LÊ THỊ MINH HIỀNKIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG DÀI HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG LU
Trang 1LÊ THỊ MINH HIỀN
KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG DÀI HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT
NAM CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Trang 2LÊ THỊ MINH HIỀN
KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG DÀI HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT
Trang 3Toi cam aoan ady la c6ng trinh nghien cuu cua rieng t6i
Cac s6 li¢u, kdt qua neu trong lu(j,n van la trung thlfC va chua tung au(lc
ai c6ng b6 trong bdt ky c6ng trinh nao khac
Tac gia
Le Thi Minh Hi�n
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 4
6 Bố cục của luận văn 4
7.Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG DÀI HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NHTM 9
1.1 CHO VAY TRUNG DÀI HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG 9
1.1.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng 9
1.1.2 Doanh nghiệp và phân loại cho vay trung dài hạn doanh nghiệp 11 1.1.3 Đặc điểm cho vay trung dài hạn đối với doanh nghiệp 13
1.2 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG 14
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng 14
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng 15
1.2.3 Tác động của rủi ro tín dụng 16
1.3 KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG DÀI HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NHTM 18
1.3.1 Khái niệm kiểm soát RRTD 18
1.3.2 Đặc điểm kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn 19
Trang 51.3.3 Nội dung kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay trung dài hạn đối với doanh nghiệp 201.3.4 Tiêu chí đánh giá kết quả kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay trung dài hạn khách hàng doanh nghiệp 281.3.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay trung dài hạn khách hàng doanh nghiệp 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN
D ỤNG TRONG CHO VAY TRUNG DÀI HẠN KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRI ỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 34
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM-CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 342.1.1 Giới thiệu về TMCP Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng 342.1.2 Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng 352.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT RRTD TRONG CHO VAY TRUNG DÀI HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI BIDV
CN ĐÀ NẴNG 392.2.1 Các biện pháp né tránh rủi ro tín dụng trong cho vay trung dài hạn khách hàng doanh nghiệp 392.2.2 Các biện pháp ngăn ngừa rủi ro tín dụng trong cho vay trung dài hạn khách hàng doanh nghiệp 522.2.3 Các biện pháp giảm thiểu tổn thất trong cho vay trung dài hạn doanh nghiệp 552.2.4 Các công cụ chuyển giao rủi ro tín dụng trong cho vay trung dài hạn doanh nghiệp 57
Trang 62.3 THỰC TRẠNG KẾT QUẢ KIỂM SOÁT RRTD TRONG CHO VAY TRUNG DÀI HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI BIDV
CN ĐÀ NẴNG 58
2.3.1 Thực trạng biến động cơ cấu nhóm nợ 58
2.3.2 Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay trung dài hạn doanh nghiệp 59
2.3.3 Tỷ lệ xóa nợ ròng 60
2.3.4 Tỷ lệ trích dự phòng rủi ro trong cho vay trung dài hạn doanh doanh nghiệp 60
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG DÀI HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI BIDV ĐÀ NẴNG 61
2.4.1 Kết quả đạt được 61
2.4.2 Những mặt tồn tại 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
CHƯƠNG 3 KHUYẾN NGHỊ HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT RỦI RO TÍ N DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG DÀI HẠN KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRI ỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 69
3.1 ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TẠI BIDV CN ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN TỚI 69
3.1.1 Định hướng chung của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 69
3.1.2 Định hướng công tác kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của BIDV Đà Nẵng 71
3.2 KHUYẾN NGHỊ HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG DÀI HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI BIDV ĐÀ NẴNG 72
Trang 73.2.1 Các khuyến nghị nhằm né tránh rủi ro 72
3.2.2 Các khuyến nghị nhằm hạn chế và giảm thiểu rủi ro 77
3.2.3 Các khuyến nghị nhằm hỗ trợ cho công tác kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn doanh nghiệp tại Chi nhánh 79
3.3 KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHNN VN VÀ BIDV 81
3.3.1 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 81
3.3.2 Đối với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 82
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 84
KẾT LUẬN 85 DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (BẢN SAO)
Trang 8Chi nhánh : Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam-
Chi nhánh Đà Nẵng BIDV : Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Trang 92.6 Biến động cơ cấu nhóm nợ trong cho vay trung dài hạn
2.7 Cơ cấu nợ xấu trong cho vay trung dài hạn doanh nghiệp 59
2.8 Tỷ lệ xóa nợ ròng trong cho vay trung dài hạn doanh
2.9 Tỷ lệ trích dự phòng các khoản vay trung dài hạn DN 61
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cho vay nói chung và cho vay trung dài hạn nói riêng là hoạt động mang
lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng Cho vay trung dài hạn không chỉ có vai trò quan trọng đối với ngân hàng, mà còn có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp và cả nền kinh tế Đây là các khoản vay có khối lượng vốn lớn, thời hạn vay dài, việc sử dụng vốn vay của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều
yếu tố khách quan như điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, chính trị xã hội, công nghệ, văn hóa…,và các yếu tố chủ quan trong nội tại DN, do đó cho vay trung dài hạn luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro
Rủi ro trong hoạt động tín dụng là không thể tránh khỏi, nó tồn tại khách quan cùng với sự tồn tại của hoạt động tín dụng Hậu quả của rủi ro tín dụng thường gây ra những ảnh hưởng xấu đối với ngân hàng như tăng chi phí, giảm thu nhập, làm xấu đi tình hình tài chính và uy tín của ngân hàng Nếu RRTD ở mức độ lớn sẽ làm phát sinh những rủi ro trầm trọng hơn như mất khả năng thanh toán, tạo nên hiệu ứng dây chuyền bất lợi cho hệ thống ngân hàng Do
đó, mỗi ngân hàng cần phải xây dựng cho mình một chính sách quản trị RRTD phù hợp và hiệu quả nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thất có thể xảy ra
Trong những năm qua, nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng gặp nhiều biến động Sự khủng hoảng, suy thoái đã gây ra nhiều ảnh hưởng đến các ngành kinh tế đang hoạt động trên thị trường Hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại trong bối cảnh đó luôn phải đối mặt với khó khăn và rủi ro tiềm ẩn
Từ năm 2015 đến nay, việc xử lý nợ xấu luôn là vấn đề rất nóng của hệ thống NHTM mà tất cả các ngân hàng phải đối mặt, tìm cách xử lý, giảm
Trang 11thiểu ảnh hưởng và rủi ro… Từ đó vấn đề nghiên cứu về kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn thật sự trở thành vấn đề được quan tâm hàng đầu hiện nay.Mặc khác, năm 2017, NH TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã thành công trong việc giảm tỷ lệ nợ xấu xuống còn 2%, với mục tiêu trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu vào năm 2020, và là ngân hàng quản trị rủi ro tốt nhất, BIDV Việt Nam nói chung và BIDV CN Đà Nẵng nói riêng đang tiếp tục củng cố và hoàn thiện các biện pháp kiểm soát RRTD làm cơ sở
nền tảng phát triển bền vững Xuất phát từ thực tế trên, tôi chọn đề tài “Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay trung dài hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
• Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn khách hàng doanh nghiệp của NHTM
• Phân tích, đánh giá thực trạng kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn khách hàng doanh nghiệp tại BIDV CN Đà Nẵng
• Đề xuất các giải pháp nhằm kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn khách hàng doanh nghiệp tại BIDV CN Đà Nẵng
Từ các mục tiêu trên, luận văn sẽ giải quyết các vấn đề, các câu hỏi đặt
ra như sau:
- Nội dung công tác kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại NHTM là gì? Để đánh giá kết quả công tác kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn khách hàng DN phải dựa vào tiêu chí nào?
- Thực trạng kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại BIDV CN Đà Nẵng diễn ra như thế nào? Có những kết quả và hạn chế gì?
Trang 12- BIDV CN Đà Nẵng cần triển khai những giải pháp nào nhằm kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn đối với khách hàng DN?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về kiểm soát RRTD trong
cho vay trung dài hạn đối với khách hàng DN của NHTM và thực tiễn kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn khách hàng DN tại BIDV CN Đà Nẵng
Phạm vi nghiên cứu:
• Về nội dung nghiên cứu: Do RRTD là một vấn đề rộng và phức tạp
Trong phạm vi đề tài này, tôi chỉ tập trung vào nghiên cứu kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn đối với khách hàng DN mà không bao gồm toàn
bộ công tác quản trị RRTD
• Về không gian: Đề tài chỉ nghiên cứu nội dung trên tại BIDV CN Đà Nẵng
• Về thời gian: Thực trạng kiểm soát RRTD chỉ phân tích trong khoảng
thời gian từ năm 2015-2017
4 P hương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
- Thứ nhất, sử dụng phương pháp khảo cứu tài liệu:
Để tổng hợp và hệ thống hoá các cơ sở lý thuyết và hệ thống các văn bản pháp quy của Nhà nước và các nghiên cứu khoa học để phân tích, làm rõ về lý luận và thực tiễn trong công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay trung dài hạn tại NHTM
- Thứ hai, phương pháp điều tra, thu thập số liệu:
Việc thu thập dữ liệu từ các nguồn dữ liệu thứ cấp được công bố bởi BIDV Việt Nam và BIDV CN Đà Nẵng và các thông tin, các chính sách liên quan… thông qua các phương tiện thông tin đại chúng Từ đó, tạo ra nguồn
Trang 13dữ liệu để làm cơ sở cho các phân tích sau này
- Thứ ba, sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh:
Dựa trên nguồn dữ liệu đã được thu thập để phân tích thực trạng, làm rõ những thành công và hạn chế trong công tác kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn với khách hàng DN tại BIDV CN Đà Nẵng nhằm rút ra các kết luận và đề xuất
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
• Góp phần hệ thống hóa, phân tích sâu về một số vấn đề lý luận liên quan đến chủ đề kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn đối với doanh nghiệp của NHTM
• Phân tích, đánh giá thực trạng kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn đối với doanh nghiệp tại BIDV CN Đà Nẵng, làm rõ những kết quả và hạn chế, đồng thời nghiên cứu những khuyến nghị để hoàn thiện công tác kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn đối với khách hàng DN
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, và phụ lục, phần nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của NHTM
Chương 2: Thực trạng kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại BIDV CN Đà Nẵng
Chương 3: Khuyến nghị hoàn thiện kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại BIDV CN Đà Nẵng
7 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Kiểm soát rủi ro tín dụng (RRTD) trong cho vay nói chung và cho vay trung dài hạn nói riêng đối với khách hàng doanh nghiệp (DN) là một trong bốn nội dung của công tác quản trị RRTD đã được nhiều tác giả nghiên cứu
Trang 14trước đây trong các đề tài quản trị rủi ro tín dụng và hạn chế rủi ro tín dụng tại các NHTM, cụ thể:
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Viết Mười (2014) “Kiểm soát rủi ro tín
dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân Hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Đà Nẵng” Tác giả đã nêu đầy đủ cơ sở lý luận về kiểm
soát RRTD và nội dung của kiểm soát RRTD trong cho vay doanh nghiệp Đó
là cơ sở để đề tài này kế thừa và đi sâu nghiên cứu về kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn Tuy nhiên, phần các giải pháp kiểm soát RRTD tại ngân hàng, tác giả còn trình bày chung chung, chưa cụ thể để áp dụng đối với cho vay khách hàng doanh nghiệp trên địa bàn Đà Nẵng
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga (2015) “Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân Hàng TMCP Á Châu CN
Đà Nẵng.” Tác giả đã nghiên cứu các giải pháp kiểm soát rủi ro trong cho
vay DN, đánh giá thực trạng công tác kiểm soát RRTD tại ACB CN Đà Nẵng
Về mặt không gian, các nghiên cứu về kiểm soát RRTD trong cho vay DN của tác giả gần như tương đồng với đề tài này Do vậy, các nghiên cứu của tác giả là cơ sở để đề tài này tham khảo các đặc điểm cho vay của DN và xem xét lại các biện pháp kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay DN cho phù hợp với giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, trong phần các nội dung về kiểm soát RRTD, tác giả còn nêu khái quát, chưa đi sâu vào phân tích các nội dung để đưa ra các giải pháp cụ thể, để áp dụng thực tế tại NH
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hồng Sương (2016) “Các biện pháp kiểm soát RRTD trong cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân
hà ng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam-Chi nhánh Đắk Lắk” Tác giả đã
đưa ra các chính sách kiểm soát RRTD và tổ chức triển khai chính sách kiểm soát RRTD tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam-Chi nhánh Đắk Lắk Nghiên cứu của tác giả này có điểm tương đồng với đề tài này là
Trang 15cùng nghiên cứu 2 Chi nhánh của BIDV nhưng triển khai khác địa bàn Do
vậy, đề tài này đã kế thừa được các nghiên cứu chính sách kiểm soát RRTD tại BIDV đồng thời là cơ sở để xem xét nghiên cứu các chính sách đó trong hoạt động cho vay trung dài hạn đối với khách hàng DN trên địa bàn Đà Nẵng Tuy nhiên, hạn chế của tác giả là phần cơ sở lý luận về RRTD chưa nêu lên được các đặc điểm cơ bản của RRTD trong cho vay doanh nghiệp
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Lương Tấn Minh ( 2015) “Kiểm soát rủi
ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Đà Nẵng” Tác giả đã nghiên cứu các nội dung của công
tác kiểm soát RRTD và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát RRTD đối với các doanh nghiệp trên địa bàn TP Đà Nẵng Tuy nhiên, hạn chế của tác giả là các giải pháp kiểm soát RRTD còn chung chung, chưa
cụ thể để áp dụng đối với cho vay khách hàng doanh nghiệp trên địa bàn Đà Nẵng
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Thu Vân (2015) “Kiểm soát rủi
ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại CN NH Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn quận Liên Chiểu TP Đà Nẵng” Tác giả đã nêu các tiêu chí
đánh giá công tác kiểm soát RRTD, các giải pháp hạn chế RRTD như mức
giảm của nợ xấu, tỷ lệ trích dự phòng rủi ro, tỷ lệ xóa nợ ròng, đây là cơ sở để
đề tài này tiếp thu để đánh giá công tác kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn khách hàng DN tại Đà Nẵng.Tuy nhiên, hạn chế của tác giả là các trong tiêu chí đánh giá kết quả kiểm soát RRTD thiếu phần tình hình biến động cơ cấu dư nợ tại NH
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Mai Công Trung (2014) “Các biện pháp hạn chế RRTD trong cho vay trung dài hạn đối với doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam-Chi nhánh Đắk Lắk” Trong phần
cơ sở lý luận tác giả đã trình bày đầy đủ về RRTD và hạn chế RRTD Tuy
Trang 16nhiên, trong phần 2, phần hạn chế RRTD tác giả chỉ nêu các hình thức giám sát và cảnh báo rủi ro tín dụng trong quá trình cho vay, cụ thể là kiểm tra giám sát tuân thủ chính sách, qui trình nghiệp vụ tín dụng Đề tài này đã kế thừa được các nghiên cứu lý luận về RRTD Tuy nhiên, hạn chế của tác giả là
do đề tài nghiên cứu ở phương diện rộng nên việc tập trung nghiên cứu công
tác hạn chế RRTD còn hạn chế
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Phan Trần Anh Nguyên (2014) “Các biện pháp hạn chế RRTD trong cho vay trung dài hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Hải Châu TP Đà Nẵng” Luận văn đưa nhiều biện
pháp hạn chế RRTD cũng như phân tích đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hải Châu
TP Đà Nẵng Tuy nhiên hạn chế của tác giả là chưa đưa ra các biện pháp né tránh RRTD.Đề tài này đã bổ sung thêm các lý luận về công tác kiểm soát RRTD, đồng thời các giải pháp mà tác giả đưa ra được đề tài này nghiên cứu
kế thừa và phát triển cho phù hợp với thực tiễn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư
và Phát triển Việt Nam-Chi nhánh Đà Nẵng và Khách hàng DN trên địa bàn
Đà Nẵng
- Bài báo nghiên cứu của tác giả T.S Đinh Thị Thanh Vân (2014) ,“So
sánh n ợ xấu, phân loại nợ và trích dự phòng rủi ro tín dụng của Việt Nam và thông l ệ quốc tế”, Tạp chí Ngân hàng, tr 5, đã nghiên cứu phương pháp trích
dự phòng RRTD của Việt Nam và so sánh với phương pháp trích dự phòng RRTD với nhiều nước trên thế giới, đưa ra các kiến nghị nhằm tính toán chính xác và trích đủ dự phòng RRTD
- Bài báo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thái Hưng (2015), “Giải pháp gi ảm thiểu rủi ro tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước”, Tạp chí Ngân hàng, tr.7-11, đã nghiên cứu các giải pháp giảm thiểu RRTD trong cho
vay đầu tư của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Trang 17- Bài báo nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hạnh (2016), “Kiểm soát rủi ro tín dụng theo Basel II tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam”, Tạp chí Tài chính ,tr.10, đã nghiên cứu các biện pháp kiểm soát rủi ro tín dụng thông qua
việc áp dụng các chuẩn mực của Basel và kết quả đạt được ở Việt Nam
Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đây về kiểm soát RRTD, đề tài này hệ thống hóa các lý luận về RRTD và nội dung công tác kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn với DN, cũng như các biện pháp kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn DN thường được NHTM sử dụng Bên cạnh đó đề tài này đưa ra các yêu cầu triển khai hiệu quả các biện pháp kiểm soát RRTD
tại NHTM, đồng thời đưa ra các tiêu chí đánh giá kết quả công tác kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn với DN.Đề tài đi từ việc phân tích chung về thực trạng hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đà Nẵng, qua đó đánh giá thực trạng RRTD trong cho vay trung dài hạn với khách hàng DN và công tác kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn khách hàng DN của chi nhánh Từ việc phân tích đó, đề tài rút ra được những kết quả, hạn chế và nguyên nhân hạn chế đối với công tác kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn với khách hàng DN tại Chi nhánh Trên cơ sở đó, đưa ra các nhóm giải pháp thích hợp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn đối với khách hàng DN tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đà Nẵng trong thời gian tới
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG DÀI HẠN ĐỐI VỚI
KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NHTM
1.1 CHO VAY TRUNG DÀI HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG
1.1.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng
a Khái niệm cho vay
Cho vay là một trong những hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định
Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12), định nghĩa hoạt động cấp
tín dụng là “việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”
Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại là hình thức cấp tín dụng phổ biến, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các hình thức cấp tín dụng Đó là hoạt động mà theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
b Phân loại cho vay
Thông thường danh mục cho vay có thể được sắp xếp rất đa dạng tùy vào các tiêu thức quản lý khác nhau của các NHTM
Trang 19- Căn cứ vào thời hạn cho vay, hoạt động cho vay được chia thành các loại: + Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn đến 1 năm Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động + Cho vay trung dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 1 năm Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản
cố định hoặc tài trợ các dự án đầu tư
- Căn cứ vào mục đích cho vay, hoạt động cho vay được chia thành các loại: + Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp;
+ Cho vay tiêu dùng cá nhân;
+ Cho vay bất động sản;
+ Cho vay nông nghiệp;
+ Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu
- Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, hoạt động cho vay được chia thành các loại:
+ Cho vay đảm bảo bằng tài sản: là loại cho vay dựa trên cơ sở bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác
+ Cho vay đảm bảo không bằng tài sản: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay
- Căn cứ vào phương thức cho vay, hoạt động cho vay được chia thành các loại sau:
+ Cho vay từng lần: là loại cho vay mà mỗi lần vay vốn khách hàng và NHTM thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: là loại cho vay mà NHTM và KH xác định và thỏa thuận hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định
Trang 20+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: là loại cho vay mà NHTM thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho KH chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của KH
1.1.2 Doanh nghiệp và phân loại cho vay trung dài hạn doanh nghiệp
a Doanh nghiệp
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu Doanh nghiệp là một tổ chức có nhiệm vụ tiến hành các hoạt động kinh doanh với các đặc trưng cơ bản sau:
- Là chủ thể kinh tế độc lập
- Có tư cách pháp nhân
- Hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận hoặc phục vụ nhu cầu công cộng Theo luật DN số 68/2014/QH13 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 26/11/2014, Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Các loại hình Doanh nghiệp chính bao gồm:
- Doanh nghiệp Nhà nước: Là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn Nhà nước - người đại diện toàn dân - tổ chức thực hiện chức năng quản lý trên mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh kể từ khi thành lập cho đến khi giải thể Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa
vụ dân sự trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý
- Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty (có thể là một tổ chức hay một cá nhân đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
Trang 21- Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
- Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh) Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn
- Doanh nghiệp tư nhân: doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân
b Phân loại cho vay trung dài hạn đối với doanh nghiệp
- Cho vay thông thường
Khoản vay này dùng để đáp ứng nhu cầu mua sắm máy móc thiết bị, nhu cầu tài trợ cho TSLĐ thường xuyên hay thanh toán các khoảng nợ của doanh nghiệp, tiền vay được thanh toán dần cho ngân hàng theo định kỳ Số tiền
thanh toán định kỳ có thể đều nhau, không đều nhau hay kỳ cuối nhiều hơn
- Tín dụng tuần hoàn
Tín dụng tuần hoàn là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cam kết chính thức dành cho khách hàng một hạn mức tín dụng trong thời hạn nhất định, có thể từ 1-3 năm hay 5 năm, song thời hạn nợ ký kết trong hợp đồng thường ngắn và nếu khách hàng thực hiện tốt các điều khoản của hợp đồng tín dụng thì cam kết hạn mức sẽ được tiếp tục Loại tín dụng này thường dùng để tài trợ cho nhu cầu tăng trưởng TSLĐ, thay thế các khoản nợ ngắn hạn tới kỳ thanh toán hay cho vay qua thẻ tín dụng
Trang 221.1.3 Đặc điểm cho vay trung dài hạn đối với doanh nghiệp
- Giá trị khoản vay lớn
Nhu cầu vay vốn trung dài hạn của các doanh nghiệp phát sinh do nhu cầu mở rộng sản xuất, mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ, phát triển cơ sở hạ tầng…
- Thời hạn đầu tư dài
Nguồn vốn vay trung dài hạn là nguồn vốn quan trọng đáp ứng nhu cầu tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên Toàn bộ vốn cố định tuy tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ chuyển một phần giá trị vào các sản phẩm được sản xuất ra trong suốt quá trình khấu hao Đối với tài sản lưu động thường xuyên, tính chất thường xuyên thể hiện ở chỗ nguồn vốn
để đầu tư vào loại tài sản lưu động này phải được duy trì một cách thường xuyên Rõ ràng, với tính chất như vậy nguồn vốn để đầu tư phải là nguồn vốn
có tính chất dài hạn
- Rủi ro cao
Cho vay trung dài hạn là khoản vay có khối lượng vốn lớn, thời hạn vay dài Việc sử dụng vốn vay của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, chính trị xã hội, sự thay đổi về vị thế của doanh nghiệp về sản phẩm được cung cấp, sự xuất hiện của sản phẩm mới, sự thay đổi của công nghệ sản xuất, nguyên liệu sản xuất… tất cả các yếu tố này
có thể gây khó khăn cho việc trả nợ của doanh nghiệp
- Lãi suất cao
Lãi suất cho vay, ngoài lãi suất cơ bản còn phụ thuộc vào cấu trúc rủi ro
và cấu trúc kì hạn của lãi suất Mức độ rủi ro càng cao, thời hạn cho vay càng dài thì mức bù rủi ro cho NH càng lớn, do đó lãi suất cho vay càng cao và ngược lại Chính vì vậy mà lãi suất cho vay trung dài hạn thường cao hơn lãi suất ngắn hạn
Trang 231.2 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Trong các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM, rủi ro tín dụng có tác động lớn nhất đến mục tiêu kinh doanh của NHTM Vậy rủi ro tín dụng là gì?
Trong tài liệu “Financial Institutions Management – A Modern Perpective”, A.Saunder và H.Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn (A.Saunder, H.Lange (1995),
Financial Institutions Management – A Modern Perpective, Irwin, Artarmon)
Theo Timothy W.Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi
ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán
hay thanh toán trễ hạn (Timothy W.Koch (1995), Bank Management,
University of South Carolina, The Dryden Press, page 107)
Căn cứ vào khoản 01 điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và
sử dụng dự phòng để xử lý Rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng (Ban hành theo Quyết định số 493/2005/Qđ – NHNN ngày
22/4/2005 của Thống đốc NHNN) thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.”
Như vậy có thể nói rằng rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó NH là chủ nợ, mà khách hàng nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn Nó diễn ra
Trang 24trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của NH Đây còn được gọi là rủi
ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của NH
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng
a Căn cứ vào tiêu thức nguyên nhân phát sinh rủi ro
- Rủi ro giao dịch: là rủi ro do những hạn chế trong quá trình giao dịch
và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ
+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả
để quyết định cho vay
+ Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại TSBĐ, chủ thể bảo đảm, cách thức bảo đảm và mức cho vay trên trị giá của TSBĐ
+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lí khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạn rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề
- Rủi ro danh mục: là rủi ro do những hạn chế trong quản lí danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành 02 loại: Rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk):
+ Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế
+ Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lí nhất định,
Trang 25b Căn cứ theo tính chất khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây
ra rủi ro
- Rủi ro khách quan : là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách
- Rủi ro chủ quan: là rủi ro do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những
lý do chủ quan khác
c Căn cứ vào tác động lên danh mục tín dụng
- Rủi ro đặc thù: Rủi ro tín dụng của một người vay cụ thể phát sinh do những kiểu đặc thù của rủi ro dự án mà người vay thực hiện
- Rủi ro hệ thống: Rủi ro tín dụng phát sinh do bối cảnh chung của nền kinh tế hoặc những điều kiện vĩ mô tác động lên toàn bộ các người vay (ví dụ: khủng hoảng, suy thoái kinh tế, lạm phát )
1.2.3 Tác động của rủi ro tín dụng
a Đối với ngân hàng thương mại
Khi RRTD xảy ra, ngân hàng không thu được lãi và có thể là không thu được cả gốc Lúc này ngân hàng sẽ buộc phải sử dụng nguồn trích lập dự phòng để bù đắp khoản lăi và gốc không thu được Bên cạnh việc thu nhập giảm sút ngân hàng còn gặp khó khăn trong vấn đề thanh khoản Nếu RRTD xảy ra ở mức độ quá lớn, nguồn vốn của NH không đủ bù đắp, vốn khả dụng
bị thiếu sẽ dẫn đến lòng tin của khách hàng giảm sút Và nếu không giải quyết tốt những vấn đề trên mà nguồn gốc của nó là rủi ro tín dụng thì ngân hàng có thể đứng trước bờ vực phá sản Các biểu hiện chủ yếu về ảnh hưởng của rủi ro tín dụng lên hoạt động của Ngân hàng bao gồm:
- Giảm thu nhập ròng Ngân hàng :
Trang 26Rủi ro tín dụng làm cho ngân hàng không thu được lãi nên trực tiếp làm giảm lợi nhuận của NH RRTD còn làm cho việc thu các dòng tiền không đúng hạn làm cho NH không có đủ và kịp thời các dòng tiền ra để đáp ứng các nhu cầu cấp tín dụng nên dẫn đến làm giảm thu nhập từ tín dụng của NH
- Giảm giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu
Rủi ro tín dụng vừa trực tiếp làm giảm giá trị sổ sách (book value) của tài sản ngân hàng, vừa làm giảm giá trị thị trường của các khoản nợ bị rủi ro ở các mức độ khác nhau tương quan nghịch với mức độ rủi ro của khoản nợ Hệ quả là giá trị thị trường của tài sản sẽ bị sụt giảm trong khi giá trị thị trường của nợ không đổi Do đó, giá trị tài sản ròng hay giá trị thị trường của vốn chủ
sở hữu sẽ bị sụt giảm
- Gia tăng các loại rủi ro khác đối với NH: rủi ro thanh khoản; rủi ro lãi suất; rủi ro vỡ nợ
- Gia tăng chi phí vay vốn của NH
Rủi ro tín dụng làm gia tăng nguy cơ vỡ nợ và tác động tiêu cực đến đánh giá của công chúng về hoạt động kinh doanh của ngân hàng, về mức độ rủi ro của ngân hàng Do dó, NH phải gia tăng lãi suất huy động mới có thể huy động được số vốn cần thiết làm chi phí cận biên của việc huy động vốn gia tăng
- Giảm uy tín của NH
NHTM gặp nhiều rủi ro tín dụng là ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, điều này làm mất uy tín của ngân hàng Do đó, giá trị thương hiệu của NH và hình ảnh của NH trong công chúng không còn giữ vị thế tốt Một khi khách hàng mất lòng tin ở ngân hàng, họ sẽ không gửi tiền vào ngân hàng, thậm chí
họ có thể còn rút lại những khoản tiền đã gửi Mặt khác, do uy tín giảm làm cho khách hàng ít tin tưởng để giao cho ngân hàng thực hiện các dịch vụ qua ngân hàng
Trang 27b Đối với nền kinh tế
Với chức năng trung gian tài chính, NH quan hệ trực tiếp đến mọi ngành, mọi thành phần kinh tế, là khâu cốt yếu cung cấp vốn cho nền kinh tế Khi một
NH bị suy yếu dễ tạo ra phản ứng dây chuyền đối với các NH và định chế tài chính khác Sở dĩ như vậy là do RRTD làm giảm lợi nhuận của NH, giảm khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn cho KH, dễ gây hoang mang trong dân chúng và dẫn đến việc rút tiền ồ ạt ở NH đó để tìm cơ hội đầu tư có lợi hơn ở một NH khác Trường hợp nghiêm trọng xảy ra khi có quá nhiều người đến rút tiền tại cùng một thời điểm và NH sẽ không đủ tiền mặt để thanh toán, làm cho KH tin rằng NH có nguy cơ phá sản và sẽ đổ xô đến rút tiền về dẫn đến sự phá sản thực
sự của NH Hậu quả của sự phá sản không chỉ bản thân NH phải gánh chịu mà
nó còn liên quan đến các NH khác Từ đó, dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nghiêm trọng, ảnh hưởng dây chuyền đến các DN sản xuất kinh doanh, kìm hãm sự phát triển kinh tế, gây suy thoái nền kinh tế
c Đối với khách hàng
Nếu rủi ro xảy ra từ phía NH, khách hàng có thể mất đi kênh cung ứng vốn, dẫn đến sản xuất bị đình trệ Nếu rủi ro xảy ra từ chính bản thân DN, các khoản nợ khó đòi của họ có thể sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa họ với
NH Đặc biệt khi DN đó cần vốn, có thể sẽ rất khó khăn khi vay vốn ở các
NH khác nếu tìm hiểu về lịch sử vay vốn của họ, điều này sẽ gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN
1.3 KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG DÀI HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NHTM
1.3.1 Khái niệm kiểm soát RRTD
Kiểm soát RRTD là quá trình ngân hàng vận dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược và các chương trình hành động để ngăn ngừa, né tránh, phân tán, giảm thiểu, trung hòa, chuyển giao, tự tài trợ nhằm giới hạn
Trang 28mức độ thiệt hại, kiểm soát xác suất xảy ra rủi ro và giảm thiểu tổn thất
1.3.2 Đặc điểm kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn
RRTD trong cho vay trung dài hạn là thường cao hơn so với cho vay ngắn hạn bởi những yếu tố như:
- Yếu tố cơ bản của rủi ro là sự bất định Thời hạn tín dụng càng dài, sự bất định trong khả năng thu hồi các khoản nợ càng lớn Vì vậy, rủi ro gia tăng đối với các khoản vay dài hạn
- Quy mô của khoản vay trung dài hạn thường lớn, nên nếu rủi ro xảy ra thì sẽ gây tổn thất lớn Bên cạnh đó, số món vay trung dài hạn không nhiều, vì vậy việc đa dạng hóa danh mục cho vay trung dài hạn sẽ khó hơn
- Công tác thẩm định tín dụng trung dài hạn phức tạp, chi phí thẩm định cao vì phải thẩm định rất nhiều yếu tố, đồng thời phải thu thập nhiều dữ liệu
để có cơ sở dự báo với một khoản thời gian dài
- Những nhân tố biến động môi trường có ảnh hưởng lớn hơn đối với RRTD trung dài hạn do kỳ hạn vay dài Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không ổn định khi có những thay đổi trong quy định về thuế, vốn , cũng như hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng bị tác động nhiều bởi những văn bản luật về tài sản đảm bảo, dự trữ, trích lập… Như vậy, các chính sách kinh tế, pháp luật không hoàn chỉnh cũng gây khó khăn có doanh nghiệp về khả năng trả nợ, cũng như đe doạ đến sự an toàn của ngân hàng trong cho vay
- Tương quan đánh đổi giữa rủi ro và sinh lời rõ ràng hơn trong cho vay trung dài hạn Cho vay trung dài hạn đòi hỏi giá trị khoản vay lớn trong thời gian dài nhưng bù lại khả năng sinh lời của NH cũng cao hơn so với cho vay ngắn hạn Có điều này là do cấu trúc kỳ hạn của lãi suất Theo lý thuyết phần
bù thanh khoản thì lãi suất dài hạn bằng lãi suất kỳ hạn ngắn dự tính + phần
bù thanh khoản
Trang 291.3.3 Nội dung kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay trung dài hạn đối với doanh nghiệp
a Né tránh rủi ro tín dụng
Trong hoạt động kiểm soát RRTD, né tránh RRTD là một trong những công cụ kiểm soát RRTD Né tránh rủi ro tín dụng là né tránh những hoạt động làm phát sinh tổn thất do DNkhông trả nợ đúng hạn như đã cam kết Như vậy, quyết định né tránh RRTD là quyết định có ý thức của các nhà quản
trị rủi ro NHTM có thể quyết định không cung cấp bất kỳ khoản vay hoặc tài trợ cho một số lĩnh vực cụ thể mà NHTM xét thấy rủi ro tín dụng cao để né tránh nguy cơ rủi ro tín dụng có thể xảy ra Né tránh RRTD ở đây có nghĩa là không đối diện với RRTD bằng nhiều hình thức như quyết định từ chối cho vay hoặc đưa ra các quyết định loại bỏ rủi ro tín dụng để ngân hàng không còn đối diện với nó trong cho vay DN
Né tránh rủi ro tín dụng là cách tiếp cận hiệu quả của quản trị rủi ro tín dụng Bằng cách né tránh RRTD, NHTM biết rằng sẽ không gánh chịu những tổn thất tiềm ẩn và bất định mà RRTD gây ra Đây là quyết định thường được đánh giá là tương đối dễ dàng, đơn giản, triệt để và chi phí thấp tuy nhiên có
một số hạn chế sau:
Th ứ nhất, hoạt động cho vay của NHTM luôn đối diện với nguy cơ tổn
thất do rủi ro tín dụng gây ra do vậy rất khó né tránh hoàn toàn được rủi ro tín dụng mà thường chỉ né tránh một phần ở một mức độ nào đó
Th ứ hai, rủi ro tồn tại trong mọi hoạt động của NHTM, vì vậy né tránh
rủi ro tín dụng có thể dẫn đến phải đối diện với rủi ro khác trong hoạt động
của NHTM
Để công tác né tránh RRTD được thực hiện có hiệu quả, NHTM thường
sử dụng các biện pháp sau:
Trang 30- Từ chối cho vay
NHTM từ chối cho vay đối với các doanh nghiệp vay vốn không đủ điều kiện vay vốn, không đáp ứng được các tiêu chuẩn cho vay Đây là biện pháp
né tránh hoàn toàn RRTD đảm bảo cho NHTM không đối diện với rủi ro tín dụng có nguy cơ tổn thất cao
Để công tác từ chối cho vay có hiệu quả, đảm bảo không bỏ mất những
DN tốt, đồng thời né tránh những DN yếu kém, dễ dẫn đến tổn thất vốn vay, NHTM đưa ra những tiêu chuẩn cụ thể nhằm thống nhất công tác sàng lọc DN vay vốn
Nội dung tiêu chuẩn sàng lọc doanh nghiệp vay vốn gồm:
Qui định về tiêu chuẩn sàng lọc khách hàng: Tùy thuộc vào mức độ chấp nhận rủi ro mà mỗi NHTM đưa ra tiêu chuẩn về sàng lọc khách hàng khác nhau Tuy nhiên, NHTM thường chấp nhận cho vay nếu DNđược đánh giá : + DNcó khả năng trả nợ;
+ DNkinh doanh có lãi và có tình hình tài chính ổn định;
+ DNcó phương án kinh doanh, dự án đầu tư khả thi, hiệu quả;
Ngoài ra, NHTM còn có thể đưa ra các tiêu chuẩn bổ sung theo mức độ rủi ro của từng ngành kinh tế
Đối với DNkhông đạt tiêu chuẩn trên NHTM phải sử dụng các biện pháp
Trang 31trước khi quyết định cho vay
- Giới hạn tín dụng trên một khách hàng
Mục đích của xác định giới hạn tín dụng:
+ Xác định giới hạn tín dụng là xác định nhu cầu vốn cần thiết trong kỳ của DN vay vốn, giúp cho DNcó kế hoạch quản lý và sử dụng vốn hiệu quả trong giới hạn vốn tín dụng được cung cấp
+ Xác định giới hạn tín dụng là xác định giới hạn cao nhất mà NHTM chấp nhận RRTD trên cơ sở kết quả thẩm định, xếp hạng tín dụng nội bộ cho một DN vay vốn
Như vậy, giới hạn tín dụng cho một DNmột mặt giúp DNsử dụng hiệu quả vốn vay ngân hàng, mặt khác giúp cho NHTM giới hạn khả năng chịu đựng rủi ro tín dụng Ngoài ra, NHTM còn qui định tỷ lệ dư nợ tối đa cho một doanh nghiệp nhằm phân tán RRTD trong cho vay DN
- Giới hạn tỷ lệ dư nợ những lĩnh vực, ngành có rủi ro tín dụng cao trên tổng dư nợ
Xác định giới hạn tín dụng đối với những lĩnh vực cho vay nhạy cảm như bất động sản, cho vay đầu tư chứng khoán là cần thiết để giới hạn RRTD xảy ra đối với lĩnh vực có mức độ RRTD cao NHTM thường thực hiện giới hạn tỷ lệ dư nợ cho vay đối với lĩnh vực có mức độ RRTD cao trên tổng dư
nợ nhằm không tập trung dư nợ vay vào các lĩnh vực có RRTD cao Đồng thời khuyến khích cho vay các lĩnh vực có mức độ RRTD thấp như cho vay lĩnh vực thương mại, sản xuất công nghiệp, cho vay xuất khẩu Đây là biện pháp né tránh một phần RRTD nhằm giới hạn RRTD trong mức cho phép
- Cho vay đồng tài trợ
Cho vay đồng tài trợ là hình thức các NHTM cùng cho vay một dự án, cùng chia sẻ RRTD trong cho vay DN Cho vay đồng tài trợ là hình thức chia nhỏ RRTD nhằm né tránh RRTD có nguy cơ tổn thất cao, chấp nhận RRTD
Trang 32trong giới hạn Cho vay đồng tài trợ giúp cho NHTM giới hạn mức RRTD và tổn thất trong khả năng tài chính của mình
b Ngăn ngừa rủi ro tín dụng
Đối với các khoản nợ không thể thực hiện được biện pháp né tránh hoàn toàn rủi ro tín dụng, NHTM tiến hành các hoạt động ngăn ngừa rủi ro tín dụng không để nó xảy ra Vậy ngăn ngừa RRTD trong cho vay trung dài hạn DN là gì? Theo cách hiểu thông thường thì ngăn ngừa là các hoạt động nhằm ngăn
cản khả năng xảy ra sự việc không mong muốn nào đó nhằm giảm thiểu tổn thất do sự việc đó xảy ra.Với ý nghĩa như vậy, ngăn ngừa RRTD trong cho vay trung dài hạn DN là các hoạt động của NHTM nhằm vào các nhân tố có thể mang lại rủi ro để ngăn cản khả năng xảy ra RRTD, giảm thiểu tổn thất vốn của NHTM Các hoạt động này được tiến hành trước khi RRTD xảy ra căn cứ vào kết quả nhận dạng và đánh giá RRTD trong cho vay DN Bên cạnh
đó hoạt động này thường được thực hiện trong và sau khi cho vay Các biện pháp ngăn ngừa RRTD trong cho vay DN thường gồm:
-Yêu cầu doanh nghiệp vay vốn có vốn tự có tham gia vào phương án
s ản xuất kinh doanh, dự án đầu tư
NHTM chỉ cho vay khi DN có vốn tự có tham gia vào phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án Đây là biện pháp nhằm tăng trách nhiệm sử dụng vốn vay của DN vay vốn Mức độ vốn tự có của DNtham gia vào phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư phụ thuộc vào mức độ RRTD được NHTM đánh giá và mức độ tín nhiệm của DNtrong quá trình vay vốn
Yêu cầu của biện pháp vốn tự có tham gia:
Để biện pháp được thực hiện tốt NHTM yêu cầu vốn tự có của DNphải được giải ngân trước hoặc song song với vốn vay và biện pháp này phải được NHTM thỏa thuận với DN trong hợp đồng tín dụng
Trang 33- Tổ chức công tác cho vay nhằm hạn chế được rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp
+ Tách bạch 3 bộ phận đề xuất tín dụng, thẩm định rủi ro và tác nghiệp thành 3 bộ phận riêng biệt Sự độc lập giữa đề xuất tín dụng và thẩm định rủi
ro giúp cho quá trình phê duyệt được khách quan hơn, hạn chế ý chí chủ quan trong phê duyệt, hạn chế gian lận trong quá trình giải ngân, hồ sơ giả hoặc ngăn ngừa RRTD do đạo đức cán bộ làm công tác tín dụng xuống cấp, gây
tổn thất như: tự ý sửa chữa hồ sơ nhập vào phần mềm quản lý tín dụng để rút tiền ngân hàng, ‘vay ké’, tham nhũng…
+ Phân cấp mức phán quyết cho vay theo mức độ rủi ro tín dụng: Mục đích của việc phân cấp phán quyết cho vay là để công tác cho vay của ngân hàng được xem xét thận trọng tương ứng với mức độ RRTD và trình độ của cán bộ
+ Xây dựng qui trình cho vay tương ứng với từng mức rủi ro tín dụng: Mỗi một sản phẩm cho vay đều có mức độ rủi ro tín dụng khác nhau, có đặc điểm riêng Do vậy để hạn chế được RRTD, NHTM ban hành qui trình cho vay theo từng sản phẩm cho vay
+ Thực hiện việc giám sát quá trình vay vốn của doanh nghiệp nhằm không để xảy ra các nguy cơ gây ra rủi ro như: sử dụng vốn sai mục đích, việc tuân thủ các cam kết trong hợp đồng tín dụng, giám sát dòng tiền
- Sử dụng các biện pháp tài chính
Để đảm bảo DNsử dụng vốn vay có hiệu quả, NHTM thường thỏa thuận với DN các điều kiện vay vốn trước khi giải ngân như lãi suất, lãi quá hạn, phí gia hạn, phí cơ cấu lại thời hạn Đây là biện pháp tác động vào DN , yêu cầu
DN phải sử dụng vốn vay có hiệu quả Nếu không sử dụng vốn vay có hiệu quả dẫn đến trả nợ vay không đúng hạn, phải gia hạn hoặc quá hạn thì DN sẽ
bị mất đi một khoản chi phí cơ cấu, lãi phạt
Trang 34- Thu nợ trước hạn
Thu nợ trước hạn là biện pháp theo đó, NHTM thu hồi nợ vay trước ngày đến hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng do khách hàng không thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng tín dụng hoặc NHTM cho DNtrả nợ trước hạn khi NHTM phát hiện các dấu hiệu rủi ro tín dụng có thể dẫn đến trả nợ không đúng hạn Nguồn thu nợ là nguồn vốn tự có, tiền bán hàng của DN Để
biện pháp thu nợ được thực hiện tốt trong các hợp đồng tín dụng, NHTM phải thỏa thuận các trường hợp thu nợ trước hạn
c Giảm thiểu tổn thất
Né tránh, ngăn ngừa rủi ro tín dụng là những biện pháp can thiệp vào xác suất xảy ra RRTD trong cho vay DN Tuy nhiên, có những RRTD mà NHTM không thể ngăn ngừa hoặc chỉ ngăn ngừa một phần Để bổ sung vào các biện pháp kiểm soát RRTD, NHTM sử dụng biện pháp giảm thiểu tổn thất Giảm thiểu tổn thất trong cho vay DN là biện pháp của NHTM thực hiện trước khi RRTD xảy ra.Các biện pháp giảm thiểu tổn thất thường sử dụng trong cho
vay DN là:
- Tài sản đảm bảo nợ vay
Tài sản đảm bảo nợ vay là những tài sản thuộc sở hữu của DNdùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi vay và các khoản phí liên quan cho ngân hàng theo các cam kết trong hợp đồng tín dụng Tài sản đảm bảo nợ vay
là biện pháp giúp NHTM nắm được thế chủ động trong kiểm soát vốn vay
Nó vừa là biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng vừa là biện pháp giảm thiểu tổn thất Khi thế chấp tài sản DNcó trách nhiệm trong việc trả nợ vay đúng như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng Tỷ lệ giá trị tài sản đảm bảo vốn vay trên dư
nợ vay tùy thuộc vào mức độ RRTD mà NHTM đánh giá đối với từng DN trong từng thời kỳ NHTM yêu cầu DN bổ sung tài sản đảm bảo khi DN bị xuống hạng hoặc tài sản đảm bảo của DN bị giảm giá so với giá trị NHTM đã
Trang 35định giá tại thời điểm ký hợp đồng
Để biện pháp này được thực hiện có hiệu quả, đòi hỏi NHTM phải thực hiện tốt một số công tác sau:
+ Định giá tài sản đúng giá thị trường: Công tác định giá tài sản đảm bảo phải đảm bảo chính xác, đúng với giá trị thị trường và tại mọi thời điểm NHTM phải đảm bảo giá trị tài sản đảm bảo không thấp hơn giá trị thị trường; + Chọn lọc tài sản đảm bảo có tính thanh khoản: NHTM cần chấp nhận
những tài sản đảm bảo có tính thanh khoản nhằm đảm bảo tài sản bán được trên thị trường khi doanh nghiệp không trả được nợ vay;
+ Định kỳ tài sản đảm bảo phải được NHTM kiểm tra để đảm bảo tài sản không bị mất mát, không bị DN;
+ Trong điều khoản hợp đồng tín dụng, hợp đồng đảm bảo tiền vay, NHTM thỏa thuận với DNcác trường hợp bổ sung tài sản đảm bảo
- Lập quỹ dự phòng rủi ro
Khi đã chấp nhận rủi ro thì NHTM phải dự trù về nguồn tài chính để khi rủi ro xảy ra thì sẽ khắc phục được kịp thời nhằm bù đắp những tổn thất mất mát Khi giải ngân, việc cho vay của ngân hàng được chính thức ghi nhận trên
sổ sách kế toán và đồng thời là thời điểm ngân hàng phải luôn đối diện với rủi
ro tín dụng do vậy cần phải thực hiện trích dự phòng rủi ro “Trích dự phòng rủi ro tín dụng là phương pháp ngân hàng sử dụng để ghi nhận tổn thất so với giá trị ghi nhận ban đầu của khoản vay”
Quỹ dự phòng rủi ro bao gồm dự phòng rủi ro cụ thể và dự phòng chung Mức trích dự phòng rủi ro cụ thể là mức độ tổn thất tín dụng do vậy nó phục thuộc vào: (i) Mức độ rủi ro của từng DN vay vốn; (ii) Giá trị tài sản đảm bảo
Mức trích dự phòng chung không phụ thuộc vào tài sản đảm bảo, mức độ rủi
ro của DN vay vốn
Trang 36- Áp dụng lãi suất cho vay theo mức độ rủi ro tín dụng
Lãi suất cho vay theo mức RRTD nhằm giúp cho NHTM bù rủi ro tín dụng DNcó xếp hạng tín dụng nội bộ AAA sẽ có lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất cho vay đối với các DN có mức định hạng thấp hơn như BBB,BB Việc áp dụng lãi suất vay vốn theo mức độ rủi ro tín dụng, tạo động lực cho
DNluôn phải phấn đấu nâng cao năng lực tài chính, trình độ quản lý để được NHTM nâng hạng tín dụng
- Giảm dần dư nợ vay
Trong quá trình nhận diện, đánh giá RRTD trong cho vay trung dài hạn
DN, NHTM nhận thấy tình hình tài chính của DNgiảm sút chẳng hạn như kinh doanh thua lỗ và DNbị xuống hạng, tùy vào mức độ mà NHTM sẽ hạn chế cho vay và rút dần dư nợ vay Trong trường hợp này NHTM chỉ áp dụng phương thức cho vay theo từng món cụ thể nếu thẩm định có hiệu quả, có khả năng thu hồi gốc, lãi vay và có khả năng cải thiện được tình hình tài chính
Để biện pháp này có tính khả thi, trong các hợp đồng tín dụng NHTM phải có các thỏa thuận các trường hợp giảm dần dư nợ vay
d Chuy ển giao rủi ro tín dụng
Chuyển giao rủi ro tín dụng là việc tạo ra nhiều thực thể khác nhau thay
vì một thực thể phải gánh chịu RRTD, thông qua việc chuyển giao toàn bộ tài
sản và hoạt động có RRTD đến một người hay một nhóm người khác hoặc cả hai Trong hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng của NHTM, chuyển giao RRTD được thực hiện dưới các hình thức sau:
- Mua bảo hiểm
NHTM thường yêu cầu doanh nghiệp mua bảo hiểm cho các tài sản hình thành từ vốn vay hoặc tài sản đảm bảo vốn vay khi xét thấy những tài sản có thể bị tổn thất như hao hụt, mất mát, bị giảm giá trị, hư hỏng do thiên tai, hỏa hoạn Các tài sản mà NHTM thường yêu cầu là các hàng hóa dễ cháy như
Trang 37xăng dầu, các tài sản chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai như công trình xây dựng Việc mua bảo hiểm cho tài sản hình thành từ vốn vay là biện pháp nhằm đảm bảo cho nguồn trả nợ cho ngân hàng
- Bán nợ
Trong quá trình giám sát khoản vay, NHTM thấy món vay đã giải ngân
có dấu hiệu RRTD và được đánh giá có khả năng xảy ra tổn thất hoặc khoản vay đó làm cho danh mục cho vay của NHTM rủi ro hơn Để hạn chế RRTD xảy ra, NHTM thực hiện bán nợ Bán nợ là biện pháp NHTM chuyển giao nợ
có nguy cơ tổn thất cho các định chế tài chính khác
- B ảo lãnh của bên thứ ba
Trong hoạt động cho vay DN, để tạo ra thêm cá nhân, tổ chức gánh chịu trách nhiệm trả nợ vay ngoài doanh nghiệp vay vốn, NHTM yêu cầu doanh nghiệp phải có bảo lãnh của bên thứ ba Bên thứ ba dùng tài sản của mình để cam kết trả nợ thay cho DN nếu DN không có khả năng trả nợ hoặc bảo lãnh
của một NHTM có uy tín về cho khoản thanh toán, ứng trước, thực hiện hợp đồng cho các đối tác của DNđể đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn, khả năng thực hiện các cam kết đã ký kết của các đối tác này
- Ch ứng khoán hóa
Chứng khoán hóa tức là quá trình NHTM phát hành các chứng khoán nợ thông qua việc bán các tài sản sinh lời chưa đến hạn Vậy, thông qua hình thức này, NHTM đã chuyển giao rủi ro tín dụng cho nhiều đối tượng khác nhau trong nền kinh tế
1.3.4 Tiêu chí đánh giá kết quả kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay trung dài hạn khách hàng doanh nghiệp
Với những nội dung phức tạp như trên, vậy cần có những tiêu chí nào để đánh giá kết quả kiểm soát RRTD một cách cụ thể và chính xác nhất Dưới đây sẽ lần lượt giới thiệu các tiêu chí đó và phương pháp sử dụng các tiêu chí
Trang 38trong phân tích
a Tỷ lệ nợ xấu
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3,4 và 5 Tỷ lệ nợ xấu phản ánh được chất lượng tín dụng của NHTM Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ RRTD thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn Tỷ lệ nợ xấu tăng cho biết các biện pháp
kiểm soát RRTD của NHTM đang có vấn đề
b Tình hình biến động cơ cấu dư nợ
Chỉ tiêu mức giảm tỷ lệ nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 cho phép đánh giá toàn bộ các biểu hiện của RRTD, tuy nhiên các nhóm nợ khác nhau lại có mức độ rủi ro khác nhau chứ không đồng nhất, nên nếu tỷ lệ này ở hai ngân hàng giống nhau hoặc giữa cùng một ngân hàng ở hai thời kỳ giống nhau thì mức độ RRTD chưa hẳn đã đồng nhất Do đó, để đánh giá chuẩn xác hơn mức
độ RRTD cần phân tích thêm về cơ cấu các nhóm nợ
Biến động trong cơ cấu nhóm nợ của cho vay doanh nghiệp là sự thay đổi tỷ trọng của từng nhóm nợ trong tổng dư nợ cho vay doanh nghiệp Nếu
tỷ trọng các nhóm nợ có rủi ro cao hơn giảm đi và tỷ trọng các nhóm nợ có rủi
ro thấp hơn tăng lên trong các năm liên tiếp thì có nghĩa là công tác hạn chế RRTD đạt kết quả tốt hơn và ngược lại
Trang 39Nợ xóa là mức độ tổn thất thực tế mà NHTM phải chịu Giá trị xóa nợ
ròng = Dư nợ xóa- các khoản thu hồi được
Tỷ lệ xóa ròng càng cao cho thấy công tác kiểm soát RRTD của NHTM càng hạn chế
d Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Tỷ lệ này cho biết tỷ lệ nợ xấu sau khi trừ phần tài sản đảm bảo trên tổng
dư nợ Tỷ lệ này càng cao cho biết khả năng tổn thất của nợ xấu càng cao
1.3.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay trung dài hạn khách hàng doanh nghiệp
Để công tác tối thiểu hóa các tổn thất do rủi ro tín dụng gây ra trong cho vay trung dài hạn DN, NHTM phải thực hiện các biện pháp né tránh, phòng ngừa, chuyển giao giảm thiểu tổn thất rủi ro tín dụng đã nêu trên Tuy nhiên, các biện pháp này cũng chịu nhiều tác động bởi nhiều nhân tố Nhìn chung công tác kiểm soát RRTD trong cho vay trung dài hạn DN chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:
a Nhân tố bên ngoài
- Môi trường kinh tế: Trong nền kinh tế thị trường, chính sách kinh tế vĩ
mô của Chính phủ đóng vai trò quyết định đối với hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung và lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tín dụng của ngân hàng thương mại nói riêng Nếu chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ đúng đắn phù hợp với thực tiễn, khi nền kinh tế ổn định, lạm phát thấp không có khủng hoảng, hoạt động sản xuất kinh doanh của DN có hiệu quả, mang lại lợi nhuận cao, từ đó hoàn trả đầy đủ vốn vay cho NH, nên hoạt động cho vay của NH phát triển, chất lượng khoản cho vay được nâng cao, nhưng ngược lại cũng sẽ kìm hãm sự phát triển sản xuất kinh doanh làm cho các doanh nghiệp gặp khó
Trang 40khăn thậm chí thua lỗ, phá sản, lúc đó cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động hạn chế RRTD của NHTM
- Môi trường pháp lý : Trong hoạt động kinh doanh, các yếu tố pháp lý là điều kiện đảm bảo hàng đầu, đặc biệt là trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại Tính pháp lý thể hiện ở các hoạt động kinh doanh luôn tiến hành dựa trên các quy định pháp luật, hay nói cách khác bị giới hạn trong khuôn khổ pháp luật Nếu môi trường pháp lý tốt, đầy đủ, đồng bộ sẽ góp phần tích cực vào hiệu quả của các biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng Ngược lại, nếu môi trường pháp lý không đồng bộ, không phù hợp với xu thế phát triển kinh tế hiện tại sẽ tạo môi trường cạnh tranh không lành mạnh, nhiều sơ
hở để các DN làm ăn bất chính, lừa đảo lẫn nhau và lừa đảo chính NH Khi đó việc triển khai các biện pháp hạn chế rủi ro cho vay tại NHTM sẽ gặp khó khăn, thậm chí thực thi sẽ không có tác dụng
- Sự thay đổi của môi trường tự nhiên như: thiên tai, dịch bệnh, bão lụt gây khó khăn cho quá trình sản xuất kinh doanh của khách hàng, làm giảm lợi nhuận dẫn đến việc trả nợ gốc và lãi vay không đúng hạn Điều này có thể dẫn
đến rủi ro NHTM
- Nhân tố từ phía khách hàng doanh nghiệp:
+ Tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của DNgặp khó khăn như: sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, sử dụng vốn sai mục đích hoặc sử dụng vào các hoạt động có mức rủi ro cao dẫn đến thua lỗ và không thu hồi được vốn Về lâu dài những khó khăn đó có thể dẫn đến tình hình tài chính của DN ngày càng xấu đi, giảm sút khả năng thanh toán nợ cho các NH + Khách hàng vay vốn tại nhiều tổ chức tín dụng dưới một danh nghĩa hay nhiều thực thể khác nhau nên thiếu sự phân tích trên tổng thể, khó theo dõi được dòng tiền dẫn đến việc sử dụng vốn vay chồng chéo và mất khả năng thanh toán dây chuyền