1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân tại các sàn giao dịch chứng khoán trên địa bàn thành phố đà nẵng

108 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Đầu Tư Chứng Khoán Của Các Nhà Đầu Tư Cá Nhân Tại Các Sàn Giao Dịch Chứng Khoán Trên Địa Bàn Thành Phố Đà Nẵng
Tác giả Ngô Đức Chiến
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hiệu Tên sơ đồ Trang 1.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng 2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng 2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của

Trang 1

NGÔ ĐỨC CHIẾN

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TẠI CÁC SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 2

NGÔ ĐỨC CHIẾN

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TẠI CÁC SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng

Mã số : 60.34.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Vũ

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 3

Tôi xin camđoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Ngô Đức Chiến

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu của đề tài 3

6 Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài 4

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN 7

1.1 KHÁI NIỆM VÀ MỤC ĐÍCH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 7

1.1.1 Khái niệm về đầu tư chứng khoán 7

1.1.2 Mục đích đầu tư chứng khoán 8

1.2 TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN 8

1.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân 8

1.2.2 Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Chứng khoán 11

CHƯƠNG 2: NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN 19

2.1 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ CHI PHỐI HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 19

Trang 5

ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN 23

2.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU KHÁC 28

2.3.1 Ảnh hưởng của các yếu tố kỳ vọng, nhận thức rủi ro và sở thích của các nhà đầu tư đến quyết định đầu tư Chứng khoán 28

2.3.2 Phân tích tình hình tài chính trên thị trường chứng khoán để đưa ra quyết định đầu tư 30

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 36

3.1 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU 36

3.2 CÁC GIAI ĐOẠN NGHIÊN CỨU 36

3.3 CÔNG CỤ ĐO LƯỜNG 37

3.4 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 41

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TẠI CÁC SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG 43

4.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẠI TP ĐÀ NẴNG 43

4.2 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TẠI CÁC SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG 45

4.2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 45

4.2.2 Các giả thuyết nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 48

4.3 MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU 52

4.3.1 Tỷ lệ bảng câu hỏi thu về hợp lý 52

Trang 6

4.4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CÁ

NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG 53

4.4.1 Phân tích đánh giá thang đo và hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu 53

4.4.2 Kiểm định độ tin cậy các thang đo 56

4.4.3 Thống kê mô tả các biến hồi quy 57

4.4.4 Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình 58

4.4.5 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 58

4.4.6 Kết quả chạy mô hình nghiên cứu 59

CHƯƠNG 5: CÁC KIẾN NGHỊ NHẰM THU HÚT CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 65

5.1 CÁC KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC CÔNG TY GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG 65

5.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI ỦY BAN CHỨNG KHOÁN NHÀ NƯỚC VÀ SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN 69

5.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ 75

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 7

CP : Cổ phần

ĐTCK : Đầu tư chứng khoán KNDT : Kinh nghiệm đầu tư NĐT : Nhà đầu tư

QMDN : Quy mô doanh nghiệp

RR : Rủi ro TGCV : Thời gian công việc TDTT : Theo dõi thị trường

TSSL : Tỷ suất sinh lợi

Trang 8

Số hiệu Tên bảng Trang

2.1 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư

chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân 22

2.2 Kết quả chạy mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến

2.3 Tổng hợp tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quyết

định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân 27 2.4

Tổng hợp tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến

quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá

nhân thông qua yếu tố kỳ vọng sinh lời

30

4.1

Tổng hợp xu hướng tác động của các nhân tố tác động

đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư

cá nhân trên địa bàn TP Đà Nẵng (mô hình đề xuất)

51

4.2 Đặc điểm của nhóm trả lời phiếu điều tra 52

4.6 Hệ số Cronbach’s Alpha các biến độc lập 56 4.7 Hệ số Cronbach’s Alpha biến phụ thuộc 56

Trang 9

4.13 đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư

cá nhân trên địa bàn TP Đà Nẵng (kết quả mô hình)

62

5.1 Phương thức thanh toán của các cổ phiếu, trái phiếu,

Trang 10

Số hiệu Tên sơ đồ Trang

1.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến đến quyết định đầu tư chứng

2.5

Tổng hợp các yếu tố tác động đến quyết định đầu tư

chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân từ các mô hình

thực nghiệm

35 3.1 Các bước thực hiện quy trình nghiên cứu 36

4.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà

4.2 Mô hình hoàn chỉnh các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định

đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên địa bàn TP Đà Nẵng 62

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thị trường Chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ tháng

8 năm 2000, cho đến nay, trải qua gần 14 năm, với những bước phát triển mạnh mẽ và nhiều thăng trầm, thị trường chứng khoán ngày càng khẳng định

là một trong những thị trường thu hút được nhiều sự quan tâm và đầu tư của các nhà đầu tư Và nhanh chóng trở thành một thị trường quan trọng trong việc đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế

Vào những năm 2006, khi thị trường chứng khoán bùng nổ, hầu hết các nhà đầu tư đều coi đó là nơi tìm kiếm lợi nhuận hấp dẫn Tuy nhiên, sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008 trở lại đây, thị trường chứng khoán bắt đầu kém thu hút các nhà nhà đầu tư hơn Nhiều nhà đầu tư đã rút khỏi thị trường chứng khoán và tham gia đầu tư vào các thị trường khác Do đó, việc tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân nói riêng cũng như các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán nói chung là điều cần thiết nhằm thu hút họ tham gia đầu tư trên thị trường này

Có rất nhiều nhân tố tác động đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Ngoài những biến động không lường về tình hình kinh tế vĩ mô, tình hình sản xuất kinh doanh cũng như khả năng tài chính của chính bản thân các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán, thì ngay cả yếu tố tâm lý của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán cũng là một trong những nhân tố quyết định đầu tư chứng khoán hay không của các nhà đầu tư cá nhân Đặc biệt, tại thị trường

Đà Nẵng, với tâm lý thận trọng, ngại rủi ro và thích ổn định thì việc đưa ra quyết định đầu tư chứng khoán đối với các cá nhân trên thị trường này cần phải được xem xét kỹ lưỡng hơn Do đó, việc nắm bắt các nhân tố ảnh hưởng

Trang 12

đến quyết định đầu tư chứng khoán là điều then chốt cho việc đưa ra quyết định đầu tư chứng khoán đối với các nhà đầu tư cá nhân Chính vì vậy, tác giả

đã quyết định chọn đề tài: “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết

định đầu tư Chứng khoán của các Nhà đầu tư cá nhân tại các Sàn Giao dịch Chứng khoán trên địa bàn TP Đà Nẵng”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đề tài thực hiện việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Chứng khoán của các Nhà đầu tư cá nhân tại các Sàn Giao dịch Chứng khoán trên địa bàn TP Đà Nẵng Từ đó, giúp cho các Sàn giao dịch chứng khoán có hướng đi đúng đắn trong việc thu hút các Nhà đầu tư cá nhân trên địa bàn TP Đà Nẵng tham gia đầu tư chứng khoán

Cụ thể, đề tài thực hiện những nhiệm vụ như:

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân trên cơ sở lý thuyết cũng như các mô hình thực tiễn

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân tại các Sàn giao dịch chứng khoán trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng

- Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp cần thiết cho việc thu hút các nhà đầu tư cá nhân trong việc tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán và thực tiễn khảo sát các cá nhân trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân

3.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi không gian: Đề tài thực hiện việc nghiên cứu các nhân tố tác động đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng

Trang 13

+ Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện việc lấy dữ liệu phục vụ cho công tác điều tra và nghiên cứu thông qua bảng câu hỏi được thu thập trong năm

2014

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã áp dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp định tính: Các cơ sở lý thuyết có tính chất khoa học

nhằm đề cập và trình bày cũng như phân tích các yếu tố tác động đến quyết định đầu tư chứng khoán

- Phương pháp định lượng: Bằng việc thu thập ý kiến của các nhà đầu tư

chứng khoán trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng thông qua phiếu khảo sát, điều tra, từ đó, tiến hành các phương pháp như:

+ Phương pháp thống kê mô tả: Dựa trên dữ liệu thu được, tiến hành sắp xếp và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán + Phương pháp phân tích bằng mô hình thực nghiệm: Với kết quả thu được sẽ tiến hành mã hóa số liệu và chạy mô hình SPSS để đi đến kết quả đánh giá các yếu tố tác động đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân

5 Kết cấu của đề tài

Kết cấu của luận văn gồm 4 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân

Chương 2: Những nghiên cứu thực tiễn về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Chương 4: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư Chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân tại các Sàn giao dịch Chứng khoán trên địa bàn TP Đà Nẵng

Trang 14

Chương 5: Các kiến nghị nhằm thu hút các nhà đầu tư cá nhân đầu tư trên Thị trường Chứng khoán

6 Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài

Đề tài cung cấp những nhân tố quan trọng trong việc đi đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân trên địa bàn thành phố Đà nẵng cũng như đề ra những giải pháp nhằm thu hút các nhà đầu tư cá nhân

tham gia đầu tư trên thị trường này

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Nghiên cứu này kế thừa và điều chỉnh những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân từ những nghiên cứu trước đây cho phù hợp với thị trường Việt Nam, cụ thể là địa bàn thành phố Đà Nẵng

Để hoàn thiện được đề tài “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết

định đầu tư Chứng khoán của các Nhà đầu tư cá nhân tại các Sàn Giao dịch Chứng khoán trên địa bàn TP Đà Nẵng”, tác giả đã tham khảo Bài giảng

Quản trị danh mục đầu tư của PGS.TS Võ Thị Thúy Anh, Bài giảng Kinh lượng lượng của GS.TS Trương Bá Thanh, Giáo trình Đầu tư tài chính của PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt và nhiều tài liệu làm cơ sở lý thuyết khác

Và đặc biệt quan trọng kế thừa các nghiên cứu thực tiễn đi trước, trong việc phân tích và nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân Trên thế giới cũng như tại Việt Nam có rất nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân, tuy nhiên, sau khi tìm hiểu và nghiên cứu, tác giả đã chọn một số nghiên cứu làm tiền đề cho đề tài này, đó là:

- Đề tài “Phân tích các yếu tố chi phối hoạt động của Nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam” do học viên Tô Thị Mỹ Dung thực hiện năm 2006

tại Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh [1]

Trang 15

Tác giả đã nghiên cứu những cơ sở lý luận về thị trường chứng khoán, phân tích các yếu tố chi phối hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2000 – 2006 Đồng thời, tiến hành khảo sát và chạy mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi mong đợi, một trong những nhân tố chi phối hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Từ đó tác giả cho thấy được các nhân tố ảnh hưởng một cách gián tiếp đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân Và tác giả

đả đưa ra các giải pháp và kiến nghị để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động

đầu tư trên thị trường chứng khoán dựa trên kết quả nghiên cứu và mô hình [1]

- “Khảo sát và đo lường các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến quyết định đầu

tư chứng khoán của đầu tư cá nhân” do ThS Trần Minh – Nguyễn Thị Thùy

Dung thực hiện đăng trên tạp chí Công nghệ Ngân hàng số 30 năm 2008 [3]

Kết quả khảo sát đề cập đến những yếu tố tâm lý của các nhà đầu tư cá nhân khi đưa ra quyết định đầu tư chứng khoán và có những nhận định các

đặc điểm tâm lý chung của các nhà đầu tư cá nhân [3]

Với việc ghi nhận những diễn biến của thị trường chứng khoán, tác giả

đã phân tích được tâm lý của nhà đầu tư cá nhân, từ đó, cho thấy được các yếu

tố ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư

cá nhân Cùng với đó, tác giả tiến hành chạy mô hình và đưa ra kết quả cuối cùng các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà

đầu tư cá nhân [3]

- Individual expectations, risk perception and preferences in relation to

investment decision making (Sự kỳ vọng cá nhân, nhận thức rủi ro và sở thích

liên quan đến quyết định đầu tư) của Gerrit Antonides and Nico L Van Der

Sar [16]

Mục đích của bài báo cáo này là, thứ nhất, xác định mối quan hệ cả hai yếu tố kỳ vọng sinh lời, sở thích của các nhà đầu tư với lợi nhuận chứng

Trang 16

khoán là khác nhau giữa các nhà đầu tư, và, thứ hai, thảo luận với mối quan

hệ quyết định đầu tư chứng khoán của hai yếu tố trên [16, trang 229]

Bài báo cáo cho thấy, mối quan hệ giữa lợi nhuận kỳ vọng của những người đưa ra quyết định đầu tư và nhận thức rủi ro đối với các biến tâm lý kinh tế Tiếp đến là yếu tố kỳ vọng, sở thích của các nhà đầu tư đóng một vai trò quan trọng trong việc giải thích hành vi của các nhà đầu tư trên thị trường

chứng khoán [16, trang 229]

- “Phân tích tình hình tài chính trên thị trường chứng khoán để đưa ra

quyết định đầu tư” do TS Nguyễn Ngọc Quang thực hiện đăng trên Tạp chí

kinh tế và phát triển [9]

Thị trường chúng khoán ngày càng thu hút nhiều các nhà đầu tư tham gia đầu tư Tuy nhiên, trong thực tiễn, hầu hết các nhà đầu tư đều chưa nắm rõ những vấn đề cơ bản và kỹ thuật phân tích tài chính trên thị trường chứng khoán Nhằm giảm bớt sự rủi ro trong quá trình mua, bán cổ phiếu, các nhà đầu tư khi đưa ra quyết định cần phân tích tình hình tài chính của các công ty

cổ phần trên thị trường chứng khoán [9, trang 34]

Với mục đích, nhằm hệ thống lý thuyết và phân tích một số các chỉ tiêu tài chính cơ bản của các công ty cổ phần thông qua bản cáo bạch tài chính được công khai trên thị trường chứng khoán tác giả đã giúp ích các nhà đầu tư

có các thông tin chính xác góp phần đưa ra quyết định đúng đắn đảm bảo

thành công trên thị trường chứng khoán [9]

Kết luận

Từ việc đánh giá đóng góp chính và hạn chế của các nghiên cứu trên, tác giả kế thừa các yếu tố phù hợp và điều chỉnh các yếu tố chưa phù hợp với bối cảnh nghiên cứu Từ đó tác giả xây dựng cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, cũng như xây dựng thang đo các khái niệm nghiên cứu để áp dụng và điều tra các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân tại các Sàn giao dịch Chứng khoán trên địa bàn TP Đà Nẵng

Trang 17

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHÀ

ĐẦU TƯ CÁ NHÂN

1.1 KHÁI NIỆM VÀ MỤC ĐÍCH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

1.1.1 Khái niệm về đầu tư chứng khoán

Đầu tư theo nghĩa chung nhất là quá trình sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm thu lại lợi ích nào đó trong tương lai Các nguồn lực sử dụng vào quá trình đầu tư được gọi là vốn đầu tư và có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: vốn bằng tiền (nội tệ, ngoại tệ), kim khí quí, đá quí, đất đai, bất động sản, tài nguyên, giá trị thương hiệu, phát minh sáng chế,… Lợi ích của đầu tư cũng được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau tùy theo mục đích của hoạt động đầu tư như: Lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường,… Trong hoạt động kinh tế mục đích chủ yếu và

trước hết của hoạt động đầu tư là để thu lợi nhuận [5, trang 15]

Hoạt động đầu tư có thể do một tổ chức hoặc một cá nhân thực hiện dưới nhiều hình thức Song nếu căn cứ vào mối liên hệ trực tiếp giữa chủ đầu tư và đối tượng đầu tư người ta thường chia thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián

tiếp [5, trang 15]

- Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham

gia quản lý điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư, được thực hiện dưới các hình thức như góp vốn kinh doanh hoặc thực hiện các hợp đồng hợp tác kinh doanh

- Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư không trực tiếp

tham gia điều hành hoạt động của đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư, được thực

Trang 18

hiện dưới các hình thức như đầu tư chứng khoán hoặc cho vay đầu tư đối với các tổ chức kinh tế

Như vậy, đầu tư chứng khoán là một trong những hình thức đầu tư gián

tiếp của các nhà đầu tư vào các doanh nghiệp, ở đó chủ đầu tư bỏ vốn để mua các chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) của doanh nghiệp đang lưu hành trên

thị trường chứng khoán nhằm đạt được những lợi ích nhất định [6, trang 16]

1.1.2 Mục đích đầu tư chứng khoán

Đầu tư chứng khoán là một hình thức đầu tư khá phổ biến ở các nước có

nền kinh tế thị trường và thị trường chứng khoán phát triển [5, trang 16]

Mục đích của đầu tư chứng khoán trước hết là nhằm thu được lợi nhuận

từ số tiền đã bỏ ra đầu tư Phần lợi nhuận này được hình thành từ lợi tức chứng khoán mà chủ doanh nghiệp trả cho người đầu tư theo quy định và phần chênh lệch giá chứng khoán khi họ chuyển nhượng quyền sở hữu chứng

khoán trên thị trường [5, trang 16]

Tiếp đến mục đích của đầu tư chứng khoán là để phân tán rủi ro có thể gặp trong tương lai nhờ đa dạng hóa các hình thức đầu tư, để thực hiện quyền kiểm soát hoặc tham gia quản trị doanh nghiệp với tư cách người nắm cổ

phần, vốn góp chi phối [5, trang 16]

Các mục đích có thể khác nhau tùy theo ý định của từng nhà đầu tư, song

cũng có thể là tổng hợp các mục tiêu trên trong những tình huống cụ thể [5,

trang 16]

1.2 TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN 1.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân

Để đi đến quyết định đầu tư chứng khoán, các nhà đầu tư thường phải xem xét, cân nhắc nhiều nhân tố Các nhân tố cơ bản thường bao gồm:

Trang 19

a Khả năng sinh lời

Mức sinh lời trong đầu tư chứng khoán phản ánh khả năng đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư chứng khoán trong một khoảng thời gian nhất định từ

số vốn gốc mà họ bỏ ra ban đầu Mức sinh lời trong đầu tư chứng khoán có thể đo bằng số tuyệt đối hoặc tương đối Mức sinh lời tuyệt đối là phần chênh lệch giữa tổng thu nhập từ đầu tư chứng khoán (bao gồm số lợi tức chứng khoán cộng mức lãi hoặc lỗ về vốn) với số tiền đầu tư ban đầu (vốn gốc) Nếu tính theo số tương đối, mức sinh lời chứng khoán là tỷ lệ phần trăm giữa tổng

số lợi nhuận thu được từ đầu tư chứng khoán so với vốn gốc [7, trang 17]

Mục đích trước hết của đầu tư chứng khoán là nhằm thu được lợi nhuận trong tương lai, vì vậy khả năng sinh lợi của khoản đầu tư chứng khoán là nhân tố cần được xem xét hàng đầu Tuy nhiên, khả năng sinh lời của chứng khoán lại chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác như: lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, chính sách kinh tế của Nhà nước, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, chính sách chi trả lợi tức cổ phần của doanh nghiệp…

Vì thế để tối đa hóa lợi nhuận, nhà đầu tư cần phải phân tích, đánh giá kỹ các nhân tố có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh lời nêu trên để lựa chọn quyết

định đầu tư cho phù hợp [5, trang 313]

b Mức độ rủi ro

Rủi ro trong đầu tư chứng khoán được hiểu là khả năng xảy ra những kết quả không mong đợi trong tương lai Điều này được thể hiện ở sự sụt giảm, thua lỗ hoặc những biến động bất thường về tỷ suất sinh lợi trong hoạt động

đầu tư chứng khoán [7, trang 19]

Để có thể thu được lợi nhuận tối đa trong đầu tư chứng khoán nhà đầu tư còn phải biết cách tối thiểu hóa các rủi ro có thể gặp Việc đánh giá mức độ rủi ro trong đầu tư chứng khoán không chỉ đối với từng loại chứng khoán riêng lẽ mà còn đối với toàn bộ danh mục đầu tư chứng khoán nhằm hạn chế

Trang 20

và phân tán rủi ro Thông thường, mức độ rủi ro có sự khác biệt nhất định giữa các chứng khoán vốn và chứng khoán nợ, giữa chứng khoán có thời hạn thanh toán khác nhau, giữa chứng khoán có khả năng chuyển đổi hoặc không chuyển đổi, giữa chứng khoán của các doanh nghiệp hoặc ngành kinh doanh khác nhau… Việt đánh giá mức độ rủi ro đầu tư chứng khoán cũng đòi hỏi năng lực, kỹ năng phân tích đánh giá rủi ro nhất định của các nhà đầu tư

chứng khoán trên thị trường [5, trang 313, 314]

c Khả năng thanh khoản

Tính thanh khoản (hay còn gọi là tính lỏng) của chứng khoán là khả năng dễ dàng chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt Thông thường khi có

số tiền mặt nhàn rỗi nhà đầu tư thường đầu tư chứng khoán để thu lợi nhuận, song khi cần tiền mặt để đáp ứng các nhu cầu cá nhân hoặc chuyển hướng đầu

tư họ lại nuốn chuyển nhượng chứng khoán đang sở hữu để thu tiền về Nếu các chứng khoán mà họ sở hữu có khả năng thanh khoản cao, việc sở hữu chứng khoán cũng tiện ích không khác gì việc nắm giữ tiền mặt thì sẽ khuyến khích họ đầu tư chứng khoán và ngược lại Do đó tính thanh khoản của chứng khoán cũng là một yếu tố quan trọng để các nhà đầu tư cần xem xét để đi đến

quyết định đầu tư [5, trang 314]

d Mức độ và khả năng kiểm soát, chi phối hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết

Đôi khi mức độ và khả năng kiểm soát, chi phối hoạt động của doanh nghiệp cũng là một nhân tố được xét đến khi lựa chọn quyết định đầu tư chứng khoán Quyền hạn và lợi ích của nhà đầu tư chứng khoán thường được tăng thêm theo mức độ nắm giữ cổ phần của doanh nghiệp Vì vậy, khi đầu tư chứng khoán họ cũng cần cân nhắc qui mô đầu tư sao cho có thể đạt được mục đích kiểm soát, chi phối hoạt động của doanh nghiệp, hỗ trợ cho việc

thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của mình [5, trang 314]

Trang 21

e Phân tích tài chính

Việc xem xét từ nhiều nguồn thông tin để đi đến quyết định đầu tư là điều cần thiết Và báo cáo tài chính cần phải được xem xét tỉ mỉ để rút ra thông tin cần thiết Các báo cáo tài chính thường được xem là nơi để tìm kiếm thông tin về công ty và còn đóng một vai trò quan trọng khác nữa trong phân

tích cơ bản để đi đến quyết định đầu tư [14, trang 123, 126]

Phân tích báo cáo tài chính với các dạng khác nhau như: Phân tích tài chính so sánh, phân tích tài chính theo tỷ trọng, phân tích tỷ số, phân tích

dòng tiền và định giá [14, trang 30]

Như vậy, có 5 nhân tố được đề cập ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân, đó là: Khả năng sinh lời, mức độ rủi ro, khả năng thanh khoản và mức độ và khả năng kiểm soát, chi phối hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết, phân tích tài chính

Sơ đồ 1.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán

của các nhà đầu tư cá nhân 1.2.2 Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Chứng khoán

Để đi quyết định đầu tư chứng khoán, các nhà đầu tư cá nhân phải xem xét đến nhiều nhân tố Do đó, việc xác định mức độ tác động của từng nhân tố đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân là điều cần thiết Lý thuyết định giá Arbitrage (hay còn gọi là mô hình APT) là một trong

Quyết định đầu tư của NĐT cá nhân

Phân tích tài chính

Khả năng thanh khoản

Khả năng kiểm soát, chi

phối hoạt động

Khả năng sinh lời

Mức độ rủi ro

Trang 22

những mô hình phản ánh mối quan hệ giữa tỷ suất lợi tức kỳ vọng của chứng khoán i với phần bù rủi ro của nhân tố k, vì vậy, khi sử dụng mô hình APT, ta

sẽ phản ánh được nhiều nhân tố tác động đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân

a Mô hình APT

Đã từ rất lâu, khi nhắc đến quyết định đầu tư, không chỉ đầu tư trên lĩnh vực chứng khoán mà đầu tư ở bất kỳ lĩnh vực gì, các nhà đầu tư đều xem xét đến 2 yếu tố có tầm ảnh hưởng lớn đó là: Rủi ro và tỷ suất sinh lợi

Rủi ro được xem như là các khoản thiệt hại về tài chính Những chứng khoán nào có khả năng xuất hiện những khoản lỗ lớn được xem như là có rủi

ro hơn những chứng khoán có khả năng xuất hiện những khoản lỗ thấp hơn

Vì vậy, rủi ro được mô tả bằng sự biến đổi của các tỷ suất lợi tức của chứng khoán đó

Và lý thuyết định giá Arbitrage (hay còn gọi là mô hình APT) là một trong những mô hình phản ánh mối quan hệ giữa tỷ suất lợi tức kỳ vọng của chứng khoán i với phần bù rủi ro của nhân tố k

( ) = + + + ⋯ +

Trong đó:

( ): Tỷ suất lợi tức kỳ vọng của chứng khoán i

: Phần bù rủi ro của nhân tố k

: Hệ số đo lường độ nhạy của tỷ suất lợi tức trên chứng khoán i đối với nhân tố k

: Lãi suất phi rủi ro

Mô hình APT cho rằng tỷ suất sinh lợi của chứng khoán là một hàm số tuyến tính của tập hợp các yếu tố có khả năng xảy ra rủi ro đến tỷ suất sinh lợi của chứng khoán Mô hình APT cũng cho rằng tỷ suất sinh lợi của chứng

Trang 23

khoán được tạo bởi một số các nhân tố của toàn ngành và toàn thị trường APT cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và rủi ro

Mô hình APT dựa trên một số giả thuyết cơ bản như sau:

- Các nhà đầu tư khi đưa ra quyết định đều dựa trên việc phân tích hai yếu tố tỷ suất lợi tức và rủi ro của chứng khoán

- Các nhà đầu tư đều mong muốn đa dạng hóa trong việc đầu tư nhằm phân tán rủi ro

- Tất cả các chứng khoán có kỳ vọng và phương sai có hạn

- Thị trường vốn là thị trường cạnh tranh hoàn hảo (không có thuế và chi phí giao dịch), không cho phép tồn tại các cơ hội arbitrage

Và các nhà đầu tư thông minh sẽ không bao giờ tập tư toàn bộ khoản tiền mình có được vào một rổ, nên trong danh mục đầu tư luôn tồn tại nhiều loại chứng khoán khác nhau và tỷ suất sinh lợi của danh mục sẽ được tính toán bằng trung bình trọng số của các tỷ suất sinh lợi từng chứng khoán trong danh mục đó

= ( ) + ( ) + ⋯ + ( )

b Ứng dụng mô hình APT

Căn cứ vào mô hình APT, có thể thấy được rằng, hai yếu tố tác động đến hành vi của các nhà đầu tư chứng khoán đó là tỷ suất sinh lợi và rủi ro

- Yếu tố tỷ suất sinh lợi:

Chúng ta có thể định nghĩa một hoạt động đầu tư như sự chuyển vốn trong một khoảng thời gian để đạt được tỷ suất sinh lợi mà có thể bù đắp cho nhà đầu tư trong thời gian đầu tư, bù đắp cho tỷ lệ lạm phát dự kiến trong quá trình đầu tư và cho những yếu tố khác không chắc chắn có liên quan Từ định nghĩa này, chúng ta biết rằng bước đầu tiên trong tiến trình đầu tư là xác định

tỷ suất sinh lợi mong đợi [6, trang 3]

Trang 24

Như vậy, yếu tố tỷ suất sinh lợi là một trong những yếu tố cần phải được xem xét đến khi đưa ra quyết định đầu tư của các nhà đầu tư khi tham gia đầu

tư trên thị trường chứng khoán

Để đo lường tỷ suất sinh lợi, người ta sử dụng chỉ tiêu lợi tức của một chứng khoán, tỷ suất lợi tức/năm, lợi tức trung bình của một chứng khoán: Lợi tức của một chứng khoán:

= + −

Với D: Cổ tức từ việc nắm giữ cổ phiếu

P 1 : Giá bán cổ phiếu, : Giá mua cổ phiếu

Tỷ suất lợi tức/năm:

= (1 + )− 1 Lợi tức trung bình của một chứng khoán:

[7, trang 377]

Một danh mục đầu tư thường bao gồm nhiều loại tài sản đầu tư khác nhau Mỗi loại tài sản lại có mức lợi suất đầu tư khác nhau Vì thế lợi suất đầu

tư ước tính của một danh mục đầu tư là bình quân gia quyền của lợi suất thu

được từ mỗi tài sản trong danh mục đầu tư đó [7, trang 377]

Trang 25

Và, yếu tố tỷ suất sinh lợi lại chịu nhiều tác động bởi các yếu tố khác như: tình hình hoạt động của công ty, tình hình thị trường, ngành công ty đó hoạt động, tình hình nền kinh tế

- Yếu tố rủi ro:

Rủi ro là một đại lượng không mong muốn khi các nhà đầu tư tham gia đầu tư trên bất cứ thị trường nào

Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về rủi ro, nhưng cách tiếp cận phổ biến nhất khi xem xét rủi ro là khả năng xuất hiện các khoản thiệt hại tài chính Những chứng khoán nào có khả năng xuất hiện các khoản lỗ lớn được xem như là có rủi ro lớn hơn những chứng khoán có khả năng xuất hiện khoản lỗ thấp hơn Nói một cách khác, thuật ngữ rủi ro được sử dụng với ý nghĩa thay thế qua lại lẫn nhau với thuật ngữ không chắc chắn để mô tả sự biến đổi của các tỷ suất sinh lợi liên quan đến một chứng khoán hay một tài

: Tỷ suất lợi tức trường hợp i

: Xác suất tỷ suất lợi tức trường hợp i

( ): Lợi tức kỳ vọng của một chứng khoán

Trang 26

Như chúng ta đã biết, để hạn chế rủi ro, các nhà đầu tư sẽ thực hiện phân tán rủi ro thông qua việc đầu tư vào nhiều cổ phiếu khác nhau, tạo nên một danh mục đầu tư

Cũng giống như đầu tư từng tài sản riêng lẻ, rủi ro của danh mục đầu tư

là khả năng hoặc sự biến động trong tương lai về lợi nhuận thu được từ danh mục đầu tư Vì thế khi phân tích rủi ro của một danh mục đầu tư người ta phải quan tâm đến rủi ro của cả danh mục chứ không phải rủi ro của một loại tài sản nào Trong một danh mục đầu tư mỗi loại tài sản cũng có mức rủi ro khác nhau Chẳng hạn đầu tư vào trái phiếu thì ít rủi ro hơn đầu tư vào cổ phiếu Vì

thế đa dạng hóa đầu tư (không bỏ tất cả trứng vào một rổ) trở thành một

nguyên tắc trong đầu tư chứng khoán và là giải pháp quan trọng để giảm thiểu

rủi ro đầu tư cho toàn dnah mục [7, trang 378]

Trong việc đầu tư chứng khoán, các nhà đầu tư có thể gặp những rủi ro sau: Rủi ro về vỡ nợ của nhà phát hành, rủi ro về lãi suất, rủi ro về lạm phát, rủi ro thị trường, rủi ro về tỷ giá hối đoái, rủi ro về pháp luật, rủi ro do thiếu thông tin hoặc thông tin không minh bạch, rủi ro thanh khoản của chứng khoán…

Nói tóm lại, rủi ro trong đầu tư chứng khoán cũng có nhiều loại, có thể

chia thành 2 nhóm chủ yếu là rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống [5,

trang 310, 311]

+ Rủi ro hệ thống: Là những rủi ro có ảnh hưởng đồng thời đến hầu hết

các loại chứng khoán đang được lưu hành trên thị trường Nguyên nhân của rủi ro hệ thống thường là các nhân tố nằm ngoài sự kiểm soát của các công ty phát hành như: tình trạng lạm phát hoặc thiểu phát của nền kinh tế, những biến động bất lợi của tỷ giá hối đoái hoặc lãi suất thị trường, sự suy thoái hay khủng hoảng của nền kinh tế… Các loại rủi ro hệ thống tiêu biểu bao gồm: Rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro sức mua… Rủi ro

Trang 27

hệ thống không thể giảm thiểu được bằng đa dạng hóa danh mục đầu tư

chứng khoán [5, trang 311]

Rủi ro thị trường: Là rủi ro bắt nguồn từ sự biến động của giá cả chứng

khoán trên thị trường Các nhà đầu tư thường có các phản ứng khác nhau trước những biến động của giá cả chứng khoán trên thị trường Nguyên nhân của những biến động giá cả chứng khoán thường rất phức tạp, có thể là những yếu tố nội tại doanh nghiệp hoặc môi trường kinh doanh, có thể là do tác động của những nhân tố, sự kiện cụ thể nào đó hoặc chỉ là yếu tố tâm lý của nhà đầu tư trên thị trường Sự đánh giá khác nhau của các nhà đầu tư về mức sinh lời hoặc rủi ro của một loại chứng khoán nào đó được giao dịch trên thị trường cũng có thể gây nên phản ứng dây chuyền đối với giá cả các loại chứng khoán khác, làm cho giá chứng khoán trên thị trường nói chung bị sụt

giảm thấp hơn so với giá trị cơ sở [5, trang 311]

Rủi ro lãi suất: Là loại rủi ro do sự biến động lãi suất trên thị trường làm

cho giá cả chứng khoán biến động GIá cả chứng khoán luôn biến động tỷ lệ nghịch với lãi suất thị trường, lãi suất thị trường tăng sẽ làm cho giá thị trường của chứng khoán bị sụt giảm và ngược lại Vì thế sự biến động lãi suất cũng làm cho giá trị hiện tại của các khoản thu nhập nhận được từ đầu tư chứng khoán ở các thời điểm khác nhau có giá trị khác nhau, do đó cũng ảnh

hưởng đến mức doanh lợi thực tế thu được của đầu tư chứng khoán [5, trang

311, 312]

Rủi ro sức mua (còn gọi là rủi ro lạm phát): Là sự giảm sút về sức mua

đồng tiền do tác động của yếu tố lạm phát Lợi tức thực tế của đầu tư chứng khoán đem lại bằng lợi tức danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát Nhà đầu tư nắm giữ chứng khoán mặc dù có khả năng thu được lợi nhuận trong tương lai nhưng lại mất đi cơ hội mua sắm các hàng hóa, dịch vụ khác trong thời gian giữ chứng khoán Nếu trong khoảng thời gian đó giá cả hàng hóa, dịch vụ

Trang 28

tăng lên do yếu tố lạm phát, họ sẽ mất đi một phần sức mua từ số thu nhập sẽ

có được trong tương lai Giá trị phần sức mua bị giảm sút do lạm phát phản

ánh mức rủi ro sức mua của các nhà đầu tư chứng khoán [5, trang 312]

+ Rủi ro phi hệ thống: Là những rủi ro chỉ tác động đến một công ty,

một loại chứng khoán hay một ngành kinh doanh nhất định mà không tác động đến toàn bộ thị trường Khác với rủi ro hệ thống, rủi ro phi hệ thống

có thể giảm thiểu bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư chứng khoán

[5, trang 312]

Rủi ro phi hệ thống thường bao gồm các loại như: Rủi ro kinh doanh, rủi

ro tài chính, rủi ro quản lý… trong hoạt động của một công ty hoặc một ngành

kinh doanh nhất định Rủi ro kinh doanh là sự không ổn định hoặc sụt giảm

của thu nhập trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do những thay đổi bất lợi của môi trường kinh doanh hoặc bản thân doanh nghiệp Khác với rủi

ro kinh doanh, rủi ro tài chính liên quan đến việc sử dụng nợ trong cơ cấu tài

chính của doanh nghiệp Trong trường hợp kinh doanh kém hiệu quả doanh nghiệp có hệ số nợ cao có thể mất khả năng thanh toán lợi tức chứng khoán hoặc hoàn trả vốn gốc cho người chủ sở hữu, làm ảnh hưởng đến giá cả cổ

phiếu của doanh nghiệp trên thị trường Rủi ro quản lý là rủi ro bắt nguồn từ

các quyết định quản lý sai lầm hoặc không hợp lý của các nhà quản trị doanh

nghiệp [5, trang 312, 313]

Trang 29

CHƯƠNG 2

NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN

Chương này, tác giả sẽ trình bày một số nghiên cứu thực tiễn về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân trước đây

Nhà đầu tư cá nhân là những người tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận Họ là những người có tiền tiết kiệm và muốn đầu tư số tiền để dành của mình vào việc kinh doanh chứng khoán Mục tiêu cuối cùng của kinh doanh chứng khoán của nhà đầu tư cá

nhân là tối đa hóa lợi nhuận trong các khoản đầu tư của họ [5, trang 20]

Việc kinh doanh chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân có thể được thực hiện bởi hai hình thức:

Nhà đầu tư trực tiếp kinh doanh chứng khoán: Đây là hình thức kinh doanh

mà nhà đầu tư thông qua người đại diện mua bán chứng khoán, còn gọi là nhà môi giới chứng khoán để tiến hành giao dịch chứng khoán, theo trình tự:

- Chọn nhà môi giới và mở tài khoản

- Giao dịch chứng khoán

Nhà đầu tư gián tiếp kinh doanh chứng khoán: Việc gián tiếp kinh doanh

chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân có thể được thực hiện dưới hình thức đầu

tư tập thể thông qua các câu lạc bộ đầu tư, quỹ đầu tư chứng khoán hoặc công

ty đầu tư [4, trang 20]

2.1 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ CHI PHỐI HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ

ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Tất cả các quyết định đầu tư đều được cân nhắc dưới góc độ rủi ro và tỷ

Trang 30

suất sinh lợi mong đợi và những tác động của chúng lên giá chứng khoán cũng như kết quả tài chính cuối cùng đạt được trong quyết định đầu tư

[1, trang 12]

Với đề tài “Phân tích các yếu tố chi phối hoạt động của nhà đầu tư trên

thị trường chứng khoán Việt Nam”, tác giả cho thấy, hai yếu tố chính chi phối

hoạt động của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán là tỷ suất sinh lợi mong đợi và rủi ro Ngoài ra, tác giả còn cho thấy các yếu tố chi phối đến hoạt động của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam còn có: Việc thanh tra, giám sát các hoạt động trên thị trường chứng khoán, mức độ am hiểu về đầu tư chứng khoán Từ đó, tác giả tiến hành nghiên cứu và khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư

Phân tích hoạt động của nhà đầu tư là công việc rất phức tạp, bởi hành vi của họ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố về tính cách, tâm lý, trình độ, kinh nghiệm, Do giới hạn nghiên cứu của đề tài, nên tác giả chỉ phân tích hành vi của nhà đầu tư chứng khoán do tác động của hai yếu tố cơ bản là thu nhập và

rủi ro [1, trang 16]

Bất kỳ nhà đầu tư nào cũng đều mong muốn tối đa hóa lợi nhuận của mình, lĩnh vực kinh doanh nào sinh lợi cao thì hoạt động đầu tư sẽ sôi nổi Như vậy, tỷ suất sinh lợi là yếu tố tiên quyết chi phối hoạt động của nhà đầu

tư Bản thân tỷ suất sinh lợi mà nhà đầu tư kỳ vọng không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố bên trong bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài, như: yếu tố chính trị, tình hình kinh tế vĩ mô…

Tập trung lại, các nhà đầu tư sẽ phân tích các yếu tố sau: trước tiên là tìm hiểu về công ty, tiếp đó là phân tích về thị trường, phân tích về ngành kinh tế, phân tích về công nghệ, phân tích về nguồn cung cấp, phân tích tài chính và

phân tích rủi ro [1, trang 17]

Trang 31

Tác giả đã tiến hành khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi, bao gồm: Rủi ro pháp lý, môi trường chính trị, rủi ro khả năng thanh khoản, rủi ro chính sách, chất lượng dịch vụ, rủi ro thông tin, hoạt động giám sát, mức độ minh bạch, rủi ro thị trường chứng khoán quốc tế, rủi ro biến động giá chứng khoán, chất lượng chứng khoán, trình độ đầu tư chứng khoán

Sơ đồ 2.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến Quyết định đầu tư CK

của các NĐT cá nhân

Các rủi ro bao gồm: Rủi ro pháp lý, rủi ro khả năng thanh khoản, rủi ro chính sách, rủi ro thông tin, rủi ro thị trường chứng khoán quốc tế

Với độ tin cậy 5% thì 3 biến: Rủi ro chính sách, rủi ro chính trị và rủi ro

do tác động của thị trường chứng khoán quốc tế không có ý nghĩa thống kê,

tiến hành kiểm định giả thiết sự có mặt của ba biến này là không cần thiết [1,

trang 65]

Sau khi loại bỏ các biến không cần thiết, tác giả đã cho thấy được các biến tác dụng đến quyết định đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân Theo kết quả hồi quy, mức độ ảnh hưởng của các biến được sắp xếp theo

thứ tự từ cao đến thấp [1, trang 67, 68]:

- Rủi ro khả năng thanh khoản (0,231)

- Chất lượng hoạt động thanh tra, giám sát (0,227)

- Rủi ro thông tin (0,216)

- Rủi ro do biến động giá chứng khoán (0,172)

Quyết định đầu tư của NĐT cá nhân

HĐ giám sát

Chất lượng dịch vụ

Các rủi ro

Trang 32

- Mức độ am hiểu về đầu tư chứng khoán (0,171)

- Rủi ro pháp lý (0,156)

- Chất lượng chứng khoán (0,138)

- Rủi ro về kế toán, kiểm toán (0,116)

- Chất lượng dịch vụ của các tổ chức trung gian (0,096)

Bảng 2.1: Tổng hợp tác động của các nhân tố đến quyết định đầu tư

chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân

Chất lượng dịch

vụ

Rủi

ro thông tin

Hoạt động giám sát

Rủi

ro biến động giá chứng khoán

Chất lượng chứng khoán

Trình độ đầu tư chứng khoán

Rủi ro kế toán, kiểm toán

chấp nhận rủi ro này ở mức độ khá cao [1, trang 68]

Tương tư, nhà đầu tư muốn tăng khả năng sinh lợi của chứng khoán lên

1 cấp độ thì phải nâng chất lượng hoạt động thanh tra, giám sát lên 4,41 cấp

độ (mức khá cao), chấp nhận về rủi ro thông tin tăng lên 4,63 cấp độ (mức cao), chấp nhận rủi ro do biến động giá chứng khoán tăng lên 5,81 cấp độ

Trang 33

(mức khá cao), các nhà đầu tư phải nâng cao trình độ lên 5,85 cấp độ (mức rất cao) và chấp nhận rủi ro pháp lý ở mức rất cao, có nghĩa là hệ thống pháp luật phải hoàn chỉnh thì mới giảm thiểu được rủi ro cho nhà đầu tư, nâng cao chất lượng chứng khoán lên tối đa, chấp nhận rủi ro về kế toán, kiểm toán ở mức tối đa, nâng cao chất lượng dịch vụ của các tổ chức tài chính trung gian lên

mức tối đa [1,trang 68, 69]

Như vậy, để khả năng sinh lời của chứng khoán tăng được 1 cấp độ thì nhà đầu tư phải chấp nhận rủi ro lớn hơn nhiều lần, điều này cho thấy thị trường chứng khoán Việt Nam tiềm ẩn những rủi ro rất lớn mặc dù khả năng sinh lợi được đánh giá cao Để thu hút nhà đầu tư đến với thị trường thì chỉ có một phương thức duy nhất là gia tăng khả năng sinh lợi của chứng khoán đi

đôi với giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư [1, trang 69]

2.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ TÂM LÝ ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN

Khi thị trường chứng khoán Việt Nam mới ra đời, lúc này số lượng các nhà đầu tư tham gia thị trường rất ít, do đây là thị trường kinh doanh quá mới Nhà đầu tư tham gia vào thị trường lúc này là những người tiên phong, những người dễ dàng chấp nhận cái mới vì lợi nhuận từ việc mua bán cổ phiếu lúc này còn ít cho nên có thể nói sự kỳ vọng vào lợi nhuận không phải là nguyên nhân chính khiến nhà đầu tư thực hiện giao dịch Giai đoạn này, các biểu hiện

tâm lý trong đầu tư của nhà đầu tư chưa bộc lộ rõ rang [3, trang 35]

Khi thị trường tăng trường quá nhanh trong năm 2006 và 6 tháng đầu năm 2007, lúc này những biểu hiện tâm lý trong đầu tư của nhà đầu tư cá nhân bắt đầu biểu hiện rõ rệt Có rất nhiều nhà đầu tư thừa nhận rằng, thời gian đầu ngoài việc họ đầu tư theo bạn bè họ còn lên sàn, quan sát xem loại

cổ phiếu nào được đông các nhà đầu tư khác quan tâm để quyết định mua Họ

Trang 34

đặc biệt thích tìm kiếm thông tin nội bộ biểu hiện qua việc tìm hiểu các thông tin không chính thức (tin đồn) từ các nhà đầu tư khác Đây là những biểu hiện của tâm lý bầy đàn của nhà đầu tư và tâm lý kỳ vọng quá lớn vào lợi nhuận dẫn đến việc họ quyết định đầu tư liều lĩnh mà không xem xét đến các rủi ro

mà mình có thể đối mặt [3, trang 36]

Giai đoạn thị trường sụt giảm, các nhà đầu tư bắt đầu lo lắng, vội vàng bán nhanh những cổ phiếu tốt mình đang giữ trong tay khi quan sát người khác bán ra quá nhiều mà không phân tích giá trị thật sự của những cổ phiếu mình đang nắm giữ Giai đoạn này, các nhà đầu tư biểu hiện tâm lý ngại rủi ro cao nhất cùng với tác động của các nguồn thông tin xung quanh khiến nhà đầu

tư có những phản ứng thái quá với thị trường [3, trang 36]

Như vậy, việc nhận định đặc điểm tâm lý qua từng giai đoạn trên cho thấy nhà đầu tư cá nhân đã có những biểu hiện tâm lý rõ rệt trong đầu tư như:

sự kỳ vọng vào lợi nhuận quá cao, tác động của đám đông dẫn đến tâm lý bầy đàn, tâm lý ngại rủi ro khi thị trường đi xuống và tác động của các nguồn thông tin Bên cạnh đó các nhà đầu tư đều cảm thấy tự tin nhiều hơn khi họ đã từng quyết định chọn đúng cổ phiếu đầu tư và đầu tư những khoản tiền lớn

hơn [3, trang 36]

Có khá nhiều nghiên cứu về tâm lý của nhà đầu tư cá nhân, tuy nhiên sau khi đã xem xét kỹ, kết hợp với phân tích đặc điểm nhà đầu tư cá nhân sàn HO-STC có 2 nghiên cứu phù hợp với nghiên cứu này là nghiên cứu của Pi-Chuan & Shu Chun Hsiao và nghiên cứu của H.Kent Baker & John

R.Nofsinger [3, trang 36]:

Mô hình nghiên cứu của Pi-Chuan & Shu Chun Hsiao:

Từ mô hình của Pi-Chuan & Shu Chun Hsiao cho thấy tâm lý nhà đầu tư được dựa trên 4 yếu tố: Sự quá tự tin (Overconfidence), chống lại sự nuối tiếc

Trang 35

(Regret aversion), sự tính toán bất hợp lý (Mental Account) và sự tự kiểm

soát (Self-Control) [3, trang 36]

H.Kent Baker & John R.Nofsinger nghiên cứu về “Xu hướng tâm lý của

nhà đầu tư” Theo H.Kent Baker & John R.Nofsinger, những yếu tố sau đây

có ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư: Cách nhà đầu tư nghĩ (Lệch lạc do tình

huống điển hình, mâu thuẫn về nhận thức, sự hiểu rõ hay sự quen thuộc, tâm trạng và sự lạc quan, sự quá tự tin, những thứ có sẵn, hiện trạng, điểm tham

chiếu, quy luật của nhóm nhỏ, tính toán bất hợp lý), cách nhà đầu tư cảm

nhận (Ảnh hưởng của khuynh hướng, sự gắn bó, phản ứng với rủi ro), ảnh hưởng xã hội (Truyền thông, ảnh hưởng xã hội, internet) [3, trang 36]

Áp dụng các lý thuyết tài chính hành vi mà hai mô hình nghiên cứu đã phân tích cùng với thực tế đặc điểm nhà đầu tư cá nhân, các yếu tố ảnh hưởng

đến tâm lý nhà đâu tư ở HO-STC bao gồm [3, trang 36, 37]: Ngại rủi ro, sự

quá tự tin, tâm trạng, ảnh hưởng kỳ vọng, ảnh hưởng thông tin, ảnh hưởng nhà đầu tư chuyên nghiệp, tâm lý đám đông

Sơ đồ 2.2: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân

Kết quả chạy mô hình [3, trang 37]:

tư chuyên nghiệp

Quyết định đầu tư của NĐT cá nhân

Trang 36

Bảng 2.2: Kết quả chạy mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định

của nhà đầu tư cá nhân

Coefficients

Standardized Coefficients t Sig

Qua bảng phân tích kết quả hồi quy cho thấy các biến DD (đám đông),

KV (kỳ vọng), TT (tự tin) và TTR (tâm trạng) có hệ số Sig < 0.05 có nghĩa là các biến này có ảnh hưởng đến QD (quyết định) trong đó:

- Biến DD (Tâm lý đám đông) có quan hệ dương đối với quyết định đầu

tư của các nhà đầu tư cá nhân (mức độ tác động là 20,4%)

- Biến KV (Ảnh hưởng kỳ vọng) có quan hệ dương đối với quyết định đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân (mức độ tác động là 30,6%)

- Biến TT (Sự quá tự tin) có quan hệ dương đối với quyết định đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân (mức độ tác động là 18,3%)

- Biến TTR (Tâm trạng) có quan hệ âm đối với quyết định đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân (mức độ tác động là 44,2%)

Trang 37

Trong tất cả 4 biến có tác động đến quyết định đầu tư, thì biến tâm trạng

có quan hệ âm với quyết định của nhà đầu tư, nghĩa là khi thoải mái thì các

nhà đầu tư sẽ đưa ra quyết định chậm hơn [3, trang 37]

Bảng 2.3: Tổng hợp tác động của các nhân tố đến quyết định đầu tư

chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân

Xu hướng tác động đến quyết

Kết quả phân tích chỉ phản ánh 15,30% quyết định của nhà đầu tư, nếu như trong các nghiên cứu khác kết quả nghiên cứu lúc này sẽ không có ý nghĩa sử dụng nhưng đây là nghiên cứu khám phá, chưa có lý thuyết cũng như

nghiên cứu nào trước đây phản ánh đầy đủ tâm lý nhà đầu tư [3, trang 37]

Các nhóm yếu tố còn lại không ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư như: ngại rủi ro, ảnh hưởng của thông tin và ảnh hưởng nhà đầu tư chuyên nghiệp Nguyên nhân có thể là do hiện tại đối với nhà đầu tư cá nhân không chuyên, các yếu tố này có ảnh hưởng nhưng các nhà đầu tư chưa nhận định

được [3, trang 37]

Như vậy, kết quả cho thấy những yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân và các yếu tố tâm lý là những yếu tố mang tính chất chủ quan, do đó, để có thể có những quyết định chính xác trong đầu tư, các nhà đầu tư nên hạn chế việc đưa ra quyết định dựa trên các yếu tố tâm lý Nhà đầu tư có thể hạn chế hay khắc phục ảnh hưởng này bằng cách phân tích đầu tư bằng các công cụ phân tích tài chính nhằm tăng cường tính khoa học khi phân tích và tham gia các khóa học ngắn hạn về phân tích chứng khoán để có phương pháp phân tích hợp lý, ít rủi ro hơn thay vì chỉ dựa

vào thông tin của đám đông [3, trang 37]

Trang 38

sinh lợi và rủi ro

Và yếu tố kỳ vọng sinh lời của các nhà đầu tư được nhắc đến một cách sâu sắc hơn trong bài báo cáo của các nhà kinh tế học gerrit Antonides and Nico L Van Der Sar (1990), đó là bài báo cáo mang tựa đề “Individual expectations, risk perception and preferences in relation to investment decision making” tạm dịch là “Sự kỳ vọng cá nhân, nhận thức rủi ro và sở thích liên quan đến quyết định đầu tư”

Mục đích của bài báo cáo này là, thứ nhất, xác định mối quan hệ cả hai yếu tố kỳ vọng sinh lời, sở thích của các nhà đầu tư với lợi nhuận chứng khoán là khác nhau giữa các nhà đầu tư, và, thứ hai, thảo luận với mối quan

hệ quyết định đầu tư chứng khoán của hai yếu tố trên [16, trang 229]

Bài báo cáo cho thấy, mối quan hệ giữa lợi nhuận kỳ vọng của những người đưa ra quyết định đầu tư và nhận thức rủi ro đối với các biến tâm lý kinh tế Tiếp đến là yếu tố kỳ vọng, sở thích của các nhà đầu tư đóng một vai trò quan trọng trong việc giải thích hành vi của các nhà đầu tư trên thị trường

chứng khoán [16, trang 229]

Sơ đồ 2.3: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư

của nhà đầu tư cá nhân

Kỳ vọng sinh lời Quyết định đầu tư của NĐT Sở thích

của NĐT cá nhân

Trang 39

Yếu tố kỳ vọng ở đây được hiểu đó là sự kỳ vọng vào mức sinh lời từ việc đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư

Và bài báo cáo đã chỉ ra rằng, năm yếu tố bao gồm: quy mô doanh nghiệp, giá trị doanh nghiệp, chỉ số P/E, chỉ số giá chứng khoán và quy mô

giao dịch thương mại thế giới [16, trang 231] sẽ có mối quan hệ như thế nào

đến yếu tố kỳ vọng sinh lời cũng như tác động đến quyết định đầu tư chứng khoán của các NĐT cá nhân

Sơ đồ 2.4: Các nhân tố ảnh hưởng đến Quyết định đầu tư chứng khoán

của các nhà đầu tư cá nhân

Sau khi tiến hành chạy mô hình, tác giả đã thu được kết quả các nhân tố tác động gián tiếp đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân, cụ thể như sau:

Giá của chứng khoán hiện tại có ảnh hưởng nghịch đến yếu tố kỳ vọng

sinh lời [16, trang 235], tương tự, lý giải cho các yếu tố khác, giá trị doanh nghiệp và sự kỳ vọng sinh lời quan hệ thuận [16, trang 235] hay chỉ số P/E có quan hệ nghịch với kỳ vọng sinh lời [16, trang 235], và đến lượt yếu tố kỳ

vọng sinh lời nó lại tác động đến quyết định đầu tư chứng khoán của các NĐT

Quy mô giao dịch

thương mại quốc tế

Quy mô DN

Chỉ số P/E

Trang 40

Bảng 2.4: Tổng hợp tác động của các nhân tố tác động đến quyết định

đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân

Các nhân tố

Quy mô doanh nghiệp

Giá trị doanh nghiệp

Chỉ số P/E

Giá chứng khoán

Quy mô giao dịch thương mại

Chỉ tiêu giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán so với cổ tức của mỗi

cổ phiếu (chỉ số P/E) Đây là chỉ tiêu nhằm phản ánh giữa giá thực tế giao dịch của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán so với cổ tức của mỗi cổ phiếu hàng năm Chỉ số này được các nhà đầu tư sử dụng phổ biến khi phân tích tình hình tài chính của các công ty cổ phần trên thị trường chứng khoán để đưa ra quyết định mua, bán chứng khoán nhằm hạn chế rủi ro trong kinh

doanh [9, trang 34]

Chỉ số P/E được chia thành 2 dạng: Chỉ số P/E truyền thống đó là tỷ lệ giữa giá cổ phiếu thực tế trên thị trường chứng khoán so với cổ tức của cổ phiếu đã được phân chia trong 1 năm gần nhất, chỉ số P/E tương lai đó là tỷ lệ

Ngày đăng: 04/04/2022, 22:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[11] PGS.TS Trần Ngọc Thơ (2009), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nhà xuất bản Thống kê, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tài chính doanh nghiệp hiện đại
Tác giả: PGS.TS Trần Ngọc Thơ
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2009
[12] Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Giáo trình Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 1, Nhà xuất bản Hồng Đức, TP.HCM [13] Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Giáo trình Phân tích dữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 1", Nhà xuất bản Hồng Đức, TP.HCM [13] Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008)
Tác giả: Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Giáo trình Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 1, Nhà xuất bản Hồng Đức, TP.HCM [13] Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm: 2008
[15] Brad M. Barber and Terrance Odean (2001), Boys will be boys: Gender, overconfidence and common stock investment, The Quarterly Journal of Economics, US Sách, tạp chí
Tiêu đề: Boys will be boys: Gender, overconfidence and common stock investment
Tác giả: Brad M. Barber and Terrance Odean
Năm: 2001
[16] Gerrit Antonides and Nico L. Van Der Sar (1990), Individual expectations, risk perception and preferences in relation to investment decision making, Journal of economic psychology, North – Holland Sách, tạp chí
Tiêu đề: Individual expectations, risk perception and preferences in relation to investment decision making
Tác giả: Gerrit Antonides and Nico L. Van Der Sar
Năm: 1990
[17] Thierry Foucault, Thomas Gehrig (2008), Stock price informativeness, cross- listings and investment decision, Journal of financial economics, US Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stock price informativeness, cross-listings and investment decision
Tác giả: Thierry Foucault, Thomas Gehrig
Năm: 2008
[18] Yakov Amihud and Haim Mendelson (1986), Liquidity and stock returns, Financial Analysts Journal, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liquidity and stock returns
Tác giả: Yakov Amihud and Haim Mendelson
Năm: 1986

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm