Phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập góp phần hiện thực hóa chủ trương xã hội hóa giáo dục của Chính phủ nhằm hai mục tiêu lớn: Thứ nhất là phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN VŨ HOÀNG LIÊN
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON
NGOÀI CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀO HỮU HÒA
Đà Nẵng, Năm 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Người cam đoan
NGUYỄN VŨ HOÀNG LIÊN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục của đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP 8
1.1 GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP 8
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và tầm quan trọng của giáo dục mầm non 8
1.1.2 Giáo dục mầm non ngoài công lập (GDMNNCL) 12
1.2 NỘI DUNG VÀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP 14
1.2.1 Nội dung phát triển GDMNNCL 14
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá phát triển GDMNNCL 18
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển GDMNNCL 19
1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP 21
1.3.1 Kinh nghiệm của Hà Nội 21
1.3.2 Kinh nghiệm của TP Hồ Chí Minh 23
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN
MA THUỘT 25
2.1 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP Ở TP BUÔN MA THUỘT 25
Trang 42.1.1 Điều kiện tự nhiên 25
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 26
2.1.3 Cơ chế, chính sách phát triển GDMNNCL ở TP Buôn Ma Thuột
31
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TP BUÔN MA THUỘT 33
2.2.1 Tình hình phát triển số lượng, mạng lưới GDMNNCL 33
2.2.2 Tình hình phát triển loại hình, chủng loại dịch vụ GDMNNCL 37 2.2.3 Tình hình phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và nhân viên 40
2.2.4 Tình hình phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị và công nghệ quản lý 43
2.3 ĐÁNH GIÁ THÀNH CÔNG, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN NHỮNG HẠN CHẾ CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN TP BUÔN MA THUỘT THỜI GIAN QUA 47
2.3.1 Thành công 47
2.3.2 Hạn chế 48
2.3.3 Nguyên nhân những hạn chế 48
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT 58
3.1 CƠ SỞ TIỀN ĐỀ CHO VIỆC ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 58
3.1.1 Các cơ sở pháp lý 58
3.1.2 Các dự báo 59 3.1.3.Định hướng và mục tiêu phát triển GDMNNCL trên địa bàn TP
Trang 53.2 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN GDMNNCL TRÊN ĐỊA BÀN
TP BUÔN MA THUỘT 62
3.2.1 Giải pháp phát triển loại hình, chủng loại dịch vụ GDMNNCL 63 3.2.2 Giải pháp phát triển mạng lưới GDMNNCL 64
3.2.3 Giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên 66
3.2.4 Giải pháp phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị và công nghệ quản lý 67
3.2.5 Các giải pháp khác 69
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
1 KẾT LUẬN 76
2 KIẾN NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Diện tích, dân số và mật độ dân số của thành phố
2.2 Tổng giá trị sản xuất của thành phố Buôn Ma Thuột
(theo giá hiện hành) giai đoạn 2009-2013 30
2.3
Tình hình phát triển về số lượng của các cơ sở GDMNNCL trên địa bàn TP Buôn Ma Thuột giai đoạn 2009-2013
34
2.4
Mạng lưới trường mầm non ngoài công lập theo từng khu vực trên địa bàn TP Buôn Ma Thuột giai đoạn 2009-2013
36
2.5
Tình hình phát triển về chủng loại dịch vụ GDMNNCL trên địa bàn TP Buôn Ma Thuột giai đoạn 2009-2013
39
2.6
Tình hình phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản
lý và nhân viên các cơ sở GDMNNCL ở Buôn Ma Thuột giai đoạn 2009-2013
41
2.7 Bảng kết quả khảo sát chất lượng giáo viên
2.8 Thực trạng phòng học của các cơ sở GDMNNCL
2.9 Tình hình cơ sở vật chất GDMN trên địa bàn TP
Trang 82.10 Bảng kết quả khảo sát tình hình cơ sở vật chất,
2.14 Bảng kết quả khảo sát những yếu tố phụ huynh học
2.15 Bảng kết quả khảo sát về văn bản hướng dẫn, thủ
Trang 92.2 Các loại hình GDMNNCL trên địa bàn TP Buôn Ma
2.3 Các loại hình GDMN công lập trên địa bàn TP
Buôn Ma Thuột giai đoạn 2009-2013 38
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em nói riêng và con người nói chung Chính vì thế, hầu hết các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xác định giáo dục mầm non là một mục tiêu quan trọng của giáo dục Theo ông Sheldon Shaeffer, Giám đốc Văn phòng Giáo dục UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương, giáo dục mầm non thúc đẩy sự phát triển tình cảm cũng như các kỹ năng về ngôn ngữ, nhận thức và thể chất của trẻ, chính những kỹ năng mà đứa trẻ tiếp thu được qua các chương trình chăm sóc giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho hoạt động học tập sau này của trẻ, bởi đây là giai đoạn phát triển đặc biệt quan trọng của
bộ não trẻ Còn ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước cũng luôn coi trọng giáo dục mầm non Trong buổi lễ giới thiệu và giao nhiệm vụ cho tân Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã lưu ý: “So với các bậc học khác, đến nay chúng ta chưa lo được nhiều cho giáo dục mầm non Đây là một mảng còn yếu của giáo dục Việt Nam mà Bộ trưởng và toàn ngành cần cố gắng khắc phục trong thời gian ngắn nhất”
Phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập góp phần hiện thực hóa chủ trương xã hội hóa giáo dục của Chính phủ nhằm hai mục tiêu lớn:
Thứ nhất là phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp giáo dục;
Thứ hai là điều kiện để toàn xã hội được thụ hưởng thành quả giáo dục
ở mức độ ngày càng cao
Thành phố Buôn Ma Thuột là đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên; đồng thời cũng là một trong những trung tâm công nghiệp, khoa học kỹ thuật, giáo
Trang 11điều kiện phát triển, giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội giữa Tây Nguyên với các vùng trong cả nước và khu vực Dân số toàn thành phố hiện nay khoảng 340.000 người, dự kiến chỉ tiêu này đạt 550.000 người vào năm 2025
Dân số trẻ và việc phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đang đặt ra cho các cấp lãnh đạo chính quyền Buôn Ma Thuột nhiệm vụ phải có chính sách nghiêm túc để đầu tư phát triển nguồn lực này ngay từ lứa tuổi mầm non nhằm hướng đến mục tiêu phát triển bền vững trong tương lai Vì vậy, sự đầu tư phát triển giáo dục mầm non nói chung và mầm non ngoài công lập nói riêng là động
thái cần thiết để giải quyết yêu cầu nói trên Đề tài “Phát triển giáo dục mầm
non ngoài công lập trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk” nhằm
tìm hiểu thực trạng phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập trong thời gian tới Kết quả nghiên cứu của đề tài
sẽ góp phần trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, đưa mục tiêu xây dựng và phát triển thành phố Buôn Ma Thuột thành thành phố loại I trực thuộc Trung ương vào giai đoạn 2016 – 2020 sớm trở thành hiện thực
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập
- Chỉ ra thực trạng giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn TP Buôn Ma Thuột hiện nay
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn TP Buôn Ma Thuột
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập trong điều kiện cụ thể của Buôn Ma Thuột
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, điều tra, thu thập số liệu (Số liệu tình hình kinh tế - xã hội, số liệu về giáo dục mầm non của TP Buôn Ma Thuột)
- Phương pháp thống kê (Phân tổ thống kê, phương pháp đồ thị thống
kê, phương pháp phân tích dãy số biến động theo thời gian và phương pháp phân tích tương quan)
- Phương pháp tổng hợp, so sánh và khái quát hóa
Trang 136 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Thời gian qua ở Việt Nam, một số tác giả đã có công trình nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục và trẻ em nói chung, giáo dục mầm non ngoài công lập nói riêng
- TS Lê Thu Hương (2006) với công trình “Một số vấn đề lý luận về chất
lượng giáo dục mầm non” tiến hành tại “Trung tâm nghiên cứu chiến lược và
phát triển chương trình giáo dục mầm non” đã chỉ rõ những yếu tố nào cấu thành tạo nên chất lượng của giáo dục mầm non Tạo tiền đề để đề xuất những giải pháp hợp lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục mầm non nói chung và giáo dục mầm non ngoài công lập nói riêng
- TS Trần Lan Hương (2009) với công trình nghiên cứu “Các giải pháp
cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục mầm non” trình bày trong Hội thảo
“Bàn biện pháp quản lý, chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non tư thục” ngày 25, 26/02/2009 của Bộ Giáo dục & Đào tạo đã đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và mầm non ngoài công lập, trong đó nhấn mạnh vai trò hỗ trợ và quản lý của Nhà nước mà cụ thể là các cấp chính quyền địa phương Công trình cũng cho thấy cần phải triển khai đồng bộ các giải pháp đầu tư nâng cao chất lượng cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo trong và ngoài công lập cùng với việc tăng cường chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là vấn đề đạo đức
- Hoàng Hoa Lê (2013) trong bài viết: “Vai trò của giáo dục mầm non
đối với sự phát triển của trẻ” đăng trên báo “Người đại biểu nhân dân” ngày
24/9/2013 cho rằng giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm
xã hội và thẩm mỹ cho trẻ em Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình chăm sóc giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ Do vậy, phát triển giáo dục mầm non, tăng cường
Trang 14khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ là yếu tố quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước
- Bùi Minh Tuấn (2013) với bài viết “Làm gì để nâng cao chất lượng
bậc học mầm non?” đăng trên báo Dân Trí ngày 06/12/2013 đã chỉ ra một
nghịch lý rất đáng quan tâm trong hệ thống giáo dục nước ta là bậc học yếu kém nhất và ít được quan tâm nhất lại rơi vào bậc học mầm non Để sớm khắc phục tình trạng trên, tác giả đề nghị cần có sự quan tâm nhiều hơn của các cấp chính quyền địa phương cũng như các cấp quản lý giáo dục nhằm phát triển hài hòa hệ thống giáo dục mầm non công lập cùng với hệ thống mầm non tư thục, huy động sự đóng góp của toàn xã hội đối với bậc học quan trọng này
- Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Hoài Nam (2009) “Phát huy tác dụng
của nhà trường mầm non vào đời sống cộng đồng trong quá trình xã hội hoá giáo dục” đăng trong Tạp chí “Khoa học & Công nghệ” đã cho thấy: Bản
chất của xã hội hóa giáo dục là mọi người làm giáo dục để giáo dục phục vụ cho mọi người Trách nhiệm của ngành giáo dục và nhà trường mầm non là phải làm cho mọi người thấy rõ vai trò, lợi ích của giáo dục đối với đời sống cộng đồng, trước khi giáo dục đòi hỏi xã hội thể hiện trách nhiệm tham gia, đóng góp xây dựng giáo dục Để đẩy mạnh quá trình XHHGD, trước hết, mỗi nhà trường mầm non cần phải phát huy được tác dụng của mình trong đời sống cộng đồng, phải làm cho cộng đồng thấy được vai trò của GDMN đối với sự phát triển mọi mặt của địa phương
- PGS.TS Bùi Quang Bình (2010) với “Giáo trình Kinh tế phát triển” đã khẳng định những lợi ích to lớn mà xã hội nhận được khi phát triển các bậc học dưới trung học Tác giả cũng chỉ ra những vấn đề trong phát triển giáo dục ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Đó là thiếu công bằng và hiệu năng Trong nghiên cứu đã khẳng định rằng, cần thiết phải có sự can thiệp
Trang 15- Lê Anh Vũ (2014) với bài viết “Quản lý giáo dục mầm non tư thục”
đăng trên báo Nhân dân ngày 22/02/2014 đã đề cập đến một vấn đề rất nóng hiện nay trong xã hội sau nhiều vụ việc bạo hành trẻ em rất thương tâm đó là vấn đề quản lý nhà trẻ, nhóm trẻ tư thục Cần làm gì để vừa khuyến khích được
tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ thiết yếu này, vừa quản lý được chất lượng chăm sóc trẻ mầm non đã trở thành những đòi hỏi cấp bách Tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị phù hợp, dựa trên năm vấn đề cốt lõi: Một, chính sách toàn diện; Hai, ưu tiên cho các đối tượng "thiệt thòi"; Ba, chăm sóc và giáo dục toàn diện trẻ mầm non; Bốn, các tiêu chuẩn, quy định, hướng dẫn, và hoạt động bồi dưỡng - phát triển năng lực giáo viên; Năm, yêu cầu về chất lượng kèm cơ chế hỗ trợ, giám sát và rà soát thường xuyên, với sự tham gia của tất cả các bên liên quan
- Nguyễn Như Ất (2001) trong bài viết “Từ tình hình phát triển trường
ngoài công lập của Liên Bang Nga, Trung Quốc và Việt Nam: Thử tìm giải pháp có tính đột phá về lĩnh vực này” trên Tạp chí “Giáo dục và Thời đại” đã
tổng kết tình hình phát triển giáo dục ngoài công lập ở một vài quốc gia trên thế giới, trong đó có giáo dục mầm non Một trong những vấn đề có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của GDMNNCL là cơ chế quản lý của Nhà nước thiếu nhất quán và chưa phát huy được vai trò của GDMNNCL Tác giả đã kiến nghị phải đẩy nhanh quá trình cải cách hành chính, hoàn thiện thể chế giáo dục để tháo
gỡ khó khăn cho sự phát triển của khu vực này
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu để thực hiện luận văn này, tác giả cũng đã nghiên cứu và tham khảo một số luận văn cao học trong và ngoài Đại học Đà Nẵng về các vấn đề liên quan đến giáo dục mầm non và phát triển giáo dục mầm non, đặc biệt là phát triển GDMNNCL tại một số địa phương khác
Trang 16Về phía thành phố Buôn Ma Thuột, trên cơ sở các Quyết định, Nghị định của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo về GDMNNCL, UBND thành phố cũng đã ban hành một số chính sách mang tính chiến lược trong phát triển kinh tế, xã hội, dịch vụ, đặc biệt là quy hoạch tổng thể ngành giáo dục đến năm 2020 gắn với việc xã hội hóa giáo dục ở các bậc học nhằm phát triển giáo dục nói chung và phát triển GDMNNCL nói riêng trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Tuy nhiên, trong số những nghiên cứu được xem xét khi thực hiện đề tài này, tôi nhận thấy rằng, một số công trình hướng đến phạm vi bao quát, dù đã ít nhiều đề cập đến các giải pháp phát triển GDMNNCL nhưng chỉ dừng lại ở việc đánh giá chất lượng giáo dục và chăm sóc trẻ, chưa phản ánh được đầy đủ thực trạng, nêu bật được đặc trưng và sự phát triển của GDMNNCL trong chuỗi liên
hệ chặt chẽ
Để phát triển GDMNNCL trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk phù hợp và đúng hướng, Chính phủ và các Bộ ngành cần nắm được những thông tin về thực trạng phát triển GDMNNCL của Thành phố Dựa trên kết quả phân tích số liệu điều tra và thống kê của Thành phố, bài luận văn này có thể có được một cái nhìn toàn diện về thực trạng phát triển và những kiến nghị
về GDMNNCL trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON
NGOÀI CÔNG LẬP
1.1 GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và tầm quan trọng của giáo dục mầm non
a) Khái niệm giáo dục mầm non
Theo Luật Giáo dục Việt Nam, hệ thống giáo dục quốc dân được phân cấp thành các bậc học, cấp học như: giáo dục mầm non; giáo dục phổ thông (từ tiểu học tới trung học phổ thông); giáo dục nghề nghiệp; giáo dục đại học Giáo dục mầm non là một bậc học dành cho trẻ em trước tuổi đến trường tiểu học (từ 3 tháng đến dưới 6 tuổi) nhằm hình thành ở trẻ cơ sở ban đầu của nhân cách con người:
- Khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa cân đối
- Giàu lòng thương, biết quan tâm nhường nhịn giúp đỡ những người gần gũi (ông bà, cha mẹ, cô giáo, bạn bè), thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên
- Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp ở xung quanh
- Thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi, có một số kỹ năng
sơ đẳng (quan sát, so sánh, phân tích tổng hợp, suy luận,…) cần thiết để chuẩn bị bước vào trường tiểu học, yêu thích việc học
Giáo dục mầm non là việc hỗ trợ để trẻ phát triển tốt nhất theo hướng toàn diện, bằng cách tập trung vào các kỹ năng khác nhau về xã hội, tình cảm
và nhận thức, những kỹ năng này giúp trẻ sẵn sàng cho việc học hỏi, chuẩn bị vào học tiểu học, và tham gia đời sống xã hội
Trang 18b) Đặc điểm của giáo dục mầm non
- Giáo dục mầm non mang tính chất giáo dục gia đình: Nuôi – dạy trẻ
(chăm sóc, giáo dục và bảo vệ) là một quá trình thống nhất Do đặc điểm phát triển về mặt sinh lý và tâm lý của trẻ ở lứa tuổi này nên không được phép tách rời các nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục và bảo vệ Giáo dục mầm non sẽ sai lầm nếu như chỉ chú trọng đến việc nuôi trẻ ở lứa tuổi từ 3 tháng – 3 tuổi và chỉ coi trọng việc dạy trẻ từ 3 – 6 tuổi Bản chất tự nhiên của trẻ đòi hỏi phải vừa nuôi, vừa dạy trẻ, vì đây là một quá trình thống nhất của việc chăm sóc và giáo dục trẻ Do đó cần giáo dục trẻ bằng tấm gương, bằng môi trường, giáo dục trẻ ở mọi lúc mọi nơi, luôn thống nhất hai quá trình nuôi và dạy trẻ, vừa chăm sóc, vừa bảo vệ và giáo dục trẻ Cơ sở giáo dục mầm non không chỉ là một ngôi trường thuần túy mà nó còn được hiểu như ngôi nhà thứ hai của trẻ Chính vì thế, giáo viên mầm non không chỉ cần nắm vững chuyên môn nghiệp vụ mà còn phải có những phẩm chất đạo đức của một nhà giáo, đặc biệt là phải có “tấm lòng của một người mẹ”
- Giáo dục mầm non rất dễ bị tổn thương: Khách hàng của giáo dục
mầm non là trẻ em từ 3 tháng tuổi đến dưới 6 tuổi nên khả năng cảm nhận chất lượng đối với trường, lớp chủ yếu dựa trên cảm tính như thích đến trường, mến cô giáo,… Tuy nhiên, người quyết định lựa chọn trường mầm non không phải là trẻ mà chính là phụ huynh của trẻ
- Giáo dục mầm non phải tuân thủ nghiêm túc những quy định của Nhà
nước về chương trình học, về y tế và bảo vệ sức khỏe cho trẻ: Việc dạy và
học ở bậc mầm non có ý nghĩa rất lớn đến việc phát triển thể lực và hình thành nhân cách con người sau này của các cháu Do đó, việc dạy và học phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Chính phủ và phải được giám sát chặt
chẽ
Trang 19- Giáo dục mầm non mang tính chất xã hội hóa cao và tính tự nguyện cao:
Ai cũng từng trải qua tuổi thơ, ai cũng cần đến sự giáo dục ở lứa tuổi mầm non
Vì thế giáo dục mầm non vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mỗi người đối với xã hội, đối với cộng đồng Giáo dục mầm non là trách nhiệm của toàn xã hội
c) Tầm quan trọng của giáo dục mầm non
* Tầm quan trọng của giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc
dân:
Hệ thống giáo dục quốc dân của một nước gồm toàn bộ các cơ quan chuyên trách việc giáo dục và học tập cho thanh thiếu niên và công dân của nước đó Những cơ quan này liên kết chặt chẽ với nhau về chiều dọc cũng như chiều ngang, hợp thành một hệ thống hoàn chỉnh và cân đối nằm trong hệ thống xã hội được xây dựng theo nguyên tắc nhất định về tổ chức giáo dục và học tập nhằm đảm bảo thực hiện chính sách giáo dục của quốc gia trong lĩnh vực giáo dục quốc dân
Giáo dục mầm non là khâu đầu tiên của hệ thống này, là giai đoạn đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách của con người Kinh nghiệm giáo dục của nước ta và nhân loại, thành tựu hiện nay nghiên cứu về trẻ em đã khẳng định rằng, trẻ em ở lứa tuổi mầm non (3 tháng – 6 tuổi) có sự tăng trưởng rất lớn lao về thể chất, trí tuệ, tình cảm và thẩm mỹ Chẳng hạn,
có tới 50% sự phát triển trí tuệ của con người được diễn ra trong lứa tuổi từ bào thai đến 4 tuổi, từ 4 tuổi đến 8 tuổi đạt được 30% nữa và tiếp tục hoàn thiện đến tuổi trưởng thành nhưng tốc độ chậm dần sau 18 tuổi
Vì thế sự tăng trưởng của trẻ em ở độ tuổi này có ý nghĩa quyết định đến
sự hình thành và phát triển suốt đời của đứa trẻ Do đó giáo dục mầm non có
vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp giáo dục con người, hình thành nên những con người có hiểu biết và kỹ năng cao hơn
Trang 20* Tầm quan trọng của giáo dục mầm non trong phát triển kinh tế:
Sự mở rộng và phát triển của giáo dục mầm non đã góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế thông qua việc:
(1) Giải phóng sức lao động cho các bậc phụ huynh của trẻ, giúp họ yên tâm tham gia lao động, tạo ra năng suất lao động cao
(2) Tạo ra nhiều việc làm và những cơ hội kiếm được thu nhập cho các giáo viên, những người làm việc trong các trường học, những nhà in sách giáo khoa, những nhà sản xuất đồng phục học sinh,…
(3) Tạo một lực lượng lao động có năng suất cao hơn, một tầng lớp những người lãnh đạo có học vấn cao hơn để điền vào chỗ trống trong cả hai khu vực Nhà nước và tư nhân, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển
* Tầm quan trọng của giáo dục mầm non trong phát triển xã hội:
Giáo dục mầm non có quan hệ mật thiết và trực tiếp đến việc phát huy sức mạnh của yếu tố con người trong chiến lược xã hội của mỗi quốc gia
Nếu phát triển giáo dục được xác định đúng đắn dựa trên cơ sở khoa học xác đáng thì sức mạnh con người sẽ được phát huy mạnh mẽ trong toàn bộ đời sống xã hội về mọi mặt của đất nước Chính vì vậy, để phát triển đất nước, các quốc gia đều trước hết phải quan tâm đến chiến lược con người Trong chiến lược xã hội của Việt Nam những năm tới, Đảng và Nhà nước đánh giá rất cao yếu tố giáo dục với việc giáo dục đúng đắn để tạo nên con người mới Việt Nam
Và giáo dục mầm non đang là một bộ phận trọng điểm của việc giáo dục, góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển xã hội của đất nước
Thế hệ người Việt Nam mới là những con người năng động, có tri thức, phát triển toàn diện, nhờ đó mà họ có ý thức công dân tốt, tự tin trong quan hệ xã hội, có ý thức bảo vệ môi trường Đó chính là nền tảng để Việt Nam xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh và hội nhập quốc tế
Trang 21Về chính trị, giáo dục mầm non thể hiện tính ưu việt của giáo dục định hướng XHCN Điều đó thể hiện ở chỗ, giáo dục cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số ngay từ độ tuổi mầm non có thể giúp các em có điều kiện thuận lợi để hòa nhập với cộng đồng, học chữ khi bước vào tiểu học, góp phần thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục mà Chính phủ đã đề ra
1.1.2 Giáo dục mầm non ngoài công lập (GDMNNCL)
- GDMNNCL là một bộ phận của nền giáo dục quốc dân trong việc cùng với giáo dục mầm non công lập cung ứng các dịch vụ chăm sóc, nuôi dạy các cháu trong độ tuổi mầm non theo đúng nội dung và chương trình do Nhà nước quy định Đó chính là hình thức tư nhân tham gia cung ứng dịch vụ công có thu phí
b) Khái niệm phát triển GDMNNCL
Phát triển giáo dục mầm non ngoài công lập là sự tăng lên về số lượng,
tỷ lệ học sinh mầm non do các cơ sở GDMNNCL đảm trách Sự phát triển còn thể hiện ở việc tăng lên về loại hình, chủng loại các dịch vụ GDMNNCL,
sự bao phủ của mạng lưới, sự cải thiện về cơ sở vật chất, công nghệ quản lý
và không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên cũng như nhân viên phục vụ
Trang 22Đứng ở góc độ quản lý Nhà nước, phát triển GDMNNCL chính là việc nghiên cứu, ban hành hoặc hoàn thiện các chính sách, các quy định nhằm đáp ứng cho việc phát triển GDMNNCL tại một địa phương hoặc quốc gia trong những giai đoạn nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đã đặt ra
c) Ý nghĩa của việc phát triển GDMNNCL
- Bổ sung cho hệ thống trường mầm non công lập trong việc cung ứng các dịch vụ giáo dục mầm non (dịch vụ công), góp phần giảm được áp lực quá tải tại hệ thống trường mầm non công lập, tạo môi trường cạnh tranh nâng cao chất lượng giáo dục mầm non
- Giảm áp lực cho Ngân sách Nhà nước, giúp Nhà nước có điều kiện tập trung Ngân sách cho các mục tiêu khác quan trọng, cấp bách hơn
- Tăng cơ hội tiếp cận thành quả giáo dục cho trẻ em ở mọi tầng lớp, tạo
sự công bằng trong xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống Mở ra những cơ hội được học tập trong một môi trường hiện đại, thân thiện, năng động, hội nhập quốc tế cho trẻ
- Phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp GDMN của quốc gia
- Tạo cơ hội cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đầu
tư vào lĩnh vực giáo dục
- Tạo ra thêm nhiều cơ hội việc làm cho đội ngũ giáo viên, nhân viên trong các cơ sở giáo dục, cơ sở hậu cần giáo dục
- Tranh thủ được nguồn tài chính của các tổ chức, cá nhân để đầu tư đồng
bộ về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại, thúc đẩy nhanh quá trình hợp tác quốc tế, đa dạng hóa các sản phẩm hỗ trợ giáo dục, chăm sóc và nuôi dưỡng
Trang 231.2 NỘI DUNG VÀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP
1.2.1 Nội dung phát triển GDMNNCL
Phát triển GDMNNCL phải tuân thủ các quy định về tiêu chuẩn GDMN của Chính phủ Từ khái niệm phát triển GDMNNCL đã được giới thiệu ở trên, tác giả đi đến xác định nội dung cụ thể của phát triển GDMNNCL, thể hiện ở các mặt như sau:
a) Phát triển số lượng, mạng lưới GDMNNCL
Phát triển số lượng, mạng lưới đối với ngành GDMN là quá trình hình thành, phân bổ hệ thống các trường mầm non trên mỗi vùng lãnh thổ hay địa phương Quá trình này cũng là quá trình bao phủ dịch vụ xã hội cung cấp cho dân cư ở đó Đây còn là quá trình gia tăng các dịch vụ giáo dục cho xã hội Cần xác định rõ cần có bao nhiêu cơ sở mầm non trên địa bàn là phù hợp và phân bố giữa các khu vực như thế nào là hợp lý
Đối tượng phục vụ của giáo dục mầm non là trẻ em trong độ tuổi từ 3 tháng đến dưới 6 tuổi Phân bố dân số trên lãnh thổ của mỗi địa phương theo quá trình phân bố sản xuất của nền kinh tế Giáo dục nói chung và GDMN nói riêng thuộc dịch vụ hạ tầng xã hội phục vụ dân cư ở mỗi vùng Ở đâu có dân
cư sinh sống thì sẽ có các dịch vụ hạ tầng xã hội này Đặc điểm dân số của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng tăng nhanh, dân số trẻ chiếm tỷ trọng lớn Vì thế nhu cầu về GDMN cũng tăng nhanh theo Kinh
tế ngày càng phát triển, đời sống được cải thiện cũng khiến nhu cầu về dịch
vụ này tăng cao Hơn nữa, sự phát triển của xã hội nói chung và sự tham gia ngày càng nhiều của phụ nữ vào các hoạt động kinh tế - xã hội, cho nên ngày càng cần nhiều các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ
Tăng thêm số lượng và mở rộng mạng lưới GDMNNCL nhằm đáp ứng những nhu cầu cấp bách nói trên Tuy nhiên quá trình mở rộng và phân bố
Trang 24mạng lưới GDMNNCL, số lượng và mật độ các sơ sở như thế nào phụ thuộc vào dân số mỗi địa phương hay khu vực nào đó Thông thường mạng lưới GDMNNCL được quy hoạch phát triển cùng với quy hoạch phát triển kinh tế
- xã hội của mỗi địa phương
b) Phát triển loại hình, chủng loại dịch vụ GDMNNCL
* Loại hình GDMNNCL:
Nhà trẻ: Tùy vào độ tuổi, trẻ được phân vào các nhóm lớp tương ứng
với chủng loại dịch vụ đặc thù phù hợp với yêu cầu chăm sóc và giáo dục của tâm lý lứa tuổi như sau:
- Nhóm 3 tháng – 6 tháng: chăm sóc và nuôi dưỡng đòi hỏi sự cẩn trọng
và sự phối hợp của các bà mẹ
- Nhóm 6 tháng – 12 tháng: chủ yếu là dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng
- Nhóm 1 tuổi – 1,5 tuổi bao gồm các dịch vụ chăm sóc, nuôi
- Nhóm 1,5 tuổi – 2 tuổi dưỡng và giáo dục
- Nhóm 2 tuổi – 3 tuổi
Mẫu giáo: Tùy vào đối tượng sử dụng mà phát triển những chủng loại
dịch vụ GDMNNCL riêng phù hợp với từng lớp học, nhưng phải bao gồm cả chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tình cảm và thẩm mỹ Loại hình này gồm 3 cấp:
- 3 tuổi – 4 tuổi: Mầm
- 4 tuổi – 5 tuổi: Chồi
- 5 tuổi – dưới 6 tuổi: Lá
* Chủng loại dịch vụ GDMNNCL: Ngoài 3 chủng loại dịch vụ cơ bản
như trên đã đề cập (chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục), GDMNNCL cũng có lợi thế từ sự linh hoạt trong cơ chế và năng lực quản lý, vì vậy có thể đáp ứng được nhiều phân khúc hẹp, nhiều nhu cầu, đặc biệt là về các chủng loại dịch
Trang 25khám sức khỏe định kỳ, theo dõi biểu đồ phát triển Đa dạng hóa các chủng loại dịch vụ hỗ trợ việc học cho trẻ, tạo sự yên tâm cho các bậc phụ huynh là một nội dung quan trọng của việc phát triển GDMNNCL
c) Phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và nhân viên phục vụ
Phát triển đội ngũ giáo viên:
Phát triển đội ngũ giáo viên là quá trình tăng thêm số lượng giáo viên đi cùng với nâng cao chất lượng của đội ngũ Do đặc điểm của ngành giáo dục, đặc biệt là GDMN, khó có thể thay thế bằng máy móc để tự động hóa và chất lượng của dịch vụ này phụ thuộc vào chất lượng của giáo viên, nên quá trình phát triển phải đảm bảo được phát triển cả về lượng và chất
Phát triển về số lượng được bảo đảm bằng việc tuyển dụng giáo viên hàng năm của các cơ sở GDMNNCL từ các trường sư phạm theo các tiêu chuẩn của ngành sư phạm và đặc thù của mỗi vùng cơ sở
Phát triển về chất lượng giáo viên là quá trình nâng cao kiến thức, kỹ năng, nhận thức của giáo viên để họ có thể đảm đương được công việc Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non thông qua đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng,… để nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, kỹ năng và đạo đức cho
họ Từ đó nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong lao động của đội ngũ giáo viên
Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên nhà trường:
Ngoài đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy, việc phát triển đội ngũ nhân viên các sơ sở GDMNNCL có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển các dịch vụ giáo dục, đặc biệt là các dịch vụ hỗ trợ cho học sinh ở độ tuổi mầm non với nhu cầu phát triển ngày càng đa dạng và yêu cầu chất lượng ngày càng cao của người học Bên cạnh đó là đội ngũ những nhà quản lý tham gia công tác tổ chức, quản lý các dịch vụ và chất lượng dịch vụ Để GDMNNCL phát triển cần có một đội ngũ các nhà quản lý được đào tạo không chỉ có
Trang 26nghiệp vụ chuyên môn là quản lý như hệ thống GDMN công lập mà còn cần
ở họ một sự năng động, hiểu biết các vấn đề kinh tế, đảm trách công tác quản
lý ngày càng chuyên nghiệp để đáp ứng sự phát triển của các dịch vụ, điều mà
hệ thống công lập còn chưa đáp ứng kịp thời
d) Phát triển cơ sở vật chất giáo dục, công nghệ quản lý
Phát triển cơ sở vật chất giáo dục là quá trình tạo ra, mở rộng, nâng cấp
hệ trống trường lớp và các cơ sở vật chất đi cùng Cơ sở vật chất giáo dục bao gồm nhà cửa kiến trúc, trang thiết bị phục vụ cho việc chăm sóc, dạy dỗ và bảo đảm môi trường vui chơi cho trẻ,… Cơ sở vật chất giáo dục gắn liền với đất đai dành cho giáo dục và được tính toán phân bố trong quy hoạch Tuy nhiên, công tác quy hoạch của nhiều địa phương còn hạn chế nên đất dành cho trường học nhiều nơi không đảm bảo diện tích phù hợp và phân bố bất hợp lý không đảm bảo phù hợp với môi trường giáo dục, đặc biệt là GDMN Thông thường, tùy theo cấp học và điều kiện cụ thể mà có tiêu chuẩn cơ
sở vật chất cho mỗi cấp học Chẳng hạn như diện tích lớp học và vui chơi giải trí bình quân trên mỗi học sinh, ánh sáng, nhiệt độ, bàn ghế, bảng,…
Cơ sở vật chất cho GDMNNCL phụ thuộc vào nguồn đầu tư của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước Ở Việt Nam, nguồn đầu tư từ Nhà nước có hạn nên nguồn đầu tư ngoài Nhà nước đang được coi trọng Nguồn đầu tư từ khu vực tư nhân đang tạo ra những cơ sở vật chất GDMNNCL có chất lượng khá cao, bổ sung nguồn cung dịch vụ GDMNNCL cho xã hội
Công nghệ quản lý đi cùng với việc sử dụng hiệu quả trang thiết bị, cơ sở vật chất Phát triển cơ sở vật chất giáo dục phải gắn liền, đồng bộ với việc phân bố mạng lưới và phát triển đội ngũ giáo viên, nhân viên, cán bộ quản lý, đặc biệt là công nghệ quản lý Cơ sở vật chất, công cụ, trang thiết bị dạy học
có tính chất hỗ trợ giúp cho đội ngũ giáo viên, nhân viên thực hiện công việc,
Trang 27một khi chất lượng yêu cầu cao đồng nghĩa với việc ứng dụng dụng cụ và công nghệ giảng dạy ngày càng nhiều
Nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã có những quy định hết sức chặt chẽ và cụ thể về các điều kiện hạ tầng giáo dục từ diện tích lớp học, sân chơi, phòng chức năng,… đến công tác tổ chức quản lý quyết định chất lượng Quyết định số 36/2008/QĐ-BGD&ĐT ngày 16 tháng 07 năm 2008 đã ban hành Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, đây là cơ sở để các đơn vị chuẩn bị điều kiện hạ tầng đảm bảo cho việc tổ chức các hoạt động GDMN
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá phát triển GDMNNCL
Với đặc điểm không thể định lượng được nên cần thiết phải có những tiêu chí để đánh giá cụ thể, chính xác sự phát triển của GDMNNCL
Các tiêu chí phản ánh sự phát triển của GDMNNCL gồm các nhóm sau:
Nhóm tiêu chí phản ánh sự phát triển số lượng và mở rộng mạng lưới
GDMNNCL:
- Số lượng tăng thêm các trường mầm non ngoài công lập qua các năm
- Tốc độ tăng thêm các trường mầm non ngoài công lập qua các năm (%)
- Số lượng trường mầm non ngoài công lập tăng thêm theo từng khu vực trong địa phương qua các năm
- Số lớp, số học sinh tăng thêm tại các cơ sở GDMNNCL, tỷ lệ so với tổng số trên địa bàn qua các năm
Nhóm tiêu chí phản ánh sự phát triển loại hình và chủng loại dịch vụ
GDMNNCL:
- Số lượng loại hình GDMNNCL, tỷ lệ so với tổng số loại hình giáo dục mầm non hiện có trên địa bàn
Trang 28- Bình quân số lượng chủng loại dịch vụ của các trường mầm non ngoài công lập, tốc độ tăng thêm qua các năm
Nhóm tiêu chí về phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, nhân
viên phục vụ của các cơ sở GDMNNCL:
- Số lượng và tốc độ tăng thêm giáo viên, cán bộ quản lý, nhân viên nhà trường theo thời gian
- Số lượng, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn qua các năm
- Tỷ lệ học sinh bình quân trên giáo viên và mức giảm tỷ lệ này qua các năm
- Tỷ lệ học sinh bình quân trên nhân viên phục vụ qua các năm và mức giảm tỷ lệ này
Nhóm tiêu chí về phát triển cơ sở vật chất, công nghệ quản lý tại các cơ
sở GDMNNCL:
- Số phòng học đạt tiêu chuẩn
- Cách thức tổ chức, quản lý, điều hành hoạt động nhà trường
- Trang thiết bị dạy học đạt tiêu chuẩn
- Điều kiện phục vụ sinh hoạt, học tập, vui chơi tại trường cho trẻ
Tất cả các yếu tố trên được quy định rất cụ thể trong tiêu chí đánh giá trường chuẩn các mức do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển GDMNNCL
a) Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên như vị trí địa lý, địa hình sẽ là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển giáo dục nói chung và GDMNNCL nói riêng Điều kiện địa lý, địa hình sẽ tạo khó khăn hay thuận lợi cho việc phân bố cơ
sở giáo dục Từ đó ảnh hưởng tới chi phí mở rộng cơ sở và nâng cao chất lượng giáo dục, chi phí học hành của trẻ
Trang 29GDMNNCL thường phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở những nơi
có điều kiện thuận lợi và lợi ích nhiều, những nơi vùng sâu vùng xa khó có thể thu hút phát triển mở rộng cơ sở GDMNNCL
b) Điều kiện kinh tế - xã hội
Sự phát triển kinh tế xã hội tác động cả hai phía đối với sự phát triển của GDMNNCL
Về đầu ra, sự phát triển kinh tế xã hội này sẽ làm tăng nhu cầu về nguồn nhân lực có chất lượng cao, hay nói cách khác nền kinh tế xã hội phát triển đòi hỏi phải có những người được giáo dục chu đáo ngay từ khi còn nhỏ Mặt khác, kinh tế phát triển, thu nhập được nâng cao kéo theo nhu cầu học tập cũng cao hơn Đáng chú ý là nhu cầu về giáo dục lại là nhu cầu tăng nhanh nhất trong các nhu cầu phi vật chất
Về phía đầu vào, khi kinh tế xã hội phát triển cao sẽ giúp cho nền kinh tế
có nhiều nguồn lực hơn để phát triển giáo dục (trong đó có GDMNNCL) - một lĩnh vực đầu tư rất tốn kém, cả về quy mô và chất lượng
Tình hình xã hội cũng tác động nhiều tới GDMNNCL Quy mô và tốc độ tăng dân số nhanh ở các nước đang phát triển như Việt Nam làm tăng đáng kể nhu cầu về giáo dục Cấu trúc dân số thẻ cũng ảnh hưởng đến nhu cầu GDMNNCL Ngoài ra truyền thống ham học của văn hóa xã hội Việt Nam cũng thúc đẩy nhu cầu học hành của người dân
Bên cạnh đó, các điều kiện khác như hạ tầng cơ sở địa phương cũng tác động nhiều đến sự phát triển GDMNNCL, bởi đây chính là những hạ tầng giúp cho giáo dục được thuận tiện hơn đối với người học
c) Cơ chế, chính sách phát triển
Chính sách phát triển giáo dục là tổng thể các biện pháp của Chính phủ
sử dụng để tác động vào hệ thống giáo dục thông qua điều chỉnh các quy định
Trang 30điều kiện và quy chế hoạt động của trường học, nội dung kiến thức dạy dỗ, hỗ trợ tài chính và thuế, cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện cơ sở hạ tầng… Giáo dục thường được xem là thế mạnh của khu vực công lập Chính phủ các nước luôn phải chịu áp lực cao về việc đảm bảo cung ứng dịch vụ giáo dục cho xã hội vì đó là một trong các dịch vụ cơ bản Vì lý do trên nên Chính phủ thường có xu hướng tăng cường giám sát, kiểm soát chặt chẽ khu vực ngoài công lập với nhiều thủ tục hành chính khác nhau, nhiều khi rất hà khắc gây ra nhiều khó khăn cho khu vực này phát triển Ngược lại, cũng có Chính phủ lại khá lỏng lẻo trong việc kiểm soát hoạt động giáo dục, xem đó là một loại hình dịch vụ mang tính chất thị trường nên có thể dẫn đến tình trạng bùng
nổ hoạt động cung cấp dịch vụ GDMN kém chất lượng tràn lan, gây tác hại cho xã hội, làm mất uy tín của Chính phủ
Nhìn chung, cả hai thái cực “cởi trói” và “thúc đẩy” đều không tạo ra môi trường thuận lợi cho GDMNNCL phát triển Vì vậy, hệ thống cơ chế, chính sách của Chính phủ đối với khu vực GDMN sẽ là nhân tố quan trọng trong việc khuyến khích hay kìm hãm GDMNNCL phát triển
1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP
1.3.1 Kinh nghiệm của Hà Nội
Hà Nội tập trung phát triển GDMN theo hướng huy động tối đa các nguồn lực của xã hội để đáp ứng được nhu cầu về GDMN ngày càng tăng trên địa bàn thành phố, trong đó có sự đóng góp đáng kể của các cơ sở GDMNNCL Hà Nội cũng coi việc phát triển các cơ sở này như mục tiêu quan trọng của ngành giáo dục Cho đến nay mục tiêu này của thành phố đang được thực hiện khá tốt
Những bài học kinh nghiệm của Hà Nội có thể học tập đó là:
Trang 31- Ngành giáo dục thành phố đã tiến hành điều chỉnh quy hoạch phát triển mạng lưới GDMN trong đó bao gồm cả công lập và ngoài công lập Đây
là cơ sở quan trọng để ngành giáo dục định hướng công tác quản lý Nhà nước
về GDMN với khu vực ngoài công lập Trong đó chú trọng tới hai vấn đề cơ bản: (1) Chất lượng giáo dục của các cơ sở GDMNNCL; (2) Nguồn nhân lực (giáo viên, nhân viên và quản lý) cho khu vực này đủ số lượng và đảm bảo chất lượng
- Thành phố đã hỗ trợ cho các cơ sở GDMNNCL một khoản đầu tư từ ngân sách để phát triển cơ sở hạ tầng GDMN thông qua xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, cung cấp điện nước và một số cơ sở vật chất cho dạy học của các trường mới
- Ngành giáo dục phải chủ động giải quyết vấn đề khó khăn về nhân lực giáo viên và quản lý cho các cơ sở GDMNNCL theo một chiến lược dài hạn chứ không thể theo kiểu ngắn hạn để giải quyết tình thế Thông qua quy hoạch phát triển mạng lưới GDMNNCL mà có kế hoạch đào tạo với các cơ sở đào tạo Ngoài ra, ngành giáo dục cũng chủ động làm cầu nối giữa các sơ sở đào tạo giáo viên mầm non và các cơ sở GDMNNCL tổ chức các chương trình đào tạo ngắn hạn hay bồi dưỡng cho giáo viên nhằm cập nhật và bổ sung kiến thức mới nhất Tổ chức phối hợp trao đổi giáo viên giữa các cơ sở công lập và ngoài công lập
- Do đặc thù kinh tế xã hội của thành phố mà ngành giáo dục chủ động định hướng các cơ sở GDMNNCL có điều kiện có thể cung cấp bổ sung các dịch vụ giáo dục chất lượng cao trên cơ sở các tiêu chuẩn được ngành giáo dục ban hành Trước khi đưa vào cung cấp, các cơ sở GDMNNCL phải báo cáo cho ngành giáo dục, sau đó ngành sẽ tiến hành thẩm định chất lượng và giá cả để đảm bảo quyền lợi của học sinh
Trang 321.3.2 Kinh nghiệm của TP Hồ Chí Minh
Trong quá trình phát triển GDMNNCL, tại TP Hồ Chí Minh diễn ra tình trạng thiếu thốn mọi thứ như thiếu hụt giáo viên, cơ sở vật chất đang xuống cấp nghiêm trọng Nhiều trường quá cũ không đáp ứng được yêu cầu chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ, số khác thiếu sân chơi Trường có nhiều điểm lẻ (nhà dân cải tạo thành lớp học) nhưng vẫn phải sử dụng do nhu cầu gửi trẻ quá lớn Không chỉ thiếu cán bộ - giáo viên mà hệ thống trường MNNCL ở TP Hồ Chí Minh còn thiếu trầm trọng lực lượng chuyên trách y tế học đường Hiện nay chỉ mới 20% các trường có cán bộ y tế đạt trình độ trung cấp
Sự phát triển của các cơ sở GDMNNCL cũng dẫn tới vấn đề mới cho công tác quản lý các cơ sở này đặc biệt là năng lực của cán bộ quản lý Sự phát triển mạnh mẽ của nhiều cơ sở GDMNNCL ở TP Hồ Chí Minh đã tạo thêm cơ hội cho nhiều trẻ em được đến trường Tuy nhiên, sự “nở rộ” của hệ thống GDMNNCL tại một số quận, huyện đã kéo theo nhiều khó khăn trong việc quản lý, khi không phải cơ sở nào cũng đảm bảo mọi yếu tố, quy chuẩn
về chăm sóc trẻ em trong hoạt động theo quy định Thực tế, việc phân cấp quản lý trường MNNCL về từng quận, huyện (đã làm nhiều năm nay) giúp cho việc giám sát thực tế chặt chẽ hơn Bởi theo quy định, đề án phải được đưa lên Phòng Giáo dục – Đào tạo thẩm định, nếu đủ các điều kiện, UBND quận, huyện mới ra quyết định cho phép cơ sở hoạt động Có nơi, việc thẩm định cấp phép chỉ làm cho có, ví như y tế chỉ kiểm tra bếp, không quan tâm đến những nơi tiềm ẩn rủi ro như phòng học, nhà vệ sinh Có nơi cấp phép xong bỏ đấy hoặc không kiểm tra thường xuyên nên không kịp thời phát hiện những thiếu sót trong việc thực hiện quy chế chuyên môn của cơ sở hoặc
“khoán” hẳn công tác giám sát, quản lý cho Phòng Giáo dục – Đào tạo Điều này đòi hỏi cán bộ quản lý phải có đủ năng lực về chuyên môn mà hiện nay
Trang 33Ngành giáo dục TP Hồ Chí Minh đã có những giải pháp rất cơ bản để giải quyết các vấn đề này nhằm thúc đẩy sự phát triển của các cơ sở GDMNNCL Cụ thể, ngành giáo dục đã chỉ đạo và bảo đảm kinh phí cho việc đào tạo giáo viên cho hệ mầm non thông qua đặt hàng trực tiếp với các cơ sở đào tạo – trường sư phạm trên địa bàn thành phố thông qua tăng chỉ tiêu chính quy cũng như các hệ đào tạo ngắn hạn và bồi dưỡng Mặt khác, ngành giáo dục cũng yêu cầu các cơ sở GDMNNCL có học viên gửi đào tạo tham gia tài trợ cho học viên… Các hình thức tổ chức đào tạo tại cơ sở theo hình thức kèm cặp cũng được áp dụng và do đó vấn đề giáo viên cho hệ này đã phần nào được giải quyết
Để đáp ứng nhu cầu cán bộ quản lý và nâng cao nâng lực cho cán bộ quản lý trong điều kiện phát triển nhanh của các cơ sở GDMNNCL, ngành giáo dục TP Hồ Chí Minh một mặt tiến hành bồi dưỡng kiến thức mới cho đội ngũ cán bộ đang làm công tác này, mặt khác xin UBND thành phố cho phép tăng tiêu chuẩn định biên và bổ sung cán bộ cho bộ máy quản lý Việc tổ chức thường xuyên các đợt tập huấn cho cán bộ quản lý giáo dục cùng với tọa đàm đã giúp nâng cao trình độ quản lý đáng kể Ngành cũng khuyến khích cán bộ tham gia đào tạo sau đại học về quản lý giáo dục tại trường Đại học Sư phạm
Với những biện pháp tập trung vào giải quyết khó khăn thiếu nhân lực quản lý và giảng dạy đã giúp TP Hồ Chí Minh giải quyết được những khó khăn trước bối cảnh phát triển nhanh các cơ sở GDMNNCL Bài học này rất hữu ích cho TP Buôn Ma Thuột
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BUÔN
về thương mại, kinh tế, an ninh và quốc phòng
Thành phố Buôn Ma Thuột - diện tích tự nhiên 377,18 km2 (trong đó diện tích đã đô thị hóa là 100 km2), chiếm khoảng 2,87% diện tích tự nhiên của tỉnh, có các Quốc lộ 14, 26, 27 nối liền với các tỉnh trong cả nước, nhất là với TP HCM, Nha Trang, Đà Nẵng và các tỉnh lân cận như Lâm Đồng, Đăk Nông, Gia Lai, với Campuchia Hệ thống đường quốc lộ, liên tỉnh và hệ thống đường giao thông nội tỉnh được nối liền với trung tâm tất cả các huyện trong tỉnh Đắk Lắk Đặc biệt, TP Buôn Ma Thuột có cảng hàng không nối liền với Thủ đô
Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Vinh Như vậy, hệ thống giao thông đường
bộ và đường hàng không nêu trên rất thuận lợi cho giao lưu, phát triển kinh tế -
xã hội; đặc biệt là cho phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch và văn hoá với các vùng miền trong cả nước Do đó, Buôn Ma Thuột có nhiều tiềm năng để phát triển GDMNNCL
Trang 35Sự phong phú về địa hình và khí hậu đã mang lại cho Buôn Ma Thuột nhiều nguồn tài nguyên vô giá, như rừng, nước ngầm, đất, đá, … tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội, mở rộng giao lưu văn hóa Điều này cũng góp phần thúc đẩy GDMNNCL trên địa bàn TP Buôn Ma Thuột phát triển
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
a) Đặc điểm xã hội
Theo số liệu thống kê năm 2013, dân số trung bình của TP Buôn Ma Thuột là 342.182 người với mật độ 907 người/ km2, trong đó gần 80% dân số sống tại khu vực nội thành Dân số của thành phố tăng ổn định với tỷ lệ khoảng 1,27%/năm
Năm 2013 toàn thành phố có 13 phường: Tân Lập, Tân Hòa, Tân An, Thống Nhất, Thành Nhất, Thắng Lợi, Tân Lợi, Thành Công, Tân Thành, Tân Tiến, Tự An, Ea Tam, Khánh Xuân và 08 xã: Hòa Thuận, Cư EBur, Ea Tu, Hòa Thắng, Ea Kao, Hòa Phú, Hòa Khánh, Hòa Xuân Bảng 2.1 thể hiện rõ mỗi đơn vị hành chính của TP Buôn Ma Thuột có diện tích, dân số trung bình
và mật độ dân số với số liệu cụ thể
Trang 36Bảng 2.1: Diện tích, dân số và mật độ dân số của thành phố Buôn
Ma Thuột năm 2013
STT Đơn vị hành chính Diện tích
(km2)
Dân số trung bình (người)
Mật độ dân số (người/km2
Trang 37Số liệu ở bảng 2.1 cho thấy diện tích và sự phân bố dân cư giữa các phường xã trong thành phố là không đồng đều Đây là một trong số những yếu tố thuận lợi cho việc phát triển GDMNNCL, đặc biệt là phát triển tại những khu vực có dân cư thưa thớt Dân số tăng nhanh, quy mô dân số mở rộng, tốc độ đô thị hóa cao là những yếu tố thúc đẩy sự phát triển của các ngành dịch vụ nói chung và GDMNNCL nói riêng Nhu cầu cho trẻ em được học tập, phát triển trong các môi trường giáo dục hiện đại, thân thiện tăng lên cùng với sự gia tăng về dân số
Dân cư vừa là đối tượng phục vụ của GDMNNCL, đồng thời cũng tạo
ra nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển của GDMNNCL Chất lượng nguồn nhân lực đang ngày càng được nâng lên là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố nói chung và các ngành dịch vụ nói riêng Theo kết quả điều tra dân số năm 2013, nguồn lao động của TP Buôn
Ma Thuột có 271.008 người, tương ứng chiếm 79.2% dân số
Nhìn chung, dân số trẻ của thành phố Buôn Ma Thuột vừa là nguồn nhân lực dồi dào đáp ứng khá đầy đủ nhu cầu của các tổ chức, cá nhân, vừa là nguồn nhu cầu lớn, phong phú và đa dạng về GDMNNCL bởi những tư tưởng mới
Bên cạnh đó, hiện nay công tác tuyển sinh tại các trường mầm non công lập ở TP Buôn Ma Thuột được thực hiện bằng cách phân tuyến học sinh theo địa bàn phường, xã, trong hồ sơ nhập học yêu cầu hộ khẩu thường trú Đây chính là rào cản để con em những người nhập cư tiếp cận với các trường mầm non công lập Tuy nhiên, điều này lại tạo ra nguồn nhu cầu lớn cho hệ thống các trường mầm non ngoài công lập, là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển GDMNNCL trên địa bàn TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Thêm nữa, việc tăng dân số của TP Buôn Ma Thuột có sự chênh lệch
về giới tính Số liệu ở hình 2.1 cho thấy rõ điều đó
Trang 38Hình 2.1: Cơ cấu dân số phân theo giới tính của TP.Buôn Ma Thuột 2013
(Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê 2013 – TP Buôn Ma Thuột)
Tỷ lệ nữ giới từ năm 2008 đến năm 2013 đều chiếm tỷ lệ cao hơn tỷ lệ nam giới do đó tỷ lệ sinh em bé sẽ tăng trong các năm tới Vì vậy phát triển GDMNNCL góp phần nâng cao chất lượng trẻ em, tạo nguồn nhân lực tương lai vững mạnh cho thành phố và đất nước
b) Đặc điểm kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh là một trong những điều kiện tiền đề cho sự phát triển của GDMNNCL Buôn Ma Thuột là một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao trong cả nước, giai đoạn 2008-
2013 tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 14,45%/năm, trong khi mức
Trang 39Bảng 2.2: Tổng giá trị sản xuất của thành phố Buôn Ma Thuột (theo giá
hiện hành) giai đoạn 2009-2013
Đơn vị tính: triệu đồng
Tỷ trọng (%)
Khu vực kinh tế Nông, lâm,
thủy sản
Tỷ trọng (%)
Công nghiệp và xây dựng
Tỷ trọng (%)
Thương mại dịch vụ
Tỷ trọng (%)
2009 Giá trị 12.111.100 100 1.972.576 16,29 5.602.765 46,26 4.535.759 37,45
2010
Giá trị 14.256.833 100 2.032.059 14,25 6.963.294 48,84 5.261.480 36,90 Tăng
2011
Giá trị 17.838.965 100 2.966.881 16,63 8.610.924 48,27 6.261.161 35,10 Tăng
2012
Giá trị 20.228.449 100 2.905.147 14,36 9.809.909 48,50 7.513.393 37,14 Tăng
2013
Giá trị 22.141.822 100 2.948.724 13,32 10.402.428 46,98 8.790.670 39,70 Tăng
(Nguồn: Niên giám thống kê 2013 – Thành phố Buôn Ma Thuột)
Bảng 2.2 cho thấy qua các năm, giá trị sản xuất của các khu vực kinh tế: công nghiệp và xây dựng, thương mại dịch vụ và nông, lâm, thủy sản hầu hết đều tăng Đặc biệt, giá trị sản xuất thương mại dịch vụ trên địa bàn TP Buôn Ma Thuột liên tục tăng mạnh, từ 4.535 tỷ đồng năm 2009 lên đến 8.790
tỷ đồng năm 2013, tăng gần 1,94 lần và tăng bình quân 17,44%/năm
Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, Buôn Ma Thuột có vị thế thuận lợi để phát triển đa dạng và có chất lượng các loại hình dịch vụ Các ngành dịch vụ của thành phố ngày càng phát triển đa dạng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của thành phố và từng bước đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố giai đoạn 2015 - 2020 trở thành Thương mại – Dịch vụ, Công nghiệp - Xây dựng,
Trang 40Nông – Lâm – Ngư nghiệp, Buôn Ma Thuột vẫn đang tập trung thực hiện Quyết định số 46/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc phê duyệt dự
án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Buôn Ma Thuột
đến năm 2020, trong đó trọng tâm xây dựng “thành phố Buôn Ma Thuột
thành đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên, thành phố loại I trực thuộc Trung ương vào giai đoạn 2016 - 2020 Đến năm 2020, Buôn Ma Thuột là một thành phố văn minh, hiện đại, mang sắc thái riêng của vùng Tây Nguyên; đồng thời cũng là một trong những trung tâm công nghiệp, khoa học - kỹ thuật, giáo dục - đào tạo, y tế, thể dục - thể thao của vùng; là đầu mối giao thông liên vùng, tạo điều kiện phát triển, giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội giữa Tây Nguyên với các vùng trong cả nước và khu vực”
Bám sát định hướng phát triển của mình, những năm qua Buôn Ma Thuột đã tích cực đầu tư và khuyến khích sự phát triển của khu vực dịch vụ trên địa bàn thành phố nhằm kích thích sự chuyển dịch cơ cấu theo định hướng đề ra Hoạt động của các lĩnh vực: giáo dục, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, vận tải, … đều có bước phát triển khá với tỷ trọng đóng góp của các ngành này trong tổng giá trị sản xuất dịch vụ luôn đạt trên 11%
Sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế đúng hướng, sự phát triển kinh tế nhanh, bền vững đã tạo điều kiện thuận lợi để thành phố Buôn Ma Thuột đẩy mạnh việc phát triển GDMNNCL, nhằm góp phần chuẩn bị và xây dựng đội ngũ lao động chất lượng cao cho thành phố trong tương lai gần
2.1.3 Cơ chế, chính sách phát triển GDMNNCL ở TP Buôn Ma Thuột
Hiện nay, trên địa bàn TP Buôn Ma Thuột, các cơ sở GDMN công lập đang trở nên quá tải trước sự gia tăng dân số của thành phố Để giải quyết sự