Tuy nhiên sự phát triển công nghiệp trên địa bàn vẫn chưa đạt được kì vọng đặt ra như: phát triển chậm; định hướng phát triển chưa hợp lý; quy mô các doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ; trình đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN MẠNH TOÀN
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Ngô Thị Thảo
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 2
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 7
1.1.1 Khái niệm công nghiệp 7
1.1.2 Phân loại ngành công nghiệp 7
1.1.3 Đặc điểm của sản xuất công nghiệp 8
1.1.4 Vị trí và vai trò của ngành công nghiệp 10
1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 13
1.2.1 Mở rộng quy mô, duy trì tốc độ phát triển công nghiệp 13
1.2.2 Đảm bảo cơ cấu công nghiệp hợp lý 16
1.2.3 Hoàn thiện các hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp 19
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 24
1.3.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 24
1.3.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội 27
1.3.3 Các yếu tố về nguồn lực 29
1.3.4 Cơ sở hạ tầng 32
1.3.5 Đường lối phát triển công nghiệp 33
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
HUYỆN ĐIỆN BÀN GIAI ĐOẠN 2005 – 2013 36
2.1.NHỮNG ĐIỀU KIỆN TIỀN ĐỀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SƯ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HUYỆN ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM 36
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 36
2.1.2 Đặc điểm về dân cư và lao động 39
2.1.3 Điều kiện hạ tầng 40
2.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HUYỆN ĐIỆN BÀN GIAI ĐOẠN 2005 – 2013 42
2.2.1 Quy mô và tốc độ phát triển công nghiệp 42
2.2.2 Số lượng và quy mô cơ sở sản xuất công nghiệp 53
2.2.3.Cơ cấu công nghiệp 59
2.2.4 Hiện trạng khu công nghiệp và cụm công nghiệp 63
2.3.ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP HUYỆN ĐIỆN BÀN GIAI ĐOẠN 2005 – 2013 66
2.3.1 Đánh giá những thành tựu đạt được 66
2.3.2 Đánh giá những hạn chế và nguyên nhân trong phát triển công nghiệp huyện 67
2.3.3 Những vấn đề cần giải quyết đối với sự phát triển công nghiệp huyện 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HUYỆN ĐIỆN BÀN ĐẾN NĂM 2020 70
3.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HUYỆN ĐIỆN BÀN ĐẾN NĂM 2020 70
Trang 63.1.2 Phát triển các Khu, Cụm công nghiệp tập trung 72
3.1.3 Phát triển các ngành công nghiệp- TTCN 75
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HUYỆN ĐIỆN BÀN ĐẾN NĂM 2020 80
3.2.1 Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp 80
3.2.2 Giải pháp về phát triển vốn đầu tư vào ngành công nghiệp 81
3.2.3 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực trong công nghiệp 83
3.2.4 Giải pháp về phát triển khoa học-công nghệ 85
3.3.5 Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp 87
3.3.6 Xây dựng đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật 89
3.3.7 Thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường 91
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 92
KẾT LUẬN 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐ : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài GTSX : Giá trị sản xuất
HTX : Hợp tác xã KCN : Khu công nghiệp KCX : Khu chế xuất KKT : Khu kinh tế ODA : Viện trợ phát triển chính thức TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 82.3 Vị thế công nghiệp huyện Điện Bàn trong công nghiệp
của tỉnh Quảng Nam qua các năm
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
2.4 Tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp trong GDP
Trang 10MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp là một bộ phận trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân và được đánh giá là ngành kinh tế chủ đạo Sự phát triển của công nghiệp có ý nghĩa quan trọng, đóng góp và tạo ra thu nhập cho đất nước, của cải cho xã hội, tích lũy vốn cho phát triển, là động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển Đặc biệt, đứng trước xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, công nghiệp càng khẳng định vai trò tiên phong trong việc đón đầu những cơ hội và cả thách thức mà xu hướng này mang lại
Trong mấy thập kỉ gần đây, phát triển công nghiệp đã có những tác động tích cực đối với nền kinh tế nói chung và công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa nói riêng Vì vậy ở mỗi quốc gia hay mỗi vùng lãnh thổ, việc phát triển công nghiệp là nhu cầu khách quan đồng thời cũng là giải pháp để đạt được mục tiêu đã định Sự thích ứng một cách nhanh chóng với những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, khả năng thu hút vốn đầu tư cao, cách thức tổ chức quản lý tiên tiến là những ưu thế để lựa chọn phát triển công nghiệp trong giai đoạn hiện nay, tạo cơ sở cho việc rút ngắn khoảng cách về kinh tế giữa các nước và khu vực
Điện Bàn là huyện nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Nam, có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển Những năm gần đây, huyện Điện Bàn đã đạt được những bước chuyển biến tích cực về tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội Tuy nhiên, trong bối cảnh chung của cả nước,
Trang 11vùng miền Trung và tỉnh Quảng Nam, nhiều yếu tố, cơ hội mới đang đến, đồng thời cũng nhiều thách thức mới đang đặt ra đối với huyện Điện Bàn
Để tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong các giai đoạn tiếp theo, Điện Bàn cần xây dựng định hướng tổng thể phát triển lâu dài, một tầm nhìn xa rộng cho 10-15 năm sau là rất cần thiết
Những năm gần đây, huyện Điện Bàn đang nỗ lực tập trung phát triển công nghiệp để thực hiện công nghiệp hóa và thúc đẩy phát triển kinh
tế Tuy nhiên sự phát triển công nghiệp trên địa bàn vẫn chưa đạt được kì vọng đặt ra như: phát triển chậm; định hướng phát triển chưa hợp lý; quy
mô các doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ; trình độ phát triển thấp; sự phát triển của công nghiệp vẫn dựa vào nguồn lực bên ngoài là chính; đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học – kĩ thuật, trình độ người lao động nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu cho sự phát triển ngành công nghiệp Do vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay là cần phải tạo ra bước phát triển đột phá về công nghiệp, đưa huyện Điện Bàn trở thành trung tâm kinh tế văn hóa của tỉnh
Xuất phát từ vấn đề nêu trên, tôi lựa chọn đề tài “Phát triển công
nghiệp huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn cao học,
chuyên ngành kinh tế phát triển, vì nó cần thiết và phù hợp với xu thế khách quan của huyện Điện Bàn nói riêng và tỉnh Quảng Nam nói chung
2.Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Một là, làm rõ những lý luận và kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến
vấn đề phát triển công nghiệp.Xây dựng một số các chỉ tiêu đánh giá liên quan đến phát triển công nghiệp
Hai là, đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp của địa phương
trong giai đoạn 2005 - 2013, từ đó chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân
Ba là, đề xuất một số giải pháp có tính thực tiễn để giải quyết các
Trang 12vấn đề còn tồn tại, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
3.1.Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Địa bàn huyện Điện Bàn
- Về thời gian: Trong phạm vi 15 năm, bao gồm: phần phân tích, đánh giá thực trạng giai đoạn 2005 – 2013; phương hướng và giải pháp đến năm 2020
3.2.Đối tượng nghiên cứu:
Các mối quan hệ kinh tế - xã hội trong nội bộ ngành công nghiệp và giữa công nghiệp với các ngành khác phát sinh trong quá trình phát triển công nghiệp
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phổ biến và kết hợp các phương pháp chủ yếu sau đây: phương pháp phân tích thống kê, phương pháp so sánh, tổng hợp các nguồn số liệu
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển công nghiệp
Chương 2: Thực trạng phát triển công nghiệp huyện Điện Bàn giai đoạn 2005-2013
Chương 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản đẩy mạnh phát triển công nghiệp huyện Điện Bàn đến năm 2020
6 Tổng quan nghiên cứu
Thời gian gần đây, ở những mức độ nhất định với những góc độ khác nhau, vấn đề phát triển công nghiệp đã được nhiều nhà khoa học quan
Trang 13tâm.Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu vấn đề này, được công bố dưới dạng chuyên đề, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí… Đặc biệt, khi đất nước bước vào thời
kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa thì các vấn đề về vai trò, tác động của công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế, xã hội đã và đang được đặt ra trong nhiều công trình nghiên cứu
Nghiên cứu trong nước
Theo Vũ Thị Ngọc Phụng (2005) và Bùi Quang Bình (2010) đã khẳng định vai trò của công nghiệp đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa; công nghiệp giúp đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và gia tăng thu nhập quốc gia, là ngành cung cấp tư liệu sản xuất cho toàn bộ nền kinh tế, thúc đẩy nông nghiệp phát triển, cung cấp việc làm và hàng tiêu dùng cho dân cư
Theo Đỗ Hoài Nam (2009), trong tác phẩm “Mô hình Công nghiệp
hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa – con đường và bước đi”, NXB Khoa học và xã hội Hà Nội, đã xác định những đường nét chính
của mô hình công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong giai đoạn hội nhập Để phát triển công nghiệp thì cần mở rộng quy mô, duy trì tốc độ tăng trưởng công nghiệp nhanh và ổn định trong dài hạn; đảm bảo cơ cấu công nghiệp hợp lý, đồng thời phải ngày càng hoàn thiện các hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp trên lãnh thổ
Lê Bàn Thạch, “ Công nghiệp hoá NIES Đông Á và bài học kinh
nghiệm đối với Việt Nam”, NXB Hà Nội: Thế giới, 2000 Tác giả nêu lên
đặc điểm, bước đi, thành tựu, một số bài học trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta và việc vận dụng kinh nghiệm NIES Đông Á
Tạp chí: Quản lý Nhà nước – số 23 “Công nghiệp Việt Nam trong
Trang 14điều kiện hội nhập kinh tế thế giới” Tác giả nêu lên những thuận lợi, khó
khăn về phát triển công nghiệp Việt Nam nói chung, phân tích những kết quả đạt được, từ đó đưa ra những giải pháp phát triển công nghiệp Việt Nam nói chung trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Đề tài khoa học “Phát triển cụm công nghiệp trong tiến trình đô thị
hóa huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam” – đánh giá thực trạng phát triển
cụm công nghiệp nói riêng ở huyện Điện Bàn mà chưa đi vào phân tích cho toàn bộ hoạt động sản xuất công nghiệp của huyện
Tạp chí: Diễn đàn nhân dân Quảng Nam – số 19 “Điện Bàn – Hướng
đến thị xã tương lai” Bài viết nêu lên những thành tựu đạt được trong việc
phát triển kinh tế huyện Điện Bàn trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp.Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI (28- 30/6 /2010) đã đề ra nghị quyết tập trung mọi nguồn lực, phấn đấu xây dựng Điện Bàn thành thị xã vào năm 2015, hướng đếnmục tiêu xây dựng huyện công nghiệp gắn liền với đẩy nhanh quá trình đô thị hóa Song chưa đi sâu vào phân tích sự phát triển công nghiệp trên địa bàn
Luận văn thạc sĩ “Một số giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các khu
công nghiệp ở Quảng Nam - trường hợp khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc” – Võ Xuân Thu.Tác giả nêu lên những vấn đề lý luận về khu công
nghiệp và thu hút đầu tư vào khu công nghiệp Thực trạng thu hút vốn đầu
tư vào các KCN-CCN tỉnh Quảng Nam, một số giải pháp thu hút đầu tư Luận văn mới chỉ đi vào mảng thu hút vốn đầu tư cho các KCN, chưa tổng hợp được nội dung phát triển công nghiệp cho huyện Điện Bàn nói riêng
Nhìn chung các công trình khoa học của các tác giả nghiên cứu phát triển công nghiệp ở Việt Nam là phong phú và phản ánh nhiều góc độ khác nhau Các công trình đã phản ánh yêu cầu khách quan phát triển công nghiệp ở Việt Nam và một số địa phương khác, đồng thời các đề tài cũng phản ánh khá rõ nét thực trạng và đề xuất những giải pháp phát triển công
Trang 15nghiệp Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề chung của tổng thể hoặc trên một địa bàn, tỉnh, khu vực khác Đến nay, một số công trình khoa học mới nghiên cứu về một số khía cạnh liên quan đến vấn đề phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Điện Bàn.Dovậy, đề tài này nghiên cứu về phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam có ý nghĩa mới cả về lý luận và thực tiễn, nội dung nghiên cứu của đề tài đánh giá đúng thực trạng tình hình phát triển công nghiệp cũng như những giải pháp chủ yếu cần giải quyết để góp phần phát triển công nghiệp huyện Điện Bàn
Nghiên cứu nước ngoài
Theo Rognar Nurkse và Paul Rosenten (1959), tăng trưởng công nghiệp phụ thuộc vào nhiều ngành công nghiệp đồng thời trong một giai đoạn phát triển
Theo Chenery và Taylor (1968), tăng trưởng và phát triển công nghiệp được thực hiện thông qua việc tập trung nguồn lực quốc gia cho các ngành công nghiệp chủ yếu được lựa chọn tương ứng với từng giai đoạn phát triển cụ thể nhất định
Trong khi đó, theo S.S Park đưa ra mô hình phát triển công nghiệp theo bốn con đường Con đường thứ nhất là tăng trưởng công nghiệp phụ thuộc vào số lượng lao động và quy mô vốn Con đường thứ hai, tăng trưởng công nghiệp phụ thuộc vào năng suất lao động Con đường thứ ba, tăng trưởng công nghiệp phụ thuộc vào những yếu tố trên Con đướng thứ
tư, tăng trưởng công nghiệp phụ thuộc vào cả số lượng lao động, quy mô vốn, năng suất lao động và dịch chuyển lao động Theo Park, đặc điểm chung của phát triển công nghiệp ở các nước thu nhập thấp là thường đi theo con đường phát triển bằng cách tăng số lượng lao động nhanh hơn tăng năng suất lao động và con đường đó sẽ đảo ngược lại khi công nghiệp đạt trình độ phát triển cao hơn
Trang 16CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm công nghiệp
Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất vật
chất mà sản phẩm được chế tạo, chế biến cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục
vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh tiếp theo Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ về khoa học, kỹ thuật và công nghệ [Theo Wikipedia]
1.1.2 Phân loại ngành công nghiệp
Theo cách phân loại của tổng cục Thống kê, công nghiệp được chia thành ba nhóm ngành: công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và công nghiệp điện, khí, nước
Công nghiệp khai thác có nhiệm vụ khai thác tài nguyên thiên nhiên
phục vụ cho sản xuất và đời sống
Khai thác năng lượng: dầu mỏ, khí đốt, than…
Khai thác quặng kim loại: sắt, thiếc, bô-xít…
Khai thác quặng: uranium, thori…
Khai thác vật liệu xây dựng: đá, cát, sỏi…
Sản phẩm công nghiệp khai thác cung cấp nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp chế biến.Sự phát triển của công nghiệp khai thác thường gắn với nguồn tài nguyên tạo điều kiện để phát triển vùng – lãnh thổ
Công nghiệp chế biến bao gồm:
Công nghiệp chế tạo công cụ sản xuất gồm: cơ khí, chế tạo máy, kỹ
Trang 17thuật điện, điện tử Đây là ngành công nghiệp có vai trò quan trọng hàng đầu vì nó cung cấp tư liệu sản xuất cho toàn bộ nền kinh tế, trang bị cơ sở vật chất cho tất cả các ngành
Công nghiệp sản xuất đối tượng lao động gồm hóa chất, hóa dầu, luyện kim, vật liệu xây dựng Sản phẩm ngành này lại tiếp tục cung cấp các yếu tố đầu vào cho các ngành khác.Ngoài ra, ngành này còn cung cấp phân bón hóa học, thuốc trừ sâu cho nông nghiệp; cung cấp vật liệu cho ngành xây dựng
Công nghiệp sản xuất vật phẩm tiêu dùng như dệt may, chế biến thực phẩm đồ uống, chế biến gỗ, giấy, chế biến thủy tinh, sành sứ…
Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước cung cấp
đầu vào thiết yếu cho sản xuất và đời sống.Mọi hoạt động diễn ra ngày nay đều phụ thuộc rất lớn và sự phát triển ngành này
1.1.3 Đặc điểm của sản xuất công nghiệp
Thứ nhất: Tính chất hai giai đoạn của quá trình sản xuất
Quá trình sản xuất công nghiệp có thể chia thành hai giai đoạn: giai đoạn tác động vào đối tượng lao động để tạo ra nguyên liệu và giai đoạn chế biến các nguyên liệu thành tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng Trong mỗi giai đoạn lại bao gồm nhiều công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn có thể do nhiều bộ phận trong hệ thống dây chuyền sản xuất hoặc do một bộ phận độc lập thực hiện
Tính chất hai giai đoạn của quá trình sản xuất công nghiệp là do đối tượng lao động của nó đa phần là các vật thể của tự nhiên Con người phải khai thác chúng để tạo ra nguyên liệu, rồi chế biến nguyên liệu đó để tạo ra sản phẩm
Thứ hai: Sản xuất công nghiệp có xu hướng phân bố ngày càng tập
trung cao độ theo lãnh thổ
Trang 18Công nghiệp phân bố tập trung theo lãnh thổ hình thành những điểm công nghiệp, khu công nghiệp, vùng công nghiệp sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi để thực hiện chuyên môn hóa sản xuất và hợp tác hóa sản xuất, khai thác sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, tăng năng suất lao động, đưa lại hiệu quả kinh tế xã hội cao
Phân bố tập trung theo lãnh thổ là quy luật phát triển của sản xuất công nghiệp thể hiện ở quy mô xí nghiệp và tốc độ sản xuất các xí nghiệp công nghiệp trên một đơn vị lãnh thổ Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm của nó, cũng có nhiều nhược điểm.Nếu quy mô tập trung công nghiệp theo lãnh thổ quá mức, vượt quá sức chứa của lãnh thổ sẽ gây ra nhiều khó khăn như: tạo sức ép lớn lên hệ thống cơ sở hạ tầng; gây khó khăn, phức tạp cho
tổ chức quản lý xã hội và môi trường
Vì vậy, cần nghiên cứu toàn diện những điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội trong từng địa phương; từng vùng cũng như trên lãnh thổ của cả nước để lựa chọn quy mô phân bố công nghiệp cho phù hợp
Thứ ba: Đặc điểm về công nghệ sản xuất
Công nghệ sản xuất trong công nghiệp do con người tạo ra.Quá trình tạo ra sản phẩm công nghiệp được thực hiện thông qua hệ thống máy móc, thiết bị với đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao Khi công nghệ ngày càng được cải tiến, hiện đại thì đòi hỏi trình độ lao động cũng phải tăng theo Nghiên cứu đặc trưng về công nghệ sản xuất có ý nghĩa vô cùng quan trọng với việc tổ chức sản xuất và ứng dụng những thành tựu mới của khoa học công nghệ thích ứng với từng ngành
Thứ tư: Đặc điểm về sự biến đổi của các đối tượng lao động Sau
mỗi giai đoạn của quá trình công nghệ, các đối tượng của lao động có sự thay đổi về hình dáng, kích thước và tính chất Từ một nguồn nguyên liệu với những công nghệ khác nhau có thể tạo ra nhiều sản phẩm với những
Trang 19công dụng khác nhau, kiểu dáng và mẫu mã khác nhau Nghiên cứu đặc trưng này của quá trình sản xuất công nghiệp có thể thấy rõ khả năng của sản xuất công nghiệp và ý nghĩa thiết thực với việc tổ chức sản xuất, tổ chức lao động đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra liên tục với hiệu quả kinh
tế cao
1.1.4 Vị trí và vai trò của ngành công nghiệp
a Vị trí của công nghiệp trong nền kinh tế
- Công nghiệp là bộ phận cấu thành cơ cấu công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ Trong quá trình phát triển nền kinh tế, công nghiệp phát triển từ vị trí thứ yếu trở thành ngành có vị trí hàng đầu trong cơ cấu kinh
tế đó
- Công nghiệp là ngành không chỉ khai thác tài nguyên mà còn tiếp tục chế biến các loại nguyên liệu nguyên thủy để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng, nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần cho con người
- Sự phát triển của ngành công nghiệp là một yếu tố có tính quyết định để thực hiện quá trình CNH – HĐH toàn bộ nền kinh tế quốc dân
b Vai trò của công nghiệp với pháttriển kinh tế
Thứ nhất, công nghiệp đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân
Năng suất lao động của khu vực công nghiệp cao hơn hẳn các ngành kinh tế khác, mà năng suất lao động là một trong những yếu tố quyết định nâng cao thu nhập, thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp và đóng góp ngày càng lớn vào thu nhập quốc gia, do trong sản xuất công nghiệp thường xuyên được đổi mới và ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại Mặt khác, giá cả sản phẩm công nghiệp thường ổn định và cao hơn các sản phẩm khác.Chính vì vậy, công nghiệp có vai trò quan trong trong việc đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân
Trang 20Thứ hai, công nghiệp sản xuất và cung cấp các tư liệu sản xuất cho toàn bộ nền kinh tế
Sự phát triển của công nghiệp đang đưa hoạt động kinh tế thế giới đến trình độ sản xuất rất cao, đó là tạo ra các tư liệu sản xuất có khả năng thay thế phần lớn sức lao động của con người Khi trình độ phát triển công nghiệp càng cao thì tư liệu sản xuất càng hiện đại, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động xã hội Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ các tư liệu sản xuất có khả năng tự động hóa trong một số khâu hoặc toàn bộ quá trình sản xuất, thay thế sức lao động của con người Chính sự tự động hóa của máy móc thể hiện sự phát triển ngày càng cao của công nghiệp trong việc tạo ra tư liệu sản xuất phục vụ cho bản thân ngành công nghiệp và các ngành khác
Thứ ba, công nghiệp thúc đẩy sản xuất nông nghiệp
Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp được coi là nhiệm vụ cơ bản nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm cho đời sống nhân dân và nông sản xuất khẩu.Tuy nhiên, để thực hiện nhiệm vụ này nông nghiệp khó có thể tự thân vận động nếu không có sự hỗ trợ của công nghiệp
Công nghiệp chính là ngành cung cấp cho sản xuất nông nghiệp những yếu tố đầu vào quan trọng như: phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, máy móc cơ khí nhỏ đến cơ giới lớn Công nghiệp còn có vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
Công nghiệp chế biến đã có những đóng góp quan trọng vào việc tăng giá trị sản phẩm, tăng khả năng tích trữ, vận chuyển của sản phẩm nông nghiệp và làm cho sản phẩm nông nghiệp ngày càng đa dạng về chủng loại Nếu không có công nghiệp chế biến thì một số sản phẩm nông nghiệp mang tính thời vụ cao và khó bảo quản sẽ bị hạn chế khả năng tiêu thụ
Trang 21Thứ tư, công nghiệp cung cấp đại bộ phận hàng tiêu dùng cho dân cư
Công nghiệp cung cấp những sản phẩm tiêu dùng ngày càng phong phú về chủng loại, mẫu mã và nâng cao chất lượng Kinh tế càng phát triển, thu nhập của dân cư ngày càng tăng, nhu cầu của con người ngày càng mở rộng Chính sự phát triển của nhu cầu đã góp phần thúc đẩy công nghiệp phát triển Sự phát triển của công nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu của con người mà còn hướng đến những nhu cầu cao hơn
Thứ năm, công nghiệp thu hút lao động nông nghiệp, góp phần giải quyết việc làm cho xã hội
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp đã làm cho sản xuất công nghiệp ngày càng mở rộng, có nhiều ngành sản xuất mới, các khu công nghiệp mới, công nghiệp đã thu hút lao động và giải quyết việc làm cho xã hội Đặc biệt, công nghiệp tác động vào sản xuất nông nghiệp làm nâng cao năng suất lao động, tạo khả năng giải phóng sức lao động trong nông nghiệp Việc thu hút số lao động ngày càng tăng từ lao động nông nghiệp không chỉ góp phần giải quyết công ăn việc làm mà còn tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn, tăng thu nhập cho người lao động
Thứ sáu, công nghiệp tạo ra hình mẫu ngày càng hoàn thiện về tổ chức sản xuất
Công nghiệp luôn có một đội ngũ lao động có tính tổ chức, kỷ luật cao và được coi là bộ phận lao động tiến tiến trong dân cư Lao động trong công nghiệp ngày càng có trình độ chuyên môn hóa cao, tạo điều kiện nâng caotrình độ chuyên môn của người lao động và chất lượng sản phẩm
Công nghiệp tạo điều kiện khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm thay đổi sự phân công lao động và giảm mức độ chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng
Trang 22Công nghiệp phát triển, việc khai thác tài nguyên hiệu quả hơn.Tài nguyên thiên nhiên có thể phục vụ trong sản xuất công nghiệp ngày càng phong phú
Ngoài ra, công nghiệp làm thay đổi sự phân công lao động, giảm bớt
sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa thành thị và nông thôn Công nghiệp đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn, làm cho nông thôn nhanh chóng bắt kịp đời sống thành thị
1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
Theo quan điểm của lý thuyết kinh tế học, phát triển kinh tế là một quá trình tiến hóa theo thời gian và do những nhân tố nội tại quyết định đến toàn bộ quá trình phát triển đó
Phát triển công nghiệp trước hết là phải có sự gia tăng về quy mô sản lượng của ngành, nó diễn ra trong một thời gian tương đối dài và ổn định Bên cạnh đó có sự thay đổi cơ cấu của ngành công nghiệp theo hướng tích cực, phù hợp với từng giai đoạn phát triển Trong đó, hàm lượng khoa học – công nghệ và chế biến sâu trở thành động lực tăng trưởng.Phát triển công nghiệp phải thực sự gia tăng thu nhập cho nhân dân, đáp ứng nhu cầu đời sống vật chất tinh thần ngày càng cao của xã hội
Phát triển công nghiệp là con đường tất yếu và duy nhất để cải tạo và hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân, làm cho các ngành kinh tế quốc dân đượcsản xuất, tổ chức và quản lý theo phương pháp công nghiệp với hiệu quả cao
1.2.1 Mở rộng quy mô, duy trì tốc độ phát triển công nghiệp
Phát triển công nghiệp theo chiều rộng bằng cách tăng quy mô sản xuất, vốn và quy mô lao động Để tăng trưởng theo hướng này cần chú trọng mở rộng quy mô cơ sở sản xuất, đa dạng hóa ngành nghề, phát triển các loại hình doanh nghiệp, tăng số lao động, vốn công nghiệp, phát triển
Trang 23các khu công nghiệp, khu kinh tế từ đó tạo ra nhiều hơn các sản phẩm công nghiệp đáp ứng nhu cầu của thị trường, góp phần gia tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân
Nhóm chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng đó là chỉ tiêu phản ánh về quy
mô và tốc độ tăng trưởng công nghiệp hàng năm hay bình quân năm của một giai đoạn nhất định Quy mô phản ánh sự tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng có ý nghĩa so sánh tương đối, phản ánh sự tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ
- Giá trị sản xuất công nghiệp (GO): Chỉ tiêu này thường được sử
dụng để đo lường kết quả sản xuất công nghiệp của một thời kỳ nhất định Giá trị sản xuất công nghiệp được tính theo giá cố định và giá hiện hành Tốc
độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp được tính bằng giá cố định
- Giá trị gia tăng (VA): Đây là chỉ tiêu cốt lõi phản ánh tăng trưởng
về sản lượng công nghiệp, đồng thời là chỉ tiêu định lượng để phản ánh chất lượng tăng trưởng Giá trị gia tăng là một bộ phận của giá trị sản xuất (GO): thu nhập của người lao động từ sản xuất, thuế sản xuất, khấu hao tài sản cố định và thặng dư sản xuất Mối quan hệ giữa VA, GO, IC được thể
hiện như sau: VA=GO-IC
Tỷ lệ giữa giá trị gia tăng (VACN) và giá trị sản xuất công nghiệp (GOCN) là một chỉ tiêu quan trọng dùng để đánh giá chất lượng tăng trưởng công nghiệp Tỷ lệ này càng cao phản ánh hiệu quả trong sản xuất công nghiệp Làm được điều đó đòi hỏi sản xuất công nghiệp phải phát huy tối
đa các nguồn lực sẵn có, đồng thời phải đẩy mạnh đầu tư đổi mới trang thiết bị, máy móc để tăng năng suất; nâng cao tính chuyên nghiệp, chuyên môn hóa trong lao động, tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm có tính cạnh tranh cao
Trang 24- Tốc độ phát triển liên hoàn: Thể hiện sự biến đổi của đối tượng
nghiên cứu giữa hai giai đoạn liên tiếp (hoặc 2 năm liên tiếp) và được tính theo công thức:
Yi – Yi-1
yi = x 100% (1.1)
Yi-1Trong đó: yi: Tốc độ phát triển giá trị sản xuất công nghiệp
Yi: Giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn i
Yi-1: Giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn i-1
- Tốc độ phát triển bình quân: chỉ tiêu này phản ánh mức độ phát
triển trung bình trong cả giai đoạn nghiên cứu
y = ( / 1) x 100% (1.2) Trong đó: y: Tốc độ phát triển bình quân
Yt: Giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn i
Y1: Giá trị sản xuất công nghiệp năm gốc n: Số năm trong giai đoạn nghiên cứu
- Số lượng, sản lượng sản phẩm công nghiệp: phản ánh quy mô, tính
đa dạng trong sản xuất sản phẩm công nghiệp Để gia tăng sản phẩm công nghiệp đòi hỏi phải nắm bắt, dự báo được nhu cầu của thị trường, không ngừng nghiên cứu cải tiến kiểu dáng, mẫu mã, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Xuất phát từ thị trường sẽ là cơ sở tốt nhất
để từ đó các doanh nghiệp, ngành mở rộng quy mô sản xuất của mình
- Tăng trưởng về số lượng và quy mô cơ sở sản xuất công nghiệp:
Doanh nghiệp là bộ phận cấu thành quan trọng nhất của sản xuất công nghiệp Có càng nhiều doanh nghiệp lớn mạnh thì ngành công nghiệp càng phát triển.Doanh nghiệp mạnh phản ánh năng lực cạnh tranh và thích nghi trong môi trường biến động.Thực hiện tập trung hóa sản xuất công nghiệp
Trang 25để tạo điều kiện hình thành các doanh nghiệp có quy mô lớn Để phản ánh quy mô doanh nghiệp và so sánh quy mô doanh nghiệp ta có thể sử dụng một số tiêu chí:
+ Số lượng sản phẩm (tính bằng giá trị hoặc hiện vật)
1.2.2 Đảm bảo cơ cấu công nghiệp hợp lý
Cơ cấu công nghiệp hợp lý trong từng giai đoạn phát triển cụ thể cũng rất quan trọng trong đánh giá chất lượng tăng trưởng công nghiệp Cơ cấu công nghiệp hợp lý là cơ cấu phản ánh được xu thế phát triển chung
Đó là, cơ cấu đa dạng nhưng thống nhất và có khả năng hỗ trợ tốt cho nhau, cho phép tạo ra các giá trị gia tăng lớn nhất.Trong đó, hàm lượng khoa học, công nghệ và chế biến sâu trở thành động lực tăng trưởng, quy định nội dung về chất của cơ cấu.Về mặt lượng, cơ cấu công nghiệp được xác định bằng tỷ trọng giữa giá trị sản lượng của từng bộ phận chiếm trong tổng giá trị sản lượng ngành công nghiệp
Trang 26Trong lựa chọn cơ cấu công nghiệp, cần thấy rằng mỗi ngành công nghiệp muốn phát triển phụ thuộc rất lớn vào các ngành công nghiệp khác
có liên quan.Vì thế năng lực cạnh tranh của một ngành công nghiệp chuyên môn hóa phụ thuộc vào ngay trong khả năng liên kết trong nội bộ ngành công nghiệp, cũng như liên kết với các ngành và các lĩnh vực liên quan khác
Để phát triển hiệu quả các ngành công nghiệp đã lựa chọn cần chuyển dịch cơ cấu ngành theo các mô hình liên kết như:
Liên kết giữa các ngành khai thác tài nguyên và chế biến tài nguyên thành các sản phẩm (có thể trở thành đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến hoặc có thể là những sản phẩm hoàn chỉnh) Lựa chọn cơ cấu công nghiệp theo mô hình liên kết các ngành công nghiệp có liên quan chặt chẽ với nhau, từ khai thác đến chế biến tài nguyên phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước, đồng thời hướng đến phục vụ xuất khẩu
có ý nghĩa rất quan trọng về cả kinh tế, xã hội và cả môi trường
Liên kết giữa ngành công nghiệp chế biến với ngành sản xuất nông, lâm, thủy sản trên từng vùng lãnh thổ.Mô hình này sẽ đảm bảo cho các nhà máy chế biến chủ động về nguồn nguyên liệu, từ đó chủ động trong sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, giá thành hạ, tạo vị thế cạnh tranh.Đây là cơ sở để ngành công nghiệp chế biến và ngành sản xuất nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản có thể phát triển một cách bền vững, lâu dài
Lựa chọn cơ cấu công nghiệp theo hướng phát triển các mô hình liên kết là xu hướng tất yếu, phù hợp với tiềm năng và lợi thế về tài nguyên, về nguồn nguyên liệu do các ngành sản xuất nông, lâm, thủy sản sản xuất ra
và phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế Đây là quá trình chuyển dần từ các ngành công nghiệp dựa vào lợi thế về vốn, khoa học và công nghệ
Trang 27Cơ cấu công nghiệp theo vùng
Phát triển công nghiệp theo vùng là nhằm khắc phục tình trạng phân
bổ công nghiệp mất cân đối giữa các vùng, địa phương Sự phát triển công nghiệp không cân đối giữa các vùng làm hạn chế trong khai thác tiềm năng, lợi thế của vùng mà còn gây mất cân đối thu nhập giữa các vùng, gia tăng khoảng cách giàu nghèo, gây áp lực lên hệ thống cơ sở hạ tầng kinh
tế, xã hội Vì vậy, chính sách phát triển công nghiệp theo vùng là nhằm thúc đẩy sự phát triển công nghiệp một cách cân đối, hài hòa trên cơ sở phát huy được tất cả các tiềm năng, lợi thế của vùng
Cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế
Để phát triển công nghiệp theo hướng đã lựa chọn, nhất là các ngành công nghiệp được ưu tiên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát triển công nghiệp cân đối trên các vùng lãnh thổ cần có các chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển công nghiệp
Cần đối xử bình đẳng mọi thành phần kinh tế đầu tư vào phát triển công nghiệp theo định hướng và quy hoạch, nghĩa là không có sự phân biệt đối xử trong chính sách ưu đãi
Nhà nước cần xác định cụ thể trong chiến lược phát triển công nghiệp lĩnh vực nào cần đầu tư, lĩnh vực nào thì khuyến khích các thành phần xã hội khác tham gia đầu tư
Đối với ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ cao, hiện đại cần có cơ chế khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo các hình thức đầu tư trực tiếp, liên doanh với các doanh nghiệp trong nước Các hình thức liên doanh với nước ngoài trong phát triển công nghiệp cần có chiến lược và quy hoạch cụ thể để tăng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm chế tạo Bên cạnh đó, cũng cần tăng cường quan hệ liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo các ngành công nghiệp phát triển một cách bền vững
Trang 28Mục tiêu của việc khuyến khích các thành phần kinh tế trong phát triển công nghiệp là nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển công nghiệp theo định hướng đã lựa chọn, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường
1.2.3 Hoàn thiện các hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp
Tổ chức sản xuất công nghiệp trên vùng, lãnh thổ là sự sắp xếp, phối hợp giữa các quá trình và cơ sở sản xuất công nghiệp trên một lãnh thổ nhất định để sử dụng hợp lý các nguồn lực có sẵn nhằm đạt hiệu quả cao
về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Các hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp trên vùng, lãnh thổ phổ biến ở nước ta hiện nay bao gồm khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế
Khu công nghiệp: là khu dành cho phát triển công nghiệp theo một
quy hoạch cụ thể nào đó nhằm đảm bảo được sự hài hòa và cân bằng tương đối giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường Khu công nghiệp thường được Chính phủ cấp trên cấp phép đầu tư với hệ thống hạ tầng kỹ thuật
Những khu công nghiệp có quy mô nhỏ thường được gọi là cụm công nghiệp
Khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp
kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu, triển khai khoa học – công nghệ, đào tạo và phát triển các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa lý xác định, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập
Khu chế xuất: Là khu công nghiệp đặc biệt chỉ dành cho việc sản
xuất, chế biến những sản phẩm để xuất khẩu ra nước ngoài hoặc dành cho các loại doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ liên quan đến hoạt động xuất-nhập khẩu tại khu vực đó với các ưu đãi về mức thuế xuất-nhập
Trang 29khẩu hay các ưu đãi về giá cả thuê mướn mặt bằng sản xuất, thuế thu nhập cũng như cắt giảm tối thiểu các thủ tục hành chính
Khu chế xuất có vị trí, ranh giới được xác định từ trước, có các cơ sở
hạ tầng như điện, nước, đường giao thông nội khu sẵn có và không có dân
cư sinh sống Điều hành và quản lý hoạt động chung của khu chế xuất thường do một Ban quản lý khu chế xuất điều hành
Ở nhiều khía cạnh, các khu chế xuất gần giống như các khu kinh tế
mở, do đều là các ưu đãi nhất định nhằm mục tiêu phát triển kinh tế của quốc gia Tuy nhiên, chúng không hoàn toàn giống nhau Khu chế xuất nhằm mục tiêu chính là xuất khẩu, trong khi khu kinh tế mở không những nhằm mục tiêu xuất khẩu mà còn tạo ra các điều kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp với định hướng vào thị trường nội địa Nói chúng, các khu kinh tế mở thường hay được lập ra tại các khu vực ít thuận lợi nhất nhằm
mở mang, phát triển kinh tế tại khu vực đó, còn các khu chế xuất thường nằm tại các khu vực thuận lợi cho xuất-nhập khẩu
Khu kinh tế làkhu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi
trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định
Khu kinh tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu
du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng khu kinh tế
Khu kinh tế cửa khẩu là khu kinh tế hình thành ở khu vực biên giới đất liền có cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính
Mỗi loại hình tổ chức sản xuất đều có những ưu, nhược điểm riêng Nhưng nhìn chung, chúng đều nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh
Trang 30thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
Một số chỉ tiêu đánh giá phát triển khu công nghiệp (KCN):
- Vị trí địa lý của khu công nghiệp
Lợi thế về bố trí địa lý của KCN là tiền đề giúp cho các doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh tế theo vị trí Các điều kiện thuận lợi về cơ
sở hạ tầng kỹ thuật, gần các trục đường giao thông, bến cảng, nhà ga, sân bay, sự hấp dẫn về thị trường các yếu tố đầu vào (nguyên vật liệu, nguồn nhân lực) và thị trường tiêu thụ sản phẩm, có ảnh hướng quan trọng đến
sự lựa chọn đầu tư của các doanh nghiệp
- Diện tích đất và tỉ lệ lấp đầy KCN
Tiêu chí này được xem xét căn cứ vào mục tiêu qui hoạch và điều kiện hoạt động của KCN (vị trí địa lý, yêu cầu của các ngành công nghiệp, khả năng phát triển và các điều kiện về giao thông vận tải, nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ (nội địa, xuất khẩu) Mức độ sử dụng đất KCN
đo bằng tỉ lệ diện tích KCN đã cho các doanh nghiệp thuê so với tổng diện tích KCN
- Tổng số vốn đăng ký, vốn đầu tư thực hiện
Tổng số vốn đăng ký và tỉ lệ vốn đầu tư thực hiện trong tổng số vốn đăng ký của các doanh nghiệp FDI và trong nước vào KCN; vốn đầu tư bình quân của một dự án và vốn đầu tư bình quân trên một ha đất
- Kết quả và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN
Các chỉ tiêu cụ thể: tổng doanh thu; tổng giá trị gia tăng; tỷ lệ giá trị gia tăng so với tổng doanh thu; kim ngạch xuất khẩu và tỉ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước; thu nhập bình quân tính trên 1 đơn vị lao động, trên 1ha
Trang 31- Trình độ công nghệ và ứng dụng công nghệ trong các doanh nghiệp của KCN
Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp trong nước trong KCN
Trình độ công nghệ của từng ngành, nhóm ngành mà các doanh nghiệp FDI trong KCN tham gia hoạt động (lạc hậu, trung bình, tiên tiến)
Kỹ năng, năng lực sử dụng công nghệ của các doanh nghiệp trong KCN Thông tin về công nghệ (tài liệu hướng dẫn sử dụng, các bí quyết công nghệ)
Năng lực quản lý điều hành, tổ chức trong hoạt động công nghệ Xuất xứ của công nghệ (năm và nước sản xuất)
Qui mô và tỉ lệ chi phí cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) trong doanh thu theo ngành của các các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp trong nước
Để các KCN, KCX, KKT ngày càng chứng tỏ được vai trò đầu tầu trong phát triển kinh tế, là động lực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ, hỗ trợ tích cực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại các địa phương, nhất là nơi mà điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn
- Xây dựng và triển khai phải tuân thủ quy hoạch đã được phê duyệt
Quy hoạch phát triển các KCN, KCX của cả nước nói chung và dải ven biển miền Trung nói riêng sau khi được phê duyệt sẽ là căn cứ để các
cơ quan, tổ chức và các địa phương sử dụng trong quá trình rà soát, điều chỉnh quy hoạch các vùngvà các địa phương Do đó, nâng cao chất lượng quy hoạch mạng lưới các KCN, KCX được xem là nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu
Trang 32Quy hoạch các KCN phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh
tế-xã hội của địa phương, của vùng và cả nước và theo hướng mở rộng lĩnh vực đầu tư, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ, gắn quy hoạch ngành và quy hoạch địa phương với quy hoạch vùng Trong qui hoạch KCN cần chú trọng đến phương án bố trí các ngành công nghiệp, các nhóm sản phẩm chủ yếu, phù hợp với đặc điểm khu dân cư, các nguồn lực (đất đai, vốn, nhân lực) và yêu cầu về bảo vệ môi trường Bố trí công nghiệp cần theo hướng tập trung, hạn chế tối đa việc bố trí công nghiệp phân tán xen lẫn khu dân cư và ở ngoài các KCN
Nghiên cứu vận dụng các mô hình cụm công nghiệp (industrial cluster) trong bố trí mạng lưới công nghiệp, nhằm tối ưu hóa hệ thống hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới cung ứng các dịch vụ đầu vào, sản xuất và phân phối sản phẩm; tạo ra một không gian phân bố công nghiệp hợp lý, kích thích công nghiệp phát triển, nhưng vẫn hài hòa được các lợi ích về môi trường Hoàn thiện mô hình tổ chức KCN theo hướng chuyển từ KCN
đa ngành đa lĩnh vực nhằm khai thác lợi thế về tài nguyên, lao động sang KCN sản xuất, chế biến và dịch vụ với trình độ tập trung, chuyên môn hoá cao, gắn kết chặt chẽ trong chuỗi giá trị của từng ngành công nghiệp
Thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ KCN theo hướng phát triển các ngành công nghệ sạch Chuyển từ KCN sản xuất sản phẩm sử dụng nhiều lao động, tài nguyên sang KCN sử dụng nhiều vốn và công nghệ kỹ thuật cao; chuyển từ KCN gồm các ngành sản xuất gây ô nhiễm môi trường sang các ngành công nghiệp sạch, tiết kiệm năng lượng; chuyển từ KCN sản xuất sang KCN kết hợp sản xuất với nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao Thực hiện liên kết kinh tế mở: liên kết trong nội bộ KCN, liên kết giữa cácKCN trong cùng một khu vực, liên kết giữa các doanh nghiệp KCN với các doanh nghiệp ngoài KCN
Trang 33Xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và xã hội Tập trung phát triển kết cấu hạ tầng với các nội dung chủ yếu: hiện đại hóa hệ thống cung cấp điện, nước, thông tin, dịch vụ hải quan, giao thông; xử lý chất thải, nước thải; nhà ở và các công trình dịch vụ, văn hóa, xã hội; phát triển đồng bộ
hệ thống hạ tầng không những để đáp ứng nhu cầu phục vụ hiện tại và tính đến khả năng phục vụ lâu dài trong tương lai
Cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN nhằm thu hút đầu tư của các doanh nghiệp công nghiệp, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô để tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh, tạo điều kiện để các địa phương giải quyết vấn đề ô nhiễm, bảo vệ môi trường đô thị Tăng cường công tác vận động xúc tiến đầu tư vào KCN,quảng bá quy hoạch phát triển các KCN; tổ chức các hội thảo, hội chợ, triển lãm ở trong và ngoài nước theo chuyên đề để hấp dẫn các nhà đầu tư
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
1.3.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Vị trí địa lý bao gồm vị trí tự nhiên, vị trí kinh tế, giao thông, chính trị
Vị trí địa lý tác động rất lớn tới việc lựa chọn địa điểm xây dựng xí nghiệp cũng như phân bố các ngành công nghiệp và các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nhìn chung, vị trí địa lý có ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành cơ cấu ngành công nghiệp và xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành trong điều kiện tăng cường mở rộng các mối quan hệ kinh tế quốc tế và hội nhập vào đời sống kinh tế khu vực và thế giới
Sự hình thành và phát triển của các xí nghiệp, các ngành công
Trang 34nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào vị trí địa lý Có thể thấy rõ hầu hết các cơ
sở công nghiệp ở các quốc gia trên thế giới đều được bố trí ở những khu vực có vị trí thuận lợi như gần các trục đường giao thông huyết mạch, gần sân bay, bến cảng, gần nguồn nước, khu vực tập trung đông dân cư
Vị trí địa lý thuận lợi hay không thuận lợi tác động mạnh tới việc tổ chức lãnh thổ công nghiệp, bố trí không gian các khu vực tập trung công nghiệp Vị trí địa lý càng thuận lợi thì mức độ tập trung công nghiệp càng cao, các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp càng đa dạng và phức tạp.Ngược lại, những khu vực có vị trí địa lý kém thuận lợi sẽ gây trở ngại cho việc xây dựng và phát triển công nghiệp cũng như việc kêu gọi vốn đầu tư ở trong và ngoài nước
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên được coi là tiền đề vật
chất không thể thiếu được để phát triển và phân bố công nghiệp Nó ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành và xác định cơ cấu ngành công nghiệp Một số ngành công nghiệp như khai khoáng, luyện kim, vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến nông – lâm - thuỷ hải sản phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên, số lượng, chất lượng, phân bố và sự kết hợp của chúng trên lãnh thổ có ảnh hưởng rõ rệt đến tình hình phát triển và phân bố của nhiều ngành công nghiệp
Tuy nhiên, đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung, đối với phát triển công nghiệp nói riêng, tài nguyên thiên nhiên là điều kiện cần nhưng chưa đủ Vì tài nguyên thiên nhiên là nguồn lực có hạn, nếu chỉ biết khai thác thì dần trở nên cạn kiệt một cách nhanh chóng Tài nguyên thiên nhiên chỉ trở thành một sức mạnh kinh tế khi con người biết khai thác
và sử dụng nó một cách hiệu quả Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc,.v.v là những nước có ít tài nguyên nhưng lại là
Trang 35những nước có nền công nghiệp phát triển mạnh nhờ biết cách tận dụng các lợi thế và tiềm năng của mình Trong khi, đa phần các nước đang phát triển ở giai đoạn đầu thường quan tâm nhiều đến xuất khẩu sản phẩm thô,
đó là những sản phẩm được khai thác trực tiếp từ nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước, chưa qua chế biến hoặc ở dạng sơ chế Tuy điều này đem lại sự gia tăng thu nhập ban đầu cho quốc gia, nhưng đây không phải
là con đường để phát triển bền vững trong dài hạn
Khoáng sản: Đối với những ngành công nghiệp chủ chốt thì khoáng
sản là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa hàng đầu đối với việc phát triển và phân bố công nghiệp Khoáng sản được coi là
“bánh mì” cho các ngành công nghiệp, số lượng, chủng loại, trữ lượng, chất lượng khoáng sản và sự kết hợp các loại khoáng sản trên lãnh thổ sẽ chi phối qui mô, cơ cấu và tổ chức các xí nghiệp công nghiệp
Các nhân tố tự nhiên khác cũng có tác động tới sự phát triển và phân bố công nghiệp như đất đai, tài nguyên sinh vật biển:
Về mặt tự nhiên, đấtít có giátrị đối với công nghiệp, đây chỉ là nơi
để xây dựng các xí nghiệp công nghiệp, các khu vực tập trung công nghiệp.Quỹ đất dành cho công nghiệp và các điều kiện về địa chất công trình ít nhiều có ảnh hưởng tới qui mô hoạt động và vốn kiến thiết cơ bản
Tài nguyên sinh vật và tài nguyên biển cũng có tác động tới sản xuất công nghiệp Rừng và hoạt động lâm nghiệp là cơ sở cung cấp vật liệu xây dựng (gỗ, tre, nứa ), nguyên liệu cho các ngành công nghiệp giấy, chế biến gỗ và các ngành tiểu thủ công nghiệp (tre, song, mây, giang, trúc ), dược liệu cho công nghiệp dược phẩm
Sự phong phú của nguồn thuỷ, hải sản với nhiều loại động, thực vật
Trang 36dưới nước có giá trị kinh tế là cơ sở để phát triển ngành công nghiệp chế biến thuỷ hải sản
Ngoài các dạng tài nguyên biển khác như dầu mỏ, khí đốt, v.v được con người biết đến và khai thác từ lâu, thì cùng với sự tiến bộ của khoa học thăm dò, khai thác con người ngày càng phát hiện nhiều hơn các loại khoáng sản, năng lượng từ đại dương như năng lượng sóng, năng lượng thuỷ triều để tạo ra điện, hay các dạng kim loại quý nằm dưới đáy biến là
cơ hội, tiềm năng để phát triển các ngành công nghiệp mới trong tương lai
Khí hậu: cũng có ảnh hưởng nhất định đến sự phân bố công nghiệp
Đặc điểm của khí hậu và thời tiết tác động không nhỏ đến hoạt động của các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp khai khoáng Trong một số trường hợp, nó chi phối cả việc lựa chọn kỹ thuật và công nghệ sản xuất Chẳng hạn, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa làm cho máy móc dễ bị hư hỏng Điều đó đòi hỏi lại phải nhiệt đới hoá trang thiết bị sản xuất Ngoài ra, khí hậu đa dạng và phức tạp làm xuất hiện những tập đoàn cây trồng vật nuôi đặc thù Đó là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp chế biến lương thực- thực phẩm
1.3.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội
Những đặc điểm kinh tế xã hội đặc trưng của từng địa phương, quốc gia có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển công nghiệp Với những điều kiện đặc thù về xuất phát điểm của nền kinh tế, đời sống, phong tục tập quán văn hoá của nhân dân địa phương sẽ tác động đến việc lựa chọn con đường phát triển công nghiệp phù hợp với những đặc trưng đó
Đặc điểm dân cư và nguồn lao động: Dân cư và nguồn lao động là
nhân tố quan trọng hàng đầu cho sự phát triển và phân bố công nghiệp, được xem xét dưới hai góc độ sản xuất và tiêu thụ
Trang 37Nơi nào có nguồn lao động dồi dào thì ở đó có khả năng để phân bố
và phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như dệt- may, giày- da, công nghiệp thực phẩm Những nơi có đội ngũ lao động kỹ thuật cao và đông đảo công nhân lành nghề thường gắn với các ngành công nghiệp hiện đại, đòi hỏi hàm lượng công nghệ và chất xám cao trong sản phẩm như kỹ thuật điện, điện tử- tin học, cơ khí chính xác Nguồn lao động với trình độ chuyên môn kỹ thuật và khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật mới là cơ sở quan trọng để phát triển các ngành công nghệ cao và nâng cao hiệu quả sản xuất trong các ngành công nghiệp khác
Ngoài ra, ở những địa phương có truyền thống về tiểu thủ công nghiệp với sự hiện diện của nhiều nghệ nhân thì sự phát triển ngành nghề này không chỉ thu hút lao động, mà còn tạo ra nhiều sản phẩm độc đáo, mang bản sắc dân tộc, được ưa chuộng trên thị trường trong và ngoài nước Nếu biết đầu tư, khai thác, phát huy những yếu tố này sẽ mở ra một cơ hội mới trong phát triển công nghiệp, vừa đáp ứng nhu cầu trong nước vừa mang lại giá trị xuất khẩu cao
Quy mô, cơ cấu và thu nhập của dân cư có ảnh hưởng lớn đến quy
mô và cơ cấu của nhu cầu tiêu dùng Đó cũng là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp, nhất là các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
để đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển của dân cư Bên cạnh đó, phong tục tập quán, lịch sử truyền thống cũng ảnh hưởng rất lớn đến phát triển công nghiệp mỗi quốc gia nói chung và từng địa phương nói riêng Khi tập quán và nhu cầu tiêu dùng thay đổi sẽ làm biến đổi về quy mô và hướng chuyên môn hoá của các ngành và xí nghiệp công nghiệp Từ đó dẫn đến
sự mở rộng hay thu hẹp của không gian công nghiệp cũng như cơ cấu ngành của nó
Trang 38Phân tích nhân tố này, đòi hỏi mỗi quốc gia cũng như địa phương phải biết tận dụng những lợi thế trong việc lựa chọn những ngành công nghiệp cần ưu tiên phát triển, mặt khác cần có sự kết hợp các ngành có lợi thế về mặt xã hội với các ngành đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn và hàm lượng khoa học công nghệ cao
1.3.3 Các yếu tố về nguồn lực
- Vốn sản xuất và vốn đầu tư
Vai trò của vốn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế đã được chứng minh trong lý thuyết của kinh tế học phát triển như: mô hình Harrod-Domar, J.Keynes Đối với sản xuất công nghiệp, vốn có vai trò quan trọng trong quá trình tái sản xuất và mở rộng; góp phần gia tăng năng lực sản xuất và nâng cao khả năng cạnh tranh nhờ đầu tư đổi thiết bị, công nghệ sản xuất Đối với cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển công nghiệp, vốn góp phần đầu tư mới, duy trì và mở rộng theo hướng ngày càng hoàn thiện, đồng bộ, hiện đại
Trong các hoạt động đầu tư cho sản xuất thì đầu tư cho tái sản xuất tài sản sản cố định được xem là một hoạt động hết sức quan trọng, có tính chất lâu dài và có những mối quan hệ ổn định, ảnh hưởng đến tất cả các ngành, các khâu và các yếu tố trong nền kinh tế Do đó, đầu tư vào tài sản
cố định cần phải được xem xét một cách thận trọng, đảm bảo khả năng phát triển lâu dài của doanh nghiệp Đây là những khoản đầu tư ban đầu rất lớn, thời gian thu hút vốn chậm nên rất cần huy động các nguồn lực từ bên ngoài tham gia đầu tư phát triển; cũng như cần có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ của nhà nước cho các doanh nghiệp trong hoạt động này
Đối với công nghiệp, nguồn vốn FDI có vai trò hết sức quan trọng thể hiện ở những tác dụng sau:
Trang 39Giải quyết tình trạng thiếu vốn cho phát triển kinh tế nhất là trong lĩnh vực phát triển công nghiệp Do tích luỹ nội bộ của đa phần các nước đang phát triển thấp, là cản trở lớn cho sự phát triển nên đây được xem là yếu tố quan trọng để gia tăng nguồn lực cho phát triến
Cùng với việc cung cấp vốn, thông qua FDI các công ty nước ngoài chuyển giao công nghệ từ nước này sang nước khác, từ đó giảm dần khoảng cách về khoa học công nghệ giữa các nước, nhất là trong công nghiệp là ngành đòi hỏi yếu tố về khoa học công nghệ tiên tiến hiện đại trong quá trình sản xuất cao hơn nhiều so với các ngành khác trong xã hội
Đầu tư FDI còn làm cho các hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh trong nước phát triển, thúc đẩy tính năng động và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, tạo điều kiện khai thác có hiệu quả các tiềm năng của đất nước Từ đó, có tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực
- Tiến bộ khoa học- công nghệ
Tiến bộ khoa học- công nghệ không chỉ tạo ra những khả năng mới
về sản xuất, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành, làm tăng tỉ trọng của chúng trong tổng thể toàn ngành công nghiệp, làm cho việc khai thác,
sử dụng tài nguyên và phân bố các ngành công nghiệp trở nên hợp lý, có hiệu quả và kéo theo những thay đổi về quy luật phân bố sản xuất, mà còn làm nảy sinh những nhu cầu mới, đòi hỏi xuất hiện một số ngành công nghiệp với công nghệ tiên tiến và mở ra triển vọng phát triển của công nghiệp trong tương lai
Nhân tố khoa học công nghệ còn ảnh hưởng quyết định đến nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh Nhờ các tiến bộ của khoa học công nghệ các dây chuyền, thiết bị trong khai thác, sản xuất công nghiệp ngày càng trở nên tiến tiến, hiện đại; từ đó tăng khả năng khai
Trang 40thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho sản xuất, tiết kiệm được chi phí trong sản xuất, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, ứng dụng và đổi mới công nghệ giúp tạo ra những sản phẩm có ưu thế vượt trội, có hàm lượng khoa học công nghệ cao, đa tính năng, chủng loại và mẫu mã, nâng cao khả năng chiếm lĩnh thị trường, do đó mở rộng được thị trường tiêu thụ
Công nghệ và đổi mới công nghệ trong công nghiệp còn góp phần giải quyết nhiệm vụ bảo vệ môi trường, cải thiện điều kiện làm việc, giảm lao động nặng nhọc độc hại, biến đổi cơ cấu lao động theo hướng: nâng cao tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn cao, lao động kỹ thuật có tay nghề giỏi, giảm dần lao động phổ thông và lao động giản đơn
Tiến bộ khoa học công nghệ thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội Ở mỗi trình độ công nghệ có những hình thức và mức độ phân công lao động thích ứng Đồng thời sự phân công lao động xã hội hợp lý làmôi trường thuậnlợi để thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ phát triển Phân công lại lao động là tác nhân trực tiếp của sự hình thành công nghiệp và sự phân hoá nội bộ công nghiệp thành những phân hệ khác nhau Bởi vậy, trình độ tiến bộ của khoa học công nghệ càng cao, phân công lao động xã hội càng sâu sắc, sự phân hoá công nghiệp diễn ra càng mạnh và
cơ cấu công nghiệp càng phứctạp
Tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra những nhu cầu mới Chính những nhu cầu này là tác nhân dẫn đến sự ra đời và phát triển một số ngành công nghiệp mới đại diện cho công nghiệp trình độ cao Những ngành này được xem là những ngành công nghiệp non trẻ, nhưng tương lai sẽ trở thành những ngành công nghiệp chủ chốt của đất nước
Tiến bộ khoa học công nghệ còn làm hạn chế ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, cho phép phát triển công nghiệp ngay cả khi điều kiện tự