Mục tiêu nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán, đề tài đi sâu vào phân tích mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VÕ PHƯƠNG THÙY
NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THANH TOÁN: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Mã số: 60.34.20
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VÕ PHƯƠNG THÙY
NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THANH TOÁN: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Mã số: 60.34.02.01
Mã số: 60.34.20
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐINH BẢO NGỌC
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
7 Bố cục đề tài 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 5
1.1.1 Tổng quan về tỷ giá hối đoái 5
1.1.2 Tổng quan về cán cân thương mại 13
1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 15
1.2.1 Lý thuyết ngẫu nhiên trong mô hình của Mundell - Fleming 15
1.2.2 Lý thuyết đường cong J 17
1.2.3 Điều kiện Marshall – Lerner 17
1.3 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN ĐẾN MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 18
1.3.1 Các nghiên cứu thực nghiệm mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán 18
1.3.2 Các nghiên cứu thực nghiệm mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại 19
Trang 5KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 26
2.1 TÌNH HÌNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005-2015 26
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.2.1 Mô hình nghiên cứu 29
2.2.2 Dữ liệu nghiên cứu 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 37
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 38
3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM 38
3.1.1 Phân tích thống kê mô tả dữ liệu 38
3.1.2 Kiểm định nghiệm đơn vị các biến cân bằng 39
3.1.3 Xác định độ trễ tối ưu 41
3.1.4 Kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Johansen 41
3.1.5 Kiểm định mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại 42
3.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KHUYẾN NGHỊ 48
3.2.1 Chính sách điều hành tỷ giá 49
3.2.2 Chính sách nhằm cải thiện cán cân thương mại 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 51
KẾT LUẬN 52
HẠN CHẾ TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
phương pháp của Dickey Fuller mở rộng CCTM : Cán cân thương mại
CPI : Consumer Price Index: Chỉ số giá tiêu dùng
EX : Tỷ giá hối đoái VNĐ/USD
GSO : General Statistics Office of Vietnam: Tổng cục thống kê
IMF : International Monetary Fund: Quỹ tiền tệ quốc tế
IFS : International Financial Statistics: Phân tích tài chính quốc tế
NHNN : Ngân hàng Nhà Nước
NHTW : Ngân hàng Trung Ương
PP : Phillips Perron (Kiểm định nghiệm đơn vị theo phương pháp
của Phillips Perron)
TGHĐ : Tỷ giá hối đoái
VECM : Vector Error Correction Model: Mô hình vector hiệu chỉnh sai số
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Số hiệu
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng với kinh tế thế giới, tỷ giá hối đoái trở thành một biến số kinh tế có ảnh hưởng mạnh đến hầu hết các biến số kinh tế vĩ mô khác, trong đó nổi bật là biến số cán cân thanh toán Nó trở thành mối quan tâm hàng đầu của không chỉ các nhà hoạch định chính sách quốc gia, các nhà phân tích kinh tế mà còn của đa phần các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu trên thị trường Những biến động thăng trầm của tỷ giá cùng với cơ chế điều chỉnh biên độ tỷ giá của Ngân hàng nhà nước đã có những tác động mạnh mẽ lên tỷ
lệ xuất nhập khẩu và dòng vốn chu chuyển của Việt Nam thời gian qua, ảnh hưởng sâu sắc đến bức tranh tổng thể của Việt Nam nói chung và hiệu quả kinh tế của các chủ thể kinh tế trên thị trường nói riêng Bởi những tác động của nó đến tình hình, hiệu quả hoạt động kinh tế là rất lớn nên việc cần tìm hiểu sâu và toàn diện hơn về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán là một yêu cầu cấp thiết hiện nay Trước đây đã có rất nhiều nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ giữa hai nhân tố này, các kết quả đưa ra
có thể giống hoặc rất khác nhau ở các quốc gia khác nhau, thậm chí trong cùng một quốc gia, kết quả cũng có thể khác nhau nếu lựa chọn phương pháp nghiên cứu khác nhau trên những giai đoạn khác nhau Vậy liệu biến động tỷ giá hối đoái và những chuyển dịch trong cán cân thanh toán ở Việt Nam sẽ có tác động như thế nào đến nhau? Và liệu những lý thuyết và mô hình kinh tế về tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán được áp dụng để phân tích cho các nước trên thế giới có áp dụng được tại Việt Nam? Đó là câu hỏi
quan trọng cần giải quyết và cũng là lý do tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu
mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam”
Trang 102 Mục tiêu nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái
và cán cân thanh toán, đề tài đi sâu vào phân tích mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại, thành phần chính của cán cân thanh toán trong thực tiễn tại Việt Nam hiện nay, bao gồm những mục tiêu cụ thể sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại, các nghiên cứu thực nghiệm liên quan
- Nghiên cứu mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại tại Việt Nam
- Gợi ý chính sách nhằm ổn định tỷ giá và cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
Thông qua tìm hiểu mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán tại thị trường Việt Nam, đề tài tập trung giải quyết các câu hỏi sau:
- Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại được giải thích dựa trên những lý thuyết nào?
- Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây đưa ra kết quả như thế nào về mối tương quan này?
- Biến động của tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến cán cân thương mại của Việt Nam hay không? Nếu có, tác động theo chiều hướng nào?
- Ngược lại, tác động của cán cân thương mại lên tỷ giá hối đoái như thế nào?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái trong điều kiện thực tế tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Do hạn chế về nguồn số liệu và thời gian nghiên cứu, đề
Trang 11tài sẽ tập trung phân tích tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại của Việt Nam, một thành phần chủ yếu của cán cân thanh toán
Về thời gian: đề tài sử dụng nguồn số liệu trong khoảng thời gian từ quý 1 năm 2005 đến quý 4 năm 2015
Về không gian: nghiên cứu thực nghiệm tại thị trường Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua
mô hình Vector hiệu chỉnh sai số (VECM): kết hợp kiểm định Dickey- Fuller
mở rộng (ADF), kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Johansen và kiểm định nhân quả Granger
Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp các số liệu trong đề tài
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu về mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại đã được nghiên cứu khá nhiều tại các nước trên thế giới cả phát triển lẫn đang phát triển Tuy nhiên ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này, các nghiên cứu trước đây tập trung phân tích mối tương quan theo
mô hình đơn biến Do đó, đề tài mong muốn đem đến một cái nhìn toàn diện hơn về tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại của Việt Nam
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài mong muốn đưa đến cái nhìn rõ hơn về mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán Việt Nam, qua đó có thể giúp ích cho những nhà đầu tư và các doanh nghiệp trong việc hoạch định kế hoạch xuất nhập khẩu một cách phù hợp, từ những kết quả nghiên cứu, đề tài sẽ đưa ra một số khuyến nghị đối với chính sách điều hành tỷ giá và hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam
Trang 127 Bố cục đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận và nghiên cứu thực nghiệm về mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
VỀ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
1.1.1 Tổng quan về tỷ giá hối đoái
a Khái niệm
Theo Arthur O'Sullivan, Steven M Sheffrin (2003) [Wikipedia] “Tỷ giá hối đoái (còn được gọi là tỷ giá trao đổi ngoại tệ, tỷ giá Forex, tỷ giá FX hoặc Agio) giữa hai tiền tệ là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác Nó cũng được coi là giá cả đồng tiền của một quốc gia được biểu hiện bởi một tiền tệ khác
Theo Từ điển Thuật ngữ Tài chính (Dictionary of Financial Terms) [91], tỷ giá là mức giá tại đó đồng tiền của quốc gia này có thể được chuyển đổi sang đồng tiền của quốc gia khác
Như vậy, có thể nói tỷ giá là “mức giá tại đó đồng tiền của một quốc gia/khu vực có thể được chuyển đổi sang đồng tiền của quốc gia/khu vực khác”
Có hai phương pháp yết giá tỷ giá: Yết giá trực tiếp (giá một đơn vị ngoại tệ được biểu hiện bằng một số lượng đơn vị nội tệ), Yết giá gián tiếp (giá một đơn vị nội tệ được biểu hiện bằng một số lượng đơn vị ngoại tệ)
Về cơ bản, phương pháp thứ hai chỉ đơn thuần là nghịch đảo của phương pháp thứ nhất Trong phạm vi luận văn, tỷ giá được tính theo phương pháp yết giá trực tiếp Khi tỷ giá giảm, đồng nội tệ lên giá, ngoại tệ giảm giá
Tỷ giá được yết theo thị trường giao dịch, có nghĩa là đồng tiền yết giá đứng trước, đồng tiền định giá đứng sau Ví dụ, tỷ giá giữa Việt Nam đồng và
Trang 14đôla Mỹ sẽ được yết USD/VND, hàm ý bao nhiêu đơn vị VND có thể đổi lấy một đơn vị USD
Trong nền kinh tế mở, sự biến động của tỷ giá tác động tới hầu hết các chủ thể tham gia giao dịch trên thị trường ngoại hối, đó là các cá nhân, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, các công ty đa quốc gia, ngân hàng và các tổ chức phi ngân hàng, Ngân hàng Trung ương…và như vậy
tỷ giá ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế
b Phân loại tỷ giá hối đoái
Trong giao dịch ngoại hối, tín dụng và thanh toán thương mại quốc tế, các loại tỷ giá hối đoái khác nhau được phân loại theo tiêu thức và phục vụ mục đích khác nhau:
Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái bao gồm
- Tỷ giá chính thức (Offical rate): Là tỷ giá do ngân hàng trung ương của mỗi nước công bố Dựa vào tỷ giá này các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng sẽ ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ giao ngay, có kỳ hạn, hoán đổi
- Tỷ giá thị trường (Market rate): Là tỷ giá dùng để kinh doanh mua bán ngoại tệ Tỷ giá này do các ngân hàng thương mại hay các tổ chức tín dụng đưa ra Cơ sở xác định tỷ giá này là tỷ giá chính thức do ngân hàng trung ương công bố xem xét đến các yếu tố liên quan trực tiếp đến kinh doanh như: quan hệ cung cầu ngoại tệ, tỷ suất lợi nhuận, tâm lý của người giao dịch đối với ngoại tệ cần mua hoặc bán
Tỷ giá kinh doanh bao gồm tỷ giá mua, tỷ giá bán
- Tỷ giá chợ đen (Black rate): hay còn gọi là tỷ giá trên thị trường tự do
là tỷ giá được hình thành bên ngoài thị trường ngoại tệ chính thức, ngoài hệ thống ngân hàng và không được nhà nước thừa nhận chính thức
Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ, có các loại tỷ giá:
- Tỷ giá mua (Bid rate): là tỷ giá ngân hàng mua ngoại tệ vào
- Tỷ giá bán (Ask rate): là tỷ giá ngân hàng bán ngoại tệ cho khách hàng
Trang 15Tại một thời điểm, tỷ giá bán bao giờ cũng lớn hơn tỷ giá mua, chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán (Spreak) là thu nhập của ngân hàng Tỷ giá mua và tỷ giá bán do ngân hàng niêm yết
Căn cứ vào tiêu thức thời điểm thanh toán
- Tỷ giá giao ngay (Spot rate) là tỷ giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận ngoại tệ được thực hiện ngay trong ngày hôm đó hoặc một vài ngày sau
- Tỷ giá có kỳ hạn (Forward Rate) là tỷ giá được thỏa thuận vào ngày hôm nay nhưng áp dụng cho ngày giao dịch ngoại tệ tương lai sau ngày thỏa thuận
Tỷ giá có kỳ hạn cũng khác nhau giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán Tỷ giá mua có kỳ hạn thấp hơn tỷ giá bán có kỳ hạn và do ngân hàng niêm yết để giao dịch với khách hàng là các ngân hàng khác hoặc các doanh nghiệp, cá nhân
Căn cứ vào tiêu thức thời điểm giao dịch:
- Tỷ giá mở cửa (Opening Rate): là tỷ giá vào đầu giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán ngoại tệ của hợp đồng giao dịch đầu tiên trong ngày
- Tỷ giá đóng cửa (Closing Rate): tỷ giá của hợp đồng giao dịch cuối cùng của ngày giao dịch
Căn cứ vào tiêu thức giá trị của tỷ giá:
Tỷ giá được chia thành tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực, tỷ giá danh nghĩa hiệu dụng và tỷ giá thực hiệu dụng
- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (Normial exchange rate - NER) là tỷ giá được yết và có thể trao đổi giữa hai đồng tiền mà không đề cập đến tương quan sức mua giữa chúng
- Tỷ giá hối đoái thực (Real Exchange rate - RER) là tỷ giá đã được điều chỉnh theo sự thay đổi trong tương quan giá cả của nước có đồng tiền yết giá và giá cả hàng hóa của nước có đồng tiền định giá
- Tỷ giá danh nghĩa hiệu dụng/ trung bình (Nomial effective exchange rate - NEER): là tỷ giá phản ánh giá trị bình quân của một đồng tiền so với hai hay nhiều đồng tiền khác Việc xác định NEER dựa trên tỷ trọng thương mại một nước với nhóm các nước có sử dụng đồng tiền tham gia trong rổ, do đó NEER sử dụng để xem xét một đồng tiền là mạnh hay yếu
Trang 16- Tỷ giá thực hiệu dụng/ trung bình (Real effective exchange rate - REER) là tỷ giá phản ánh giá trị bình quân của một đồng tiền so với hai hay nhiều đồng tiền khác nhưng sử dụng RER khi tính toán
Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối:
- Tỷ giá điện hối (T/T Rate): là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện
- Tỷ giá thư hối (M/T Rate): là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư
Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế, tỷ giá có các loại tỷ giá:
- Tỷ giá Séc (Cheque Rate)
- Tỷ giá hối phiếu (Draft Rate)
- Tỷ giá chuyển khoản (Transfer Rate)
- Tỷ giá tiền mặt (Cash Rate)
c Các chế độ tỷ giá hối đoái
Mỗi quốc gia khác nhau có chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau tùy thuộc vào nhận thức, mục tiêu điều hành của Chính phủ và bối cảnh phát triển kinh
tế xã hội của quốc gia đó Nhìn chung, chế độ tỷ giá hối đoái gồm ba loại chính: Chế độ tỷ giá hối đoái cố định, chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi tự do, chế
độ tỷ giá hối đoái thả nổi có sự quản lý của Nhà nuớc
Chế độ tỷ giá cố định (A fixed (hay pegged) exchange rate regime): là chế độ tỷ giá hối đoái mà ở đó Nhà nước, cụ thể là NHTW tuyên bố sẽ duy trì
tỷ giá giữa đồng tiền của quốc gia mình với một hoặc một số đồng tiền nào đó
ở một mức độ nhất định NHTW đóng vài trò điều tiết lượng cầu hoặc cung ngoại tệ để giữ tỷ giá hối đoái cố định bằng cách bán ra hoặc mua vào lượng ngoại tệ đó
Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn (A freely flexible (hay freely floating) exchange rate regime): là chế độ tỷ giá hối đoái, trong đó tỷ giá được xác định hoàn toàn tự do theo quy luật cung cầu trên thị trường ngoại hối mà không có bất cứ sự can thiệp nào của NHTW
Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết (A managed (hay contronlled) floating exchange rate regime): là sự kết hợp hai chế độ tỷ giá hối đoái cố định và thả nổi Tỷ giá được xác định và hoạt động theo quy luật thị trường,
Trang 17NHTW chỉ tiến hành can thiệp khi có những biến động mạnh vượt quá mức
độ cho phép
d Các nhân tố ảnh hưởng đến biến động tỷ giá hối đoái
Cán cân thanh toán:
Nhân tố này tác động trực tiếp đến quan hệ cung cầu ngoại tệ, thông qua
đó tác động tới tỷ giá Khi cán cân thanh toán thặng dư, tức thu ngoại tệ lớn
hơn chi ngoại tệ, theo tác động của quy luật cung cầu ngoại tệ sẽ làm cho
đồng ngoại tệ mất giá, đồng nội tệ lên giá, tỷ giá hối đoái giảm Ngược lại, khi
cán cân thanh toán quốc tế thâm hụt sẽ làm cho đồng ngoại tệ lên giá, đồng
nội tệ mất giá, tỷ giá hối đoái tăng
Độ mở nền kinh tế:
Yếu tố độ mở kinh tế được đề cập là mức độ mà một quốc gia tham gia
thương mại quốc tế, quan hệ quốc tế với phần còn lại của thế giới Độ mở nền
kinh tế có thế được khái quát bằng sơ đồ sau:
Mức độ mở cửa (%)
0 50 +100
(Đóng cửa) (Độ mở trung bình) (Hoàn toàn mở cửa)
Hình 1.1 Sơ đồ giới hạn mức độ mở cửa
Ở mức 0%, nền kinh tế hoàn toàn đóng cửa, khái niệm độ mở không tồn
tại và do đó cũng sẽ không có tác động của độ mở nền kinh tế lên tỷ giá hối
đoái Mức 0% đến 50% là các quốc gia có độ mở vừa phải, đa số là các quốc
gia đang phát triển, nền kinh tế nhỏ mở cửa, thu nhập bình quân đầu người ở
mức thấp đến trung bình trong đó có thể kể đến Lào, Việt Nam, Tuynidi,
Nevanda… Mức trung bình đến 90% là mức độ mở cửa của các quốc gia như
Mỹ, Nhật, EU, Canada… các quốc gia này tìm kiếm tự do hóa thương mại
dựa trên hiệp định cả song phương lẫn đa phương
Trang 18Một quốc gia dù mở cửa ở mức độ nào thì độ mở ấy cũng sẽ gây ra những tác động nhất định lên tỷ giá hối đoái Một khi thương mại được tiến hành tự do giữa các quốc gia thì khối lượng hàng hóa, kéo theo khối lượng tiền tệ luân chuyển là khá lớn Nếu độ mở nền kinh tế càng lớn thì tác động lên tỷ giá hối đoái càng diễn ra thường xuyên, việc kinh doanh, mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối nhằm đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu sẽ tác động trực tiếp, liên tục đến tỷ giá hối đoái Tuy nhiên, độ mở cửa càng cao thì rủi ro tài chính tiền tệ càng lớn, quốc gia tiến hành mở cửa sẽ bị phụ thuộc khá nhiều vào các tác động bên ngoài, tỷ giá hối đoái do đó rất dễ bị tổn thương
Lãi suất:
Theo lý thuyết ngang giá lãi suất, đồng tiền của một quốc gia nào có lãi suất thấp hơn thì nhất định sẽ bù kì hạn cho hợp đồng kỳ hạn đối với đồng tiền của một quốc gia nọ có lãi suất cao hơn hay lợi tức của hai loại tiền gửi bất kỳ là tương đương nhau khi cùng quy về một đồng tiền Tuy nhiên lý thuyết này lại được xây dựng dựa trên nguyên tắc cố định các nhân tố khác (cetacis paribas) nên độ chính xác chỉ có tính tương đối, tỷ giá hối đoái tương lai phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chứ không chỉ có riêng lãi suất
Bên cạnh lý thuyết cân bằng lãi suất, thực tế đã chứng minh sự chênh lệch lãi suất là căn nguyên cơ bản dẫn đến những biến động của tỷ giá hối đoái Lãi suất cao sẽ hấp dẫn các luồng vốn nước ngoài chảy vào trong nước
để được hưởng lãi cao hơn, điều này dẫn đến cung ngoại tệ tăng (cầu nội tệ tăng) từ đó đồng ngoại tệ sẽ giảm giá còn nội tệ sẽ tăng giá Trường hợp ngược lại sẽ cho hiệu ứng ngược lại
Lạm phát:
Lạm phát được xem là sự biểu thị của mức tăng giá chung, lạm phát vừa phải và ổn định sẽ kích thích cầu đầu tư, tiêu dùng, nhờ đó thúc đẩy sản xuất,
Trang 19đảm bảo tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu, tỷ giá có xu hướng giảm giá nhẹ
Lạm phát càng tăng, sức mua thực tế đồng nội tệ càng giảm, dân chúng
sẽ tìm mọi cách giảm lượng nội tệ của mình đi càng nhanh càng tốt, họ tích trữ vàng, động sản kéo theo sự mất giá của đồng nội tệ Các nghiên cứu kinh
tế đã chỉ ra rằng lạm phát càng cao thì tốc độ mất giá đồng tiền càng nhanh
Cung, cầu ngoại hối:
Tỷ giá hối đoái thực chất là giá cả của tiền tệ do đó cũng được hình thành dựa trên quan hệ cung cầu Tỷ giá thay đổi hàng ngày, hàng giờ do những biến động tương tác giữa hai lực lượng chính: cung, cầu ngoại hối trên thị trường ngoại hối, nơi diễn ra sự trao đổi giữa đồng tiền quốc gia này với đồng tiền quốc gia khác Việc nghiên cứu tác động của cung, cầu ngoại hối đến tỷ giá hối đoái sẽ được xem xét qua việc sử dụng những đường cầu và cung trong mô hình cân bằng cung-cầu quen thuộc nhằm minh họa rõ việc thị trường sẽ quyết định giá cả tiền tệ như thế nào
Đầu cơ tiền tệ:
Đầu cơ tiền tệ được hiểu là việc mua hoặc bán tiền tệ sau đó bán hoặc mua tiền tệ kiếm lời khi giá cả hoặc tỷ giá hối đoái thay đổi Cụ thể là các nhà đầu cơ sẽ mua đồng tiền yếu, chờ lên giá rồi bán, hoặc bán đồng tiền mạnh, chờ xuống giá rồi mua lại để kiếm lãi và kết quả là họ làm cho các đồng tiền mạnh yếu đi, đồng tiền yếu mạnh lên.Đầu cơ tiền tệ được tiến hành thông qua mua bán một khối lượng lớn các loại tiền nên đầu cơ thường có xu hướng khiến tỷ giá hối đoái tăng hoặc giảm mạnh
Bên cạnh tác động làm sụt giá tiền tệ này, đầu cơ đồng thời lại làm tăng giá tiền tệ khác bởi xét mối quan hệ mua bán tiền tệ song phương, cầu tiền tệ này chính là cung tiền tệ kia và ngược lại Các nhà đầu cơ do đó cho dù là đầu
cơ giá lên hay đầu cơ giá xuống đều gây tác động dẫn đến lên giá đồng tiền này và hạ giá đồng tiền kia Một nhà đầu cơ A khi có nhu cầu mua một lượng
Trang 20lớn đồng tiền X bằng đồng tiền Y thì ngay lập tưc đồng tiền X sẽ có xu hướng lên giá và đồng tiền Y có xu hướng hạ giá Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, hiện tượng đầu cơ cũng mang lại một số hiệu quả nhất định, đó là việc các nhà đầu cơ đã chấp nhận rủi ro, thông qua các nghiệp vụ kinh doanh, quyền chọn, bán non, các lệnh đình chỉ thua lỗ, các hợp đồng kì hạn… đã phần nào đưa đồng tiền các quốc gia về đúng với giá trị thực của nó, làm ổn định thị trường ngoại hối
Chính sách tiền tệ:
Chính sách tiền tệ cùng với chính sách tài khóa là hai công cụ cơ bản được các quốc gia sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Nếu chính sách tài khóa dựa trên việc kiểm soát thuế và chi tiêu chính phủ thì chính sách tiền tệ lại tác động lên nền kinh tế thông qua lãi suất và cung tiền Các biện pháp thường xuyên được sử dụng đó là chính sách tiền tệ thắt chặt và chính sách tiền tệ nới lỏng
Xét trong phạm vi nội bộ quốc gia, chính sách tiền tệ thắt chặt đó là việc chính phủ tiến hành tăng lãi suất, giảm cung tiền; một sự thay đổi trong cung tiền sẽ dẫn đến sự thay đổi trong lãi suất, từ đó tác động đến mức giá đồng nội
tệ Cung tiền giảm làm cung nội tệ giảm trong khi cầu nội tệ không thay đổi kéo theo tăng giá nội tệ, tỷ giá hối đoái giảm
Đối với chính sách tiền tệ nới lỏng, hiệu ứng sẽ ngược lại, một sự tăng cung tiền sẽ làm lãi suất giảm xuống, khiến tỷ giá đồng nội tệ giảm trong ngắn hạn, tỷ giá hối đoái tăng
Ngoài các nhân tố trên, có một số nhân tố có thể gây ảnh hưởng ngay tức thì hay trong một vài ngày bao gồm:
- Hành vi bầy đàn (hiệu ứng mua theo – bandwagon effect): Banerjee
(1992) cho rằng hành vi bầy đàn là hành vi mọi người hành động theo những
gì mà người khác đang làm, thậm chí ngay cả khi thông tin riêng của họ cho thấy nên hành động một cách khác đi
Trang 21- Tâm lý, kỳ vọng của nhà đầu tư (Investors Psychology): Theo
Rosenberg (2003), Murphy (2006), tỷ giá có thể chịu ảnh hưởng khi mức độ
chấp nhận rủi ro và kỳ vọng của nhà đầu tư thay đổi Khi niềm tin vào đồng nội tệ giảm sút, nhà đầu tư cẩn trọng hơn trong những quyết định đầu tư, họ không sẵn sàng nắm giữ tài sản dưới dạng đồng bản tệ Chẳng hạn nếu đồng USD tăng giá, thì nhà đầu tư có khuynh hướng duy trì danh mục tài sản của mình bằng đồng USD, do vậy trong ngắn hạn sẽ giữ đồng USD ở mức cao
1.1.2 Tổng quan về cán cân thương mại
a Khái niệm
Theo Investopia, cán cân thương mại (Trade Balance) hay còn gọi Cán cân thương mại quốc tế (Balance of Trade - BOT) là chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định Cán cân thương mại là thành phần chủ yếu trong cán cân thanh toán (BOP) của một quốc gia Các nhà kinh tế thường sử dụng BOT như một công cụ thống kê để giúp họ hiểu được sức mạnh tương đối của nền kinh tế một quốc gia so với nền kinh tế các quốc gia khác và dòng chảy thương mại giữa chúng Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia cũng như mức chênh lệch (X-M) giữa chúng Khi mức chênh lệch lớn hơn 0, cán cân thương mại thặng dư Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, cán cân thương mại thâm hụt Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng
b Các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại
Cán cân thương mại của một quốc gia chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát, lãi suất và cung tiền
Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái tác động tương đối đến hàng hóa trong nước và hàng hóa nước ngoài Trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi, khi đồng tiền của một nước tăng giá (tăng giá trị so với đồng tiền của nước khác) thì hàng
Trang 22hóa của nước đó ở nước ngoài trở nên đắt đỏ hơn, điều này không có lợi cho việc xuất khẩu hàng hóa Ngược lại khi đồng tiền của một nước giảm giá thì hàng hóa của nước đó trở nên rẻ hơn, khuyến khích cho việc xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, kéo theo sự thặng dư trong cán cân thương mại
Lạm phát
Với điều kiện các nhân tố khác không đổi, nếu tỷ lệ lạm phát của một quốc gia cao hơn so với các nước khác có quan hệ mậu dịch, sức cạnh tranh của hàng hóa nước này trên thị trường quốc tế sẽ giảm, do đó khối lượng xuất khẩu giảm, gây thâm hụt cán cân thương mại Tuy nhiên, ở góc độ khác, lạm phát thường gắn với tăng trưởng kinh tế nên lạm phát trong điều kiện làm thay đổi các nhân tố kinh tế như lạm phát thay đổi tỷ giá hối đoái theo hướng giảm giá nội tệ sẽ góp phần thúc đẩy xuất khẩu, thu hút đầu tư do đó lại làm cải thiện cán cân thương mại Do đó khi xem xét tác động của lạm phát đến cán cân thương mại, cần xem xét sự thay đổi của các yếu tố vĩ mô khác
Lãi suất
Giả sử các yếu tố khác không thay đổi, lãi suất tăng sẽ làm gia tăng sức hút đầu tư với đồng tiền của quốc gia đó do đó thu nhập và dòng tiền đi vào quốc gia đó tăng, cán cân thanh toán cân bằng hoặc thặng dư Tuy nhiên, nếu lãi suất liên tục biến động, thị trường sẽ phải cân nhắc giữa lợi ích của lãi suất cao với những rủi ro về sự sụt giảm tỷ giá hối đoái Chính sách lãi suất cao sẽ thúc đẩy đồng nội tệ tăng giá, khi đó sẽ kích thích nhập khẩu và làm giảm xuất khẩu, hay làm gia tăng thâm hụt cán cân thương mại Ngược lại khi lãi suất thấp, đồng ngoại tệ có xu hướng tăng giá, tức là tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước, thúc đẩy thu hẹp thâm hụt cán cân thương mại
Thu nhập quốc nội (Tổng sản phẩm nội địa)
Tiếp cận theo phương pháp thông thường, có thể thấy tổng sản phẩm quốc nội hàm chứa cán cân thương mại ở trong đó Do đó trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, khi cán cân thương mại chuyển biến tích cực thì tổng
Trang 23thu nhập quốc nội sẽ tăng và ngược lại Tuy nhiên khi tiếp cận ở một khía cạnh khác, nếu mức thu nhập của một quốc gia tăng theo một tỷ lệ cao hơn tỷ
lệ tăng của quốc gia khác, thì nhu cầu hàng hóa của quốc gia này tăng lên, kéo theo nhu cầu nhập khẩu hàng hóa cũng tăng theo, tài khoản vãng lai của quốc gia đó sẽ giảm nếu các yếu tố khác bằng nhau, dẫn đến sự thâm hụt trong cán cân thương mại Ngược lại, nếu mức thu nhập của quốc gia này giảm thì nhu cầu về hàng hóa của người tiêu dùng quốc gia này cũng giảm làm cho nhập khẩu giảm và thặng dư cán cân thương mại trong điều kiện không thay đổi các nhân tố khác
Cung tiền
Như đã trình bày ở phần trước, Chính phủ can thiệp vào thị trường thông qua chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Ở đây ta chỉ đề cập đến tác động của Chính phủ đến cán cân thương mại thông qua yếu tố tăng giảm cung tiền Khi Chính phủ áp dụng chính sách nới lỏng tiền tệ, tăng cung tiền trong khi cầu tiền không thay đổi, kéo theo sự mất giá tương đối của nội tệ, làm tăng tính cạnh tranh tương đối của quốc gia do đó kéo theo thặng dư cán cân thương mại
1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
1.2.1 Lý thuyết ngẫu nhiên trong mô hình của Mundell - Fleming
Mô hình Mundell - Fleming hay còn gọi là mô hình IS - LM là mô hình kinh tế vĩ mô do hai nhà khoa học Robert Mundell và Marcus đề xuất vào đầu thập niên 1960 và đã đạt giải Nobel kinh tế vào năm 1999 bởi những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ Mô hình được giả thiết áp dụng trong nền kinh tế nhỏ, mở, các dòng vốn chu chuyển dễ dàng Trong mô hình Mundell - Fleming mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại được giải thích trong sự tác động của chính phủ bằng chính sách tài khóa
và chính sách tiền tệ:
Trang 24r LM e LM
Hình 1.2 Tác động của chính sách tài khóa
- Tác động của Chính phủ thông qua chính sách tài khóa: Khi áp dụng chính sách tài khóa mở rộng bằng cách tăng chi tiêu Chính phủ hoặc giảm thuế: Ðiều này sẽ làm tăng tổng cầu trong nước hay tăng sản lượng Trong ngắn hạn, đường IS dịch chuyển sang phải trong khi đường LM đứng yên, dẫn dến đồng nội tệ lên giá so với ngoại tệ (do nhu cầu về đồng nội tệ lớn), điều này làm giảm xuất khẩu và tăng nhập khẩu Trong dài hạn, sự gia tăng của tỷ giá hối đoái làm giảm xuất khẩu ròng, đường IS dịch chuyển ngược lại
về bên trái, do dó làm mất ảnh huởng của chính sách tiền tài khóa mở rộng, đưa lãi suất trong nước về mức lãi suất thế giới, nhưng làm cho cán cân thương mại bị xấu đi
chính sách tiền tệ mở rộng bằng cách tăng lượng cung tiền, đường LM dịch chuyển sang phải, sản lượng tăng và lãi suất trong nước tạm thời giảm xuống
Trang 25so với lãi suất nước ngoài, tạo ra một dòng vốn lớn chảy ra ngoài làm cho cán cân thanh toán bị thâm hụt và tỷ giá hối đoái có xu hướng tăng lên (nội tệ giảm giá) Trong dài hạn, tỷ giá hối đoái giảm làm tăng xuất khẩu và làm giảm nhập khẩu, đường IS dịch chuyển sang phải làm cho sản lượng tiếp tục tăng
1.2.2 Lý thuyết đường cong J
Lý thuyết này được tìm ra bởi Krugman khi phân tích một cuộc phá giá Đôla Mỹ trong thời gian 1985 - 1987 Đường cong J mô tả hiện tượng tài khoản vãng lai của một quốc gia sụt giảm ngay sau khi quốc gia này phá giá đồng nội tệ và mất một thời gian tài khoản vãng lai mới bắt đầu được cải thiện Quá trình này biểu diễn bằng đồ thị có dạng chữ J
Hình 1.4 Đồ thị đường cong J
Nguyên nhân xuất hiện đường cong J là do trong ngắn hạn hiệu ứng giá
cả có tính trội hơn hiệu ứng số lượng nên làm xấu đi cán cân thương mại, ngược lại trong dài hạn, hiệu ứng số lượng có tính trội hơn hiệu ứng giá cả làm cán cân thương mại được cải thiện
1.2.3 Điều kiện Marshall - Lerner
Điều kiện Marshall - Lerner được đặt theo tên của 2 nhà học giả kinh tế phát hiện ra nó là Alfred Marshall và Abba Lerner Điều kiện này phát biểu
Trang 26rằng, để cho việc phá giá tiền tệ có tác động tích cực tới cán cân thương mại, thì giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co giãn theo giá cả của xuất khẩu và độ co giãn theo giá cả của nhập khẩu phải lớn hơn 1
Có quan điểm cho rằng các nước đang phát triển phụ thuộc nhiều vào hàng nhập khẩu nên độ co giãn giá của cầu hàng nhập khẩu là nhỏ (giá nhập khẩu sẽ giảm không nhiều khi phá giá nội tệ) Các nước phát triển có thị trường xuất khẩu tương đối có tính cạnh tranh nên độ co giãn cầu hàng xuất khẩu có thể lớn hơn (giá xuất khẩu tăng mạnh khi phá giá nội tệ) Hàm ý rằng phá giá nội tệ sẽ có tác động tích cực đến cán cân thương mại ở các nước phát triển hơn là các nước đang phát triển
1.3 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN ĐẾN MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
Ðã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại trên thế giới, từ việc nghiên cứu độc lập tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại cho tới việc tổng hợp thêm các yếu tố tác động khác để tăng độ tin cậy của mô hình Kết quả chứng minh thực tiễn trên từng quốc gia, từng giai đoạn khác nhau đưa ra rất nhiều kết quả khác nhau Phương pháp tiếp cận đa dạng của các nhà kinh tế đã cho chúng ta cái nhìn đa chiều về mối quan hệ này Các nhà kinh tế học đã sử dụng các mô hình kinh tế để chứng minh trong thực tiễn, tìm nguyên nhân và giải pháp nhằm ổn định tỷ giá và cải thiện cán cân thương mại phù hợp với điều kiện của từng quốc gia Hầu hết các nghiên cứu liên quan tới tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại đều tập trung trả lời câu hỏi rằng: sự biến động của tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại có tác động gì đến nhau hay không? tác động đó theo chiều hướng nào?
1.3.1 Các nghiên cứu thực nghiệm mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán
Iyoboyi và Muftau (2014) nghiên cứu mối tương quan giữa tỷ giá hối
Trang 27đoái và cán cân thanh toán của Nigeria trong giai đoạn 1961-2012 thông qua
mô hình VECM Các kết quả thực nghiệm cho thấy có mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa cán cân thanh toán và tỷ giá hối đoái, lãi suất, cung tiền, tổng thu nhập quốc nội Tuy nhiên những thay đổi trong tỷ giá hối đoái không ảnh hưởng đáng kể đến cán cân thanh toán (chỉ khoảng 8%) Trong khi đó cán cân thanh toán lại có tác động rất tích cực đến tỷ giá hối đoái của nước này
Nghiên cứu của Dao và Trinh (2010) về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực với cán cân thanh toán của Việt Nam giai đoạn 1999 - 2009 Tác giả nghiên cứu tác động của tỷ giá hối đoái lên từng cán cân bộ phận của cán cân thanh toán sau đó phân tích tác động của cán cân tổng thể lên tỷ giá hối đoái thực của Việt Nam Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp OLS
để nghiên cứu tác động của REER lên cán cân thương mại thể hiện thông qua
tỷ số thương mại X/M Kết quả cho thấy, tỷ giá có tác động đến CCTM theo hiệu ứng tuyến J, đồng thời tình trạng cán cân tổng thể cũng tác động mạnh đến diễn biến tỷ giá trên thị trường, tuy nhiên lại không tìm được bằng chứng
cho thấy tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân vốn
1.3.2 Các nghiên cứu thực nghiệm mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại
a Các nghiên cứu nước ngoài
Onafowora (2003) xem xét tác động ngắn hạn và dài hạn giữa tỷ giá thực
tế và cán cân thương mại của 3 nước ASEAN, cụ thể là Thái Lan, Malaysia
và Indonexia trong thương mại song phương với Mỹ và Nhật Bản Nghiên cứu sử dụng dữ liệu hàng quý trong giai đoạn 1980-2001, kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Johansen (1988) để kiểm tra các mối quan hệ của các biến trong mô hình Kết quả cho thấy rằng có mối quan hệ dài hạn giữa CCTM, tỷ giá thực, thu nhập quốc dân và thu nhập nước ngoài Hơn nữa, nghiên cứu cũng ước lượng mô hình hàm số đẩy (IRFs) để kiểm định tác động của tỷ giá hối đoái thực trên cán cân thương mại theo thời gian Ðối với
Trang 28Indonexia và Malaysia có thương mại song phương với cả Mỹ và Nhật Bản,
và Thái Lan có thương mại song phương Mỹ, kết quả cho thấy có hiện tượng đường cong J Sự giảm giá tiền tệ ban đầu sẽ dẫn đến CCTM xấu đi trong 4 quý trong ngắn hạn và sau đó được cải thiện trong dài hạn Tuy nhiên, mối quan hệ này trong thương mại song phương của Thái Lan và Nhật Bản lại chuyển dịch theo hướng khác, sự phá giá của TGHÐ thực làm cải thiện CCTM một bước sau đó trở nên tồi tệ và sau đó cải thiện trở lại Mô hình này
là phù hợp với hiện tượng đường cong S (Backus, Kehoe và Kydland, 1994) Nhìn chung, kết quả ước lượng mô hình hàm số đẩy tổng quát cho thấy rằng các điều kiện Marshall-Lerner nắm giữ trong thời gian dài với độ biến động của hiện tượng đường cong J trong ngắn hạn Đồng thời mô hình cũng cho thấy sự tác động mạnh mẽ của thương mại song phương Malaysia với Nhật Bản và Mỹ có tác động mạnh mẽ tới tỷ giá hối đoái thực
Wong và Chong (2006) cũng xem xét các tác động dài hạn và ngắn hạn của tỷ giá hối đoái thực lên cán cân thương mại song phương của Malaysia với Mỹ, Nhật Bản và Singapore bằng cách sử dụng các dữ liệu hàng tháng trong thời gian 1976-2004 Hơn nữa, nghiên cứu này xem xét các tác động của việc thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái cố định tại Malaysia vào năm 1994
và cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997-1998) cũng như thực hiện các tỷ giá hối đoái cố định Malaysia sau cuộc khủng hoảng trong cán cân thương mại song phương Mô hình hàm số đẩy được ước tính để điều tra sự linh hoạt của cán cân thương mại song phương trước cú sốc về tỷ giá thực Nghiên cứu này cho thấy rằng có một mối quan hệ dài hạn giữa các cán cân thương mại song phương, tỷ giá thực tế, thu nhập trong nước và thu nhập của nước ngoài
Mô hình hàm số đẩy tổng quát cho thấy rằng hiện tượng đường cong J được tìm thấy trong ngắn hạn, đặc biệt cho toàn bộ chu kỳ lấy mẫu Trong dài hạn,
sự giảm giá hay mất giá của tỷ giá hối đoái sẽ cải thiện cán cân thương mại
Trang 29song phương Do đó, trong trường hợp này, điều kiện Marshall Lerner là đúng
Tochitskaya (2007) đưa ra một nghiên cứu thực nghiệm tại Belarus bằng cách sử dụng mô hình của Bahmani-Oskooee (2001) nghiên cứu ảnh hưởng của sự thay đổi của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại Belarus trong ngắn hạn và dài hạn Tác giả sử dụng dữ liệu theo quý từ năm 1995 tới 2004 và dữ liệu thương mại của Belarus với 10 nước là đối tác thương mại chính Nghiên cứu bắt đầu bằng cách kiểm định tính dừng của các biến, sau đó sử dụng phương pháp đồng liên kết Johansen Tác giả mô hình hóa các tác động ngắn hạn sử dụng phương trình hồi quy OLS và sử dụng kỹ thuật đồng liên kết để ước lượng theo điều kiện Marshall Lerner để xác định sự giảm giá ảnh huởng lên cán cân thương mại trong dài hạn như thế nào Nghiên cứu đưa ra kết luận rằng sự mất giá đã ảnh huởng lên cán cân thương mại trong ngắn hạn Tác giả cũng phân tích ảnh huởng của sự thay đổi của REER lên cán cân thương mại theo phương pháp tiếp cận VAR cho thấy kết quả là cú sốc tỷ giá làm cho cán cân thương mại cải thiện sau 2 quý, ngay sau đó sự ảnh huởng tiêu cực kéo dài trong quý 3 và quý 4, phù hợp với kết quả thu được từ mô hình ARDL (sự kết hợp giữa mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất OLS và mô hình tự hồi quy vector VAR) Đồng thời với kết quả của mô hình, tác giả cho thấy có mối quan hệ tác động nghịch chiều của CCTM đến tỷ giá hối đoái Tuy nhiên, tác động tiêu cực lên CCTM là rất nhỏ Trong dài hạn tác giả ước lượng điều kiện Marshall- Lerner và thu được kết quả khá tích cực và cho thấy sự giảm giá đồng tiền có thể cải thiện CCTM trong dài hạn và có ảnh huởng đáng kể lên xuất khẩu của Belarus Cụ thể đó là khi phá giá đồng nội tệ 1% thì sẽ cải thiện mức cân bằng của CCTM khoảng 0.94% - 1.3% và cần khoảng 2,5 năm để thiết lập lại trạng thái cân bằng
Trang 30Trong khi các nghiên cứu trên đều khẳng định có sự tồn tại trong tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán hay hạn chế hơn là mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại, thì có một số nghiên cứu lại bác bỏ điều này tại một số quốc gia
Wilson (2001) kiểm tra cán cân thương mại song phương của Singapore, Hàn Quốc, Malaysia với Mỹ và Nhật Bản Nghiên cứu sử dụng dữ liệu hàng quý trong giai đoạn 1970-1996 Nghiên cứu sử dụng mô hình thực nghiệm của Rose và Yellen (1989) có nguồn gốc từ mô hình hai quốc gia thay thế không hoàn hảo Kết quả cho thấy rằng tỷ giá hối đoái thực không có tác động đáng kể lên cân bằng thương mại song phương thực, và không tìm thấy bằng chứng của hiện tượng đường cong J, ngoại trừ cán cân thương mại song phương của Hàn Quốc với Mỹ
Bhattarai và Armah (2005) khi nghiên cứu mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại của Ghana trong giai đoạn 1960-2000 bằng phương pháp Vector hiệu chỉnh sai số cũng đưa ra kết quả rằng không có mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại
b Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam
Lord (2002) đã sử dụng mô hình ECM để tính hệ số co giãn xuất khẩu mặt hàng giày dép của tỷ giá thực trong ngắn hạn và dài hạn Kết quả hồi quy của nghiên cứu này cho thấy tác động của tỷ giá thực lên xuất khẩu giày dép
có ý nghĩa về mặt thống kê trên thị trường toàn cầu và trên một số thị trường khu vực Hệ số co giãn xuất khẩu giày dép của tỷ giá thực trên thị trường toàn cầu là 1,8 trong ngắn hạn và 2,0 trong dài hạn Trong ngắn hạn hệ số này là 0,1 đối với thị trường ASEAN-5 và 0,3 đối với thị trường Mỹ Trong dài hạn
hệ số này là 0,4 đối với thị trường Mỹ và 1,9 đối với thị trường EU3 Lord còn cho rằng chỉ số đo lường mức cạnh tranh thích hợp hơn cho từng thị
Trang 31trường là tỷ giá thực so sánh (cross-rates) giữa Việt Nam và các đối tác thương mại quan trọng Sử dụng chỉ số tỷ giá thực so sánh tác giả chỉ ra rằng tính cạnh tranh của Việt Nam trong những năm gần đây tăng lên trên thị trường Trung Quốc, Mỹ, trong khi lại giảm xuống trên những thị trường khác như ASEAN, Nhật Bản và EU Việc giảm tính cạnh tranh trên thị trường EU được giải thích là do đồng đô la lên giá so với đồng euro và mối liên quan chặt chẽ giữa đồng Việt Nam và đô la Sử dụng chỉ số tỷ giá thực so sánh tác giả chỉ ra rằng tính cạnh tranh của Việt Nam trong những năm gần đây tăng lên trên thị trường Trung Quốc, Mỹ, trong khi lại giảm xuống trên những thị trường khác như ASEAN, Nhật Bản và EU
Hoàn và Hào (2007) nghiên cứu về mối quan hệ giữa TGHĐ và CCTM Việt Nam thời kỳ 1995-2004 Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng lý thuyết đồng liên kết (Cointegration theory) và cơ chế hiệu chỉnh sai số (ECM - Error Correction Model) nhằm xác định mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Kết quả nghiên cứu khẳng định được sự tồn tại của quan hệ giữa hai biến số vĩ mô này trong ngắn hạn và dài hạn, việc tăng tỷ giá hối đoái tức làm giảm giá đồng nội tệ phần nào cải thiện CCTM trong dài hạn, còn trong ngắn hạn thì tác động tiêu cực lên CCTM Kết quả nghiên cứu này cho thấy, trong thời kỳ 1995 - 2004, tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa đồng Việt Nam với các đồng tiền của các bạn hàng chủ yếu thể hiện xu hướng tăng, đồng nghĩa với việc đồng Việt Nam mất giá Tuy nhiên, dựa trên kết quả tính toán được,
tỷ giá hối đoái thực tế đã bị giảm tới hơn 20% Trong giai đoạn 1992-1997, việc duy trì tỷ giá hối đoái danh nghĩa gần như cố định trong điều kiện lạm phát đã được kiềm chế song vẫn cao hơn lạm phát của Mỹ (nước có đồng tiền chiếm tỷ trọng chủ yếu trong rổ tiền tệ để xác định tỷ giá của Việt Nam) và các nước có quan hệ thương mại chủ yếu của Việt Nam, đồng thời đồng USD
Trang 32có xu hướng tăng giá từ năm 1995 đã làm cho VNÐ có xu hướng ngày càng
bị đánh giá cao hơn thực tế Ðiều này đã tạo ra và tích luỹ những nhân tố gây mất ổn định và kìm hãm sự phát triển kinh tế Kết quả nghiên cứu cũng đã khẳng định được sự tồn tại của quan hệ giữa hai biến số vĩ mô này trong ngắn hạn và dài hạn Trong ngắn hạn, sự tác động của tỷ giá có tính chất trễ, và trong dài hạn hai biến số này tiến tới một quan hệ cân bằng (đồng liên kết), nghĩa là có tác động tích cực tới CCTM và cứ 1% mất giá TGHÐ thực làm cho CCTM cải thiện 0.7%
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 trình bày cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại thông qua những lý thuyết kinh điển và những nghiên cứu thực nghiệm ở nước ngoài và trong nước Dựa nền tảng lý luận trình bày ở phần trên và qua tham khảo các nghiên cứu nước ngoài, tác giả lựa chọn phương pháp hồi quy theo mô hình VECM để ứng dụng nghiên cứu mối quan
hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2005 -
2015
Trong phần sau của luận văn, tác giả sẽ từng bước thực hiện nghiên cứu
và phân tích kết quả nhận được, đồng thời đưa ra một số kiến nghị về chính sách kinh tế vĩ mô nhằm ổn định biến động tỷ giá và cải thiện cán cân thương mại theo chiều hướng tích cực
Trang 34CHƯƠNG 2
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1 TÌNH HÌNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005-2015
Trong giai đoạn 2005-2015, kinh tế Việt Nam cũng như kinh tế thế giới trải qua nhiều biến động mạnh mẽ Khủng hoảng kinh tế toàn cầu kết hợp với việc mở rộng quan hệ thương mại quốc tế của Việt Nam đã có những tác động sâu sắc đến các chỉ tiêu kinh tế trong giai đoạn này, đặc biệt là chỉ tiêu cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái Biến động tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại trong giai đoạn này được thể hiện qua hình sau:
Biến động tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại
Việt Nam giai đoạn 2005-2015
Đây là giai đoạn tỷ giá hối đoái VNĐ/USD khá ổn định Trong năm
2005, tỷ giá chỉ biến động 0,9% tương ứng ở mức 15.909 VNĐ/USD so với 15.778VNĐ/USD tại thời điểm đầu năm Năm 2006, tỷ giá tiếp tục tăng 1%
Trang 35lên mức 15.965 vào thời điểm tháng 12/2006 Trong khi đó năm 2007 đánh dấu sự chuyển biến phức tạp của tỷ giá hối đoái, tính trong 6 tháng cuối năm,
tỷ giá hối đoái liên tục thay đổi từ 16.132VNĐ/USD cuối tháng 6/2007 tăng 0,22% trong tháng 7, tháng 8 tiếp tục tăng 0,16%, tháng 9 tăng 0,57% đưa tỷ giá đạt mức kỷ lục trong giai đoạn này là 17.000VNĐ/USD Tuy nhiên, sang tháng 10, tỷ giá trở đầu giảm 0,6%, tháng 11 tiếp tục giảm 0,28%, sang tháng
12 giảm tiếp 0,19% đưa tỷ giá về lại mức 16.132VNĐ/USD thời điểm cuối năm 2007 Như vậy trong thời gian này, tính bình quân theo năm, tỷ giá chỉ giao động ở mức trung bình 0,56% , 0,95%, 0,62% lần lượt các năm 2005-
2007, bình quân cả giai đoạn là 0,57% Biến động tỷ giá thời kỳ này chịu tác động mạnh bởi chính sách điều hành tỷ giá của NHNN, trong giai đoạn này, NHNN đã liên tục điều chỉnh biên độ giao động của tỷ giá, từ 0,25% năm
2005 lên 0,5% năm 2006 và 0,75% năm 2007, đây là một trong những can thiệp kịp thời của NHNN lên TGHĐ
Trong giai đoạn 2005-2007, cán cân thương mại của Việt Nam liên tục thâm hụt Kim ngạch xuất khẩu thời gian này liên tục tăng, năm 2005 đạt 32,233 tỷ USD, năm 2006 tăng 22,5% lên mức 39,5 tỷ USD, năm 2007 tiếp tục tăng lên 48,4 tỷ USD Mặc dù vậy, tốc độ tăng của kim ngạch nhập khẩu lại lớn hơn rất nhiều, từ 36,881 tỷ USD lên 44,8 tỷ USD năm 2006 và 2007 tăng lên đến 62,7 tỷ USD, do đó kéo theo cán cân thương mại Việt Nam liên tục thâm hụt
Giai đoạn 2008-2010
Bước sang giai đoạn 2008-2010, đây là giai đoạn bất ổn nhất của thị trường, tỷ giá hối đoái liên tục biến động mạnh khiến NHNN phải can thiệp bằng điều chỉnh biên độ của tỷ giá, từ 0,75% cuối 2007 lên 1%, 2% có thời điểm lên đến 5% (cuối năm 2008) sau đó giảm xuống còn 3% vào năm 2010 Năm 2008 được coi là năm mà tỷ giá bất ổn định nhất, khi mà tỷ giá được NHNN nới biên độ 3 lần chỉ trong vòng 1 Năm 2009, tiếp tục làn sóng
Trang 364 tháng cuối năm 2008, biên độ tỷ giá lại được nới lên mức 5% kéo tỷ giá trên thị trường vượt ngưỡng 18.000 VND/USD Cuối năm 2009, bằng một loạt các biện pháp nhằm thực hiện việc bình ổn tỷ giá như nâng lãi suất VND, nâng tỷ giá liên ngân hàng, yêu cầu các doanh nghiệp bán ngoại tệ cho các ngân hàng thương mại….từ đó đã đẩy lùi được tình trạng bất ổn của tỷ giá Tỷ giá bình quân liên ngân hàng cũng được đẩy lên mức 16.983 VND
Từ cuối năm 2009 đên năm 2010, biên độ lãi suất đã được hạ xuống chỉ còn 3% Trong giai đoạn này tỷ giá trên thị trường chủ yếu xoay quanh giá bán ở mức 18.000 VND – 19.000 VND/USD
Dưới tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn này cũng biến động liên tục, Trong năm 2008, kim ngạch xuất khẩu đạt 62,7 tỷ USD, tăng tới 29,1% so với năm 2007 Năm 2009, do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 57,1
tỷ USD, giảm 8,9% so với năm 2008, nhưng vẫn cao hơn mức kim ngạch xuất khẩu năm 2006 là 45,8% Năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu lại tiếp tục tăng trưởng, ước tính đạt 71,6 tỷ USD, tăng 25,5% so với năm 2009.Xét chung cả thời kỳ, mặc dù cán cân thương mại có thời điểm đã thặng dư, tuy nhiên xét chung cả thời kỳ thì vẫn thâm hụt
Từ 2011 đến nay, tỷ giá hối đoái trở lại ổn định theo đúng định hướng điều hành của Chính phủ NHNN đã ban hành nhiều chính sách tỷ giá và can thiệp sâu vào thị trường ngoại tệ bằng những biện pháp mua bán, duy trì chính sách chênh lệch lãi suất VNĐ và USD nhằm đảm bảo nắm giữ tiền đồng có lợi hơn so với USD
Bước sang năm 2012 và 2013, NHNN tiếp tục đặt mục tiêu ổn định tỉ giá trong biên độ tăng không quá 2-3%/năm nhằm kiểm soát kỳ vọng về sự mất giá của VNĐ Tuy nhiên, tại một số thời điểm trong năm 2013, tỷ giá tăng lên kịch trần 21.036, giá bán USD trên thị trường tự do lên tới 21.320 VNĐ/USD
Trang 37Để chấm dứt áp lực lên tỷ giá, ngày 27/6/2013, NHNN đã điều chỉnh tăng tỉ giá bình quân liên ngân hàng thêm 1% lên mức 21.036 VNĐ/USD, sau 1.5 năm ổn định ở mức 20,828 VNĐ
Đến năm 2014, NHNN đề ra mục tiêu tỷ giá trong biên độ không quá
±2% và quyết định nâng tỉ giá chính thức thêm 1% lên 21.246 VNĐ/USD Năm 2015, được coi là một năm đầy biến động, nhiều thách thức trong chính sách tiền tệ và chính sách tỉ giá trước bối cảnh USD liên tục lên giá do kỳ vọng Fed điều chỉnh tăng lãi suất và Trung Quốc bất ngờ điều chỉnh mạnh tỷ giá đồng Nhân dân tệ, kéo theo làn sóng giảm giá mạnh của các đồng tiền của các đối tác thương mại chính của Việt Nam Trước tình hình đó, NHNN thực hiện điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng 3% và nới biên độ thêm 2% từ mức +/-1% lên +/-3%./
Đồng thời cán cân thương mại thời kỳ này đã thặng dư và biến động ít hơn thời kỳ trước
Nhận xét về mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại giai đoạn 2005-2015: biểu đồ biến động tỷ giá hối đoái và cán cân
thương mại đem đến cho ta cái nhìn trực quan về mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại trong giai đoạn này Xét trong từng giai đoạn ngắn phân tích, 2 nhân tố này tương đối độc lập, trong khi tỷ giá hối đoái được duy trì ổn định thì cán cân thương mại lại liên tục biến động theo diễn biến thị trường Tuy nhiên, xét cả thời kỳ 2005-2015, tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại có xu hướng diễn biến cùng nhau
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Mô hình nghiên cứu
Các nhà kinh tế khi nghiên cứu mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại đã vận dụng nhiều mô hình khác nhau, tùy thuộc vào tình hình kinh tế và đặc điểm riêng của mỗi quốc gia, do đó có thể đưa ra những kết luận khác nhau Đối với đề tài này, chuỗi số liệu được sử dụng là chuỗi số
Trang 38liệu theo thời gian, do đó khi phân tích phải đảm bảo tính dừng Tính dừng của chuỗi ở đây hàm ý chuỗi có giá trị trung bình là hằng số, đồng thời có phương sai không thay đổi theo thời gian, điều này thường không đúng với các chuỗi thời gian Do đó khi hồi quy dễ dẫn đến hiện tượng hồi quy giả mạo đem lại hệ số R2 quá cao Để khắc phục hạn chế đó, đề tài tài lựa chọn mô hình Vector hiệu chỉnh sai số (VECM) để nghiên cứu mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại
Dựa trên kết quả của những nghiên cứu thực nghiệm đã được trình bày trong chương 1 và căn cứ tình hình thực tế Việt Nam, đề tài tiến hành phân tích tương quan giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại thông qua mô hình:
EX : Tỷ giá hối đoái
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
CPI : Đại diện cho mức độ lạm phát của nền kinh tế
Mô hình VECM được thực hiện với quy trình cụ thể như sau:
Bước 1: thực hiện kiểm định tính dừng của các chuỗi số liệu theo thời
gian của các biến được sử dụng trong mô hình bằng phương pháp ADF (Augmented Dickey-Fuller) và PP (Phillip - Perron)
Bước 2: Kiểm định đồng liên kết Johansen để xem xét mối quan hệ dài
hạn giữa các biến
Theo Eagle và Granger (1987), các chuỗi thời gian không dừng nếu kết hợp tuyến tính với nhau có thể tạo nên chuỗi dừng (phần dư trong mô hình
Trang 39hồi quy là chuỗi dừng), do đó kết quả hồi quy là thực và các giá trị kiểm định
là có ý nghĩa Đề tài sử dụng phương pháp Var của Johansen gồm kiểm định Trace và kiểm định Max-Eigen để xem xét liệu các biến trong mô hình có quan hệ cân bằng dài hạn hay không
Bước 3: Xây dựng mô hình Vector hiệu chỉnh sai số (VECM)
Để khắc phục hạn chế của phương pháp OLS với các chuỗi số liệu thời gian là không dừng, nếu chuỗi dừng ở sai phân bậc 1 và có mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến thì việc sử dụng mô hình Vector hiệu chỉnh sai số (VECM) là hiệu quả để xem xét mối quan hệ cả trong ngắn hạn và dài hạn
Bước 4: Kiểm tra tính đúng đắn của mô hình VECM bằng kiểm định
nhân quả Granger, kiểm định nghiệm đơn vị đối với phần dư thu được từ mô hình
a Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu
Trong phân tích dữ liệu chuỗi thời gian, có thể nói tính dừng là một yếu
tố tiên quyết Theo Gujarati (2003) một chuỗi thời gian là dừng khi giá trị trung bình, phương sai và hiệp phương sai (tại các độ trễ khác nhau) luôn không đổi tại mọi thời điểm Chuỗi dừng có xu hướng trở về giá trị trung bình, và những dao động quanh giá trị trung bình là như nhau Nói cách khác, một chuỗi thời gian không dừng sẽ có giá trị trung bình thay đổi theo thời gian, hoặc giá trị phương sai thay đổi theo thời gian hoặc cả hai
Có nhiều phương pháp để kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian như: kiểm định Dickey-Fuller (DF), kiểm định Phillip-Person (PP) và kiểm định Dickey-Fuller mở rộng (ADF)… Trong đó, phương pháp ADF được sử dụng phổ biến hơn cả
Mô hình tổng quát của phương pháp ADF có dạng:
Trong đó:
ΔYt : là chuỗi dữ liệu theo thời gian cần kiểm định tính dừng
Trang 40b Kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Johansen
Việc hồi quy các chuỗi thời gian không dừng thường dẫn đến kết quả hồi quy giả mạo Tuy nhiên, Engle và Granger (1987) cho rằng nếu kết hợp tuyến tính của các chuỗi thời gian không dừng có thể là một chuỗi dừng và các chuỗi thời gian không dừng đó được cho là đồng liên kết Kết hợp tuyến tính dừng được gọi là phương pháp đồng liên kết và có thể được giải thích như mối quan hệ cân bằng trong dài hạn giữa các biến Nói cách khác, nếu phần
dư trong mô hình hồi quy giữa các chuỗi thời gian không dừng là một chuỗi dừng, thì kết quả hồi quy là thực và thể hiện mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến trong mô hình Và nếu mô hình là đồng liên kết thì sẽ không xảy ra trường hợp hồi quy giả mạo, khi đó các kiểm định dựa trên tiêu chuẩn
T và F vẫn có ý nghĩa Mục đích của kiểm định đồng liên kết là xác định xem một nhóm các chuỗi không dừng có đồng liên kết hay không
Có nhiều phương pháp kiểm định mối quan hệ đồng liên kết như: kiểm định Engle - Granger; phương pháp VAR của Johansen… Trong đó, phương pháp phổ biến nhất hiện nay là phương pháp VAR của Johansen, bao gồm hai kiểm định là Trace và kiểm định Max-Eigen Tuy có một chút khác biệt trong