế toán số 02 [1], cuối kỳ kế toán năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc thì phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho

Vào thời điểm cuối năm tài chính, doanh nghiệp sẽ xem xét giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho so với giá gốc của hàng tồn kho

để trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho Do có yếu kém trong công tác bảo quản vật tư, hàng hoá hay những thay đổi nhanh chóng về công nghệ sản xuất, thị hiếu của người tiêu dùng, chu kỳ sống của sản phẩm được rút ngắn nên trong nhiều trường hợp, giá gốc của hàng tồn kho có thể thấp hơn giá trị thuần có thể thực hiện được tại thời điểm lập BCTC Vì vậy, việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho là cần thiết và nhằm phản ánh đúng giá trị thực của hàng tồn kho khi lập báo cáo tài chính cuối niên độ Mức trích lập dự phòng được xác định như sau:

* Giá gốc

HTK -

Giá trị thuần có thể thực hiện của HTK

Trong đó giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho là một ước tính kế toán Theo VAS 02 thì giá trị thuần được xác định như sau:

Giá trị thuần có thể thực hiện được = giá bán ước tính của hàng tồn kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ (-) chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng

Như vậy, mức lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho của doanh nghiệp tùy thuộc vào mức ước tính giá trị thuần có thể thực hiện được của HTK Việc

Trang 24

đưa ra các khoản chi phí tiêu thụ ước tính là tùy thuộc vào ý kiến chủ quan của doanh nghiệp Đây là cơ hội để doanh nghiệp điều chỉnh lợi nhuận

Việc hoàn nhập hay trích lập thêm dự phòng đôi khi không được thực hiện theo quy định mà thực hiện theo ý muốn chủ quan của các nhà quản trị Mỗi sự lựa chọn đều ảnh hưởng trực tiếp đến việc ghi nhận chi phí và dự phòng giảm giá HTK trong kỳ, từ đó ảnh hưởng đến khoản mục tài sản và lợi nhuận trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể lợi dụng điều này để điều chỉnh lợi nhuận theo hướng có lợi

Bên cạnh đó trên thực tế, các DN có thể cố tình trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho nhiều hơn mức cần thiết hoặc không trích lập dự phòng tùy theo mục tiêu quản trị lợi nhuận của DN Ví dụ DN muốn đạt được mục tiêu là giảm tối thiểu số thuế TNDN phải nộp thì DN sẽ cố tình trích lập dự phòng nhiều hơn, ngược lại, nếu vì mục tiêu lợi nhuận thì DN sẽ trích lập dự phòng ít hơn hoặc lờ đi chuyện trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho Ngoài ra, mặc dù việc trích lập này sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm đóng thuế, nhưng nhiều công ty vẫn chấp nhận đóng thuế cao để giấu đi các khoản lỗ và tiềm tàng lỗ, vì lo ngại ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trên sàn, quyết định đầu tư của các cổ đông hoặc nhiều mục đích khác của doanh nghiệp

1.2.2 Chính sách kế toán l ên qu n đến tài sản cố định

Tài sản cố định là loại tài sản tạo nên cơ sở vật chất và kỹ thuật của mỗi doanh nghiệp Tài sản cố định là một nguồn lực quan trọng của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp sản xuất Những chính sách kế toán ban hành, vận dụng liên quan đến tài sản cố định sẽ ảnh hưởng đến thông tin trọng yếu được trình bày trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Những chính sách kế toán cơ bản liên quan đến tài sản cố định bao gồm:

Trang 25

- CSKT liên quan đến ghi nhận ban đầu TSCĐ

- Lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ

- CSKT liên quan đến chi phí sau ghi nhận ban đầu TSCĐ

a Chính sách kế toán liên quan đến ghi nhận ban đầu tài sản cố định

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 03 và số 04, TSCĐ được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời tất cả bốn tiêu chuẩn ghi nhận sau:

(a) Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;

(b) Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy;

(c) Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm;

(d) Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành

Mặc dù chuẩn mực kế toán đã quy định các tiêu chuẩn để ghi nhận là TSCĐ Tuy nhiên, việc xác định các điều kiện trên có thõa mãn không đôi khi phụ thuộc vào khả năng xét đoán của người làm công tác kế toán Ví dụ quy định tại tiêu chuẩn (a), việc xác định chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản trong một số trường hợp mang tính chủ quan, nhất là đối với tài sản vô hình hình thành từ nội bộ DN hoặc trong trường hợp sửa chữa, nâng cấp TSCĐ Nếu vì mục tiêu lợi nhuận thì việc vốn hóa chi phí không đủ điều kiện ghi nhận là TSCĐ sẽ giúp làm giảm chi phi được ghi nhận trong kỳ ngược lại nếu là mục tiêu về thuế, thì có những trường hợp đáng lẽ phải ghi nhận TSCĐ thì DN lại ghi nhận là chi phí trong kỳ nhằm giảm thiểu

số thuế TNDN phải nộp TSCĐ được ghi nhận ban đầu theo giá gốc (được gọi

là nguyên giá), cụ thể như sau:

● Đối với TSCĐ hữu hình

Theo chuẩn mực kế toán số 03: Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động

Trang 26

sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình

Nguyên giá TSCĐ hữu hình là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được TSCĐ hữu hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc xác định nguyên giá TCSĐ hữu hình có những quy định riêng, phức tạp hơn, như:

- TSCĐ hữu hình thuê tài chính: Trường hợp đi thuê TSCĐ hữu hình

theo hình thức thuê tài chính, nguyên giá TSCĐ được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán số 06 về “Thuê tài sản”

Bên thuê ghi nhận tài sản thuê tài chính là tài sản và nợ phải trả trên Bảng cân đối kế toán với cùng một giá trị bằng với giá trị hợp lý của tài sản thuê tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản Nếu giá trị hợp lý của tài sản thuê cao hơn giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu cho việc thuê tài sản thì ghi theo giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu Tỷ lệ chiết khấu để tính giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu cho việc thuê tài sản là lãi suất ngầm định trong hợp đồng thuê tài sản hoặc lãi suất ghi trong hợp đồng Trường hợp không thể xác định được lãi suất ngầm định trong hợp đồng thuê thì sử dụng lãi suất biên đi vay của bên thuê tài sản

để tính giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu Chi phí trực tiếp phát sinh ban đầu liên quan đến hoạt động thuê tài chính, như chi phí đàm phán ký hợp đồng được ghi nhận vào nguyên giá tài sản đi thuê

- TSCĐ hữu hình mua dưới hình thức trao đổi: Nguyên giá TSCĐ hữu

hình mua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu hình không tương tự hoặc tài sản khác được xác định theo giá trị hợp lý của TSCĐ hữu hình nhận

về, hoặc giá trị hợp lý của tài sản đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu về Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu hình tương tự, hoặc có thể

Trang 27

hình thành do được bán để đổi lấy quyền sở hữu một tài sản tương tự (tài sản tương tự là tài sản có công dụng tương tự, trong cùng lĩnh vực kinh doanh và

có giá trị tương đương) Trong cả hai trường hợp không có bất kỳ khoản lãi hay lỗ nào được ghi nhận trong quá trình trao đổi Nguyên giá TSCĐ nhận về được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ đem trao đổi Ví dụ: Việc trao đổi các TSCĐ hữu hình tương tự như trao đổi máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, các cơ sở dịch vụ hoặc TSCĐ hữu hình khác

Đối với TSCĐ vô hình

Theo chuẩn mực kế toán số 04 [1]: Tài sản cố định vô hình là tài sản

không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình

Nguyên giá TSCĐ vô hình được xác định trong các trường hợp cụ thể như sau:

- Mua TSCĐ vô hình riêng biệt: Nguyên giá TSCĐ vô hình mua riêng

biệt, bao gồm giá mua, các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại) và các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào sử dụng theo dự tính

- Mua TSCĐ vô hình từ việc sáp nhập doanh nghiệp: Nguyên giá

TSCĐ vô hình hình thành trong quá trình sáp nhập doanh nghiệp có tính chất mua lại là giá trị hợp lý của tài sản đó vào ngày mua (ngày sáp nhập doanh nghiệp) Doanh nghiệp phải xác định nguyên giá TSCĐ vô hình một cách đáng tin cậy để ghi nhận tài sản đó một cách riêng biệt

- TSCĐ vô hình được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp:

TSCĐ vô hình được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp được đánh giá ban đầu theo nguyên giá là toàn bộ chi phí phát sinh từ thời điểm mà tài sản vô hình đáp ứng được định nghĩa và tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình quy định

Trang 28

trong đến khi TSCĐ vô hình được đưa vào sử dụng Các chi phí phát sinh trước thời điểm này phải tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ Nguyên giá TSCĐ vô hình được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp bao gồm tất cả các chi phí liên quan trực tiếp hoặc được phân bổ theo tiêu thức hợp lý và nhất quán từ các khâu thiết kế, xây dựng, sản xuất thử nghiệm đến chuẩn bị đưa tài sản đó vào sử dụng theo dự tính

Nguyên giá TSCĐ vô hình được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp bao gồm:

(a) Chi phí nguyên liệu, vật liệu hoặc dịch vụ đã sử dụng trong việc tạo

(d) Chi phí sản xuất chung được phân bổ theo tiêu thức hợp lý và nhất quán vào tài sản (Ví dụ: phân bổ khấu hao nhà xưởng, máy móc thiết bị, phí bảo hiểm, tiền thuê nhà xưởng, thiết bị)

Ngoài ra, theo chuẩn mực kế toán số 04, để đánh giá một tài sản vô hình được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp được ghi nhận vào ngày phát sinh nghiệp vụ đáp ứng được định nghĩa và tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình, doanh nghiệp phải phân chia quá trình hình thành tài sản theo:

(a) Giai đoạn nghiên cứu; và

(b) Giai đoạn triển khai

Nếu doanh nghiệp không thể phân biệt giai đoạn nghiên cứu với giai đoạn triển khai của một dự án nội bộ để tạo ra TSCĐ vô hình, doanh nghiệp phải hạch toán vào chi phí để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ toàn bộ

Trang 29

chi phí phát sinh liên quan đến dự án đó

Giai đoạn nghiên cứu: toàn bộ chi phí phát sinh trong giai đoạn nghiên

cứu không được ghi nhận là TSCĐ vô hình mà được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ

Giai đoạn triển khai: tài sản vô hình tạo ra trong giai đoạn triển khai

được ghi nhận là TSCĐ vô hình nếu thỏa mãn được bảy (7) điều kiện sau:

(a) Tính khả thi về mặt kỹ thuật đảm bảo cho việc hoàn thành và đưa tài sản vô hình vào sử dụng theo dự tính hoặc để bán;

(b) Doanh nghiệp dự định hoàn thành tài sản vô hình để sử dụng hoặc

để bán;

(c) Doanh nghiệp có khả năng sử dụng hoặc bán tài sản vô hình đó; (d) Tài sản vô hình đó phải tạo ra được lợi ích kinh tế trong tương lai; (e) Có đầy đủ các nguồn lực về kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực khác để hoàn tất các giai đoạn triển khai, bán hoặc sử dụng tài sản vô hình đó;

(g) Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn triển khai để tạo ra tài sản vô hình đó;

(f) Ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định cho TSCĐ vô hình

Phân biệt rạch ròi chi phí phát sinh trong kỳ liên quan đến TSCĐ vô hình nằm trong giai đoạn nào rất quan trọng vì chi phí phát sinh trong giai đoạn nghiên cứu sẽ không được vốn hóa mà phải hạch toán vào lợi nhuận hoặc lỗ; ngoài ra việc xác định tài sản phát sinh trong giai đoạn triển khai có thỏa mãn các điều kiện được ghi nhận là TSCĐ vô hình hay không mang tính xét đoán chủ quan của DN và DN có thể sử dụng nó nhằm điều chỉnh lợi nhuận

b Lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ

Hao mòn là điều tất yếu khi sử dụng, vận hành TSCĐ, việc tính khấu

Trang 30

hao TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ là việc bắt buộc để tuân thủ nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí bỏ ra Các doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ:

- Phương pháp khấu hao đường thẳng;

- Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần;

- Phương pháp khấu hao nhanh;

Việc lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp cho từng loại TSCĐ trong doanh nghiệp phụ thuộc nhiều yếu tố: đặc tính hao mòn của TSCĐ, cách thức sử dụng TSCĐ để tạo ra lợi ích kinh tế, mục tiêu quản trị doanh nghiệp Các phương pháp khấu hao khác nhau dẫn đến chi phí khác nhau sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận Nếu nhà quản trị muốn thông tin trung thực hợp lý thì sẽ chọn cách khấu hao phù hợp với cách thức sử dụng tài sản của doanh nghiệp ví dụ như nếu lợi ích kinh tế được tạo bởi chính một tài sản cố định trong suốt thời gian sử dụng hữu dụng không thay đổi thì phương pháp khấu hao nên chọn là khấu hao theo đường thẳng, nếu lợi ích kinh tế được tạo ra từ tài sản giảm thì phương pháp nên áp dụng là phương pháp khấu hao theo số

dư giảm dần

Trường hợp nhà quản trị muốn điều chỉnh lợi nhuận thì sẽ chọn cách khấu hao theo mục tiêu có lợi cho họ Ví dụ nhà quản trị muốn điều chỉnh giảm lợi nhuận ở hiện tại thì doanh nghiệp cố tình dùng phương pháp khấu hao nhanh đối với TSCĐ mới đưa vào sử dụng Hoặc nhà quản trị muốn khai khống lợi nhuận kế toán trong kỳ, đối với các loại tài sản đáng lẽ phải khấu hao nhanh như các loại máy móc tài sản liên quan đến lĩnh vực nhanh chóng thay đổi khoa học công nghệ thì doanh nghiệp lại áp dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng nhằm đạt được lợi nhuận tốt hơn trong kỳ Vì vậy việc lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp còn có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng thông tin kế toán và có thể đáp ứng mục đích của chủ

Trang 31

doanh nghiệp, là công cụ giúp nhà quản trị doanh nghiệp có thể điều chỉnh lợi nhuận theo hướng mà mình mong muốn Bên cạnh đó, ước tính thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ cũng là công cụ hiệu quả để nhà quản trị sử dụng điều chỉnh chi phí khấu hao và điều chỉnh lợi nhuận mục tiêu trong kỳ Dù đã được quy định rất rõ ràng tại thông tư 45/2013/TT-BTC, văn bản Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích lập khấu hao tài sản nhưng doanh nghiệp đơn giản chỉ cần xác định thời gian khấu hao của tài sản mức tối đa hay mức tối thiểu trong khung khấu hao quy định cụ thể đối với từng loại TSCĐ, từ đó giá trị khấu hao trong mỗi năm sẽ tăng, giảm tùy theo

Một vấn đề nữa được đặt ra là liệu doanh nghiệp có thể thay đổi phương pháp tính khấu hao và thời gian khấu hao cho cùng một tài sản hay không? Việc thay đổi này liệu có ảnh hưởng đến tính nhất quán và khả năng

so sánh được của báo cáo tài chính hay không?

Theo chuẩn mực kế toán số 03 [1] “Tài sản cố định hữu hình” xác định: Phương pháp khấu hao do doanh nghiệp xác định để áp dụng cho từng TSCĐ hữu hình phải được thực hiện nhất quán, trừ khi có sự thay đổi trong cách thức sử dụng tài sản đó; và “Phương pháp khấu hao TSCĐ hữu hình phải được định kỳ xem xét lại, thường là cuối năm tài chính, nếu có sự thay đổi đáng kể trong cách thức sử dụng tài sản đem lại lợi ích cho doanh nghiệp thì được thay đổi phương pháp khấu hao và mức khấu hao cho năm hiện hành và các năm tiếp theo”

Các quy định trên có thể hiểu là, trong điều kiện bình thường doanh nghiệp cần áp dụng nhất quán phương pháp khấu hao đã lựa chọn và thời gian khấu hao dự kiến từ khi hình thành TSCĐ Doanh nghiệp chỉ có thể thay đổi phương pháp tính khấu hao và thời gian khấu hao khi có thay đổi về cách thức ước tính về lợi ích kinh tế trong tương lai mà doanh nghiệp dự tính thu được

Và việc thay đổi này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí ghi nhận trong kỳ để

Trang 32

xác định lợi nhuận kỳ báo cáo của doanh nghiệp

c Chính sách kế toán liên quan đến chi phí sau nghi nhận ban đầu

Một TSCĐ sau khi được đưa vào sử dụng có thể phát sinh các chi phí trong quá trình sử dụng Xem xét theo mục đích có thể chia chi phí sau ghi nhận ban đầu làm hai loại: chi phí sửa chữa TSCĐ và chi phí nâng cấp TSCĐ

● Chi phí sửa chữ TSCĐ

Nhằm duy trì năng lực hoạt động cho TSCĐ trong suốt thời gian sử dụng, doanh nghiệp cần phải sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ Căn cứ vào tính chất công việc sửa chữa và quy mô chi phí, có hai loại công việc là: sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn TSCĐ Tuy nhiên do mức độ chi phí, công tác

kế hoạch khác nhau nên việc hạch toán hai loại sửa chữa này vào chi phí SXKD sẽ khác nhau

Việc sửa chữa lớn là công việc phức tạp và cũng đòi hỏi chi phí nhiều,

do đó việc trích lập trước chi phí sữa chữa lớn TSCĐ theo quy định của chuẩn mực kế toán là rất cần thiết nhằm đảm bảo sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí trong kỳ Việc doanh nghiệp có trích lập trước chi phí sữa chữa lớn hay không sẽ làm ảnh hưởng lớn đến khoản mục chi phí, lợi nhuận trong kỳ và sự hợp lý của thông tin báo cáo tài chính cuối niên độ của doanh nghiệp cụ thể như sau:

- Nếu doanh nghiệp có kế hoạch sửa chữa lớn ngày từ đầu năm thì doanh nghiệp có thể ước tính trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ vào chi phí SXKD trong kỳ (chi phí trích trước) tại thời điểm chưa phát sinh chi phí sửa chữa lớn TSCĐ và mức trích trước này sẽ làm gia tăng chi phí trong kỳ,

từ đó làm giảm lợi nhuận của kỳ báo cáo

- Nếu doanh nghiệp chưa có kế hoạch trích trước thì toàn bộ chi phí sửa chữa lớn này sẽ được tập hơn vào chi phí trả trước khi phát sinh sửa chữa lớn

và phân bổ qua nhiều kỳ Số kỳ phân bổ phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của

Trang 33

kế toán, mức phân bổ chi phí sửa chữa trong từng kỳ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của kỳ đó

Như vậy, việc doanh nghiệp có trích lập trước chi phí sữa chữa lớn hay không sẽ làm ảnh hưởng đến khoản mục chi phí, lợi nhuận trong kỳ và sự hợp

lý của thông tin báo cáo tài chính cuối niên độ của doanh nghiệp.Việc không trích lập trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ là vi phạm nguyên tắc phù hợp, khiến chi phí trong kỳ phát sinh sửa chữa lớn tăng đột biến so với bình thường

và không phù hợp với dòng thu nhập tạo ra trong kỳ

● C p í nân ấp TSCĐ

Chi phí nâng cấp TSCĐ là các chi phí phát sinh nhằm mục đích làm tăng lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng TSCĐ đó so với dự tính ban đầu Lợi ích kinh tế do TSCĐ mang lại có thể là tăng công suất sử dụng, cải thiện chất lượng sản phẩm hoặc tiết kiệm chi phí hoạt động Với mục đích như trên, chi phí nâng cấp TSCĐ sẽ được vốn hoá- ghi tăng vào nguyên giá của TSCĐ Nhà quản lý thông qua việc vốn hoá hay không vốn hoá sẽ là ảnh hưởng đến chi phí ghi nhận trong kì, giúp điều chỉnh lợi nhuận theo mong muốn

Như vậy, dựa trên hướng dẫn của chuẩn mực kế toán, chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu nếu đem lại được lợi ích trong tương lai và thỏa mãn một số điều kiện nhất định thì sẽ được vốn hoá, ghi tăng nguyên giá TSCĐ Tuy nhiên, các điều kiện còn khá mơ hồ và công tác đánh giá các điều kiện ghi nhận này lại phụ thuộc phần nhiều vào các nhân tố trong nội bộ doanh nghiệp, ý kiến chủ quan của người làm kế toán Điều này tạo cơ hội để doanh nghiệp có thể điều chỉnh được lợi nhuận bằng việc quyết định có vốn hóa hay không các chi phí sửa chữa, nâng cấp này Ví dụ, nhằm mục tiêu khai khống lợi nhuận, nhà quản trị vẫn quyết định vốn hóa các khoản chi phí sửa chữa không đủ điều kiện để vốn hóa theo chuẩn mực, làm cho chi phí trong kỳ

Trang 34

giảm xuống và chỉ tiêu lợi nhuận sẽ tăng lên; hoặc nếu nhằm mục tiêu về thuế, doanh nghiệp sẽ ghi hết toàn bộ chi phí sửa chữa thỏa mãn điều kiện được vốn hóa vào chi phí kế toán trong kỳ, khiến cho lợi nhuận của kỳ báo cáo bị giảm xuống…

1.2.3 Chính sách kế toán l ên qu n đến doanh thu

Chuẩn mực kế toán số 14[1] - “Doanh thu và thu nhập khác” có định

nghĩa Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được

trong kỳ kế toán, phát sinh từ các họat động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu

Những chính sách kế toán cơ bản liên quan đến hàng tồn kho bao gồm:

- CSKT liên quan đến việc ghi nhận doanh thu

- CSKT liên quan đến việc đo lường doanh thu

a Chính sách kế toán liên quan đến việc ghi nhận doanh thu

Việc ghi nhận doanh thu ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của Doanh nghiệp trong kỳ trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và ảnh hưởng đến chỉ tiêu nguồn vốn chủ sở hữu trên Bảng cân đối kế toán.Theo nguyên tắc thận trọng, doanh thu chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế Vì vậy, việc ghi nhận doanh thu của doanh nghiệp trong kỳ phải dựa trên những nguyên tắc nhất định Doanh thu được ghi nhận trong kỳ khi đã thỏa mãn đồng thời các điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng và doanh thu cung cấp dịch vụ

Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời cả 5 điều kiện sau :

- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua ;

- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người

sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;

Trang 35

- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;

- Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;

- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng;

Doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy Trường hợp giao dịch

về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong

kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán của kỳ đó Kết quả của giao dịch cung cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn tất cả bốn (4) điều kiện sau:

- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;

- Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ;

- Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán;

- Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó

Trong những trường hợp bán hàng, cung cấp dịch vụ thông thường thì ghi nhận doanh thu khi đã hoàn thành việc giao hàng cho khách hàng vì khi

đó những điều kiện ghi nhận doanh thu được thõa mãn Tuy nhiên, trong trường hợp hợp đồng xây dựng hoặc cung cấp dịch vụ được thực hiện trong nhiều kỳ kế toán, thời điểm ghi nhận doanh thu không nhất thiết phải là thời điểm hoàn thành hợp đồng mà doanh nghiệp cần phải ước tính doanh thu đã thực hiện trong kỳ để ghi nhận

Trong thực tế, các doanh nghiệp có thể cố tình vận dụng “linh hoạt” chính sách kế toán liên quan đến ghi nhận doanh thu làm cho việc ghi nhận doanh thu sớm hơn nhằm điều chỉnh tăng lợi nhuận, hoặc ngược lại sẽ làm lợi nhuận giảm đi Ví dụ: Doanh nghiệp có thể điều chỉnh thời điểm lập hóa đơn

Trang 36

lệch vài ngày có thể làm gia tăng hoặc giảm doanh thu trong kỳ nhằm điều chỉnh lợi nhuận như mong muốn Việc ghi nhận doanh thu thường xảy ra sai sót vào thời điểm giao nhau giữa hai kỳ kế toán Tùy mục đích của nhà quản trị, có thể ghi nhận trước doanh thu phát sinh ở đầu kỳ sau vào kỳ hiện tại, hoặc cố tình chuyển doanh thu của kỳ hiện tại sang kỳ sau

b Chính sách kế toán liên quan đến đo lường doanh thu

Trong các trường hợp bán hàng thông thường, doanh thu được xác định dựa trên số tiền ghi trên hóa đơn bán hàng, Tuy nhiên, trường hợp doanh nghiệp thực hiện hợp đồng xây dựng trong nhiều kỳ kế toán, doanh thu được ghi nhận trong kỳ không nhất thiết phải là số tiền khách hàng đã hoặc phải thanh toán được ghi trên hóa đơn mà doanh nghiệp cần phải ước tính doanh thu liên quan đến khối lượng công việc đã thực hiện trong kỳ để ghi nhận Tùy theo bản chất của từng hợp đồng, doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp ước tính thích hợp để xác định phần công việc đã hoàn thành Chuẩn mực kế toán số 15 quy định các phương pháp ước tính phần công việc đã hoàn thành của hợp đồng xây dựng như sau:

- Đánh giá phần công việc thực tế đã hoàn thành

- Dựa trên tỷ lệ (%) giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với tổng khối lượng công việc phải hoàn thành

- Dựa trên tỷ lệ (%) chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoàn thành toàn bộ hợp đồng

Như vậy, xác định tỷ lệ (%) công việc hoàn thành là ước lượng ít nhiều mang tính chủ quan của doanh nghiệp Do đó, việc lựa chọn phương pháp ước tính phần trăm hoàn thành cho phép doanh nghiệp ghi nhận mức doanh thu lớn hoặc nhỏ hơn thực tế thực hiện, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp

Trang 37

1.3 LÝ THUYẾT IÊN QUAN ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH

KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP

Hiện nay, việc lựa chọn áp dụng các chính sách kế toán tại các đơn vị hầu hết đều do các nhà quản trị doanh nghiệp quyết định Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người quản lý khi lựa chọn áp dụng một chính sách kế toán nào đó có thể vì lợi ích của chính bản thân mình hơn là lợi ích của chủ sở hữu Lý thuyết đại diện (agency theory) có thể giải thích cho hành vi vận dụng chính sách kế toán của nhà quản trị trong các doanh nghiệp Lý thuyết đại diện được phát triển bởi Jensen và Meckling trong một công bố năm 1976

Lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy quyền và bên được ủy

quyền

Quan hệ nhà quản lý và cổ đông: Lý thuyết đại diện xác định mối quan

hệ đại diện (hay quan hệ ủy thác) như là quan hệ hợp đồng mà theo đó các cổ đông (những người chủ - principals) bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý công ty (người đại diện - agents), để thực hiện việc quản lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công ty

Lý thuyết đại diện cho rằng xung đột sẽ phát sinh khi thông tin không đầy đủ và bất cân xứng giữa chủ thể và đại diện trong công ty Cả hai bên có lợi ích khác nhau và vấn đề này có thể được giảm thiểu bằng cách sử dụng các

cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty, thông qua thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản trị, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty Tuy nhiên, mục tiêu của các chủ sở hữu là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, nghĩa là tối đa hóa giá trị thị trường của vốn cổ phần DN Các nhà quản lý lại hướng đến các mục tiêu trong ngắn hạn: tăng doanh số, tăng thị phần, tối đa hóa lợi nhuận, nhằm

Trang 38

tăng mức lương, thưởng hay uy tín của mình đối với DN, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông nên với vị trí của mình, người quản lý doanh nghiệp được cho là luôn có xu hướng tư lợi

và tìm kiếm các lợi ích cá nhân cho mình chứ không phải cho doanh nghiệp Xung đột lợi ích biểu hiện ở hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý trong việc lựa chọn áp dụng các chính sách kế toán nhằm che đậy thông tin, điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính theo hướng có lợi cho nhà quản trị doanh nghiệp thay vì cung cấp thông tin trung thực, hợp lý về tình hình hoạt động của doanh nghiệp cho cổ đông mà không xem xét đến lợi ích và những rủi ro tiềm tàng của người chủ sở hữu Điều này nhằm đối phó với áp lực rất lớn là phải hoàn thành các chỉ tiêu kinh doanh, trong đó quan trọng nhất là các chỉ tiêu về lợi nhuận cũng như thể hiện năng lực quản lý của nhà quản trị

Quan hệ cổ đông và chủ nợ: Để giảm chi phí ủy quyền, chủ nợ có thể đưa vào hợp đồng các điều khoản hạn chế như: kiểm soát việc chia cổ tức, kiểm soát hoạt động đầu tư, yêu cầu thông tin để giám sát tình hình hoạt động doanh nghiệp Những hợp đồng này thường yêu cầu doanh nghiệp phải cung cấp thông tin như: hệ thống ngân sách, thông tin kiểm soát chi phí, phân bổ các nguồn lực … để chủ nợ đánh giá sự tuân thủ những cam kết trong hợp đồng Vì vậy, các nhà quản lý sẽ tìm cách vận dụng chính sách kế toán khi lập báo cáo tài chính để thông tin thể hiện trên đó sẽ có lợi nhất cho doanh nghiệp

1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH

KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP

1.4.1 Đặc thù của doanh nghiệp

- Hình thức sở hữu vốn của các DN có thể là công ty TNHH 1 thành

Trang 39

viên, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân Việc sử dụng các chính sách kế toán để điều chỉnh thông tin trình bày trên báo cáo tài chính cũng phụ thuộc vào hình thức sở hữu vốn của các doanh nghiệp Ví dụ các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân lại có xu hướng làm giảm lợi nhuận kế toán trong kỳ nhằm mục tiêu thuế, giảm số thuế phải nộp trong kỳ So với các doanh nghiệp khác, các công ty cổ phần, đặc biệt là doanh nghiệp có cổ phiếu đang niêm yết trên thị trường chứng khoán có xu hướng vận dụng chính sách

kế toán làm tăng thu nhập và tối đa hóa lợi nhuận trên báo cáo tài chính nhằm đẩy giá trị cổ phiếu lên cao hoặc thu hút vốn đầu tư…

- Lĩnh vực, đặc điểm kinh doanh: sản xuất công nghiệp, kinh doanh thương mại, dịch vụ, xây lắp hoặc tổng hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh khác nhau thì vận dụng chính sách kế toán khác nhau Ví dụ doanh nghiệp hoạt động trong trong lĩnh vực sản xuất hay xây lắp thì việc vận dung các chính sách liên quan đến hàng tồn kho thường phức tạp hơn doanh nghiệp thương mại và dịch vụ; hay việc ghi nhận doanh thu… tại các doanh nghiệp kinh doanh thương mại dịch vụ và doanh nghiệp xây lắp cũng khác nhau về điều kiện cũng như cách thức

Ngoài ra, các doanh nghiệp có đặc điểm HTK chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản thì sẽ vận dụng chính sách kế toán liên quan đến HTK để điều chỉnh thông tin như : phương pháp tính giá xuất kho, trích lập dự phòng Nếu doanh nghiệp có TSCĐ chiếm tỷ trọng lớn thì vận dụng chính sách kế toán liên quan đến TSCĐ như: Phương pháp khấu hao, vốn hóa hay không vốn hóa chi phí sửa chữa… để điều chỉnh thông tin Các doanh nghiệp xây lắp sẽ quan tâm đến chính sách ước lượng phần trăm công việc hoàn thành để ghi nhận doanh thu…thông thường doanh nghiệp sẽ vận dụng kết hợp nhiều chính sách

kế toán để điều chỉnh thông tin phù hợp với mục đích của doanh nghiệp

Trang 40

1.4.2 Trìn độ của nhân viên kế toán

Trình độ và thâm niên công tác của kế toán viên sẽ ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn các chính sách kế toán phù hợp để thực hiện công tác kế toán tại doanh nghiệp và có thể cung cấp thông tin hợp lý trên báo cáo tài chính Nếu kế toán có đủ trình độ, có khả năng vận dụng nhuần nhuyễn các chính sách, chuẩn mực, nắm rõ các chuẩn mực, chế độ cũng như thông tư hướng dẫn sẽ dễ dàng xây dựng một bộ máy kế toán hoàn chỉnh và thực hiện tốt mục tiêu của chủ doanh nghiệp Ngược lại, kế toán viên trình độ thấp sẽ không hiểu rõ được chuẩn mực kế toán, chế độ, thông tư hướng dẫn khiến công tác

sẽ gặp không ít khó khăn và tất yếu là việc vận dụng các chính sách sẽ không hợp lý, thậm chí sẽ có không ít sai sót

1.4.3 Quy mô công ty

Qui mô được xem là nhân tố ảnh hưởng đáng kể đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán Các doanh nghiệp có qui mô lớn thường hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, mức độ phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế rất cao đòi hỏi hệ thống kế toán phải được tổ chức tốt Do vậy việc vận dụng các chính sách kế toán vào các hoạt động của các doanh nghiệp này nhằm mục tiêu quản trị của nhà quản lý sẽ thích hợp, thuận tiện và đầy đủ hơn

Các công ty quy mô nhỏ thì chưa có điều kiện tổ chức bộ máy kế toán đầy đủ nên thường lựa chọn các chính sách kế toán đơn giản,thuận tiện dễ sử dụng Tuy nhiên, khi doanh nghiệp phát triển và cần mở rộng quy mô thì nhu cầu về vốn ngày càng cao Lúc này, các báo cáo đơn giản không thể giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu huy động vốn từ các chủ nợ hoặc nhà đầu tư bên ngoài Khi đó,doanh nghiệp phải xây dựng một hệ thống kế toán mới với những chính sách và phương pháp kế toán phức tạp hơn để có thể lập được báo cáo tài chính cung cấp nhiều thông tin hơn nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của đối tượng sử dụng thông tin này

Ngày đăng: 04/04/2022, 22:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

bảng Tên bảng Trang - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đà nẵng
b ảng Tên bảng Trang (Trang 8)
DANH MỤC CÁC BẢNG - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đà nẵng
DANH MỤC CÁC BẢNG (Trang 8)
bảng Tên bảng Trang - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đà nẵng
b ảng Tên bảng Trang (Trang 9)
Hình thức sở hữu - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đà nẵng
Hình th ức sở hữu (Trang 47)
Bảng 3.1. Mô tả về đặc điểm doanh nghiệp - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 3.1. Mô tả về đặc điểm doanh nghiệp (Trang 47)
Bảng 3.2. Mô tả số lượng nhân viên và số năm hoạt động - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 3.2. Mô tả số lượng nhân viên và số năm hoạt động (Trang 48)
Bảng 3.4. Bảng phân tích về phương pháp tính giá xuất kho HTK - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 3.4. Bảng phân tích về phương pháp tính giá xuất kho HTK (Trang 55)
Bảng 3.5. Bảng phân tích về lý do lựa chọn phương pháp tính giá HTK - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 3.5. Bảng phân tích về lý do lựa chọn phương pháp tính giá HTK (Trang 56)
Bảng 3.6. Bảng phân tích về cơ sở lập dự phòng giảm giá HTK - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 3.6. Bảng phân tích về cơ sở lập dự phòng giảm giá HTK (Trang 57)
Bảng 3.7. Bảng mô tả về CSKT liên quan đến khấu hao TSCĐ - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 3.7. Bảng mô tả về CSKT liên quan đến khấu hao TSCĐ (Trang 60)
Bảng 3.8. Bảng mô tả về nguyên nhân lựa chọn phương pháp hạch toán nghiệp vụ sửa chữa lớn TSCĐ - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 3.8. Bảng mô tả về nguyên nhân lựa chọn phương pháp hạch toán nghiệp vụ sửa chữa lớn TSCĐ (Trang 62)
Bảng 3.10. Bảng phân tích về phương pháp tính khấu hao TSCĐ - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 3.10. Bảng phân tích về phương pháp tính khấu hao TSCĐ (Trang 66)
Bảng 3.11. Bảng phân tích về lý do lựa chọn phương pháp tính khấu hao TSCĐ - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 3.11. Bảng phân tích về lý do lựa chọn phương pháp tính khấu hao TSCĐ (Trang 67)
Bảng 3.12. Bảng phân tích về cơ sở ước tính thờigian khấu hao TSCĐ - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 3.12. Bảng phân tích về cơ sở ước tính thờigian khấu hao TSCĐ (Trang 69)
Bảng 3.13. Bảng phân tích việc thay đổi thờigian khấu hao TSCĐ trong 2 năm gần đây tại các DN - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 3.13. Bảng phân tích việc thay đổi thờigian khấu hao TSCĐ trong 2 năm gần đây tại các DN (Trang 71)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm