1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP đà nẵng của khách du lịch nội địa

143 514 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Ý Định Quay Lại Điểm Đến Du Lịch TP. Đà Nẵng Của Khách Du Lịch Nội Địa
Tác giả Đào Thị Thu Hường
Người hướng dẫn TS. Võ Thị Quỳnh Nga
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 4,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu thực hiện theo hai giai đoạn: Giai đoạn 1: Phương pháp định tính Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm khái quát những kiến thức cơ bản về hành vi tiêu dùng du l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

ĐÀO THỊ THU HƯỜNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH QUAY LẠI ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH TP.ĐÀ NẴNG CỦA KHÁCH DU LỊCH NỘI ĐỊA

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng - Năm 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

ĐÀO THỊ THU HƯỜNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH QUAY LẠI ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH TP.ĐÀ NẴNG CỦA KHÁCH DU LỊCH NỘI ĐỊA

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số : 60.34.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: TS VÕ THỊ QUỲNH NGA

Đà Nẵng - Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Đào Thị Thu Hường

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

6 Bố cục đề tài 4

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾTVỀ Ý ĐỊNH QUAY LẠI ĐIỂM ĐẾN CỦA KHÁCH DU LỊCH 10

1.1 LÝ THUYẾT VỀ KHÁCH DU LỊCH 10

1.1.1 Khái niệm khách du lịch 10

1.1.2 Phân loại khách du lịch 10

1.2 LÝ THUYẾT VỀ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 12

1.2.1 Khái niệm điểm đến du lịch 12

1.2.2 Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch 13

1.3 LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI TIÊU DÙNG DU LỊCH 15

1.3.1 Khái niệm hành vi tiêu dùng du lịch 15

1.3.2 Mô hình hành vi tiêu dùng du lịch 16

1.3.3 Các mô hình lý thuyết về hành vi tiêu dùng 17

1.4 LÝ THUYẾT VỀ Ý ĐỊNH QUAY LẠI CỦA KHÁCH DU LỊCH 20

1.4.1 Khái niệm ý định quay lại của khách du lịch 20

1.4.2 Ứng dụng lý thuyết hành vi dự định trong nghiên cứu giải trí và du lịch 21

Trang 5

1.4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại một điểm đến của khách

du lịch 22

1.5 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VỀ Ý ĐỊNH QUAY LẠI CỦA KHÁCH DU LỊCH SỬ DỤNG LÝ THUYẾT HÀNH VI DỰ ĐỊNH 30

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 39

2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 39 2.1.1 Tổng quan về thành phố Đà Nẵng 39

2.1.2 Tổng quan về du lịch thành phố Đà Nẵng 39

2.1.3 Các chỉ tiêu về hoạt động du lịch tại Đà Nẵng trong những năm gần đây 42

2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 44

2.2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 44

2.2.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu trong mô hình 51

2.3 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 52

2.4 NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 52

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu định tính 52

2.4.2 Kết quả nghiên cứu định tính 53

2.5 ĐIỀU CHỈNH THANG ĐO NGHIÊN CỨU 54

2.6 THIẾT KẾ BẢNG CÂU HỎI 58

2.7 NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 58

2.7.1 Phương pháp thu thập thông tin và cỡ mẫu 58

2.7.2 Phương pháp xử lý số liệu 58

2.7.3 Các thủ tục phân tích dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu 59

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 63

3.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ 63

3.1.1 Thông tin mẫu nghiên cứu 63

3.1.2 Thông tin mô tả cho các biến số trong mô hình nghiên cứu 66

Trang 6

3.2 ĐÁNH GIÁ THANG ĐO BẰNG HỆ SỐ TIN CẬY CRONBACH’S

ALPHA 68

3.2.1.Tiêu chuẩn đánh giá 69

3.3.2 Kết quả phân tích 69

3.3 PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ (EFA) 71

3.3.1.Tiêu chuẩn đánh giá 72

3.3.2 Kết quả phân tích 72

3.4 MÔ HÌNH ĐIỀU CHỈNH 76

3.5 KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH VÀ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 77

3.5.1 Phân tích tương quan 77

3.5.2 Phân tích hồi quy 78

3.5.3 Kiểm định các giả thuyết 81

3.6 PHÂN TÍCH PHƯƠNG SAI (ANOVA) 84

3.6.1 Giữa các nhóm du khách khác nhau về giới tính 84

3.6.2 Giữa các nhóm khách hàng khác nhau về độ tuổi 84

3.6.3 Giữa các nhóm khách hàng khác nhau về thu nhập 85

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT 88

4.1 KẾT LUẬN 88

4.2 GỢI Ý CHÍNH SÁCH 89

4.3 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 8

2.3 Tỷ lệ khách du lịch nội địa theo phương tiện vận

2.7 Thang đo nhân tố Nhận thức kiểm soát hành vi 47

3.4 Phân tích Cronbach’s Alpha cho các biến độc lâp và

3.5 Kết quả phân tích nhân tố cho các biến độc lập 72

Trang 9

3.9 Bảng kết quả mô hình hồi quy 79

3.11 Phân tích Anova về ý định quay lại theo giới tính 84 3.12 Phân tích Anova về ý định quay lại theo độ tuổi 85 3.13 Phân tích Anova về ý định quay lại theo thu nhập 86

Trang 10

1.4 Mô hình nghiên cứu của Heesup Han , Yunhi Kim 31

1.6 Mô hình nghiên cứu của Cathy H C Hsu, Songshan

1.7 Mô hình nghiên cứu của Cheng-Neng Lai, Tai-Kuei

1.8 Mô hình nghiên cứu của Songshan (Sam) Huang,

1.9 Mô hình nghiên cứu của Terry Lam, Cathy H.C Hsu 37

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đang trên đà phát triển, lượng khách quốc tế đến cũng như khách du lịch nội địa ngày càng tăng Du lịch Việt Nam ngày càng được biết đến nhiều hơn trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước được bình chọn là địa chỉ yêu thích của nhiều đối tượng du khách Ngành du lịch đang ngày càng nhận được sự quan tâm của toàn xã hội

Tháng 10-2014, Ban quản lý Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội (Dự án EU), công bố kết quả khảo sát khách du lịch tại năm điểm chính: Sapa, Hạ Long, Huế, Đà Nẵng, Hội An Đối với khách quốc tế, có 90% là du khách đầu tiên đến thăm Việt Nam Lượng khách quốc tế quay lại các điểm du lịch rất thấp, chỉ chiếm khoảng 6% Tương tự, khách nội địa có 39% đến thăm lần đầu, 24% đến thăm lần thứ hai và chỉ có 13% đến thăm lần thứ 3 Theo đánh giá của chương trình này, các điểm du lịch của Việt Nam hầu như chỉ thu hút khách du lịch mới đến lần đầu, rất ít khách quay lại lần thứ hai, thứ ba

Thành phố Đà Nẵng nằm ở miền Trung Việt Nam được biết đến là nơi

có một trong sáu bãi biển đẹp nhất hành tinh Sau khi được bình chọn là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất châu Á, có thể nói du lịch Đà Nẵng đang

có sự phát triển vượt bậc, bứt phá về số lượng khách du lịch trong và ngoài nước ngày càng tăng cùng với sự đa dạng của các loại hình dịch vụ, sản phẩm

du lịch đi kèm Trong thời gian qua, thành phố Đà Nẵng được nhiều du khách nội địa quan tâm trong quyết định lựa chọn địa điểm du lịch, thể hiện qua số lượng lượt khách du lịch nội địa đến Đà Nẵng ngày càng gia tăng, đóng góp lớn vào doanh thu của ngành du lịch và các ngành liên quan khác

Tuy nhiên, theo điều tra của Viện nghiên cứu phát triển KT-XH Đà Nẵng được thực hiện trong thời gian tháng 3 và tháng 12/2010 cho thấy rằng

Trang 12

có đến 77,8% du khách trả lời là không biết chắc chắn là có quay trở lại Đà Nẵng hay không (trong đó, 35,8% trả lời không biết; 27,3% trả lời có thể có; 10,2% trả lời có thể không) và có 4,6% du khách trả lời chắc chắn sẽ không quay lại Chỉ có khoảng 22,2% du khách được khảo sát trả lời là chắc chắn có quay trở lại Kết quả của cuộc khảo sát này cho thấy, mặc dù xét trên tổng thể, Đà Nẵng gây được ấn tượng khá tốt cho du khách nhưng việc lôi kéo du khách quay lại vẫn còn là một bài toán khó cho ngành du lịch thành phố và vẫn còn rất nhiều việc phải làm phía trước

Vậy nguyên nhân nào dẫn đến việc mặc dù du lịch Đà Nẵng đầy tiềm năng nhưng số lượng du khách quay lại lại không cao? Thực tế cho đến nay chưa có nhiều các nghiên cứu về khách du lịch nội địa và nhất là các nghiên cứu liên quan đến ý định quay trở lại của nhóm đối tượng du khách này Việc nhận dạng các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại của khách du lịch nội địa và đưa ra các kiến nghị đối với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thực

sự cần thiết và sẽ thúc đẩy du lịch Đà Nẵng ngày càng phát triển Từ thực tiễn

đó, tác giả đã xây dựng đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP Đà Nẵng của khách du

lịch nội địa.”.Kết quả của nghiên cứu sẽ phần nào có ý nghĩa trong việc đưa

ra các giải pháp nhằm thu hút đối tượng khách du lịch nội địa trở lại tham quan TP Đà Nẵng

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 13

 Mục tiêu cụ thể

(1) Tổng hợp lý thuyết về khách du lịch, hành vi tiêu dùng du lịch, sự hài lòng và ý định quay lại điểm đến của du khách

(2) Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay trở lại điểm đến TP Đà Nẵng của du khách nội địa

(3) Đo lường và xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định quay trở lại điểm đến thành phố Đà Nẵng

(4) Đề xuất một số kiến nghị nhằm thu hút khách du lịch quay lại thành phố Đà Nẵng trong tương lai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Ý định quay lại điểm đến du lịch của du khách nội

địa

- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Khảo sát được thực hiện trong khoảng

thời gian từ tháng 11/2015 đến tháng 6/2015

- Phạm vi không gian: Tại thành phố Đà Nẵng

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của đề tài này bao gồm hai bước chính là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Việc nghiên cứu thực hiện theo hai giai đoạn:

Giai đoạn 1: Phương pháp định tính

Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm khái quát những kiến thức cơ bản về hành vi tiêu dùng du lịch và ý định quay lại một điểm đến của

du khách; kiểm tra sự phù hợp và điều chỉnh mô hình nghiên cứu và các thang

đo mà tác giả đề xuất sau khi nghiên cứu các lý thuyết về lòng trung thành và

ý định quay lại của du khách

Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các nghiên cứu liên quan đến ý định quay lại một điểm đến trước đây của một số tác giả trong và ngoài nước nhằm phân tích, đánh giá và đưa ra mô hình phù hợp nhất Nghiên cứu định tính với kỹ thuật

Trang 14

thảo luận nhóm nhằm khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến để sử dụng cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu và thang đo

Giai đoạn 2: Phương pháp định lượng

Nghiên cứu định lượng sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi được xây dựng từ kết quả của nghiên cứu định tính Mục đích của nghiên cứu này là để sàng lọc các biến quan sát, kiểm định mô hình thang đo và xác định các yếu tố quan trọng tác động đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP Đà Nẵng của du khách nội địa

Thông tin thu thập sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 Thang đo xây dựng được sau khi đánh giá bằng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố EFA (phân tích trên phần mềm SPSS 16.0), sau đó tiến hành phân tích hồi quy và đưa ra các nhận định

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài này có ý nghĩa khoa học đối với các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực Du lịch, các nhà quản trị trong ngành Marketing và quản trị kinh doanh Kết quả nghiên cứu này có thể được coi như một tài liệu tham khảo và là cơ

sở lý luận cho các nghiên cứu tiếp theo về ý định quay lại điểm đến của du khách

Bên cạnh đó, đề tài cũng mang ý nghĩa thực tiễn đối với những nhà quản

lý du lịch tại TP Đà Nẵng Đây sẽ là một cách nhìn mới góp phần giúp các nhà lãnh đạo của thành phố nhận diện được các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại của khách du lịch nội địa cũng như mức độ ảnh hưởng của từng nhân

tố, từ đây nhằm đưa ra các chính sách thích hợp nhằm nâng cao lòng trung thành của du khách trong tương lai

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 4 chương: Chương 1: Cơ sở lý thuyết về ý định quay lại điểm đến của khách du lịch Chương 2: Thiết kế mô hình nghiên cứu

Trang 15

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Kết luận và gợi ý chính sách

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

- Các nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu của Heesup Han, Yunhi Kim (2010)

Nghiên cứu này mở rộng từ mô hình lý thuyết hành vi dự định (TPB), nhằm giải thích toàn diện hơn sự hình thành ý định quay trở lại khách sạn xanh của khách du lịch Đặc biệt, nghiên cứu này sử dụng mô hình TPB mở rộng bằng cách bổ sung các yếu tố quan trọng trong hành vi tiêu dùng và lý thuyết tiếp thị (ví dụ, chất lượng dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng, hình ảnh tổng thể, và hành vi quá khứ) vào mô hình TPB gốc Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Dữ liệu thống kê phù hợp với mô hình đề xuất và việc bổ sung các biến này làm tăng khả năng dự đoán về ý định quay lại khách sạn xanh của khách hàng Tất cả 12 giả thuyết trong mô hình nghiên cứu đều được chấp nhận Những phát hiện này chỉ ra rằng sự hài lòng và thái độ là trung gian giữa chất lượng dịch vụ và ý định quay lại

Kết quả phân tích cấu trúc đã chỉ ra rằng mô hình mới với các dữ liệu điều tra giải thích và cung cấp một độ phù hợp tốt hơn so với TRA và TPB Thêm vào đó, cấu trúc trong mô hình mới góp phần đáng kể để cải thiện sự hiểu biết của các nhà nghiên cứu về quá trình phức tạp của việc ra quyết định của khách hàng Trong nghiên cứu này, tất cả các mối quan hệ đưa ra đều có ý nghĩa như mô hình lý thuyết Nhìn chung, kết quả của nghiên cứu này đã hoàn thành được tất cả các mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu của Chhavi Joynathsing (2010)

Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu ý định hành vi của khách du lịch châu Âu

về ý định chọn Mauritius là điểm đến kỳ nghỉ của họ Mô hình sử dụng lý thuyết về hành vi dự định, lý thuyết về động cơ kéo và động cơ đẩy được chọn làm cơ sở lý thuyết của nghiên cứu

Trang 16

Kết quả thu được từ những khách du lịch được điều tra cho phép kiểm tra các giả thuyết được đề xuất trong nghiên cứu Tác giả đã sử dụng phân tích hồi quy đa biến để kiểm tra các giả thuyết và kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa các biến được điều tra và ý định quay lại Kết quả chỉ

ra rằng động cơ đẩy và động cơ kéo ảnh hưởng đến ý định quay lại Mauritius của khách du lịch Hơn nữa, thái độ và chuẩn chủ quan đã được tìm thấy là yếu tố quyết định về ý định hành vi Mặt khác, kiểm soát hành vi được xem xét là không ảnh hưởng đáng kể ý định hành vi của du khách

Nghiên cứu của Songshan (Sam) Huang, Cathy H C Hsu (2009)

Nghiên cứu này được phát triển và thử nghiệm nhằm kiểm tra tác động của động cơ, kinh nghiệm quá khứ, hạn chế nhận thức và thái độ đến ý định của khách du lịch Trung Quốc về ý định quay lại Hồng Kông Dữ liệu được thu thập thông qua các cuộc phỏng vấn qua điện thoại (n = 501) ở Bắc Kinh

và phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính Kết quả cho thấy rằng một trong những khía cạnh cơ bản như động cơ về mua sắm ảnh hưởng tích cực đến ý định trở lại của khách du lịch Bắc Kinh đến Hồng Kông; kinh nghiệm quá khứ, được đo bằng số lần tham quan trước cũng ảnh hưởng tích cực ý định quay trở lại Kết quả cho thấy rằng ngoài việc tăng cường hơn nữa hình ảnh "thiên đường mua sắm", tiếp thị điểm đến, các nhà quản lý của Hồng Kông cần bổ sung thêm nhiều hoạt động mới lạ của địa phương để hấp dẫn và thu hút nhu cầu thư giãn của các du khách

Nghiên cứu của Terry Lam, Cathy H.C Hsu (2005)

Các nghiên cứu về ý định du lịch đã là một trong những trọng tâm của nghiên cứu du lịch trong nhiều năm qua, quá trình ra quyết định của du khách rất phức tạp và việc lựa chọn một điểm đến du lịch cần phải được nghiên cứu

kỹ lưỡng Mục đích của nghiên cứu nhằm cố gắng kiểm tra khả năng ứng dụng của lý thuyết hành vi dự định (TPB), mô hình sử dụng các cấu trúc cốt lõi của nó (thái độ, chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi), với việc bổ

Trang 17

sung các biến kinh nghiệm quá khứ để đo lường sự ảnh hưởng của các nhân tố này đến ý định hành vi của việc lựa chọn một điểm đến du lịch Mẫu nghiên cứu gồm 299 du khách Đài Loan tiềm năng đến Hồng Kông Nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Thái độ, kiểm soát hành vi, và kinh nghiệm quá khứ đã được tìm thấy có liên quan đến ý định hành vi của việc lựa chọn một điểm đến du lịch

Nghiên cứu của Y Yoon and M Uysal (2005)

Nghiên cứu của của Y Yoon and M Uysal được thực hiện vào năm

2005 nhằm cung cấp một cách tiếp cận tích hợp để giải thích ảnh hưởng của động cơ (bao gồm động cơ đẩy và động cơ kéo) và sự hài lòng đến lòng trung thành điểm đến Dữ liệu nghiên cứu được thu thập tại với số mẫu điều tra là

500 mẫu Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng đồng thời động cơ đẩy và động

cơ kéo đều ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng, và thông qua đó sự hài lòng ảnh hưởng tích cực đến lòng trung thành của du khách

Nghiên cứu của Judith A Ouellette, Wendy Wood (1998)

Nghiên cứu nhằm điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định trong tương lai Nghiên cứu sử dụng mô hình TPB và bổ sung thêm biến Kinh nghiệm quá khứ, cùng với các nhân tố khác như thái độ và chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng tồn tại mối quan hệ giữa các nhân tố trong mô hình TPB, nhân tố Kinh nghiệm quá khứ đến ý định của nhóm du khách

- Các nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu của Võ Hoàn Hải (2009)

Luận văn đã nghiên cứu khám phá các nhân tố cụ thể tác động đến ý định và số lần đi du lịch của du khách nội địa đến thành phố Nha Trang dựa trên việc áp dụng mô hình lý thuyết hành vi dự định TPB (Theory of Planned Behavior, 1975) như là cơ sở nghiên cứu để dự đoán số lần chọn điểm đến du lịch Mô hình TPB gồm một tập các mối quan hệ giữa thái độ, Chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi Theo mô hình cơ bản của TPB cho rằng

Trang 18

con người có thể thực hiện một dạng hành vi nhất định nếu họ tin rằng hành

vi này sẽ mang lại kết quả nhất định nào đó có giá trị; tầm quan trọng của những kết quả này sẽ có giá trị và đồng thuận với hành vi và họ có những nguồn lực, khả năng và cơ hội cần thiết để thực hiện hành vi đó Luận văn đã đưa ra các gợi ý chính sách cho các công ty du lịch lữ hành, các cơ quan quản lý du lịch ở thành phố Nha Trang có những chính sách phù hợp để khuyến khích khách du lịch nội địa đến thành phố Nha Trang

Nghiên cứu của Mai Ngọc Khương và Huỳnh Thị Thu Hà (2014)

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích kiểm tra thực nghiệm các mối quan hệ nhân quả giữa động cơ đẩy và động cơ kéo , sự hài lòng điểm đến du lịch và ý định quay trở lại điểm đến của khách du lịch giải trí quốc tế tại thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Kết quả phân tích đã khẳng định rằng động cơ đẩy và động cơ kéo là hai yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tích cực đến

ý định quay lại của khách du lịch quốc tế Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy, động cơ đẩy và động cơ kéo cũng là hai yếu tố ảnh hưởng gián tiếp trở ý định quay lại điểm đến thông qua sự hài lòng của của họ

Nghiên cứu của Bahram Ranjbarian và Javad Khazaei Pool (2015)

Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa giá trị cảm nhận và chất lượng cảm nhận đến sự hài lòng và ý định quay lại thành phố Nowshahr Kết quả cho thấy nhận thức cảm nhận và chất lượng cảm nhận của du khách ảnh hưởng đến sự hài lòng của họ, và đây cũng là những nhân tố có tác động tích cực đến ý định quay lại thành phố này Nghiên cứu góp phần làm rõ sự hiều biết về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của khách du lịch và là cơ sở để gia tăng số lượng khách du lịch đến thăm các điểm đến

Nghiên cứu của Trần Thị Ái Cẩm (2011)

Nghiên cứu nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa thuộc tính của hình ảnh điểm đến, tìm kiếm sự đa dạng , sự hài lòng của du khách và lòng trung thành cũng như ý định quay lại và giới thiệu điểm đến cho những khách du lịch khác Nghiên cứu cho thấy rằng chất lượng cảm nhận và tìm kiếm sự khác

Trang 19

biệt có ý nghĩa và tích cực liên quan đến sự hài lòng, tuổi tác của du khách được nhận định là có ảnh hưởng tiêu cực đến sự hài lòng và ý định quay trở lại, và cuối cùng sự hài lòng là nhân tố rất có ý nghĩa và tích cực liên quan đến ý định để xem xét lại và giới thiệu điểm đến của du khách

Nghiên cứu của Lê Chí Công (2014)

Nghiên cứu này tập trung vào giải thích lòng trung thành của khách du lịch nội địa đối với một số thành phố du lịch biển Việt Nam (Nha Trang, Đà Nẵng và Vũng Tàu) Tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu với lòng trung thành của du khách sẽ là biến phụ thuộc hoàn toàn và chịu sự tác động của sự hài lòng du khách, kiến thức về điểm đến, sự quan tâm du lịch, tâm lý thích khám phá điểm du lịch mới cũng như các thành phần khác nhau của chất lượng điểm đến Thêm vào đó, có những tác động tiết chế liên quan đến đặc điểm nhân khẩu học của du khách (giới tính, tuổi, thu nhập bình quân) cũng như điểm mạnh thái độ (sự quan tâm về du lịch, kiến thức về điểm đến, tâm lý thích khám phá điểm du lịch mới) tác động làm thay đổi mối quan hệ giữa sự hài lòng và trung thành của du khách

Trang 20

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ Ý ĐỊNH QUAY LẠI ĐIỂM ĐẾN

CỦA KHÁCH DU LỊCH 1.1 LÝ THUYẾT VỀ KHÁCH DU LỊCH

1.1.1 Khái niệm khách du lịch

- Khách du lịch (Tourist): Theo Luật du lịch Việt Nam (2005)“Khách

du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”

1.1.2 Phân loại khách du lịch

Theo ThS Ngô Thị Diệu An (2014, Trg 24) có nhiều cách phân loại khách

du lịch, có thể kể đến những cách phân loại sau:

- Theo mục đích chuyến đi

Theo cách phân loại này, khách du lịch có 3 nhóm:

+ Khách giải trí, nghỉ ngơi;

+ Khách kinh doanh và công vụ;

+ Khách thăm viếng bạn bè, người thân (thăm thân)

Nhóm khách du lịch đi du lịch với mục đích giải trí, nghỉ ngơi có đặc điểm chung là: họ lựa chọn các điểm đến phù hợp với sở thích của họ hưởng thụ các giá trị văn hoá, cảnh quan thiên nhiên hoặc phục hồi sức khoẻ; họ ít trung thành với các điểm đến du lịch, tính thời vụ thể hiện rõ (họ thường đi du lịch vào các kỳ nghỉ hoặc khi thời tiết thuận lợi); quyết định lựa chọn điểm đến của họ khá nhạy cảm với giá cả; thời gian dành cho chuyến đi thường dài;

có thể họ thường đến nhiều điểm khác nhau trong một chuyến đi

Đối với nhóm khách du lịch công vụ: mục đích chính cho chuyến đi của

họ là thực hiện một công việc nào đó (kinh doanh, hội nghị, tham dự hội chợ, triển lãm ), tuy nhiên, trong các chuyến đi đó họ thường kết hợp tham quan, nghỉ ngơi ; việc lựa chọn phương tiện giao thông, loại hình lưu trú, thời gian

Trang 21

lưu lại phụ thuộc vào loại công việc của họ; họ ít chịu sự chi phối của biến động giá cả các sản phẩm du lịch; mức chi tiêu của họ cao

Nhóm khách du lịch thăm thân có đặc điểm là: thời gian lưu lại không dài, ít nhạy cảm với giá cả, việc kết hợp tham quan các điểm du lịch ít khi được xác định trước

Trong 3 nhóm khách nêu trên, nhóm thứ nhất thường chiếm tỷ trọng cao nhất

- Theo đặc điểm kinh tế xã hội

Khách du lịch cũng thường được phân thành các nhóm theo nhiều tiêu chí về đặc điểm kinh tế-xã hội Các tiêu chí sau đây thường được nhiều nước

+ Phân nhóm theo giới tính: nam, nữ

+ Phân nhóm theo nghề nghiệp: công chức, giáo viên, thương nhân, kỹ

sư, bác sĩ, công nhân, nông dân,

+ Phân nhóm theo mức thu nhập

- Phân loại theo phạm vi lãnh thổ

+ Du khách quốc tế

Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam (cụ thể ở một địa phương nào đó của Việt Nam) là những người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của một nước đang thường trú đến Việt Nam trong thời gian ít hơn 12 tháng với mục đích của chuyến đi không phải để tiến hành các hoạt động nhằm đem lại thu nhập và kiếm sống ở Việt Nam

+ Du khách nội địa

Trang 22

Khách du lịch trong nước là những người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của mình để đến một nơi khác ở trong nước với thời gian liên tục ít hơn 12 tháng và mục đích chính của chuyến đi để thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài việc tiến hành các hoạt động nhằm đem lại thu nhập và kiếm sống ở nơi đến

Ngoài ra, khách du lịch còn được phân nhóm theo cấu trúc gia đình, theo truyền thống văn hoá, theo tôn giáo Trong các tiêu chí nêu trên, việc phân loại khách du lịch theo độ tuổi và giới tính được thực hiện phổ biến tại nhiều nước trên thế giới vì dễ thu thập thông tin

1.2 LÝ THUYẾT VỀ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH

1.2.1 Khái niệm điểm đến du lịch

Du lịch là hoạt động có hướng đích không gian Người đi du lịch rời khỏi nơi cư trú của mình để đến nơi khác – một địa điểm cụ thể để thỏa mãn nhu cầu theo mục đích chuyến đi Trên phương diện địa lý điểm đến du lịch được xác định theo phạm vi không gian lãnh thổ Điểm đến du lịch là một vị trí địa lý mà một du khách đang thực hiện hành trình đến đó tùy theo mục đích chuyến đi với người đó

Khi nói đến hoạt động du lịch tức là nói đến hoạt động rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến một nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu theo những mục đích khác nhau Địa điểm mà khách du lịch lựa chọn trong chuyến đi có thể là một địa danh cụ thể, một khu vực, một vùng lãnh thổ, một quốc gia, thậm chí là châu lục Trong các tài liệu khoa học về du lịch, các địa điểm này được gọi chung là điểm (nơi) đến du lịch (tour destination) Trên phương diện địa lý, điểm đến du lịch được xác định theo phạm vi không gian lãnh thổ

Điểm đến du lịch là một vị trí địa lý mà một du khách đang thực hiện hành trình đến đó nhằm thỏa mãn nhu cầu theo mục đích chuyến đi của người đó(Trích trong ThS Ngô Thị Diệu An (2014, Trg 102)) Với quan niệm này,

điểm đến du lịch vẫn chưa định rõ còn mang tính chung chung, nó chỉ xác

Trang 23

định vị trí địa lý phụ thuộc vào nhu cầu của khách du lịch, chưa xác định được các yếu tố nào tạo nên điểm đến du lịch Xem xét trong mối quan hệ kinh tế

du lịch, điểm đến du lịch được hiểu là yếu tố cung du lịch Sở dĩ như vậy là

do chức năng của điểm đến chính là thõa mãn nhu cầu mang tính tổng hợp của khách du lịch Suy cho cùng, điểm đến du lịch là yếu tố hấp dẫn du khách, thúc đẩy sự thăm viếng và từ đó làm tăng sức sống cho toàn bộ hệ thống du lịch Cho nên xét trên nhiều phương diện, điểm đến du lịch là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống du lịch Theo tiến sĩ Vũ Đức Minh (2010) trích trong ThS Ngô Thị Diệu An (2014, Trg 103) điểm đến du lịch là nơi xuất hiện các yếu tố du lịch quan trọng và gây ấn tượng nhất; là nơi tồn tại ngành

du lịch đón khách và cũng là nơi du khách có thể tìm được tất cả các tiện nghi, dịch vụ hỗ trợ cần thiết cho chuyến viếng thăm của mình

1.2.2 Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch

Theo tiến sĩ Vũ Đức Minh (2010) trích trong ThS Ngô Thị Diệu An (2014, Trg 103) từ góc độ cung có thể cho rằng điểm đến là tập trung các tiện nghi và dịch vụ được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của du khách Một điểm đến

du lịch được cấu thành bởi các yếu tố khác nhau

- Điểm hấp dẫn du lịch: Các điểm hấp dẫn của một điểm đến du lịch dù mang đặc điểm nhân tạo, đặc điểm tự nhiên hoặc là các sự kiện thì đều gây ra động lực ban đầu cho sự viếng thăm của khách Điểm hấp dẫn du lịch là đặc trưng của một khu vực trở thành một nơi, một điểm hoặc một tiêu điểm của các hoạt động và thực hiện các điều sau:

(1) Được thiết lập để thu hút khách du lịch hoặc khách tham quan từ thị trường du lịch và cư dân địa phương

(2) Cung cấp sự tiêu khiển, giải trí và các cách thức để khách sử dụng thời gian rỗi của họ

(3) Khu vực được phát triển nhằm khai thác các tiềm năng ở đó

Trang 24

(4) Khu vực được quản lý như một điểm hấp dẫn tạo ra sự thỏa mãn cho

du khách

(5) Cung cấp các tiện nghi và dịch vụ ở mức độ phù hợp nhằm đáp ứng

và chăm sóc sở thích, nhu cầu và cầu của khách thăm

(6) Có thể có hoặc không có vé vào cửa Nói chung các điểm hấp dẫn có

xu hướng là các đơn vị lẻ, các vị trí độc lập hoặc được xác định rõ ràng là các khu vực địa lý có phạm vi nhỏ

- Giao thông đi lại: Hệ thống giao thông ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận điểm đến của các thị trường khách du lịch và cũng là nhân tố tạo nên sự thành công của các điểm đến Nếu những điểm đến du lịch được phát triển hệ thống giao thông với việc sử dụng đa dạng các loại phương tiện thì sẽ góp phần rút ngắn khoảng cách giữa thị trường khách du lịch và điểm đến Khách du lịch sẽ cảm thấy thuận tiện và dễ dàng hơn khi đi du lịch tại

đó Rõ ràng sự phát triển giao thông đi lại và vận chuyển khách ở điểm đến sẽ làm tăng thêm chất lượng và mang lại hiệu quả nối liền với các thị trường nguồn khách Sự sáng tạo trong việc tổ chức giao thông du lịch sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các tập du khách trong việc tiếp cận điểm đến và là một yếu tố quan trong thu hút khách du lịch

- Nơi ăn nghỉ: Đây cũng là một thành phần quan trọng không thể thiếu của một điểm đến du lịch Cung cấp dịch vụ này chính là các cơ sở lưu trú, ăn uống Những dịch vụ này không chỉ cung cấp nơi ăn, chốn nghỉ mang tính vật chất mà còn tạo cảm giác chung về sự đón tiếp nồng nhiệt và ấn tượng khó quên về các món ăn hoặc đặc sản của địa phương Sự đa dạng của các loại hình lưu trú với những cấp hạng khác nhau cho phép khách du lịch có thể lựa chọn những dịch vụ lưu trú phù hợp với sở thích và khả năng chi trả của họ Các cơ sở lưu trú tồn tại để phục vụ du lịch không chỉ mang tính chất thương mại mà còn thuộc sở hữu cá nhân như buồng ngủ lưu động, nhà nghỉ cuối tuần hay nhà dân

Trang 25

- Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ: Trong quá trình du lịch, du khách đòi hỏi một loạt các tiện nghi, phương tiện và các dịch vụ bổ trợ tại điểm đến du lịch Bộ phần này có đặc điểm là phân tán về hình thức sở hữu Các cơ sở cung cấp các tiện nghi và dịch vụ bổ trợ thường do các nhà kinh doanh nhỏ quản lý nên vừa có lợi vừa hạn chế Có lợi ở chỗ các khoản chi tiêu của khách nhanh chóng đi vào nền kinh tế của địa phương Còn điểm hạn chế là các doanh nghiệp nhỏ bị phân tán và thiếu một hành lang liên kết lại với nhau Các cơ sở này cũng thường thiếu khả năng tự đầu tư để nâng cấp và thiếu chuyên gia về quản lý hoặc marketing Đây cũng là những đòi hỏi cấp bách của ngành du lịch trong những năm gần đây Khả năng cung cấp các tiện nghi

và dịch vụ hỗ trợ thể hiện sự đa ngành của cung du lịch và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các lĩnh vực kinh doanh du lịch Số lượng cung cấp các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ tại một khu nghỉ dưỡng tùy thuộc vào số giường nghỉ sẵn có hay số khách viếng thăm

1.3 LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI TIÊU DÙNG DU LỊCH

1.3.1 Khái niệm hành vi tiêu dùng du lịch

Theo Lê Chí Công (2014) Hành vi tiêu dùng trong du lịch được hiểu là

hành vi mà du khách thể hiện trong việc tìm kiếm mua, sử dụng, đánh giá và loại bỏ các sản phẩm du lịch mà họ mong muốn sẽ thỏa mãn nhu cầu trong chuyến đi Hành vi tiêu dùng du lịch tập trung vào việc các cá nhân ra quyết

định như thế nào để việc sử dụng các nguồn lực hiện có (thời gian, tiền bạc, công sức) và việc tiêu thụ các sản phẩm du lịch liên quan trong chuyến đi Trên góc độ này, hành vi tiêu dùng du lịch trả lời câu hỏi du khách mua sản phẩm du lịch gì? Tại sao họ mua sản phẩm đó? Mua sản phẩm du lịch ở đâu? Mức độ tường xuyên mua sản phẩm du lịch như thế nào? Việc đánh giá sản phẩm du lịch của du khách trước/trong/và sau khi mua sản phẩm? Mức độ ảnh hưởng của việc đánh giá đó đến hành vi mua sản phẩm du lịch cho các lần mua tiếp theo như thế nào? Các nghiên cứu chỉ ra rằng, hành vi tiêu dùng trong du lịch

Trang 26

bao gồm hai khía cạnh, đó là những quyết định mang tính trí óc (ý nghĩ) và những hành động vật chất của cơ thể được tạo ra từ những quyết định đó

1.3.2 Mô hình hành vi tiêu dùng du lịch

Việc tìm hiểu và nắm bắt hành vi tiêu dùng trong du lịch có ý nghĩa hết sức quan trọng cho việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ mới của doanh nghiệp và ngành du lịch Để làm được việc này, các nhà quản lý và nghiên cứu hành vi tiêu dùng du lịch cần tìm hiểu đâu là các nhân tố có ảnh hưởng cũng như mức độ ảnh hưởng của chúng đến hành vi tiêu dùng trong du lịch để

từ đó có những tác động phù hợp lên từng nhân tố, nhóm nhân tố nhằm kích thích du khách tiêu dùng nhiều hơn sản phẩm du lịch Cho đến nay, đã có khá nhiều mô hình khác nhau đề cập đến hành vi tiêu dùng trong lĩnh vực du lịch Các nhà nghiên cứu tập trung xem xét đến mô hình tổng quát cũng như mô hình đề xuất cụ thể làm căn cứ phát triển các nghiên cứu hành vi tiêu dùng trong du lịch

Theo nghiên cứu được công bố của Mathieson và Wall (1982) trích trong Nguyễn Văn Mạnh (2009) đã đề xuất mô hình hành vi tiêu dùng của du khách thông qua năm giai đoạn Giai đoạn đầu tiên chính là việc du khách xác định nhu cầu và mong muốn của mình đối với các sản phẩm du lịch Tiếp đến, du khách sẽ bắt đầu tìm kiếm và đánh giá các thông tin có liên quan đến sản phẩm du lịch Ở giai đoạn này, quảng bá, giới thiệu, xúc tiến bán hàng và xây dựng các chương trình bán hàng trực tiếp phong phú hiệu quả của công ty du lịch đóng vai trò quan trọng Sang giai đoạn thứ ba, du khách sẽ đưa ra quyết định lựa chọn các điểm điểm và thực hiện mua sắm sản phẩm du lịch Tiếp đến, du khách sẽ cảm nhận những dịch vụ được cung cấp tại điểm đến và trải nghiệm toàn bộ chuyến hành trình Giai đoạn cuối cùng chính là việc đánh giá thỏa mãn với các sản phẩm, dịch vụ từ đó quyết định có quay trở lại du lịch lần tiếp theo cũng như giới thiệu cho người khác đến du lịch hay không Toàn

bộ quá trình được mô tả trong hình 1.1

Trang 27

Hình 1.1: Mô hình hành vi tiêu dùng trong du lịch (Mathieson & Wall, 1982)

1.3.3 Các mô hình lý thuyết về hành vi tiêu dùng

a Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA)

Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được Ajzen

và Fishbein xây dựng từ năm 1975 và được hiệu chỉnh mở rộng theo thời gian Mô hình TRA (Ajzen và Fishbein, 1975) cho thấy xu hướng tiêu dùng là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi tiêu dùng Đây là lý thuyết đầu tiên về hành vi con người Nó được sử dụng như là nền tảng lý thuyết của những mô hình sau này

Mô hình TRA (Ajzen và Fishbein, 1975) là mô hình dự đoán ý định hành

vi của con người TRA cho rằng hành vi của cá nhân được quyết định bởi ý định hành vi, mà ý định hành vi là hàm số của thái độ cá nhân về hành vi và tiêu chuẩn chủ quan xung quanh việc thực hiện hành vi này (Trích trong Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2015))

Quyết định lựa chọn điểm đến

Thực hiện chuyến đi

Đánh giá trải nghiệm và quyết định quay trở lại

Trang 28

Thái độ cá nhân hướng về hành vi được định nghĩa là những cảm giác

tích cực hay tiêu cực của một cá nhân khi thực hiện hành vi đó Nó được quyết định bởi niềm tin và sự đánh giá của cá nhân về những kết quả khi thực hiện hành vi Niềm tin được hiểu là ý nghĩ khẳng định của một cá nhân về kết quả sẽ đạt được khi thực hiện một hành vi cụ thể nào đó

Tiêu chuẩn chủ quan được định nghĩa là nhận thức của một cá nhân về

việc những người quan trọng đối với họ nghĩ rằng họ nên thực hiện hành vi hay không Hay nói cách khác là sự ảnh hưởng của những xung quanh, môi trường xã hội (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp ) đối với ý định hành vi của người đó, những người này thích hay không thích hay không thích học thực hiện hành vi Tiêu chuẩn chủ quan của một cá nhân phụ thuộc vào niềm tin theo chuẩn mực và động cơ của cá nhân đó làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng

Thái độ và tiêu chuẩn chủ quan có mức độ ảnh hưởng rất khác nhau đối với ý định hành vi Điều này phụ thuộc vào từng cá nhân và từng hoàn cảnh

cụ thể Ví dụ: nếu bạn là người rất ít quan tâm đến suy nghĩ của những người khác, thì trong trường hợp này, tiêu chuẩn chủ quan sẽ có mức độ ảnh hưởng rất yếu trong việc dự đoán hành vi của bạn

Mô hình này có một số hạn chế, trong đó hạn chế lớn nhất là khi nhầm lẫn giữa thái độ và tiêu chuẩn vì thường các thái độ có thể hiểu nhầm thành tiêu chuẩn và ngược lại Thứ hai là giả sử một người có ý định hành động, người đó sẽ tự do hành động mà không có giới hạn Trong thực tế, những hạn chế như khả năng giới hạn, thời gian, môi trường, hoặc tổ chức giới hạn, và thói quen vô thức sẽ hạn chế quyền tự do hành động Lý thuyết về hành vi kế hoạch (TPB) cố gắng giải quyết các hạn chế này

Tóm lại, Thuyết hành động hợp lý TRA bị giới hạn khi dự đoán việc thực hiện các hành vi của người dùng, yếu tố về thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan không đủ để giải thích cho hành động của người dùng

Trang 29

b Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB)

Thuyết hành vi kế hoạch (TPB) được Ajzen (1985) xây dựng bằng cách

bổ sung thêm yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi vào mô hình TRA nhằm giải

quyết những mặt hạn chế của thuyết hành động hợp lý (Trích trong Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2015))

Cũng tương tự như thuyết hành động hợp lý, Thuyết hành vi dự định cũng cho rằng hành vi của cá nhân được quyết định bởi ý định hành vi, ý định hành vi cũng chịu tác động của nhân tố thái độ và tiêu chuẩn chủ quan Tuy nhiên TPB khác TRA ở một điểm là ý định hành vi lại chịu tác động của nhân tố“ Nhận thức kiểm soát hành vi”

Nhận thức kiểm soát hành vi được hiểu là nhận thức của cá nhân về sự khó khăn hay dễ dàng khi thực hiện hành vi hay chính là nhận thức về khả năng thực hiện hành vi của bản thân mình Nhận thức kiểm soát hành vi lại phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi TPB xem việc kiểm soát hành vi của con người dựa trên những ứng xử rộng lớn từ ứng xử trước những việc khó khăn đến việc đòi hỏi nỗ lực và nguồn lực đáng kể

Theo TPB, nếu cá nhân cảm nhận chính xác mức kiểm soát hành vi của mình thì điều này còn dự báo cả hành vi

Mặc dù tiến bộ hơn Thuyết hành động hợp lý (TRA), nhưng cả thuyết hành động hợp lý và thuyết hành vi dự định đều có một số hạn chế như sau:

- Việc dự đoán ý định hành vi không chỉ dựa vào 3 yếu tố: Thái độ, tiêu chuẩn chủ quan, và nhận thức kiểm soát hành vi mà còn có thể dựa vào các yếu tố khác

- Có thể tồn tại một khoảng cách thời gian đáng kể giữa đánh giá ý định hành vi và hành vi thực tế khi đó ý định hành vi của cá nhân có thể thay đổi

- Cả TRA và TPB đều là mô hình dự đoán hành vi cá nhân dựa trên các tiêu chí nhất định, tuy nhiên con người không phải luôn luôn hành động như dự đoán

Trang 30

Hình 1.3 Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behaviour –TPB)

1.4 LÝ THUYẾT VỀ Ý ĐỊNH QUAY LẠI CỦA KHÁCH DU LỊCH 1.4.1 Khái niệm ý định quay lại của khách du lịch

Lòng trung thành có thể được xác định và đánh giá bởi cả hai cách đo lường về thái độ và hành vi Các thành phần về thái độ đề cập đến một mong muốn cụ thể để tiếp tục mối quan hệ với một nhà cung cấp dịch vụ trong khi quan điểm hành vi đề cập đến việc mua sắm lặp lại Theo Oliver (1999), khách hàng trung thành có thể được xác định thành bốn giai đoạn: lòng trung thành về nhận thức, lòng trung thành của tình cảm, lòng trung thành hành vi,

và lòng trung thành hành động Trong thực tế, sự trung thành hành động là khó đo lường và do đó hầu hết các nhà nghiên cứu sử dụng những ý định hành vi, tức là trung thành hành vi như một sự thỏa hiệp của lòng trung thành hành động Mức độ trung thành điểm đến thường được phản ánh trong ý định của khách du lịch quay lại thăm điểm đến đó và sự sẵn lòng của họ để giới thiệu nó

Các khái niệm về ý định trở lại của du khách xuất phát từ ý định hành vi,

được định nghĩa là "một hành vi được mong đợi hoặc lên kế hoạch trong tương lai"(Fisbein & Ajzen, 1975) Đây là đại lượng có nghĩa sát nhất và là

một công cụ hiệu quả nhất để hiểu và dự đoán các hành vi xã hội Nó gắn liền với hành vi thực tế quan sát được và một khi ý định được thiết lập, hành

vi này sẽ được thực hiện sau Trong lĩnh vực du lịch và vui chơi giải trí, ý

Hành vi thực

sự

Trang 31

định trở lại là hành vi của du khách lên kế hoạch trở lại điểm đến hay điểm thu hút du lịch Trong thực tế, bởi vì điểm đến du lịch được coi là một loại sản phẩm đặc biệt trong đó có nguồn tài nguyên thiên nhiên, các điểm tham quan nhân tạo, hay văn hóa , ý định quay lại của khách du lịch tới một điểm đến ở nước ngoài mà mình đã đi trước đó là thấp hơn nhiều so với các loại sản phẩm thông dụng, ngay cả khi điểm đến này vẫn đáp ứng nhu cầu và mong đợi của họ (Trích trong Nguyễn Văn Mạnh (2009))

1.4.2 Ứng dụng lý thuyết hành vi dự định trong nghiên cứu giải trí

và du lịch

Ajzen & Driver (1992) đã đề cập rằng các lý thuyết về hành vi dự định

có thể được áp dụng trực tiếp cho hoạt động giải trí khác nhau Một số nhà nghiên cứu đã áp dụng các lý thuyết hành vi dự định để dự đoán và tìm hiểu

ý định của con người khi tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí, chẳng hạn như chạy bộ, tham dự các hoạt động tại bãi biển, leo núi, chèo thuyền, đi

xe đạp (Ajzen & Driver, 1991; Ajzen & driver, 1992); săn bắn (Rossi & Armstrong, 1999; Hrubes & Ajzen, 2001); ( Bamberg, et al, 2003) chọn lựa phương tiện giao thông, hành vi cờ bạc (Oh & Hsu, 2001; Phillips, 2009; Song, 2010), hành vi uống rượu (Trafimow, 1996), tham dự các lớp học khiêu

vũ (Pierro, Mannetti, & Livi , 2003), tham gia vào hoạt động thể chất (Courneya, 1995), chơi bóng rổ (Arnscheid & Schomers, 1996), và các hoạt động ngoài trời (Blanding, 1994) (Trích trong Songsan Huang, Cathy H C Hsu (2009)) Hầu hết các nghiên cứu này đã chứng minh rằng lý thuyết hành

vi dự định định có thể được sử dụng trong việc dự đoán và giải thích hành vi tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí Hơn nữa, Hrubes & Ajzen (2001) áp dụng lý thuyết hành vi dự định để dự đoán và giải thích ý định săn bắn ngoài trời và ý định này được nhận thấy bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi thái

độ, chuẩn chủ quan, và nhận thức về kiểm soát hành vi Những phát hiện này

đã chứng minh hiệu quả của lý thuyết hành vi dự định trong dự đoán ý định

Trang 32

hành vi Ngoài ra, một số nghiên cứu đã áp dụng hoặc mở rộng lý thuyết hành

vi dự định nhằm dự đoán và giải thích ý định của khách du lịch đến tham gia các loại du lịch hoặc thăm quan điểm đến khác nhau Hầu hết các nghiên cứu cho thấy rằng các lý thuyết về hành vi dự định có thể thúc đẩy sự hiểu biết của chúng ta về ý định hành vi của khách du lịch Nhiều tác giả kết luận rằng

có thể sử dụng mô hình mở rộng của lý thuyết hành vi dự định nhằm dự đoán

về ý định hành vi và ý định quay trở lại của các đối tượng du khách Han và các cộng sự (2011) đã mở rộng lý thuyết hành vi dự định bằng cách bổ sung một số biến khác nhằm dự đoán ý định hành vi quay lại Hàn Quốc của du khách Trung Quốc Tương tự như vậy, Lam & Hsu (2006) sử dụng cấu trúc cốt lõi của TPB (thái độ, chuẩn chủ quan, và kiểm soát hành vi) của lý thuyết hành vi dự định và biến hành vi trong quá khứ để dự đoán ý quay lại khách du lịch Đài Loan lựa chọn Hồng Kông như là một điểm đến du lịch Họ phát hiện

ra rằng nhân tố nhận thức kiểm soát hành vi và hành vi trong quá khứ đã được tìm thấy có liên quan đến ý định hành vi của việc lựa chọn một điểm đến du lịch (Trích trong Songsan Huang, Cathy H C Hsu (2009)

1.4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại một điểm đến của khách du lịch

Nhiều nhà nghiên cứu đã áp dụng các lý thuyết về hành vi dự định để dự đoán và hiểu được ý định của khách du lịch tham gia vào nhiều hoạt động giải trí liên quan Hầu hết trong số họ đã chứng minh rằng lý thuyết hành vi dự định có thể được sử dụng trong việc dự đoán và giải thích hành vi tham gia vào các hoạt động giải trí đa dạng Theo lý thuyết hành vi dự định, ý định của một cá nhân được xác định bởi yếu tố dự báo ba khái niệm độc lập: Thái độ, Chuẩn chủ quan, và Nhận thức kiểm soát hành vi Trên thực tế rất nhiều nghiên cứu đã sử dụng lý thuyết hành vi dự định làm cơ sở lý thuyết cho mô hình nghiên cứu của họ Tuy nhiên theo Pierro và cộng sự (2003) các nhà nghiên cứu nên mở rộng mô hình lý thuyết này để gia tăng khả năng dự đoán

Trang 33

dự đoán của mô hình Ngoài ra, theo quan điểm của Ajzen (1991), lý thuyết hành vi dự định có thể mở rộng và xây dựng thêm các biến nhằm giải thích cho mối quan hệ giữa thái độ và hành vi được tốt hơn Vì vậy, để có sự giải thích tốt nhất về ý định quay lại thành phố Đà Nẵng của khách du lịch nội địa, ngoài các nhân tố cơ bản của mô hình lý thuyết hành vi dự định, tác giả đã dựa vào một số các nghiên cứu ứng dụng để bổ sung thêm một số biến ảnh hưởng đến ý định quay lại của du khách

a Thái độ

Nhân tố Thái độ là một trong 3 thành phần của mô hình thuyết hành vi

dự định Theo Davis và cộng sự, (1989) trích trong Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2015) thái độ phản ánh cá nhân sẽ có ý định sử dụng hệ thống, sản phẩm dịch vụ khi họ có thái độ tích cực và ngược lại không chấp nhận hệ thống, sản phẩm dịch vụ khi có thái độ tiêu cực đối với việc sử dụng (Davis và cộng sự,

1989)

b Chuẩn chủ quan

Nhân tố Chuẩn chủ quan là một trong 3 thành phần của mô hình thuyết hành vi dự định Theo Davis và cộng sự, (1989) trích trong Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2015) chuẩn chủ quan nhằm đo lường nhận thức của một cá nhân về việc những người quan trọng đối với họ nghĩ rằng họ nên thực hiện hành vi hay không Hay nói cách khác là sự ảnh hưởng của những người xung quanh, môi trường xã hội (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp…) đối với

ý định hành vi của người đó, những người này thích hay không thích họ thực

hiện hành vi

c Nhận thức kiểm soát hành vi

Nhân tố Nhận thức kiểm soát hành vi là một trong 3 thành phần của mô hình thuyết hành vi dự định Theo Ajzen, (1991, tr.183) trích trong Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2015) nhận thức kiểm soát hành vi là niềm tin của một người về sự khó khăn hay dễ dàng ra sao trong việc thực hiện một hành vi

Trang 34

d Động cơ du lịch

Động cơ được đề cập đến như là những nhu cầu và mong muốn về mặt tâm lý / sinh lý, bao gồm các nỗ lực tích hợp nhằm khơi dậy, chỉ dẫn và tích hợp hành vi và hoạt động của một người (Dann, 1981; Pearce, 1982; Uysal &

Hagan, 1993 trích trong Yooshik Yoon, Muzaffer Uysal )

Động cơ là mục tiêu chủ quan của hoạt động con người nhằm đáp ứng nhu cầu đặt ra Nói cách khác, động cơ phản ánh những mong muốn, những nhu cầu của con người và là lý do đưa ra các quyết định Động cơ chính là nhu cầu mạnh nhất cửa con người trong một thời điểm nhất định nó quyết định đến hành động của con người

Động cơ bên trong được kết hợp với điều khiển cảm xúc và bản năng Động cơ bên ngoài liên quan đến các biểu hiện của tinh thần như kiến thức hay niềm tin Từ quan điểm nhân chủng học, khách du lịch bị thúc đẩy nhằm thoát khỏi thói quen của cuộc sống hàng ngày, tìm kiếm những trải nghiệm đích thực (MacCannell, 1977) Từ quan điểm tâm lý-xã hội học, khái niệm động cơ được phân loại thành 2 nhóm khía cạnh: “đẩy” và “kéo” (Iso-Ahola, 1982) Trong các nghiên cứu về du lịch, khái niệm động cơ có thể được phân thành hai nhóm lực tác động mà đã chỉ ra rằng những người đi du lịch bởi vì

họ bị thúc đẩy hoặc lôi kéo bởi một số lực tác động nàc hoặc một số nhân tố (Dann, 1977, 1981) Theo Uysal và Hagan (1993), các nỗ lực này mô tả cách

cá nhân được “đẩy” bởi các biến động cơ vào việc họ ra quyết định du lịch và cách thức họ được “kéo” hay thu hút bởi các thuộc tính điểm đến Nói cách khác, các động cơ đẩy có liên quan đến mong muốn của khách du lịch, trong khi động cơ kéo được gắn liền với các thuộc tính của sự lựa chọn điểm đến (Cha, McCleary, & Uysal, 1995; Crompton, 1979; Dann, 1981; Oh, Uysal, & Weaver, 1995) Động cơ đẩy có liên quan đến các khía cạnh nội bộ hay tình cảm Trong khi đó, động cơ kéo lại được kết nối với các khía cạnh bên ngoài, tình huống, hoặc nhận thức [Trích trong Yooshik Yoon, Muzaffer Uysal

Trang 35

Động cơ đẩy có thể được hiểu như là mong muốn được giải thoát, nghỉ ngơi và thư giãn, cải thiện sức khỏe, khám phá và tương tác xã hội, tăng cường mối quan hệ gia đình; và giải trí (Crompton, 1979) Du khách có thể đi

du lịch để thoát khỏi thói quen và tìm kiếm những trải nghiệm đích thực Động cơ kéo là những thứ xuất phát từ sức hấp dẫn của điểm đến, như các bãi biển, các cơ sở vui chơi giải trí, văn hóa , giải trí, cảnh quan thiên nhiên, mua sắm, công viên Những thuộc tính điểm đến có thể kích thích và tăng cường động lực đẩy vốn có (McGehee et al., 1996) Một số nghiên cứu đã được tiến hành bằng cách sử dụng các quan điểm này (Iso-Ahola, 1982; Pyo, Mihalik,

& Uysal, 1989; Yuan & McDonald, 1990) Bên cạnh đó việc bổ sung nhân tố động cơ vào mô hình TPB làm tăng khả năng giải thích của mô hình đến xu hướng hành vi của du khách [Trích trong Yooshik Yoon, Muzaffer Uysal

e Giá trị cảm nhận

Theo Zeithaml (1988) trích trong Ching-Fu Chen (2008) giá trị cảm nhận

được định nghĩa là ''Sự đánh giá tổng thể của người tiêu dùng về lợi ích của một sản phẩm hay dịch vụ dựa vào nhận thức của họ về những gì nhận được

và những gì phải bỏ ra "

Kết quả nghiên cứu của Carman (1990); Boulding et al., (1993); Parasuraman et al., (1996) trích trong Đỗ Văn Tính đã chỉ ra rằng giá trị cảm nhận của khách hàng là một nhân tố dự báo đáng tin cậy của ý định mua và hành vi tiêu dùng

Giá trị cảm nhận đã được nhận thấy là một yếu tố dự báo quan trọng về

xu hướng hành vi của khách hàng (Cronin et al., 2000) Ravald và Gronroos (1996) cho rằng giá trị cảm nhận được coi như một phần quan trọng của marketing quan hệ, và một trong những chiến lược cạnh tranh thành công nhất Là biện pháp quan trọng nhất để đạt được một lợi thế cạnh tranh, giá trị cảm nhận được coi là một yếu tố dự báo quan trọng và là yếu tố quyết định sự

Trang 36

hài lòng và lòng trung thành của khách hàng (McDougall & Levesque, 2000; Parasuraman & Grewal, 2000; Petrick & Backman, 2002) Woodruff (1997) cho rằng các đại lượng đo lường giá trị mà khách hàng nhận được là tiền tố quan trọng cho sự hài lòng tổng thể của khách hàng, và các đại lượng đo lường này được chứng minh là tương quan tốt với hành vi của khách hàng như truyền miệng và ý định mua lại Dodds (1991) cũng đưa ra ý tưởng về

mô hình mà giá trị cảm nhận là liên kết giữa chất lượng cảm nhận, tổn thất cảm nhận, và ý định hành vi

Cronin et al (2000) đã kiểm tra mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ, giá trị dịch vụ, sự hài lòng và ý định hành vi trong sáu ngành công nghiệp bao gồm các môn thể thao nhiều người xem, các môn thể thao nhiều người tham gia, vui chơi giải trí, thức ăn nhanh, y tế và dịch vụ vận chuyển đường dài Kết quả cho thấy rằng giá trị dịch vụ khách hàng có liên quan đến ý định hành

vi (trong tất cả các ngành công nghiệp, ngoại trừ chăm sóc sức khỏe) Giá trị dịch vụ cũng được tìm thấy là gián tiếp liên quan đến ý định hành vi thông qua sự hài lòng của khách hàng

Eggert và Ulaga (2002) đề xuất hai loại mô hình lý thuyết Mô hình đầu tiên có liên quan đến mô hình tác động qua trung gian, nhằm mục đích để kiểm định mối quan hệ giữa giá trị cảm nhận, sự hài lòng với việc mua lại và truyền miệng của khách hàng Mô hình thứ hai liên quan đến các mô hình trực tiếp , nhằm để kiểm định các mối quan hệ trực tiếp giữa giá trị cảm nhận, việc mua lại và truyền miệng mà không thông qua sự hài lòng Các nhà nghiên cứu nhận định và đo lường giá trị cảm nhận như là một biến nhận thức, sự hài lòng như một cấu trúc tình cảm và mua lại và truyền miệng như cấu trúc nhận thức Các kết quả kiểm định của mô hình tác động qua trung gian chỉ ra rằng giá trị cảm nhận của khách hàng đã có một tác động tích cực đáng kể đến sự hài lòng, do đó ảnh hưởng đến việc mua lại và sự sẵn sàng đưa ra các khuyến cáo truyền miệng Các kết quả kiểm định của mô hình tác động trực tiếp cũng

Trang 37

chỉ ra rằng giá trị khách hàng cảm nhận được có một tác động tích cực đáng

kể đến hành vi mua lại và truyền miệng Kết quả cho thấy tất cả các mối quan

hệ trong cả hai mô hình rất có ý nghĩa và các mô hình tác động qua trung gian cũng như các mô hình tác động trực tiếp đều thể hiện các mối quan hệ này tốt C.Chen và F.Chen (2010) đã xem xét mối quan hệ giữa các lần đến trước

đó, giá trị cảm nhận và sự hài lòng với các ý định quay lại thăm một điểm đến Kết quả cho thấy cả ba biến số này đều có ảnh hưởng đến ý định thăm lại điểm đến Các phát hiện cho thấy rằng giá trị cảm nhận cùng với hai biến số khác là những yếu tố dự báo tốt về dự định thăm lại điểm đến

f Kinh nghiệm quá khứ

Kinh nghiệm du lịch “là tập hợp những tri thức của mỗi cá nhân sau khi hấp thụ các sản phẩm và dịch vụ có liên quan đến các địa điểm du lịch họ đến thăm” (Trích trong Terry Lam, Cathy H.C Hsu (2005))

Các lý thuyết về hành vi con người cho rằng những dự báo tốt nhất về ý định hành vi và hành vi thực tế trong tương lai cần dựa vào hành vi và kinh nghiệm có liên quan trong quá khứ (Quellette & Wood, 1998; Sonmez & Graefe, 1998) Mặc dù TPB đã được coi là một mô hình hợp lý để dự đoán ý định hành vi tuy nhiên Quellette và Wood (1998) thấy rằng sự thay đổi trong việc giải thích ý định hành vi tăng lên khi kinh nghiệm trước đây đã được bổ sung vào mô hình TPB Lam and Hsu (2005) cũng cho thấy hành vi trước đây

là một yếu tố dự báo quan trọng về ý định du lịch lựa chọn một điểm đến mặc

dù tương quan là yếu Các nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra rằng trong nhiều trường hợp đi du lịch kinh nghiệm ảnh hưởng tích cực ý định quay trở lại (ví

dụ, Gomez-Jacinto, Martin-Garcia, và Bertiche-Haud'Huyze 1999; Sonmez và Graefe 1998) Mazursky (1989) nhận thấy rằng số lần du lịch trước ảnh hưởng đáng kể ý định trong tương lai Lam và Hsu (2004) cũng cho thấy, như

số lần tham quan trước tăng thì ý định quay lại Hồng Kông của Trung Quốc trở nên mạnh hơn Anastasopoulos (1992) thấy rằng kinh nghiệm du lịch đến

Trang 38

Thổ Nhĩ Kỳ đã có một tác động tiêu cực đến thái độ khách du lịch Hy Lạp (trích trong Songshan (Sam) Huang ,Cathy H C Hsu) Vì vậy, nó là hợp lý

để giả định rằng sự bao gồm các hành vi trước đây trong mô hình nghiên cứu cần tăng cường khả năng tiên đoán của các TPB gốc

g Các yếu tố về nhân khẩu học

tư vấn đối với hoạt động mua sắm cá nhân Dựa trên các giả định này, nghiên cứu của Homburg và Giering (2001) đã đề xuất rằng giới tính có ảnh hưởng tiết chế tới lòng trung thành của khách hàng khi mua sắm Ví dụ, sự hài lòng của khách hàng có thể tác động mạnh lên lòng trung thành của khách hàng đối với phái nữ hơn là nam giới Trong lĩnh vực du lịch, nghiên cứu của Pizam và cộng sự (2004) chỉ ra rằng nam giới thường khác nữ giới trong lòng trung thành với các điểm đến Cụ thể, những người thích các hoạt động ngoài trời, tìm kiếm sự thay đổi thì mặc dù họ thỏa mãn với dịch vụ tại điểm đến nhưng

sẽ khó quay trở lại vào lần sau

Độ tuổi

Tuổi là một đặc điểm khác về nhân khẩu học nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Cụ thể, các nghiên cứu dựa trên sự so sánh giữa khách hàng trẻ tuổi và khách hàng lớn tuổi đã tập trung vào sự khác biệt trong năng lực xử lý thông tin theo quá trình khi đánh giá sản phẩm Tất các các nghiên cứu chỉ ra rằng năng lực xử lý thông tin theo quá trình giảm xuống với

sự tăng lên ở các độ tuổi Theo đó, những khách hàng nhiều tuổi thường hạn chế trong năng lực xử lý thông tin hơn và vì thế họ sẽ có hành vi thực hiện lại

Trang 39

các hành động mua sắm với các sản phẩm/dịch vụ họ đã thỏa mãn nhiều hơn các khách hàng trẻ tuổi Vì thế, nghiên cứu của Homburg và Giering (2001)

đã chứng minh rằng tuổi đóng vai trò như là biến tiết chế trong mối quan hệ giữa sự hài lòng với lòng trung thành của khách hàng Nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch chỉ ra rằng, những người trẻ tuổi thường thích các hoạt động du lịch ngoài trời, thích khám phá những điều mới mẽ trong hoạt động du lịch và tìm kiếm các điểm du lịch hấp dẫn khác nhau Do vậy, mặc dù họ thỏa mãn với chất lượng dịch vụ điểm đến nhưng khả năng quay trở lại điểm đến đó là không cao Bổ sung vào luận điểm trên, nghiên cứu của Selin và cộng sự (1988) chứng minh rằng du khách lớn tuổi thường có xu hướng trung thành với các điểm đến hơn các du khách trẻ tuổi

 Thu nhập

Thu nhập của cá nhân có ảnh hưởng mạnh đến quyết định mua sắm của

họ Trong nghiên cứu của Homburg và Giering (2001) các tác giả đưa ra giả định rằng những người có trình độ học vấn cao thường có xu hướng nhận được mức thu nhập cao Vì thế, họ thường xuyên tham gia nhiều hơn vào việc

xử lý các thông tin trước khi đưa ra quyết định mua hàng và việc đánh giá các thông tin là rất cần thiết đối với quyết định lựa chọn tiêu dùng sản phẩm của

họ Bởi vì năng lực nhận thức của họ được phát triển dựa trên cảm xúc sự thuận tiện nhiều hơn là xem xét đến các thông tin mới Nghiên cứu của Homburg và Giering (2001) đã chứng minh rằng thu nhập đóng vai trò quan trọng trong tác động tiết chế lên mối quan hệ giữa sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng Trong lĩnh vực du lịch, những người có thu nhập cao thường yêu cầu/lựa chọn điểm đến khắt khe hơn Vì thế, những người có thu nhập cao thường chọn tìm kiếm dịch vụ mới hấp dẫn và và việc quay trở lại thường xuyên một điểm đến là hạn chế (ngoại trừ các điểm đến được đặt trước theo mô hình bán kỳ nghỉ) Trong trường hợp như vậy, mối quan hệ

Trang 40

giữa sự hài lòng với trung thành điểm đến sẽ mạnh hơn đối với những người

có thu nhập thấp hơn là những người có thu nhập cao

1.5 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VỀ Ý ĐỊNH QUAY LẠI CỦA KHÁCH DU LỊCH SỬ DỤNG LÝ THUYẾT HÀNH VI DỰ ĐỊNH

 Nghiên cứu của Heesup Han , Yunhi Kim (2010) “ Điều tra về sự hình thành quyết định khách hàng tại khách sạn Xanh": Phát triển một

mô hình mở rộng của lý thuyết hành vi dự định”

- Mục tiêu của nghiên cứu

Mô hình TPB đã được áp dụng trong nhiều bối cảnh khác nhau, có một

số nghiên cứu đã sử dụng mô hình TPB để giải thích tiến trình ra quyết định quay lại khách sạn cuả khách hàng Tuy nhiên, không có nhiều nghiên cứu so sánh khả năng tiên đoán của các mô hình TRA, TPB, và TPB mở rộng , bao gồm việc bổ sung các biến về khung cảnh khách sạn, đặc biệt là ở một khách sạn xanh trong khi tầm quan trọng của chất lượng dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng, hình ảnh tổng thể được đánh giá cao trong việc giải thích hành vi sau mua của họ Vì vậy, mục đích của nghiên cứu này là để phát triển một mô hình TPB mở rộng bằng cách bổ sung các biến như chất lượng dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng, hình ảnh tổng thể, và tần số hành vi trước đây vào mô hình để dự đoán tốt hơn ý định của du khách quay lại khách hàng khách sạn xanh Các mục tiêu cụ thể nhằm để điều tra mối quan hệ cấu trúc giữa các biến trong nghiên cứu đề xuất, và để kiểm tra vai trò trung gian của sự hài lòng của khách hàng, thái độ, định mức chủ quan, và kiểm soát hành vi

Ngày đăng: 04/04/2022, 22:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ThS. Ngô Thị Diệu An, ThS Nguyễn Thị Oanh Kiều, Giáo trình Tổng quan du lịch, NXB Đà Nẵng, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tổng quan du lịch
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
2. Lê Chí Công (2014), Xây dựng lòng trung thành của du khách đối với du lịch biển Việt Nam, Luận án TS ngành: Quản lý kinh tế; Trường Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng lòng trung thành của du khách đối với du lịch biển Việt Nam
Tác giả: Lê Chí Công
Năm: 2014
3. Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường xã hội, 2014, Kết quả điều tra khách du lịch của Dự án EU tại một số điểm du lịch, Hà Nội, truy cập tại:http://esrt.vn/upload/BaiKhaosatdukhach_Bantinso8DuanEU.pdf, ngày 20/02/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra khách du lịch của Dự án EU tại một số điểm du lịch, Hà Nội
4. Võ Hoàn Hải (2009) , Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi du lịch của du khách nội địa đến thành phố Nha Trang, luận văn thạc sĩ Kinh tế, khoa Kinh tế trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi du lịch của du khách nội địa đến thành phố Nha Trang
5. Nguyễn Văn Mạnh (2009), Bài giảng Hành vi tiêu dùng trong du lịch. Truy cập tại http://tailieu.vn/doc/bai-giang-hanh-vi-nguoi-tieu-dung-du-lich-1697778.html ngày 15/02/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Hành vi tiêu dùng trong du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh
Năm: 2009
6. Đinh Thị Trà Nhi (2010) Xây dựng và phát triển thương hiệu thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ ngành: Du lịch, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn. Truy cập tạihttp://text.123doc.org/document/2583803-xay-dung-va-phat-trien-thuong-hieu-du-lich-thanh-pho-da-nang.htm , ngày 15/02/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển thương hiệu thành phố Đà Nẵng
8. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2005, Luật du lịch số 22/2008/QH12 (thông qua 14/06/2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật du lịch
9. Đỗ Văn Tính, Giá trị cảm nhận của khách hàng truy cập tại http://kqtkd.duytan.edu.vn/Home/ArticleDetail/vn/88/2706/gia-tri-cam-nhan-cua-khach-hang, ngày 15/02/2016Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị cảm nhận của khách hàng
10. Ajzen, I (1991), The theory of planned behavior,Organizational Behavior and Human Decision Processes, vol. 50, no. 2, pp. 179-211, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The theory of planned behavior,Organizational Behavior and Human Decision Processes
Tác giả: Ajzen, I
Năm: 1991
11. Ajzen, I., & Fishbein, M. (1977). Attitude-Behavior relations: A theoretical analysis and review of empirical research. Psychological Bulletin, 84, 888–918 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Attitude-Behavior relations: A theoretical analysis and review of empirical research
Tác giả: Ajzen, I., & Fishbein, M
Năm: 1977
12. Bahram Ranjbariana & Javad Khazaei Poola (2015) The Impact of Perceived Quality and Value on Tourists’ Satisfaction and Intention to Revisit Nowshahr City of Iran, Journal of Quality Assurance in Hospitality & Tourism, 16:103–117, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Impact of Perceived Quality and Value on Tourists’ Satisfaction and Intention to Revisit Nowshahr City of Iran
13. Cathy H. C. Hsu, Songshan (Sam) Huang (2012), An extension of the theory of planned behavior model for tourists ,Journal of Hospitality& Tourism Research published online 21 December 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An extension of the theory of planned behavior model for tourists
Tác giả: Cathy H. C. Hsu, Songshan (Sam) Huang
Năm: 2012
14. C. Chen and F. Chen (2010), Experience quality, perceived value, satisfaction and behavioral intentions for heritage tourists, Tourism Management, vol. 31, no. 1, pp. 29-35, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Experience quality, perceived value, satisfaction and behavioral intentions for heritage tourists
Tác giả: C. Chen and F. Chen
Năm: 2010
16. Ching-Fu Chen (2008), Investigating structural relationships between service quality, perceived value, satisfaction,and behavioral intentions for air passengers: Evidence from Taiwan, Transportation Research Part A 42 (2008) 709–717] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Investigating structural relationships between service quality, perceived value, satisfaction,and behavioral intentions for air passengers: Evidence from Taiwan
Tác giả: Ching-Fu Chen
Năm: 2008
17. Choong-Ki Lee, Yoo-Shik Yoon, Seung-Kon Lee, Investigating the relationships among perceived value, satisfaction, and recommendations: The case of the Korean DMZ, Tourism Management 28 (2007) 204–214) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Investigating the relationships among perceived value, satisfaction, and recommendations: The case of the Korean DMZ
18. Chhavi Joynathsing (2010), Understanding the Behavioral Intention of European Tourists, International Research Symposium in Service Management, ISSN 1694-0938 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Understanding the Behavioral Intention of European Tourists
Tác giả: Chhavi Joynathsing
Năm: 2010
19. Cronin, J. J., Brady, M. K., & Hult, G. T. (2000). Assessing the effects of quality, value, customer satisfaction on consumer behavioral intentions in service environments. Journal of Retailing, 76(2), 193–218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessing the effects of quality, value, customer satisfaction on consumer behavioral intentions in service environments
Tác giả: Cronin, J. J., Brady, M. K., & Hult, G. T
Năm: 2000
20. Fishbein, M., Ajzen, I., (1975), Belief, Attitude, Intention and Behavior: An Introduction to Theory and Research, Reading, Massachusetts:Addison-Wesley, 1975, ch. 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Belief, Attitude, Intention and Behavior: "An Introduction to Theory and Research, Reading, Massachusetts
Tác giả: Fishbein, M., Ajzen, I
Năm: 1975
21. Iso-Ahola, S. (1982). Toward a social psychology theory of tourism motivation. Annals of Tourism Research, 12, 256–262.]James F. Petrick, Duarte D. Morais and William C. Norman (2001) An Examination of the Determinants of Entertainment Vacationers’Intentions to Revisit, Journal of Travel Research 2001 40: 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toward a social psychology theory of tourism motivation. "Annals of Tourism Research, 12, 256–262.] James F. Petrick, Duarte D. Morais and William C. Norman (2001) "An Examination of the Determinants of Entertainment Vacationers’ "Intentions to Revisit
Tác giả: Iso-Ahola, S
Năm: 1982
22. J. Enrique Bigne´ , Isabel Sa´nchez and Luisa Andreu (2008), The role of variety seeking in short and long run revisit intentions in holiday destinations, International journal of culture, tourism and hospitality research vol.3 No.2 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of variety seeking in short and long run revisit intentions in holiday destinations
Tác giả: J. Enrique Bigne´ , Isabel Sa´nchez and Luisa Andreu
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3.9 Bảng kết quả mơ hình hồi quy 79 - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP  đà nẵng của khách du lịch nội địa
3.9 Bảng kết quả mơ hình hồi quy 79 (Trang 9)
Hình 1.1: Mơ hình hành vi tiêu dùng trong du lịch (Mathieson & Wall, 1982) - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP  đà nẵng của khách du lịch nội địa
Hình 1.1 Mơ hình hành vi tiêu dùng trong du lịch (Mathieson & Wall, 1982) (Trang 27)
- Mơ hình nghiên cứu - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP  đà nẵng của khách du lịch nội địa
h ình nghiên cứu (Trang 41)
- Mơ hình nghiên cứu - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP  đà nẵng của khách du lịch nội địa
h ình nghiên cứu (Trang 43)
cơ sở để phân tích, kết quả mơ hình đã giải thích thêm 5% của sự thay đổi trong ý định hành vi so với một mơ hình cơ sở mà khơng có nhân tố động cơ - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP  đà nẵng của khách du lịch nội địa
c ơ sở để phân tích, kết quả mơ hình đã giải thích thêm 5% của sự thay đổi trong ý định hành vi so với một mơ hình cơ sở mà khơng có nhân tố động cơ (Trang 44)
- Mơ hình nghiên cứu - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP  đà nẵng của khách du lịch nội địa
h ình nghiên cứu (Trang 46)
- Mơ hình nghiên cứu - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP  đà nẵng của khách du lịch nội địa
h ình nghiên cứu (Trang 47)
2.2. MƠ HÌNH NGHIÊN CỨU - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP  đà nẵng của khách du lịch nội địa
2.2. MƠ HÌNH NGHIÊN CỨU (Trang 54)
Các thành phần của mơ hình nghiên cứu và thang đo sơ bộ - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP  đà nẵng của khách du lịch nội địa
c thành phần của mơ hình nghiên cứu và thang đo sơ bộ (Trang 55)
Bảng 2.6. Thang đo nhân tố Chuẩn chủ quan - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP  đà nẵng của khách du lịch nội địa
Bảng 2.6. Thang đo nhân tố Chuẩn chủ quan (Trang 56)
Bảng 2.7. Thang đo nhân tố Nhận thức kiểm soát hành vi - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP  đà nẵng của khách du lịch nội địa
Bảng 2.7. Thang đo nhân tố Nhận thức kiểm soát hành vi (Trang 57)
Bảng 2.8. Thang đo nhân tố Động cơ - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP  đà nẵng của khách du lịch nội địa
Bảng 2.8. Thang đo nhân tố Động cơ (Trang 58)
Bảng 2.9. Thang đo nhân tố Giá trị cảm nhận - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP  đà nẵng của khách du lịch nội địa
Bảng 2.9. Thang đo nhân tố Giá trị cảm nhận (Trang 59)
Bảng 2.10. Thang đo nhân tố Kinh nghiệm quá khứ STT Biến tiềm  ẩn  (Factors) Biến quan sát (Items) - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP  đà nẵng của khách du lịch nội địa
Bảng 2.10. Thang đo nhân tố Kinh nghiệm quá khứ STT Biến tiềm ẩn (Factors) Biến quan sát (Items) (Trang 60)
Bảng 2.11. Thang đo nhân tố Ý định quay lại - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay lại điểm đến du lịch TP  đà nẵng của khách du lịch nội địa
Bảng 2.11. Thang đo nhân tố Ý định quay lại (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm