Trên cơ sở khảo sát thực tế các nhân tố cụ thể tác động trực tiếp đến hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Đà Nẵng, tác giả đã phân tíc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ HỒNG THANH
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN QUẬN SƠN TRÀ –
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
UẬN V N THẠC S TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ HỒNG THANH
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN QUẬN SƠN TRÀ –
Trang 4MỤC ỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục đề tài 2
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG VÀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1 HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển cho vay tiêu dùng 6
1.1.2 Khái niệm về cho vay tiêu dùng 8
1.1.3 Đối tượng của cho vay tiêu dùng 8
1.1.4 Đặc điểm của cho vay tiêu dùng 9
1.1.5 Lợi ích của cho vay tiêu dùng 13
1.1.6 Các hình thức cho vay tiêu dùng 18
1.2 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG 23
1.2.1 Nhóm các nhân tố bên ngoài 23
1.2.2 Nhóm các nhân tố bên trong 26
1.3 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 29
1.3.1 Mục đích phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM 29
Trang 51.3.2 Nội dung phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng
thương mại 30
1.3.3 Phương pháp phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH QUẬN SƠN TRÀ 35
2.1 TỔNG QUAN VỀ AGRIBANK SƠN TRÀ 35
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Agribank Sơn Trà 35
2.1.2.Tình hình hoạt động của Agribank Sơn Trà 38
2.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI AGRIBANK SƠN TRÀ 46
2.2.1 Bối cảnh môi trường tác động đến hoạt động cho vay tiêu dùng tại Agribank Sơn Trà 46
2.2.2 Công tác tổ chức thực hiện cho vay tiêu dùng tại Agribank Sơn Trà47 2.2.3 Phân tích các hoạt động ngân hàng đã thực hiện nhằm đạt các mục tiêu cho vay tiêu dùng 52
2.2.4 Phân tích kết quả hoạt động CVTD tại Agribank Sơn Trà 56
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI AGRIBANK SƠN TRÀ 65
2.3.1 Những kết quả đạt được 65
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân ảnh hưởng tới hoạt động cho vay tiêu dùng tại Agrbank Sơn Trà 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ
Trang 63.1 CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 73
3.1.1 Từ kết quả phân tích thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Agribank Quận Sơn Trà 73
3.1.2 Bối cảnh thị trường và định hướng hoạt động của Agribank Quận Sơn Trà 74
3.1.3 Định hướng hoạt động CVTD của Agribank Quận Sơn Trà 76
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 77
3.2.1 Hoàn thiện công tác chăm sóc khách hàng, tăng cường công tác truyền thông, quảng bá giới thiệu sản phẩm cho vay tiêu dùng 77
3.2.2 Mở rộng đối tượng, nâng mức cho vay tín chấp phù hợp với quy định và thực tiễn, triển khai các sản phẩm cho vay tiêu dùng đồng bộ hiệu quả 80
3.2.3 Cải tiến quy trình thủ tục cho vay tiêu dùng, có chính sách linh hoạt trong lãi suất cho vay, thu phí trả nợ trước hạn 83
3.2.4 Có những thay đổi trong việc định giá tài sản bảo đảm cũng như sử dụng loại hình tài sản bảo đảm là động sản 85
3.2.5 Thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp, giảm áp lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng 86
3.2.6 Nâng cao chất lượng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng 87
3.2.7 Một số giải pháp bổ trợ: 89
3.3 KIẾN NGHỊ 91
3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ và NHNN Việt Nam 91
3.3.2 Kiến nghị đối với Agribank Việt Nam và CN TP Đà Nẵng 92
3.3.3 Kiến nghị đối với UBND thành phố Đà Nẵng và UBND Q Sơn Trà 93
Trang 7KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (BẢN SAO)
PHỤ LỤC
Trang 8CBCNV Cán bộ công nhân viên
CNTT Công nghệ thông tin
CVTD Cho vay tiêu dùng
Trang 92.4 Kết quả hoạt động kinh doanh tại Agribank CN Sơn
2.10 Thị phần cho vay tiêu dùng của Agribank CN Sơn
Trà so với Agribank TP Đà Nẵng 63
2.11 Thực trạng rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng
tại Agribank Sơn Trà 64 2.12 Hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại Agribank
Trang 102.2 Tình hình thực hiện kế hoạch CVTD của
Agribank CN Quận Sơn Trà giai đoạn 2014-2016 53
2.3 Tỷ trọng dƣ nợ cho vay tiêu dùng của Agribank
CN Quận Sơn Trà giai đoạn 2014-2016 57 2.4 Tình hình dƣ nợ CVTD theo kỳ hạn của
Agribank CN Quận Sơn Trà giai đoạn 2014-2016 61
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thế hội nhập, đa dạng hóa là một xu hướng tất yếu mà bất cứ lĩnh vực hay đơn vị kinh doanh nào cũng quan tâm để tồn tại và phát triển Đặc biệt trước những yêu cầu mới của cạnh tranh, ngành ngân hàng cần phải phát triển không ngừng và tìm kiếm những hướng đi mới phù hợp để có thể vừa đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế cũng như của người tiêu dùng, vừa đứng vững trong cơ chế thị trường
Nắm bắt được nhu cầu của khách hàng cũng như nâng cao tính cạnh tranh của mình, NHNo& PTNT chi nhánh Quận Sơn Trà Đà Nẵng luôn chú trọng mở rộng tín dụng, đặc biệt là lĩnh vực CVTD bởi nhu cầu của con người trong xã hội ngày càng cao và vô hạn, mà không phải ai cũng có khả năng tự tài trợ cho những nhu cầu đó một cách ngay tức khắc Vì vậy, phát triển hoạt động CVTD là một hướng đi phù hợp mà không chỉ riêng NHNo&PTNT Chi nhánh Quận Sơn Trà Đà Nẵng áp dụng mà hàng loạt các ngân hàng thương mại khác trên toàn quốc thực hiện
Mặc dù trong những năm gần đây, NHNo&PTNT CN Quận Sơn Trà Đà Nẵng đã có những bước cải thiện đáng kể trong hoạt động cho vay tiêu dùng, song vẫn còn một số tồn tại hạn chế cần tìm kiếm các giải pháp khả thi, phù hợp với thực tiễn nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả CVTD tại chi nhánh và hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất có thể Với những lý do nêu trên, tác giả đã
chọn đề tài “Phân tích tình hình CVTD tại Chi nhánh Ngân hàng
No&PTNT Quận Sơn Trà – thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu cho
luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa, phân tích và tổng hợp những vấn đề lý luận về CVTD và phân tích hoạt động CVTD của NHTM
Trang 12Trên cơ sở nghiên cứu thực tế về CVTD tại NHNo&PTNT CN Quận Sơn Trà, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng và chỉ ra các hạn chế tồn tại
và nguyên nhân các hạn chế đó trong hoạt động CVTD thời gian qua tại Chi nhánh Qua đó đề xuất ra các giải pháp nhằm đạt các mục tiêu định hướng trong động CVTD tại CN NHNo&PTNT Quận Sơn Trà TP Đà Nẵng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng ngiên cứu: Tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về
CVTD của ngân hàng thương mại và thực tiễn CVTD tại NHNo&PTNT chi nhánh Quận Sơn Trà Đà Nẵng
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: đề tài chỉ nghiên cứu về hoạt động CVTD
+ Về không gian: nghiên cứu tại Agribank CN Quận Sơn Trà Đà Nẵng + Về thời gian: số liệu thống kê đánh giá thực trạng luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu trong phạm vi thời gian từ 2014-2016
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp lịch sử, phân tích diễn giải, phương pháp so sánh, tổng hợp, thống kê mô tả, phương pháp biểu đồ và đồ thị, tư duy logic nghiên cứu tham khảo tư liệu, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để làm rõ các vấn đề nghiên cứu
5 Bố cục đề tài
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động CVTD và phân tích hoạt động CVTD của NHTM
Chương 2: Phân tích tình hình CVTD tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Quận Sơn Trà Thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động CVTD tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Quận Sơn Trà Thành phố Đà Nẵng
Trang 136 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Hoạt động CVTD là một đề tài không mới và có nhiều nghiên cứu về CVTD của NHTM ở Việt Nam dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau:
1 Luận văn cao học, đề tài: “Giải pháp phát triển CVTD tại chi nhánh NHNo&PTNT Thành phố Đà Nẵng” do học viên Đỗ Thị Thùy Trang thực hiện năm 2011 tại trường Đại Học Kinh Tế Đà Nẵng
Luận văn đã trình bày ngắn gọn, súc tích và logic các vấn đề cơ bản của hoạt động cho vay và cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại Trên cơ
sở khảo sát thực tế các nhân tố cụ thể tác động trực tiếp đến hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố
Đà Nẵng, tác giả đã phân tích một cách toàn diện các nhân tố ảnh hưởng, hạn chế cũng như nguyên nhân của nó từ đó đưa ra các giải pháp hiệu quả và khả thi nhằm phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại NHNo&PTNT TP Đà Nẵng Song luận văn vẫn chưa chỉ ra được thị phần cho vay tiêu dùng của NHNo&PTNT Đà Nẵng trong toàn thành phố Đà Nẵng và thu nhập mà hoạt động cho vay tiêu dùng mang lại
2 Luận văn cao học: “Mở rộng CVTD tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quận Sơn Trà Thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt, năm 2014 tại trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng
Tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản của cho vay tiêu dùng
và mở rộng cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại Trên cở sở phân tích thực trạng mở rộng cho vay tiêu dùng, những kết quả đạt được và hạn chế của hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quận Sơn Trà Thành phố Đà Nẵng, luận văn đã trình bày hệ thống các giải pháp và kiến nghị có cơ sở khoa học, thực tiễn để mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng Tuy nhiên, đề tại vẫn chỉ dừng lại ở việc đánh giá thực trạng quy mô, chất lượng và rủi ro của hoạt động cho vay tiêu dùng mà chưa
Trang 14chỉ ra được thu nhập và chi phí của hoạt động này Từ đó, chưa đánh giá được
sự đóng góp về mặt tài chính của hoạt động cho vay tiêu dùng vào quỹ thu nhập của toàn chi nhánh, đây là mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động kinh doanh Hơn nữa, cách tiếp cận của đề tài là mở rộng cho vay tiêu dùng
3 Luận văn cao học của tác giả Lương Thị Nhật Thương trong đề tài
“Phân tích tình hình CVTD tại ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải chi nhánh Đà Nẵng”, năm 2015 tại trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng
Tác giả tiếp cận đề tài dưới góc độ phan tích hoạt động cho vay tiêu dùng nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại NHTM cổ phần Hàng Hải Việt Nam chi nhánh Đà Nẵng Theo đó, chương I tác giả đã trình bày các vấn đề lý luận cơ bản của cho vay tiêu dùng của NHTM Chương II, tác giả đã bám sát phân tích đầy đủ các chỉ tiêu phản ánh thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại đơn vị từ quy mô, thị phần, rủi ro cũng như thu nhập từ hoạt động cho vay tiêu dùng Các giải pháp chương III cũng phù hợp với thực tiễn tại đơn vị nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại NHTM cổ phần Hàng Hải Việt Nam chi nhánh Đà Nẵng Một số nghiên cứu của luận văn có thể tiếp thu và kế thừa, nhưng do cách thức tổ chức thực hiện và xuất phát điểm trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh có những điểm đặc thù riêng nên có những điểm chưa phù hợp
4 Luận văn cao học “Phân tích tình hình CVTD tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội chi nhánh Đăk Lăk” của tác giả Nguyễn Thị Chiến, năm 2014 tại đại học Đà Nẵng
Nội dung của luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản liên
quan đến cho vay tiêu dùng và phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng, trình bày ngắn gọn, súc tích và logic đảm bảo kết nốigiữa các chương Trên cơ sở phân tích tình hình cho vay tiêu dùng tại NHTM cổ phần Quân Đội chi nhánh Đăk Lăk một cách có khoa học, chặt chẽ, đầy đủ các khía cạnh, tác giả đã đưa
Trang 15ra các giải pháp khả thi, phù hợp thực tiễn nhằm phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại đơn vị Tuy nhiên đề tài được nghiên cứu ở một đơn vị khác với nhiều đặc điểm đặc thù khác biệt như địa bàn, nguồn lực và điều kiện phát triển khác nhau
Các luận văn trên đây giúp người đọc có cái nhìn tổng quan về cho vay tiêu dùng, phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng ổn định hiệu quả - một trong những mục tiêu quan trọng mà hấu hết các NHTM hướng tới Những đề tài này khá gần với đề tài mà học viên đang nghiên cứu do đó những cơ sở lý luận chính về phát triển cho vay tiêu dùng là nền tảng để học viên tham khảo, xây dựng cơ sở lý luận phù hợp với nội dung phân tích tình hình cho vay tiêu dùng tại Agribank chi nhánh Sơn Trà Đà Nẵng Tuy có một số nghiên cứu mà luận văn có thể kế thừa, tiếp thu nhưng do tiếp cận đề tài bằng một cách khác nên luận văn sẽ có những phát triển mới
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ Ý UẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG VÀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển cho va tiêu dùng
Hoạt động cho vay đối với người tiêu dùng được hình thành đầu tiên từ các hãng bán lẻ Do yêu cầu gia tăng lợi nhuận các doanh nghiệp đã đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa bằng cách cho người tiêu dùng mua hàng trả góp, đây chính
là hình thức sơ khai của CVTD Bên cạnh đó thu nhập của người dân ngày càng cao gắn liền với các nhu cầu về hàng tiêu dùng ngày càng gia tăng mạnh
mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng như mua nhà ở, xe ô tô, đi du lịch… đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển của hoạt động CVTD trong các NHTM
Thật vậy, khi thu nhập của người tiêu dùng ổn định họ sẽ tăng mua sắm hàng hóa phục vụ sinh hoạt đời sống, đó là nhu cầu thiết yếu, còn đối với những người có thu nhập cao hơn với mục đích nâng cao chất lượng đời sống của mình thì nhu cầu mua sắm hàng hóa có giá trị lớn càng nhiều hơn Tuy nhiên, đa số người tiêu dùng chưa có đủ khả năng để chi trả ngay trong hiện tại cho những mặt hàng có giá trị lớn mà phải qua quá trình tích lũy lâu dài Thông qua hoạt động cấp tín dụng, ngân hàng tạo điều kiện cho người tiêu dùng sử dụng trước hàng hóa khi chưa có khả năng thanh toán và họ phải thanh toán dần trong tương lai
Đứng trên góc độ của người sản xuất, họ chỉ đạt được hiệu quả trong hoạt động kinh doanh khi họ biết nắm bắt kịp thời nhu cầu của KH và thỏa mãn những nhu cầu đó Vì vậy, các công ty thương mại thường đẩy nhanh tốc
Trang 17độ tiêu thụ hàng hóa bằng cách cho khách hàng mua trả góp Tuy nhiên hình thức này chỉ áp dụng được với một số mặt hàng nhất định, vì vậy đã tạo động lực để hoạt động CVTD ra đời Vì khi đó CVTD sẽ khắc phục được nhược điểm đó do các tổ chức tín dụng có thể đáp ứng được nhu cầu về nhiều loại hàng hóa khác nhau với nhiều công ty thương mại cung cấp khác nhau
Như vậy, hoạt động CVTD của NHTM xuất hiện nhằm đáp ứng nhu cầu của cả người tiêu dùng và người sản xuất Lúc đầu, các NH không tích cực CVTD bởi họ cho rằng các khoản CVTD thường nhỏ lẻ và có rủi ro tương đối cao Song từ sau thế chiến thứ hai, CVTD đã trở thành một hình thức tín dụng tăng trưởng nhanh ở các nước có nền kinh tế ổn định và đến nay nó phát triển
ở hầu hết các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam
Những cơ sở để loại hình tín dụng này ngày càng trở nên phổ biến hơn là
do nhu cầu VTD gia tăng mạnh mẽ, thu nhập của người tiêu dùng ngày càng cao và ổn định hơn, từ đó đảm bảo khả năng trả nợ các khoản VTD Hơn nữa, nhiều công ty tài chính cạnh tranh với NH trong lĩnh vực cho vay khiến thị phần cho vay doanh nghiệp của NH bị giảm sút, buộc các NH phải mở rộng thị trường CVTD để gia tăng thu nhập Một yếu tố không kém phần quan trọng trong việc phát triển hoạt động CVTD là sự cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM và giữa NHTM với các tổ chức khác như công ty tài chính, công ty bảo hiểm, dịch vụ tiết kiệm bưu điện,… đòi hỏi các NH phải cung cấp các sản phẩm mới hấp dẫn thu hút khách hàng Chính những yếu tố đó đã giúp cho hoạt động CVTD ngày càng phát triển và phổ biến hơn
Tại các quốc gia đang phát triển, thị trường CVTD đang có sự phát triển nhanh chóng Tại Việt Nam, vào những năm trở lại đây, hoạt động CVTD đã sớm ra đời và ngày càng được thúc đẩy bởi sự phát triển của nhu cầu xã hội Hơn nữa với số dân >90 triệu người là điều kiện vô cùng thuận lợi và là thị trường tiềm năng rộng lớn cho việc phát triển CVTD Phát triển mạnh hoạt
Trang 18động CVTD đang trở thành xu thế tất yếu của nhiều quốc gia Các NHTM Việt Nam hiện nay đang có xu hướng mở rộng và phát triển nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ, tập trung nhiều hơn với phân khúc KH cá nhân - những người có nhu cầu tiêu dùng Trong những năm gần đây, các dịch vụ tiện ích của NH đã phát triển với tốc độ cao tạo điều kiện cho người dân dễ dàng tiếp cận nguồn vốn NH cho những nhu cầu cải thiện cuộc sống của mình
1.1.2 Khái niệm về cho va tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng là một hình thức cho vay, qua đó Ngân hàng chuyển cho khách hàng (cá nhân hay hộ gia đình) quyền sử dụng một lượng giá trị (tiền) với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian nhất định theo những thoả thuận mà hai bên đã ký kết (về số tiền cấp; thời gian cấp; lãi suất phải trả …) nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình, giúp cho khách hàng có thể sử dụng những hàng hoá
và dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả
CVTD là nguồn tài chính quan trọng giúp cho cá nhân, hộ gia đình trang trải những nhu cầu chi tiêu như mua sắm nhà ở, phương tiện đi lại, trang thiết
bị và các dịch vụ về y tế, giáo dục, du lịch… nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người tiêu dùng
1.1.3 Đối tượng của cho vay tiêu dùng
Có nhiều cách phân loại đối tượng của cho vay tiêu dùng khác nhau, cách phổ biến nhất là chia nhóm dựa trên khả năng tài chính của khách hàng.
- Nhóm đối tượng có thu nhập thấp: nhóm này thường có nhu cầu vay
tiêu dùng không cao do nguồn thu nhập hạn chế của họ không đủ thỏa mãn nhu cầu Tuy nhiên nhóm khách hàng này cũng có nhu cầu muốn cải thiện đời sống của mình không khác mấy so với những người có thu nhập cao hơn do vậy việc hình thành các khoản cho vay hợp lý với phương pháp phù hợp cũng
có thể thu hút với nhóm đối tượng này
Trang 19- Nhóm đối tượng có thu nhập trung bình: Khách hàng thuộc nhóm này
thường muốn vay để tiêu dùng hơn là bỏ ra các khoản tiết kiệm của mình, do vậy nhu cầu vay tiêu dùng thường gia tăng mạnh ở nhóm này bởi thu nhập trong tương lai của họ thường ổn định và có thể chi trả cho những nhu cầu hiện tại Đây là thị trường tiềm năng mà các NHTM cần phải quan tâm để phát triển hoạt động CVTD, đặc biệt khi kinh tế phát triển thì nhu cầu cải thiện điều kiện sống cả về vật chất lẫn tinh thần ngày càng cao hơn do đó nhu cầu vay tiêu dùng cũng không ngừng tăng Nhóm đối tượng này có thu nhập
ổn định hơn nhóm đối tượng có thu nhập thấp do vậy khả năng chi trả trong tương lai cho những nhu cầu hiện tại là tốt hơn Vì vậy, các NHTM cần có những chính sách phù hợp để tiếp cận và mở rộng nhóm đối tượng KH này
- Nhóm đối tượng có thu nhập cao: Các khách hàng thuộc nhóm đối
tượng này thường xuyên có nhu cầu chi tiêu những khoản tiền lớn cho mục đích tiêu dùng Tuy nhiên các khoản tiền tích lũy đã đầu tư cho các công việc kinh doanh khác do vậy nhu cầu vay tiêu dùng vẫn phát sinh Nói một cách khác, các khoản vay tiêu dùng thường được xem là các khoản phụ trợ linh hoạt, trợ giúp các khoản thanh toán đặc biệt khi cần hay nguồn ứng trước của lợi nhuận do đầu tư mang lại Nhóm đối tượng này thường có những khoản vay tương đối lớn hơn so với các nhóm khách hàng khác nên các ngân hàng rất quan tâm tới nhóm khách hàng này
1.1.4 Đặc điểm của cho va tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng là một trong những hình thức cấp tín dụng của ngân hàng, hình thành do nhu cầu của nền kinh tế nên nó mang đầy đủ đặc điểm của cho vay nói chung Tuy nhiên CVTD có những đặc điểm riêng của nó:
a Về qui mô
Cho vay tiêu dùng có đặc điểm nổi bật là các món vay thường nhỏ vì các khoản vay tiêu dùng thường nhằm mục đích phục vụ nhu cầu tiêu dùng chứ
Trang 20không xuất phát từ mục đích kinh doanh Bên cạnh đó, nhu cầu của người dân cho các loại hàng hóa xa xỉ không nhiều hoặc người vay đã có một khoản tích lũy trước khi mua sắm các hàng hóa có giá trị cao, do vậy các khoản vay tiêu dùng phát sinh thường với giá trị không cao Ngoài ra, các khoản vay phụ thuộc nhiều vào nhu cầu, tính cách, trình độ học vấn, mức thu nhập của từng đối tượng và chu kỳ kinh tế của từng khách hàng
Tuy nhiên, do nhu cầu VTD là khá phổ biến và thường xuyên nên tổng
số món vay là rất lớn Mỗi người dù trong một gia đình vẫn có những mục đích tiêu dùng riêng và khác nhau, do đó các khoản VTD sẽ rất phong phú và
đa dạng Vì vậy, NH rất dễ mở rộng và phát triển hoạt động CVTD Đặc biệt khi nền kinh tế xã hội càng phát triển thì nhu cầu về VTD càng cao
b Về lãi suất
Các khoản VTD thường được cấp dưới hình thức cho vay trả góp, có thể
có hoặc không có TSBĐ Chi phí cho một đơn vị dư nợ VTD cao hơn so với chi phí cho một đơn vị vốn cho vay thương mại, rủi ro tín dụng của các khoản vay tiêu dùng cũng cao hơn cho vay thương mại, làm cho chi phí bù rủi ro có thể rất lớn, do vậy lãi suất CVTD thường cao
Mặt khác, mức lãi suất CVTD cũng có sự chênh lệch lớn giữa các sản phẩm khác nhau và các KH khác nhau phụ thuộc vào tính chất của sản phẩm cũng như mức độ rủi ro của từng KH Hơn nữa, khách hàng vay tiêu dùng thường không quan tâm nhiều đến lãi suất mà chỉ quan tâm đến khoản tiền họ được cho vay và số tiền phải trả định kì nên ngân hàng có thể áp dụng mức lãi suất cao hơn so với các đối tượng khác để mang lại lợi nhuận cao hơn
c Tính nhạy cảm theo chu kỳ
Các khoản CVTD có xu hướng nhạy cảm trước các tác động của chu kì kinh tế Trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế người tiêu dùng thường có cái nhìn lạc quan về thu nhập của họ trong tương lai vì vậy họ thường chi tiêu
Trang 21nhiều hơn Đồng thời nhà sản xuất được khuyến khích sản xuất đa dạng hơn
về mẫu mã, chủng loại và chất lượng sản phẩm cũng được nâng cao từ đó kích cầu tiêu dùng trong dân cư Khi các khoản tích lũy của họ không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thì sẽ phát sinh các khoản vay tiêu dùng vì tin tưởng rằng với nền kinh tế lạc quan như vậy chắc chắn họ sẽ trả được các khoản nợ vay của mình trong tương lai Hơn nữa, các NH cũng lạc quan về nền kinh tế nên cũng mở rộng quy mô tín dụng Vì vậy, CVTD phát triển mạnh trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng
Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái thì các cá nhân và hộ gia đình thường cảm thấy không mấy tin tưởng vào tương lai, họ cắt giảm chi tiêu do
dự đoán thu nhập của mình sẽ giảm trong tương lai, nhu cầu vay tiêu dùng vì vậy cũng giảm sút, quy mô cho vay tiêu dùng thu hẹp
d Về rủi ro
Hầu hết các khoản cho vay tiêu dùng là các khoản vay trung và dài hạn, thời hạn từ 5 - 10 năm, thậm chí dài hơn nên có thể tiềm ẩn rất nhiều rủi ro
- Rủi ro mất khả năng thanh toán của khách hàng vay: Do các khoản
CVTD có thời hạn dài nên khả năng trả nợ phụ thuộc rất nhiều vào những nhân tố chủ quan xuất phát từ bản thân KH như thu nhập, tình trạng sức khỏe của người đi vay và gia đình họ Những rủi ro có thể xảy ra trong trường hợp này bao gồm:
+ Người đi vay chết hoặc bị tai nạn dẫn đến mất khả năng lao động, hoàn toàn không còn khả năng trả nợ cho ngân hàng;
+ Người vay bị tai nạn, giảm khả năng lao động hoặc thay đổi vị trí công tác dẫn đến giảm sút thu nhập do vậy không thực hiện được đầy đủ nghĩa vụ trả nợ
- Rủi ro do khách hàng gian lận: KH vay tiêu dùng là các cá nhân nên
việc nắm bắt thông tin một cách chính xác về họ là rất khó khăn Lợi dụng
Trang 22điều này một số KH có thể cố tình gian lận để chiếm đoạt tiền vay dẫn đến rủi
ro không thu hồi được vốn cho NH Do vậy tư cách KH là rất quan trọng trong CVTD, mang tính quyết định đến việc hoàn trả khoản vay của KH Ngoài ra, giống như những khoản cho vay thương mại khác, CVTD cũng phải chịu những rủi ro về lãi suất và tỉ giá Do thời hạn cho vay dài nên lãi suất trên thị trường có thể có những biến động lớn trong suốt quá trình cho vay vốn Vì vậy, nếu NH áp dụng một mức lãi suất cố định trong suốt thời hạn cho vay thì khi lãi suất trên thị trường tăng, NH có thể sẽ phải chịu rủi ro
do lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất thị trường Ngược lại, nếu lãi suất trên thị trường giảm, những khoản cho vay của NH với lãi suất cao hơn sẽ không còn hấp dẫn được người đi vay, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của NH Chính vì vậy, để hạn chế bớt rủi ro cho ngân hàng trong CVTD, khách hàng thường phải có TSBĐ TSBĐ có thể là thu nhập của khách hàng, là tài sản hình thành từ chính món vay đó, hoặc là tài sản khác mà khách hàng đem đến để cầm cố, thế chấp NH thường chỉ cho vay tối đa bằng 60 – 80% giá trị TSBĐ Ngoài ra, NH thường yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hàng hóa , bảo an tín dụng…
e Về hiệu quả của cho vay tiêu dùng
Với tư cách là một trung gian tài chính trong nền kinh tế, hoạt động chủ yếu và thường xuyên của các NHTM là nhận tiền gởi và cho vay, trong quá trình kinh doanh của mình các NH không chỉ hướng đến hiệu quả kinh tế mà còn chú ý đến hiệu quả xã hội Tuy nhiên, lợi nhuận vẫn là điều kiện cần thiết
để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của NH cho nên khi đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng không bỏ qua tiêu chí này Hiệu quả hoạt động CVTD thể hiện qua hai chỉ tiêu, chỉ tiêu thức nhất là tỷ số giữa lợi nhuận từ hoạt động CVTD trên tổng lợi nhuận của NH, chỉ tiêu thứ hai xác định bằng tỷ số giữa lợi nhuận từ hoạt động CVTD trên tổng dư nợ CVTD
Trang 23Chỉ tiêu thứ nhất đánh giá tầm quan trọng của hoạt động cho vay tiêu dùng trong tổng các hoạt động của ngân hàng Chỉ tiêu thứ hai phản ánh khả năng sinh lời của các khoản cho vay tiêu dùng, nó cho biết một đồng dư nợ CVTD mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ lợi nhuận do hoạt động CVTD mang lại càng lớn
Lợi nhuận từ hoạt động CVTD được xác định trực tiếp từ chi phí và thu nhập CVTD Mặc dù CVTD có chi phí khá lớn bởi xuất phát từ thực tế là các khoản vay tiêu dùng có quy mô nhỏ nhưng số lượng lớn nên chi phí thẩm định, quản lý hồ sơ, thu thập thông tin, quảng cáo là rất nhiều Các khoản CVTD luôn được đánh giá là đem lại nhiều thu nhập cho NH do phần lớn lãi suất các khoản CVTD đều cao hơn các khoản cho vay khác Điều này xuất phát từ việc cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao do nguồn trả nợ của người vay
có thể biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kinh nghiệm, tài năng
và sức khỏe của người vay… Hơn nữa nếu như trong kinh doanh, KH phải hạch toán lãi lỗ thì trong CVTD người ta đặt yếu tố thỏa mãn lên hàng đầu nên KH có thể trả với mức chi phí cao hơn mà vẫn có thể chấp nhận được Mức lợi nhuận trên mỗi khoản CVTD cao, số lượng các khoản CVTD lớn, vì vậy toàn bộ lợi nhuận thu về từ hoạt động CVTD là đáng kể trong tổng thu nhập của NH Lãi suất CVTD thường không thay đổi dưới những tác động của những điều kiện từ môi trường bên ngoài trong suốt thời hạn vay Điều này cũng có những bất lợi nếu như lãi suất huy động tăng lên đáng kể Tuy nhiên các NH thường định giá các khoản vay tiêu dùng ở một mức cao và áp dụng lãi suất điều chỉnh theo thị trường để có thể phòng tránh rủi ro này
1.1.5 ợi ích của cho va tiêu dùng
Một sản phẩm cho vay muốn tồn tại và phát triển trong hoạt động của
NH thì bản thân nó phải đem lại những lợi ích thiết thực cho những người đã tạo ra và sử dụng nó CVTD đã xuất hiện từ lâu và cho đến nay hoạt động của
Trang 24nó vẫn không ngừng được cải thiện và phát triển bởi nó có những lợi ích quan trọng sau:
+ Đối với người tiêu dùng
Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển đời sống ngày càng được nâng cao thì con người càng có quyền đòi hỏi cao hơn trong việc cải thiện cuộc sống của mình Nếu trước kia, chỉ cần "ăn no, mặc ấm" thì ngày này chúng ta
ai cũng mong muốn được "ăn ngon, mặc đẹp" Đây là một yêu cầu chính đáng
và là tất yếu trong điều kiện cuộc sống bây giờ
Sự phát triển của hoạt động CVTD cũng đồng nghĩa với việc người tiêu dùng sẽ càng có nhiều cơ hội để thoả mãn những nhu cầu của mình Nâng cao khả năng tiếp cận tài chính đồng thời góp phần gia tăng sự hiểu biết về tài chính cho người dân, tạo thói quen sử dụng dịch vụ NH từ đó giúp họ quản lý tài chính cá nhân tốt hơn Vì vậy, cho vay tiêu dùng ngày càng trở nên quen thuộc và đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của mọi người
Bên cạnh sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, mức sống của người dân ngày càng được cải thiện, do đó nhu cầu tiêu dùng của phần lớn bộ phận dân cư đặc biệt là dân cư thành thị đang tăng lên rất cao Nắm bắt được nhu cầu đó, thông qua nghiệp vụ CVTD, các NH đã đáp ứng phần nào nhu cầu chi tiêu của người dân, giúp cho họ được hưởng những tiện ích trước khi tích lũy đủ tiền và đặc biệt quan trọng hơn nó rất cần thiết cho những trường hợp khi cá nhân có các nhu cầu chi tiêu mang tính cấp bách Hơn nữa, người dân đi vay tiêu dùng hợp lý, có kế hoạch tài chính lành mạnh sẽ quản lý được các biến động của thu nhập cá nhân, hợp lý hóa chi tiêu, vì vậy góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của cá nhân và gia đình
Có thể nói tiêu dùng là một nhu cầu tất yếu của con người Trên thực tế thấy rằng có rất nhiều nhu cầu mang tính tự nhiên, thiết yếu, có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống đối với các cá nhân và hộ gia đình Những nhu cầu này
Trang 25không sớm thì muộn người tiêu dùng cũng phải được thoả mãn Ví dụ như nhu cầu về mua sắm, sửa chữa nhà cửa, mua các đồ dùng tiện nghi sinh hoạt, mua sắm các phương tiện như xe máy, ô tô, du lịch, du học CVTD đem lại
cơ hội cho khách hàng thoả mãn những nhu cầu thiết yếu cũng như xa xỉ đó Khách hàng là người hưởng lợi trực tiếp khi sử dụng các sản phẩm CVTD của ngân hàng Người tiêu dùng hiện đại biết cách thỏa mãn nhu cầu của mình ngay cả khi chưa tích lũy đủ tiền thông qua CVTD Nếu KH đợi đến một lúc nào đó tích luỹ đủ tiền để chi tiêu cho mục đích tiêu dùng thì chưa hẳn nhu cầu của họ được thỏa mãn hoặc thỏa mãn ở mức độ không cao do thời gian chờ đợi quá dài, ngoài ra còn chưa tính đến yếu tố lạm phát Rõ ràng CVTD đem đến lợi ích tốt nhất cho người tiêu dùng
+ Đối với ngân hàng:
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều không thể tránh khỏi CVTD giúp tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng Để có thể đứng vững và tồn tại trong một môi trường cạnh tranh đầy khắc nghiệt đòi hỏi mỗi NHTM phải có chiến lược kinh doanh phù hợp, một mặt tận dụng các thời cơ, mặt khác phải tạo ra ưu thế so với đối thủ cạnh tranh của mình Chính vì lý do trên, mỗi NHTM luôn tìm cách đa dạng hoá hoạt động kinh doanh và CVTD được xác định là một trong những nghiệp vụ tạo ưu thế cạnh tranh cho NH Cho vay tiêu dùng cũng là một công cụ marketing rất hiệu quả Trong điều kiện thị trường tín dụng doanh nghiệp đang cạnh tranh mạnh mẽ, hoạt động CVTD giúp NH mở rộng quan hệ với KH, mở rộng thị trường, đa dạng hoá hoạt động tín dụng Đây là phân đoạn thị trường mà các NHTM có quy
mô nhỏ có thể hướng đến và phát triển để mở rộng thị phần của mình Bằng cách nâng cao và mở rộng mạng lưới, đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ CVTD, số lượng KH đến với NH sẽ ngày càng nhiều hơn và hình ảnh của NH sẽ càng đẹp hơn trong mắt KH, từ đó góp phần nâng cao uy
Trang 26tín của NH Điều này có thể được thực hiện một cách hiệu quả khi các NHTM phát triển hoạt động CVTD, một thị trường đầy tiềm năng trong điều kiện kinh doanh hiện nay
Nếu CVTD đem lại cho người tiêu dùng cơ hội để thoả mãn những nhu cầu của mình, thì đối với NH, đó là một nguồn thu nhập đáng kể Hoạt động CVTD đã xuất hiện từ lâu trong NH ở các nước phát triển và chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu của NH Tiềm năng sinh lợi từ các KH cá nhân là vô hạn vì chừng nào còn có con người thì nhu cầu tiêu dùng vẫn luôn tồn tại và không phải tất cả mọi người đều có thể có đủ năng lực tài chính để thoả mãn ngay nhu cầu đó Một điều dễ dàng nhận thấy là cùng với việc tồn tại và phát triển hoạt động CVTD, các NHTM không chỉ tối đa hoá lợi ích của KH mà còn giúp NH thực hiện được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, nâng cao uy tín, khẳng định thương hiệu trên thị trường, góp phần trong việc tối đa hóa giá trị thị trường của ngân hàng
Một lý do nữa khiến cho việc tồn tại CVTD là cần thiết, đó là vì hoạt động kinh doanh NH luôn chứa đựng nhiều rủi ro Để có thể giảm thiểu rủi ro, các NHTM luôn tìm mọi cách để đa dạng hoá hoạt động kinh doanh cũng như
đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ cung ứng cho khách hàng Từ đó giúp NH tăng sức mạnh trong cạnh tranh CVTD với đặc điểm giá trị các khoản vay nhỏ và số lượng món vay lớn sẽ tạo điều kiện nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng Điều này tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của
NH nói riêng và của thị trường tài chính nói chung
+ Đối với nền kinh tế
Sự tăng trưởng của một nền kinh tế được thể hiện qua mức cầu tiêu dùng hàng hoá của dân cư và mức sống chung của người dân Vì vậy, hoạt động
cho vay tiêu dùng trước hết là tác nhân hỗ trợ tích cực nhằm thúc đẩy chi tiêu
của cá nhân và hộ gia đình, từ đó kích thích các nhu cầu trong nước, góp phần
Trang 27khơi thông luồng chuyển dịch hàng hoá Cho vay tiêu dùng một mặt có tác dụng kích cầu, kích thích sản xuất hàng hóa mặt khác nó giúp cải thiện đời sống dân cư từ đó làm gia tăng cầu trong nước trong cơ cấu tổng sản sẩm quốc nội, hạn chế sự phụ thuộc vào cầu từ nước ngoài do đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững
Thứ hai, CVTD được xem như công cụ chủ đạo nhằm xoá bỏ vòng luẩn
quẩn: thu nhập thấp thì tiết kiệm ít, tiết kiệm ít dẫn đến tiêu dùng ít, từ đó sản lượng sản xuất thấp Với những chương trình CVTD lớn, người dân sẽ có nguồn tài chính một cách nhanh chóng để trang trải cho các hoạt động như mua nhà, sửa chữa nhà ở và mua sắm trang thiết bị, các đồ dùng gia đình, các nhu cầu phục vụ học tập, chữa bệnh, du lịch…góp phần cải thiện đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân Hơn nữa, nó còn góp phần giảm chi phí giao dịch trong toàn xã hội Đó là chưa kể đến việc cho vay tiêu dùng kết hợp với những tiện ích thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán trực tuyến… sẽ cải thiện môi trường tài chính, xây dựng nền văn minh trong thanh toán, góp phần tạo cơ sở để Việt Nam hoà nhập với cộng đồng quốc tế
Thứ ba, CVTD thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bởi lẽ tiêu dùng tăng, hoạt
động sản xuất của các doanh nghiệp được mở rộng, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động, từ đó làm tăng thu nhập, tiết kiệm của cá nhân tăng,
mở rộng cơ hội huy động vốn và phát triển dịch vụ của các tổ chức tín dụng Thị trường tài chính được mở rộng sẽ làm tăng khả năng tiếp cận các nguồn vốn đối với KH, thúc đẩy sự cạnh tranh trên thị trường, nâng cao chất lượng dịch vụ của các chủ thể hoạt động cung cấp trên thị trường Sự phát triển bền vững của thị trường tài chính cũng chính là nền tảng cho sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế
Thứ tư, CVTD góp phần thu hẹp các hoạt động cho vay phi chính thức,
giúp người dân có nhu cầu VTD tiếp cận được kênh cho vay chính thống có
Trang 28sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước mà không phải tìm đến các loại hình cho vay nặng lãi, “tín dụng đen” có lãi suất quá cao, dễ dẫn đến nhiều hệ lụy về kinh tế xã hội
Như vậy, cho vay tiêu dùng mang lại lợi ích cho cả ba bên: người tiêu dùng - doanh nghiệp, ngân hàng và nền kinh tế
1.1.6 Các hình thức cho va tiêu dùng
a Căn cứ vào mục đích vay vốn
Cho vay tiêu dùng được chia làm hai loại:
* Cho vay tiêu dùng cư trú (Residential Mortgage Loan):
Cho vay tiêu dùng cư trú là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình Đặc điểm của cho vay tiêu dùng cư trú là những món vay này quy mô thường lớn, thời gian kéo dài, rủi ro lớn Vì vậy, bên cạnh yếu tố thu nhập của khách hàng vay thì giá trị tài sản bảo đảm cho khoản vay là yếu tố quan trọng quyết định đến việc cho vay hay không cho vay
* Cho vay tiêu dùng phi cư trú (Residential Mortgage Loan):
Cho vay tiêu dùng phi cư trú là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm phương tiện đi lại, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, y tế, giải trí và du lịch Đặc điểm của những khoản vay này thường có quy mô nhỏ, thời gian ngắn do vậy mức độ rủi ro thấp hơn so với cho vay tiêu dùng cư trú Đối với loại hình này yếu tố quan trọng nhất trong quyết định cho vay là nguồn thu nhập hay nói cách khác là khả năng trả nợ của KH
b Căn cứ vào thời hạn cho vay
Theo tiêu thức này, cho vay tiêu dùng chia thành các loại sau:
* Cho vay ngắn hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn dưới một năm
Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào các tài sản có giá trị nhỏ
* Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm, loại
Trang 29hình này thường rất phổ biến trong cho vay tiêu dùng vì nó phù hợp nhu cầu của khách hàng Do tâm lý người dân thường e ngại nợ nên họ muốn trả hết
nợ trong khoảng thời gian ngắn nhất có thể, một mặt giảm tiền lãi mặt khác giảm tâm lý lo lắng đồng thời phù hợp với khả năng tài chính của khách hàng
* Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 5 năm trở lên, thường
nhằm tài trợ vào những nhu cầu tiêu dùng cần số tiền lớn, thời gian sử dụng lâu dài như xây dựng, mua sắm nhà cửa, đất đai…
c Căn cứ theo phương thức hoàn trả
Căn cứ vào phương thức hoàn trả có thể chia thành các loại sau:
* Cho vay tiêu dùng trả góp (Installment Consumer Loan): là hình thức cho vay mà người đi vay trả nợ cho ngân hàng một số tiền nhất định trên mỗi
kỳ hạn (hàng tháng, quý hoặc năm) trong thời hạn cho vay Phương thức này thường áp dụng cho những khoản vay có giá trị lớn hoặc áp dụng với những
KH có thu nhập định kỳ không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay
Số tiền thanh toán định kỳ gồm nợ gốc (là khoản tiền khách hàng phải trả mỗi kỳ, thường bằng nhau và tương ứng với thu nhập của họ trong từng thời kỳ tương ứng) và nợ lãi Hình thức cho vay này chiếm một tỷ trọng đáng
kể trong cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại, loại hình vay này giúp cho khách hàng vay không bị áp lực trả nợ vào cuối kỳ cao Trong phương thức cho vay này, ngân hàng thường thỏa thuận với khách hàng một
số điều khoản như: mục đích vay vốn, vốn tự có, chi phí khoản vay như lãi suất và các chi phí khác liên quan, điều khoản thanh toán như kỳ hạn trả nợ,
số tiền trả mỗi kỳ và thời hạn cho vay
* Cho vay tiêu dùng phi trả góp (Non- installment Consumer Loan):
Đây là phương thức mà khách hàng thanh toán tiền vay cho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn Cho vay tiêu dùng phi trả góp thường chỉ áp dụng với các khoản vay có giá trị nhỏ, thời hạn vay không dài (thường dưới 1 năm),
Trang 30đối tượng khách hàng có thu nhập khá cao và ổn định
* Cho vay tiêu dùng tuần hoàn (Revolving Consumer Loan):
Theo phương thức này, NH sẽ cấp cho KH một hạn mức tín dụng được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định, KH có quyền vay và trả nhiều lần miễn sao không vượt quá hạn mức tín dụng của mình và khi đến hạn KH phải hoàn trả đầy đủ khoản nợ vay của mình Loại vay này thường được áp dụng cho vay thấu chi, thẻ tín dụng CVTD tuần hoàn dễ áp dụng, thuận tiện cho khách hàng trong việc chủ động chi tiêu cho các nhu cầu của mình
d Căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay
Hoạt động CVTD của NH là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro Mặc dù trước khi quyết định cho vay NH đã trải qua các khâu thu thập, xử lý, phân tích và thẩm định kỹ khả năng trả nợ của khách hàng nhưng vẫn chưa thể loại
bỏ được rủi ro tín dụng Do vậy bảo đảm tiền vay có thể sử dụng như là một trong những cách thức nhằm gia tăng khả năng thu hồi nợ và giảm thiểu rủi
ro Căn cứ theo hình thức đảm bảo, CVTD được chia thành 3 loại:
- Cho vay bảo đảm bằng lương hay thu nhập
Đây là loại hình cho vay không cần có tài sản bảo đảm, mà ngân hàng cho vay dựa trên thu nhập và uy tín của khách hàng Đối tượng khách hàng của loại hình cho vay này là các khách hàng có việc làm ổn định, thu nhập ngoài việc đủ trang trải các chi tiêu thường xuyên còn có đủ tích luỹ để trả nợ vay (ví dụ như cán bộ công nhân viên chức, giáo viên, bộ đội…)
Số tiền vay được quyết định dựa trên nhu cầu vay, thu nhập ròng thường xuyên của KH và mức cho vay tối đa của NH Khi nhận tiền vay, KH phải cam kết nếu không trả được nợ đến hạn, NH có quyền nhận lương của KH để thu hồi nợ
- Cho vay cầm cố, thế chấp
Đây là loại hình cho vay cần có TSBĐ Mức cho vay xác định căn cứ vào giá trị, khả năng thanh khoản của tài sản trên thị trường, khả năng bảo
Trang 31quản của tài sản cầm cố, thế chấp nhưng thông thường tối đa không quá từ 70% - 80% giá trị thị trường của tài sản tại thời điểm cầm cố, thế chấp Danh mục các loại tài sản và điều kiện các loại tài sản bảo đảm được NH quy định
cụ thể dựa trên cơ sở qui định của pháp luật và chính sách tín dụng của NH Nếu TSBĐ là giấy tờ có giá, thời hạn cầm cố ngắn hơn thời gian lưu hành còn lại của giấy tờ có giá một thời gian nhất định, tối đa không quá 12 tháng Trong trường hợp TSBĐ là động sản hay bất động sản, NH cho vay tiến hành định giá tài sản dựa trên giá trị thị trường và khả năng thanh khoản của tài sản đó
- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ khoản vay
Hình thức này áp dụng chủ yếu đối với tài sản có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài như cho mua nhà ở, mua quyền sử dụng đất ở, cho vay mua ô tô…Mức cho vay của ngân hàng trong hình thức này phụ thuộc vào tình hình tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng, giá trị tài sản mua sắm, mức tối đa thường từ 60 - 70% giá trị tài sản mua sắm
e Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ
Căn cứ vào hình thức này cho vay tiêu dùng được chia làm 2 loại:
* Cho vay tiêu dùng gián tiếp (Indirect Consumer Loan): là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ
đã bán chịu hàng hóa hay dịch vụ cho người tiêu dùng và thu lại từ khách hàng Hình thức này ngân hàng cho vay thông qua các doanh nghiệp bán hàng, cung cấp dịch vụ mà không trực tiếp tiếp xúc với KH
CVTD gián tiếp giúp NH gia tăng dư nợ, tiết giảm được chi phí trong cho vay, như chi phí tiếp thị, quảng bá thương hiệu, tìm kiếm khách hàng,… đồng thời mở rộng quan hệ khách hàng và tạo điều kiện phát triển các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng
Tuy nhiên, với loại hình cho vay này NH không tiếp xúc trực tiếp với
Trang 32người tiêu dùng (bên vay) mà thông qua doanh nghiệp bán chịu hàng hóa, dịch
vụ do vậy dễ gặp rủi ro do KH gian lận, lừa đảo… thêm vào đó nghiệp vụ CVTD gián tiếp có tính phức tạp cao, khó ứng dụng Do những nhược điểm kể trên nên nhiều NH rất thận trọng khi áp dụng CVTD gián tiếp Các NH khi tham gia vào hoạt động này đều có các cơ chế kiểm soát tín dụng rất chặt chẽ
* Cho vay tiêu dùng trực tiếp (Direct Consumer Loan): là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc với khách hàng trong quá trình cho vay cũng như thu hồi nợ
Với loại hình cho vay này, người trực tiếp ra quyết định cho vay là nhân viên ngân hàng, do vậy có thể tận dụng được trình độ của cán bộ tín dụng, những người được đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực CVTD Vì vậy, các quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn so với trường hợp chúng được quyết định bởi những công ty bán lẻ
Các CBTD quan tâm đến việc tạo ra các khoản cho vay có chất lượng cao trong khi nhân viên của công ty bán lẻ chỉ chú trọng đến việc bán được nhiều sản phẩm, không quan tâm đến khả năng trả nợ của KH bên cạnh đó tại các điểm bán hàng các quyết định cho vay thường đưa ra rất vội vàng, nên gặp nhiều rủi ro
CVTD trực tiếp linh hoạt hơn CVTD gián tiếp Khi KH có quan hệ trực tiếp với NH, tạo điều kiện tốt để NH giới thiệu bán chéo sản phẩm, gia tăng
sự hài lòng cho khách hàng
Các phương thức cho vay tiêu dùng trực tiếp:
Tín dụng trả theo định kỳ: là phương thức trong đó khách hàng thực hiện
việc vay và trả nợ trực tiếp cho ngân hàng với mức trả và thời hạn trả mỗi lần được quy định khi cho vay
Thấu chi: là nghiệp vụ cho phép một cá nhân rút tiền từ tài khoản vãng
Trang 33lai của người đó vượt số dư có, tới một hạn mức đã được thỏa thuận
Thẻ tín dụng: là nghiệp vụ tín dụng trong đó NH phát hành thẻ cho
những người có tài khoản tại NH đủ điều kiện cấp thẻ KH được vay tiền qua việc mua hàng hóa, dịch vụ bằng thẻ tín dụng với hạn mức tối đa được NH cho phép Số tiền này được trả một lần hoặc trả dần với lãi suất tương đối cao
1.2 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG
Hoạt động cho vay tiêu dùng đã và đang phát triển rất mạnh ở một số quốc gia, nó mang lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế và mặt xã hội cho đất nước Cũng như các hình thức cho vay khác của NHTM, cho vay tiêu dùng chịu tác động của rất nhiều yếu tố Chính vì vậy, các NHTM luôn thận trọng khi xem xét đánh giá sự tác động của các yếu tố đó nhằm tận dụng tối đa các lợi thế của nó cũng như hạn chế đến mức có thể những tác động xấu của những yếu
tố đó đến hoạt động CVTD cũng như hoạt động kinh doanh của NH
Có thể chia các nhân tố tác động đến hoạt động CVTD thành 2 nhóm: nhóm các nhân tố bên ngoài và nhóm các nhân tố bên trong
1.2.1 Nhóm các nhân tố bên ngoài
Đây là nhóm nhân tố NHTM không thể kiểm soát được, bao gồm: môi trường kinh tế, môi trường háp lý, môi trường văn hóa xã hội, định hướng phát triển và chủ trương chính sách của Nhà Nước
a Môi trường pháp lý
Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh là cơ sở để phát triển thị trường tín dụng an toàn, thúc đẩy các tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ tài chính chất lượng cao cho dân cư, đảm bảo quyền lợi cho cả người cho vay và người đi vay Môi trường pháp lý bao gồm những văn bản pháp luật của Nhà nước, là một nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng Nếu một xã hội có môi trường pháp lý chặt chẽ, quy định rõ ràng đồng bộ, đầy đủ
Trang 34và kịp thời sẽ tạo cơ hội phát triển cho hoạt động cho vay tiêu dùng, tăng khả năng cạnh tranh lành mạnh, là cơ sở pháp lý để giải quyết các khiếu nại, tranh chấp trong hoạt động CVTD Ngược lại, một xã hội tồn tại hệ thống luật pháp chằng chịt, không rõ ràng, đầy đủ sẽ gặp khó khăn cho hoạt động cho vay tiêu dùng, cản trở sự phát triển kinh tế xã hội
Cho vay tiêu dùng là hoạt động đem lại lợi nhuận cao nhưng rủi ro lớn,
số lượng món vay nhiều nhưng chất lượng thông tin về khách hàng không cao Chính vì vậy, yêu cầu về một môi trường pháp lý hoàn thiện để điều chỉnh hoạt động cho vay tiêu dùng là rất cần thiết
b Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là một trong những yếu tố tác động mạnh đến nhu cầu vay tiêu dùng của người dân Cho vay tiêu dùng là hoạt động có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế, sự biến động cho vay tiêu dùng gắn bó chặt chẽ với
sự biến động của môi trường kinh tế Doanh số cho vay tiêu dùng tăng lên khi nền kinh tế phát triển, khi người dân cảm thấy an tâm về tương lai cũng như nhìn thấy được những nguồn thu đem lại để chi trả cho những nhu cầu trong hiện tại Sự ổn định kinh tế vĩ mô tạo cơ hội để hoạt động CVTD phát triển hiệu quả Kinh tế ổn định, đặc biệt là ổn định về tiền tệ với các chỉ tiêu về giá
cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát… làm cho các NH yên tâm khi cho vay vốn, đồng thời các đối tượng vay vốn có thêm việc làm, tăng thu nhập, giúp cho họ an tâm về thu nhập của mình từ đó tăng các khoản vay
Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, phát triển không ổn định sẽ hạn chế hoạt động CVTD của các trung gian tài chính Môi trường kinh tế bất ổn sẽ tác động xấu đến các khoản tín dụng và dễ dẫn tới đổ vỡ tín dụng Hơn nữa, thu nhập trong tương lai của người tiêu dùng trở nên bấp bênh, các chi phí biến động, họ không thể dự đoán và kiểm soát được thu nhập và chi tiêu của mình, do vậy họ phải hạn chế các khoản vay tiêu dùng trong hiện tại
Trang 35Một nền kinh tế ổn định sẽ là điều kiện thuận lợi để cả các định chế tài chính và khách hàng tham gia vào hoạt động tín dụng tiêu dùng
c Môi trường văn hoá-xã hội
Những yếu tố thuộc về văn hóa xã hội như thói quen sử dụng các sản phẩm ngân hàng, tỷ lệ tiết kiệm, trình độ dân trí, nhu cầu, thị hiếu … ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động cho vay tiêu dùng Nếu ở một xã hội thói quen chi tiêu của người dân chỉ dừng ở mức độ là các mặt hàng thiết yếu thì tại đó
NH khó có thể phát triển CVTD Hay tại một xã hội mà người dân có thói quen tiết kiệm, tỷ lệ tiết kiệm trên tổng thu nhập cao thì NH cũng không có cơ hội mở rộng hoạt động CVTD Mức độ giao dịch qua NH, quan niệm về NH, thói quen sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt… là những yếu tố tác động rất lớn đến dịch vụ NH và hoạt động cho vay tiêu dùng Bên cạnh đó, trình độ dân trí cao, thu nhập bình quân đầu người của dân cư cao tạo cơ hội để mở rộng các dịch vụ ngân hàng trong đó có CVTD
d Định hướng phát triển và chủ trương chính sách của Nhà nước
Các chính sách kinh tế hay định hướng phát triển của Nhà nước đều có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển hoạt động CVTD Nếu định hướng phát triển và chủ trương chính sách của Nhà nước kích thích sự phát triển kinh tế ổn định, bền vững là dựa vào tiêu dùng trong nước cũng như thu hút đầu tư nước ngoài, thì GDP tăng lên, thu nhập của người dân được cải thiện, nhu cầu của người dân về hàng tiêu dùng tăng lên, các NH có cơ hội mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng
Với quan điểm đó, Chính Phủ sẽ đưa ra các chính sách tích cực, tạo môi trường thuận lợi đẩy mạnh chi tiêu tiêu dùng như chính sách thuế, chính sách thương mại, du lịch, y tế, giáo dục…tạo cơ hội nâng cao chất lượng CVTD Bên cạnh đó những chính sách của Nhà nước như: xoá đói giảm nghèo, áp dụng những chính sách ưu đãi khi cho vay với những đối tượng chính sách,
Trang 36hộ nghèo…góp phần tăng lượng KH trong hoạt động CVTD
Ngược lại, khi chính sách kinh tế và định hướng phát triển của Nhà nước theo hướng coi trọng xuất khẩu tức là kích thích, đẩy mạnh tiêu dùng của người nước ngoài thì bộ phận tiêu dùng trong nước sẽ ít được quan tâm hơn, khi đó hoạt động cho vay tiêu dùng ít có cơ hội tồn tại và phát triển
Như vậy, những chính sách hợp lý và định hướng kinh tế đúng đắn của Nhà nước kích thích cầu tiêu dùng trong dân cư, tạo cơ hội cho hoạt động cho vay tiêu dùng ổn định và phát triển
1.2.2 Nhóm các nhân tố bên trong
Đây là nhóm nhân tố xuất phát từ bản thân của chính ngân hàng, nó là
nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển và tỷ trọng CVTD trong hoạt động cho vay của mỗi ngân hàng
a Chính sách tín dụng và định hướng phát triển của ngân hàng
Chính sách tín dụng của NHTM là hệ thống các chủ trương, định hướng, quy định chi phối hoạt động tín dụng do ngân hàng đưa ra nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn để tài trợ cho các hoạt động cấp tín dụng tại đơn vị mình, từ
đó đạt được những mục tiêu mà ngân hàng đã hoạch định Tùy định hướng phát triển của NH trong từng thời kỳ, chính sách tín dụng sẽ được xây dựng phù hợp với định hướng đó
Chính sách tín dụng vạch ra cho nhà quản lý cũng như các CBTD ngân hàng hướng đi và khung tham chiếu rõ ràng làm căn cứ chỉ đạo cụ thể trong việc ra quyết định cho vay và xây dựng danh mục cho vay, tạo nên sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng của NH Vì vậy những yếu tố trong chính sách tín dụng đều có tác động mạnh mẽ đến việc mở rộng cho vay nói chung và hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng
Nếu định hướng phát triển hoạt động CVTD thì ngân hàng sẽ đưa ra các chính sách tín dụng hướng vào đối tượng KH là cá nhân để tạo điều kiện
Trang 37thuận lợi cho hoạt động này phát triển Hơn nữa, hoạt động tín dụng là hoạt động chính, tạo ra phần lớn thu nhập cho NH vì thế mà chính sách tín dụng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc điều chỉnh các hoạt động tín dụng sao cho hiệu quả và an toàn nhất Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay, một chính sách tín dụng đúng đắn, hợp lý là yếu tố cần thiết để các NH thu hút khách hàng, nâng cao vị thế của mình trên thị trường tài chính
b Quy trình cấp tín dụng
Quy trình và thủ tục cấp tín dụng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cho vay của NH, trong đó có hoạt động CVTD Bởi không có bất kỳ một KH nào muốn giao dịch tại một NH có qui trình và thủ tục cho vay rườm rà, phức tạp Hiện nay tất cả các NH đều tìm cách rút ngắn qui trình và thủ tục cho vay, nhất là cho vay KH cá nhân nhằm thu hút KH, tăng tính cạnh tranh
Như vậy, khi tiến hành hoạt động cho vay nói chung và CVTD nói riêng, các NH cần có một hệ thống các thủ tục và qui trình cho vay hợp lý, khoa học, đặc biệt là khâu thẩm định phải được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, chính xác và nhanh chóng
c Chất lượng cán bộ ngân hàng
Trình độ chuyên môn của nhân viên NH, đặc biệt là đội ngũ CBTD là nhân tố rất quan trọng, quyết định chất lượng cũng như khả năng phát triển hoạt động tín dụng của NH Nhân viên ngân hàng là người trực tiếp thực hiện các chiến lược kinh doanh của NHTM Quá trình giao dịch trực tiếp với KH, nhân viên NH chính là hiện hữu chủ yếu của dịch vụ, chính vì vậy mà kiến thức và chuyên môn của đội ngũ này góp phần tăng thêm giá trị của các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng
Kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm của nhân viên cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thẩm định các khoản vay Ví dụ như trong NH có
Trang 38những nhân viên có kinh nghiệm trong việc thẩm định TSBĐ, tư cách, uy tín khách hàng thì việc phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng sẽ thuận lợi hơn bởi nó sẽ hạn chế được rủi ro hơn cho NH Với những nhân viên chưa có kinh nghiệm về CVTD mà trong chính sách tín dụng lại yêu cầu cung cấp những khoản VTD đa dạng thì NH đó sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý các khoản vay cũng như rủi ro không thu hồi được nợ là rất cao
CVTD là một loại hình cho vay có mức độ rủi ro tiềm ẩn rất lớn, nên ngay từ khâu thẩm định các khoản vay nếu cán bộ thẩm định không làm tốt có thể gây ra tổn thất rất lớn cho NH Ngoài ra đạo đức nghề nghiệp của cán bộ
NH cũng là một nhân tố rất quan trọng trong việc cho vay Nếu một cán bộ
NH không có đạo đức nghề nghiệp thì nguy cơ xảy ra rủi ro cho NH cao
d Trình độ khoa học công nghệ và khả năng quản lý của ngân hàng
Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển, thông tin trở thành vấn đề thiết yếu, không thể thiếu trong hoạt động của NH Công nghệ ngân hàng đóng vai trò sống còn đối với các NH Trong xu thế ngày nay không thể nào tồn tại một ngân hàng với công nghệ lạc hậu Công nghệ hiện đại là cơ sở để các ngân hàng mở rộng hoạt động trong đó có hoạt động cho vay tiêu dùng Nếu một ngân hàng áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện đại sẽ giúp cho khách hàng thuận tiện hơn trong giao dịch, sử dụng các sản phẩm dịch vụ của mình một cách hiệu quả nhất Ví dụ như khi NH đầu tư phát triển dịch vụ thẻ thanh toán, máy rút tiền tự động… tạo điều kiện để NH mở rộng hoạt động CVTD thông qua các tài khoản cá nhân như cho vay thấu chi, thẻ tín dụng… Ngoài ra, áp dụng công nghệ tiên tiến giúp các NH có thể quản lý danh sách KH một cách dễ dàng hơn, tiết kiệm được chi phí quản lý, thuận tiện trong công tác chăm sóc KH Thêm vào đó, khi áp dụng khoa học công nghệ hiện đại việc giải quyết các thủ tục NH sẽ nhanh chóng, chính xác hơn, giảm bớt các thủ tục rườm rà cho KH và giảm bớt áp lực cho nhân viên NH
Trang 39e Năng lực quản trị tín dụng của ngân hàng
Để hoạt động tín dụng phát triển an toàn, hiệu quả, đặc biệt là hoạt động CVTD, thì những nhà hoạch định chính sách của NH trước tiên phải nắm rõ
về cơ cấu của NH mình, về đội ngũ nhân viên mà mình quản lý, từ đó có sự đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ một cách phù hợp Đây là động lực chính góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển của hoạt động CVTD nói riêng và hoạt động tín dụng của NH nói chung
f Quy mô nguồn vốn của ngân hàng và chiến lược khách hàng
Quy mô nguồn vốn của NH là một trong những yếu tố được các nhà quản lý NH xem xét khi đưa ra các quyết định trong đó có các quyết định về hoạt động CVTD Nguồn vốn của NH bao gồm nguồn vốn huy động và nguồn vốn chủ sở hữu Quy mô nguồn vốn lớn giúp NH có điều kiện đầu tư
cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị, công nghệ … tạo điều kiện thu hút KH Nếu
NH có vốn chủ sở hữu lớn thì sẽ có điều kiện để đầu tư hoạt động CVTD phát triển, ngược lại, nếu NH chỉ đủ nguồn vốn để tài trợ cho các hoạt động được
ưu tiên thì hoạt động CVTD ít có cơ hội phát triển
Chiến lược khách hàng cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động CVTD Thật vậy, nếu trong giai đoạn NH không chú trọng phát triển KH cá nhân chỉ chú trọng đến phát triển đối tượng cho vay là KH doanh nghiệp thì CVTD khó có khả năng phát triển Ngược lại nếu NH chú trọng đến KH cá nhân, có những chính sách phù hợp hấp dẫn KH thì đây là một nhân tố quan trọng góp phần phát triển hoạt động CVTD
1.3 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1 Mục đích phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM
Phân tích hoạt động CVTD là một công việc quan trọng giúp NH đánh giá được thực tế tình hình CVTD tại đơn vị mình, xem xét việc thực hiện các
Trang 40mục tiêu đã đề ra đến đâu, rút ra những tồn tại, nguyên nhân khách quan và chủ quan từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục để phát triển hoạt động CVTD theo đúng định hướng
Kết quả phân tích hoạt động CVTD và định hướng trong hoạt động cho vay của ngân hàng là những căn cứ quan trọng để NH có thể hoạch định chiến lược phát triển và lựa chọn chính sách tín dụng tối ưu cho hoạt động kinh doanh của mình
Đặc điểm của hoạt động CVTD là các món vay nhỏ, thời gian kéo dài nên khó kiểm soát, rủi ro rất lớn vì vậy thông qua việc phân tích hoạt động CVTD giúp các NH phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu tổn thất Ngoài việc phân tích các yếu tố bên trong tác động đến hoạt động CVTD của ngân hàng, còn phải quan tâm đến các nhân tố bên ngoài tác động như đối thủ cạnh tranh, thị trường mục tiêu, … Từ đó giúp NH đưa ra các chính sách KH cũng như chính sách tín dụng phù hợp, tạo điều kiện cho hoạt động CVTD phát triển an toàn, hiệu quả, góp phần gia tăng lợi ích cho ngân hàng
Bên cạnh việc so sánh các chỉ tiêu trên các báo cáo thống kê kế toán, phân tích hoạt động CVTD cần đi sâu xem xét trên nhiều lĩnh vực, khía cạnh khác nhau, vận dụng các phương pháp thích hợp để tính toán các chỉ tiêu cần thiết Qua đó đánh giá chính xác, đầy đủ đưa ra kết luận sâu sắc, phù hợp thực tiễn Đó chính là cơ sở để phát hiện và khai thác tiềm lực trong hoạt động cho vay nói chung và hoạt động CVTD nói riêng
1.3.2 Nội dung phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
Phân tích tình hình CVTD của NHTM là công việc khá phức tạp, có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động CVTD Nội dung cơ bản của phân tích tình hình cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại bao gồm: