Tớnh cấp thiết của ủề tài
Phú Yên, một tỉnh nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở nông thôn, chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp cho thu nhập Tuy nhiên, diện tích đất canh tác nông nghiệp đang ngày càng thu hẹp trong khi dân số lại tăng lên Để nâng cao đời sống của người dân khu vực nông thôn và miền núi, việc phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cây sắn, trở thành một yêu cầu cấp thiết nhằm tăng thu nhập cho hộ nông dân trồng sắn.
Năm 2008, UBND tỉnh Phú Yên đã phê duyệt Quy hoạch vùng nguyên liệu sắn trên địa bàn tỉnh đến năm 2010 với diện tích 9.500 ha, trong đó nhà máy tinh bột sắn Sông Hinh chiếm 6.000 ha và nhà máy tinh bột sắn Đồng Xuân 3.500 ha Đến năm 2015, diện tích quy hoạch đã tăng lên 12.000 ha để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho các nhà máy chế biến tinh bột sắn trong tỉnh Vùng nguyên liệu chủ yếu tập trung ở các huyện miền núi như Sông Hinh (4.000 ha), Sơn Hòa (2.000 ha), và Đồng Xuân (3.000 ha).
Tuy nhiờn, thời gian qua diện tớch vựng nguyờn liệu sắn trờn ủịa bàn tỉnh có xu hướng tăng nhanh, từ 10.565 ha (năm 2005) tăng lên 15.247 ha (năm
Từ năm 2010 đến năm 2014, diện tích trồng sắn đã tăng lên 19.516 ha, với năng suất bình quân đạt 18,3 tấn/ha vào năm 2014 Tuy nhiên, việc mở rộng sản xuất quá nhanh và vượt quy hoạch đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất của các loại cây trồng khác, làm cho đất nhanh bạc màu và thoái hóa Tình trạng chặt phá rừng để trồng sắn cũng diễn ra ở nhiều nơi, gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường.
Tình trạng sản xuất sắn hiện nay gặp nhiều khó khăn do tổ chức sản xuất chưa hợp lý và không theo quy hoạch Nhiều vùng trồng sắn nằm trên đất kém màu mỡ, thiếu nước tưới, và kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, dẫn đến năng suất thấp Chính sách khuyến khích phát triển vùng nguyên liệu chưa đủ hấp dẫn đối với nông dân, không đảm bảo lợi ích hài hòa giữa người trồng sắn và nhà máy chế biến, gây ra nhiều rủi ro trong quá trình sản xuất.
Tình hình sản xuất cây sắn tại tỉnh Phú Yên hiện đang gặp nhiều khó khăn và bất cập, đòi hỏi cần có những giải pháp phát triển phù hợp với định hướng của ngành Việc đề xuất các giải pháp khoa học và thực tiễn cho sự phát triển cây sắn tại tỉnh Phú Yên trong những năm tới là rất cần thiết Do đó, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Phát triển cây sắn trên địa bàn tỉnh Phú Yên” để tìm ra những hướng đi hiệu quả.
Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cây sắn;
- Phõn tớch, ủỏnh giỏ thực trạng phỏt triển cõy sắn trờn ủịa bàn tỉnh Phỳ Yên;
- ðề xuất một số giải phỏp nhằm phỏt triển cõy sắn trờn ủịa bàn tỉnh Phỳ Yờn, giai ủoạn 2016-2020.
ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển cây sắn tại tỉnh Phú Yên.
+ Về khụng gian: ðề tài chỉ tập trung nghiờn cứu trờn ủịa bàn tỉnh Phỳ Yên
+ Về thời gian: Nghiờn cứu thực trạng phỏt triển cõy sắn trong giai ủoạn
2010 - 2014 và nghiờn cứu ủề xuất giải phỏp phỏt triển cõy sắn ủến năm 2020.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu chủ yếu dựa vào các nguồn dữ liệu thứ cấp từ tỉnh, huyện và các đề tài nghiên cứu liên quan, bao gồm Niêm giám thống kê, báo cáo hàng năm của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Nông nghiệp và PTNT, cùng với thông tin từ hai nhà máy sắn tại tỉnh Phú Yên.
- Phương phỏp xử lý số liệu: Số liệu sau khi ủược thu thập sẽ sử dụng phần mềm excel ủể xử lý theo cỏc mục tiờu của ủề tài
Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu bao gồm việc thu thập, xử lý và tổng hợp thông tin để phân tích và mô tả nguồn dữ liệu đã thu thập Qua đó, chúng ta có thể đề xuất các giải pháp thực hiện hiệu quả hơn.
Bố cụ c của luận văn
Ngoài phần mở ủầu, mục lục, danh mục cỏc bảng biểu, cỏc hỡnh ảnh, kết luận và tài liệu tham khảo, ủề tài chia làm 03 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển cây sắn
Chương 2: Thực trạng phỏt triển cõy sắn trờn ủịa bàn tỉnh Phỳ Yờn
Chương 3: Giải phỏp phỏt triển cõy sắn trờn ủịa bàn tỉnh Phỳ Yờn.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÂY SẮN
ðẶC ðI ỂM VÀ VAI TRÒ CỦA CÂY SẮN
Phát triển kinh tế là quá trình chuyển đổi theo hướng tiến bộ trong tất cả các lĩnh vực kinh tế và xã hội của một quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng trưởng.
Trong thế giới tự nhiên và các mối quan hệ xã hội, "Phát triển" được hiểu qua nhiều quan niệm và trạng thái khác nhau Tuy nhiên, chung quy lại, "Phát triển" là thuật ngữ phản ánh sự gia tăng và tiến bộ, kết quả của quá trình vận động của một hay nhiều hoạt động kinh tế - xã hội trong một giai đoạn hoặc thời kỳ nhất định.
Phát triển kinh tế được thể hiện qua sự gia tăng về số lượng và quy mô sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ, và cải thiện chất lượng sản phẩm Đồng thời, tiến bộ trong khoa học công nghệ và sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế xã hội cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình này.
Phát triển là một khái niệm chung, nhưng mỗi chủ thể kinh tế đều có tiêu chí phát triển riêng, phụ thuộc vào khả năng, trình độ và công nghệ của từng đơn vị.
Phát triển là quá trình tiến hóa của xã hội và cộng đồng dân tộc, liên quan đến các chủ thể lãnh đạo và quản lý Quá trình này đòi hỏi các chiến lược và chính sách phù hợp với đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của từng cộng đồng Mục tiêu là tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người để đạt được thành quả bền vững, đồng thời phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.
- Phát tri ể n cây công nghi ệ p ng ắ n ngày:
Nông nghiệp được chia thành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ dựa vào ứng dụng của sản phẩm Trong lĩnh vực trồng trọt, sản xuất được phân loại thành cây lương thực và cây công nghiệp Cây công nghiệp lại được chia thành cây ngắn ngày và cây lâu năm dựa vào thời gian chu kỳ kinh doanh, theo Tổng cục Thống kê.
Việc phát triển cây công nghiệp ngắn ngày đòi hỏi phải xác định loại cây trồng phù hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế mà cây trồng mang lại.
Cây sắn là một loại cây công nghiệp ngắn ngày, và để phát triển bền vững, cần đảm bảo năng suất, sản lượng, chất lượng và hiệu quả cao trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ Đồng thời, cần giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường để hướng tới sự ổn định lâu dài.
Phát triển cây sắn là một chiến lược quan trọng nhằm tăng trưởng quy mô và hoàn thiện cơ cấu sản xuất, đồng thời kết hợp hài hòa giữa ba yếu tố: kinh tế, xã hội và môi trường, để đạt được sự phát triển bền vững.
1.1.2 ðặc ủiểm của cõy sắn a ðất ủai là tư liệu sản xuất chủ yếu
Trong sản xuất nông nghiệp miền núi, đặc biệt là cây sắn, đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng, quyết định đến quá trình sản xuất Sản xuất cây sắn thường mang tính mùa vụ, ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng thu hoạch.
Tớnh mựa vụ là nột ủặc thự ủiển hỡnh nhất của sản xuất nụng nghiệp, ủặc biệt là sản xuất trồng trọt
Việc áp dụng lao động và các tư liệu sản xuất không đồng nhất trong suốt chu kỳ sản xuất là một biểu hiện rõ nét của tính thời vụ.
Cây sắn có thời gian sinh trưởng từ 8-10 tháng, vì vậy thời vụ trồng thường vào đầu và cuối mùa mưa để cây phát triển tốt Sản xuất cây sắn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên.
Sản xuất cây sắn chịu ảnh hưởng lớn từ điều kiện tự nhiên, đặc biệt là độ ẩm và khí hậu Khi gặp điều kiện thuận lợi, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của cây sắn sẽ được cải thiện đáng kể.
Cây sắn là loại cây dễ trồng, tốn ít công sức và vốn đầu tư thấp, nên được nhiều hộ nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số lựa chọn Tuy nhiên, sản xuất cây sắn hiện nay chưa đạt hiệu quả cao, thường bị xói mòn và thoái hóa nhanh chóng Do đó, cần thiết phải quy định rõ các khu vực trồng sắn, đặc biệt là những vùng có độ dốc trên 30 độ và đất bạc màu, nhằm hạn chế xói mòn và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Sắn là cây trồng có khả năng sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau, từ đất xám bạc màu đến đất phèn mặn Giới hạn pH của đất phù hợp cho cây sắn khá rộng, từ đất chua (pH < 4) đến đất kiềm yếu (pH = 7,5), nhưng pH lý tưởng nhất là 5,5 Trong chu kỳ canh tác, sắn thường là cây trồng cuối cùng trước khi phục hồi đất Điều này cho thấy yêu cầu về đất của sắn không quá khắt khe Tuy nhiên, với các giống sắn cao sản mới, yêu cầu về chất lượng đất để trồng sắn làm nguyên liệu cho chế biến công nghiệp cần được chú trọng hơn so với phương thức trồng quảng canh trước đây.
Bảng 1.1 Yêu cầu sinh thái của cây sắn
1 Nhiệt ủộ khụng khớ trung bình năm
- Trung bình tối thấp năm
2 Lượng mưa trung bình năm (m m)
3 Số tháng khô hạn/năm
- ðộ dày tầng ủất mịn
Nguồn: Giáo trình cây sắn – Nhà xuất Bản TP Hồ Chí Minh
Ghi chỳ: Mức ủộ hạn chế như sau: (1)- khụng hạn chế; (2)- Hạn chế nhẹ; (3)- hạn chế vừa; (4)- Hạn chế nặng; (5)- Hạn chế rất nặng
NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN CÂY SẮN
1.2.1 Về bảo ủảm nguồn lực cho sản xuất
- Nguồn nhõn lực ủảm bảo cho sản xuất sắn bao gồm nguồn lực lao ủộng ở ủịa phương ủể phục vụ hoạt ủộng sản xuất sắn
- Nguồn lực tài chính phục vụ sản xuất sắn
1.2.2 Về công tác tổ chức trong quá trình sản xuất
- Nõng cao hiệu quả của hoạt ủộng sản xuất sắn, kỹ thuật trồng và chăm sóc cây sắn
- Tạo ra những thay ủổi tớch cực về mặt xó hội
Tiến tới hoàn thiện tổ chức sản xuất, cần thiết phải thiết lập mối liên kết giữa nông dân với nông dân, giữa nông dân và doanh nghiệp, cũng như giữa nhà quản lý và nhà khoa học Sự hợp tác này sẽ tạo ra một hệ thống sản xuất hiệu quả, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.
- Khả năng ứng dụng cơ giới hóa vào trồng sắn
1.2.3 Về gia tăng kết quả và hiệu quả sản xuất sắn
- Sự gia tăng kết quả sản xuất ủược thể hiện qua sự gia tăng năng suất, sản lượng và chất lượng sản xuất
Năng suất cây sắn tăng lên nhờ vào nhiều yếu tố như điều kiện tự nhiên, phương thức canh tác và giống cây Để nâng cao năng suất, cần áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất.
Sự gia tăng sản lượng sắn phụ thuộc vào việc mở rộng diện tích và nâng cao năng suất Trong bối cảnh hiện nay, khi nguồn cung khan hiếm, việc tăng năng suất sắn trở thành giải pháp tối ưu nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất tinh bột sắn và cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác như sản xuất cồn, xăng sinh học, và bánh kẹo.
Sự gia tăng chất lượng sản phẩm sắn được thúc đẩy bởi việc đầu tư vào giống sắn mới và áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp Những nỗ lực này nhằm nâng cao hàm lượng tinh bột trong sắn, từ đó cải thiện chất lượng tổng thể của sản phẩm.
Để đánh giá hiệu quả kinh tế của cây sắn, cần xem xét hoạt động sản xuất sắn của nông dân trên một hecta thông qua việc xác định lợi ích và chi phí sản xuất.
Cây sắn, với thời gian sản xuất từ 8-10 tháng, là một loại cây trồng hàng năm có chu kỳ kinh doanh ngắn Các sản phẩm từ sắn như tinh bột, xăng, cồn và thức ăn gia súc đóng vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp chế biến Việc sản xuất cây sắn không chỉ cung cấp nguồn nguyên liệu thiết yếu mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm ổn định cho người lao động địa phương, từ đó cải thiện đời sống nông thôn và miền núi, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Xác định chi phí kinh tế trong sản xuất cây sắn không chỉ bao gồm chi phí nguyên vật liệu, máy móc, vật tư và giống, mà còn phải xem xét chi phí cơ hội liên quan đến việc sản xuất các loại cây trồng khác Việc phát triển cây sắn có thể dẫn đến sự giảm sút trong sản xuất nông nghiệp đa dạng, gây ra xung đột với quy hoạch rừng và làm giảm tính bền vững của hệ sinh thái Để đánh giá sự phát triển kinh tế của cây sắn, các tiêu chí như lợi nhuận, chi phí đầu tư và tác động môi trường thường được sử dụng.
- Diện tích gieo trồng (ha)
- Năng suất bình quân (tấn/ha)
- Giá trị sản xuất (GO)
- Giá trị gia tăng (VA): VA = GO - IC
- Lợi nhuận bình quân/ha
- Giá trị sản xuất/chi phí trung gian (GO/IC)
- Giá trị gia tăng/chi phí trung gian (VA/IC)
- Tỷ lệ giá trị sản xuất bơ/giá trị sản xuất ngành trồng trọt
Trong ủú cỏc chỉ tiờu ủược tớnh như sau:
Tổng Giá trị sản xuất (GO) là tổng hợp toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ được sản xuất bởi lực lượng lao động trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.
GO = P x Q Trong ủú: P: giỏ bỏn/kg
+ Chi phí trung gian (IC): Là bộ phận cấu thành tổng giá trị sản xuất bao gồm: chi phớ vật chất và chi phớ thuờ ngoài (thuờ Lao ủộng)
Giá trị gia tăng (VA) là giá trị mà các sản phẩm vật chất và dịch vụ được các ngành sản xuất tạo ra trong một năm hoặc một chu kỳ sản xuất kinh doanh Công thức tính giá trị gia tăng là VA = GO - IC, trong đó GO là giá trị sản phẩm đầu ra và IC là giá trị sản phẩm đầu vào.
1.2.4 Về mở rộng thị trường tiêu thụ sắn
Liên kết giữa các nhà máy sản xuất tinh bột sắn, nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học và người trồng sắn là yếu tố quan trọng để phát triển ngành sắn Hơn nữa, việc đa dạng hóa các sản phẩm từ sắn sẽ giúp mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị kinh tế cho cây sắn.
Xúc tiến thương mại nhằm tiếp cận các thị trường mới như Mỹ và EU là cách hiệu quả để nâng cao giá trị sản phẩm và giảm sự phụ thuộc vào thị trường truyền thống, đặc biệt là thị trường Trung Quốc.
CÁC NHÂN T Ố ẢNH HƯỞNG ðẾN SỰ PHÁT TRIỂN CÂY SẮN
Để đáp ứng tốt hơn nhu cầu trong từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây sắn, điều kiện khí hậu và thời tiết được coi là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của cây.
Khí hậu, bao gồm các yếu tố như nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng, độ ẩm và chế độ gió, cùng với những bất thường thời tiết như bão và lũ lụt, có ảnh hưởng lớn đến việc xác định cơ cấu mùa vụ, loại giống, khả năng xen canh và hiệu quả sản xuất sắn Đất đai đóng vai trò quan trọng trong sản xuất cây sắn, không chỉ là môi trường sống mà còn cung cấp các chất dinh dưỡng và nguyên tố trung, vi lượng cần thiết cho sự phát triển của cây.
1.3.2 Yếu tố sinh học ủối với sự sinh trưởng và phỏt triển cõy sắn
Giống, các chất dinh dưỡng, sâu bệnh là ba nhân tố ảnh hưởng không nhỏ ủến sự phỏt triển của cõy sắn
1.3.3 ðiều kiện kinh tế - xã hội a Dõn số, lao ủộng
Dân cư và lao động đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, ảnh hưởng đến lực lượng sản xuất trực tiếp và tạo ra nguồn tiêu thụ cho các sản phẩm nông nghiệp Yếu tố kinh tế - xã hội cũng góp phần quyết định đến sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp.
- Giá cả và thị trường
- Kiến thức, kỹ năng của nông dân và tập quán canh tác
- Hợp tỏc kinh tế giữa người sản xuất sắn, nhà mỏy chế biến và cỏc ủơn vị cung ứng dịch vụ có liên quan c Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng: bao gồm giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc, các dịch vụ về sản xuất và khoa học kỹ thuật
1.3.4 Chính sách phát triển cây sắn ðể có sự thuận lợi cho sự phát triển cây sắn cần có những chính sách phù hợp như: Quy hoạch vùng trồng sắn cho các nhà máy; ðầu tư hỗ trợ vốn hỗ trợ cây giống, phân bón, kỹ thuật chăm sóc; ðầu tư cơ sở hạ tầng: giao thông nội ủồng phục vụ sản xuất, kờnh mương thủy lợi phục vụ tưới tiờu, ủiện phục vụ sản xuất; phải cú cụng ty ủứng ra thu mua, bao tiờu sản phẩm… Chớnh sỏch phự hợp sẽ làm cho người nông dân yên tâm sản xuất góp phần tăng thu nhập cho nông dân ðịnh hướng phát triển ngành sắn Việt Nam trong thời gian tới, trước hết cần quy hoạch ổn ủịnh vựng nguyờn liệu, khụng nờn mở rộng diện tớch trồng sắn quỏ mức Tiếp ủến là tạo vựng nguyờn liệu tốt bằng cỏc giống mới kết hợp cỏc biện phỏp thõm canh phự hợp, ủảm bảo năng suất trờn 30 tấn/ha Bờn cạnh ủú cần chỳ trọng ủầu tư cụng nghệ chế biến sõu sau tinh bột ủể sản xuất ethanol, giảm và tiến tới không xuất khẩu sắn lát (sắn thô) ra thị trường
Trong chương 1, tỏc giả ủó nờu lờn khỏi quỏt về ủặc ủiểm, vai trũ của cõy sắn trong sản xuất
Nội dung chính trong phát triển cây sắn bao gồm việc đảm bảo nguồn lực sản xuất, tổ chức quy trình sản xuất hiệu quả, nâng cao kết quả và hiệu quả kinh tế trong sản xuất sắn, cùng với việc mở rộng thị trường tiêu thụ.
Dựa trên phân tích các yếu tố và nội dung phát triển cây sắn, tác giả xác định bốn nhóm nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển của cây sắn, bao gồm: nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên, nhóm nhân tố sinh học liên quan đến sự sinh trưởng và phát triển của cây, nhóm nhân tố về điều kiện kinh tế - xã hội, và nhóm nhân tố thuộc về cơ chế chính sách phát triển cây sắn.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÂY SẮN TRÊN ðỊA BÀN
2.1 ðẶC ðIỂM VỀ ðIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH PHÚ YÊN
2.1.1 ðặc ủiểm tự nhiờn a Vị trớ ủịa lý
Phỳ Yờn là một tỉnh ven biển thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, có tọa độ địa lý từ 12°39’10’’ đến 13°45’20’’ vĩ độ Bắc và từ 108°39’45’’ đến 109°29’20’’ kinh độ Đông Tỉnh này giáp ranh với các tỉnh lân cận, tạo nên vị trí chiến lược quan trọng trong khu vực.
+ Phía Bắc giáp tỉnh Bình ðịnh
+ Phía Nam giáp tỉnh Khánh Hòa
+ Phía Tây giáp tỉnh ðắk Lắk và Gia Lai
+ Phắa đông giáp biển đông
Tỉnh có tổng diện tích tự nhiên 506.057,23 ha, chiếm 1,53% diện tích tự nhiên cả nước, bao gồm 9 đơn vị hành chính cấp huyện và 112 đơn vị hành chính cấp xã Nằm trên trục giao thông Bắc - Nam với hệ thống giao thông đa dạng như đường sắt, đường bộ, đường biển, hàng không và cảng biển, tỉnh có điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư trong và ngoài nước nhằm phát triển kinh tế - xã hội.
- Lượng mưa trung bình năm: 2.551,7 mm;
- Số giờ năng bình quân năm: 2.249 giờ;
Thời tiết chia làm 2 mựa rừ rệt: Mựa khụ từ thỏng 1 ủến thỏng 8, mựa mưa từ thỏng 9 ủến thỏng 12, tập trung 70-80% lượng mưa cả năm
Phỳ Yờn cú tổng diện tớch lưu vực khoảng 16.400 km 2 Mật ủộ bỡnh quõn 0,5 km/km 2 Tổng lưu lượng dòng chảy 11,8 tỷ m 3 Gồm các sông lớn sau: sông
Sông Ba, với chiều dài lớn nhất 360 km và lưu lượng bình quân khoảng 300 m³/s, là một trong những con sông quan trọng nhất Sông Bàn Thạch có diện tích khoảng 590 km² và chiều dài 68 km, trong khi sông Kỳ Lộ có diện tích lưu vực lên tới 1.950 km² và chiều dài 105 km Sông Cầu cũng đáng chú ý với diện tích 146 km² và chiều dài 27 km Ngoài những con sông lớn, tỉnh còn có nhiều sông suối nhỏ phân bố rộng rãi khắp nơi.
Phỳ Yờn nằm trong vựng nhiệt ủới giú mựa, núng ẩm, ủồng thời chịu ảnh hưởng của khớ hậu ủại dương, trong năm chia thành 2 mựa rừ rệt:
+ Mựa khụ kộo dài từ thỏng 1 ủến thỏng 8
+ Mựa mưa bắt ủầu từ thỏng 9 ủến thỏng 12
Những yếu tố ủặc tr ưng về khớ hậu bao gồm:
Chế ủộ nhiệt liên quan đến nhiệt độ thấp của vùng nhiệt đới cao, không chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 23 - 27 độ C, với thời tiết ấm nóng khá ổn định Trung bình tháng lạnh nhất không dưới
Nhiệt độ trung bình tại các vùng núi cao nhất không dưới 20°C, với chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất phổ biến từ 6 - 7°C Chênh lệch nhiệt độ trong ngày khá cao, từ 7 - 9°C ở những vùng có độ cao dưới 500 m và từ 10 - 11°C ở những vùng có độ cao trên 500 m Tổng tích tụ nhiệt độ lên đến 9.000°C, trong đó vùng đồng bằng từ 9.500 đến 9.700°C, là yếu tố quan trọng trong quá trình hình thành và biến đổi đặc điểm của đất.
Lượng mưa trung bình hàng năm tại tỉnh Phú Yên dao động từ 1.200 đến 2.300 mm, với khu vực có lượng mưa lớn nhất là vùng núi cao Chư Mu và đèo Cả, đạt trên 2.000 mm Ngược lại, thung lũng sông Ba, Krông Pa có lượng mưa thấp nhất, chỉ khoảng 1.200 mm, trong khi thung lũng sông Kỳ Lộ và Xuân Phước có lượng mưa trung bình là 1.330 mm.
Thời gian xuất hiện mưa trong năm ngắn nhưng tập trung từ thỏng 9 ủến thỏng
Gió mùa đông Bắc mang lại mưa trong tháng 12, với lượng mưa trung bình chiếm từ 70-80% tổng lượng mưa cả năm Sự mất cân bằng nước giữa hai mùa này dẫn đến mưa ngắn và tập trung, gây ra lũ lụt và xói mòn đất.
Phú Yên là tỉnh có lượng mưa lớn, chủ yếu tập trung vào các tháng mùa mưa Sự phân bố lượng mưa không đồng đều giữa các vùng, tăng dần từ các thung lũng, sông và đồng bằng ven biển đến các vùng núi cao.
Độ ẩm không khí ở Việt Nam thường dao động từ 80 - 85%, tăng dần theo độ cao Khu vực ven biển có độ ẩm trung bình từ 80 - 82%, trong khi vùng núi thấp từ 83 - 85%, và khu vực cao nguyên trên 1.000 m có độ ẩm đạt 85 - 90% Trong mùa mưa, độ ẩm thường cao hơn so với các tháng trong mùa khô, với biên độ dao động từ 2 - 10% Độ ẩm thấp nhất thường xảy ra vào tháng 4 và tháng 5, khi có gió Tây Nam, với mức độ ẩm giảm xuống khoảng 35%.
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÂY SẮN TẠI TỈNH PHÚ YÊN
2.2.1 Thực trạng về nguồn lực cho sản xuất sắn a Nguồn lực con người
Theo thống kê sơ bộ của ngành Nông nghiệp và PTNT tỉnh thì có khoảng
Việt Nam hiện có khoảng 10 nghìn hộ dân tham gia sản xuất sắn, với lực lượng lao động từ 18-60 tuổi ước tính khoảng 25.000 người Trong mùa vụ, đặc biệt là giai đoạn thu hoạch, có thêm khoảng 10 nghìn lao động từ các khu vực đồng bằng di chuyển lên vùng núi để làm việc theo thời vụ.
Nguồn lực lao động tại tỉnh hiện có ảnh hưởng lớn đến sản xuất sắn của nông dân Tuy nhiên, lực lượng lao động chủ yếu là lao động phổ thông với trình độ thấp, điều này ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính cũng là yếu tố cần được chú trọng để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Bảng 2.2 Nguồn vốn ủầu tư vào sản xuất sắn trờn ủịa bàn tỉnh Phỳ Yờn ðVT: 1.000 VNð
Hạng mục ủầu tư Nhà mỏy
Tổng ðầu tư không thu hồi vốn ðầu tư có thu hồi vốn
1, Vốn ủầu tư hổ trợ sửa chữa ủường 1.800 1.800
2, ðầu tư vùng nguyên liệu 38.447 7.050 30.654 743
Xây dựng mô hình (ha) 1.897 1.154 743
3, Tổ chức tham quan học tập 490 490
4, Vốn ủầu tư nghiờn cứu giống mới 875 875
Nguồn: Sở Nông nghiệp và PTNT Phú Yên, năm 2014
Kết quả thu thập cho thấy rằng vốn đầu tư vào phát triển cây sắn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế mà cây sắn mang lại Số vốn này thấp hơn nhiều so với đầu tư vào cây lúa và cây màu.
Nhà nước chưa đầu tư tương xứng vào cây sắn, dẫn đến sự phát triển không bền vững của loại cây này Nông dân vẫn sản xuất chưa khoa học và việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật chưa đồng bộ, gây ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm.
Trong giai đoạn 2010-2015, tỉnh Phú Yên đã thực hiện 02 đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh nhằm phát triển cây sắn Đề tài đầu tiên, “Trồng sắn có xen cây họ đậu trên đất gụ ồi tại huyện miền núi Đồng Xuân”, do kỹ sư Đặng Văn Trọng thực hiện Đề tài thứ hai, “Nghiên cứu một số giống sắn có năng suất, chất lượng và phù hợp với điều kiện của tỉnh Phú Yên”, do thạc sĩ Nguyễn Thị Trúc Mai thực hiện Tổng kinh phí cho 02 đề tài là 2,3 tỷ đồng, tập trung vào việc tìm ra các giống sắn mới có năng suất, chất lượng cao và phù hợp với điều kiện địa phương, từ đó hoàn thiện quy trình sản xuất và chuyển giao cho nông dân trong vùng.
2.2.2 Thực trạng về công tác tổ chức sản xuất sắn a Thực trạng hoạt ủộng ủiều hành sản xuất sắn
UBND tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo mía, sắn, và các địa phương cũng thành lập Ban chỉ đạo cấp huyện Tuy nhiên, công tác theo dõi chỉ đạo chưa thực sự mạnh mẽ, đặc biệt là đối với cây sắn Hệ thống tổ chức sản xuất sắn còn lỏng lẻo, việc liên kết giữa 4 nhà (nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và nông dân) chưa chặt chẽ, dẫn đến vai trò của doanh nghiệp, nhà nước và nhà khoa học chưa rõ ràng, và hiệu quả chưa đạt được như mong muốn.
Việc mua bán giữa doanh nghiệp và người dân trong ngành sắn chưa được giám sát chặt chẽ, dẫn đến việc người trồng sắn thường bị thiệt hại do các quy định về chất lượng bột và tạp chất từ phía nhà máy Tại tỉnh Phú Yên hiện có hai nhà máy chế biến tinh bột sắn: Nhà máy sản xuất tinh bột sắn Sông Hinh thuộc Công ty Cổ phần tinh bột sắn FOCOCEV và Nhà máy sản xuất tinh bột sắn Đồng Xuân thuộc Công ty Cổ phần nông sản thực phẩm Quảng Ngãi.
Hình ảnh các nhà máy sản xuất tinh bột sắn tại tỉnh b cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp này Thực trạng hoạt động sản xuất sắn hiện nay phản ánh kỹ thuật trồng và chăm sóc cây sắn ngày càng được cải thiện, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Bảng 2.3 Diện tớch sản xuất sắn trờn ủịa bàn tỉnh Phỳ Yờn qua cỏc năm
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Phú Yên
Kết quả từ bảng 2.4 cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa diện tích quy hoạch 12.00 ha và diện tích sản xuất thực tế hơn 22.000 ha Điều này chỉ ra rằng công tác quy hoạch và quản lý chưa hiệu quả, nông dân thường chạy theo lợi nhuận trước mắt và chưa tuân thủ các khuyến cáo từ cơ quan nhà nước.
Bảng 2.4 Nguồn gốc và ủặc tớnh chớnh của 8 giống sắn phổ biến ở tỉnh
Tên giống Năm phóng thích Nguồn gốc giống Nơi chọn tạo ðặc tính giống Tỷ lệ % diện tích
KM94 1994 Tên gốc Kasetsart 50 IAS Năng suất bộ t cao, 80,1 %
KM140 2007 (R5 x R1) x KM36 IAS N ăng suất cao, ng ắn ngày 6,6 %
KM 419 2007 (R5 x R1) x KM94 IAS N ăng suất cao, ng ắn ngày 5,4 %
Giống khác 2000-2009 - - N ăng suất cao, ng ắn ngày 7,9 %
Nguồn: Hoang Kim et al., 2014
Hiện nay, hơn 80% giống sắn được sản xuất là giống KM94, đã trồng hơn 15 năm, dẫn đến tình trạng thoái hóa và dễ bị nhiễm sâu bệnh Sản xuất sắn trong những năm gần đây gặp nhiều khó khăn do vẫn sử dụng giống cũ, năng suất thấp và chưa có sự thay đổi kịp thời Quy trình sản xuất cũng chưa phù hợp, thiếu những nghiên cứu chuyên sâu cho từng vùng sản xuất để đưa ra các khuyến cáo thích hợp.
Giống sắn KM94 hiện đang chiếm hơn 80% diện tích trồng, nhưng đang bị thoái hóa và nhiễm bệnh nặng Các giống sắn mới như KM98-5, KN419 và KM 140 đang chiếm 40% diện tích với năng suất và chất lượng cao hơn, đồng thời phù hợp với điều kiện địa phương và kháng bệnh tốt Do đó, trong thời gian tới, diện tích trồng các giống sắn mới sẽ được phát triển mạnh mẽ để thay thế dần giống KM94.
- Về kỹ thuật canh tác cây sắn:
Thực trạng sử dụng phân bón trên cây sắn tại Phỳ Yờn cho thấy đất trồng sắn thường thiếu hụt dinh dưỡng Để cải thiện năng suất, cây sắn trong tỉnh cần được đầu tư tối thiểu hai bao Urea cho mỗi hecta.
(100 kg) + 4 bao Supelân (200 kg) + 4 bao KCl (200 kg) ở mức 46 N + 40 P 2 O 5 + 100 K 2 O, ở ruộng thâm canh cần ứng dụng 90 - 160 N + 40 P 2 O 5 + 120 - 160
Để đảm bảo sự phát triển tối ưu cho cây trồng, cần áp dụng lượng phân bón K2O từ 195 - 348 kg Urea, 200 kg Supelân và 240 - 320 kg KCl trên mỗi hectare, cùng với 10 tấn phân chuồng hoặc phân vi sinh Trong quá trình trồng, bón lót toàn bộ phân hữu cơ, toàn bộ phân lân và 1/3 lượng phân ure Sau 15-20 ngày, thực hiện bón thúc lần 1 với 1/3 lượng ure và 1/3 lượng phân kali, đồng thời kết hợp làm cỏ Đến 35-45 ngày sau trồng, tiếp tục bón thúc lần 2 với 1/3 lượng ure và 2/3 lượng phân kali, cũng như làm cỏ để duy trì sức khỏe cây trồng.
Những hộ nông dân giỏi ở Phỳ Yên đang trồng sắn KM419 và KM98-5 trên đất xám bạc màu, đạt năng suất củ tươi trên 60 tấn/ha Mỗi hecta sắn yêu cầu đầu tư hợp lý để mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Để đạt hiệu quả tối ưu trong canh tác, cần sử dụng 13 bao SA (tương đương 650 kg SA) để cung cấp 136 N, 15 bao Lõn Long Thành (750 kg) tương ứng với 150 kg P2O5, và 4 bao KCl (200 kg) Ngoài ra, cần 200 bao tro tương đương 120 kg KCl Mức đầu tư cho các loại phân bón này cao hơn, tuy nhiên, chất lượng đất sẽ được cải thiện rõ rệt.