Nghiên cứu của Chinwuba Okafor và John Otalor 2013 [11] xem xét xem sự thiếu hiểu biết của công chúng về luật pháp, quy định liên quan đến trách nhiệm của KTV, đánh giá của công chúng về
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHẠM QUỐC ĐÔN
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN Ở
VIỆT NAM
Đà Nẵng, 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHẠM QUỐC ĐÔN
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN Ở
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.03.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS HOÀNG TÙNG
Đà Nẵng, Năm 2017
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
7 Kết cấu đề tài 4
8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM TOÁN VÀ KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN 13
1.1 KHÁI NIỆM KIỂM TOÁN VÀ PHÂN LOẠI KIỂM TOÁN 13
1.1.1 Khái niệm kiểm toán 13
1.1.2 Phân loại kiểm toán 15
1.2 CÁC QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM TOÁN VIÊN 16
1.2.1 Trách nhiệm của KTV theo luật kiểm toán độc lập 16
1.2.2 Trách nhiệm của KTV theo chuẩn mực kiểm toán VSA 200 19
1.2.3 Trách nhiệm của KTV theo chuẩn mực kiểm toán VSA 240 21
1.2.4 Trách nhiệm của KTV theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 260 24
1.2.5 Trách nhiệm của KTV theo chuẩn mực kiểm toán VSA 315 25
1.2.6 Trách nhiệm của KTV theo chuẩn mực kiểm toán VSA 330 26
1.2.7 Trách nhiệm của KTV theo chuẩn mực kiểm toán VSA 700 27
1.3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN 29
Trang 51.3.1 Khái niệm khoảng cách kỳ vọng kiểm toán 29
1.3.2 Lịch sử phát triển của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán 31
1.3.3 Mô hình khoảng cách kỳ vọng kiểm toán 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 43
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN 44
2.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 44
2.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 44
2.2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 44
2.2.2 Xây dựng bảng hỏi 45
2.2.3 Thiết kế thang đo 50
2.2.4 Mẫu khảo sát 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 51
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ KHẢO SÁT KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN 52
3.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ MẪU KHẢO SÁT 52
3.2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM 53
3.2.1 Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán liên quan đến trách nhiệm của KTV và BGĐ công ty được kiểm toán 53
3.2.2 Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán liên quan đến vai trò của Báo cáo kiểm toán 58
3.2.3 Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán liên quan đến mức độ tin tưởng của BCKT 60
3.2.4 Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán liên quan đến khả năng KTV phát hiện các sai sót và gian lận có ảnh hưởng trọng yếu trên BCTC 62
Trang 63.2.5 Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán liên quan đến việc giải thích các
thuật ngữ trên BCKT 64
3.3 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN 67
3.3.1 Hiểu biết của công chúng 67
3.3.2 Năng lực của Kiểm toán viên 69
3.3.3 Chuẩn mực kiểm toán 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 71
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GỢI Ý NHẰM THU HẸP KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM 72
4.1 NÂNG CAO HIỂU BIẾT CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG BÁO CÁO KIỂM TOÁN 72
4.2 GIẢI THÍCH RÕ TRÁCH NHIỆM CỦA BAN GIÁM ĐỐC VÀ KIÊM TOÁN VIÊN TRÊN BÁO CÁO KIỂM TOÁN 73
4.3 GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG BÁO CÁO KIỂM TOÁN 73
4.4 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN 75
4.5 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU TRONG TƯƠNG LAI 77
4.5.1 Hạn chế của đề tài 77
4.5.2 Định hướng nghiên cứu trong tương lai 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 79
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐV ĐKT Đơn vị đƣợc kiểm toán
EAG Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
Trang 83.4
Thống kê mô tả và phân tích ANOVA sự khác biệt
nhận thức giữa các đối tượng khảo sát về trách nhiệm
của Kiểm toán viên và BGĐ
54
3.5 Phân tích Post-hoc sự khác biệt nhận thức giữa các
nhóm khảo sát về trách nhiệm của KTV và BGĐ 56
3.6
Thống kê mô tả và phân tích ANOVA sự khác biệt
nhận thức giữa các đối tượng khảo sát về vai trò của
BCKT
59
3.7 Phân tích Post-hoc sự khác biệt nhận thức giữa các
3.8
Thống kê mô tả và phân tích ANOVA sự khác biệt
nhận thức giữa các đối tượng khảo sát về mức độ tin
tưởng của BCKT
61
3.9
Thống kê mô tả và phân tích ANOVA sự khác biệt
nhận thức giữa các đối tượng khảo sát về khả năng
KTV phát hiện các sai sót và gian lận có ảnh hưởng
trọng yếu trên BCTC
63
3.10
Phân tích Post-hoc sự khác biệt nhận thức giữa các
nhóm khảo sát về khả năng KTV phát hiện các sai sót
và gian lận có ảnh hưởng trọng yếu trên BCTC
64
Trang 965
3.12 Phân tích Post-hoc sự khác biệt nhận thức giữa các
nhóm khảo sát các thuật ngữ trên BCKT 66
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
2.2 Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách kỳ
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị thường, các thông tin tài chính của một doanh nghiệp nhận được sự quan tâm của rất nhiều đối tượng khác nhau từ bên trong (Ban quản lý, nhân viên,…) đến bên ngoài doanh nghiệp (các nhà đầu
tư, cho vay, nhà cung cấp, cơ quan quản lý nhà nước,… ) Tuy mỗi đối tượng quan tâm đến BCTC của doanh nghiệp ở mỗi góc độ khác nhau, nhưng tất cả đều có yêu cầu chung là các thông tin trong BCTC phải trung thực, hợp lý, và
có thể tin cậy được Điều đó đặt ra yêu cầu tất yếu khách quan cho sự ra đời của hoạt động kiểm toán BCTC Kiểm toán độc lập đã tham gia tích cực vào việc kiểm tra, đánh giá, xác nhận độ tin cậy của các thông tin kinh tế tài chính, làm cơ sở cho hoạt động ra quyết định của Nhà đầu tư và ngày càng khẳng định được vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế Với vai trò của mình, hoạt động kiểm toán BCTC nhận được nhiều sự kỳ vọng từ công chúng Tuy nhiên, trên thực tế KTV không thể đáp ứng tất cả các kỳ vọng này Với hàng loạt vụ phá sản, các bê bối tài chính trên thế giới như Enron (2001), Lehman Brother (2008),… và ở Việt Nam như Vinashin, Bông Bạch Tuyết, Habubank, Dược Viễn Đông, đã làm suy giảm niềm tin của công chúng cũng như làm gia tăng đáng kể những lời chỉ trích và kiện tụng chống lại nghề kiểm toán Theo Godsell (1992), hiện tượng này có thể là do niềm tin phổ biến rằng các bên liên quan sẽ có thể dựa vào thông tin đã được kiểm toán như là một sự đảm bảo về tình hình hoạt động kinh doanh thực tế của doanh nghiệp Vì vậy, nếu nó diễn ra, mà không có bất kỳ cảnh báo rằng công
ty đang gặp khó khăn tài chính nghiêm trọng, người ta tin rằng các kiểm toán viên cần được thực hiện trách nhiệm đối với những bê bối tài chính Cùng với Godsell, Almer và Brody (2002) khẳng định rằng sự thất bại trong kinh doanh luôn được hiểu như là một thất bại của hoạt động kiểm toán mặc dù kiểm toán
Trang 12viên đã thực hiện đầy đủ các thủ tục kiểm toán Almer và Brody (2002) bổ sung thêm rằng một kiểm toán viên có thể thực hiện các cuộc kiểm toán của mình phù hợp với các chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận chung nhưng vẫn luôn tồn tại rủi cho người sử dụng báo cáo tài chính Do đó chỉ ra rằng bản chất và mục tiêu của kiểm toán đã được nhìn nhận khác nhau bởi người sử dụng báo cáo tài chính và những sự khác nhau này được gọi là "khoảng cách
kỳ vọng kiểm toán"
“Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán” (AEG) được biết đến từ lâu nhưng
khái niệm này chỉ được đề cập đến trong nghiên cứu hàn lâm từ năm 1974 bởi Liggo Kể từ thời điểm đó, có nhiều nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu ứng dụng về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán Kết quả hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, tồn tại khoảng cách kỳ vong kiểm toán giữa một bên là các KTV độc lập và một bên là người sử dụng BCKT liên quan đến mục tiêu, chức năng kiểm toán, trách nhiệm kiểm toán viên, mức độ tin cây và hữu ích của báo cáo kiểm toán Phát hiện trong các nghiên cứu này chỉ ra rằng, khoảng cách kỳ vọng kiểm toán hình thành từ những khác biệt trong nhận thức, đánh giá và kỳ vọng khác nhau giữa KTV và người sử dụng BCKT
Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán trong hoạt động kiểm toán BCTC sinh
ra trong sự tương tác của KTV và những đối tượng sử dụng BCKT như Nhà đầu tư, cổ đông thông qua BCKT Nó luôn tồn tại trong nền kinh tế và không thể xóa bỏ hoàn toàn Tuy nhiên, nếu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán quá lớn sẽ làm suy giảm niềm tin của công chúng đối với hoạt động kiểm toán cũng như mức độ tin cậy của các thông tin tài chính được cung cấp làm cơ sở cho việc ra quyết định, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng và tìm ra các giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán là yếu cầu tất yếu và cấp thiết đối với nền kinh tế
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, tôi lựa chọn đề tài “Phân tích các
Trang 13nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Việt Nam” làm luận văn nghiên cứu của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài hướng đến mục tiêu phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Việt Nam Từ đó nêu ra cũng như một
số giải pháp nhằm giảm thiểu khoảng cách này
3 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu đó là có tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Việt Nam, những nhân tố nào ảnh hưởng đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán trong hoạt động kiểm toán BCTC
Phạm vị nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện khảo sát nhận thức của KTV và người sử dụng BCKT ở Đà Nẵng và TPHCM
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp định lượng để đánh giá khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Việt Nam Từ đó, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách này
Cơ sở dữ liệu nghiên cứu:
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu sơ cấp thu thập từ bảng khảo sát, bao gồm những câu hỏi về quan điểm của các đối tượng khảo sát về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Việt Nam, từ đó phân tích, xác định các nhân tố ảnh hưởng
Để đảm bảo việc thu thập dữ liệu đầy đủ và nhanh chóng, tác giả sử dụng phương pháp tiếp khảo sát trực tiếp, khảo sát qua mail và một số phương tiện liên lạc khác đánh giá trực tiếp trên công cụ www.docs.google.com.vn
Trang 14Công cụ phân tích:
Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 Sau khi được sàng lọc
và làm sạch, dữ liệu được sử dụng để thực hiện các phân tích sau:
Thống kê mô tả: Mô tả các đặc tính cơ bản của dữ liệu
Phân tích phương sai ANOVA để xem xét sự khác biệt nhận thức giữa các nhóm đối tượng khảo sát
Phân tích sâu Post-hoc để xem xét sự khác biệt giữa từng nhóm đối tượng khảo sát với nhau
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu này góp phần cung cấp cái nhìn tổng quan về khoảng cách
kỳ vọng kiểm toán, các nhân tố ảnh hưởng, thành phần tạo khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
Trên cơ sở đánh giá khoảng cách kỳ vọng kiểm toán, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán trong môi trường kiểm toán Việt Nam,đưa ra các một số gợi ý nhằm thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Việt Nam
7 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận Nghiên cứu gồm có 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về kiểm toán và khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
Chương 3: Kết quả khảo sát khoảng cách kỳ vọng và các nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
Chương 4: Một số gợi ý nhằm thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
ở Việt Nam
Trang 158 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán trên thế giới Trong khuôn khổ bài viết này tác giả chỉ tổng hợp một số nghiên cứu về sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng và thành phần của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở trong
và ngoài nước
a Nghiên cứu nước ngoài
- Nghiên cứu về sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
Nghiên cứu của Lee (1970) [30] là nghiên cứu đầu tiên về khoảng cách
kỳ vọng kiểm toán được thực hiện tại Anh Ông đã khảo sát các KTV (chủ phần hùn và nhân viên), đối tượng bị kiểm toán (giám đốc, thư ký và kế toán)
và các đối tượng thụ hưởng (các nhà đầu tư, ngân hàng và môi giới chứng khoán) nhằm xác định ý kiến của họ về 13 mục tiêu Hơn 80% số người được hỏi xác định mục tiêu kiểm toán là phát hiện các gian lận và sai sót, đảm bảo công ty đã tuân thủ tất cả các yêu cầu pháp luật; xác minh tính chính xác của
sổ sách, hồ sơ kế toán; và đưa ra ý kiến trung thực hợp lý của BCTC Trái với
kỳ vọng của Lee, sự hiểu biết của KTV về các mục tiêu kiểm toán có chút khác biệt so với các đối tượng bị kiểm toán và thụ hưởng Ông thừa nhận rằng, nếu những người tham gia không có cùng chung nhận thức về mục tiêu kiểm toán thì các lợi ích từ một cuộc kiểm toán sẽ không được đánh giá cao
và đáng tin cậy do thông tin tài chính được kiểm toán đã bị đặt sai chỗ
Nghiên cứu của Low (1988) [33] xem xét phạm vi khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa KTV và các nhà phân tích tài chính về các mục tiêu kiểm toán tại Singapore Những người tham gia được cung cấp danh sách 13 mục tiêu của cuộc kiểm toán Kết quả cho thấy cả hai nhóm đều nhận thức được về mục tiêu truyền thống của kiểm toán (đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính) Tuy nhiên, bên cạnh mục tiêu này, các phản hồi còn có hàng loạt
Trang 16những niềm tin mà họ xem là mục tiêu kiểm toán Các nhà phân tích tài chính nhận thức một cuộc kiểm toán phải đảm bảo tính chính xác của các báo cáo tài chính Thêm vào đó, nhận thức của họ về trách nhiệm của KTV liên quan đến việc phát hiện và ngăn chặn gian lận có nhiều đòi hỏi khắt khe hơn so với những gì mà KTV tin rằng họ nên thực hiện
Nghiên cứu của Humphrey, C., Moizer, P và Turley, S (1993) [27], Humphrey và cộng sự đã chỉ ra rằng sự hiểu lầm ở Anh về các chức năng kiểm toán là chút khác nhau so với nghiên cứu của Lee năm 1970 Năm 1990, Humphrey đã khảo sát một mẫu bao gồm KTV, người bị kiểm toán và những người sử dụng BCTC ở Anh để xác định ý kiến của họ về KTV và công việc của họ, đánh giá theo thang đo Likert 7 điểm Tổng cộng có 2445 Bảng câu hỏi và có 935 phản hồi phục vụ cho phân tích Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy có sự khác biệt đáng kể về ý kiến cho rằng vai trò của KTV phải là đảm bảo rằng: là tất cả các gian lận đáng kể phải được phát hiện; công ty được điều hành một cách hiệu quả; các cơ quan có thẩm quyền phải được thông báo
về bất kỳ sai sót đáng kể nào; và Bảng cân đối kế toán cung cấp một đánh giá hợp lý về công ty Nhóm nghiên cứu nhận xét "Trong tất cả các trường hợp, KTV nhận thấy vai trò của mình bị hạn chế hơn so với những gì mà các giám đốc tài chính hoặc các nhóm người sử dụng nhận thấy”
- Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng và thành phần của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
Ngiên cứu của Porter (1993) [39], Porter đã nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại New Zealand bằng cách chia khoảng cách này thành hai phần: khoảng cách hoạt động và khoảng cách hợp lý Tác giả tiến hành nghiên cứu từ việc sử dụng một cuộc khảo sát qua mail được gửi đến hai nhóm đối tượng bị ảnh hưởng bởi hoạt động kiểm toán độc lập là (1) nhóm cộng đồng tài chính, bao gồm các KTV, nhân viên công ty, các nhà phân tích
Trang 17tài chính, sinh viên kiểm toán và (2) các nhóm công chúng bao gồm luật sư, phóng viên tài chính và các thành viên của công chúng nói chung Từ các kết quả nghiên cứu của mình, Porter đã xác định rằng có hơn 20% công chúng nhận thức kiểm toán viên phải thực hiện 10 nhiệm vụ trong khi nhóm cộng đồng tài chính cho rằng điều đó là không hiệu quả và kinh tế khi thực hiện Nghiên cứu thực nghiệm này đã giúp các nhà nghiên cứu xác định các thành phần khác nhau của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán bao gồm khoảng cách hợp lý (41%), khoảng cách chuẩn mực (53%) và khoảng cách năng lực (6%)
Nghiên cứu của Teck Heang Lee và cộng sự (2002) [46] tổng hợp hệ thống kết quả nghiên cứu trước đây, và chỉ ra giải pháp thu hẹp khoảng cách
kỳ vọng kiểm toán thông qua hoạt động giáo dục nâng cao nhận thức của người sử dụng, thiết kế thủ tục kiểm toán, tăng cường trách nhiệm của KTV
và báo cáo kiểm toán mở rộng
Mahdi Salehi (2011) trong nghiên cứu [43] tiếp tục nghiên cứu liên quan đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán, lần này tác giả đề cập đến bản chất và kích thước khác nhau của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán trên toàn thế giới Nghiên cứu đi đến kết luận rằng khoảng cách này nên được thu hẹp bởi chính KTV, cải thiện trách nhiệm kiểm toán trong các chuẩn mực và giáo dục cho người sử dụng khác nhau hiểu về mục tiêu và bảng chất của cuộc kiểm toán
Nghiên cứu của Asare và Wright (2012) [8], tác giả tiến hành nghiên cứu
nhằm đánh giá sự hiểu biết của KTV và 2 nhóm người người sử dụng (nhân viên tín dụng ngân hàng và nhà đầu tư) về các thông điệp được truyền tải trên BCKT chuẩn theo SAS 58, đồng thời đánh giá về mức độ đồng thuận của họ trong việc giải thích các thuật ngữ được sử dụng trong báo cáo 154 đối tượng tham gia khảo sát (bao gồm 78 KTV, 43 nhà đầu tư và 33 nhân viên ngân hàng) được yêu cầu trả lời các câu hỏi sau:
- Mức độ quan trọng của BCKT chuẩn trong việc ra quyết định (đầu
Trang 18tư/cho vay)?
- Mức độ quan trọng của BCKT chuẩn trong việc đánh giá BCTC không
có gian lận trọng yếu?
- Mức độ đáng tin cậy mà BCKT chuẩn đua ra về khả năng hoạt động
liên tục của công ty?
- Mức độ đáng tin cậy mà BCKT chuẩn đảm bảo công ty được quản lý
- Khả năng KTV có thể phát hiện ra các gian lận trọng yếu trên BCTC?
Và tiếp theo là thu thập ý kiến của các nhóm người tham gia về hiểu biết của họ về các thuật ngữ được sử dụng trên BCKT bao gồm “Sai sót trọng yếu”, đảm bảo hợp lý”, “thử nghiệm cơ bản”, “ước tính quan trọng” và “trình bày hợp lý”
Kết quả cho thấy so với KTV, người sử dụng xét xét BCKT là quan trọng hơn trong việc đánh giá rủi ro gian lận ngay cả khi họ đánh giá một khả năng thấp hơn mà KTV phát hiện gian lận Hơn nữa BCKT giúp người sử dụng có được một sự tin tưởng cao hơn trong quản lý của công ty, tính hợp lý của các khoản đầu tư và hoàn thành cách mục tiêu chiến lược hơn KTV Ngoài ra, trong một số trường hợp, KTV, nhân viên tín dụng và nhà đầu tư có cách hiểu khác nhau về các thuật ngữ đươc sử dụng cho BCKT cho thấy sự bất đồng giữa người
sử dụng về việc giải thích các thuật ngữ chuyên môn này
Nghiên cứu Muylder và cộng sự (2012) [37] đã kiểm tra hiệu quả của BCKT mở rộng theo ISA 700 và một khóa học kiểm toán trong việc thu hẹp khoảng cách mong đợi đối với các sinh viên thuộc trường ĐH Tự do Brussel
Trang 19(Bỉ) Tất cả các sinh viên đều đã hoàn thành một khóa học về kế toán nhưng chỉ một trong số nhóm này được đào tạo về kiểm toán Các sinh viên được chia làm
3 nhóm:
- Nhóm thứ nhất gồm 42 sinh viên đã hoàn thành khóa học về kế toán
nhận được một BCKT theo ISA700
- Nhóm thứ 2 gồm 43 sinh viên đã hoàn thành khóa học về kế toán nhận
được một BCKT mở rộng theo chuẩn ISA 700, trong báo cáo này gồm 3 thuật ngữ được giải thích tường tận hơn so với BCKT theo ISA 700 gồm đảm bảo hợp
lý, gian lận và hoạt động liên tục
- Nhóm thứ 3 gồm 74 sinh viên đã hoàn thành khóa học về cả kế toán và
kiểm toán, họ không được đọc bất kỳ BCKT nào trong 2 loại nói trên
Các đối tượng tham gia được yêu cầu trả lời các câu hỏi liên quan đến trách nhiệm của họ về trách nhiệm chung của KTV, mức độ đảm bảo mà KTV cung cấp, trách nhiệm của KTV đối với gian lận và vấn đề hoạt động liên tục và vấn đề lấy mẫu kiểm toán Kết quả khảo sát cho thấy rằng những người tham gia đào tạo về kiểm toán có được hiểu biết đúng đắn nhất (theo quy định của ISA)
về chứng năng và trách nhiệm của KTV, giáo dục kiểm toán dẫn đến một sự hiểu biết quan trọng hơn về trách nhiệm của KTV liên quan đến công tác phòng chống và phát hiện gian lận, đánh giá khả năng hoạt động liên tục Những người tham gia đào tạo về kiểm toán cũng hiểu rõ hơn về ý nghĩa của sự đảm bảo hợp
lý và kết quả các thủ tục lấy mẫu kiểm toán
Nghiên cứu của Charles Guandaru Kamau (2013) [10] xem xét liệu các
nhân tố thái độ, kỹ năng, tính độc lập của KTV, phạm vi, phương pháp kiểm toán, hiểu biết và nhu cầu của người sử dụng có ảnh hưởng tới khoảng cách
kỳ vọng kiểm toán hay không Kết quả khảo sát với 110 công ty kiểm toán ở Kenya cho thấy các nhân tố thái độ, kỹ năng của KTV, hiểu biết, nhu cầu của người sử dụng ảnh hưởng đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán Cụ thể, nhân
Trang 20tố thái độ và kỹ năng của KTV là 2 nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách thực hiện, nhân tố hiểu biết và nhu cầu của người sử dụng là 2 nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách hợp lý
Nghiên cứu của Chinwuba Okafor và John Otalor (2013) [11] xem xét xem sự thiếu hiểu biết của công chúng về luật pháp, quy định liên quan đến trách nhiệm của KTV, đánh giá của công chúng về việc thực hiện trách nhiệm của KTV có phải là nguyên nhân tạo nên khoảng cách kỳ vọng kiểm toán hay không Tác giả tiến hành khảo sát sinh viên và giảng viên tại các trường ĐH ở Nigeria.Kết quả cho thấy sự thiếu hiểu biết của công chúng về luật pháp, quy định liên quan đến trách nhiệm của KTV, đánh giá của công chúng về việc thực hiện trách nhiệm của KTV là nguyên nhân tạo nên khoảng cách kỳ vọng kiểm toán Tác giả cho rằng cần thiết phải nâng cao hiểu biết của công chúng
về công việc của kiểm toán viên thông qua giáo dục
Nghiên cứu của Hasan Flayyeh (2014) [23], tác giả tiến hành khảo sát
60 nhà đầu tư, khảo sát nhận được 57 phản hồi Kết quả khảo sát cho thấy các nhân tố tính độc lập của KTV, tính chính trực và khách quan của KTV, mức
độ công bố trong BCTC, trách nhiệm của KTV về số liệu kế toán và tăng cường thông tin với người sử dụng BCTC có ảnh hưởng đến việc thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán Ngoài ra nghiên cứu còn chỉ ra không có sự khác biệt về các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán theo quan điểm của nhà đầu tư do sự khác biệt về trình độ, và mức
độ sử dụng BCTC
Nghiên cứu của Kingsley, Raph Adeghe và Rachael (2015) [9] Dựa
trên nghiên cứu của Kamau, nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu ở Nigeria, đối tượng khảo sát bao gồm KTV, người soạn thảo và người sử dụng báo cáo tài chính Kết quả khảo sát cho thấy tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa nhân
tố tính độc lập, thái độ của KTV, hiểu biết của người sử dụng và khoảng cách
Trang 21kỳ vọng kiểm toán
b Nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu Phan Thanh Trúc (2013) [4]: Tác giả tiến hành khảo sát các
đối tượng bao gồm (1) các KTV, (2) nhà quản lý tài chính, kế toán viên và (3) Nhóm phân tích BCTC (bao gồm nhân viên ngân hàng, nhà đầu tư chứng khoán) về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán và sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Việt Nam Kết quả cho thấy các nhân tố Quy mô công ty kiểm toán, kinh nghiệm làm việc, trình độ chuyên môn của KTV, nhiệm kỳ của KTV, quy trình KSCL của công ty kiểm toán, tính độc lập của KTV, giá phí kiểm toán, dịch vụ phi kiểm toán được cung cấp là các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán Nghiên cứu cũng chỉ
ra rằng có khoảng cách kỳ vọng liên quan đến trách nhiệm chung của KTV trong kiểm toán BCTC, trách nhiệm của KTV trong việc phát hiện công bố gian lận và sai sót, mục đích, ý nghĩa của BCKT, thuật ngữ trên BCKT và ý nghĩa của ý kiến kiểm toán trên BCKT Từ đó tác giả đề xuất một loại các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán góp phần thu hẹp khoảng cách kỳ vọng ở Việt Nam
Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Kịp (2015) [3], kế thừa từ nghiên cứu của Porter (1993), tác giả tiến hành khảo sát 3 nhóm đối tượng đó là nhóm KTV, nhóm người làm việc tại đơn vị được kiểm toán và nhóm người sử dụng BCTC về trách nhiệm hiện tại và trách nhiệm mong đợi nhằm thu thập đánh giá sự hiểu biết của các đối tượng khảo sát đối với trách nhiệm của KTV trong kiểm toán BCTC, từ đó đánh giá xem liệu có tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Việt Nam hay không Kết quả từ 176 phẩn hồi của KTV, Nhà quản lý, kế toán, nhân viên ngân hàng, chứng khoán cho thấy có tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Việt Nam, từ đó tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm thu hẹp đó là nâng cao chất lượng kiểm toán, tăng cường công tác
Trang 22KSCL, nâng cao năng lực của KTV, hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kiểm toán, nâng cao hiểu biết của công chúng,…
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu được thực hiện trên thế giới
có liên quan đến luận án, có thể nói rằng, khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng là một trong những chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu của các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm Các nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và định lượng đề tiếp cận theo quy trình từ các nghiên cứu trước, lý thuyết nền tảng và đặc điểm của từng quốc gia Tuy nhiên các nghiên cứu mang tính chất riêng lẻ và chỉ tập trung vào một nhóm nhân tố nào
đó như đặc điểm của KTV, hiểu biết của công chúng,…
Ở Việt Nam, những năm gần đây, khoảng cách kỳ vọng kiểm toán đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tuy nhiên số lượng các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này vẫn còn khá ít ỏi Các nghiên cứu chỉ dừng ở mức độ xem xét, đánh giá khoảng cách kỳ vọng kiểm toán, vẫn chưa có nghiên cứu nào đi sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khoảng cách này
Trang 23CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM TOÁN VÀ KHOẢNG CÁCH
KỲ VỌNG KIỂM TOÁN
1.1 KHÁI NIỆM KIỂM TOÁN VÀ PHÂN LOẠI KIỂM TOÁN
1.1.1 Khái niệm kiểm toán
Nguồn gốc của kiểm toán có thể xuất phát từ nền văn minh Hy Lạp và
Ai Cập cổ đại Từ "kiểm toán" bắt nguồn từ chữ Latin "audire" có nghĩa là
"nghe" Kiểm toán ban đầu mang tính bắt buộc và tập trung vào việc xác định các hành vi gian lận và không tuân thủ về tài chính Trong thế kỷ XVIII, khi
mà vai trò của KTV là xác định tính trung thực của các cá nhân chịu trách nhiệm tài chính Sau đó, loại hình kiểm toán thường được thực hiện là điều trần trước công chúng về kết quả thực hiện các quan chức chính phủ và giám sát của các báo cáo sử dụng vốn với mục tiêu xác định trách nhiệm của các cá nhân Cả hai loại hình này được thiết kế để có đủ khả năng kiểm tra trách nhiệm chứ không có gì hơn
Trong thế ký XIX, vai trò của KTV liên hệ trực tiếp với chức năng quản lý của chủ sở hữu Nhưng cùng với sự phát triển của hoạt động kinh doanh, chức năng xác minh dựa trên cơ sở lấy mẫu ra đời Vai trò của KTV phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu của các đổi tượng về dịch vụ của mình Sự thay đổi chức năng kiểm toán từ “đúng và chính xác” sang “trung thực và hợp lý” gây ra một sự thay đổi thế giới quan trong quá trình kiểm toán Điều này cũng gây ra một sự thay đổi trong quan điểm kiểm toán từ “đảm bảo đầy đủ” sang “đảm bảo hợp lý” Việc kiểm soát các xung đột lợi ích giữa các nhà quản
lý, cổ đông và trái chủ là lý do chính để KTV tham gia (Chow, 1982) Những thay đổi trong nghề nghiệp kể từ năm 1970 là rất đáng kể và về cơ bản đã thay đổi cách thức hoạt động, thực hiện kiểm toán, cấu trúc và quản lý của các
Trang 24công ty kiểm toán Tuy nhiên, sự thay đổi chức năng kiểm toán không có nghĩa rằng nhận thức của người sử đụng BCTC cũng thay đổi khi họ mong đợi KTV phải thực hiện các chức năng như chịu trách nhiệm cho bất kỳ sai sót hoặc không tuân thủ trong BCTC, thực hiện kiểm tra 100% thay vì kiểm tra chọn mẫu, BCKT đóng vai trò như là tín hiệu cảnh báo sớm cho sự phá sản của công ty
Mặc dù khái niệm kiểm toán đã xuất hiện khá lâu đời nhưng cho đến nay vẫn còn có những cách hiểu khác nhau, đôi khi chưa có sự đồng nhất Mautz và Sharaf (1980) định nghĩa kiểm toán là “có liên quan đến việc xác minh số liệu kế toán, tính chính xác và độ tin cậy của BCTC” Các định nghĩa của Hiệp hội kế toán Mỹ AAA, Arens và cộng sự (1997) bao gồm “thu thập
và đánh giá bằng chứng một cách khách quan" và "người độc lập có trình độ" Hàm ý là các KTV phải có đủ năng lực để hiểu các chuẩn mực được sử đụng
và có khả năng để thu thập các bằng chứng nhằm đưa ra kết luận đúng đắn và phải có một thái độ độc lập để đánh giá kết quả một cách khách quan mà không thiên vị hay thành kiến, đồng thời nhấn mạnh đến sự phù hợp giữa thông tin với các tiêu chuẩn đã được thiết lập Khái niệm này khá phù hợp với quan niệm của trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh cho rằng “Kiểm toán
là một quá trình do KTV đủ năng lực và độc lập tiến hành nhằm thu thập bằng chứng về những thông tin có thể định lượng của một tổ chức và đánh giá chúng nhằm thẩm định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập” Còn các nhà kinh tể Pháp lại quan niệm rằng
"Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là một KTV tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng tình hình tài chính thực tế không che dấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định” Theo định nghĩa của Liên đoàn Kế toán quốc tế (International
Trang 25Federation of Accountants - IFAC) thì “Kiểm toán là việc các KTV độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các bản báo cáo tài chính”
Như vậy, các khái niệm trên phản ánh tương đối đấy đủ về các đặc trưng cơ bản của kiểm toán truyền thống đã phát triển lâu đời Các khái niệm khẳng định rằng Kiểm toán là sự kiểm tra và bày tỏ ý kiến về bản khai tài chính hoặc các tài khoản của một tổ chức, cơ quan, xí nghiệp; việc kiểm toán được thực hiện bởi kiểm toán viên có chuyên môn nghiệp vụ, độc lập, đánh giá mức độ trung thực, phù hợp của các thông tin so với các tiêu chuẩn đã được thiết lập; các thông tin kiểm toán được trình bày theo một cách thức nhất định
1.1.2 Phân loại kiểm toán
Theo mục đích, kiểm toán được phân thành 3 loại:
- Kiểm toán báo cáo tài chính:
Kiểm toán báo cáo tài chính là việc KTV kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán
Nhằm đạt được mục tiêu kiểm toán, KTV phải dựa vào hệ thống chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán cùng hệ thống các văn bản pháp lý có hiệu lực để thực hiện kiểm toán Do những người sử dụng BCTC thường là bên ngoài đơn vị được kiểm toán, quan tâm đến thông tin tài chính với mục đích khác nhau nên cơ sở thực hiện kiểm toán cần phải đảm bảo tính thống nhất
Kết quả kiểm toán phải thể hiện được ý kiến của KTV về độ tin cậy của thông tin được trình bày trên BCTC và được trình bày trên BCKT của KTV
- Kiểm toán hoạt động:
Kiểm toán hoạt động: là việc KTV kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính kinh
tế, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của một bộ phận hoặc toàn bộ đơn vị được kiểm toán
Trang 26Đối tượng của kiểm toán hoạt động rất đa dạng, từ việc đánh giá một phương án kinh doanh, một dự án, một quy trình công nghệ, một công trình XDCB, một loại tài sản, thiết bị mới đưa vào hoạt động hay việc luân chuyển chứng từ trong một đơn vị… Vì thế, khó có thể đưa ra các chuẩn mực cho loại kiểm toán này Đồng thời, tính hữu hiệu và hiệu quả của quá trình hoạt động rất khó được đánh giá một cách khách quan so với tính tuân thủ và tính trung thực, hợp lý của BCTC Thay vào đó, việc xây dựng các chuẩn mực làm cơ sở đánh giá thông tin có tính định tính trong một cuộc kiểm toán hoạt động là một việc mang nặng tính chủ quan
Trong kiểm toán hoạt động, việc kiểm tra thường vượt khỏi phạm vi công tác kế toán, tài chính mà liên quan đến nhiều lĩnh vực Kiểm toán hoạt động phải sử dụng nhiều biện pháp, kỹ năng nghiệp vụ và phân tích, đánh giá khác nhau Báo cáo kết quả kiểm toán thường là bản giải trình các nhận xét,
đánh giá, kết luận và ý kiến đề xuất cải tiến hoạt động
- Kiểm toán tuân thủ
Kiểm toán tuân thủ là việc KTV kiểm tra, đưa ra ý kiến về việc tuân thủ pháp luật, quy chế, quy định mà đơn vị được kiểm toán phải thực hiện Ví dụ: Kiểm toán việc tuân thủ các luật thuế ở đơn vị; Kiểm toán của cơ quan nhà nước đối với DNNN, đơn vị có sử dụng kinh phí NSNN về việc chấp hành các chính sách, chế độ về tài chính, kế toán; Kiểm toán việc chấp hành các điều khoản của hợp đồng tín dụng đối với đơn vị sử dụng vốn vay của ngân hàng
1.2 CÁC QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM TOÁN VIÊN
1.2.1 Trách nhiệm của KTV theo luật kiểm toán độc lập
Điều 18, luật kiểm toán độc lập ban hành ngày 29/03/2011 quy định trách nhiệm của KTV hành nghề như sau:
- Tuân thủ nguyên tắc hoạt động kiểm toán độc lập;
Trang 27- Không can thiệp vào hoạt động của khách hàng, đơn vị được kiểm
toán trong quá trình thực hiện kiểm toán,
- Từ chối thưc hiện kiểm toán cho khách hàng, đơn vị được kiểm toán
nếu xét thấy không bảo đảm tính độc lập, không đủ năng lực chuyên môn, không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật;
- Từ chối thực hiện kiểm toán trong trường hợp khách hàng, đơn vị
được kiểm toán có yêu cầu trái với đạo đức nghề nghiệp, yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ hoặc trái với quy định của pháp luật;
- Tham gia đầy đủ chương trình cập nhật kiến thức hàng năm;
- Thường xuyên trao đổi kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm nghề
nghiệp;
- Thực hiện kiểm toán, soát xét hồ sơ kiểm toán hoăc ký BCKT và chịu
trách nhiệm vế BCKT và hoạt động kiểm toán của mình,
- Báo cáo định kỳ, đột xuất về hoạt động kiểm toán của mình theo yêu
cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Tuân thủ quy định của Luật này và pháp luật của nước sở tại trong
trường hợp hành nghề kiểm toán ở nước ngoài
- Chấp hành yêu cầu về kiểm tra, kiểm soát Chất lượng dịch vụ kiểm
toán theo quy định của BTC,
- Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật
Tại điều 29 quy định trách nhiệm của doanh nghiệp kiểm toán như sau
- Hoạt động theo nội dung ghi trong Giấy chứng nhận đủ điều kiện
kinh doanh dịch vụ kiểm toán,
- Bố trí nhân sự có trình độ chuyên môn phù hợp để bảo đảm chất
lượng dịch vụ kiểm toán, quản lý hoạt động nghề nghiệp của KTV hành nghề,
- Hàng năm thông báo danh sách KTV hành nghề cho cơ quan nhà
nước có thẩm quyền,
Trang 28- Bồi thường thiệt hại cho khách hàng, đơn vị được kiểm toán trên cơ
sở hợp đồng kiểm toán và theo quy định của pháp luật;
- Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho KTV hành nghề hoặc
trích lâp quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp theo quy định của BTC;
- Thông báo cho đơn vị được kiểm toán khi nhận thấy đơn vị được
kiểm toán có dấu hiệu vi phạm pháp luật về kinh tế, tài chính, kế toán;
- Cung cấp thông tin về KTV hành nghề và DNKT, chi nhánh DNKT
nước ngoài tại Việt Nam cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền,
- Cung cấp hồ sơ, tài liệu kiểm toán theo yêu cầu bằng văn bản của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền,
- Báo cáo định kỳ, đột xuất về hoạt động kiểm toán độc lập;
- Cung cấp kịp thời, đẩy đủ, chính xác thông tin, tài liệu theo yêu cầu
của cơ quan có thẩm quyền trong quá trình kiểm tra, thanh tra và chịu trách nhiệm vể tính chính xác, trung thực của thông tin, tài liệu đã cung cấp, chấp hành quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc kiểm tra, thanh tra,
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước khách hàng về kết quả kiểm
toán theo hợp đồng kiểm toán đã giao kết;
- Chịu trách nhiệm với người sử dụng kết quả kiểm toán khi người sử
dụng kết quả kiểm toán: (1) Có lợi ích liên quan trực tiếp đến kết quả kiểm toán của đơn vị được kiểm toán tại ngày ký báo cáo kiểm toán; (2) Có hiểu biết một cách hợp lý về báo cáo tài chính và cơ sở lập báo cáo tài chính là các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định khác của pháp luật có liên quan; (3) Đã sử dụng một cách thận trọng thông tin trên báo cáo tài chính đã kiểm toán
- Từ chối thực hiện kiểm toán khi xét thấy không bảo đảm tính độc lập,
không đủ năng lực chuyên môn, không đủ điều kiện kiểm toán;
Trang 29- Từ chối thực hiện kiểm toán khi khách hàng, đơn vị được kiểm toán
có yêu cầu trái với đạo đức nghề nghiệp, yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ hoặc trái với quy định của pháp luật;
- Tổ chức kiểm soát chất lượng hoạt động và chịu sự kiểm soát chất
lượng dịch vụ kiểm toán theo quy định của Bộ Tài chính;
- Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật
1.2.2 Trách nhiệm của KTV theo chuẩn mực kiểm toán VSA 200
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 200 được Ban hành kèm theo Thông
tu số 214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của BTC Theo đoạn 11 của chuẩn mục này, mục tiêu tổng thể của KTV và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán BCTC là: “Đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu BCTC, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không, từ đó giúp KTV đưa ra ý kiến về việc liệu BCTC
có được lập phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng, trên các khía cạnh trọng yếu hay không”
KTV phải đạt dược sự đảm bảo hợp lý về việc liệu BCTC, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc do nhầm lẫn hay không Sự đảm bảo hợp lý là sự đảm bảo ở mức độ cao và chỉ đạt được khi KTV đã thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp nhằm làm giảm rủi ro kiểm toán (là rủi ro do KTV đưa ra ý kiến không phù hợp khi BCTC còn có những sai sót trọng yếu) tới một mức độ thấp có thể chấp nhận được Tuy nhiên, sự đảm bảo hợp lý không phải là đảm bảo tuyệt đối, do luôn tồn tại những hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán làm cho hầu hết bằng chứng kiểm toán mà KTV dựa vào để đưa ra kết luận và ý kiến kiểm toán đều mang tính thuyết phục hơn là khẳng định (đoạn 05) Những hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán do:
- Bản chất của việc lập và trình bày BCTC: việc lập và trình bày BCTC
Trang 30gồm các xét đoán của BGĐ, nhiều khoản mục trên BCTC liên quan đến các quyết định hoặc đánh giá chủ quan hoặc có mức độ không chắc chắn dẫn đến kết quả là một số khoản mục trên BCTC có mức độ thay đổi tiềm tàng, không thể loại trừ hoàn toàn mà chỉ có thể áp dụng các thủ tục kiểm toán bổ sung để đánh giá
- Bản chất của các thủ tục kiểm toán: khả năng thu thập bằng chứng kiểm toán của KTV bị giới hạn về tính khả thi hoặc giới hạn pháp lý như BGĐ ĐVĐKT hoặc đối tượng khác có thể cố ý hoặc vô ý không cung cấp đầy
đủ thông tin, hành vi gian lận có thể được thực hiện tinh vi và kỹ lưỡng để che dấu và KTV không được đào tạo để làm chuyên gia xác minh chứng từ giả mạo; KTV không có quyền điều tra, thanh tra, xét hỏi, khám xét như cuộc điều tra của cơ quan pháp luật
- Sự cân nhắc giữa thời gian và giá phí một cách hợp lý: sự thích hợp của thông tin, giá trị của thông tin có xu hướng giảm đi theo thời gian và cần cân nhắc sự cân đối giữa độ tin cậy của thông tin với chi phí bỏ ra để có được thông tin đó
Theo khoản j, đoạn 13 của chuẩn mực này cũng nêu rõ trách nhiệm của BGĐ và BQT:
- Lập và trình bày BCTC phù hợp với khuôn khổ quy định;
- Đảm bảo cho việc lập và trình bày BCTC không còn sai sót trọng yếu
Trang 31KTV cũng có trách nhiệm trao đổi thông tin và báo cáo về một số vấn
đề phát sinh từ cuộc kiểm toán với người sít dụng BCTC, BGĐ, BQT hoặc các đối tượng khác ngoài ĐVĐKT (đoạn 09)
Như vậy, BCTC sử dụng để kiểm toán là báo cáo đã được BGĐ ĐVĐKT lập với sự giám sát của BQT đơn vị, đã ký tên, đóng dấu theo quy định của pháp luật và việc kiểm toán BCTC không làm giảm nhẹ trách nhiệm của BGĐ hoặc BQT ĐVĐKT (đoạn 04)
1.2.3 Trách nhiệm của KTV theo chuẩn mực kiểm toán VSA 240
Chuẩn mực này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của KTV đối với gian lận trong quá trình kiểm toán BCTC Tuy nhiên ngay đoạn 04 đã xác định: “Việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận trước hết thuộc về trách nhiệm của BQT và BGĐ ĐVĐKT Điều quan trọng là BGĐ, với sự giám sát của BQT, phải đặc biệt chú ý đến việc ngăn ngừa gian lận nhằm làm giảm bớt các
cơ hội thực hiện hành vi gian lận và phát hiện gian lận qua đó thuyết phục các
cá nhân không thực hiện hành vi gian lận vì khả năng bị phát hiện và xử phạt” KTV chỉ chịu trách nhiệm đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu BCTC, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không với những hạn chế vốn có của kiểm toán (đoạn 05)
Theo đoạn 10 của chuẩn mực này, trách nhiệm của KTV là:
- Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong BCTC do gian lận;
- Thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về các rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã được đánh giá, thông qua việc thiết kế và thực hiện những biện pháp xử lý thích hợp;
- Có biện pháp xử lý thích hợp đối với gian lận đã được xác định hoặc
có nghi vấn trong quá trình kiểm toán
Để đánh giá rủi ro và các hoạt động liên quan nhằm tìm hiểu về
Trang 32ĐVĐKT và môi trường hoạt động của đơn vị, KTV phải phỏng vấn BGĐ ĐVĐKT về đánh giá của họ về rủi ro có thể có sai sót do gian lận trong BCTC, bao gồm nội dung, phạm vi và tần suất của các đánh giá đó; quy trình xác định và xử lý rủi ro có gian lận; quan điểm về gian lận, các hoạt động kinh doanh và hành vi đạo đức Và KTV cũng phải phỏng vấn bộ phận kiểm toán nội bộ và các đối tượng khác để xác định xem họ có biết về bất kỳ gian lận nào trong thực tế, nghi ngờ có gian lận hoặc cáo buộc gian lận nào ảnh hưởng đến đơn vị hay không, và để tìm hiểu các quan điểm của họ về rủi ro
có gian lận tại đơn vị (đoạn 17 - 19)
KTV phải tìm hiểu cách thức mà BQT thực hiện chức năng giám sát quy trình xác định và xử lý rủi ro có gian lận trong đơn vị của BGĐ và kiểm soát nội bộ mà BGĐ thiết lập để giảm thiểu các rủi ro Sau đó, KTV phải phỏng vấn BQT để xác định xem BQT có biết về bất kỳ gian lận nào trong thực tế, nghi ngờ có gian lận hoặc cáo buộc gian lận nào ảnh hưởng đến đơn
vị hay không và đối với kết quả đã phỏng vấn BGĐ xem liệu có sự phù hợp
và nhất quán (đoạn 20 - 21)
Sau khi phỏng vấn và thu thập các thông tin cần thiết, KTV phải xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận ở cấp độ BCTC và ở cấp độ cơ sở dẫn liệu của các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh và có những biện pháp xử lý phù hợp theo quy định của chuẩn mực này Và khi KTV khẳng định rằng BCTC có chứa đựng sai sót trọng yếu, hoặc không thể đưa ra kết luận được rằng BCTC có chứa đựng sai sót trọng yếu do gian lận hay không thì KTV phải đánh giá các tác động đối với cuộc kiểm toán và cân nhắc thực hiện những công việc tiếp theo cho phù hợp:
- Thu thập giải trình bằng văn bản của BGĐ và BQT ĐVĐKT về việc thừa nhận trách nhiệm thiết lập, thực hiện và duy trì kiểm soát nội bộ nhằm ngăn ngừa và phát hiện gian lận; đã cung cấp cho KTV các thông tin mà họ
Trang 33biết về bất kỳ cáo buộc gian lận, hoặc nghi ngờ gian lận nào có ảnh hưởng đến BCTC
- Trao đổi với Ban Giám đốc: khi đã thu thập được bằng chứng về sự tồn tại hoặc có thể tồn tại gian lận do các nhân viên thực hiện, KTV cần trao đổi ngay với Ban Giám đốc, kể cả khi vấn đề phát hiện được có thể được coi
là không có ảnh hưởng đáng kể
- Trao đổi với Ban quản trị: nếu KTV xác định được hoặc nghi ngờ rằng hành vi gian lận có liên quan đến BGĐ; các nhân viên giữ vai trò quan trọng trong kiểm soát nội bộ; những người khác trong trường hợp hành vi gian lận dẫn đến sai sót trọng yếu trong BCTC thì KTV phải trao đổi vấn đề này với BQT và thảo luận với BQT về nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán cần thiết để hoàn tất cuộc kiểm toán
- Rút khỏi hợp đồng kiểm toán: xác định trách nhiệm nghề nghiệp hoặc trách nhiệm pháp lý yêu cầu phải báo cáo với đối tượng đã chỉ định thực hiện cuộc kiểm toán hoặc báo cáo với các cơ quan quản lý có thẩm quyền (nếu có)
về việc KTV rút khỏi hợp đồng kiểm toán và lý do rút khỏi hợp đồng kiểm toán
- Trao đổi với các cơ quan quản lý và cơ quan pháp luật có liên quan: nếu xác định được hành vi gian lận hoặc nghi ngờ có hành vi gian lận thì KTV phải xác định trách nhiệm báo cáo về hành vi gian lận hoặc nghi ngờ có hành vi gian lận đó với bên thứ ba (nếu có) Mặc dù trách nhiệm bảo mật thông tin của khách hàng có thể không cho phép KTV thực hiện việc báo cáo
đó nhưng trong một số trường hợp, trách nhiệm pháp lý của KTV có thể cao hơn trách nhiệm bảo mật đó, tùy theo từng trường hợp cụ thể, KTV có thể phải xin ý kiến của chuyên gia tư vấn pháp luật để xác định sự cần thiết phải báo cáo về các gian lận với cơ quan quản lý, cơ quan pháp luật có liên quan
để đảm bảo các bước công việc cần thiết đối với lợi ích công chúng trước ảnh
Trang 34hưởng của các gian lận đã phát hiện
1.2.4 Trách nhiệm của KTV theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 260
Chuẩn mực này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của KTV và DNKT trong việc trao đổi các vấn đề liên quan đến cuộc kiểm toán BCTC với ban quản trị của ĐVĐKT
Đoạn 9 của chuẩn mực này nêu rõ, KTV và DNKT phải:
Có biện pháp xử lý thích hợp đối với gian lận đã được xác định hoặc có nghi vấn trong quá trình kiểm toán
Trong một số trường họp cụ thể, KTV có thể xem xét các tình huống sau:
Khi kết quả của một sai sót do gian lận hoặc nghi ngờ có gian lận, nếu gặp phải tình huống dẫn đến yêu cầu xem xét lại khả năng tiếp tục thực hiện công việc kiểm toán thì KTV phải:
- Xác định trách nhiệm nghề nghiệp và trách nhiệm pháp lý áp dụng trong tình huống đó, bao gồm trách nhiệm phải báo cáo với đối tuợng đã chỉ định thực hiện cuộc kiểm toán hoặc báo cáo với các cơ quan quản lý có thẩm quyền (nếu có);
- Cân nhắc việc rút khỏi hợp đồng kiểm toán nếu pháp luật hoặc các quy định liên quan cho phép;
Khi KTV xác định được hành vi gian lận hoặc thu thập được thông tin cho thấy có thể có hành vi gian lận thì KTV phải kịp thời trao đổi các vấn đề này với cấp quản lý thích hợp của đơn vị nhằm thông báo với những người có trách nhiệm chính trong việc việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận về các vấn
đề liên quan đến trách nhiệm của họ
Khi xác định được hành vi gian lận hoặc nghi ngờ có hành vi gian lận thì kiểm toán viên phải xác định trách nhiệm báo cáo về hành vi gian lận hoặc
Trang 35nghi ngờ có hành vi gian lận đó với bên thứ ba (nếu có) Mặc dù trách nhiệm bảo mật thông tin của khách hàng có thể không cho phép kiểm toán viên thực hiện việc báo cáo đó nhưng trong một số trường hợp, trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên có thể cao hơn trách nhiêm bảo mật đó
1.2.5 Trách nhiệm của KTV theo chuẩn mực kiểm toán VSA 315
Chuẩn mực này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của KTV là xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn ở cấp
độ BCTC và cấp độ cơ sở dẫn liệu, thông qua hiểu biết về ĐVĐKT và môi trường của đơn vị, trong đó có kiểm soát nội bộ, từ đó cung cấp cơ sở cho việc thiết kế và thực hiện các biện pháp xử lý đối với rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá (đoạn 03)
KTV phải thu thập hiểu biết về khách hàng và môi trường hoạt động để xác định và hiểu các sự kiện, giao dịch và thông lệ kinh doanh của khách hàng có ảnh hưởng trọng yếu tới BCTC, qua đó giúp xác định rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận KTV phải tìm hiểu các thông tin sau:
- Ngành nghề kinh doanh, các quy định pháp lý
- Đặc điểm của đơn vị bao gồm lĩnh vực hoạt động; loại hình sở hữu và
bộ máy quản trị; Các hình thức đầu tư mà đơn vị đang và sẽ tham gia; Cơ cấu
tổ chức, sản xuất kinh doanh và quản lý và cơ cấu nguồn vốn của đơn vị
- Các chính sách kế toán mà đơn vị lựa chọn áp dụng
- Mục tiêu, chiến lược của đơn vị và những rủi ro kinh doanh có liên quan mà có thể dẫn đến rủi ro có sai sót trọng yếu
- Việc đo lường và đánh giá kết quả hoạt động của đơn vị
Chuẩn mực này đưa ra một số phương pháp giúp KTV thu thập những hiểu biết về đơn vị, bao gồm:
- Phỏng vấn BGĐ và các cá nhân khác trong đơn vị mà theo xét đoán của KTV có khả năng cung cấp thông tin hỗ trợ cho việc xác định rủi ro có sai
Trang 36sót trọng yếu do gian lận
- Thực hiện thủ tục phân tích
- Quan sát và điều tra
- Sử dụng các thông tin thu thập được từ kinh nghiệm của các cuộc kiểm toán trước
- Thảo luận giữa các KTV, tận dụng hiểu biết của các KTV có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn lâu năm về khách hàng để đánh giá khả năng BCTC của đơn vị có dễ xảy ra sai sót trọng yếu do gian lận
1.2.6 Trách nhiệm của KTV theo chuẩn mực kiểm toán VSA 330
Chuẩn mực này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của KTV là thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp liên quan đến các rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá, thông qua việc thiết kế và thực hiện các biện pháp xử lý phù hợp đối với các rủi ro Sau khi xác định và đánh giá rủi ro theo VSA 315, tùy theo rủi ro ở cấp độ BCTC hay cơ sở dẫn liệu mà KTV có biện pháp xử lý phù hợp
Biện pháp xử lý tổng thể đối với các rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá ở cấp độ BCTC có thể bao gồm:
- Nhấn mạnh với nhóm kiểm toán về sự cần thiết phải duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp;
- Bổ nhiệm các thành viên nhóm kiểm toán có kinh nghiệm hoặc có kỹ năng chuyên môn đặc biệt, hoặc sử dụng chuyên gia;
Trang 37lịch trình và phạm vi dựa vào kết quả đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu KTV có thể sử dụng thử nghiệm kiểm soát nếu mong đợi rằng các kiểm soát hoạt động hiệu quả, hay thử nghiệm cơ bản đối với từng nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh trọng yếu hoặc phương pháp kết hợp thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản cũng là một phương pháp hữu hiệu
1.2.7 Trách nhiệm của KTV theo chuẩn mực kiểm toán VSA 700
Chuẩn mực kiểm toán này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của KTV và doanh nghiệp kiểm toán trong việc đưa ra ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính Chuẩn mực này cũng quy định hình thức và nội dung của báo cáo kiểm toán được phát hành như là kết quả công việc kiểm toán báo cáo tài chính
Trách nhiệm của KTV đó là đưa ra ý kiến kiểm toán về việc liệu báo
cáo tài chính có được lập phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng, trên các khía cạnh trọng yếu hay không
Để đưa ra ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải kết luận liệu kiểm toán viên đã đạt được sự đảm bảo hợp lý về việc báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không Kết luận đó cần tính đến:
- Kết luận của kiểm toán viên về việc liệu đã thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp hay chưa (theo quy định tại đoạn 26 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 330);
- Kết luận của kiểm toán viên về việc liệu những sai sót không được điều chỉnh, khi xét riêng lẻ hoặc tổng hợp lại, có trọng yếu hay không (theo quy định tại đoạn 11 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 450);
- Những đánh giá được nêu trong các đoạn 12 – 15 Chuẩn mực VSA
700
Trang 38Kiểm toán viên phải đánh giá liệu báo cáo tài chính có được lập phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng, trên các khía cạnh trọng yếu hay không Khi đánh giá, kiểm toán viên đồng thời phải xem xét các khía cạnh định tính của công việc kế toán của đơn vị được kiểm toán, kể cả các dấu hiệu về sự thiên lệch trong xét đoán của Ban Giám đốc
VSA 700 quy định về hình thức báo cáo kiểm toán cho các cuộc kiểm toán được tiến hành theo các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Trong BCKT, phải nêu rõ trách nhiệm của BGĐ với BCTC và trách nhiệm của KTV
Đoạn 26 của chuẩn mực quy định Báo cáo kiểm toán phải mô tả trách nhiệm của Ban Giám đốc trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính, trong
đó giải thích thêm rằng Ban Giám đốc chịu trách nhiệm lập và trình bày báo cáo tài chính theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng, và chịu trách nhiệm về kiểm soát nội bộ mà Ban Giám đốc xác định là cần thiết để đảm bảo cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính không có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc do nhầm lẫn
Trong trường hợp báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý, phần giải thích về trách nhiệm của Ban Giám đốc đối với báo cáo tài chính trong báo cáo kiểm toán phải đề cập đến “trách nhiệm lập và trình bày trung thực và hợp lý báo cáo tài chính của Công ty” (VSA 700, đoạn 27)
Đoạn 30 của chuẩn mực quy định “Báo cáo kiểm toán phải nêu rõ rằng công việc kiểm toán đã được tiến hành theo các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Báo cáo kiểm toán cũng phải giải thích rằng các chuẩn mực đó yêu cầu kiểm toán viên phải tuân thủ chuẩn mực và các quy định về đạo đức nghề nghiệp, phải lập kế hoạch và thực hiện cuộc kiểm toán để đạt được sự đảm bảo hợp lý về việc báo cáo tài chính có còn sai sót trọng yếu hay không”
Báo cáo kiểm toán phải mô tả về cuộc kiểm toán bằng cách nêu rõ:
Trang 39- Công việc kiểm toán bao gồm thực hiện các thủ tục để thu thập các bằng chứng kiểm toán về các số liệu và thuyết minh trên báo cáo tài chính;
- Các thủ tục kiểm toán được lựa chọn dựa trên xét đoán của kiểm toán viên, bao gồm đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính, do gian lận hoặc nhầm lẫn Khi thực hiện đánh giá rủi ro, kiểm toán viên xem xét kiểm soát nội bộ của đơn vị liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính trung thực, hợp lý nhằm thiết kế các thủ tục kiểm toán phù hợp với tình hình thực tế, tuy nhiên không nhằm mục đích đưa ra ý kiến về tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ của đơn vị Trong trường hợp kiểm toán viên cũng có trách nhiệm đưa ra ý kiến về tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ cùng với việc kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên sẽ bỏ đi đoạn nói rằng việc kiểm toán viên xem xét kiểm soát nội bộ không nhằm mục đích đưa ra ý kiến về tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ của đơn vị;
- Công việc kiểm toán cũng bao gồm việc đánh giá tính thích hợp của các chính sách kế toán được áp dụng và tính hợp lý của các ước tính kế toán của Ban Giám đốc cũng như đánh giá việc trình bày tổng thể báo cáo tài chính
Trong trường hợp báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý, phần mô tả về cuộc kiểm toán trong báo cáo kiểm toán phải đề cập đến “trách nhiệm lập và trình bày trung thực và hợp lý các báo cáo tài chính của đơn vị”
Báo cáo kiểm toán phải nêu rõ liệu kiểm toán viên có tin tưởng rằng các bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên đã thu thập được là đầy đủ và thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán hay không
1.3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN
1.3.1 Khái niệm khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
Khái niệm khoảng cách kỳ vọng kiểm toán (audit expectation gap) lần
Trang 40đầu tiên được định nghĩa chính thức bởi Liggio (1974) là mức độ khác nhau giữa kỳ vọng của kiểm toán viên và những người sử dụng báo cáo tài chính đối với kết quả kiểm toán
Theo Guy và Sullivan (1988), có sự khác biệt giữa những gì mà công chúng và những nguời sử dụng BCTC tin tuởng KTV chịu trách nhiệm và những gì mà KTV tin tưởng họ chịu trách nhiệm
Porter (1991) định nghĩa AEG là sự khác biệt giữa những gì mà nguời
sử dụng BCTC mong đợi KTV có thể và nên thực hiện và những gì mà KTV nghĩ họ có thể thực hiện đuợc McEnroe và Martens (2001) miêu tả AEG biểu thị cho sự khác biệt giữa những gì nguời sử dụng BCTC nhận thức như là một phần trong trách nhiệm của KTV và những gì KTV nhận thức đuợc về trách nhiệm của mình Như vậy, công chúng mong đợi KTV phát hiện ra những sai sót và đánh giá thành quả quản trị, trong khi KTV xem xét vai trò của mình nằm ở việc đánh giá tính trung thực của BCTC (Eden và cộng sự, 2003)
Ngày càng có nhiều bằng chứng chứng tỏ có sự hiện diện của khoảng
cách kỳ vọng trong kiểm toán (Godsell 1992), cũng theo Godsell: “khoảng
cách kỳ vọng tồn tại khi giữa kiểm toán viên và công chúng có những hiểu biết khác nhau về nhiệm vụ và trách nhiệm của kiểm toán viên và những thông tin cung cấp từ báo cáo kiểm toán” Tương tự, Guy và Sullivan (1998, theo Mahadesvaswamy và Salehi, 2008) khoảng cách kỳ vọng kiểm toán chính là nhận thức khác nhau về trách nhiệm của kiểm toán viên giữa chính kiểm toán viên đó với công chúng và những người sử dụng báo cáo tài chính
Dù có những sự khác biệt nhỏ trong định nghĩa của các nhà nghiên cứu nhưng tất cả đều khẳng định rằng có tồn tại khoảng cách kỳ vọng bắt nguồn
từ nhận thức khác nhau của công chúng và KTV về trách nhiệm của KTV (Woodliff, 1995; Gramling và cộng sự, 1996; Sikka và cộng sự, 1998; Koh và Woo, 1998; McEnroe và Martens, 2001; Dixon và cộng sự, 2006)