1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội facebook của sinh viên trường đại học quảng nam

144 283 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Tác Động Của Nhân Cách Đến Việc Sử Dụng Mạng Xã Hội Facebook Của Sinh Viên Trường Đại Học Quảng Nam
Tác giả Hồ Tấn Đạt
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Phúc Nguyên
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng hợp các nhân tố và hướng tác động của nhân cách trong mô hình FFM đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook 46 2.12.. Các nghiên cứu về tác động của nhân cách đên việc sử dụng mạng xã

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN PHÚC NGUYÊN

Đà Nẵng - Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Hồ Tấn Đạt

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Cấu trúc luận văn 3

6 Tổng quan tài liệu 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 11

1.1 ĐỊNH NGHĨA NHÂN CÁCH, CÁC LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN CÁCH VÀ MÔ HÌNH 5 NHÂN TỐ FFM 11

1.1.1 Định nghĩa nhân cách 11

1.1.2 Các lý thuyết nghiên cứu về nhân cách 12

1.1.3 So sánh các lý thuyết nhân cách 17

1.1.4 Đánh giá nhân cách 18

1.1.5 Mô hình 5 nhân tố FFM 25

1.2 MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK 28

1.3 MÔ HÌNH 5 NHÂN TỐ FFM VÀ VIỆC SỬ DỤNG FACEBOOK 29

1.4 GIỚI THIỆU VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM 31

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 33

2.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 33

2.1.1 Mô hình nghiên cứu 33

2.1.2 Giả thuyết nghiên cứu 52

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53

2.2.1 Nghiên cứu sơ bộ 53

Trang 5

2.2.2 Nghiên cứu chính thức 54

2.2.3 Quy trình nghiên cứu 55

2.2.4 Lựa chọn thang đo 56

2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 57

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 64

3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 64

3.1.1 Thống kê mẫu nghiên cứu 64

3.1.2 Kiểm tra độ tin cậy và phù hợp của thang đo 66

3.1.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 69

3.1.4 Phân tích hồi quy 79

3.1.5 Kiểm định các giả định của mô hình hồi quy 99

3.1.6 Phân tích kết quả và kiểm định giả thuyết nghiên cứu 103

3.2 BÀN LUẬN 107

3.2.1 Hạn chế và hướng nghiên cứu tương lai 108

3.2.2 Hàm ý 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH ĐIỀU CHỈNH TÊN ĐỀ TÀI (Bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số

2.1 Các nhân tố và hướng tác động của mô hình Ross và cộng sự 33 2.2 Các nhân tố và hướng tác động của mô hình Amichai và Vinitzky 35 2.3 Các nhân tố và hướng tác động mô hình Muscanell và Guadagno 36

2.4 Các nhân tố và hướng tác động của mô hình Hughes và cộng sự 37

2.5 Các nhân tố và hướng tác động của mô hình Ryan và Xenos 38

2.6 Các nhân tố và hướng tác động của mô hình Moore và cộng sự 39

2.7 Các nhân tố và hướng tác động của mô hình Jenkins và cộng sự 41

2.8 Các nhân tố và hướng tác động của mô hình Kuo và Tang 41

2.9 Các nhân tố và hướng tác động của mô hình Yen-chun và cộng sự 42 2.10 Các nhân tố và hướng tác động của mô hình Lonnquvist và GroBe 43

2.11 Tổng hợp các nhân tố và hướng tác động của nhân cách trong

mô hình FFM đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook 46

2.12 Tổng hợp các nhân tố và hướng tác động của các nhân cách

hẹp đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook 50 2.13 Hệ số tải nhân tố và kích thước mẫu 59

Trang 7

Số

3.2 Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn mẫu nghiên cứu 65

3.3 Độ tin cậy Cronbach Alpha của các thang đo nhân cách 67

3.4 Độ tin cậy Cronbach Alpha của thang đo tần suất sử dụng 68

3.5 Độ tin cậy Cronbach Alpha thang đo cập nhật thông tin 68

3.7 Kết quả phân tích nhân tố sau khi xoay 70

3.10 Model Summary với biến phụ thuộc là số lượng bạn bè 81 3.11 ANOVA với biến phụ thuộc là số lượng bạn bè 82 3.12 Coefficients với biến phụ thuộc là số lượng bạn bè 83 3.13 Model Summary với biến phụ thuộc là số nhóm tham gia 84 3.14 ANOVA với biến phụ thuộc là số nhóm tham gia 85 3.15 Coefficients với biến phụ thuộc là số lượng nhóm tham gia 85 3.16 Model Summary với biến phụ thuộc là tần suất sử dụng 87 3.17 ANOVA với biến phụ thuộc là tần suất sử dụng 87

Trang 8

Số

3.18 Coefficients với biến phụ thuộc là tần suất sử dụng 88 3.19 Model Summary với biến phụ thuộc là thời gian sử dụng 90 3.20 ANOVA với biến phụ thuộc là thời gian sử dụng 90 3.21 Coefficients với biến phụ thuộc là thời gian sử dụng 91 3.22 Model Summary với biến phụ thuộc là cập nhật thông tin 93 3.23 ANOVA với biến phụ thuộc là cập nhật thông tin 93 3.24 Coefficients với biến phụ thuộc là cập nhật thông tin 94

3.28 Tương quan Spearman giữa các biến độc lập phần dư 101 3.29 Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu 106

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

2.2 Mô hình của Amichai Hamburger và Vinitzky 34

2.7 Mô hình của Jenkins-Guarnieri và cộng sự 40

2.10 Mô hình của Lonnqvist và GroBe Deters 42

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trên thế giới, Facebook đang là mạng xã hội phổ biến nhất với khoảng 1.55 tỷ người sử dụng mỗi tháng (Facebook, 2015) Ở Việt Nam, theo thống kê

có khoảng 35 triệu người sử dụng Facebook mỗi tháng, chiếm khoảng 74% số người sử dụng Internet (Internet World Stats, 2015) Kết quả nghiên cứu của Đức và Thái (2014) về mạng xã hội nói chung tiến hành khảo sát trên sinh viên của 6 thành phố lớn cho thấy rằng 99% sinh viên sử dụng mạng xã hội, trong

số sử dụng mạng xã hội thì có đến 86.6% sử dụng Facebook Như vậy, có thể nói mạng xã hội Facebook đang trở nên rất phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đặc biệt là trong giới sinh viên

Với việc Facebook luôn là mạng xã hội chiếm ưu thế tuyệt đối về số người sử dụng trong những năm qua Cùng với đó, các hoạt động marketing thông qua mạng xã hội này ngày càng phổ biến và đã thể hiện được sự hiệu quả của nó Chính điều này đã tạo nên sự quan tâm rất lớn và tạo động lực cho các nhà nghiên cứu trên thế giới thực hiện các nghiên cứu giải thích về hiện tượng này

Các nhân tố thuộc tâm lý là các nhân tố được đa số các nhà nghiên cứu

sử dụng để nghiên cứu lý giải việc sử dụng mạng xã hội Facebook Trong các nhân tố đó, nhân tố nhân cách là nhân tố trọng tâm nhất Chẳng hạn, các nghiên cứu của Ross và cộng sự, 2009; Amichai Hamburger và Vinitzky, 2010; Ryan

và Xenos, 2011; Moore và cộng sự, 2012; Hughes và cộng sự, 2012; Muscanell

và Guadagno, 2012, Jenkins-Guarnieri và cộng sự, 2013; Nikolina và cộng sự, 2013; Gloria và Yoav, 2014; Eunsun và cộng sự, 2014; Kuo và Tang, 2014; Yen-Chun và cộng sự, 2015; Lonnqvist và GroBe Deters, 2016

Như đã được đề cập trong bài báo của An (2013), ở Việt Nam cho đến nay các nghiên cứu về vấn đề liên quan đến mạng xã hội Facebook vẫn chưa

Trang 11

dành được sự quan tâm nhiều Đến thời điểm tác giả luận văn thực hiện nghiên cứu này, qua việc tìm kiếm thông tin phục vụ nghiên cứu thì ở Việt Nam các nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook vẫn còn rất ít

Cụ thể chỉ có khoảng 2 nghiên cứu: đó là nghiên cứu của Đức và Thái, 2014 - nghiên cứu thống kê mô tả về việc sử dụng mạng xã hội nói chung của sinh viên ở 6 thành phố lớn và nghiên cứu của Nghĩa và Phước, 2014 - nghiên cứu mối quan hệ giữa việc sử dụng Facebook và vốn xã hội của một số nhóm thanh niên tại TP HCM Các nghiên cứu về tác động của nhân cách đên việc sử dụng mạng xã hội Facebook thì chưa có một nghiên cứu nào

Nhận thấy, nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội Facebook là hướng nghiên cứu hay và kết quả nghiên cứu mối quan hệ này có thể là nền tảng cho việc thiết lập các mô hình marketing hiệu quả thông qua mạng xã hội này nói riêng và cho mạng xã hội nói chung Bên cạnh đó, tác giả luận văn cũng nhận thấy rằng, mặc dù đã trải qua khoảng 8 năm kể từ nghiên cứu đầu tiên được tiến hành bởi Ross và cộng sự (2009) Các nghiên cứu theo hướng này vẫn còn khá non trẻ so với các hướng nghiên cứu khác Hay nói cách khác, các nghiên cứu theo hướng này đang trong giai đoạn khởi đầu của quá trình định hình các lý thuyết của mình Chính vì vậy, trong giai đoạn này rất cần có nhiều nghiên cứu được thực hiện ở các bối cảnh khác nhau để có thể tạo ra sự vững chắc cho lý thuyết

Với những lý do được nêu ra ở trên, tác giả thực hiện luận văn này muốn kiểm định kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới về tác động của nhân cách đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook ở bối cảnh nghiên cứu khác là Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả cũng mong muốn kết quả nghiên cứu của mình sẽ góp phần trong việc thiết lập các lý thuyết liên quan của hướng nghiên cứu hay và mới mẻ này Một tham vọng nữa của bài nghiên cứu này đó

là hy vọng sẽ tạo động lực giúp các nhà nghiên cứu ở Việt Nam dành sự quan

Trang 12

tâm hơn cho những nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook, mạng xã hội đang trở nên rất quen thuộc và tạo nên rất nhiều lợi ích cho người

sử dụng là cá nhân cũng như các tổ chức, doanh nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của luận văn này nhằm phân tích tác động của nhân cách theo mô hình 5 nhân tố nhân cách FFM1 đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nhân cách của người sử dụng mạng xã hội Facebook

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu đối với sinh viên trường đại học Quảng

Nam, được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2016

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương chính:

- Chương 1: Cơ sở lý luận

- Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Trang 13

6 Tổng quan tài liệu

Để cung cấp một cái nhìn tổng thể về vấn đề được nghiên cứu, tác giả luận văn sẽ trình bày tóm tắt một số nghiên cứu tiếu biểu có liên quan đến vấn

đề tác động của nhân cách đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook

Tài liệu 1: Nghiên cứu của Ross và cộng sự (2009)

Nghiên cứu này ngoài việc nghiên cứu về tác động của nhân cách đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook, các tác giả còn thêm vào mô hình yếu tố động lực giao tiếp

Ross và cộng sự đã sử dụng mô hình 5 nhân tố nhân cách FFM để nghiên cứu về nhân cách Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã phát triển bản câu hỏi 28 item để đo lường việc sử dụng mạng xã hội Facebook với nội dung liên quan đến việc sử dụng cơ bản của Facebook, thái độ liên quan và việc đăng tải thông tin cá nhân khi sử dụng mạng xã hội này

Kết quả

Những người có nhân cách cởi mở2 cao sẽ có tần suất sử dụng Facebook cao hơn Bên cạnh đó, những người có nhân cách hướng ngoại3 cao sẽ tham gia vào nhiều nhóm trên Facebook hơn Nhân cách nhiễu tâm4 có mối quan hệ thuận chiều với sự ưa thích sử dụng tính năng tường Trong khi đó, nhân cách này lại có tác động ngược chiều đối với sở thích đăng ảnh Yếu tố động lực giao tiếp cho thấy tác động thuận chiều đối với thời gian sử dụng Facebook

Tài liệu 2: Nghiên cứu của Amichai Hamburger và Vinitzky (2010)

Nghiên cứu này nghiên cứu tác động của nhân cách đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook Mẫu nghiên cứu là 237 sinh viên của trường đại học Israel Cũng như các nghiên cứu đi trước, mô hình 5 nhân tố nhân cách FFM

2 Openness: Nhân cách này được giải thích ở trang 26

Trang 14

được sử dụng Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng bản câu hỏi 28 item về việc

sử dụng Facebook của Ross và cộng sự (2009)

Kết quả

Những người có nhân cách hướng ngoại cao sẽ có nhiều bạn bè hơn, ít

đăng tải thông tin cá nhân hơn Những người có nhân cách cởi mở cao sẽ

sử dụng nhiều tính năng của mạng xã hội Facebook hơn Tuy nhiên, trái với kết quả được Ross và cộng sự (2009) đưa ra, nghiên cứu này cho rằng nhân

cách nhiễu tâm có tác động thuận chiều đến sở thích đăng ảnh Bên cạnh đó,

Amichai Amichai Hamburger và Vinitzky cho thấy những người có nhân cách

dễ chấp nhận5 cao sẽ sử dụng ít tính năng của Facebook hơn Trong khi đó,

những người có ý chí phấn đấu6 cao sẽ có nhiều bạn bè hơn và ít thích đăng ảnh

hơn

Tài liệu 3: Nghiên cứu của Hughes và cộng sự (2012)

Mô hình nghiên cứu của Hughes và cộng sự thể hiện tác động của nhân

cách đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook Tuy nhiên các tác giả thêm vào

mô hình nghiên cứu những nhân cách hẹp (Quảng giao7, Nhu cầu hiểu biết8)

bên cạnh 5 nhân tố nhân cách FFM Mẫu nghiên cứu được tiến hành trên 300

người có độ tuổi từ 18 đến 63 tuổi Trong đó, 70% từ Châu Âu, 18% từ Bắc

Mỹ, 9% từ Châu Á và 3% từ các Châu lục khác Cơ cấu nghề nghiệp của mẫu

gồm 55% là số người đã đi làm, 41% là sinh viên và 4% là người thất nghiệp

5 Agreeableness: Nhân cách được giải thích ở trang 27

6 Conscientiousness: Nhân cách này được giải thích ở trang 27

7 Sociabilty: Nhân cách này thể hiện sự ưa thích chuyện trò với người xung quanh, tương tác xã hội và muốn

Trang 15

Về việc sử dụng mạng xã hội Facebook, các tác giả tiếp cận theo mục đích sử dụng Theo đó, việc sử dụng mạng xã hội này sẽ được chia ra thành hai mục đích sử dụng: mục đích cập nhật thông tin9 và mục đích giao tiếp xã hội10

Kết quả

Nhân cách hướng ngoại, cởi mở, nhiễu tâm, quảng giao tác động thuận chiều đến mục đích sử dụng mạng xã hội Facebook để cập nhật thông tin Trong khi đó nhân cách có ý chí phấn đấu tác động ngược chiều

Về mục đích sử dụng Facebook cho giao tiếp xã hội, kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có nhân cách quảng giao tác động thuận chiều

Tài liệu 4: Nghiên cứu của Moore và cộng sự (2012)

Nghiên cứu của Moore và cộng sự nghiên cứu về tác động của nhân cách đối với việc sử dụng mạng xã hội Facebook và sự hối tiếc11 của người sử dụng mạng xã hội này sau khi đăng tải những nội dung không phù hợp Mẫu nghiên cứu gồm 219 sinh viên ở trường đại học Midwestern

Cũng phù hợp với các nghiên cứu trước, Moore và cộng sự cũng sử dụng

mô hình 5 nhân tố nhân cách FFM để đo lường nhân cách

Đối với việc sử dụng mạng xã hội Facebook, các tác giả sử dụng các item liên quan đến tần suất sử dụng được phát triển bởi Ross và cộng sự (2009) Về thời gian sử dụng Facebook, Moore và cộng sự sử dụng thang đo 1 item do chính các tác giả tạo ra với việc hỏi trung bình thời gian sử dụng Facebook trên

1 ngày Các câu trả lời sử dụng thang đo Likert 5 mức độ từ ít hơn ½ giờ tới trên 2h Khoảng cách giữa các mức độ là ½ giờ Ngoài ra, những người tham gia được yêu cầu để được cho biết số bạn bè và cho phép người nghiên cứu

thông tin, để theo kịp thời đại, và như là công cụ chính để cập nhật thông tin

10 Facebook social: Nhân tố này gồm các item liên quan đến sử dụng Facebook để giữ liên lạc với bạn bè, sử dụng Facebook vì bạn bè sử dụng và sử dụng mạng xã hội này như là công cụ chính cho các hoạt động mang tính xã hội của bản thân

Trang 16

đăng nhập vào tài khoản Facebook của mình để kiểm tra các nội dung về bài đăng của họ

Đối với sự hối tiếc các tác giả hỏi người tham gia về tần suất họ cảm thấy hối tiếc vì đăng những nội dung không phù hợp, chẳng hạn như không muốn sếp của mình thấy, không muốn cha mẹ mình thấy Các câu trả lời có 4 mức độ

từ không bao giờ đến thường xuyên

Kết quả

Nhân cách hướng ngoại tác động thuận chiều đối với số lượng bạn bè và ngược chiều với tần suất sử dụng Facebook và sự hối tiếc khi đăng những nội dung không phù hợp Trong khi đó, nhân cách nhiễu tâm tác động thuận chiềuyg với thời gian sử dụng và ngược chiều đối với tần suất sử dụng và sự hối tiếc Nhân cách dễ chấp nhận các tác động thuận chiều đến sự hối tiếc và ngược chiều đối với số lượng bài đăng trên tường có nội dung về chính họ Nhân cách

có ý chí phấn đấu tác động thuận chiều đối với sự hối tiếc về những nội dung

đã đăng không phù hợp và ngược chiều đối với số lượng bài đăng trên tường

có nội dung về chính họ cũng như về những người khác

Tài liệu 5: Nghiên cứu của Jenkins - Guarnieri và cộng sự (2013) Nghiên cứu của Jenkins-Guarnieri và cộng sự nghiên cứu mối quan hệ giữa sự gắn bó, khả năng tương tác giữa các cá nhân với nhau, nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội Facebook Mẫu nghiên cứu gồm 617 thanh niên độ tuổi từ 18 đến 22

Thang đo được phát triển bởi Ross và cộng sự (2009) được các tác giả

sử dụng để đo lường việc sử dụng mạng xã hội Facebook gồm các item liên quan đến số lượng bạn bè, thái độ sử dụng Cũng phù hợp với các nghiên cứu

đi trước, nghiên cứu này cũng sử dụng mô hình 5 nhân tố FFM được sử dụng

để đo lường nhân cách Thang đo The Experiences in Close Relationships - Revised hay còn gọi là thang đo ECR-R của Fraley, Waller và Brennan (2000)

Trang 17

được sử dụng để đo lường sự gắn bó Cuối cùng, thang đo The Interpersonal Compentence Scale hay còn gọi là thang đo ICS của Buhrmester, Furrman, Wittenberg và Reis (1988) được sử dụng để đo lường khả năng tương tác giữa các cá nhân với nhau

Kết quả

Nhân cách hướng ngoại sẽ tác động thuận chiều trực tiếp tới việc sử dụng mạng xã hội Facebnok Hay cụ thể hơn, nhân cách hướng ngoại sẽ tác động thuận chiều trực tiếp đến số lượng bàn bè và thái độ sử dụng Sự gắn bó tác động trực tiếp và thuận chiều tới nhân cách nhiễu tâm, trực tiếp và người chiều tới nhân cách hướng ngoại, trực tiếp và ngược chiều đến khả năng tương tác giữa các cá nhân với nhau

Tài liệu 6: Nghiên cứu của Kuo và Tang (2014)

Nghiên cứu của Kuo và Tang nghiên cứu mối quan hệ giữa nhân cách, việc sử dụng mạng xã hội Facebook và các hoạt động giải trí của sinh viên ở trường đại học Đài Loan Mẫu nghiên cứu gồm 500 sinh viên

Đối với việc sử dụng mạng xã hội Facebook, Kuo và Tang cũng sử dụng thang đo được phát triển bởi Ross và cộng sự (2009) gồm các item liên quan đến số lượng bạn bè, thời gian sử dụng, số lượng ảnh đã đăng Mô hình 5 nhân

tố FFM vẫn là mô hình được các tác giả sử dụng để đo lường nhân cách Cuối cùng, thang đo cho các hoạt động giải trí các tác giả kết hợp các thang đo Furnham (1981), Hill và Argyle (1998), Jopp và Hertzog (2010), Lu và Hu (2005) và Bureau (2012)

Kết quả

Nhân cách hướng ngoại, cởi mở tác động thuận chiều đối với số lượng bạn bè, thời gian sử dụng và số lượng ảnh đăng, đồng thời họ cũng thích tham gia các hoạt động giải trí trong môi trường thực tế (bỏ nhiều thời gian hơn vào các đội thể thao và các hoạt động giải trí khác)

Trang 18

Tài liệu 7: Nghiên cứu của Yen-Chun và cộng sự (2015)

Nghiên cứu của Yen-Chun và cộng sự xem xét liệu các bức ảnh được đăng lên làm ảnh đại diện có phản ảnh được nhân cách của người sử dụng hay không? Mẫu nghiên cứu gồm 109 người được chọn từ danh sách gồm 534 bạn

bè trên Facebook của các tác giả Tất cả những người tham gia đều là sinh viên

đã tốt nghiệp hoặc đang làm nghiên cứu sinh

Những người tham gia cuộc nghiên cứu này sẽ đánh giá về ảnh được đăng tải làm hình đại diện của họ trên Facebook về mức độ liên quan với 11 loại ảnh mà các tác giả đã phân loại thông qua thang đo Likert 5 mức độ (từ hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý) 11 loại ảnh được các tác giả phân loại gồm: mang tính xã hội (socializing), lãng mạng (Romantic Picture), nơi độc đáo (Unique Location), yêu cầu sự giúp đỡ (Supporting Cause), gương mặt (Face Shot), các dịp đặc biệt (Special Occasion), chụp một mình (Alone Posing), chơi thể thao (Playing Sports), chụp với gia đình (Family), sở thích (Interests), ảnh hài hước (Humorous Shot) Bên cạnh đó, mô hình 5 nhân tố FFM vẫn được các tác giả sử dụng để đo lường nhân cách

Kết quả

Kết quả cho thấy rằng nhân cách có ảnh hưởng đến tới việc lựa chọn ảnh làm ảnh đại diện trên Facebook Cụ thể, trong 5 nhân cách trong mô hình FFM thì nhân cách hướng ngoại là có xu hướng chọn những hình ảnh đại diện thể hiện rõ ràng nhân cách của họ

Tài liệu 8: Nghiên cứu của Lonnqvist và GroBe Deters (2016)

Nghiên cứu của hai tác giả người Đức nghiên cứu mối quan hệ giữa số lượng bạn bè trên mạng xã hội Facebook, cảm nhận về hạnh phúc chủ quan và

sự hỗ trợ mang tính xã hội của sinh viên trường đại học Arizona Mẫu nghiên cứu gồm 153 sinh viên

Trang 19

Để đo lường số lượng bạn bè Lonnqvist và GroBe Deters cũng sử dụng thang đo được phát triển bởi Ross và cộng sự (2009) Cảm nhận về hạnh phúc chủ quan được đo lường bằng thang đo Subjective Happiness Scale 4 item của Lyubomirsky và Lepper (1999); thang đo Satisfaction with Life Scale 5 item

Affect Scale 20 item của Watson, Clark, & Tellegen (1988) Đối với sự hỗ trợ mang tính xã hội các tác giả sử dụng thang đo Interpersonal Support Evaluation List 40 item của Cohen, Mermelstein, Kamarck và Hoberman (1985) Cũng như đa số các nghiên cứu thì mô hình 5 nhân tố FFM cũng được các tác giả sử dụng để đo lường nhân cách

Kết quả

Nhân cách hướng ngoại cho thấy mối quan hệ thuận chiều với số lượng bạn bè trên Facebook Ngoài ra, số lượng bạn bè trên Facebook cũng có mối quan hệ thuận chiều với cảm nhận về hạnh phúc chủ quan Tuy nhiên, không

có mối quan hệ ý nghĩa nào được thiết lập bởi số lượng bạn bè trên Facebook

và sự hỗ trợ mang tính xã hội Nghiên cứu này cũng cho rằng nhân cách hướng ngoại tác động thuận chiều đối với cảm nhận về hạnh phúc chủ quan cũng như

sự hỗ trợ mang tính xã hội

Trang 20

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 ĐỊNH NGHĨA NHÂN CÁCH, CÁC LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.1.1 Định nghĩa nhân cách

Nhân cách hay tính cách cá nhân là từ ngữ mà được sử dụng rất quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày của mỗi người Tuy nhiên, có thể nói không phải ai cũng hiểu rõ ý nghĩa của nó Một cách để chúng ta có thể xem xét để có thể hiểu nó là khi chúng ta nói từ “tôi” (Adams, 1954, trích trong Duane và Sydney, 2008) Từ “tôi” thể hiện một bức tranh đầy đủ của mỗi người chúng

ta, nó được hiểu là một cá nhân, tách biệt hoàn toàn so với tất cả những người khác

Việc hiểu được nguồn gốc hình thành của từ nhân cách sẽ làm cho việc định nghĩa nó được chính xác hơn Nhân cách tiếng Anh là personality, có nguồn gốc từ persona, từ Latinh mang nghĩa “cái mặt nạ” của diễn viên trên sân khấu, vai mà người đó đóng Khi khán giả nhìn thấy một persona được đeo,

họ có thể tiên đoán trước được những hành động tiếp theo của nhân vật Một diễn viên cho một vai chỉ có thể mang một loại persona chứ không được thay đổi theo từng tình tiết cho dù vở kịch có kịch tính đến đâu Như vậy có thể hiểu nhân cách liên quan vẻ bên ngoài của một người mà mọi người có thể nhìn thấy được, có tính ổn định và có thể dự đoán được

Nhân cách còn liên quan đến các thuộc tính bên trong mỗi người Những thuộc tính mà có thể chúng ta không thể thấy một cách trực tiếp, cái mà có thể một người cố gắng giấu không cho người khác biết

Trang 21

Để có thể đưa ra một định nghĩa đầy đủ cho nhân cách, nét bản sắc riêng biệt của mỗi cá nhân cũng cần được đề cập đến Có thể chúng ta thấy được rất nhiều nét tương đồng ở những người mà ta gặp Tuy nhiên, thực tế mỗi cá nhân đều sở hữu những đặc điểm rất riêng biệt và làm cho các nhân đó phân biệt với tất cả những người khác

Do vậy, Duane và Sydney (2008) đề xuất định nghĩa về nhân cách là bản sắc tương đối ổn định ở bên trong và bên ngoài của cá nhân, có tính riêng biệt

và ảnh hưởng đến hành vi của họ trong những tình huống khác nhau

1.1.2 Các lý thuyết nghiên cứu về nhân cách

Các lý thuyết về nhân cách có thể chia thành 6 nhóm: thuyết về typ, thuyết

về nét nhân cách, thuyết tâm động, thuyết nhân văn, thuyết học tập và thuyết nhận thức

Thuyết về typ: Thuyết này cho rằng các nhân cách có thể phân loại thành

một số ít nhóm hoặc typ Cách đây hơn 2000 năm trước, Hippocrates phân loại nhân cách con người theo khí chất thành 4 nhóm sau: khí chất hăng hái là những người vui vẻ, chủ động; khí chất lạnh lùng là những người vô cảm và uể oải; khí chất u sầu là những người buồn rầu, ủ rũ; khí chất cáu bẳn là những người

dễ cáu kỉnh và hưng phấn Trong khi đó, Sheldon (1942) phân loại nhân cách con người theo ngoại hình của họ, bao gồm: ngoại hình nội điệp gồm những người béo bệu, ủy mị tròn người; ngoại hình trung điệp gồm những người có

cơ bắp phát triển cân đối, khỏe mạnh hoặc ngoại hình ngoại điệp gồm những người gầy cao, dễ tổn thương Theo Sheldon, những người có ngoại hình nội điệp là những người có trạng thái thư giãn, thích giao du và dễ hòa mình Những người có ngoại hình trung điệp là những người có thể lực tốt, tràn đầy năng lượng, dũng cảm và có xu hướng dễ quyết đoán Những người có ngoại hình ngoại điệp thì thông minh khôn khéo, có tính nghệ sỹ và hướng nội; họ có xu hướng suy nghĩ về cuộc đời thay vì hưởng thụ nó hoặc tác động tới nó

Trang 22

Thuyết nét nhân cách: Các thuyết về typ nhân cách giả định rằng có

những phạm trù gián đoạn, tách rời nhau phù hợp với con người Ngược lại, các thuyết về nét nhân cách lại đưa ra những chiều kích liên tục, chẳng hạn như

sự thông tuệ hoặc sự nhiệt tình biến thiên về phẩm chất và mức độ Nét nhân cách là một chiều hướng hành động tổng quát; người ta giả định rằng mỗi cá nhân có những nét nhân cách với các mức độ thay đổi Nét nhân cách mô tả điều được xem là nhất quán trong ứng xử của con người trong những tình huống

và những thời điểm khác nhau Chẳng hạn, nếu ta có nét nhân cách “thật thà”,

ta có thể chứng minh điều này vào một ngày nào đó đưa trả lại mộ cái ví bị đánh mất và vào một ngày khác chứng minh bằng cách không lừa dối dựa trên một trắc nghiệm Một số các lý thuyết gia về nhân cách cho rằng những nét nhân cách là nguyên nhân ứng xử song những lý thuyết gia bảo thủ lại lại lập luận rằng các nét nhân cách chỉ mô tả hoặc tiên đoán các kiểu ứng xử mà thôi

Tiếp cận nét nhân cách của Allport (1966) là một trong những lý thuyết gia có ảnh hưởng nhiều nhất về nhân cách Ông là người nổi tiếng nhất trong

số các lý thuyết gia về tiểu sử nhân cách cho rằng mỗi con người có một nét đặc trưng độc nhất vô nhị, cũng như một số các nét đặc trưng chung cùng nhau tạo thành một tổ hợp độc nhất vô nhị về các nét nhân cách Allport nhìn các nét nhân cách như là các khối kiến tạo nên nhân cách và là cội nguồn của cá tính

Eysenck, một lý thuyết gia hàng đầu về nhân cách, đề xuất một mô hình gắn các typ, các nét nhân cách với ứng xử typ Các nét nhân cách với ứng xử thành một hệ tôn ti đơn độc Ở tầm thấp nhất của hệ Eysenck là những đáp ứng đơn độc như những hành động hoặc những ý nghĩ Những đáp ứng xảy ra đều đặn tạo thành những thói quen, và những thói quen liên hệ tạo thành những nét nhân cách Dựa vào các dữ kiện trắc nghiệm của mình, Eysenck kết luận có ba chiều kích nhân cách rộng lớn: hướng ngoại, nhiễu tâm và loạn tâm Eysenck cho rằng những khác biệt nhân cách dựa trên ba chiều kích căn bản là do những

Trang 23

khác biệt gien học và sinh học giữa những con người gây ra Ông nghĩ rằng hệ tôn ti do ông đề xuất có thể được vận dụng để tổ hợp với các mô hình nét nhân cách nhằm mang lại những cái nhìn mới mẻ thấu đáo tới nhân cách Chẳng hạn, ông đã đặt mối liên hệ giữa hướng ngoại - hướng nội và nhiễu tâm với các typ sinh lý về nhân cách của Hippocrate

Thuyết tâm động: Tất cả các thuyết tâm vận động về nhân cách, được dựa

trên công trình của Freud, đều chia sẻ điều giả định rằng nhân cách được nhào nặn và ứng xử được thúc đẩy bởi các lực mạnh mẽ bên trong

Theo thuyết phân tâm học của Freud thì bám vào cái lõi nhân cách là những trải nghiệm bên trong tâm trí một con người, cái lõi này là động cơ của ứng xử Ta có thể nhận thức được một số các ứng xử, song có một động cơ nào

đó lại tác động ở tầm vô thức Việc nhấn mạnh vào các nguồn năng lượng bên trong chính là nét đặc trưng của cách tiếp cận được xem là mang tính tâm vận động này (hàm ý “tâm trí được cấp năng lượng”) Với Freud, tất cả các ứng xử đều có động cơ Hết thảy các hành động đều do các động cơ quyết định, mà không phải do tình cờ Mỗi hành động của con người đều có một nguyên nhân

và một mục đích có thể khám phá thông qua khoa phân tâm - phân tích nhưng liên kết ý nghĩa,những giấc mơ, những sai lầm và những đầu mối ứng xử khác đối với những đam mê sâu kín Những dữ kiện hàng đầu làm cơ sở cho các giả thuyết của Freud về nhân cách xuất phát từ những điều ông quan sát được và những bệnh án từng ca được ông điều trị Thật là lạ, ông đã đặt ra một lý thuyết

về nhân cách bình thường lại xuất phát từ việc ông nghiên cứu sâu những người bệnh có rối nhiễu tâm lý Mặc dầu có những vấn đề quan trọng công nhận giá trị nhiều ý tưởng của Freud, song những khái niệm ban đầu về cấu trúc nhân cách của ông đã phải chịu đựng cả một thế kỷ phê bình và thật là đáng được duyệt xét lại một cách thận trọng Cái lõi của cách tiếp cận tâm động là dựa trên bốn khái niệm chủ chốt: quyết định luận tâm thần, trải nghiệm ban đầu theo lứa

Trang 24

tuổi, những xung năng và bản năng và các quá trình vô thức Cùng lúc chúng đưa ra một viễn cảnh với những khái niệm phong phú về phát triển và vận hành của nhân cách

Thuyết nhân văn: Các lý thuyết theo chủ nghĩa nhân văn, ngược lại với

cách tiếp cận tâm động, là lý thuyết mang ý nghĩa lạc quan về bản chất con người Có nhiều viễn cảnh mô tả đặc trưng các lý thuyết nhân văn Trước hết, chúng lý giải những hành vi riêng biệt của một con người trong khuôn khổ toàn

bộ nhân cách của người đó; một cá nhân không đơn giản là tổng số các nét nhân cách riêng rẽ mà mỗi nét ảnh hưởng đến ứng xử theo các cách khác nhau Các thuyết nhân văn cũng tập trung vào những phẩm chất bẩm sinh, bên trong một con người, nó có một ảnh hưởng to lớn đến chiều hướng ứng xử sẽ diễn ra Những kích thích do tình huống tạo ra thường được xem là những hạn chế và rào cản, giống các sợi dây buộc chặt những quả bóng Một khi con người được

tự do không bị ràng buộc bởi những tình huống tiêu cực thì xu hướng hiện thực hóa phải chủ động hướng dẫn con người lựa chọn các tình huống khiến cuộc đời tốt đẹp hơn Các thuyết nhân văn nhấn mạnh một khung quy chiếu của một

cá nhân và cái nhìn chủ quan về thực tại - không phải là viễn cảnh khách quan

do một nhà quan sát hoặc một nhà trị liệu áp đặt Sau chót, những thuyết nhân văn được các lý thuyết gia như Rollo May (1975), chẳng hạn, mô tả được xem

là có một viễn cảnh hiện sinh Những thuyết này tập trung vào các quá trình tâm trí cao cấp diễn giải những trải nghiệm hiện thời và giúp con người đáp ứng hoặc bị tràn ngập bởi những thử thách thường nhật của cuộc sống Một phương diện độc nhất vô nhị của các thuyết này tập trung vào sự tự do của con người; phương diện này tách biệt nhiều hơn các thuyết nói trên khỏi các nhà theo thuyết ứng dụng mang tính quyết định luận và các tiếp cận phân tâm học

Thuyết học tập: Tất cả mọi lý thuyết được duyệt xét lại cho đến giờ đều

nhấn mạnh đến những cơ chế nội tạo mang tính giả thuyết: những nét, những

Trang 25

bản năng, những xung năng, những xu hướng thực hiện tiềm năng - chúng thúc đẩy ứng xử và thiết lập một vận hành nhân cách Các nhà tâm lý học với định hướng lý thuyết học tập (learning theory) lại có một trọng tâm khác Họ tìm kiếm những điều tình cờ do môi trường tạo ra (những cơ hội củng cố) có ý nghĩa kiểm soát ứng xử Nhìn từ viễn cảnh đó, ứng xử và nhân cách được hình thành trước hết do môi trường bên ngoài

Quan niệm hẹp hòi này về nhân cách theo thuyết ứng xử lần đầu tiên được đề xướng bởi kíp các nhà tâm lý học tại đại học Tổng hợp Yale do John Dollard và Nean Miller (1950) dẫn đầu Thuyết này đã được Albert Bandura và Walter Mischel triển khai rất rộng để trở thành một phương pháp có ý nghĩa chỉnh hợp các ý tưởng cốt lõi từ truyền thống học tập - ứng xử với những ý tưởng mới nảy sinh từ tâm lý học xã hội và nhận thức Dollar và Miller cho thấy người ta có thể học tập bằng cách bắt chước có tính xã hội - nhờ quan sát ứng xử của người khác mà không phải là người đầu tiên thực sự thực hiện đáp ứng đó Ý tưởng này mở rộng tầm nhìn của các nhà tâm lý học về những cách học tập và những thói quen mang lại hiệu quả lẫn những thói quen có tính phá hoại Nhân cách xuất hiện được xem là tổng số các thói quen nhờ học tập mà

có Bundura và Mischel nhấn mạnh tầm quan trọng của các kiểu ứng xử đã được biết do học tập thông qua môi trường xã hội, kể cả việc quan sát từ những người khác và sự củng cố từ phía người khác thông qua môi trường xã hội

Thuyết nhận thức: Các thuyết nhận thức về nhân cách lưu ý rằng có

những khác biệt quan trọng giữa các cá nhân theo cách con người nghĩ về và định rõ các tình huống Thuyết nhận thức nhấn mạnh các quá trình tâm lý qua

đó con người hướng các cảm giác và tri giác của mình vào những ấn tượng được cấu trúc về thực tại Các tác giả nhấn mạnh rằng con người chủ động lựa chọn những điều kiện môi trường của riêng mình trong một phạm vi rộng Do vậy, ngay cả trong những điều kiện môi trường có ảnh hưởng thì con người

Trang 26

cũng không chỉ là các tác nhân phản ứng thụ động - con người cân nhắc giữa các khả năng và lựa chọn môi trường trong đó mình tác động và chịu sự tác động Con người lựa chọn để nhập cuộc những tình huống nào mình chờ đợi sẽ tăng cường và tránh những tình huống không làm thỏa mãn và bấp bênh Người

ta quan sát thấy những thành viên của các nhóm chủng tộc ít người “tụ tập với nhau” trong những khuôn viên trường đại học Một trong các lý do của hiện tượng này là những thành viên đó cảm thấy không chắc chắn biết mình có được chấp nhận không nếu cứ liều đánh bạn với các nhóm chủng tộc khác? Họ tránh các mối quan hệ họ đoán trước là sẽ không làm cho mình được thỏa mãn bằng cách không muốn khởi sự các mối quan hệ đó và thay vì tiếp tục với các quan

hệ quen thuộc Mối quan hệ giữa sự thay đổi tình huống với sự thay đổi trong nhận thức trong việc điều hòa ứng xử thường thấy trong nhiều thuyết nhân cách

1.1.3 So sánh các lý thuyết nhân cách

Trong các lý thuyết đã được đưa ra thì có thể thấy nổi bật lên 5 khác biệt quan trọng nhất trong các giả định về nhân cách và những phương pháp tiếp cận do mỗi giả định đưa ra:

- Tính di truyền đấu với môi trường: Khác biệt này cũng được xem như

thiên nhiên đấu với dưỡng dục Cái gì quan trọng hơn: Các yếu tố gien và sinh học hoặc các ảnh hưởng của môi trường? Thuyết Frued phụ thuộc nhiều vào tính di truyền, thuyết nét đặc điểm của đề cao tính di truyền; các thuyết nhân văn, học tập, nhận thức nhấn mạnh đến môi trường hoặc đến tương tác với môi trường được xem là các nguồn phát huy và khác biệt nhân cách

- Các quá trình học tập đấu tranh với các luật bẩm sinh của ứng xử: Nên

chăng phải nhấn mạnh đến tính có thể thay đổi hoặc đến cái nhìn là sự phát triển nhân cách diễn tiến theo một biểu thời gian nội tại? Thuyết của Freud thiên

về cái nhìn yếu tố quyết định bên trong, còn các nhà theo thuyết nhân văn thì tin rằng con người thay đổi được xem là kết quả các trải nghiệm của mình Các

Trang 27

thuyết luyện tập, nhận thức,… rõ ràng hậu thuẫn cho ý tưởng nói rằng ứng xử

và nhân cách thay đổi được xem là kết quả các trải nghiệm do luyện tập mà có

- Nhấn mạnh vào quá khứ, hiện tại, hoặc tương lai: Thuyết nét nhân cách

nhấn mạnh những nguyên nhân đã qua, dù bẩm sinh hoặc không phải bẩm sinh Freud nhấn mạnh những sự kiện đã qua ở thời thơ ấu Thuyết học tập tập trung vào những củng cố đã qua và những bất ngờ hiện tại Thuyết nhân văn nhấn mạnh những mục tiêu tương lai Thuyết nhận thức nhấn mạnh đến quá khứ và hiện tại và cũng nhấn mạnh đến tương lai nếu có bao gồm cả việc xác lập mục tiêu

- Ý thức đấu với vô thức: Thuyết của Freud nhấn mạnh các quá trình vô

thức, các thuyết nhân văn, học tập và nhận thức nhấn mạnh các quá trình ý thức Thuyết nét nhân cách ít quan tâm đến ý thức hoặc vô thức

- Tố chất bên trong đấu với tình huống bên ngoài: Thuyết học tập nói

chung nhấn mạnh các yếu tố tình huống Ngược lại, các thuyết nhân văn, nhận thức, học tập thông qua môi trường xã hội, hướng về một tương tác giữa các thay đổi của cá nhân với tình huống Đôi khi ta tự hỏi tại sao các lý thuyết gia

về nhân cách lại không thể “đồng ý” với nhau về một cách tiếp cận duy nhất? Phải chăng có một thực tế khiến các nhà tâm lý có nhiều mối quan tâm và nhiều

và cách diễn giả khác nhau? Câu trả lời là không Mỗi typ lý thuyết có những đóng góp khác nhau cho sự hiểu biết của chúng ta về nhân cách của con người Đúng ra, sức mạnh của các lý thuyết xuất phát từ tính đa dạng của chúng, vì mỗi thuyết nhấn mạnh đến các ý tưởng khác nhau Các thuyết cùng cho ta một cách lý giải phong phú và vô cùng hữu ích về nhân cách của con người

Trang 28

người khác, hoặc phân biệt những người trong một nhóm này với những người trong một nhóm khác? Đánh giá nhân cách sẽ cố gắng trả lời các câu hỏi như vậy Có hai giả định được xem là cơ bản cho nỗ lực nhằm tìm hiểu và mô tả nhân cách con người:

- Thứ nhất, những đặc trưng nhân cách của các cá nhân tạo ra sự gắn kết với ứng xử

- Thứ hai, những đặc trưng có thể đánh giá và đo lường được

Có rất nhiều test trắc nghiệm nhân cách khác nhau và có thể chia thành

2 loại: các test có tính khách quan và các test phóng chiếu

a Các test khách quan:

Việc vận dụng và tính điểm các test khách quan về nhân cách là những

thủ tục tương đối đơn giản tuân thủ những quy tắc đã được chuẩn hóa và mang tính khách quan Số điểm sau cùng thường là một con số theo một chiều kích duy nhất (chẳng hạn như “thích nghi đấu với kém thích nghi”) hoặc tổng số điểm về các nét khác nhau (như nam tính, tính phụ thuộc, tính hướng ngoại) được tính có đối chiếu với một nhóm tương đồng nào đó

Một bản liệt kê tự thuật (A Self-report Inventory) là một test khách quan trong đó các cá nhân trả lời một loạt các câu hỏi về những ý nghĩ, những tình cảm và những hành động của họ Một người thực hiện một bản liệt kê nhân cách đọc một loạt các câu và chỉ ra liệu mỗi câu có đúng với mình hay không Trên một số bản kiểm kê, cá nhân được hỏi nhằm đánh giá mỗi câu đúng với mức thường xuyên như thế nào hoặc mỗi câu mô tả đúng tới mức nào ứng xử,

ý nghĩ hoặc tình cảm điển hình của mình

Test nổi tiếng nhất thuộc loại này là Bản liệt kê nhân cách nhiều mặt của Đại học Minnesota (M.M.P.I: Minnesota Multiphasic Personality Inventory) (Dahlstrom và cộng sự, 1975) Nó được các nhà tâm lý học lâm sàng sử dụng như một công cụ giúp cho chẩn đoán và như một phương tiện hướng dẫn điều

Trang 29

trị Sau khi duyệt xét lại MMPI, ta sẽ bàn luận đôi chút về ba bản liệt kê nhân cách được sử dụng rộng rãi cho các dân cư không phải là bệnh nhân: Bản liệt

kê tâm lý California (CPI: California Psychological Inventory), Bản liệt kê nhân cách NEO (NEO-PI: NEO Personality Inventory) và chỉ bảo typ Myers-Briggs (MBTI: Myers-Briggs Type Indicator)

Bản liệt kê MMPI: được thiết lập tại đại học Tổng hợp Minnesota trong

những năm 1930 do nhà tâm lý học Starke Hathaway và nhà tâm thần học J.R.Mc Kinley đề xướng, được công bố lần đầu tiên vào những năm 1940 Mục đích cơ bản của nó là nhằm chẩn đoán những cá nhân theo một bộ các tên gọi tâm thần học Test đầu tiên bao gồm 550 item, mỗi item được đối tượng đánh giá là “đúng”, “sai”, hoặc “không biết” Từ kho các item này, người xây dựng các thang đo liên quan đến các loại vấn đề được những bệnh nhân biểu hiện tại các khoa tâm thần Những tiêu chuẩn cho các kiểu đáp ứng được thiết lập cho

cả những bệnh nhân tâm thần lẫn những đối tượng bình thường

Test MMPI có nhiều thang đo, mỗi thang đo được xây dựng nhằm phân biệt mỗi nhóm lâm sàng riêng biệt (chẳng hạn như tâm thần phân liệt hoặc hoang tưởng) với một nhóm đối chứng (bình thường) Test được tính điểm bằng cách cộng lại con số các items trên một thang riêng biệt được đối tượng trả lời theo cùng một cách như nhóm lâm sàng; số điểm càng cao thì đối tượng càng giống nhóm lâm sàng và càng không giống nhóm bình thường Cách thiết lập thang đo này được gọi là mang tính kinh nghiệm (empirical) bởi lẽ các item được lựa chọn không phải vì lý do chúng liên quan hoặc trúng với một số phạm trù về mặt lý thuyết mà vì chúng được một nhóm lâm sàng trả lời theo một cách riêng Test này còn bao gồm cả những thang đo nhằm phát hiện những kiểu trả lời khả nghi, chẳng hạn như: thiếu thành thật rành rành, cẩu thả, thế thủ và lảng tránh Số điểm của người trả lời trên các thang đo này được nghiệm viên xem xét trước khi diễn giải các câu trả lời trên thang đo lâm sàng

Trang 30

Gần đây, test MMPI đã được xem xét lại kỹ lưỡng, và bây giờ được gọi

là MMPI-2 (Dahlstrom và cộng sự, 1989) Một số item đã bị loại bỏ, một số mới được bổ sung, một số khác được viết lại nhằm thay thế một số thuật ngữ thô thiển về mặt tình dục Thay đổi gây ấn tượng nhất có lẽ là việc bổ sung 15 thang đo với nội dung mới Đối với 15 chủ đề thích hợp về lâm sàng (như lo hãi hoặc các vấn đề gia đình chẳng hạn), các item đươc lựa chọn dựa trên cơ sở: nếu về lý thuyết chúng có vẻ liên quan đến lĩnh vực chủ đề và nếu thang

đo chúng đo lường được một khái niệm duy nhất, và thống nhất Phần lớn các thang đo lâm sàng đo được nhiều khái niệm có liên quan và tên các thang đo thì đơn giản và tự lý giải được

Bản liệt kê tâm lý (CPI: California Psychological Inventory) Harrison

Gough (1957) xây dựng bản này nhằm đo lường những khác biệt cá nhân về mặt nhân cách trong những người tương đối bình thường và tỏ ra thích nghi tốt Các thang đo nhân cách của nó đánh giá những phẩm chất ứng xử khiến dễ hiểu

về nhân cách con người như tính trội, sự tự kiềm chế, lòng bao dung và hiệu năng trí lực Tất cả các thang đo đều được trình bày trên một mặt giấy cho thấy một số cá nhân được tính điểm như thế nào trên mỗi thang đo liên quan đến các chuẩn mực cùng giới tính

Bản phóng tác gần đây nhất của CPI chứa tới 20 thang đo Trải nghiệm qua nhiều năm, CPI đã ứng dụng cho hàng vạn người trên khắp thế giới và đã trở thành đối tượng cho nhiều công trình nghiên cứu, tạo ra nhiều kho dữ kiện quý giá CPI đã được vận dụng vào việc nghiên cứu nhân cách ở người trưởng thành lành mạnh thuộc đủ loại nhóm, như những người thuộc các nghề nghiệp khác nhau chẳng hạn Những công trình nghiên cứu sử dụng CPI đã giúp các nhà nghiên cứu hiểu được nhân cách phát triển như thế nào và các nét nhân cách ở những người trẻ tuổi có liên hệ ra sao với các sự kiện cuộc sống

Trang 31

Bản liệt kê mô hình 5 nhân tố FFM: Xuất phát từ lý thuyết của mô hình

5 nhân tố FFM, McCrae và Costa xây dựng trắc nghiệm đo các mặt này của nhân cách với tên gọi NEOPI (Viết tắt của NEO Personality Inventory) vào năm 1985 Ban đầu, trắc nghiệm này chỉ gồm 3 thang đo: Nhiễu tâm (N), Cởi

mở (O), Hướng ngoại (E), với 18 tiểu thang đo, mỗi tiểu thang đo có 8 item Sau đó, vào năm 1990, trắc nghiệm này được xem xét lại và xây dựng hoàn chỉnh thành NEOPI-R (Viết tắt của NEO Personality Inventory - Revised) có

bổ sung thêm 2 thang đo là Dễ chấp nhận (A) và Có ý chí phấn đấu (C) Bản NEOPI-R gồm 240 item

Đây là bộ trắc nghiệm đáp ứng được những đòi hỏi về tiêu chuẩn đo lường cũng như cấu trúc đa tầng, bậc của nhân cách, và hiện tại nó là công cụ rất hữu ích trong nghiên cứu, đánh giá nhân cách

Trong những năm gần đây, để phục vụ cho việc các mục đích nghiên cứu khác nhau Bản liệt kê NEOPI-R 240 item đã được rút gọn thành các phiên bản khác nhau Chẳng hạn, 100-item TDA (100 unipolar Trait Desciptive Adjectives), NEO-FFI (NEO Five - Factor Inventory) 60 item, IPIP (International Personality Item Pool) 50 item, BFI (Big Five Inventory) 44 item , TIPI (Ten Item Personality Inventory) 10 item Trong số đó, bản BFI 44 item được sử dụng trong phần lớn các nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội Facebook và thể hiện được sự hiệu quả của nó

b Các test phóng chiếu: Trong một test phóng chiếu, đối tượng nhận

được một loạt các kích thích có mục đích mập mờ, chẳng hạn những kiểu trừu tượng, những bức tranh và những hình vẽ dở dang có thể được diễn giải theo nhiều cách Đối tượng được yêu cầu mô tả các kiểu, hoàn thành những bức tranh hoặc kể các câu chuyện về những bức vẽ đó Bởi lẽ những kích thích là

mơ hồ, nên những đáp ứng với chúng được quyết định bởi điều đối tượng thấy

Trang 32

nảy sinh trước tình huống đó - có tên gọi là những cảm nghĩ trong nội tâm, những động cơ và những xung đột được phóng chiếu lên các tình huống đó

Hai trong số các kỹ thuật phóng chiếu ngày nay được sử dụng nhiều nhất

là test Rorschach và test cảm nhận chủ đề

Test Rorschach: Trong test Rorschach, được nhà tâm thần học người

Thụy sỹ, Hermannn Rorschach đề xướng (1962), với những kích thích mập mờ

là những giọt mực đối xứng với nhau (Rorschach, 1942) Một số là đen trắng, một số có màu Trước hết người trả lời được xem một giọt mực và được yêu cầu “Bạn hãy nói bạn nhìn thấy gì, điều gì có thể liên quan đến bạn Xin đừng ngại, câu trả lời đúng hoặc sai đều không có gì quan trọng cả” Nghiệm viên trước hết ghi đúng nguyên văn những điều đối tượng nói, ghi thời gian đối tượng trả lời, ghi toàn bộ thời gian đối tượng dành cho test giọt mực, và ghi lại cách đối tượng xử lý tấm bìa có giọt mực Trong pha thứ hai, gọi là thẩm vấn, người trả lời được nhắc lại những câu trả lời trước đó và yêu cầu kể chi tiết về những câu trả lời đó

Diễn giải những số điểm của một đối tượng thành một bức chân dung cố kết về những động thái nhân cách là một quá trình phức tạp, hết sức chủ quan, dựa vào tài năng lâm sàng và trực giác khôn khéo Test Rorschach cũng có những khía cạnh nghi vấn với tư cách là một công cụ trắc nghiệm vì lý do nó được xây dựng trên những khái niệm tâm vận động không thể kiểm nghiệm được, chẳng hạn “các xung năng vô thức” Tuy vậy, người ta khuyên nên dùng

nó như một phương cách gián tiếp nhằm nhận diện các nguồn thông tin, chẳng hạn những mối quan tâm về mặt tình dục hoặc những huyễn tưởng hung tính

mà con người đang cảm thấy trăn trở hoặc sẽ được bộ lộ trên các test khách quan Hiện nay, test Rorschach đang được ngưỡng mộ nhiều hơn trong giới lâm sàng và được kết hợp chặt chẽ với các công cụ khác đánh giá nhân cách một cách khách quan

Trang 33

Test cảm nhận chủ đề: Trong test cảm nhận chủ đề (Thematic Apperception

Test) do Henry Murray (1938), một nhà tâm lý học Hoa Kỳ đề xướng, những người trả lời được xem các bức tranh vẽ các cảnh mập mờ Trên từng bức tranh, người trả lời được yêu cầu bịa ra một câu chuyện mô tả những điều con người trong các cảnh đó đang làm và đang suy nghĩ, những điều đã dẫn tới mỗi sự kiện, và mỗi tình huống sẽ kết thúc ra sao Theo lý thuyết, người trả lời tri giác thấy các nhân tố trong bức tranh thực sự và về sau “cảm nhận” (hoặc bổ sung vào) những diễn giải và lý giải “hiển nhiên” Những điều cảm nhận này không

có trong bức tranh, song thực tế chính là những sản phẩm của những ý nghĩ và tình cảm riêng của người trả lời

Nhà tâm lý học vận dụng TAT lượng giá cấu trúc và nội dung những câu chuyện, cũng như ứng xử của chính người đang kể chuyện đang cố gắng khám phá một số những nỗi trăn trở, những động cơ và những đặc trưng nhân cách của người trả lời - chẳng hạn, một nhà quan sát có thể đánh gá một con người

“tận tâm” nếu câu chuyện anh ta kể về những người phải sống theo nghĩa vụ của họ và nếu anh ta kể những chuyện đó với một thái độ nghiêm túc và có trật

tự Test có thể ứng dụng vào lâm sàng nhằm bộc lộ những vấn đề cảm xúc của người bệnh, hoặc với những người bình thường thì làm bộc lộ những nhu cầu chiếm ưu thế, chẳng hạn nhu cầu quyền lực, nhu cầu được gia nhập và nhu cầu thành đạt (Mc Clelland, 1961)

Nhìn chung, những đánh giá nhân cách hữu hiệu nhất và hữu ích nhất là dựa vào một hoặc nhiều thuyết chính về nhân cách Với lý thuyết được xem là một hệ hướng dẫn, các nhà tâm lý học chuyên nghiệp có khả năng thu thập các thông tin không dễ gì có được Điều quan trọng hơn, các tâm lý học có khả năng diễn giải và ứng dụng những thông tin đó chính xác hơn và có hiệu quả hơn so với với trường hợp chỉ dựa vào những ấn tượng, những linh cảm, và những “trực giác” về con người

Trang 34

Người có công đầu trong việc tìm kiếm và phân loại từ vựng trong ngôn ngữ tự nhiên là Allport và Odbert Năm 1936, hai ông đã liệt kê được gần 18000 danh mục từ để mô tả nhân cách trong từ điển ngôn ngữ tiếng Anh và chia các

từ thành 4 cột Cột thứ nhất chứa những từ mô tả đặc điểm cá nhân Cột thứ hai bao gồm những phạm trù mô tả tâm trạng, cảm xúc, hoạt động Cột thứ ba là những thuật ngữ đánh giá xã hội của những sản phẩm cá nhân hoặc những ảnh hưởng đến người khác và cột cuối cùng là những từ liên quan đến thể lực, tài năng và khả năng, năng lực

Năm 1943, Cattell sử dụng danh mục từ của Allport và Odbert để làm điểm xuất phát cho mẫu hình cấu trúc nhân cách đa yếu tố của mình Ông rút gọn danh sách xuống còn 171 cụm (1946) và sau đó còn 35 biến số về đặc điểm với 4500 đặc điểm Và đây là danh mục cuối cùng để ông phân tích nhân tố Kết quả xuất hiện 12 nhân tố cơ bản của nhân cách Năm 1974, ông kết luận rằng, các nhân tố cơ bản này là những chiều đo quan trọng nhất của nhân cách

Việc phân tích thuật ngữ đặc điểm được tiến hành tiếp tục bằng bản hỏi

cá nhân về đặc điểm nhân cách Những người tham gia tự đánh giá mình và

Trang 35

những người khác qua những đặc điểm này Từ năm 1961, Types và Christal phát hiện 5 nhân tố từ bộ biến số của Cattell Trong một phân tích khác, khi phân tích nhân tố kết quả thu được với mục đích xem những đặc điểm nào đi cùng nhau trong các bản tự đánh giá cá nhân, Norman (1963) đã tìm thấy 5 nhân tố nổi bật của nhân cách Sau này, nhiều nhà nghiên cứu khác nhau, tiến hành khảo sát lại những nguồn dữ liệu khác nhau, cũng phát hiện ra 5 nhân tố lớn của nhân cách (John, 1990) Người ta cũng tìm thấy độ tin cậy và độ giá trị của 5 nhân tố và các nhân tố này khá ổn định ở lứa tuổi trưởng thành (McCrae

và Costa, 1994)

b Nội dung

Tên của các thành phần trong mô hình 5 nhân tố FFM được mỗi tác giả đặt một cách khác nhau, nhưng chúng có cùng điểm mô tả nhân cách chung Tên của 5 nhân tố được nhiều người tán thành nhất là theo đề nghị của McCrae và Costa (1985) gồm: Cởi mở13 (Openness), Có ý chí phấn đấu14 (Conscientiousness),

Hướng ngoại15 (Extraversion), Dễ chấp nhận16 (Agreeableness), Nhiễu tâm17(Neuroticism) Để cho dễ nhớ người ta ghép tên viết tắt của 5 yếu tố lấy các chữ cái đầu theo tiếng Anh là OCEAN

Các nhân tố trong mô hình 5 nhân tố FFM được mô tả như sau:

Cởi mở - Openness: Mặt tính cách thể hiện xu hướng tìm kiếm và tận hưởng những trải nghiệm và ý tưởng mới Những người có điểm “O” thấp thường sống thực tế, đơn giản, có khá ít sở thích Trong khi đó, những người

có điểm “O” cao thường là kiểu người sáng tạo, hóm hỉnh, muốn tìm hiểu những điều mới mẻ, và có sở thích đa dạng

13, 14,15,16,17 dịch theo Phạm Minh Hạc (2007)

Trang 36

Có ý chí phấn đấu - Conscientiousness: Mặt tính cách thể hiện tính kỉ luật và sự quyết tâm đạt được kết quả Những người có điểm “C” thấp thường sống bất quy tắc, hành động theo quán tính; và khó để người khác trông cậy vào họ Trong khi đó, những người có điểm “C” cao thường là những người sống quy tắc cẩn thận và có trách nhiệm

Hướng ngoại - Extraversion: Tính cách thể hiện xu hướng tìm kiếm sự kích thích và nhiều mối quan hệ xã hội Những người có điểm “E” thấp thường

là những người nhút nhát, khá kín đáo và cẩn trọng; trong khi những người có điểm “E” cao thường là nói nhiều, thân thiện, và năng động

Dễ chấp nhận - Agreeableness: Tính cách thể hiện xu hướng động lòng trắc ẩn trước người khác Những người có điểm “A” thấp thường là những người khá hoài nghi, khó chịu, và không sẵn sàng hợp tác; trong khi những người có điểm “A” cao thường là những người tốt bụng, dễ tin tưởng và giúp

đỡ người khác

Nhiễu tâm - Neuroticism: Mặt tính cách thể hiện xu hướng trải nghiệm những cảm xúc tiêu cực Những người có điểm “N” thấp là những người điềm đạm, bình tĩnh; trong khi những người có điểm “N” cao là những người hay nhạy cảm, lo lắng, và đôi khi trở nên hoang tưởng sinh lý

c Thang đo

Cho đến nay có rất nhiều thang đo khác nhau được sử dụng để đo lường Big-five Tuy nhiên, có 3 thang đo mà nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nhất là: Thang đo 100-item TDA (viết tắt 100 unipolar Trait Desciptive Adjectives) gồm 100 tính từ mô tả đặc điểm nhân cách, được rút ra

từ thang phân loại đồ sộ ban đầu của Goldberg (1992); Thang đo NEO FFI (viết tắt của NEO Five Factor Inventory) gồm 60-item được Costa và McCrae phát triển vào năm 1992 Cũng cần nói thêm rằng, năm 1992 Costa và McCrae cũng

đã xây dựng thang đo NEO Personality Inventory Revised gồm 240-item Tuy

Trang 37

nhiên, do yêu cầu của việc ứng dụng trong nhiều mục đích nghiên cứu khác nhau, các tác giả này đã phát triển thành thang đo NEO FFI 60-item; Thang đo BFI (viết tắt của Big Five Inventory) được xây dựng John, Donahue & Kentle (1991) cũng xuất phát từ nhu cầu cần một thang đo ngắn gọn để đo lường Big-five Thang đo này gồm 44-item

Năm 1999, John và Srivastava đã tiến hành so sánh 3 loại thang đo trên mẫu gồm 462 sinh viên của đại học California, Berkeley, Mỹ và kết quả cho thấy các thang đo này là rất giá trị Qua kết quả nghiên cứu của mình, John và Srivastava đề xuất rằng: việc sử dụng 3 loại thang đo trên cũng thể hiện được

sự hiệu quả và dễ hiểu Tuy nhiên, nếu thời gian nghiên cứu không bị giới hạn, những người tham gia có sự hiểu biết tốt và các câu hỏi nghiên cứu cần thiết cho việc đánh giá nhiều tiểu thang đo của Big-five thì thang đo 240-item NEO PI-R sẽ hữu ích nhất

1.2 MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK

Facebook là mạng xã hội cho phép người sử dụng dễ dàng kết nối và chia sẻ với gia đình cũng như bạn bè của họ trên mạng internet Ban đầu, nó được tạo ra nhằm giúp các sinh viên Harvard thiết lập cũng như duy trì các mối quan hệ với nhau nhưng sau đó mạng xã hội này đã lan truyền ra phạm vi toàn cầu

Hiện nay, trên thế giới Facebook đang là mạng xã hội phổ biến nhất với khoảng 1.55 tỷ người sử dụng (Facebook, 2015) Khi tham gia vào mạng xã hội này, người dùng có thể sử dụng nhiều tính năng khác nhau như: kết bạn, trò chuyện, đăng ảnh, tham gia vào các nhóm, nút Like

Các nghiên cứu có liên quan đến việc sử dụng mạng xã hội Facebook đều tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tần suất sử dụng (Ross và cộng sự, 2009; Moore và cộng sự, 2012), thái độ sử dụng (Ross và cộng sự, 2009; Jenkins-Guarnieri và cộng sự, 2013), thời gian sử dụng (Ross và cộng

Trang 38

sự, 2009; Ryan và Xenos, 2011; Kuo và Tang, 2014), số nhóm tham gia (Ross

và cộng sự, 2009; Amichai và Vinitzky, 2010), số lượng tính năng sử dụng (Ross và cộng sự, 2009; Amichai và Vinitzky, 2010), việc đăng tải thông tin cá nhân (Ross và cộng sự, 2009; Amichai và Vinitzky, 2010), sự ưa thích sử dụng tính năng Tường (Ross và cộng sự, 2009; Johson, 2016), sở thích đăng ảnh (Ross và cộng sự, 2009; Amichai và Vinitzky, 2010), số lượng bạn bè (Amichai

và Vinitzky, 2010; Moore và cộng sự, 2012; Jenkins-Guarnieri và cộng sự, 2013; Kuo và Tang, 2014; Lonnqvist và GroBe Deters, 2016), tần suất chơi game (Amichai và Vinitzky, 2010), tần suất đăng tin nhắn công khai (Muscanell và Guadagno, 2012; Eunsun và cộng sự, 2014), tần suất đăng ảnh (Muscanell và Guadagno, 2012; Eunsun và cộng sự, 2014), tần suất gửi tin nhắn riêng tư (Muscanell và Guadagno, 2012), tần suất gửi yêu cầu kết bạn (Muscanell và Guadagno, 2012), mục đích cập nhật thông tin, mục đích giao tiếp xã hội (Hughes và cộng sự (2012), chủ động giao tiếp xã hội, ràng buộc bị động, thông tin và tin tức, thời gian tương tác xã hội (Ryan và Xenos, 2011), số lượng ảnh đăng (Moore và cộng sự, 2012; Kuo và Tang, 2014), số lượng bài đăng có nội dung về chính người đăng, số lượng bài đăng có nội dung về người khác (Moore

và cộng sự, 2012), sở thích bấm nút Like, tần suất bình luận, tần suất bấm nút Share (Eunsun và cộng sự, 2014)

Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian, nghiên cứu này chỉ nghiên cứu

5 vấn đề của việc sử dụng Facebook, bao gồm: số lượng bạn bè, số lượng nhóm tham gia, tần suất sử dụng, thời gian sử dụng, mục đích sử dụng để cập nhật thông tin

1.3 MÔ HÌNH 5 NHÂN TỐ FFM VÀ VIỆC SỬ DỤNG FACEBOOK

Mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội Facebook đã được thể hiện trong rất nhiều nghiên cứu (Ross và cộng sự, 2009; Amichai Hamburger và Vinitzky, 2010; Ryan và Xenos, 2011; Moore và cộng sự, 2012;

Trang 39

Hughes và cộng sự, 2012; Muscanell và Guadagno, 2012; Jenkins-Guamieri và cộng sự, 2013; Kuo và Tang, 2014; Lonnqvist và GroBe Deters, 2016)

Về ảnh hưởng của nhân cách hướng ngoại đối với việc sử dụng mạng

xã hội Facebook, Ross và cộng sự (2009) chứng tỏ rằng nó có quan hệ với việc tham gia vào các nhóm của người sử dụng Trong khi đó, Amichai Hamburger

và Vinitzky (2010), Moore và cộng sự (2012) đã cho thấy số lượng bạn bè được kết bạn trên Facebook và việc đăng lên những thông tin cá nhân có liên quan đến nhân cách hướng ngoại Jenkins-Guamieri và cộng sự (2013) ngoài việc cho thấy mối quan hệ ý nghĩa giữa nhân cách hướng ngoại đến số lượng bạn

bè, các tác giả cũng nhân cách này có ảnh hưởng tới thái độ sử dụng Nghiên cứu của Kuo và Tang (2014) cũng cho thấy nhân cách hướng ngoại tác động đến số lượng bạn bè, thời gian sử dụng, và số lượng ảnh được đăng tải lên Facebook Bên cạnh đó, Moore và cộng sự (2012) cũng cho rằng tần suất sử dụng mạng xã hội Facebook có mối quan hệ đối với nhân cách hướng ngoại Ryan và Xenos (2011) cho rằng những người có nhân cách hướng ngoại thì nhìn chung sử dụng Facebook nhiều hơn và sử dụng các tính năng tin nhắn, bình luận, tường nhiều hơn Việc sử dụng tính năng đăng hình ảnh theo Muscanell và Guadagno (2012) có liên quan đến nhân cách hướng ngoại Hughes và cộng sự (2012) cho rằng người có nhân cách hướng ngoại có khả năng dự đoán cho việc sử dụng việc sử dụng Facebook nói chung Trong nhiên cứu gần đây nhất, Lonnqvist và GroBe Deters (2016) cũng đã cho thấy mối quan hệ ý nghĩa giữa số lượng bạn bè trên Facebook và nhân cách hướng ngoại

Về nhân cách cởi mở, Ross và cộng sự (2009) cho rằng nó liên quan đến việc giao tiếp qua mạng xã hội Facebook Amichai Hamburger và Vinitzky (2010) cũng chứng minh được có mối quan hệ giữa việc sử dụng mạng xã hội Facebook và nét nhân cách này Bên cạnh đó, nghiên cứu của Amichai Hamburger

và Vinitzky (2010) cũng cho biết những người có nhân cách cởi mở sẽ sử dụng

Trang 40

nhiều tính năng trên Facebook hơn Nghiên cứu của Kuo và Tang (2014) cũng cho tác động của nhân cách cởi mở đến số lượng bạn bè, thời gian sử dụng và

số lượng ảnh được đăng

Về nét nhân cách nhiễu tâm, Ross và cộng sự (2009) cho thấy nó có liên quan đến việc sử dụng tính năng tường Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Ryan và Xenos (2011) Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa nét nhân cách này với việc đăng hình ản cũng được thể hiện trong nghiên cứu của Ross và cộng sự (2009); Amichai Hamburger và Vinitzky (2010) Liên quan đến thời gian sử dụng mạng xã hội Facebook, Ryan và Xenos (2011), Moore và cộng sự (2012) đều cho rằng nó chịu sự tác động của nét nhân cách nhiễu tâm Cũng theo Moore và cộng sự (2012) những người có nét nhân cách nhiễu tâm cao sẽ

có tần suất sử dụng mạng xã hội Facebook ít hơn

Về nét nhân cách có ý chí phấn đấu, Amichai Hamburger và Vinitzky (2010) cho rằng nó liên quan đến số lượng bạn bè của người sử dụng Facebook, việc đăng hình ảnh Trong khi đó, Moore và cộng sự (2012) cho rằng nét nhân cách này liên quan đến số lượng các bài đăng trên tường

Mối quan hệ giữa nét nhân cách dễ chấp nhận và số lượng các bài đăng lên tường có nội dung về chính người đăng được thể hiện trong nghiên cứu của Amichai Hamburger và Vinitzky (2010)

1.4 GIỚI THIỆU VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM

Trường đại học Quảng Nam có tiền thân là Trường Trung học Sư phạm Quảng Nam được thành thập vào năm 1997 theo quyết định số 1686/QĐ-UBND ngày 3/9/1997 của chủ tích Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam Năm

2000, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký quyết định số TCCB ngày 14/11/2000 năng cấp từ trường Trung học Sư phạm Quảng Nam lên thành Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Nam Đến năm 2007, Trường Đại

Ngày đăng: 04/04/2022, 22:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đào Lê Hòa An (2013), “Nghiên cứu về hành vi sử dụng facebook của con người - một thách thức mới cho tâm lí học hiện đại”, Tạp chí Khoa Học ĐHSP TPHCM, 49, 15-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về hành vi sử dụng facebook của con người - một thách thức mới cho tâm lí học hiện đại”, "Tạp chí Khoa Học ĐHSP TPHCM
Tác giả: Đào Lê Hòa An
Năm: 2013
[2] Đặng Phương Kiệt (2001), Cơ sở tâm lý học ứng dụng tập 1, NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở tâm lý học ứng dụng tập 1
Tác giả: Đặng Phương Kiệt
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia
Năm: 2001
[3] Đinh Thị Kim Thoa và Trần Văn Công (2010), “Một số đặc điểm nhân cách sinh viên học các ngành học khác nhau (nghiên cứu qua trắc nghiệm NEO PI-R)”, Tạp chí Khoa Học ĐHQGHN, 26, 198-202 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm nhân cách sinh viên học các ngành học khác nhau (nghiên cứu qua trắc nghiệm NEO PI-R)”, "Tạp chí Khoa Học ĐHQGHN
Tác giả: Đinh Thị Kim Thoa và Trần Văn Công
Năm: 2010
[4] Đinh Đức Hợi (2012), “Bàn về khái niệm nhân cách trong tâm lý học ngày nay”, Tạp chí khoa học & Công nghệ ĐH Thái Nguyên, 6, 107- 110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khái niệm nhân cách trong tâm lý học ngày nay”, "Tạp chí khoa học & Công nghệ ĐH Thái Nguyên
Tác giả: Đinh Đức Hợi
Năm: 2012
[5] Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, NXB Thống Kê, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2008
[6] Lê Văn Huy, Trương Trần Trâm Anh (2011), Giáo trình Phương pháp nghiên cứu trong kinh doanh, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp nghiên cứu trong kinh doanh
Tác giả: Lê Văn Huy, Trương Trần Trâm Anh
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2011
[8] Nguyễn Xuân Nghĩa và Huỳnh Thị Diễm Phước (2014), “Facebook và vốn xã hội - Khảo sát một số nhóm thanh niên tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học Xã hội, 6(190), 15-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Facebook và vốn xã hội - Khảo sát một số nhóm thanh niên tại Thành phố Hồ Chí Minh”, "Tạp chí Khoa học Xã hội
Tác giả: Nguyễn Xuân Nghĩa và Huỳnh Thị Diễm Phước
Năm: 2014
[9] Phan Thị Mai Hương (2007), “Mô hình 5 nhân tố của nhân cách và trắc nghiệm NEOPI-R”, Tạp chí Tâm lý, 5(98), 23-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình 5 nhân tố của nhân cách và trắc nghiệm NEOPI-R”, "Tạp chí Tâm lý
Tác giả: Phan Thị Mai Hương
Năm: 2007
[10] Phạm Minh Hạc (2007), Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương pháp NEO-Pi-R cải biên, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương pháp NEO-Pi-R cải biên
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2007
[11] Trần Thị Minh Đức và Bùi Thị Hồng Thái (2015), “Các loại hình hoạt động trên mạng xã hội của sinh viên và những yếu tố ảnh hưởng”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, 31(2), 1-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại hình hoạt động trên mạng xã hội của sinh viên và những yếu tố ảnh hưởng”, "Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn
Tác giả: Trần Thị Minh Đức và Bùi Thị Hồng Thái
Năm: 2015
[1] Amichai-Hamburger, Y., & Vinitzky, G. (2010), “Social network use and personality”, Computers in Human Behavior, 26, 1289–1295 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social network use and personality”, "Computers in Human Behavior
Tác giả: Amichai-Hamburger, Y., & Vinitzky, G
Năm: 2010
[2] Amiel, T., & Sargent, S. L. (2004), “Individual differences in Internet usage motives”, Computers in Human Behavior, 20(6), 711-726 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Individual differences in Internet usage motives”, "Computers in Human Behavior
Tác giả: Amiel, T., & Sargent, S. L
Năm: 2004
[3] Barrick, M. R., Mount, M. K., & Judge, T.A. (2001), “Personality and performance at the beginning of the new millennium: What do we know and where do we go next?”, International Journal of Selection and assessment, 9(1‐2), 9-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Personality and performance at the beginning of the new millennium: What do we know and where do we go next?”, "International Journal of Selection and assessment
Tác giả: Barrick, M. R., Mount, M. K., & Judge, T.A
Năm: 2001
[5] Costa, P. T., & McCrae, R. R. (1985), The NEO personality inventory: Manual, form S and form R, Psychological Assessment Resources Sách, tạp chí
Tiêu đề: The NEO personality inventory: "Manual, form S and form R
Tác giả: Costa, P. T., & McCrae, R. R
Năm: 1985
[6] Costa, P. T., & McCrae, R. R. (1992), “Four ways five factors are basic”, Personality and individual differences, 13(6), 653-665 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Four ways five factors are basic”, "Personality and individual differences
Tác giả: Costa, P. T., & McCrae, R. R
Năm: 1992
[8] David John Hughes, Moss Rowe, Mark Batey, Andrew Lee (2012), “A tale of two sites: Twitter vs. Facebook and the personality predictors of social media usage”, Computers in Human Behavior, 28, 561- 569 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A tale of two sites: Twitter vs. Facebook and the personality predictors of social media usage”, "Computers in Human Behavior
Tác giả: David John Hughes, Moss Rowe, Mark Batey, Andrew Lee
Năm: 2012
[9] Devaraj, S., Easley, R. F., & Crant, J. M. (2008), “Research note-how does personality matter? Relating the five-factor model to technology acceptance and use”, Information Systems Research, 19(1), 93- 105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Research note-how does personality matter? Relating the five-factor model to technology acceptance and use”, "Information Systems Research
Tác giả: Devaraj, S., Easley, R. F., & Crant, J. M
Năm: 2008
[7] Lời giới thiệu trường đại học Quảng Nam, truy cập ngày 01/01/2016 từ website http://qnamuni.edu.vn/?cID=1&ID=1 Link
[12] Trần Thị Minh Đức và Bùi Thị Hồng Thái (2014), Sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Việt Nam, Truy cập ngày 07/01/2016 từ website http://vssr.vass.gov.vn/noidung/tapchi/Pages/baiviet.aspx?UrlListProcess=/noidung/TapChi/Lists/Baiviet&ItemID=123&page=0&allitem=1 Tài liệu tiếng Anh Link
[12] Facebook Company info, Truy cập ngày 07/01/2016 từ website http://newsroom.fb.com/company-info/ Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC CÁC BẢNG - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội facebook của sinh viên trường đại học quảng nam
DANH MỤC CÁC BẢNG (Trang 6)
hiệu Tên bảng Trang - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội facebook của sinh viên trường đại học quảng nam
hi ệu Tên bảng Trang (Trang 7)
hiệu Tên bảng Trang - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội facebook của sinh viên trường đại học quảng nam
hi ệu Tên bảng Trang (Trang 8)
2.1. MƠ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội facebook của sinh viên trường đại học quảng nam
2.1. MƠ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU (Trang 42)
Mô hình của Amichai Hamburger và Vinitzky (2010) nói về tác động của nhân cách và việc sử dụng Facebook - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội facebook của sinh viên trường đại học quảng nam
h ình của Amichai Hamburger và Vinitzky (2010) nói về tác động của nhân cách và việc sử dụng Facebook (Trang 43)
Bảng 2.3. Các nhân tố và hướng tác động mơ hình Muscanell, Guadagno                             Nhân tố  Việc   sử dụng  Facebook  và MySpace Hướng ngoại Cởi mở Nhiễu Tâm Dễ        chấp nhận - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội facebook của sinh viên trường đại học quảng nam
Bảng 2.3. Các nhân tố và hướng tác động mơ hình Muscanell, Guadagno Nhân tố Việc sử dụng Facebook và MySpace Hướng ngoại Cởi mở Nhiễu Tâm Dễ chấp nhận (Trang 45)
Hình 2.4. Mơ hình của Hughes và cộng sự - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội facebook của sinh viên trường đại học quảng nam
Hình 2.4. Mơ hình của Hughes và cộng sự (Trang 46)
Hình 2.6. Mơ hình của Moore và cộng sự - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội facebook của sinh viên trường đại học quảng nam
Hình 2.6. Mơ hình của Moore và cộng sự (Trang 48)
Hình 2.7. Mơ hình của Jenkins-Guarnieri và cộng sự - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội facebook của sinh viên trường đại học quảng nam
Hình 2.7. Mơ hình của Jenkins-Guarnieri và cộng sự (Trang 49)
Bảng 2.7. Các nhân tố và hướng tác động của mơ hình Jenkins và cộng sự - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội facebook của sinh viên trường đại học quảng nam
Bảng 2.7. Các nhân tố và hướng tác động của mơ hình Jenkins và cộng sự (Trang 50)
Mô hình của Kuo và Tang (2014) nghiên cứu mối quan hệ giữa nhân cách, việc sử dụng mạng xã hội Facebook và các hoạt động giải trí - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội facebook của sinh viên trường đại học quảng nam
h ình của Kuo và Tang (2014) nghiên cứu mối quan hệ giữa nhân cách, việc sử dụng mạng xã hội Facebook và các hoạt động giải trí (Trang 50)
Bảng 2.10. Nhân tố và hướng tác động của mơ hình Lonnquvist và GroBe - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội facebook của sinh viên trường đại học quảng nam
Bảng 2.10. Nhân tố và hướng tác động của mơ hình Lonnquvist và GroBe (Trang 52)
Bảng 3. 4: Thang đo ảnh hưởng của mối quan hệ với đồng nghiệp - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội facebook của sinh viên trường đại học quảng nam
Bảng 3. 4: Thang đo ảnh hưởng của mối quan hệ với đồng nghiệp (Trang 64)
Hình 2.12. Quy trình nghiên cứu - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội facebook của sinh viên trường đại học quảng nam
Hình 2.12. Quy trình nghiên cứu (Trang 64)
Bảng 2.13. Hệ số tải nhân tố và kích thước mẫu - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân cách và việc sử dụng mạng xã hội facebook của sinh viên trường đại học quảng nam
Bảng 2.13. Hệ số tải nhân tố và kích thước mẫu (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w