1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện mđắk, tỉnh đắk lắk

111 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà kinh tế học người Anh cho rằng phát triển nông nghiệp phải chú trọng phát triển chăn nuôi qua đó sử dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất quan trọng nhất là đất đai và nâng cao trình độ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

VŨ HỒNG NHẬT

PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN M'ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số: 60.31.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Quang Bình

Đà Nẵng - Năm 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.Bùi Quang Bình Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa từng được sử dụng để bảo

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Nội dung nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

7 Tổng quan các nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI

BÒ THỊT 7

1.1 VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CHĂN NUÔI BÒ THỊT 7

1.1.1 Vai trò của chăn nuôi bò thịt 7

1.1.2 Đặc điểm của chăn nuôi bò thịt 11

1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT 14

1.2.1 Gia tăng quy mô chăn nuôi bò thịt 14

1.2.2 Nâng cao năng suất và chất lượng chăn nuôi bò thịt 15

1.2.3 Gia tăng nguồn lực cho phát triển 16

1.2.4 Tổ chức tốt chăn nuôi bò thịt 20

1.2.5 Nâng cao kết quả kinh doanh và thu nhập của người chăn nuôi 20

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT 21

1.3.1 Các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội 21

1.3.2 Các nhân tố về kĩ thuật chăn nuôi 26

1.3.3 Các nhân tố về chính sách và thị trường cho phát triển chăn nuôi bò thịt 28

Trang 4

1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT CỦA MỘT SỐ

ĐỊA PHƯƠNG 30

1.4.1 Kinh nghiệm của tỉnh Nghệ An 30

1.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Nam 32

1.4.3 Bài học rút ra cho huyện M'Đrắk 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN M'ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK 35

2.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT Ở HUYỆN M'ĐRẮK 35

2.1.1 Tình hình gia tăng quy mô sản lượng đàn bò thịt 35

2.1.2 Tình hình nâng cao năng suất và chất lượng chăn nuôi bò thịt ở huyện M'Đrắk 38

2.1.3 Tình hình nguồn lực cho chăn nuôi bò thịt 40

2.1.4 Tình hình tổ chức chăn nuôi bò thịt 45

2.1.5 Nâng cao kết quả kinh doanh và thu nhập của người chăn nuôi 47

2.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT Ở HUYỆN M'ĐRẮK 52

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 52

2.2.2 Nhóm nhân tố về kĩ thuật chăn nuôi 59

2.2.3 Tình hình chính sách và thị trường cho phát triển chăn nuôi bò thịt 68

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT CỦA HUYỆN M'ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK 74

3.1 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT Ở HUYỆN M'ĐRẮK 74

3.1.1 Quan điểm phát triển 74

Trang 5

3.1.2 Phương hướng phát triển chăn nuôi bò thịt ở huyện M'Đrắk 74

3.1.3 Mục tiêu phát triển chăn nuôi bò thịt ở huyện M'Đrắk 76

3.2 C ÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT Ở HUYỆN M'ĐRẮK 76

3.2.1 Giải pháp mở rộng quy mô đàn bò gắn với quản lý quy hoạch 76

3.2.2 Giải pháp về giống 82

3.2.3 Tổ chức lại sản xuất kinh doanh bò thịt 85

3.2.4 Giải quyết vấn đề vốn cho chăn nuôi 87

3.2.5 Phát triển nguồn nhân lực 89

3.2.6 Giải quyết vấn đề thức ăn cho bò thịt 92

3.2.7 Giải quyết vấn đề thị trường sản phẩm 95

3.2.8 Hoàn thiện hệ thống dịch vụ kỹ thuật chăn nuôi và thú y 96

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 7

Bảng 2.3 Quy mô nuôi bò theo nhóm hộ và 2 xã: Krông Jing,

Bảng 2.4 Sản lượng sản phẩm thịt bò từ 2010-2014 38 Bảng 2.5 Tỉ lệ bò lai trong giai đoạn 2010-2014 39 Bảng 2.6 Diện tích đất trồng cỏ ở huyện M'Đrắk 41 Bảng 2.7 Sử dụng lao động trong chăn nuôi bò ở huyện M'Đrắk 45 Bảng 2.8 Tình hình thu nhập từ chăn nuôi bò (2010-2014) 47

Bảng 2.10 Giá trị sản xuất trên địa bàn huyện 53 Bảng 2.11 Tình hình nguồn vốn đầu tư (2011 - 2014) 54

Bảng 2.13 Số lượng một số phụ phẩm thu được năm 2013 61

Bảng 2.15 Tình hình phòng trừ dịch bệnh huyện M'Đrắk 64 Bảng 3.1 Phát triển đàn bò huyện M’Đrắk đến năm 2020 77 Bảng 3.2 Phát triển bò lai Zêbu ở huyện M’Đrắk đến năm 2020 78 Bảng 3.3 Phát triển bò chuyên thịt huyện M’Đrắk đến năm 2020 79 Bảng 3.4 Số lượng đàn bò trong vùng chăn nuôi tập trung đến

Trang 8

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 3.1 Mô hình liên kết trong chăn nuôi bò thịt 86 Biểu đồ 2.1 Trọng lượng xuất chuồng của bò 48 Biểu đồ 2.2 Giá bán bò hơi của các hộ chăn nuôi 49

Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ chi phí sản xuất của các nhóm hộ

Biểu đồ 2.4 Tỷ trọng tiêu thụ thịt bò theo các kênh 56 Biểu đồ 2.5 Tình hình dịch bệnh qua các năm 62 Biểu đồ 2.6 Tỉ lệ tiêm phòng cho đàn bò 64

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăn nuôi bò thịt là một nghề truyền thống trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta Phát triển chăn nuôi bò thịt không những làm tăng sản phẩm xã hội

mà còn khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, làm tăng thu nhập cho nông dân và chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, góp phần xóa đói giảm nghèo Chăn nuôi bò thịt là cơ sở để phát huy triệt để các tiềm năng sẵn có cùng với các lợi thế so sánh vùng, nhất là các vùng trung du miền núi, làm đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện và bền vững

Thực trạng chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam trong những năm gần đây có tốc độ tăng trưởng chậm, năng suất thấp, chăn nuôi phân tán với quy mô nhỏ

và mang tính chăn nuôi truyền thống trên cơ sở tận dụng thức ăn tự nhiên là chính, hình thức chăn nuôi thâm canh còn hạn chế Việc hình thành các vùng chăn nuôi lớn tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa còn chưa được chú trọng

M'Đrắk là một huyện Miền Núi, đất đai bạc màu, khô cằn lại không được thiên nhiên ưu đãi so với các huyện khác trong tỉnh Đắk Lắk Người dân nơi đây chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, trong đó, nghề chăn nuôi bò thịt mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người nông dân, góp phần giải quyết việc làm, nên người dân nơi đây mạnh dạn đầu tư vào chăn nuôi bò thịt

Tuy nhiên, việc phát triển chăn nuôi bò thịt ở huyện M'Đrắk cũng đã bộc

lộ nhiều hạn chế và thiếu tính bền vững Việc chăn nuôi bò thịt hiện nay ở các

hộ gia đình nông thôn vẫn chủ yếu mang tính tự phát là chính, chưa có tính quy hoạch, định hướng về lâu dài Hầu hết các xã trong huyện đều chăn nuôi theo hình thức hộ gia đình Quy mô và phương thức chăn nuôi quảng canh nhỏ lẻ,

Trang 10

chưa tạo được các vùng chăn nuôi tập trung, chưa có khối lượng sản phẩm

lớn Quá trình cải tạo đàn bò trên địa bàn huyện còn ở tốc độ chậm, chưa phát

huy hết tiềm năng lợi thế sẵn có của vùng Công tác cải tạo giống, chăm sóc

nuôi dưỡng, quản lý, công tác thú y chưa được quan tâm đúng mức Việc

ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, lai tạo, chăm sóc, nuôi dưỡng chưa

được triển khai hiệu quả dẫn đến số lượng đàn bò thịt tăng khá nhưng năng

suất, chất lượng đàn bò thịt chưa cao Nguồn lợi phụ phẩm công, nông nghiệp

khá dồi dào nhưng chưa biết tận dụng triệt để không những lãng phí mà còn

gây ô nhiễm môi trường

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của địa phương, tôi tiến hành đề tài:

“Phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk”

làm Đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài tập trung vào nghiên cứu 3 mục tiêu cơ bản sau đây:

- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về chăn nuôi

- Phân tích thực trạng chăn nuôi bò thịt tại huyện M'Đrắk trong giai đoạn

2010-2014 và các nhân tố ảnh hưởng, từ đó đánh giá thành tựu và hạn chế

trong việc phát triển chăn nuôi bò thịt tại địa phương

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu và kiến nghị phát triển chăn nuôi bò

thịt của huyện M’Đrắk

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Tình hình phát triển chăn nuôi bò thịt ở huyện

Trang 11

huyện M'Đrắk giai đoạn 2010-2014 và dự kiến các đề xuất đến năm 2020

4 Nội dung nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu thực trạng chăn nuôi bò thịt tại huyện M'Đrắk bao gồm: Tình hình chăn nuôi bò tại huyện M'Đrắk giai đoạn 2010-2014; vốn đầu

tư cho chăn nuôi bò thịt; các giống bò thịt tại huyện M'Đrắk; phương pháp nuôi bò thịt; nguồn thức ăn để chăn nuôi bò thịt; tình hình tiêm phòng dịch bệnh qua các năm; tình hình dịch bệnh qua các năm; hệ thống thú y phục vụ tại địa phương; hệ thống tiêu thụ sản phẩm thịt bò tại địa phương Qua đó, chúng tôi đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển chăn nuôi bò thịt của huyện M'Đrắk đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập Số liệu

- Thu thập tài liệu thứ cấp: Tài liệu thứ cấp (số liệu đã công bố) là nguồn

số liệu quan trọng mà thiếu nó thì đề tài nghiên cứu sẽ mất đi tính hiện thực

Để thu thập được nguồn số liệu quan trọng này nhằm phục vụ đề tài tôi đã tham khảo qua nhiều sách báo, tài liệu và sử dụng các báo cáo của huyện M'Đrắk (phòng thống kê huyện, phòng công thương, phòng nông nghiệp, phòng tài chính kế hoạch huyện); số liệu thứ cấp của Sở, Ban, Ngành cấp tỉnh; của một số Bộ, Ngành liên quan

5.2 Phương pháp phân tích số liệu

Đề tài kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như:

- Phân tích thống kê

- Phương pháp so sánh, đánh giá, khái quát …

- Phân tích thực chứng

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài góp phần kiểm chứng các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển chăn nuôi bò thịt, qua đó giúp các nhà hoạch định chính sách, đồng thời hỗ trợ

Trang 12

các đơn vị chăn nuôi bò thịt huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk có cái nhìn tổng thể

về mình (điểm mạnh, điểm yếu) để phát huy thế mạnh, hạn chế điểm bất lợi nhằm giúp các cơ sở sản xuất phát triển cả ở thị trường trong và ngoài nước

7 Tổng quan các nghiên cứu

Chăn nuôi trong Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng không chỉ phải với các nước Đang phát triển mà cả với các nước phát triển Đã có nhiều nghiên cứu của các nhà kinh tế thế giới mà ngày nay chúng ta vẫn có thể vận dụng vào thực tiễn phát triển chăn nuôi của Việt Nam

Quan điểm phát triển chăn nuôi thể hiện ngay từ thời David Ricacdo (1772 - 1823) Nhà kinh tế học người Anh cho rằng phát triển nông nghiệp phải chú trọng phát triển chăn nuôi qua đó sử dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất quan trọng nhất là đất đai và nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ sản xuất nông nghiệp góp phần tăng năng suất và thu nhập của nông dân

Theo Lewis (1954) đại diện cho trường phái Tân cổ điển muốn phát triển nông nghiệp thì phải chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp hay những ngành có năng suất cao hơn Khu vực nông nghiệp, tồn tại tình trạng dư thừa lao động và lao động dư thừa này dần dần được chuyển sang khu vực công nghiệp Chính Lewis đã chỉ ra tầm quan trọng của sự phát triển nông nghiệp trong quá trình này đã tạo ra sự tích lũy vốn cho sự phát triển công nghiệp hay quá trình chuyển dịch sẽ giúp cho cả nông nghiệp và công nghiệp cùng phát triển và do đó thúc đẩy kinh tế phát triển Trong ngành nông nghiệp, khác với ngành trồng trọt ngành chăn nuôi có khả năng phát triển sản xuất lớn theo hướng công nghiệp hóa và do đó sẽ thu hút lao động dư thừa

từ trồng trọt

Torado (1990) cho rằng sự phát triển nông nghiệp là quá trình chuyển đổi từ độc canh tới đa dạng hóa rồi chuyên môn hóa Nếu xét trên phương diện công nghệ quá trình này từ công cụ thô sơ tiến tới công cụ máy móc

Trang 13

cùng với đầu vào từ công nghiệp tiến tới giai đoạn cơ giới hóa nông nghiệp Đây cũng là quá trình chăn nuôi quy mô hộ gia đình nhỏ tiến dần tới trang trại chăn nuôi được chuyên môn hóa cao tận dụng lợi thế quy mô

Với cách tiếp cận mô hình hàm sản xuất Sung Sang Park (1992) cho rằng phát triển nông nghiệp quá trình phát triển nông nghiệp trải qua 3 giai đoạn:

sơ khai, đang phát triển và phát triển Mỗi giai đoạn phát triển, sản lượng nông nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau Giai đoạn sơ khai, sự phát triển nông nghiệp chỉ dựa vào khai thác yếu tố từ tự nhiên và lao động (chủ yếu theo chiều rộng) Giai đoạn đang phát triển – sự phát triển dựa vào ngoài các yếu tố ban đầu còn dựa vào các yếu tố đầu vào được sản xuất từ khu vực công nghiệp (phân bón, thuốc hóa học) Giai đoạn phát triển nhờ sử dụng các yếu tố sản xuất từ công nghiệp đặc biệt máy móc và kỹ thuật hiện đại

mà năng suất nông nghiệp tăng lên Theo Park quá trình phát triển này cũng

là quá trình chuyển dịch mạnh lao động khỏi nông nghiệp nhằm giải quyết tình trạng lao động dư thừa Đây cũng chính là mô hình phát triển chăn nuôi Phát triển nông nghiệp cũng là mục tiêu của nhiều nghiên cứu Việt Nam, các nghiên cứu này cũng cho rằng phát triển nông nghiệp thể hiện nhiều khía cạnh khác nhau Nội dung đầu tiên mà nhiều nghiên cứu như Nguyễn Sinh Cúc (2003), Đặng Kim Sơn (2008) và Hoàng Thị Chính (2010) đã khẳng định là sự gia tăng quy mô sản lượng trồng trọt và chăn nuôi thông qua chỉ tiêu giá trị sản xuất nông nghiệp Nhưng nội dung này mới chỉ phản ánh

về mặt lượng, các nghiên cứu còn đi vào xem xét năng suất của các ngành, các sản phẩm chủ yếu trong nông nghiệp Không dừng ở đó các nghiên cứu còn đề cập tới nội dung tới sự phát triển của các ngành trong nông nghiệp

và chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp Việc huy động và hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất được đề cập tới, Nguyễn Xuân Thảo (2004) và Nguyễn Sinh Cúc đề nghị đầu tư nhiều hơn cho nông nghiệp, Đặng Kim Sơn

Trang 14

(2001, 2008) và Đào Thế Tuân (2008) khẳng định phải nâng cao trình độ

kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất nông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng Tổ chức sản xuất nông nghiệp cũng được đề cập tới, ở Việt Nam những đột phá trong tổ chức sản xuất nông nghiệp đã trở thành cú hích phát triển Nguyễn Sinh Cúc, Trần Đức (1998) và Đặng Kim Sơn (2008), Bùi Quang Bình (2006) khẳng định nên sử dụng mô hình kinh tế trang trại và thực hiện dồn điền đổi thửa mở rộng quy mô chăn nuôi Ngoài ra thu nhập của các

hộ nông dân cũng được quan tâm nghiên cứu

Riêng phát triển chăn nuôi bò thịt Bùi Quang Bình (2004) công bố nghiên cứu tình hình phát triển chăn nuôi bò thịt ở tỉnh Bình Định trên các khía cạnh phát triển về số lượng, quy mô, chất lượng, tổ chức sản xuất, giải quyết các yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ Các giải pháp phát triển cũng theo hướng hoàn thiện các nội dung này Trong nghiên cứu năm 2005, Bùi Quang Bình đã khẳng phát triển chăn nuôi bò thịt trên cơ sở khai thác các thế mạnh về tự nhiên lao động và truyền thống chăn nuôi ở đây sẽ bảo đảm sự phát triển bền vững nền kinh tế Đây là bài học hữu ích cho nhiều địa phương

Từ những quan điểm này có thể rút ra các nội dung của phát triển nông nghiệp bao gồm cả nội dung về kinh tế, xã hội và môi trường Phần dưới đây

trình bày kỹ hơn

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo… Đề tài nghiên cứu gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển chăn nuôi bò thịt

Chương 2: Thực trạng phát triển chăn nuôi bò thịt ở huyện M'Đrắk

Chương 3: Quan điểm, Phương hướng và giải pháp phát triển chăn nuôi

bò thịt ở huyện M'Đrắk

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN

CHĂN NUÔI BÒ THỊT

1.1.1 Vai trò của chăn nuôi bò thịt

a Chăn nuôi bò thịt đóng góp vào gia tăng sản lượng và chuyển dịch

cơ cấu nông nghiệp

Nông nghiệp và khu vực nông thôn đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân: cung cấp sản phẩm làm nguyên liệu cho sản xuất, xuất khẩu sản phẩm tạo nguồn ngoại tệ, cung cấp lao động cho các lĩnh vực kinh

tế và là thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp và góp phần giải quyết vấn đề xã hội cho đất nước Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, nông nghiệp là nguồn sống của đại đa số dân cư, do vậy phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn là cơ sở để giải quyết nhiều vấn đề của đất nước như: đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên, xóa đói giảm nghèo và ổn định kinh tế xã hội

Để phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn, thực hiện quá trình công nghiệp hóa cần thiết phải có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

và nông thôn Theo nghĩa hẹp, nông nghiệp có hai ngành lớn là trồng trọt

và chăn nuôi, ngoài ra còn có thể kể tới một số ngành tiểu thủ công nghiệp

và dịch vụ nông nghiệp Trong điều kiện của nước ta hiện nay, việc phát triển ngành chăn nuôi vừa đáp ứng với điều kiện thực tế, vừa phù hợp xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế - tăng tỷ trọng của chăn nuôi trong giá trị sản lượng ngành nông nghiệp và tập trung vào phát triển đại gia súc

Từ năm 1991 đến nay, ngành chăn nuôi ở nước ta phát triển tương đối nhanh Tuy nhiên, vì quy mô của chăn nuôi vẫn còn nhỏ, nên chưa thể thúc đẩy sự phát triển của toàn ngành nông nghiệp Nếu năm 1996 trong 1% tăng

Trang 16

trưởng của ngành nông nghiệp, ngành trồng trọt đóng góp 86%, chăn nuôi chỉ đóng góp 13,4%, đến năm 2009 tỷ trọng có sự thay đổi trong đó trồng trọt tuy có giảm nhưng vẫn còn cao khoảng 63,5%, chăn nuôi tăng lên 35% Như vậy, với những ưu thế của mình, muốn cho nông nghiệp phát triển cần phải phát triển chăn nuôi, trong đó có chăn nuôi bò thịt và thực hiện chuyển

dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp

b Chăn nuôi bò thịt đảm bảo cung cấp cho nền kinh tế nhiều loại sản phẩm

Từ ngàn đời nay, con người đã thuần hoá và nuôi bò để phục vụ cho các lợi ích khác nhau Cũng giống một số loài nhai lại khác như dê, cừu,

trâu… bò có khả năng sử dụng và chuyển hoá các loại thức ăn thô xanh (các

loại rau, cỏ tự nhiên, cỏ trồng ), các phế phụ phẩm CNN (rơm lúa,

bã sắn, ngọn mía, bẹ và lá ngô,…) có giá trị hàng hoá rất thấp hoặc thậm

chí không có giá trị hàng hoá thành nhiều sản phẩm có giá trị cao

Thứ nhất, tăng sản phẩm thịt cho xã hội, do vậy mà giảm nhập khẩu thịt

đỏ (thịt trâu và bò) Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, mức sống của con người ngày càng được nâng lên Trong điều kiện lao động của nền kinh tế và trình độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cao đòi hỏi cường độ lao động và lao động trí óc ngày càng cao thì nhu cầu thực phẩm dinh dưỡng cao từ sản phẩm động vật mà đặc biệt là thịt bò sẽ ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong bữa ăn hàng ngày của người dân Chăn nuôi bò thịt sẽ đáp ứng được yêu cầu đó

Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng của thịt bò và một số vật nuôi khác

Thành phần hoá học (g/100g) Loại thịt

Nước Protein Mỡ Khoáng Calo

Trang 17

Thịt bò được xếp vào nhóm “thịt đỏ”, có giá trị dinh dưỡng cao Từ thịt

bò người ta có thể chế biến ra nhiều món ăn ngon bổ Chính vì vậy, trên thị trường thịt bò luôn luôn đắt hơn thịt các loại gia súc khác và đắt hơn cả thịt gia cầm (là loại thịt trắng)

Giá trị dinh dưỡng của thịt chủ yếu là nguồn prôtein Đó là loại prôtein hoàn thiện, chứa tất cả các axit amin cần thiết cho cơ thể Thịt cũng chứa các thành phần khác, trong đó có mỡ Chính mỡ trong thịt làm cho nó vừa

có giá trị năng lượng cao vừa góp phần tăng hương vị thơm ngon của thịt

Thứ hai, là nguồn cung cấp phân bón cho trồng trọt, thức ăn cho nuôi

trồng thuỷ sản Trong sản xuất nông nghiệp hướng tới canh tác bền vững không thể không kể đến vai trò của phân bón hữu cơ nhận được từ chăn nuôi Phân chuồng với tỷ lệ N.P.K cao và cân đối, biết chế biến và sử dụng hợp lý

có ý nghĩa lớn trong cải tạo đất trồng trọt, nâng cao năng suất cây trồng Theo ước tính, “mỗi năm từ một con bò cho 8 - 10 tấn phân hữu cơ, trong đó 2 - 4 tấn phân nguyên chất” Phân trâu, bò sau khi xử lý có thể là thức ăn tốt cho cá

và các đối tượng nuôi thuỷ sản khác Ở nước ta, phân bò được sử dụng làm phân bón cho trồng trọt rất phổ biến, đáp ứng 50-70% nhu cầu phân hữu cơ

trong nông nghiệp

Thứ ba, cung cấp sức kéo cho nông nghiệp và vận chuyển Ở nước ta,

nghề nuôi bò gắn liền với nghề trồng lúa nước Ngày nay, chúng ta đang từng

bước cơ giới hoá nông nghiệp, nhưng vai trò của bò trong khâu làm đất (cày,

bừa) và trong nông nghiệp nói chung vẫn rất quan trọng, đặc biệt tại những

vùng nông thôn nghèo không có điều kiện đầu tư máy móc nông nghiệp và những vùng đồi núi khó có thể sử dụng phương tiện máy móc để làm việc thì

sử dụng trâu bò cày bừa vẫn có ý nghĩa quan trọng Bên cạnh đó, bò cũng được sử dụng làm phương tiện chuyên chở, đặc biệt tại các vùng mà đường xá

đi lại không thuận tiện

Trang 18

Thứ tư, cung cấp các phụ phẩm giết mổ cho nông nghiệp và thủ công

mỹ nghệ

Da bò là một mặt hàng rất quan trọng để xuất khẩu cũng như để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp địa phương Người ta dùng da để sản xuất đế giầy, thắt lưng, yên xe, các loại đai da… Da có thể được tách thành 3 lớp: lớp ngoài cùng để sản xuất những mặt hàng cao cấp, làm áo khoác ngoài; lớp giữa làm vali và làm túi đựng áo quần, còn có dính thịt ở trong cùng để sản xuất các sản phẩm da mịn, các lớp lót trong

Da bò là nguồn nguyên liệu chủ yếu cho các nhà máy thuộc da Đáng tiếc là ở nước ta chưa có những cơ chế và biện pháp thích hợp để thu thập nguồn nguyên liệu này Nhiều vùng nông thôn sử dụng lãng phí da bò, dùng

da bò làm thực phẩm

Lông bò rất thích hợp để sản xuất bàn chải mỹ nghệ và lau một số máy móc quang học Sừng bò có nhiều hình dạng khác nhau Màu sắc cũng thay đổi Nếu hơ nóng trên ngọn lửa, sừng bò trở nên dễ uốn theo các hình dạng khác nhau và cuối cùng được cố định trong nước lạnh Sừng bò được gia công chế biến cẩn thận có thể sản xuất ra nhiều mặt hàng có giá trị Là nguyên liệu

rất quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ

c Chăn nuôi bò thịt giúp khai thác tối ưu các nguồn lợi thiên nhiên

Khi chăn nuôi bò trong một khu vực hay một vùng nào, những đồng bãi chăn thả sẽ được khai thác một cách hiệu quả về mặt kinh tế cũng như giải quyết những vấn đề về lao động Bò có hệ thống thần kinh phát triển cho nên chúng có khả năng thích ứng rộng và chống chịu tốt với những điều kiện sống khó khăn với bệnh tật Khi di chuyển từ vùng này sang vùng khác chúng thích

nghi dễ dàng hơn so với các loài gia súc khác

d Chăn nuôi bò thịt tạo thu nhập cho nông dân

Chăn nuôi bò thịt là một ngành kinh doanh có thể thu nhiều lãi, vì nó có

Trang 19

điều kiện tăng năng suất cao (nhất là việc cơ giới hoá các quá trình sản xuất)

và sử dụng hợp lý các loại đất, tận dụng triệt để các loại phế phẩm của ngành trồng trọt và chế biến nông sản là những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng thấp, tổng hợp thành các loại thức ăn có giá trị cao thông qua chế biến cung cấp cho

bò thịt Đây cũng là một trong các yếu tố để làm cho giá thành sản phẩm chăn nuôi bò thịt hạ, sẽ có khả năng phát triển nhanh chóng và rộng rãi tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng thu nhập, tích luỹ và cải thiện đời sống

Bên cạnh đó, chăn nuôi bò thịt còn giúp nông dân có thêm thu nhập

như tiền cày kéo thuê, giúp họ cải thiện cuộc sống, thoát đói nghèo

1.1.2 Đặc điểm của chăn nuôi bò thịt

Chăn nuôi bò thịt là một trong những ngành sản xuất của sản xuất nông

nghiệp, có những đặc điểm riêng như sau:

Thứ nhất, đối tượng tác động của ngành chăn nuôi bò thịt là các cơ thể sống - bò thịt

Đối tượng của ngành chăn nuôi bò thịt là những cơ thể sống có thần kinh rất mẫn cảm với môi trường Cơ thể vật nuôi và môi trường là một thể thống nhất Do đó đòi hỏi người chăn nuôi phải tìm mọi biện pháp kinh tế -

kỹ thuật, tổ chức quản lý (như sản xuất và cung cấp thức ăn, xây dựng chuồng trại hợp lý…) phù hợp với đặc điểm của từng giống bò thịt và từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển thì mới đảm bảo đạt hiệu quả kinh tế cao Trong quá trình sản xuất và quản lý sản xuất, chỉ cần một thiếu sót nào đó trong một khâu công việc cũng có thể dẫn đến những ảnh hưởng lớn, thậm chí làm tổn hại đến cả đàn Do đó, phải tác động cân đối và đồng bộ các biện pháp mới có

thể thu được kết quả cao, sản xuất kinh doanh ngành chăn nuôi mới có lãi

Thứ hai, chăn nuôi bò thịt có thể phát triển tập trung mang tính chất như sản xuất công nghiệp hay di động phân tán mang tính chất như sản xuất nông nghiệp

Trang 20

Chính đặc điểm này đã làm hình thành và xuất hiện ba phương thức chăn nuôi bò thịt khác nhau như chăn nuôi tự nhiên, chăn nuôi công nghiệp và chăn nuôi sinh thái

Chăn nuôi bò thịt theo phương thức tự nhiên là phương thức xuất hiện sớm nhất trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, cơ sở để thực hiện phương thức này là dựa vào các nguồn thức ăn sẵn có ở trong tự nhiên tạo ra Người ta sử dụng các giống bò địa phương bản địa vốn đã thích ứng với môi trường sống và điều kiện thức ăn ở đó Phương thức này thường yêu cầu mức đầu tư thấp, không đòi hỏi cao về kỹ thuật song năng suất thịt cũng thấp, chất lượng sản phẩm thường mang đặc tính tự nhiên nên được ưa chuộng cao và dễ tiêu thụ

Phương thức chăn nuôi bò công nghiệp là phương thức hoàn toàn đối lập với phương thức chăn nuôi bò tự nhiên Phương châm cơ bản của phương thức này là tăng tối đa khả năng tiếp nhận thức ăn của bò nuôi và giảm thiểu quá trình vận động để tiết kiệm hao phí năng lượng, nhằm tăng khối lượng thịt và năng suất thịt bằng cách nhốt bò nuôi trong chuồng trại Thức ăn cho chăn nuôi công nghiệp là thức ăn chế biến sẵn theo phương thức công nghiệp

và sử dụng các kích thích tố tăng trưởng để bò nuôi có thể cho năng suất thịt cao nhất Do đó, đòi hỏi phải đầu tư thâm canh rất lớn, không phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên năng suất thịt khá cao và ổn định Tuy nhiên, chất lượng sản phẩm chăn nuôi bò công nghiệp thường khác xa với sản phẩm

tự nhiên kể cả giá trị dinh dưỡng, hương vị và tính chất vệ sinh an toàn thực phẩm Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi bò công nghiệp này vẫn được chấp nhận và thực hiện rộng rãi trên thế giới

Phương thức chăn nuôi bò thịt sinh thái là phương thức chăn nuôi tiên tiến nhất, nó kế thừa cả những ưu điểm của hai phương thức trên đồng thời hạn chế và khắc phục những mặt yếu kém và tồn tại của cả hai phương thức

Trang 21

nêu trên Phương thức chăn nuôi này tạo ra các điều kiện và ngoại cảnh để

bò thịt được phát triển trong môi trường tự nhiên trên cơ sở các nguồn thức ăn dinh dưỡng mang tính tự nhiên nhưng do con người chủ động hình thành nên

luôn bảo đảm tính cân đối và đầy đủ dinh dưỡng

Thứ ba, chăn nuôi bò thịt là ngành sản xuất đồng thời cho nhiều sản phẩm

Tùy theo mục đích sản xuất để quy định là sản phẩm chính hay sản phẩm phụ và lựa chọn phương hướng đầu tư Chẳng hạn chăn nuôi bò thịt thì thịt là sản phẩm chính, nhưng bò thịt còn sinh bê con và nguồn phân bón cho ngành trồng trọt Vì có nhiều sản phẩm đồng thời mà nhiều khi giá trị của sản phẩm phụ không kém gì sản phẩm chính Vì vậy mà trong chăn nuôi bò thịt

phải biết tận dụng tất cả các loại sản phẩm để bảo đảm hiệu quả kinh doanh

Chăn nuôi bò thịt đòi hỏi vốn lớn, thời gian thu hồi vốn chậm

Vốn trong tổ chức sản xuất chăn nuôi bò thịt sử dụng cho việc xây dựng chuồng trại, mua con giống, cải tạo và trồng mới đồng cỏ, cùng các chi phí khác phục vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng Các đầu tư chi phí trên

có giá trị lớn và không thể thu hồi ngay trong năm Trong chăn nuôi bò thịt để

có cơ cấu đàn cái sinh sản quy mô từ 3 đến 5 con thì chi phí đầu tư con giống

và chuồng trại trong khoảng 25 triệu đồng, đây là mức đầu tư lớn so với tiềm năng tích lũy của các hộ nông dân nông nghiệp Vốn đầu tư cho chăn nuôi bò thịt thu hồi chậm, thông thường thời gian có thu sản phẩm trong chăn nuôi bò thịt tính từ thời điểm bò cái mang thai đến thời điểm được bê nuôi thịt được bán (từ 18 đến 24 tháng tuổi) trong khoảng từ 30 đến 36 tháng, nếu bán bê giống mất khoảng 15 đến 18 tháng

Để phát triển chăn nuôi bò thịt, Nhà nước cần có cơ chế chính sách tạo điều kiện cho hộ chăn nuôi tiếp cận các nguồn vốn tín dụng với các điều kiện vay thuận lợi, lãi suất và thời gian vay vốn phù hợp

Trang 22

1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT

Chăn nuôi trong nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng không phải chỉ với các nước đang phát triển mà cả với các nước phát triển Đã có nhiều nghiên cứu của các nhà kinh tế thế giới mà ngày nay chúng ta vẫn có thể vận dụng vào thực tiễn phát triển chăn nuôi bò thịt ở Việt Nam trong đó đều khẳng định phát triển là sự vận động đi lên theo hướng hoàn thiện hơn cả về quy mô, chất lượng của chăn nuôi bò thịt cùng với cải thiện phương thức tổ chức chăn nuôi và bảm đảm lợi ích cho người sản xuất Nội dung của phát

triển chăn nuôi bò thịt bao hàm các nội dung sau:

1.2.1 Gia tăng quy mô chăn nuôi bò thịt

Phát triển nông nghiệp cũng là mục tiêu của nhiều nghiên cứu Việt Nam, các nghiên cứu này cũng cho rằng phát triển nông nghiệp thể hiện nhiều khía cạnh khác nhau

Trước hết quy mô của ngành chăn nuôi bò thịt thể hiện qua quy mô đàn

bò - số lượng đàn bò Sau chu kỳ chăn nuôi bò thịt người ta sẽ tái đàn song song với quá trình thu hoạch Do đó quy mô chăn nuôi bò thịt còn được phản ánh bằng tổng sản lượng thịt bò mà các ngành sản xuất này tạo ra trong một thời gian nhất định thường là tổng trọng lượng bò thịt xuất chuồng trong kỳ Ngoài ra người ta sử dụng giá trị sản lượng để phản ảnh Điều này cũng thuận lợi nhiều hơn cho tính toán và so sánh

Tuy nhiên sự gia tăng sản lượng chăn nuôi bò thịt này còn phải được duy trì ổn định trong thời gian dài Nghĩa là trước những biến động từ nhiều nhân tố như điều kiện thời tiết khí hậu, biến động từ thị trường hay từ dịch bệnh… sản lượng nông nghiệp vẫn được đảm bảo gia tăng

Quy mô sản lượng chăn nuôi bò thịt phán ảnh kết quả hoạt động của các

cơ sở các tổ chức sản xuất Sản lượng lượng thịt đạt được nhờ sự phân bổ và kết hợp sử dụng các nguồn lực trong chăn nuôi Sản lượng cao hay thấp thể

Trang 23

hiện quy mô lớn hay bé của ngành sản xuất Rõ ràng sản lượng chăn nuôi bò thịt gia tăng nhờ mở rộng sử dụng các nguồn lực - phát triển theo chiều rộng

và nâng cao hiệu quả phân phối và sử dụng nguồn lực - phát triển theo chiều sâu Các mô hình lý thuyết nên ở mục trên đều khẳng định điều này

Tiêu chí:

- Tăng trưởng quy mô đàn bò

+ Số lượng bò thịt;

+ Số lượng bò thịt tăng thêm hàng năm

- Tăng trưởng giá trị chăn nuôi bò thịt

Giá trị sản lượng bò thịt (GO) là toàn bộ giá trị của số lượng bò do

hộ gia đình và người sản xuất bán ra thị trường trong một thời kỳ nhất định

(thường là 1 năm)

Giá trị sản xuất chăn nuôi bò thịt được tính theo phương pháp chu chuyển nghĩa là cho phép tính trùng giữa trồng trọt và chăn nuôi trong nội bộ

ngành

1.2.2 Nâng cao năng suất và chất lượng chăn nuôi bò thịt

Chất lượng sản phẩm và năng suất chăn nuôi bò thịt có vai trò lớn trong quyết định sự phát triển của ngành chăn nuôi bò thịt Những giống bò có năng suất thịt cao vừa đáp ứng nhu cầu thịt bò của thị trường vừa làm tăng nhanh sản lượng thịt bò Năng suất cao còn quyết định tới thu nhập và khả năng tái sản xuất mở rộng ngành sản xuất này vốn là một ngành đòi hỏi lượng vốn đầu

Trang 24

khi đó sự phát triển sẽ bị tác động rất xấu Khi đó sẽ dẫn tới sự đình trệ hệ thống chăn nuôi bò thịt trong nhiều trường hợp dẫn tới sự phá sản hàng loạt các cơ sở chăn nuôi bò thịt như nhiều nước trên thế giới đã xảy ra

Năng suất chỉ có thể được thực hiện khi các nguồn lực được khai thác

có hiệu quả

Tiêu chí: Trọng lượng xuất chuồng sau 1 chu kỳ nuôi; tỷ trọng thịt xẻ;

tỷ lệ đàn bò lai; tỷ lệ giống mới

1.2.3 Gia tăng nguồn lực cho phát triển

Sự phát triển chăn nuôi bò thịt được thực hiện qua: (1) Huy động thêm các nguồn lực để tăng quy mô sản xuất ngành chăn nuôi này như đầu tư tăng thêm số lượng đàn bò, mở rộng diện tích đồng cỏ để tăng lượng thức ăn…; (2) Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp chẳng hạn đầu tư cải tạo giống cho đàn bò, thâm canh trồng cỏ trên một đơn vị diện tích, nâng cao trình độ kỹ thuật cho người chăn nuôi hay áp dụng quy trình công nghệ quản lý đàn bò …

Cách phát triển thứ nhất dường như gặp phải giới hạn của quy luật lợi suất giảm dần khi tăng nguồn lực cho sản xuất Hơn nữa nhiều nguồn lực trong nông nghiệp bị giới hạn cứng chẳng hạn diện tích đất canh tác Nhưng cách phát triển dựa trên tiến bộ công nghệ cùng các nhân tố khác lại không bị giới hạn Quan điểm phát triển chăn nuôi thể hiện ngay từ thời David Ricacdo

(1772-1823) Nhà kinh tế học người Anh cho rằng phát triển nông nghiệp

phải chú trọng phát triển chăn nuôi nhờ đó sử dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất quan trọng nhất là đất đai và nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ sản xuất nông nghiệp góp phần tăng năng suất và thu nhập của nông dân Nghĩa là nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực để tăng năng suất vẫn là xu hướng chính

để gia tăng sản lượng chăn nuôi hay là phát triển theo cách thứ hai

Do vậy, ngoài số lượng lao động thì trình độ của lao động trong ngành chăn nuôi bò thịt rất quan trọng Chăn nuôi bò thịt là một trong những ngành

Trang 25

sản xuất của sản xuất nông nghiệp, song có những khác biệt so với sản xuất của ngành trồng trọt khác khi nó đòi hỏi phải kỹ thuật cao hơn do đối tượng tác động của ngành chăn nuôi bò thịt là các cơ thể sống - bò thịt Để đảm bảo

có năng suất chăn nuôi và chất lượng sản phẩm yêu cầu quá trình sản xuất phải tuân thủ những quy trình kỹ thuật nhất định với những tiêu chuẩn đi kèm Điều đó cũng như kinh nghiệm thực tiễn đã cho thấy để thực hiện điều này đòi hỏi người sản xuất phải là những người am hiểu về đối tượng, quy trình sản xuất và các tiêu chuẩn kỹ thuật Muốn thực hiện được điều này, điều kiện đầu tiên đòi hỏi người chăn nuôi phải có trình độ học vấn nhất định, vốn kiến thức phổ thông này giúp họ tiếp cận với kỹ thuật chăn nuôi và quản lý

Trình độ kiến thức về kỹ thuật chăn nuôi, thú y và quản lý sẽ quyết định tới kết quả sản xuất và chất lượng sản phẩm khi người sản xuất biết chọn con giống, chăm sóc phòng bệnh, xây dựng chuồng trại bảo đảm kỹ thuật và tiết kiệm, chọn chế biến thức ăn cũng như chế độ dinh dưỡng cho bò, quyết định chu kỳ kinh doanh, mở rộng sản xuất… Để có được kỹ thuật chăn nuôi

và kiến thức quản lý chăn nuôi bò thịt đòi hỏi người chăn nuôi còn phải có quá trình tích lũy nhất định bằng cách tham gia các khóa đào tạo chính quy, không chính quy cũng như từ thực tiễn Việc cung cấp kiến thức kỹ thuật và thú y cũng như quản lý chăn nuôi nói chung và bò thịt nói riêng phụ thuộc vào nhu cầu của các hộ chăn nuôi, hệ thống các trung tâm khuyến nông và thú

y cũng như các trung tâm và cơ sở đào tạo chuyên môn ở mỗi khu vực và địa phương Khi quy mô sản xuất càng phát triển thì yếu tố này càng quan trọng

và có tính chất quyết định Những bằng chứng thực tế đã cho thấy những người chăn nuôi bò thịt có tham gia các đợt tập huấn kỹ thuật hay các câu lạc

bộ chăn nuôi thường có kết quả kinh doanh tốt hơn (Đinh Phi Hổ (2003) và

Bùi Quang Bình (2004))

Kết quả kinh doanh bò thịt của những người kinh doanh quyết định

Trang 26

họ Khi kinh doanh có lãi họ mới có nguồn tích lũy để tái sản xuất mở rộng và

có nhiều kinh nghiệm hơn Lợi nhuận như sự kích thích và tăng thêm động lực để họ tiếp tục kinh doanh Những hộ thành công sẽ có nhu cầu hợp tác làm ăn để hình thành những Hợp tác xã hay doanh nghiệp lớn kinh doanh bò thịt Đồng thời họ sẽ mở rộng sản xuất từ chăn nuôi sang các hoạt động dịch

vụ phục vụ chăn nuôi chính như cung cấp giống, thức ăn, thú y và tiêu thụ sản phẩm…

Ngoài ra hiệu ứng từ những người này sẽ kéo theo những người khác tham gia kinh doanh bò thịt Khi đó sẽ hướng sự quan tâm của chính quyền tới phát triển ngành sản xuất này

Từ đặc điểm của chăn nuôi bò thịt đòi hỏi phải tiến hành đầu tư cơ bản cho đàn bò không nhỏ bao gồm:

(1) Đầu tư cho cơ sở hạ tầng chuồng trại theo tiêu chuẩn kỹ thuật, hệ thống xử lý chất thải, và đặc biệt là giống bò

(2) Khoản thứ hai không kém phần quan trọng là khoản đầu tư thường

xuyên về thức ăn để duy trì và phát triển đàn bò (như: xây dựng đồng cỏ và hệ

thống xử lý thức ăn…)

Nếu cơ cấu đầu tư giữa 2 phần này không cân đối thì dẫn tới tình trạng

dư thừa lãng phí hay sẽ làm chậm sự phát triển, thậm chí phá hủy cả đàn bò

Ngoài ra chăn nuôi bò thịt theo chu kỳ sản xuất nhất định nên phải đánh giá chu kỳ sản xuất và đầu tư cho chăn nuôi một cách hợp lý trên cơ sở tính toán cân đối giữa chi phí sản xuất và sản phẩm tạo ra, giữa chi phí đầu tư xây dựng cơ bản và giá trị đào thải để lựa chọn thời điểm đào thải, lựa chọn phương thức đầu tư mới hay duy trì tái tạo phục hồi

Kinh nghiệm của nhiều địa phương đã cho thấy yếu tố vốn có vai trò rất lớn trong việc phát triển ngành sản xuất này Thiếu vốn người sản xuất không thể mua nổi giống bò có năng suất cao hay cải tạo giống bò địa phương, cũng không thể đầu tư cho chuồng trại và kỹ thuật chăn nuôi nên dựa hoàn toàn vào

tự nhiên để sản xuất Thiếu vốn cũng khiến họ phải bán rẻ đàn bò cho

Trang 27

tư thương khi gặp khó khăn trong sản xuất hay cần tiền trang trải cho các nhu cầu cuộc sống cấp bách của họ

Vốn là yếu tố không thể thiếu được với bất kỳ quá trình sản xuất nào Chăn nuôi bò yêu cầu vốn lớn, đặc biệt là vốn đầu tư ban đầu: Mua con giống, thuốc thú y… hơn nữa chăn nuôi bò chịu rủi ro lớn, nếu không có vốn lớn hoặc kịp thời sẽ ảnh hưởng lớn tới sản xuất khi gặp rủi ro như dịch bệnh, giá

cả không ổn định… Nguồn vốn lớn tạo điều kiện phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, đẩy mạnh chăn nuôi theo đúng hướng thâm canh, năng suất chất lượng cao trong chăn nuôi Ngược lại, sẽ hạn chế khả năng phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật và như vậy hình thức chăn nuôi phù hợp là quảng canh, tận dụng Hình thức chăn nuôi này năng suất lao động không cao, khó có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng và hướng cho xuất khẩu Trong tương lai hình thức chăn nuôi quảng canh, tận dụng là không thích hợp

mà nó phải là hình thức chăn nuôi thâm canh cho năng suất chất lượng cao

Như vậy, tạo nguồn vốn cho chăn nuôi là hết sức cần thiết Với một ngân sách rất eo hẹp, thường xuyên thiếu hụt thì vốn là vấn đề bức xúc hiện nay Hệ thống ngân hàng với chức năng là trung gian tài chính, là công cụ đắc lực trong việc huy động vốn, góp phần giải quyết bức xúc đó

Tiêu chí

- Huy động và hiệu quả sử dụng nguồn lực

Với vốn phản ánh: Tổng số vốn đầu tư cho chăn nuôi

+ Sản lượng thịt /1 đơn vị vốn

+ Hay mức tăng sản lượng thịt /1 đơn vị vốn…

Với đất đai:

+ Diện tích đất dành cho chăn nuôi bò

+ Chỉ tiêu sản lượng cỏ cho chăn nuôi/đơn vị diện tích

+ Hay gia tăng sản lượng/sự gia tăng 1 đơn vị diện tích

+ Hay tổng thu nhập/1 đơn vị diện tích

Trang 28

Với lao động:

+ Giá trị sản lượng chăn nuôi bò thịt/1 lao động;

+ Mức tăng Giá trị sản lượng chăn nuôi bò thịt/1 lao động tăng thêm

1.2.4 Tổ chức tốt chăn nuôi bò thịt

Đối với một ngành sản xuất, tổ chức quản lý bao trùm cả về kỹ thuật, nhân sự, phương thức sản xuất, cung ứng đầu vào và giải quyết đầu ra, Sự yếu kém hoặc ách tắc ở bất kỳ khâu nào cũng đều ảnh hưởng đến kết quả của sản xuất Chăn nuôi bò thịt ở nước ta hiện nay chủ yếu theo ba hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu: Hộ gia đình, hợp tác xã, trang trại, trong đó hình thức chăn nuôi hộ gia đình vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, đặc biệt tỷ lệ này ở các tỉnh khu vực miền núi Bắc Bộ càng cao hơn Với các tỉnh trung du và miền núi kinh tế hộ chưa chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá, nhiều nơi chưa thoát khỏi tập quán sản xuất tự cung tự cấp, ở nhiều nơi còn sản xuất tự phát, chưa theo quy hoạch Điều đó thể hiện trong chăn nuôi bò thịt như quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào trong chăn nuôi rất hạn chế, năng suất và chất lượng sản phẩm thấp Kinh tế trang trại tuy

có những bước phát triển, nhưng phổ biến là trang trại gia đình, quy mô sản xuất nhỏ, chủ trang trại thiếu kiến thức về quản lý kinh tế Việc xác định rõ hình thức tổ chức chăn nuôi sẽ cho phép sử dụng hợp lý các yếu tố của quá

trình sản xuất

Tiêu chí:

- Số lượng và tỷ trọng trang trại chăn nuôi bò thịt

- Số lượng và tỷ trọng hộ gia đình chăn nuôi bò thịt

- Các hình thức liên kết sản xuất kinh doanh chăn nuôi bò thịt

1.2.5 Nâng cao kết quả kinh doanh và thu nhập của người chăn nuôi

Ngành chăn nuôi bò thịt thực sự phát triển khi nó bảo đảm cho người

Trang 29

chăn nuôi có thu nhập và tích lũy từ chăn nuôi nếu không họ sẽ chuyển nguồn lực sang sản xuất sản phẩm khác khi đó quy mô chăn nuôi bò thịt sẽ giảm Chăn nuôi bò thịt phải bảo đảm tạo ra việc làm và tăng thêm thu nhập cho những người tham gia chăn nuôi

Mặt khác, đây là ngành hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp do vậy phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Sự phát triển chăn nuôi bò thịt ở những nơi

có tiềm năng sẽ góp phần phát huy lợi thế gia tăng thu nhập cho người dân

góp phần phát triển kinh tế địa phương

NUÔI BÒ THỊT

1.3.1 Các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội

a Điều kiện tự nhiên

Cũng giống như các đối tượng vật nuôi khác của sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi bò thịt phụ thuộc rất lớn và điều kiện tự nhiên vì chúng đều là những động vật sống

Khí hậu, thời tiết

Khí hậu với các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng, độ ẩm, chế độ gió và cả những bất thường của thời tiết như bão, lũ lụt, gió… có ảnh hưởng rất lớn tới việc xác định cơ cấu cây trồng vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, khả năng xen canh, tăng vụ và hiệu quả sản xuất nông nghiệp Tính mùa của khí hậu quy định tính mùa trong sản xuất và trong tiêu thụ sản phẩm Mỗi loại cây

trồng, vật nuôi chỉ thích hợp với những điều kiện khí hậu nhất định (nghĩa

là trong điều kiện đó cây trồng, vật nuôi mới có thể phát triển bình thường)

vượt quá giới hạn cho phép, chúng sẽ chậm phát triển, thậm chí bị chết

Bò, đặc biệt bò lai là động vật rất mẫn cảm với môi trường, đặc biệt

là với nhiệt độ và độ ẩm Bản thân con bò như một chiếc máy sống sản xuất sữa, thịt với nhịp điệu căng thẳng Các giống bò ôn đới như Holstein Friesian

Trang 30

phát triển tốt nhất ở nhiệt độ từ 18 - 250C và độ ẩm thích hợp là 60-75%

Các giống bò nhiệt đới như Red Sindhi, Sahiwal có năng suất thấp hơn một ít so với giống bò trên, dễ thích nghi với nhiệt độ từ 20- 320C Do vậy bò

vàng cải tiến (bò lai giữa bò địa phương với bò Red Sindhi trong chương

trình Sind hoá đàn bò) ở các tỉnh miền Trung Tây Nguyên và bò đực HF biểu

hiện sự thích nghi tốt với khí hậu nước ta và khu vực này

Khí hậu thời tiết không những ảnh hưởng trực tiếp lên con vật, mà còn ảnh hưởng tới tình hình dịch bệnh và cả thu gom bảo quản sản phẩm Ngoài ra nó còn là nhân tố ảnh hưởng tới việc sản xuất thức ăn cho gia súc nói chung và bò thịt nói riêng

Đất đai và nguồn nước

Đất đai là cơ sở đầu tiên, quan trọng nhất để tiến hành trồng trọt, chăn nuôi Đất trồng là tư liệu sản xuất chủ yếu là cơ sở để tiến hành trồng trọt và chăn nuôi Không thể có sản xuất nông nghiệp nếu không có đất đai Quỹ đất,

cơ cấu sử dụng đất, các loại đất, độ phì của đất có ảnh hưởng rất lớn đến quy

mô và phương hướng sản xuất cỏ cho chăn nuôi bò thịt tập trung và các bãi chăn thả tập trung

Muốn duy trì hoạt động chăn nuôi bò cần phải có đầy đủ nguồn nước ngọt cho đồng cỏ, nước uống, nước tắm rửa cho bò Nước có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng thịt và hiệu quả sản xuất chăn nuôi, như ông cha ta đã khẳng định “nhất nước nhì phân” Những nơi có nguồn cung cấp nước dồi dào, thường xuyên đều là những nơi có nền nông nghiệp trù phú, chẳng hạn như vùng hạ lưu các con sông lớn như sông Mê Kông, Sông Hoàng Hà… Do ảnh hưởng của khí hậu và địa hình nên nguồn nước trên thế giới phân bố không đồng đều và thay đổi theo mùa

Ở nước ta lượng mưa tập trung quá lớn làm dư thừa nước, còn mùa khô ngược lại rất khan hiếm nước Điều đó gây ra nhiều khó khăn cho sản

Trang 31

xuất nông nghiệp Để khắc phục được trình trạng thiếu nước trong mùa khô và quá dư thừa nước cho mùa mưa, người ta đã xây dựng các công trình thuỷ lợi, hồ chứa nước… để phục vụ tưới tiêu một cách chủ động Sự suy giảm nguồn nước ngọt là nguy cơ đe doạ sự tồn tại và phát triển của nền nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung Vì vậy, chúng ta cần sử dụng hợp

lý, tiết kiệm, bảo vệ nguồn nước

Với năng suất trồng cỏ thâm canh ở nước ta hiện nay, bình quân mỗi con bò cần có 500 m2 đất trồng cỏ Việc trồng cỏ cho bò lệ thuộc vào quỹ đất cũng như điều kiện tự nhiên tại đó Bãi cỏ tự nhiên ở nước ta nói chung cũng như ở Tây Nguyên nói riêng thường thiếu màu mỡ, cằn cỗi do thiếu nước nên sản lượng cỏ thấp khoảng 8 tấn/ha/năm Muốn có đồng cỏ thâm canh người ta thường phải đầu tư khá nhiều công sức và tiền vốn

b Điều kiện về kinh tế

- Tình hình phát triển kinh tế

Sự phát triển của nền kinh tế nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng

là nhân tố ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của ngành chăn nuôi này Sự phát triển của nền kinh tế vừa tạo điều kiện thúc đẩy vừa đặt ra yêu cầu đối với

sự phát triển của ngành chăn nuôi bò thịt

Nhu cầu thịt tăng lên không ngừng khi nên kinh tế phát triển do thu

nhập của dân cư cao hơn (hiện tại mức tiêu dùng thịt bò của người dân Việt

Nam chỉ khoảng 1,5 kg/người/năm), thị trường đầu ra cho sản phẩm thịt được

mở rộng Điều này cho phép khắc phục vấn đề khó khăn nhất của sản phẩm nông nghiệp là thị trường đầu ra

Khi nền kinh tế có một nền công nghiệp hiện đại, đặc biệt là công nghiệp chế biến thực phẩm sẽ là nhân tố giúp cho chăn nuôi bò thịt phát triển, khi đó sản phẩm của chăn nuôi sẽ trở thành đầu vào cho ngành công nghiệp chế biến này Nếu xét dưới khía cạnh đầu vào, ngành công nghiệp chế biến

Trang 32

thức ăn chăn nuôi phát triển sẽ cung cấp đầy đủ về lượng và đảm bảo về chất cho chăn nuôi bò thịt Ngoài ra, khi nền kinh tế phát triển, khả năng tích lũy của nó cũng cao hơn và do vậy mà nền kinh tế có khả năng cung cấp vốn cho phát triển chăn nuôi bò thịt Chăn nuôi bò thịt nhất là chăn nuôi công nghiệp hay sinh thái đều đòi hỏi lượng vốn đầu tư khá lớn mà tích lũy từ nông nghiệp khó có thể đảm bảo

Sự phát triển của ngành nông nghiệp sẽ ảnh hưởng lớn tới sự phát triển chăn nuôi nói chung và bò thịt nói riêng Sự phát triển của ngành nông nghiệp

mà bao gồm trồng trọt và chăn nuôi chỉ có thể đạt được nếu ngành chăn nuôi phát triển Vì sự phát triển của chăn nuôi nói chung và bò thịt nói riêng sẽ:

- Tăng nhanh giá trị sản lượng và giá trị gia tăng nông nghiệp;

- Thúc đẩy ngành trồng trọt phát triển khi cung cấp phân bón;

- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp;

- Cung cấp sức kéo cho sản xuất nông nghiệp;

- Thu hút bởi lao động dư thừa từ ngành trồng trọt giảm căng thẳng về việc làm

Chính sự phát triển của nông nghiệp trong đó có ngành trồng trọt sẽ bảo đảm cho sự phát triển của ngành chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi bò thịt khi chính ngành trồng trọt bảo đảm cung cấp nguồn thức ăn chăn nuôi không nhỏ cho ngành này từ chính phẩm và phụ phẩm trong sản xuất trồng trọt Ngoài ra, ngành trồng trọt cũng góp phần nâng cao giá trị của phụ phẩm trong ngành chăn nuôi khi ngành này sử dụng phân bón của chăn nuôi bò thịt với giá cả tương đối cao

Trong thực tế sẽ không có sự tách biệt rõ ràng giữa ngành sản xuất này trong nông nghiệp Việt Nam nói chung và M'Đrắk (Đắk Lắk) nói riêng, vì đặc thù sản xuất nông nghiệp của chúng ta hiện này chưa có sự chuyên môn hóa cao Người chăn nuôi bò thịt ở M'Đrắk cũng lại chính là người sản xuất trồng

Trang 33

trọt Nghĩa là mối quan hệ tương tác giữa hai ngành trồng trọt và chăn nuôi được thực hiện ngay trong từng cơ sở sản xuất Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay thì trình độ chuyên môn hóa này có vẻ thích hợp, nhưng về lâu dài sẽ dịch chuyển dần theo hướng chuyên môn hóa cao hơn

c Điều kiện xã hội

lẻ, lao động là những thành viên trong hộ, cơ bản không có chuyên môn kỹ thuật Chất lượng lao động hiện tại có những tác động gây trở ngại đến sự phát triển chăn nuôi bò thịt, ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả lao động trong chăn nuôi

Để chuyển giao được các tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi bò thịt (kỹ thuật mới và những quy trình chăn nuôi tiên tiến, giống mới với công tác lai tạo và nhân giống), Nhà nước phải mở các lớp tập huấn về kỹ thuật chăn nuôi

bò thịt nhằm nâng cao trình độ hiểu biết kỹ thuật cho người chăn nuôi, đặc biệt là người chăn nuôi ở vùng sâu, vùng xa

- Giao thông cơ sở hạ tầng

Hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng là điều kiện để người nông dân tiếp cận với các thông tin thị trường, khoa học kĩ thuật chăn nuôi, giúp người dân thuận tiện trong việc mua bán tiêu thụ sản phẩm, giúp người nông dân có điều kiện giao lưu học hỏi kinh nghiệm sản xuất tốt Hệ thống giao thông cơ sở hạ tầng tốt tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các dịch vụ chăn nuôi như cung

Trang 34

cấp thức ăn chăn nuôi, thú y,…

1.3.2 Các nhân tố về kĩ thuật chăn nuôi

a Giống

Giống là yếu tố tiền đề trong việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm cũng như hiệu quả sản xuất Đàn bò Việt Nam hiện nay dù đã trải qua nhiều chương trình Sind hóa đàn bò nhằm cải tạo giống nhằm tăng năng suất thịt Tuy nhiên hiện nay tỷ lệ đàn bò lai của Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 30% còn lại 70% là giống bò vàng địa phương Đặc điểm của bò vàng địa phương là chịu đựng điều kiện nóng ẩm nhiệt đới, thích nghi với điều kiện chăn nuôi tận dụng, đầu tư thấp, chăn thả trên đồng bãi cỏ tự nhiên, thành

thục sớm, mắn đẻ… song có nhược điểm là tầm vóc nhỏ (trọng lượng trưởng

thành chỉ đạt 180 kg/con), sinh trưởng chậm, năng suất thịt - sữa thấp, tỷ lệ

thịt xẻ chỉ đạt 30% Rõ ràng, nâng cao chất lượng thịt dựa vào việc cải tạo giống bò được đặt lên hàng đầu Hiện tại nguồn cung cấp giống và dịch vụ lai giống phụ thuộc vào chương trình cải tạo giống bò địa phương của Trung ương nhưng đã kết thúc vào năm 2010, hiện chưa có chương trình thay thế Người nông dân vẫn phải dựa vào nguồn cung trên thị trường và thường không đảm bảo chất lượng Kinh nghiệm của những địa phương có đàn bò lai phát triển đều đã có hệ thống cung cấp giống bò lai và ngân hàng tinh trùng

để nhân giống Nên địa phương nào muốn phát triển đàn bò thịt thì khâu đầu tiên phải giải quyết vấn đề giống bò cho người chăn nuôi Cũng cần nhớ rằng, việc cải tạo giống này đòi hỏi chi phí không nhỏ nhất là đối với những nông dân nghèo Đề đạt được mục tiêu cải tạo giống bò và cung cấp giống tốt cần phải kết hơp với việc hỗ trợ vốn thì mới hiệu quả

Để tiêu thụ và xuất khẩu được thịt bò, trước hết cần phải đầu tư để cải tiến và nâng cao chất lượng con giống Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trọng lượng trung bình của bò cái nội lúc trưởng thành là 180 – 200kg/con và bò đực là

Trang 35

210 – 250kg/con, tỷ lệ thịt xẻ thấp (khoảng 40%), trong khi đó bò lai giữa cái lai Sind và Charolais 24 tháng tuổi đã đạt trọng lượng 290 – 300kg/con, tỷ lệ thịt xẻ là 53% Do đó cần phải tiến hành cải tạo giống để nâng cao tầm vóc, chất lượng đàn bò và tăng năng suất chăn nuôi cũng như thúc đẩy ngành chăn

nuôi bò thịt ngày một phát triển

b Nguồn cung cấp thức ăn cho bò thịt

Do đặc điểm của chăn nuôi bò thịt là các cơ thể sống và chúng luôn cần một lượng tiêu tốn thức ăn tối thiểu cần thiết thường xuyên, không kể rằng các đối tượng này nằm trong quá trình sản xuất hay không Từ đặc điểm này,

để phát triển chăn nuôi bò thịt thì người sản xuất phải giải quyết vấn đề thức

ăn Thức ăn không chỉ để duy trì đàn bò thịt bình thường mà còn để phát triển đàn bò Thức ăn phải đảm bảo số lượng, chất lượng cũng như theo cơ cấu thức ăn từng thời kỳ chăn nuôi nhất định Thức ăn cho bò không chỉ ảnh hưởng tới duy trì đàn bò mà còn ảnh hưởng tới năng suất thịt và chất lượng thịt

Thức ăn cho bò ở nước ta chủ yếu là các nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp và tận dụng chăn thả tự nhiên Tuy nhiên, bãi chăn đang ngày càng bị thu hẹp, nhiều phế phụ phẩm đang còn bị lãng phí chưa được tận thu để nuôi

bò Một số giống cỏ nhập nội đã được trồng thử và chọn lọc, nhưng hiện nay mới chỉ được trồng ở một số cơ sở chăn nuôi bò giống và một số rất ít các địa phương Nói chung việc đưa tiến bộ kỹ thuật, thức ăn và nuôi dưỡng bò ở nước ta còn nhiều hạn chế, tình trạng bò bị thiếu thức ăn, nhất là vào mùa khô

và bị thiếu dinh dưỡng vẫn còn khá phổ biến

c Hệ thống cung cấp dịch vụ kỹ thuật và thú y

Nhiệm vụ của công tác thú y là đề phòng và chống bệnh cho đàn gia súc, kiểm nghiệm sản phẩm chăn nuôi trước khi xuất bán Công tác thú y liên quan chặt chẽ đến việc bảo vệ sức khỏe cho vật nuôi và người tiêu dùng, là

Trang 36

nhân tố làm hạn chế các rủi ro xảy ra trong quá trình chăn nuôi Trong điều kiện hiện nay, chăn nuôi bò thịt phân tán thì việc tổ chức mạng lưới thú y đáp ứng cho công tác phòng chống bệnh dịch, bảo đảm an toàn cho vật nuôi là hết sức quan trọng Để làm được như vậy, ngoài nhu cầu kinh phí cho các hoạt động của mạng lưới thú y, việc cung ứng thuốc thú y và vaccin phải thường xuyên, phải làm tốt công tác thông tin, truyền thông, quảng cáo nhằm nâng cao nhận thức của người chăn nuôi về vai trò vị trí của công tác thú y trong

quy trình chăn nuôi bò thịt

1.3.3 Các nhân tố về chính sách và thị trường cho phát triển chăn nuôi bò thịt

a Về chính sách

Chính sách phát triển chăn nuôi bò thịt của địa phương là tổng thể các biện pháp của chủ thể sử dụng để tác động vào quy mô sản lượng và năng suất chăn nuôi bò thịt của địa phương thông qua quản lý, điều chỉnh quy hoạch phát triển, các quy định sử dụng đất nông nghiệp cho chăn nuôi,

hỗ trợ tài chính và thuế, cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ cho chăn nuôi bò thịt

Chính sách phát triển chăn nuôi bò thịt có thể chia thành 2 loại dựa theo

tiêu chí “cởi trói” và “thúc đẩy” đều vì mục tiêu phát triển, nhưng có đạt được

mục tiêu này hay không còn tùy thuộc vào sự đúng đắn và kịp thời của chính sách

Những chính sách mang tính “cởi trói” đương nhiên đi vào cuộc sống một cách “tự nhiên” nhất, nhanh nhất, được thực thi đầy đủ nhất, hiệu quả nhất Để ban hành những chính sách "cởi trói", người ta chỉ cần lương tâm và

lòng dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, thừa nhận cái gì vốn có của đời sống

kinh tế Hơn nữa, thực tiễn “xé rào” đã buộc những nhà hoạch định chính sách phải hành động “mở khóa” cho cái “lò xo” bấy lâu bị ép chặt và do đó

Trang 37

cái “lò xo” này sẽ tự bật lên hết cỡ để trở về trạng thái vốn có ban đầu của nó,

mà không cần bất kỳ một tác động nào khác đối với nền kinh tế Nhưng cũng

vì lập tức “bật trở lại” vị thế ban đầu, nên nền kinh tế không thể tạo ra khả

năng phát triển mới về chất Điều này trong chăn nuôi bò thịt thể hiện ở chỗ các chính sách đất đai nông nghiệp nếu mở rộng hạn điền tức là cởi trói cho việc tích tụ đất để tạo đồng cỏ phát triển chăn nuôi bò thịt công nghiệp

Những chính sách “thúc đẩy” thì hoàn toàn khác hẳn với chính sách

“cởi trói” Với vai trò thúc đẩy sự phát triển, đạt chất lượng mới cao hơn, nó

phải được hoạch định có căn cứ khoa học và thực tiễn, đòi hỏi nhà hoạch định chính sách không chỉ có lương tâm và lòng dũng cảm mà điều quan trọng hơn

là phải có trí tuệ Trí tuệ được thể hiện bằng sự hiểu biết thấu đáo lý luận, kinh nghiệm nước ngoài và khả năng vận dụng lý luận, kinh nghiệm quốc tế vào thực tiễn Việt Nam để phân tích thực trạng, phát hiện vấn đề nảy sinh trong nông nghiệp, nông thôn, nguyên nhân của chúng và đề xuất giải pháp khả thi Trong chăn nuôi bò thịt khi các chính sách hỗ trợ tài chính, khuyến nông có chất lượng sẽ thúc đẩy sự phát triển của ngành chăn nuôi này

Mặt khác, các chính sách phát triển chăn nuôi bò thịt phải có căn

cứ khoa học nghĩa là phải dựa vào những kết quả nghiên cứu khoa học về các vấn đề cụ thể trong phạm vi chính sách Ngành chăn nuôi này đòi hỏi yêu cầu

kỹ thuật rất cao và các quyết định cũng có yêu cầu như vậy

Trong các chính sách phát triển chăn nuôi thì quy hoạch giữ vai trò quyết định vì nó dựa vào những căn cứ có tính khoa học cao khi xây dựng Trên cơ sở đó bố trí không gian cũng như khả năng huy động nguồn lực cho phát triển ngành chăn nuôi này Nhưng quy hoạch cũng đòi hỏi phải có các chính sách khác đồng bộ mới đảm bảo phát triển cho ngành, ngoài chính sách đất đai thì chính sách vốn, chính sách đào tạo nhân lực, chính sách khuyến nông, thú y… cũng rất quan trọng Vì thiếu chúng những mục tiêu quy hoạch

Trang 38

cũng sẽ không thể thực hiện được

b Thị trường tiêu thụ sản phẩm

Chính hệ thống tiêu thụ sản phẩm tốt cũng sẽ thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa cao trong chăn nuôi bò thịt khi người chăn nuôi chỉ tập trung vào sản xuất nâng cao sản lượng, năng suất và chất lượng thịt mà không phải tốn thời gian cho công việc tiêu thụ Hệ thống này cũng lại là kênh thông tin rất quan trọng để kết nối người sản xuất và thị trường khi nó cung cấp thông tin giá cả thị hiếu và những yêu cầu của người tiêu dùng qua đó giúp người chăn nuôi điều chỉnh phương thức tổ chức sản xuất cũng như kỹ thuật chăn nuôi để thỏa mãn nhu cầu thị trường

Ở Việt Nam hiện nay, thị trường tiêu thụ nông sản nói chung và sản phẩm chăn nuôi nói riêng là mối quan tâm và nỗi lo thường xuyên của nông dân Các sản phẩm phải bán tươi tại thị trường trong khu vực địa phương mà không đạt đủ các tiêu chuẩn cho xuất khẩu, do chúng ta chưa có các cơ sở chế biến với các dây chuyền thiết bị hiện đại Với các sản phẩm chăn nuôi tiêu thụ nội địa tại các địa phương, chúng ta còn thiếu hệ thống thị trường tiêu thụ có

tổ chức Bên cạnh đó, việc cạnh tranh trong chăn nuôi bò thịt còn thiếu lành mạnh Với những thông tin thị trường tốt hơn, những người thu gom và bán buôn có vị thế kinh tế tốt hơn người sản xuất, trong nhiều trường hợp họ có thể gây ảnh hưởng lớn đến giá mua các loại sản phẩm chăn nuôi

1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT CỦA MỘT

SỐ ĐỊA PHƯƠNG

1.4.1 Kinh nghiệm của tỉnh Nghệ An

Ở Nghệ An, mô hình phát triển bò hàng hoá đang trở thành phong trào

và phát huy được hiệu quả có vai trò quan trọng của quỹ đất nông nghiệp, Quỹ này được các hộ chăn nuôi tại nhiều địa phương trích ra để trồng cỏ voi,

cỏ sả, cỏ zuzi… Đây là một yếu tố rất quan trọng tạo điều kiện để phong trào nuôi bò nhốt tại chuồng phát triển mạnh mẽ Tại nhiều địa phương, nhờ tổ

Trang 39

chức các mô hình nuôi bò nhốt, không mất nhiều thời gian mà mang lại hiệu quả kinh tế cao, bất kỳ hộ gia đình nào có kinh tế dư giả cũng có thể nuôi bò nhốt Mỗi ngày người chăn nuôi chỉ cần bỏ ra 30 phút cắt cỏ là đủ cho vài cặp

mẹ con bò ăn cả ngày Những yếu tố khách quan, chủ quan trên là nguyên nhân đẩy mức tăng sinh học và cơ học của đàn trâu bò Nghệ An lên cao khiến tổng đàn trâu, bò của Nghệ An tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng Điều này góp phần nâng tỷ trọng chăn nuôi trong ngành nông nghiệp từ 20% lên trên 29%, đưa tổng đàn trâu bò của Nghệ An vượt lên tốp dẫn đầu trong cả nước

Lâu nay việc phát triển chăn nuôi bò hàng hoá tại nhiều địa phương đang đặt ra trước mắt các hộ chăn nuôi 3 vấn đề: Giống, tiền vốn và sự quyết tâm đầu tư của người chăn nuôi Tại Nghệ An, chương trình Zêbu hoá đàn

bò vàng được triển khai trong giai đoạn 1995 - 2005 và mở rộng cho đến 2010

đã nâng đàn bò lai Zêbu lên 111.623 con, chiếm gần 84% tổng đàn bò trong tỉnh Đây là yếu tố quan trọng giúp Nghệ An tự giải quyết cơ bản vấn đề giống Đàn bò lai Zêbu trưởng thành ở Nghệ An hiện có khối lượng từ 230 - 250kg/con, tăng hơn hẳn bò vàng bình quân từ 40-50 kg Vấn đề vốn đầu

tư phát triển chăn nuôi cho các nông hộ hiện vẫn còn nan giải Ngoài nguồn

vốn tự có (không nhiều) trong dân và vốn vay qua các tổ chức Hội, Đoàn

thể như Phụ nữ, Cựu Chiến binh, Nông dân, Đoàn Thanh niên tại các Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội, các hộ nông dân còn được hưởng lợi

từ các chính sách đầu tư hỗ trợ của UBND tỉnh (tại Quyết định số

45/QĐ-UB) Nhưng với mức vay vốn hiện nay, người dân cũng chỉ chăn nuôi theo

hướng nhỏ lẻ (1-2 con) Việc chăn nuôi theo mô hình trang trại rất khó khăn

vì người chăn nuôi không đủ điều kiện thế chấp để vay vốn các Ngân hàng thương mại Vướng mắc thứ ba là người dân Nghệ An vẫn còn thiếu kiến thức, kinh nghiệm nên không dám mạnh dạn đầu tư chăn nuôi theo quy mô trang trại và quy mô công nghiệp

Khó khăn thì như vậy, nhưng Nghệ An vẫn không dừng lại ở những kết

Trang 40

quả nói trên Đề án phát triển chăn nuôi trâu, bò hàng hoá trong nông hộ, giai đoạn 2005-2010, với tổng kinh phí dự kiến gần 187 tỷ đồng đang được triển khai, trong đó vốn ngân sách hỗ trợ gần 32 tỷ đồng Đây là một hướng đi nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế tìm các giải pháp để đưa đàn

bò hàng hoá của địa phương phát triển lên một bước cả về số lượng lẫn chất

lượng, nâng đàn bò Zêbu từ 34% (2004) lên 50% vào năm 2010 Trung tâm

Giống chăn nuôi Nghệ An được giao nhiệm vụ đẩy nhanh tiến độ lai tạo một

số giống bò thịt chất lượng cao trên cơ sở đàn bò cái lai Zêbu hiện có Thực hiện Đề án trên, từ đầu năm 2004 đến nay, các địa phương trong tỉnh bắt đầu triển khai phối giống tinh bò chuyên thịt của 4 giống bò Mỹ gồm: Brahman, Droughtmaster, Limousine và Crimousine cho bò cái lai zêbu F1, F2, nhằm tạo ra đàn bê lai có tỷ lệ từ 3/4 đến 7/8 máu ngoại Đây là một hướng đi giúp Nghệ An phát huy tiềm năng chăn nuôi đại gia súc tại địa phương và đẩy

nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Nam

Dự án “Đầu tư tổng thể phát triển đàn bò thịt chất lượng cao và bò sữa

tỉnh Quảng Nam-giai đoạn 2005-2015” đã được Sở Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn và Cty TNHH Kim Ngân (GSS) tư vấn thực hiện, UBND tỉnh nhất

trí thông qua

Quảng Nam là một tỉnh có các điều kiện tự nhiên, kinh tế thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi bò thịt, bò sữa đặc biệt khu vực phía Tây của tỉnh vùng núi và rừng Nghề chăn nuôi bò ở đây đã phát triển khá lâu đời, nhân dân đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong chăm sóc, nuôi dưỡng và chọn lọc, nhờ đó những năm qua đàn bò của Quảng Nam phát triển khá ổn định

Dự án khi được triển khai sẽ thúc đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập thực tế, phục vụ thiết thực đời sống nhân dân trong tỉnh Dự án góp phần tạo ra một quỹ hàng hóa

Ngày đăng: 04/04/2022, 22:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (2003), Chính sách phát triển chăn nuôi giai đoạn 1990-2002, NXB nông nghiệp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển chăn nuôi giai đoạn 1990-2002
Tác giả: Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 2003
[2] Bùi Quang Bình (2002), "Kinh nghiệm phát triển chăn nuôi bò sữa theo mô hình hợp tác xã ở các nước ASEAN", Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 6 (67) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phát triển chăn nuôi bò sữa theo mô hình hợp tác xã ở các nước ASEAN
Tác giả: Bùi Quang Bình
Năm: 2002
[3] Bùi Quang Bình (2004), Thực trạng và giải pháp nhằm phát triển chăn nuôi bò thịt tại tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2005-2010” B2004-14-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp nhằm phát triển chăn nuôi bò thịt tại tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2005-2010
Tác giả: Bùi Quang Bình
Năm: 2004
[4] Bùi Quang Bình (2005), "Chăn nuôi bò thịt - con đường phát triển kinh tế ở Duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam", Tạp chí kinh tế Châu Á Thái Bình Dương, số 20 (64) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi bò thịt - con đường phát triển kinh tế ở Duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam
Tác giả: Bùi Quang Bình
Năm: 2005
[5] Bùi Quang Bình (2010), Kinh tế Phát Triển, NXB Giáo dục Hà Nội [6] Hoàng Thị Chính (2010), "Để nông nghiệp phát triển bền vững", Tạpchí Phát triển kinh tế số tháng 6-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để nông nghiệp phát triển bền vững
Tác giả: Bùi Quang Bình (2010), Kinh tế Phát Triển, NXB Giáo dục Hà Nội [6] Hoàng Thị Chính
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội [6] Hoàng Thị Chính (2010)
Năm: 2010
[7] Cục Chăn nuôi (2005), Tình hình chăn nuôi bò thịt 2001-2005 và định hướng phát triển giai đoạn 2006-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình chăn nuôi bò thịt 2001-2005 và định hướng phát triển giai đoạn 2006-2015
Tác giả: Cục Chăn nuôi
Năm: 2005
[9] Nguyễn Sinh Cúc (2003), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới 1986-2002, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới 1986-2002
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
[10] Đinh Phi Hổ (2003), Kinh tế Nông nghiệp, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Nông nghiệp
Tác giả: Đinh Phi Hổ
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
[11] Lê Viết Ly (1995), Nuôi bò thịt và nhưng kết quả nghiên cứu bước đầu ở Việt Nam, NXB nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi bò thịt và nhưng kết quả nghiên cứu bước đầu ở Việt Nam
Tác giả: Lê Viết Ly
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1995
[12] Lewis, A. W. (1954), "Economic Development with Unlimited Supplies of Labour", The Manchester School, 22 (2), 1954, pp.139-191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic Development with Unlimited Supplies of Labour
Tác giả: Lewis, A. W
Năm: 1954
[13] Nguyễn Thế Nhã (2002), Kinh tế nông nghiệp, NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thế Nhã
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2002
[15] Hoàng Mạnh Quân (2000), Một số giải pháp kinh tế- kỹ thuật chủ yếu phát triển chăn nuôi bò ở hộ nông dân tỉnh Quảng Bình, Luận án tốt nghiệp tiến sĩ, đại học nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp kinh tế- kỹ thuật chủ yếu phát triển chăn nuôi bò ở hộ nông dân tỉnh Quảng Bình
Tác giả: Hoàng Mạnh Quân
Năm: 2000
[18] Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2010), Dự thảo Báo cáo Dự án Quy hoạch tổng thể nông nghiệp và nông thôn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2011 - 2020, định hướng đến 2025 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Báo cáo Dự án Quy hoạch tổng thể nông nghiệp và nông thôn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2011 - 2020, định hướng đến 202
Tác giả: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2010
[19] Đặng Kim Sơn (2001), Công nghiệp hóa từ nông nghiệp - lý luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa từ nông nghiệp - lý luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
[20] Đặng Kim Sơn (2008), Phát triển nông nghiệp, nông thôn trong quá trình CNH, NXB Tri Thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông nghiệp, nông thôn trong quá trình CNH
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: NXB Tri Thức
Năm: 2008
[21] Đào Thế Tuân (2008), Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt Nam, NXB Tri Thức 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt Nam
Tác giả: Đào Thế Tuân
Nhà XB: NXB Tri Thức 2008
Năm: 2008
[22] Nguyễn Văn Thưởng, Kỹ thuật nuôi bò sữa, bò thịt ở gia đình, NXB nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi bò sữa, bò thịt ở gia đình
Nhà XB: NXB nông nghiệp
[23] Nguyễn Xuân Thảo (2004), Góp phần phát triển bền vững Nông thôn Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần phát triển bền vững Nông thôn Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Thảo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia 2004
Năm: 2004
[24] Phạm Thế Trịnh (2007), Điều chỉnh quy hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn tỉnh Đắk Lắk đến 2010 và tầm nhìn 2020, Tạp chí địa chính số 3 – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh quy hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn tỉnh Đắk Lắk đến 2010 và tầm nhìn 2020
Tác giả: Phạm Thế Trịnh
Năm: 2007
[28] Ricardo (1772-1823) On the Principles of Political Economy and Taxation, http://www.econlib.org/library/Ricardo/ricP.html Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 3.1 Mơ hình liên kết trong chăn ni bị thịt 86 Biểu đồ 2.1 Trọng lượng xuất chuồng của bò  48  Biểu đồ 2.2 Giá bán bò hơi của các hộ chăn nuôi 49  Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ chi phí sản xuất của các nhóm hộ - (luận văn thạc sĩ) phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện mđắk, tỉnh đắk lắk
Sơ đồ 3.1 Mơ hình liên kết trong chăn ni bị thịt 86 Biểu đồ 2.1 Trọng lượng xuất chuồng của bò 48 Biểu đồ 2.2 Giá bán bò hơi của các hộ chăn nuôi 49 Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ chi phí sản xuất của các nhóm hộ (Trang 8)
Bảng 2.2: Cơ cấu đàn bò phân bố theo các xã ở huyện M'Đrắk - (luận văn thạc sĩ) phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện mđắk, tỉnh đắk lắk
Bảng 2.2 Cơ cấu đàn bò phân bố theo các xã ở huyện M'Đrắk (Trang 44)
Bảng 2.3: Quy mơ ni bị theo nhóm hộ và 2 xã: Krông Jing, Cư Prao Tỷ lệ nuôi (%) - (luận văn thạc sĩ) phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện mđắk, tỉnh đắk lắk
Bảng 2.3 Quy mơ ni bị theo nhóm hộ và 2 xã: Krông Jing, Cư Prao Tỷ lệ nuôi (%) (Trang 45)
Bảng 2.6: Diện tích đất trồng cỏ ở huyện M'Đrắk - (luận văn thạc sĩ) phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện mđắk, tỉnh đắk lắk
Bảng 2.6 Diện tích đất trồng cỏ ở huyện M'Đrắk (Trang 49)
Bảng 2.7: Sử dụng lao động trong chăn ni bị ở huyện M'Đrắk Sử dụng lao động - (luận văn thạc sĩ) phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện mđắk, tỉnh đắk lắk
Bảng 2.7 Sử dụng lao động trong chăn ni bị ở huyện M'Đrắk Sử dụng lao động (Trang 53)
* Tình hình phát triển kinh tế - (luận văn thạc sĩ) phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện mđắk, tỉnh đắk lắk
nh hình phát triển kinh tế (Trang 61)
Bảng 2.11: Tình hình nguồn vốn đầu tư (2011- 2014) - (luận văn thạc sĩ) phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện mđắk, tỉnh đắk lắk
Bảng 2.11 Tình hình nguồn vốn đầu tư (2011- 2014) (Trang 62)
Bảng 2.12: Phân bổ nguồn vốn - (luận văn thạc sĩ) phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện mđắk, tỉnh đắk lắk
Bảng 2.12 Phân bổ nguồn vốn (Trang 63)
Bảng 2.13: Số lượng một số phụ phẩm thu được năm 2013 Chỉ tiêu Sản lượng trung - (luận văn thạc sĩ) phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện mđắk, tỉnh đắk lắk
Bảng 2.13 Số lượng một số phụ phẩm thu được năm 2013 Chỉ tiêu Sản lượng trung (Trang 69)
* Tình hình dịch bệnh và thực hiện công tác thú y - (luận văn thạc sĩ) phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện mđắk, tỉnh đắk lắk
nh hình dịch bệnh và thực hiện công tác thú y (Trang 70)
khác. Đứng trước tình hình dịch bệnh như trên cơng tác phịng trừ dịch bệnh đã được  chủ động  và đáp  ứng  nhu  cầu  phòng  và  chữa  trị  bệnh  gia  súc  cho  nhân dân - (luận văn thạc sĩ) phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện mđắk, tỉnh đắk lắk
kh ác. Đứng trước tình hình dịch bệnh như trên cơng tác phịng trừ dịch bệnh đã được chủ động và đáp ứng nhu cầu phòng và chữa trị bệnh gia súc cho nhân dân (Trang 72)
Bảng 3.1: Phát triển đàn bò huyện M’Đrắk đến năm 2020 - (luận văn thạc sĩ) phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện mđắk, tỉnh đắk lắk
Bảng 3.1 Phát triển đàn bò huyện M’Đrắk đến năm 2020 (Trang 85)
Bảng 3.2: Phát triển bò lai Zêbu ở huyện M’Đrắk đến năm 2020 - (luận văn thạc sĩ) phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện mđắk, tỉnh đắk lắk
Bảng 3.2 Phát triển bò lai Zêbu ở huyện M’Đrắk đến năm 2020 (Trang 86)
Bảng 3.4: Số lượng đàn bò trong vùng chăn nuôi tập trung đến 2020 - (luận văn thạc sĩ) phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện mđắk, tỉnh đắk lắk
Bảng 3.4 Số lượng đàn bò trong vùng chăn nuôi tập trung đến 2020 (Trang 89)
Ngoài ra, cần mở rộng các hình thức sản xuất khác như liên doanh, liên kết kinh tế giữa các hộ có điều kiện để phát triển chăn nuôi bò thịt một cách  có quy củ hơn - (luận văn thạc sĩ) phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn huyện mđắk, tỉnh đắk lắk
go ài ra, cần mở rộng các hình thức sản xuất khác như liên doanh, liên kết kinh tế giữa các hộ có điều kiện để phát triển chăn nuôi bò thịt một cách có quy củ hơn (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w