Cần phải nhận thức rằng, nếu các công cụ KTQT trong các DNVVN không được sử dụng phù hợp thì khi các DN này phát triển hơn về kích thước và quy mô trong tương lai thì việc sử dụng các cô
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐOÀN NGỌC PHI ANH
Ðà Nẵng – Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỨC ĐỘ VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ (KTQT) 7
1.1.1 Định nghĩa và sự phát triển của KTQT 7
1.1.2 Vai trò của KTQT trong Doanh nghiệp 10
1.1.3 KTQT và lý thuyết ngữ cảnh (contingent theory) 10
1.2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ KTQT 11
1.2.1 Công cụ KTQT được sử dụng 11
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng KTQT 15
1.3 KTQT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 19
1.4 KTQT Ở VIỆT NAM 21
1.4.1 Nghiên cứu KTQT ở Việt Nam 21
1.4.2 Những tồn tại trong nghiên cứu về KTQT ở Việt Nam 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 24
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC DNVVN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 24
2.1.1 Định nghĩa DNVVN 24
2.1.2 Tổng quan về DNVVN và lĩnh vực hoạt động 25
Trang 52.1.3 Tầm quan trọng của DNVVN 27
2.2 XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ VẬN DỤNG KTQT TRONG DNVVN TRÊN ĐỊA BÀN ĐÀ NẴNG 29
2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 29
2.2.2 Xây dựng giải thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu 30
2.3 ĐO LƯỜNG CÁC NHÂN TỐ 35
2.3.1 Sự vận dụng các công cụ KTQT 35
2.3.2 Quy mô DN 36
2.3.3 Lĩnh vực hoạt động 36
2.3.4 Cạnh tranh 36
2.3.5 Phân cấp quản lý 37
2.3.6 Trình độ của các đối tượng có liên quan đến hoạt động KTQT 37
2.3.7 Ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành quản lý 37
2.4 NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 38
2.4.1 Thảo luận nhóm 38
2.4.2 Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát 38
2.5 NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 38
2.5.1 Thu thập dữ liệu 38
2.5.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 45
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
3.1 PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ KẾT QUẢ KHẢO SÁT 46
3.1.1 Tỷ lệ sử dụng các công cụ KTQT 46
3.1.2 Mức độ vận dụng các công cụ KTQT 48
3.2 KIỂM ĐỊNH ĐỘ TIN CẬY CỦA THANG ĐO 68
3.2.1 Thang đo cạnh tranh 69
3.2.2 Thang đo phân cấp quản lý 70
Trang 63.2.3 Thang đo trình độ của các đối tượng có liên quan đến hoạt động
KTQT 71
3.2.4 Thang đo ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành72 3.3 PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ (EFA) 72
3.4 PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN 76
3.5 PHÂN TÍCH HỒI QUY BỘI 77
3.5.1 Xây dựng mô hình hồi quy bội 77
3.5.2 Kết quả ước lượng 79
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 91
CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ 92
4.1 TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 92
4.1.1 Những công cụ KTQT nào được sử dụng? Mức độ vận dụng các công cụ KTQT trong các DNVVN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng như thế nào? 92
4.1.2 Những nhân tố tác động đến mức độ vận dụng các công cụ KTQT 92 4.2 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 97
4.2.1 Kết luận 97
4.2.2 Hàm ý chính sách 98
4.3 ĐÓNG GÓP CỦA NGHIÊN CỨU, HẠN CHẾ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI 99
4.3.1 Đóng góp của nghiên cứu 99
4.3.2 Hạn chế và phương hướng phát triển đề tài 99
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
KTQT trong các nghiên cứu trước đây
14
dụng KTQT trong các nghiên cứu trước đây
18
56/2009/NĐ-CP
25
vực hoạt động năm 2012
26
quy mô DN
56
Trang 9Số hiệu bảng Tên bảng Trang
thang đo cạnh tranh
69
thang đo phân cấp quản lý
70
thang đo trình độ các đối tượng có liên quan đến hoạt động KTQT
71
Trang 10Số hiệu bảng Tên bảng Trang
thang đo ứng dụng công nghệ thông tin trong quản
lý điều hành
72
độ vận dụng kế toán quản trị trong DNNVV ở Đà Nẵng
73
độ vận dụng kế toán quản trị trong DNNVV ở Đà Nẵng
74
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, kế toán quản trị (KTQT) là công cụ hỗ trợ đắc lực cho nhà quản trị quản lý, điều hành hoạt động doanh nghiệp không còn là vấn đề tranh luận Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu viết về các Doanh nghiệp (DN) nhỏ và đặc biệt là việc phá sản của những DN này Richard (2000) cho rằng, có nhiều lý do làm cho các DN mới thành lập bị phá sản, bao gồm việc thiếu vốn lưu động, yếu kém trong lựa chọn thị trường, sự thay đổi nhanh chóng của thị trường Tuy nhiên, lý do quan trọng nhất làm cho tỷ lệ phá sản của những DN này ngày càng gia tăng là sự bất lực trong việc quản lý các hoạt động kinh doanh cần thiết Nhiều DN đã thất bại ngay trong việc xây dựng kế hoạch ban đầu và sau đó cứ phát triển kế hoạch đó như là một công cụ chuẩn Tương tự như vậy, Wichmann (1983) cho rằng một trong những lý do dẫn đến thất bại trong kinh doanh là khả năng quản lý yếu kém trong đó bao gồm cả giải quyết vấn đề liên quan đến kế toán Hơn nữa, Hopper và cộng sự (1999) thông qua kết quả khảo sát ở Nhật Bản cho rằng, sự thất bại trong việc vận dụng hệ thống KTQT chi phí là nhân tố dẫn đến tỷ lệ phá sản ngày càng tăng ở các Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN)
Từ đó ta thấy rằng, KTQT đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý các DNVVN nếu nó muốn tồn tại
Trong những năm gần đây, kế toán Việt Nam đã có những bước chuyển biến và thay đổi sâu sắc Hệ thống kế toán doanh nghiệp không còn duy nhất một bộ phận kế toán tài chính (KTTC) mà bao gồm cả bộ phận KTTC và bộ phận KTQT KTQT đang ở trong thời kỳ phát triển để đáp ứng với những thay đổi về kỹ thuật, toàn cầu hoá và những mối quan tâm ngày càng tăng đối với việc quản trị rủi ro Tuy nhiên, trong thực tiễn ở Việt Nam, các DN nói chung và các DNVVN nói riêng, việc áp dụng KTQT và vai trò của KTQT
Trang 12còn chưa phổ biến và phát triển
DNVVN nhỏ chiếm tỷ trọng lớn và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam và KTQT đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng của việc lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định Tuy nhiên, sự đóng góp của KTQT trong DNVVN chưa nhiều Cần phải nhận thức rằng, nếu các công cụ KTQT trong các DNVVN không được sử dụng phù hợp thì khi các
DN này phát triển hơn về kích thước và quy mô trong tương lai thì việc sử dụng các công cụ KTQT có thể không mang lại hiệu quả tốt nhất để đạt được mục tiêu của DN
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu thực trạng vận dụng KTQT trong các DNVVN là rất hạn chế Chính điều này đã thúc đẩy tôi thực hiện đề tài
“Nghiên cứu mức độ vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp vừa
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu:
- Khảo sát mức độ vận dụng KTQT trong các DNVVN trên địa bàn Đà Nẵng
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng KTQT trong các DNVVN ở Đà Nẵng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Mức độ vận dụng KTQT trong các DNVVN trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Phương pháp định tính được sử dụng trong giai đoạn xây dựng bảng câu hỏi Phương pháp định lượng được sử dụng thông qua bảng câu hỏi thu
Trang 13thập thông tin, dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 và Excel Thang đo được xây dựng dựa trên phương pháp đánh giá với hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích thống kê mô tả và sử dụng hồi quy bội để kiểm định sự phù hợp của mô hình lý thuyết đã xây dựng
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, đề tài gồm có 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về mức độ vận dụng Kế toán quản trị trong Doanh nghiệp
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Catapan và cộng sự (2012) nghiên cứu việc áp dụng các công cụ KTQT trong 14 DNVVN kinh doanh trong ngành vật liệu xây dựng ở miền Nam Brazil Các công cụ được đưa vào khảo sát được chia làm 4 nhóm gồm: dự toán (Budget), lưu chuyển tiền tệ (Cash Flow), phân tích cân bằng (Balance Analysis), hệ thống thông tin kế toán (Accounting Information System) Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ có 37,73% số công ty khảo sát có hệ thống kế toán trong DN, trong số đó 35,72% số công ty được khảo sát sử dụng công cụ
dự toán và 64,28% sử dụng công cụ lưu chuyển tiền tệ
Một nghiên cứu khác của Michael Lucas và cộng sự (2013) về việc áp dụng các công cụ KTQT trong DNVVN ở Anh đã đưa các công cụ KTQT được chấp nhận trong các giáo trình và các bài giảng kế toán chuyên nghiệp
để khảo sát Kết quả khảo sát cho thấy, 3 công cụ KTQT được sử dụng ở tất
cả các DNVVN bao gồm: phân tích chi phí/lợi nhuận của sản phẩm, dịch vụ (Product or service costs for pricing and/or profitability analysis); đo lường vốn lưu động (Working capital measures); phân tích hòa vốn (Break-even
Trang 14analysis) Kết quả này mâu thuẫn với những nghiên cứu trước đây rằng, DNVVN thường có hạn chế kiến thức về chi phí dẫn đến những quyết định sai lầm về giá cả, và những DN nhỏ thường thất bại trong việc quản lý vốn lưu động và lưu chuyển dòng tiền Các công cụ khác như lập dự toán, phân tích chi phí-sản lượng-lợi nhuận, kế toán trách nhiệm thì được áp dụng ở tất
cả các DN vừa được khảo sát, các DN nhỏ thì chỉ một số các DN sử dụng Các công cụ bao gồm chi phí định mức và phân tích chênh lệch so với chi phí định mức, phân bổ chi phí, KTQT chiến lược, kỷ thuật thẩm định chi phí vốn, công cụ đối phó rủi ro chỉ được một số ít các DN vận dụng Nghiên cứu còn chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng KTQT ở DNVVN ở Anh
là quy mô DN, sự ràng buộc về tài chính, yêu cầu của các bên liên quan, trình
độ của nhà quản lý và lĩnh vực kinh doanh
Howard và Alan Webb (2013) nghiên cứu việc áp dụng 19 công cụ KTQT (gồm cả công cụ KTQT hiện đại và công cụ KTQT truyền thống) ở các DNVVN của Canada Các công cụ này được chia thành 4 nhóm dựa trên chức năng gồm: hệ thống tính giá, dự toán, báo cáo trung tâm trách nhiệm, phân tích hỗ trợ việc ra quyết định Kết quả phỏng vấn sâu từ 11 nhà quản lý cho thấy, các DN chỉ sử dụng một tỷ lệ nhỏ các công cụ trong số các công cụ được khảo sát Các DN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất sử dụng các công
cụ của hệ thống tính giá và báo cáo trung tâm trách nhiệm nhiều hơn các DN hoạt động trong các lĩnh vực khác Kết quả này được trao đổi với các chuyên gia giảng dạy trong lĩnh vực KTQT để phát triển chương trình đào tạo chuyên nghiệp về KTQT
Tương tự, Kamilah Ahmad (2012) cũng tiến hành nghiên cứu việc áp dụng trong các DNVVN trong lĩnh vực sản xuất ở Malaysia Ông sử dụng danh mục các công cụ KTQT được đưa ra bởi Chenhall và Langfield-Smith Kết quả nghiên cứu từ 160 DN cho thấy tỷ lệ áp dụng các công cụ KTQT
Trang 15truyền thống cao hơn so với các công cụ KTQT hiện đại Đặc biệt là các công
cụ KTQT liên quan đến việc tính giá, lập dự toán và hệ thống đánh giá thành quả được sử dụng rộng rãi hơn hệ thống hỗ trợ ra quyết định và KTQT chiến lược Các DN vừa có xu hướng sử dụng các công cụ liên quan đến hỗ trợ ra quyết định và KTQT chiến lược nhiều hơn các DN nhỏ Kết quả cũng cho thấy rằng, nghiên cứu việc áp dụng các công cụ KTQT có vai trò quan trọng trong việc đánh giá thành quả hoạt động và hoạt động kiểm soát trong việc quản lý ở DNVVN Nghiên cứu cũng cho thấy rằng, 4 nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng KTQT ở DNVVN ở Malaysia gồm: quy mô DN, mức cạnh tranh trên thị trường, sự tham gia của nhà quản lý, và công nghệ sản xuất tiên tiến Tuy nhiên, kết quả cho thấy giữa việc áp dụng các công cụ KTQT và thành quả của DN không có mối quan hệ nhiều giữa chúng
Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các Doanh nghiệp Việt Nam Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các công cụ KTQT truyền thống được áp dụng nhiều hơn các công
cụ KTQT hiện đại, cụ thể là dự toán doanh thu, dự toán lợi nhuận, dự toán sản xuất, tính giá theo phương pháp toàn bộ có tỷ lệ áp dụng khá cao so với các công cụ liên quan đến chức năng chiến lược, đánh giá thành quả Nghiên cứu cũng đánh giá lợi ích có được từ việc sử dụng KTQT là vừa phải, cụ thể là với thang điểm từ 1 đến 5, nhận thức về lợi ích ròng của việc vận dụng KTQT có điểm số trung bình là 3.62, kết quả cũng cho thấy rằng công cụ KTQT truyền thống được cho là mang lại lợi ích hơn so với công cụ KTQT hiện đại Nghiên cứu cũng đưa ra các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT ở trên bao gồm các nhân tố mang đặc tính của DN như hình thức sở hữu của DN, quy mô DN, thời gian hoạt động, định hướng thị trường, lĩnh vực hoạt động,
và nhân tố ngữ cảnh như nhân tố cạnh tranh, phân cấp quản lý Ngoài ra, nghiên cứu đã kết luận rằng, khi DN sử dụng càng nhiều KTQT thì thành quả
Trang 16của DN càng lớn, các nhà quản trị DN cần đẩy mạnh việc phân cấp quản lý, tạo điều kiện cho các công cụ KTQT được sử dụng rộng rãi, đồng thời cần khuyến khích đơn vị mình sử dụng KTQT nhiều hơn để góp phần nâng cao thành quả hoạt động của DN
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỨC ĐỘ VẬN DỤNG
KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ (KTQT)
1.1.1 Định nghĩa và sự phát triển của KTQT
Kế toán quản trị (KTQT) là quá trình xác định, ghi nhận, xử lý, tổng hợp, phân tích thông tin kế toán nhằm trợ giúp các nhà quản trị trong việc ra quyết định, nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức (Horngren, 1996) Theo Chenhall (2003), các thuật ngữ KTQT, hệ thống KTQT, kiểm soát quản lý, kiểm soát tổ chức có thể được sử dụng để thay thế nhau Ông nhấn mạnh rằng: “KTQT đề cập đến các công cụ như dự toán, tính giá thành sản phẩm, trong khi hệ thống KTQT đề cập đến việc sử dụng KTQT một cách có hệ thống để đạt được những mục tiêu nhất định” (Chenhall, 2003, tr.129) Dearden (1988) cho rằng KTQT có 4 chức năng: kiểm soát, hỗ trợ ra quyết định, đo lường sự thay đổi
và thiết lập mục tiêu
Theo luật kế toán Việt Nam thì “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích
và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” [40, tr.9]
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về hệ thống KTQT, nhưng các định nghĩa này đều có điểm chung là hệ thống KTQT tạo ra thông tin trợ giúp nhà quản trị trong việc lập dự toán, phối hợp hoạt động, giám sát, và đánh giá thành quả hoạt động của từng bộ phận cũng như toàn đơn vị (MacDonald, 1999)
Theo IPAC (1988, tr 84), sự phát triển của KTQT đã trải qua 4 giai đoạn, từ trước năm 1950 đến năm 1995, cụ thể như sau:
Giai đoạn 1: Trước năm 1950: KTQT tập trung vào việc xác định chi phí
Trang 18Giai đoạn 2: Từ 1950 – 1965: KTQT chuyển sang tập trung vào việc cung cấp thông tin cho hoạch định và kiểm soát quản lý thông qua việc sử dụng các kỷ thuật phân tích quyết định và kế toán trách nhiệm
Giai đoạn 3: Từ 1965 – 1985: KTQT quan tâm đến việc giảm sự lãng phí các nguồn lực trong quá trình kinh doanh thông qua việc phân tích quy trình
và tái cấu trúc hệ thống
Giai đoạn 4: Từ 1985 – 1995: KTQT tập trung vào việc tạo thêm giá trị thông qua việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đã sử dụng công nghệ thông tin và tài nguyên trí thức để kiểm tra các tiêu thức về giá trị khách hàng, giá trị cổ đông và đổi mới tổ chức
Bảng 1.1 Sự phát triển của kế toán quản trị
(Ngu ồn: IFAC, 1998, tr 85)
Trang 19Từ những năm 1995 đến nay, KTQT là một bộ phận cấu thành quá trình quản lý, hướng đến mục tiêu tạo ra giá trị cho các bên liên quan và sự thay đổi của tổ chức thông qua việc sử dụng các kỹ thuật đánh giá các yếu tố tạo nên giá trị và xây dựng chiến lược phát triển bền vững
Như vậy, KTQT đã phát triển qua từng giai đoạn để thích ứng với môi trường mới, phù hợp với mục tiêu của DN Do đó, DN phải định hình lại, tái cấu trúc các công cụ và kỹ thuật phù hợp để duy trì sự cạnh tranh trên thị trường
Về phương diện các công cụ KTQT được áp dụng, Kaplan (1984) cho rằng, mặc dù có sự thay đổi lớn trong cơ cấu của các tổ chức cũng như mức
độ cạnh tranh từ 1925 đến giữa thập niên 1980, nhưng có ít sự thay đổi của các công cụ KTQT trong thời gian này về mặt phát triển những công cụ KTQT mới cũng như việc áp dụng các công cụ KTQT hiện có
Từ giữa những năm 80, nhiều công cụ KTQT mới được giới thiệu và được vận dụng cho quản trị DN để thích ứng với sự gia tăng của cạnh tranh trên toàn cầu như tính giá dựa trên hoạt động, dự toán dựa trên hoạt động, thẻ cân bằng điểm… Chenhall và Langfield-Smith (1988) chia các công cụ KTQT thành hai nhóm: các công cụ KTQT truyền thống và các công cụ KTQT hiện đại Ông nhận định rằng các công cụ KTQT truyền thống đặt trọng tâm vào nội tại (internal) và dựa trên các thông tin tài chính, các công
cụ KTQT hiện đại lại đặt trọng tâm vào vấn đề chiến lược của DN và dựa trên
cả thông tin tài chính và phi tài chính, cả quá khứ và định hướng tương lai, và những thông tin này có được từ cả bên trong và bên ngoài Doanh nghiệp Sulaiman và cộng sự (2004) cũng phân KTQT ra làm 2 loại: truyền thống và hiện đại Các công cụ KTQT truyền thống gồm tính giá tiêu chuẩn, phân tích mối quan hệ chi phí-sản lượng-lợi nhuận, ROI, dự toán… Các công cụ KTQT hiện đại như quản trị chất lượng toàn diện, tính giá dựa trên hoạt động, chi phí
Trang 20mục tiêu, thể điểm cân bằng… Cũng đồng với quan điểm này, Hyvonen (2005) xem KTQT truyền thống gồm hệ thống dự toán phục vụ cho lập kế hoạch, kiểm soát và đánh giá thành quả, trong khi đó các công cụ như kỹ thuật dựa trên hoạt động, đo lường thành quả dựa trên sự cân đối, dựa trên nhân viên, hoặc liên quan đến hoạch định chiến lược được xem là các công cụ KTQT hiện đại
1.1.2 Vai trò của KTQT trong Doanh nghiệp
Một số nghiên cứu đã nói lên rằng vai trò của KTQT đã có những thay đổi quan trọng Siegel và Sorensen (1999) cho rằng, vai trò của KTQT đã thay đổi với tốc độ nhanh hơn giữa những năm 1995 và 1999 so với khoản thời gian 5 năm, và ông cũng cho rằng tốc độ này sẽ còn tiếp tục tăng trong 3 năm tiếp theo Tương tự, Burns (1999) chỉ ra rằng, trong một số doanh nghiệp, kế toán đang dần thay đổi chức danh công việc của họ, trở thành “nhà phân tích kinh doanh” thay vì “kiểm soát công ty” Sự thay đổi trong vai trò của KTQT cũng được xác định bởi một số nghiên cứu của Russel (1999), Zarowin (1997), Lobo (2004) được thể hiện như sau:
- Phân tích kinh doanh
- Hoạch định chiến lược
- Tư vấn cho nội bộ DN hoặc đối tác
- Cung cấp thông tin
- Chức năng lãnh đạo nhóm
- Thiết kế và quản lý hệ thống thông tin
- Đào tạo và hướng dẫn
…
1.1.3 KTQT và lý thuyết ngữ cảnh (contingent theory)
Lý thuyết ngữ cảnh về KTQT cho rằng “không có một hệ thống kế toán thống nhất nào có thể áp dụng cho tất cả các DN trong mọi ngữ cảnh” (Otley,
Trang 211980) Hay nói cách khác, một hệ thống KTQT thích hợp với DN lệ thuộc vào đặc điểm của DN đó, cũng như ngữ cảnh mà DN đó hoạt động
Các nghiên cứu dựa trên lý thuyết ngữ cảnh xem xét các công cụ KTQT vừa là biến độc lập, vừa là biến phụ thuộc Khi xem KTQT là biến phụ thuộc, một vài nghiên cứu sử dụng lý thuyết này để kiểm chứng mối quan hệ giữa việc sử dụng các công cụ KTQT và các nhân tố ngữ cảnh ảnh hưởng đến DN Những nhân tố này bao gồm: môi trường hoạt động, cấu trúc DN, công nghệ, quy mô DN và chiến lược Khi xem KTQT là biến độc lập, một số nghiên cứu
đã kiểm chứng mối quan hệ giữa việc sử dụng KTQT với thành quả của việc
a Công cụ KTQT được sử dụng ở các nước phát triển
Tại Anh, Drury và cộng sự (1993) nghiên cứu việc áp dụng các công cụ KTQT ở 303 Công ty sản xuất và phát hiện rằng, có rất nhiều các công cụ KTQT được sử dụng Mặc dù đã có nhiều sự điều chỉnh để phù hợp với lý thuyết, nhưng đó cũng là bằng chứng chứng minh sự phù hợp giữa lý thuyết
và thực tiễn về việc vận dụng các công cụ KTQT
Chenhall và Langfield-Smith (1998) nghiên cứu việc áp dụng 42 công cụ KTQT (gồm cả công cụ KTQT hiện đại và công cụ KTQT truyền thống) trong các công ty của Úc, các công cụ này được chia thành 5 nhóm dựa trên chức năng của KTQT gồm dự toán tài chính, dự toán hoạt động, tính giá, đánh giá thành quả, hỗ trợ ra quyết định Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các công cụ này được sử dụng trong các công ty được khảo sát, tuy nhiên tỷ lệ
Trang 22áp dụng các công cụ KTQT truyền thống cao hơn so với các công cụ KTQT hiện đại, nhiều công ty cũng đang định hướng áp dụng một số công cụ mới trong tương lai gần, nhất là các công cụ KTQT dựa trên hoạt động và chuẩn
so sánh Thêm vào đó, những công cụ liên quan đến thông tin phi tài chính cũng được sử dụng rộng rãi trong các DN nghiên cứu tại Úc
Trong một nghiên cứu gần đây của Hyvonen (2005) được thực hiện ở Phần Lan Tác giả đã tìm thấy rằng, phần lớn các công cụ KTQT được sử dụng ở Phần Lan và 3 công cụ KTQT truyền thống được xem là hữu ích cao nhất là lợi nhuận bộ phận trong việc đánh giá thành quả, dự toán cho việc kiểm soát chi phí và tính giá theo phương pháp trực tiếp, những công cụ này
sẽ được tiếp tục sử dụng trong tương lai Nghiên cứu cũng cho rằng, trong tương lai cần đưa các công cụ phi tài chính để khảo sát sự hài lòng của khách hàng và thái độ của nhân viên
Trong một khảo sát khác, Abdel-Kader và Luther (2006) nghiên cứu việc vận dụng 38 công cụ KTQT vào các DN trong ngành công nghiệp và nước giải khát ở Anh Các công cụ này được chia thành 5 nhóm gồm tính giá, dự toán, đánh giá thành quả, thông tin cho việc ra quyết định và phân tích chiến lược Kết quả khảo sát từ 122 DN cho thấy các công cụ KTQT truyền thống được sử dụng nhiều hơn so với các công cụ KTQT hiện đại như là phương pháp tính giá trực tiếp được sử dụng nhiều hơn phương pháp ABC, việc lập
dự toán theo phương pháp truyền thống và phân tích lợi nhuận sản phẩm được
sử dụng phổ biến Ngược lại, các công cụ KTQT hiện đại như thẻ điểm cân bằng, đo lường dựa trên thành quả tài chính được cho là rất quan trọng nhưng chỉ có 40% số DN khảo sát áp dụng và hơn 50% số DN được khảo sát sử dụng quản trị lợi nhuận theo khách hàng
Một số nghiên cứu khác ở châu Âu trong việc áp dụng các công cụ KTQT như là Anderson và Rohde (1994); Laitinen (1995); Israelsen và cộng
Trang 23sự (1996); Bruggeman và cộng sự (1996); Pierce và O'Dea (1998); Szychta (2004); và Hyvonen (2005) Những nghiên cứu này đã chỉ ra một loạt các công cụ KTQT được vận dụng như tính giá, lập kế hoạch, đo lường đánh giá thành quả hoạt động và hỗ trợ ra quyết định Ví dụ như Bruggeman và cộng
sự (1996) đã điều tra việc sử dụng các công cụ KTQT trong các công ty của
Bỉ, nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các công cụ KTQT truyền thống vẫn được sử dụng mặc dù công ty đã bắt đầu áp dụng các công cụ KTQT hiện đại như là phương pháp tính giá ABC
b Công cụ KTQT được sử dụng ở các nước đang phát triển
Joshi (2001) nghiên cứu các công cụ KTQT trong 60 DN vừa và lớn ở
Ấn Độ Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ áp dụng các công cụ KTQT truyền thống cao hơn so với các công cụ KTQT hiện đại Các công cụ liên quan đến việc lập dự phòng theo cách truyền thống và hệ thống đánh giá thành quả được áp dụng rộng rãi, trong khi đó các công cụ KTQT hiện đại được áp dụng với tỷ lệ khá thấp và tỷ lệ áp dụng tăng lên khá chậm
El-Ebaishi và cộng sự (2003) tiến hành khảo sát thực trạng áp dụng KTQT ở 121 DN vừa và lớn ở Saudi 15 công cụ được đưa vào khảo sát gồm phân bổ chi phí bộ phận, phân bổ chi phí sản xuất chung, chi phí tiêu chuẩn,
dự toán sản xuất, dự toán vốn bằng tiền, dự toán doanh thu, dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung, dự toán vốn, chu kỳ sống sản phẩm, quản trị hàng tồn kho kịp thời, tính giá dựa trên hoạt động và sử dụng các công cụ dự toán hồi quy Kết quả khảo sát cho thấy các DN cho rằng các công cụ KTQT truyền thống được xem là hữu dụng và quan trọng đối với DN, các công cụ KTQT hiện đại như ABC chỉ được áp dụng trong một số DN
Một khảo sát khác, Wu và cộng sự (2007) tiến hành khảo sát ở 64 DN liên doanh và 115 DN nhà nước ở Trung Quốc Kết quả cho thấy, các DN
Trang 24Trung Quốc chủ yếu sử dụng các công cụ KTQT truyền thống Cụ thể, các nhà quản trị DN nhà nước cho rằng họ sẽ tập trung vào các công cụ KTQT truyền thống, ngược lại các nhà quản trị DN liên doanh có xu hướng sử dụng công cụ KTQT hiện đại
Bảng 1.2 Tóm lược các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng KTQT
trong các nghiên cứu trước đây
Thời gian hoạt động của
DN
Tính từ khi DN thành lập đến thời điểm nghiên cứu
O’Connor (2004)
Thấp, trung bình, cao Laitinen (2001)
Sử dụng thang đo Likert Libby và Waterhouse (1996),
Luther và Longden (2001), Williams (2001), O’Connor (2004) Cạnh tranh
% doanh thu của đối tác Firth (1996)
Số lượng nhân viên Libby và Waterhouse (1996),
O’Connor (2004), Williams (2001), Hoque và Jame (2000)
Tổng tài sản Firth (1996), Joshhi (2001),
El-Ebaishi (2003), Hoque và Jame (2000)
Quy mô DN
Phân cấp quản lý Sử dụng thang đo Like Gordon và Nayananan (1984), Chia
(1995) Năng lực học tập của DN Sử dụng thang đo Like Libby (1996), Williams (2001)
Trang 25- Quy mô DN
Quy mô DN được hiểu là số lượng nhân viên làm việc trong DN hay tổng tài sản mà DN sử dụng hay tổng doanh thu mà DN đạt được Quy mô của DN có thể tác động đến thiết kế của tổ chức cũng như hệ thống quản lý của DN Các DN có quy mô lớn thường có nhiều tiềm lực tài chính để điều chỉnh, nâng cấp, thay thế hệ thống hiện tại nhưng cũng có thể tạo ra sự quan liêu, là lực cản để DN thay đổi hệ thống KTQT của mình Do đó, mối quan hệ giữa quy mô DN và sự thay đổi hay vận dụng KTQT là không chắc chắn Abdel-Kader và Luther (2008) tìm thấy rằng các DN có quy mô lớn ở Anh áp dụng nhiều các công cụ KTQT phức tạp hơn so với các DN có quy mô nhỏ hơn Ngược lại, Williams và Seaman (2001) tìm thấy sự thay đổi của hệ thống KTQT xảy ra nhiều hơn ở các DN có quy mô nhỏ chứ không phải trong các
DN có quy mô lớn
- Phân cấp quản lý trong DN
Phân cấp quản lý đề cập đến mức độ tự chủ của nhà quản trị các cấp,
Trang 26cung cấp cho nhà quản trị các cấp trách nhiệm lớn hơn trong việc hoạch định
và các hoạt động kiểm soát cũng như khả năng tiếp cận các nguồn thông tin của tổ chức Williams và Seaman (2001) cho rằng, giữa quản lý tập trung và
sự thay đổi của hệ thống KTQT có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau Ngược lại, Soobaroyen và Poorundersing (2008) lại cho rằng có mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa phân cấp quản lý và việc áp dụng hệ thống KTQT Trong khi đó, Libby và Waterhouse (1996), Chenhall và Morris (1986) lại cho rằng không
có sự tác động của phân cấp quản lý lên sự thay đổi của KTQT
- Năng lực học tập của DN
Libby và Waterhouse (1996) đo lường năng lực học tập thông qua số lượng hệ thống KTQT tồn tại trong DN Họ tìm thấy mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa năng lực của một tổ chức với sự thay đổi của hệ thống KTQT Sử dụng cách tiếp cận tương tự, Williams và Seaman (2001), Hoque (2008) tìm thấy năng lực của tổ chức là nhân tố quan trọng tác động đến sự thay đổi các hệ thống KTQT Singapore và Australia
- Hình thức sở hữu
Nghiên cứu tình huống tại công ty thuốc lá ở Tây Ban Nha, Macias (2002) cho rằng hệ thống KTQT có sự thay đổi lớn từ khi công ty chuyển từ
sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân Quá trình tư nhân hóa tạo động lực cho
sự phát triển của các công cụ kiểm soát mới cũng như mục đích kiểm soát, đặc biệt liên quan đến lợi nhuận và hiệu quả Và nhu cầu thông tin cho môi trường mới dẫn đến sự thay đổi trong các hệ thống KTQT
b Các nhân t ố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng KTQT ở các nước đang phát triển
- Cạnh tranh
Firth (1996) tìm thấy tỷ lệ áp dụng các công cụ KTQT ở các DN Trung Quốc tăng lên cùng với sự tăng lên của mức độ cạnh tranh Waweru và cộng
Trang 27sự (2004) cũng tìm thấy sự gia tăng toàn cầu là nhân tố chủ yếu dẫn đến sự thay đổi của KTQT ở các DN Nam Phi Tuy nhiên, O’Connor và cộng sự (2004) không tìm thấy mối liên hệ nào giữa cạnh tranh và việc vận dụng KTQT ở DN được khảo sát
- Quy mô DN
Ở các nước đang phát triển, quy mô DN được đo lường thông qua tổng doanh thu hoặc số lượng nhân viên Firth (1996); El-Ebaishi và cộng sự (2003) cho rằng quy mô DN có quan hệ tỷ lệ thuận với việc sử dụng các công
cụ KTQT khác nhau Mặt khác, nghiên cứu của Joshi (2001) ở Ấn Độ chỉ ra rằng các DN có quy mô lớn thường có xu hướng sử dụng nhiều các công cụ KTQT hiện đại hơn so với các DN nhỏ Nghiên cứu của O’Connor và cộng sự (2004) cũng cho kết quả tương tự
- Hình thức sở hữu
Firth (1996) thực hiện khảo sát sự khuếch tán của KTQT trong các DN ở Trung Quốc cho rằng, các DN có hợp tác liên doanh với các đối tác nước ngoài sử dụng nhiều công cụ KTQT hơn so với các DN trong nước Các nghiên cứu khác của O’Connor và cộng sự (2004), Wu và cộng sự (2007) tìm thấy rằng các DN nhà nước có hợp tác liên doanh sử dụng nhiều công cụ KTQT hơn các DN nhà nước không có liên doanh, các DN liên doanh vận dụng nhiều công cụ KTQT hơn các DN nhà nước
- Giáo dục
O’Connor và cộng sự (2004) cho rằng việc vận dụng KTQT lệ thuộc vào vấn đề đào tạo Các tác giả đo lường nhân tố giáo dục trên 5 khía cạnh: đào tạo theo dạng vừa học vừa làm bởi nhà quản trị DN, đào tạo từ các trường địa phương, đào tạo được cung cấp bởi các chương trình của Chính phủ, đào tạo qua trao đổi với nhà quản trị có kinh nghiệm và đào tạo ở nước ngoài Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ sử dụng KTQT tăng lên với mức độ đào tạo mà
Trang 28nhân viên được nhận
- Thời gian hoạt động của DN
Thời gian hoạt động của DN được tính từ khi DN thành lập đến thời điểm nghiên cứu O’Connor và cộng sự (2004) cho rằng các công cụ cần thời gian để vận dụng, nhưng ngược lại, thời gian hoạt động có thể là rào cản cho việc sử dụng những công cụ KTQT mới vì không muốn sự thay đổi Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của họ cho thấy các DN có thời gian hoạt động càng lâu sử dụng càng nhiều KTQT
Bảng 1.3 mô tả xu hướng tác động của các nhân tố đên việc vận dụng KTQT trong các nghiên cứu trước đây ở các nước trên thế giới, và kết quả nghiên cứu là không hoàn toàn giống nhau trong các ngữ cảnh khác nhau
Bảng 1.3 Tóm lược ảnh hưởng của các nhân tố đến việc sử dụng KTQT
trong các nghiên cứu trước đây
Nghiên cứu tại
Arabia Trung Quốc Malaysia
Nhân tố
Chenhall
và Morris (1986)
Mia và Clarke (1999)
Libby và Waterhouse (1996)
William và Seaman (2001)
Ebaishi (2003)
El-Firth (1996)
O’Conn (2004) Thời gian hoạt
động của DN
Chú thích: “+”: tỷ lệ thuận, “-”: tỷ lệ nghịch, “N.S”: không có ý nghĩa thống kế, “n.a”: không có trong nghiên cứu
(Ngu ồn: trích từ Bảng 1-2, Đoàn Ngọc Phi Anh, 2012)
Trang 291.3 KTQT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) thường chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số các DN của một quốc gia, đóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế của mỗi nước Tuy nhiên, có rất ít các nghiên cứu về KTQT cũng như việc vận dụng các công cụ KTQT trong các DN này
Tại Anh, Drury và cộng sự (1993) cho rằng, các DN nhỏ thường sử dụng các công cụ đơn giản như tính giá dựa trên hoạt động, phân tích độ nhạy, nghiên cứu thị trường nhưng các công cụ hiện đại trong các DN nhỏ thường
bị giới hạn hơn các DN lớn Tương tự, Gunasekaran và cộng sự (1999) cho rằng, các DNVVN ở Anh rất ít quan tâm đến công cụ tính giá dựa trên hoạt động mặc dù nó có vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các DN này Tiếp đó, Reid và Smith (2002) chỉ ra rằng, khoảng một phần ba các DN nhỏ có lập dự toán, đo lường tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI), đây là công cụ sử dụng nhiều nhất Hệ thống KTQT trong các DN nhỏ có ảnh hưởng đáng kể đển hoạt động và thành quả của những DN này McChlery và cộng sự (2004) nghiên cứu về mức độ vận dụng hệ thống tài chính (bao gồm
cả KTTC và KTQT) trong các DN nhỏ Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mức độ sử dụng KTQT không bằng KTTC và ngày càng có xu hướng giảm dần Kết quả cũng cho thấy rằng, các DN nhỏ hầu như không hài lòng với hệ thống KTQT
mà họ đang áp dụng Nhìn chung ở Anh, KTTC được sử dụng rộng rãi trong khi các công cụ mới được đánh giá là ít quan trọng và ít được vận dụng hơn Tại Mỹ, Demong và Croll (1981) kết luận rằng, hầu hết các DN nhỏ ở
Mỹ đều không có hệ thống KTQT chi phí mặc dù nó là công cụ hữu ích đối với nhà quản lý Tác giả chỉ ra rằng các DN nhỏ chỉ cần một số dự toán cơ bản và số liệu về giá để hỗ trợ trong việc ra quyết định về giá, các DN lớn sẽ cần một hệ thống kế toán chi phí tinh vi để hỗ trợ họ trong việc đưa ra quyết định về giá Mclntyre và Icerman (1985) nghiên cứu việc sử dụng tỷ lệ hoàn
Trang 30vốn kế toán (ARR) trong việc hỗ trợ ra quyết định trong các DN nhỏ, kết quả chỉ ra rằng ARR thường tạo ra các lỗi đáng kể trong quá trình sử dụng và việc
sử dụng nó có thể gây ra hiểu nhầm nên các DN nhỏ không được khuyến khích sử dụng tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR) để phân tích đầu tư
Tại Nhật Bản, một cuộc khảo sát về KTQT chi phí trong các DNVVN được thực hiện bởi Hopper và cộng sự (1999), kết quả chỉ ra rằng, việc sử dụng hệ thống chi phí trong các DN nhỏ tương tự như trong các DN lớn, việc
sử dụng hệ thống chi phí và công cụ quản trị chi phí không thống nhất với nhau, kế toán quan tâm đến những thói quen đơn giản trong quá trình hạch toán và đã không sử dụng công cụ KTQT chi phí trong việc ra quyết định hoặc đánh giá thành quả của DN
Các nghiên cứu về KTQT trong các DNVVN ở các nước đang phát triển rất ít Ahad (2012) nghiên cứu từ 160 DN trong lĩnh vực sản xuất ở Malaysia cho thấy tỷ lệ áp dụng các công cụ KTQT truyền thống cao hơn so với các công cụ KTQT hiện đại Đặc biệt là các công cụ KTQT liên quan đến việc tính giá, lập dự toán và hệ thống đánh giá thành quả được sử dụng rộng rãi hơn hệ thống hỗ trợ ra quyết định và KTQT chiến lược Các DN vừa có xu hướng sử dụng các công cụ liên quan đến hỗ trợ ra quyết định và KTQT chiến lược nhiều hơn các DN nhỏ Kết quả cũng cho thấy rằng, nghiên cứu việc áp dụng các công cụ KTQT có vai trò quan trọng trong việc đánh giá thành quả hoạt động
và hoạt động kiểm soát ở DNVVN Nghiên cứu cũng cho thấy rằng, 4 nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng KTQT ở DNVVN ở Malaysia gồm: quy mô
DN, mức cạnh tranh trên thị trường, sự tham gia của nhà quản lý, và công nghệ sản xuất tiên tiến Tuy nhiên, kết quả cho thấy giữa việc áp dụng các công cụ KTQT và thành quả của DN không có mối quan hệ nhiều giữa chúng
Như vậy, việc nghiên cứu KTQT trong các DNVVN còn hạn chế và chủ
yếu được thực hiện ở các nước phát triển
Trang 311.4 KTQT Ở VIỆT NAM
1.4.1 Nghiên cứu KTQT ở Việt Nam
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về KTQT trong những năm gần đây được quan tâm nhiều hơn Cụ thể:
Với việc giới thiệu các công cụ KTQT hiện đại vào Việt Nam, các công
cụ KTQT như phân tích quan hệ chi phí-sản lượng-lợi nhuận, tính giá dựa trên hoạt động, chi phí mục tiêu, thẻ cân bằng điểm….được nghiên cứu nhằm mục đích giới thiệu các công cụ KTQT vào Việt Nam cũng như khả năng ứng dụng của các công cụ này như nghiên cứu của Trần Đình Khôi Nguyên (1996), Trương Bá Thanh (2005), Huỳnh Phương Đông (2006)
Tại Việt Nam, rất ít nghiên cứu được thực hiện về vấn đề sử dụng các công cụ KTQT cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến sự vận dụng này Chủ yếu là các nghiên cứu của các học viên làm luận văn tốt nghiệp nhưng ở phạm vi đơn vị từng DN chứ ít có nghiên cứu mô tả hay phân tích nhân tố ảnh hưởng trên diện rộng Nếu có, thì mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu định tính chứ chưa đi khảo sát hay phân tích định lượng
Trong nghiên cứu mới đây của TS Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) về
“nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các DN Việt Nam”, tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ ra một số công
cụ KTQT không được sử dụng ở Việt Nam thuộc về nhóm công cụ đánh giá thành quả và hỗ trợ việc ra quyết định như ZBB, Benchmarking hay nói cách khác là các công cụ KTQT truyền thống được sử dụng nhiều hơn các công cụ hiện đại Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra mức độ sử dụng các công cụ KTQT khác nhau trong các DN, trong đó có một số công cụ như dự toán được sử
Trang 32dụng tương đối cao giống như ở các nước khác Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra lợi ích và chi phí của việc sử dụng các công cụ KTQT đối với DN Cụ thể là các DN đã nhận thấy lợi ích của việc vận dụng KTQT trong DN, đặc biệt là lợi ích của các công cụ KTQT truyền thống Quan trọng nhất là nghiên cứu đã chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởng đến KTQT trong các DN ở Việt Nam bao gồm hình thức sở hữu DN, quy mô DN, thời gian hoạt động, định hướng thị trường, lĩnh vực hoạt động, cạnh tranh Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy được mối quan hệ cùng chiều giữa việc sử dụng công cụ KTQT với thành quả DN Có thể nói, đây là một nghiên cứu rất có ý nghĩa không chỉ với các DN mà với cả các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô trong điều kiện hiện nay
1.4.2 Những tồn tại trong nghiên cứu về KTQT ở Việt Nam
Qua phần tổng quan về KTQT ở trên ta thấy rằng còn nhiều khoảng trống trong nghiên cứu về KTQT ở Việt Nam nói chung và trong một địa bàn khu vực cụ thể nói riêng Cụ thể là:
- Còn quá ít các nghiên cứu về thực trạng vận dụng các công cụ KTQT trong các DN Việt Nam; nhân tố tác động hay kiềm hãm sự vận dụng các công cụ KTQ; tác động của việc vận dụng KTQT đối với thành quả hoạt động của DN dẫn đến việc chưa có một cái nhìn tổng quan và có tính so sánh được giữa các nghiên cứu
- Nhìn chung, nghiên cứu trước đây chỉ được khảo sát từ các DN vừa và lớn, do đó kết quả của nghiên cứu không khái quát được cho tất cả các DN, đặc biệt là cho các DN nhỏ
- Các nghiên cứu về KTQT thường tiến hành cho các DN nói chung trong cả nước, hay áp dụng vào một DN cụ thể mà chưa khái quát được trong một khu vực cụ thể Vì giữa các khu vực khác nhau, với đặc điểm kinh tế khác nhau, nên việc nghiên cứu các vấn đề về KTQT cũng khác nhau
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã đề cập đến nội dung khái quát về KTQT trong Doanh nghiệp Những nội dung về sự phát triển của KTQT qua các thời kỳ, qua đó tác giả đã nêu lên vai trò của KTQT trong hoạt động của Doanh nghiệp Nghiên cứu đã trình bày về lý thuyết ngữ cảnh, lý thuyết này được sử dụng trong nghiên cứu để giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong ngữ cảnh của DNVVN
Chương 1 cũng trình bày các nghiên cứu về KTQT ở các nước trên thế giới, về các công cụ KTQT được sử dụng cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng các công cụ đó Từ những tài liệu này, nghiên cứu sẽ lựa chọn các nhân tố để đưa vào thiết kế giả thuyết, xây dựng mô hình nghiên cứu mức độ vận dụng các công cụ KTQT và sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ vận dụng các công cụ KTQT ở Chương 2
Chương 1 cũng trình bày các nghiên cứu về KTQT trong các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới, các nghiên cứu về KTQT ở Việt Nam và những tồn tại trong nghiên cứu về KTQT ở Việt Nam để từ đó tác giả tiến hành thực hiện đề tài này “nghiên cứu mức độ vận dụng kế toán quản trị trong các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”
Trang 34CHƯƠNG 2
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC DNVVN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1.1 Định nghĩa DNVVN
Hiện nay, không có một sự thống nhất quốc tế nào về định nghĩa DNVVN, nó tùy thuộc vào từng quốc gia và từng ngành nghề kinh doanh DNVVN được xác định bởi một số tiêu chí như vị trí, quy mô, thời gian hoạt động, cơ cấu tổ chức, số lượng lao động, doanh thu bán hàng, giá trị tài sản, nguồn vốn, sự đổi mới hay công nghệ (Deros và cộng sự, 2006) Ở Việt Nam, theo nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 20 tháng 6 năm 2009, “DNVVN là cơ
sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, là những DN
có quy mô nhỏ bé về vặt vốn, lao động hay doanh thu DN nhỏ và vừa được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”, cụ thể như Bảng 2.1:
Trang 35Số lao
động
Tổng nguồn vốn
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người
II Công nghiệp và
xây dựng
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người III Thương mại và
dịch vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
50 người
từ trên 10 tỷ đồng đến 50
tỷ đồng
từ trên 50 người đến
100 người
(Ngu ồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP)
Định nghĩa này sẽ là tiêu chí đồng nhất để xác định được DNVVN trong từng ngành và khu vực, từ đó tạo điều kiện cho việc thiết lập chính sách phát triển trong tương lai, các chương trình hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật công nghệ chủ yếu ở Việt Nam cũng như sự quản lý của Nhà nước đối với các DN này
2.1.2 Tổng quan về DNVVN và lĩnh vực hoạt động
a Quy mô DNVVN
Theo kết quả điều tra năm 2012 như trình bày trong Bảng 2.2 ta thấy đại
đa số các DN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng là các DNVVN, các DN lớn chiếm tỷ lệ rất thấp
Trang 36Bảng 2.2 Quy mô các DNVVN tại Đà Nẵng năm 2012
Quy mô Số lượng Tỷ lệ (%)
Theo định nghĩa về sự phân loại DVVVN bao gồm: DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa Căn cứ vào tiêu chí số lượng lao động, cho thấy rằng 64.96%
là DN siêu nhỏ, một lượng đáng kể các DN vừa và nhỏ, trong đó bao gồm 3.009 DNVVN Điều đó cho thấy rằng các DNVVN đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Đà Nẵng
b Quy mô và lĩnh vực hoạt động
Bảng 2.3 cho thấy rằng các DNVVN được chia thành 3 lĩnh vực chính: sản xuất, thương mại, dịch vụ Ba lĩnh vực này có số lượng các DN gần bằng nhau, trong đó lĩnh vực thương mại chiếm tỷ lệ cao hơn về số lượng các DN với 37,35% trong tổng số lượng DNVVN Lĩnh vực sản xuất chiếm tỷ lệ thấp hơn với 2.516 DN
Bảng 2.3 Tỷ lệ các DNVVN tại Đà Nẵng theo quy mô
Trang 372.1.3 Tầm quan trọng của DNVVN
DNVVN có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, kể cả các nước có trình độ phát triển cao Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay thì các nước đều chú ý hỗ trợ các DNVVN nhằm huy động tối đa các nguồn lực và hỗ trợ DN lớn, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm
Đối với nước ta, Đà Nẵng là một điển hình thì vị trí của DNVVN lại càng quan trọng Điều này thể hiện rõ nét trong những năm gần đây, cụ thể:
- DNVVN đã đóng góp một phần không nhỏ vào kết quả hoạt động của nền kinh tế Trong các loại hình sản xuất kinh doanh ở nước ta, đặc biệt là trên địa bàn Đà Nẵng, DNVVN có sức lan tỏa vào mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội Số lượng DNVVN chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số DN thuộc hình thức
DN nhà nước, DN tập thể, DN tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh tế cá thể Do đó, lợi ích mà các DN này mang lại sẽ đóng góp không nhỏ vào kết quả hoạt động của nền kinh tế thành phố Đà Nẵng
- DNVVN tạo việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo Thực tế cho thấy, toàn bộ các DNVVN mà phần lớn là khu vực ngoài quốc doanh là nguồn chủ yếu tạo ra công ăn việc làm trong tất cả các lĩnh vực Cụ thể từ số liệu của cục Thống kê Đà Nẵng cho thấy DNVVN tuyển dụng 252.483 lao động chiếm 50,71% lực lượng lao động trong toàn thành phố Do đó nó tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động góp phần xóa đói giảm nghèo, khoảng cách về thu nhập cũng giảm phần nào Điều này thể hiện
ở việc tỷ lệ nghèo ở Đà Nẵng từ 2.98% trong năm 2011giảm xuống còn 0.97% trong năm 2012
- Ngoài ra, DNVVN cung cấp cho xã hội một khối lượng hàng hóa đáng
kể về cả vật chất, số lượng và chủng loại Các DNVVN thu hút một lượng lớn lao động và tài nguyên để sản xuất ra hàng hòa, tạo ra một lượng lớn hàng
Trang 38hóa, đa dạng về chất lượng và chủng loại, tạo cho người tiêu dùng có nhiều cơ hội được lựa chọn, góp phần đáng kể vào tổng sản phẩm trong nước (GDP) và tổng kim ngạch xuất khẩu Theo số liệu từ cục thống kê năm 2012, các DNVVN đã đóng góp 35.233 tỷ đồng tổng sản phẩm trong nước (theo giá so sánh năm 2010) trên địa bàn Đà Nẵng, đạt 1.46% trong tổng GDP cả nước (2.412.778 tỷ đồng) và tính đến tháng 11/2012, tổng kim ngạch xuất khẩu là 810,27 triệu USD chiếm 0,4 % tổng kim ngạnh xuất khẩu cả nước (207.870 triệu USD) Điều đó cho thấy rằng, các DNVVN không chỉ cung cấp một khối lượng hàng hóa trong nước mà còn có thể cạnh tranh hiệu quả trên thị trường quốc tế Do đó, các DNVVN góp phần vào việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
- Bên cạnh đó, DNVVN làm cho nền kinh tế năng động và có hiệu quả Các DN và tập đoàn có quy mô lớn không có tính năng động bằng các DN có quy mô nhỏ Cụ thể, các đơn vi kinh tế càng lớn thì càng thiếu tính linh hoạt, thiếu khả năng phản ứng nhanh, do đó một nền kinh tế nếu đặt một tỷ lệ quá lớn nguồn lao động và tài nguyên vào DN có quy mô lớn sẽ nên chậm chạp, không bắt kịp và phản ứng kịp với các thay đổi trên thị trường Ngược lại, một nền kinh tế có tỷ lệ các DN có quy mô vừa và nhỏ thích hợp sẽ trở nên nhanh nhẹn hơn, phản ứng kịp thời hơn, và tính hiệu quả của nền kinh tế sẽ được nâng cao hơn
- DNVVN sẽ hình thành và phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh năng động Sự xuất hiện và khả năng phát triển của mỗi DN phụ thuộc rất nhiều vào những nhà sáng lập ra chúng Do đặc thù là số lượng DNVVN là rất lớn
và thường xuyên phải thay đổi để thích nghi với môi trường xung quanh, phản ứng với những tác động bất lợi do sự phát triển, xu hướng tịch thu và tập trung hóa sản xuất, do đó sự sát nhập, giải thể và xuất hiện các DNVVN thường xuyên diễn ra trong mọi giai đoạn Đó là sức ép buộc những người
Trang 39quản lý và sáng lập ra chúng phải có tính linh hoạt cao trong quản lý và điều hành, dám nghĩ, dám làm và chấp nhận sự mạo hiểm, sự có mặt của đội ngũ những người quản lý này cùng với khả năng, trình độ, nhận thức của họ về tình hình thị trường và khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh sẽ tác động lớn đến hoạt động của từng DNVVN Họ luôn là người đi đầu trong đổi mới, tìm kiếm phương thức mới, đặt ra nhiệm vụ chuyển đổi cho phù hợp với môi trường kinh doanh
Đối với một quốc gia thì sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào sự có mặt của đội ngũ này, và chính đội ngũ này sẽ tạo ra một cơ cấu kinh
tế năng động, linh hoạt phù hợp với thị trường
Nhìn chung, DNVVN đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế ở Đà Nẵng Trong tương lai, các DNVVN này sẽ là động lực quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế chung của cả nước
2.2 XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ VẬN DỤNG
KTQT TRONG DNVVN TRÊN ĐỊA BÀN ĐÀ NẴNG
2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Từ những khoảng trống trong nghiên cứu về KTQT như đã trình bày ở trên, một vài câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
Câu hỏi 1: Những công cụ KTQT nào được áp dụng? Mức độ vận dụng các công cụ KTQT trong DNVVN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng như thế nào?
Câu hỏi 2: Những nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng KTQT trong DNVVN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng?
Để trả lời các câu hỏi này, danh sách gồm 56 công cụ KTQT được tổng hợp từ các nghiên cứu trước đây của Chenhall và Langfield-Smith (1998), Luther và Longden (2001), Wu và cộng sự (2007) Tuy nhiên, trong số những công cụ KTQT này, có một số công cụ không quen thuộc với các DN Việt
Trang 40Nam, vì vậy nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) đã sử dụng 32 công
cụ KTQT để khảo sát việc vận dụng các công cụ này trong các DN Việt nam Như vậy để tránh gây lãng phí thời gian cho người trả lời, làm tăng độ chính xác của nghiên cứu và phù hợp với DNVVN, trên cơ sở 32 công cụ của Đoàn Ngọc Phi Anh và 45 công cụ của Kamilah Ahmad (2012), nghiên cứu này sử dụng 33 công cụ KTQT được đưa vào khảo sát, danh sách các công cụ này được trình bày ở Chương 3
2.2.2 Xây dựng giải thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu
a Xây d ựng giả thuyết nghiên cứu
- Quy mô DN
Các nghiên cứu trước đây của Merchant (1984); Haldma and Laats (2002); Al-Omiri and Drury (2007); Abdel-Kader and Luther (2008), cùng quan điểm cho rằng quy mô DN ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong
DN đó Một DN có quy mô lớn, hệ thống thông tin trong nội bộ DN tốt sẽ tạo điều kiện cho sự khuếch tán các công cụ KTQT Các DN lớn thường có những thuận lợi về tiềm lực tài chính, nguồn lực dồi dào, khả năng quản trị rủi
ro và cơ sở hạ tầng tốt Trong khi đó, các DN nhỏ thường khó khăn về tài chính, bị giới hạn về nguồn lực nên việc vận dụng các công cụ KTQT mới thường có những khó khăn nhất định Haldma và Lääts (2002) lập luận rằng mức độ phức tạp của hệ thống tính giá và lập dự toán có xu hướng gia tăng
để phù hợp với quy mô của một DN Việc chuyển đổi từ công cụ đơn giản đến phức tạp hơn đòi hỏi phải có nguồn lực và chuyên gia - những điều kiện chỉ có ở các DN lớn và vừa Kết quả nghiên cứu của Firth (1996) ở Trung Quốc, El-Ebaishi (2003) ở Arap Saudi cho thấy tỷ lệ vận dụng KTQT ở các DN lớn cao hơn so với các DN nhỏ
Trong nghiên cứu này, các công cụ KTQT đưa vào được tổng hợp thành
5 hệ thống theo chức năng của KTQT với: