1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Quy định về vốn pháp định trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam dưới góc nhìn so sánh " pdf

9 639 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy định về vốn pháp định trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam dưới góc nhìn so sánh
Tác giả Ths. Trần Huỳnh Thanh Nghị
Trường học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật kinh tế
Thể loại Bài báo
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 270,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Jennifer Payne đã luận bàn về vai trò của vốn pháp định ở Anh trong tương quan với quy định vốn pháp định áp dụng tại các quốc gia khác ở châu Âu sau sự kiện nước Anh ban hành Luật công

Trang 1

Ths TrÇn Huúnh Thanh NghÞ *

1 Vị trí và vai trò của vốn pháp định

trong pháp luật doanh nghiệp các nước

Vốn (capital) có vai trò quan trọng đối

với bất kì nhà đầu tư nào trên thế giới khi ra

thương trường Nhận xét về vai trò của vốn

ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống ngân

hàng, Barrios khẳng định: “Vốn đối với các

ngân hàng có vai trò quyết định để đánh giá

khả năng tài chính dài hạn và khả năng thanh

toán của các ngân hàng cũng như niềm tin

của công chúng vào hoạt động của các ngân

hàng”.(1) Có thể nói, vốn là yêu cầu quan

trọng hàng đầu để nhà đầu tư gia nhập thị

trường mà các quốc gia đang phát triển kinh

tế thị trường không thể không quan tâm Tuy

nhiên, điều đặt ra là ngưỡng vốn tối thiểu bao

nhiêu để cho phép nhà đầu tư gia nhập thị

trường lại là vấn đề không đơn giản mà pháp

luật doanh nghiệp nhiều nước phải cân nhắc

để có những điều chỉnh cho phù hợp Vì thế,

vốn pháp định (legal capital) khi thành lập

doanh nghiệp đã trở thành một trong những

nội dung cơ bản của pháp luật doanh nghiệp ở

nhiều nước Pháp luật doanh nghiệp của

Trung Quốc, Cộng hoà Liên bang Đức,

Indonesia, Hàn Quốc, Anh, Hoa Kỳ, Pháp

kể cả Việt Nam cũng đều có những quy định

điều chỉnh những vấn đề liên quan đến vốn

pháp định Mặt khác, sự cần thiết phải áp

dụng vốn pháp định đối với doanh nghiệp

cũng là đề tài được tranh luận nhiều giữa các

nhà khoa học trong thời gian vừa qua

Jennifer Payne đã luận bàn về vai trò của vốn

pháp định ở Anh trong tương quan với quy định vốn pháp định áp dụng tại các quốc gia khác ở châu Âu sau sự kiện nước Anh ban hành Luật công ti năm 2006.(2)

Còn John Armour cũng nêu lên sự cần thiết ở khía cạnh nhất định vai trò của vốn pháp định áp dụng đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế.(3) Ngay cả Báo cáo thường niên của Ngân hàng thế giới (WB) về môi trường kinh doanh toàn cầu bao giờ cũng dành nội dung quan trọng

để nói về sự “tăng trưởng” hay sụt giảm của

cơ chế áp dụng vốn pháp định ở các nền kinh

tế trên thế giới.(4)

Nhiều năm qua, Ngân hàng thế giới cũng xác định việc lấy vốn pháp định làm một trong những tiêu chí đánh giá mức

độ thông thoáng trong thủ tục thành lập doanh nghiệp cũng như tính hiệu quả của chương trình cải cách thủ tục hành chính ở nhiều quốc gia trên thế giới

Luận bàn về vai trò của vốn pháp định, chúng ta thấy rằng ở một số nước, nhà nước kiểm soát hoạt động đầu tư, kinh doanh của nhà đầu tư, đặc biệt là năng lực tài chính của

họ dựa trên mức vốn tối thiểu nhà nước ấn định khi thành lập doanh nghiệp (vốn pháp định) Đây được xem là biện pháp cần thiết

để đánh giá đúng thực lực và quy mô của nền kinh tế, hạn chế tình trạng nhà đầu tư ra thương trường theo dạng “tay không ra trận” gây rủi ro cho nền kinh tế nói chung và các

* Khoa Luật kinh tế Trường đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

đối tác của họ nói riêng Vốn pháp định được

xác định như là “ngưỡng” tài chính tối thiểu

mà nhà nước yêu cầu nhà đầu tư phải đáp ứng

và chứng minh bằng các phương thức khác

nhau rồi mới được phép hoạt động kinh

doanh Vốn pháp định là vấn đề phức tạp

trong pháp luật doanh nghiệp nhiều nước, vì

suy cho cùng quy định vốn pháp định ít nhiều

đụng chạm đến quyền tự do kinh doanh của

nhà đầu tư, ảnh hưởng đến môi trường kinh

doanh và việc cải cách thủ tục hành chính

trong nền kinh tế Khi đánh giá về vai trò và

phạm vi áp dụng vốn pháp định, do có sự

khác biệt về quan điểm chính trị pháp lí và

điều kiện kinh tế-xã hội mà các quốc gia cũng

nhìn nhận vấn đề vốn pháp định dưới các khía

cạnh khác nhau Thậm chí người ta còn chỉ ra

rằng một trong những điểm khác biệt giữa

trường phái pháp luật Anh - Mỹ và châu Âu

lục địa thể hiện ở mức độ áp dụng vốn pháp

định đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế

Ở các nước theo trường phái pháp luật

Anh-Mỹ thì vốn pháp định không phổ biến như là

biện pháp để bảo vệ quyền lợi của chủ nợ

Chẳng hạn, ở Hoa Kỳ, hầu hết các bang của

nước này đều bãi bỏ vốn pháp định như bang

California(5) hoặc chỉ còn tồn tại rất ít(6) ở một

số tiểu bang như bang Delaware hay NewYork.(7)

Ở Anh, vốn pháp định chỉ áp dụng cho mô

hình công ti cổ phần chứ không áp dụng cho

các loại hình công ti khác.(8)

Ngược lại, ở các nước châu Âu lục địa khác thì vốn pháp định

vẫn chiếm vai trò quan trọng trong pháp luật

doanh nghiệp.(9)

Ở Việt Nam, quy định về vốn pháp định

có quá trình hình thành và phát triển hơn 20

năm từ khi Việt Nam mở cửa kinh tế thị

trường.(10)

Dù trải qua những giai đoạn nhất

định nhưng vốn pháp định vẫn chiếm vị trí quan trọng trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam suốt từ năm 1990 cho đến nay Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng vào kinh tế quốc tế cùng với tiến trình cải cách thủ tục hành chính đang diễn ra hết sức mạnh

mẽ thì việc nhìn nhận và đánh giá lại pháp luật điều chỉnh vốn pháp định ở Việt Nam trong tương quan với quy định vốn pháp định

ở các nền kinh tế khác trên thế giới lại có ý nghĩa hơn bao giờ hết, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mà những vấn đề về vốn pháp định cho hoạt động của doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản ở Việt Nam vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập đòi hỏi phải nhanh chóng và hoàn thiện trong thời gian sớm nhất

để tạo ra sự ổn định cho kinh tế nước nhà phát triển bền vững, thoát ra thời kì khủng hoảng

và suy thoái kinh tế mà Việt Nam đang phải nếm trải suốt từ năm 2008 đến nay

2 Vốn pháp định trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam - Những điểm tương đồng

và khác biệt với pháp luật một số nước trên thế giới

Ở Việt Nam, vốn pháp định được hiểu là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định pháp luật để thành lập doanh nghiệp.(11)

Đó còn được hiểu như là biện pháp kiểm tra khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp (solvency test).(12) Bất kì nhà đầu tư nào khi thành lập doanh nghiệp đều phải có khối lượng tài sản nhất định, tức là họ phải có năng lực tài chính Nếu doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà nhà nước không đòi hỏi phải chứng minh năng lực tài chính thì vốn của doanh nghiệp sẽ do nhà đầu tư đăng kí và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của số

Trang 3

vốn đó.(13)

Như đã phân tích ở trên, việc tồn

tại vốn pháp định trong pháp luật doanh

nghiệp không chỉ riêng Việt Nam mà pháp

luật của nhiều nước trên thế giới cũng đề cập

quy định này ở các góc độ khác nhau Nhìn

chung, quy định vốn pháp định giữa pháp luật

doanh nghiệp Việt Nam với các quốc gia

khác có những điểm tương đồng và khác biệt

thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

- Thứ nhất, vốn pháp định ở Việt Nam

được xác định theo từng ngành, nghề kinh

doanh cụ thể, không áp dụng cho từng loại

hình doanh nghiệp như hầu hết các nước trên

thế giới đã và đang thực hiện

Khoản 2 Điều 7 Luật doanh nghiệp năm

2005 và Điều 8 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP

do Chính phủ ban hành ngày 01/10/2010 để

quy định chi tiết thi hành một số điều của

Luật doanh nghiệp đã xác định vốn pháp định

với tư cách là mức vốn “sàn” đối với doanh

nghiệp nhưng không áp dụng đại trà trong

nền kinh tế mà chỉ áp dụng cho từng ngành,

nghề kinh doanh cụ thể do pháp luật chuyên

ngành điều chỉnh Có thể nói, lịch sử phát

triển của vốn pháp định ở Việt Nam đã trải

qua nhiều giai đoạn nhưng tất cả đều thống

nhất ở chỗ: Vốn pháp định ở Việt Nam chưa

bao giờ áp dụng theo từng loại hình doanh

nghiệp như nhiều nước khác đã và đang làm

Giai đoạn từ năm 1991 - 1999, vốn pháp định

áp dụng tràn lan trong nhiều ngành nghề theo

yêu cầu của Luật công ti năm 1990 và Luật

doanh nghiệp tư nhân năm 1990 Mỗi ngành,

nghề Chính phủ đều ấn định mức vốn nhất

định buộc doanh nghiệp phải đáp ứng bằng

cách có xác nhận của ngân hàng nơi doanh

nghiệp mở tài khoản hoặc xác nhận của

phòng công chứng nhà nước về tài sản góp

vốn bằng hiện vật khi thành lập Nhìn chung, vốn pháp định áp dụng trong nhiều ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp giai đoạn

1991 - 1999 không đem lại hiệu quả trên thực

tế mà nguyên nhân là do Nhà nước quy định

mức vốn tối thiểu quá thấp Điều đó “đã làm

mất hết ý nghĩa của việc quy định về mức vốn pháp định là nhằm đảm bảo tối thiểu về tài sản của chủ doanh nghiệp đối với việc kinh doanh và đối với khách hàng”.(14)

Khi Luật

doanh nghiệp năm 1999 ra đời thì vốn pháp định chỉ còn lại trong số rất ít ngành nghề kinh doanh Đến thời điểm năm 2003, cả nước chỉ còn một số ngành, nghề doanh nghiệp phải chứng minh vốn pháp định như kinh doanh tiền tệ - tín dụng, kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh chứng khoán và kinh doanh vàng.(15) Sau này khi Luật doanh nghiệp năm

2005 được ban hành thì vốn pháp định tiếp tục được áp dụng cho một số ngành, nghề như: kinh doanh tiền tệ - tín dụng, kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ đòi

nợ thuê, kinh doanh dịch vụ bảo vệ, kinh doanh vận chuyển hàng không, kinh doanh cảng hàng không, kinh doanh cung cấp dịch

vụ hàng không, kinh doanh sản xuất phim, kinh doanh sở giao dịch hàng hoá và kinh doanh dịch vụ kiểm toán độc lập Chẳng hạn,

để kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê thì phải có

ít nhất là 2 tỉ đồng, kinh doanh bất động sản thì phải có vốn tối thiểu là 6 tỉ đồng (16) Thực ra, việc tiếp cận vốn pháp định để áp dụng trong từng ngành nghề kinh doanh cụ thể của Việt Nam có nét tương đồng với pháp luật doanh nghiệp của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào khi mà quốc gia này cũng quy định vốn pháp định theo từng ngành, nghề

Trang 4

kinh doanh cụ thể.(17)

Trong khi đó, ở nhiều nước lại có cách

tiếp cận khác, đó là quy định vốn pháp định

áp dụng theo từng loại hình doanh nghiệp

hoặc một mức thống nhất cho doanh nghiệp,

chứ không áp dụng theo từng ngành, nghề

kinh doanh cụ thể như tại Việt Nam và Lào

Ví dụ, ở Phần Lan, vốn pháp định để thành

lập doanh nghiệp được quốc gia này quy định

chung là 2.500 euro.(18) Ở Cộng hoà Dominican

từ năm 2011 họ yêu cầu nhà đầu tư phải có ít

nhất 100.000 Dominican Pesos (khoảng 2.855

USD) để thành lập công ti TNHH.(19)

Ở Indonesia, để thành lập công ti TNHH thì bắt

buộc nhà đầu tư phải có ít nhất 50 triệu

rupiah.(20) Ở Hàn Quốc, một công ti cổ phần

trong lĩnh vực đầu tư phải có vốn tối thiểu 1 tỉ

won;(21) trong lĩnh vực thương mại thì vốn

pháp định đối với một công ti TNHH là 10

triệu won; trong đó giá trị mỗi phần vốn góp

ít nhất là 5.000 won; đối với công ti cổ phần

là 50 triệu won và giá trị danh nghĩa của mỗi

cổ phiếu thấp nhất là 100 won.(22)

Ở Trung Quốc, để thành lập công ti TNHH một thành

viên phải có vốn pháp định là 100.000 yuan,

đối với công ti cổ phần là 5.000.000 yuan, đối

với công ti TNHH hai thành viên là 30.000

yuan.(23) Ở Đức, để thành lập công ti TNHH

thì họ quy định phải có tối thiểu 25.000 euro,

công ti cổ phần là 50.000 euro.(24)

Ở Anh,

thành lập công ti cổ phần thì phải có tối thiểu

50.000 euro(25) và ít nhất ¼ trong số đó phải

được thành toán đủ khi thành lập.(26)

Ở Pháp,

để thành lập công ti hợp danh hữu hạn

(Société à responsabilité limitée - SARL) thì

phải có vốn tối thiểu là 7.500 euro, còn nếu

thành lập công ti cổ phần (La Société

Anonyme) thì phải có ít nhất 37.000 euro.(27)

Ở Romania, để thành lập công ti cổ phần thì phải có ít nhất là 1 triệu ROL.(28)

Chính vì không quy định mức vốn pháp định cụ thể áp dụng cho từng loại hình doanh nghiệp hoặc một ngưỡng thống nhất chung cho tất cả các doanh nghiệp như nhiều nước đang làm cho nên về mặt pháp lí nhà đầu tư ở Việt Nam khi thành lập doanh nghiệp có thể chỉ đăng kí với mức vốn khiêm tốn 1.000 đồng Qua đó, việc gia nhập thị trường của nhà đầu tư sẽ nhiều thuận lợi hơn, phù hợp với chủ trương phát huy nội lực, giải phóng sức sản xuất trong nhân dân mà Nhà nước Việt Nam đã và đang thực hiện Theo thống kê, trong năm 2010, cả nước Việt Nam đã có khoảng 85.000 doanh nghiệp dân doanh thành lập mới với số vốn đăng kí khoảng 500 nghìn tỉ đồng trên phạm

vi 63 tỉnh, thành Bình quân vốn đăng kí của mỗi doanh nghiệp đạt gần 6 tỉ đồng.(29)

- Thứ hai, việc quy định mức vốn pháp

định cụ thể ở Việt Nam chủ yếu được xác định thông qua các văn bản dưới luật do cơ quan hành pháp ban hành, trong khi ở hầu hết các nước vốn pháp định của họ lại thường được được điều chỉnh trong các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lí cao hơn do

cơ quan lập pháp ban hành

Theo quy định của Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 thì ngành nghề kinh doanh phải có vốn pháp định được xếp vào dạng ngành nghề kinh doanh có điều kiện, theo đó, chỉ có Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ mới có quyền quy định về điều kiện kinh doanh áp dụng trong các ngành nghề nhất định theo luật định Điều

đó có nghĩa là vốn pháp định có thể tồn tại trong các văn bản luật do Quốc hội ban hành hoặc trong các văn bản dưới luật do Uỷ ban

Trang 5

thường vụ Quốc hội và Chính phủ ban hành

Thực tế, ở Việt Nam, danh mục ngành nghề

kinh doanh phải có vốn pháp định hầu như

chỉ được liệt kê trong các nghị định do Chính

phủ ban hành, còn luật và pháp lệnh do Quốc

hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành

chỉ đóng vai trò hết sức mờ nhạt, mang tính

định hướng là cơ bản Chẳng hạn, Luật kinh

doanh bất động sản chỉ khẳng định kinh

doanh bất động sản là ngành nghề phải có

vốn pháp định nhưng cụ thể mức vốn đó là

bao nhiêu lại được quy định tại Điều 3 Nghị

định của Chính phủ số 153/2007/NĐ-CP

Trong khi đó, ở các quốc gia khác nếu có quy

định vốn pháp định thì họ xác định rõ mức

vốn cụ thể trong đạo luật về doanh nghiệp mà

cơ quan lập pháp đã ban hành Ở Trung Quốc,

mức vốn pháp định cho các doanh nghiệp

được xác định cụ thể tại các điều luật số 26,

59 và 81 Luật công ti năm 2005,(30) ở Anh

cũng vậy - Điều 768 Luật công ti năm 2006

quy định rõ mức vốn pháp định áp dụng đối

với công ti cổ phần là 50.000 euro Sự khác

biệt này có thể được giải thích là do vốn pháp

định ở Việt Nam áp dụng trong từng ngành,

nghề kinh doanh cho nên các điều luật trong

một đạo luật không thể liệt kê hết mà dành

việc đó cho các văn bản dưới luật Trong khi

đó ở các nước khác, vốn pháp định thường

được quy định thống nhất cho loại hình doanh

nghiệp cụ thể hoặc chung cho tất cả các

doanh nghiệp nên việc xác định mức vốn tối

thiểu trong văn bản luật là điều phù hợp và dễ

dàng thực hiện Chính việc quy định vốn

pháp định trong các văn bản dưới luật cũng

dẫn đến hệ quả là so với nhiều nước trên thế

giới thì vốn pháp định ở Việt Nam có tính ổn

định không cao Ở Trung Quốc, việc điều

chỉnh vốn pháp định đối với công ti cổ phần

từ con số 10 triệu yuan theo Luật công ti năm

1993 xuống còn 5 triệu yuan theo Luật công

ti năm 2005 phải mất đến 12 năm.(31) Trong khi ở Việt Nam, đối với lĩnh vực ngân hàng hết sức quan trọng nhưng sự điều chỉnh vốn pháp định trong các nghị định của Chính phủ lại diễn ra hết sức chóng vánh, khiến cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này lúng túng từ con số 50 - 70 tỉ đồng theo Nghị định số 82/1998/NĐ-CP lên 1.000 tỉ đồng theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP vào thời điểm năm 2008 rồi đến 3.000 tỉ đồng cũng theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP vào thời điểm năm 2010, dự kiến còn có thể tăng lên đến 5.000 tỉ (năm 2012) và 10.000 tỉ đồng (năm 2015) theo định hướng của Chính phủ Điều này đã gây xáo trộn lớn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam, làm cho cung cầu tiền

tệ trên thị trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng, buộc doanh nghiệp phải “cõng” thêm thủ tục hành chính mà lẽ ra chúng phải được giảm trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế như: Doanh nghiệp phải làm thủ tục xin phép Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cho phát hành chứng khoán để tăng vốn trên thị trường chứng khoán, phải làm thủ tục xin phép Ngân hàng Nhà nước phê duyệt phương thức tăng vốn, phải làm đơn xin Nhà nước lùi thời hạn tăng vốn pháp định suốt hơn 2 năm qua khiến nhiều ngân hàng cảm thấy mệt mỏi với thủ tục hành chính “ăn theo” việc tăng vốn này Hơn nữa, việc quy định vốn pháp định và thay đổi mức vốn nhiều lần trong thời gian ngắn cũng gây bức xúc cho doanh nghiệp Điều đó thể hiện chính sách thiếu nhất quán mang tính lâu dài trong công tác quản lí nhà nước cho vấn đề vốn pháp định Tính đến thời

Trang 6

điểm tháng 12/2010, có đến 9 ngân hàng

thương mại không đáp ứng đủ vốn pháp định

3.000 tỉ đồng, buộc Chính phủ phải cho gia

hạn thời hạn tăng vốn pháp định thêm 1 năm

nữa đến ngày 31/12/2011, thay cho ngày

31/12/2010 như Nghị định số 141/2006/NĐ-CP

đã quy định.(32)

- Thứ ba, trong khi hầu hết các nước trên

thế giới đang có xu hướng giảm bớt vai trò

và ảnh hưởng của vốn pháp định đối với

doanh nghiệp thì ở Việt Nam vốn pháp định

lại đang có chiều hướng gia tăng trở lại trong

nhiều ngành nghề

Trên thế giới hiện có nhiều quan điểm

khác nhau về phạm vi áp dụng vốn pháp định

Đề xuất của Uỷ ban châu Âu (EC) nhằm đơn

giản hoá Chỉ thị số 02 về vấn đề vốn của

doanh nghiệp(33)

đang được triển khai mạnh

mẽ nhưng cũng tiếp tục gây tranh luận về

khả năng mở rộng phạm vi áp dụng vốn

pháp định trên diện rộng trong tương lai.(34)

Trong Báo cáo thường niên của Ngân

hàng thế giới (WB) về môi trường kinh doanh

toàn cầu năm 2011 thì Việt Nam được xếp

vào nhóm các quốc gia không có quy định

vốn pháp định áp dụng trong thành lập doanh

nghiệp cùng với một số quốc gia khác trên thế

giới như Canada, Bangladesh, Tunisia,

Belarus, Colombia.(35) Thực ra, nếu chỉ nhìn

vào Báo cáo của Ngân hàng thế giới thì các

nhà đầu tư dễ hiểu nhầm là ở Việt Nam

không áp dụng mức vốn “sàn” trong thành lập

doanh nghiệp Ngược lại, do đặc thù vốn

pháp định ở Việt Nam không áp dụng cho

doanh nghiệp như đa phần các quốc gia trên

thế giới đã và đang thực hiện mà trong từng

ngành nghề kinh doanh cụ thể thì Nhà nước

Việt Nam có những quy định riêng để điều

chỉnh về vấn đề này Ở đây có điều cần luận bàn là trong bối cảnh toàn cầu hoá và cạnh tranh thu hút đầu tư, nhiều quốc gia đang tiến tới thu hẹp bớt vai trò của vốn pháp định bằng cách loại bỏ hoàn toàn quy định về vốn pháp định ra khỏi nền kinh tế hoặc điều chỉnh lại vốn pháp định theo hướng giảm xuống để tạo thuận lợi cho nhà đầu tư gia nhập thị trường

Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới thì Bulgaria, Đan Mạch, Kazakhstan, Thụy Điển, Syria, Ukraine, Zambia là những quốc gia tiên phong trong việc bãi bỏ hoặc giảm yêu cầu về vốn pháp định trong thành lập doanh nghiệp, trong số đó Zambia đã chính thức bãi

bỏ vốn pháp định đối với doanh nghiệp, Syria thì giảm bớt yêu cầu vốn pháp định xuống gần 2/3 so với trước, Bulgaria đã giảm mức vốn pháp định từ 5.000 leva (tương đương 3.250 USD) xuống chỉ còn 2 leva (tương đương 1.30 USD),(36)

còn Kazkhstan đã giảm mức vốn pháp định để thành lập doanh nghiệp xuống chỉ còn 100 tenge (tương đương 0.70 USD) - những con số chủ yếu chỉ mang tính tượng trưng.(37)

Ngay cả Nhật Bản - nền kinh

tế lớn thứ ba thế giới, nơi nổi tiếng có truyền thống bảo thủ nhưng năm 2005 họ đã ban hành mới Luật công ti với nhiều quy định thông thoáng bằng cách loại bỏ hoàn toàn vốn pháp định khi thành lập doanh nghiệp nhằm khuyến khích nhà đầu tư ra thương trường nhiều hơn.(38)

Trong khi đó, ở Việt Nam, dù dưới góc nhìn của cộng đồng quốc tế qua đánh giá của Ngân hàng thế giới thì không áp dụng vốn pháp định nhưng thực chất vốn pháp định ở Việt Nam lại có dấu hiệu “tăng trưởng” âm ỷ trong nhiều ngành, nghề kinh doanh, đặc biệt trong khoảng thời gian từ năm

2006 trở về sau Đến thời điểm tháng 10/2010,

Trang 7

cả nước có khoảng 16 ngành, nghề kinh

doanh phải có vốn pháp định,(39)

đó là chưa

kể đến ngành nghề kinh doanh dịch vụ kiểm

toán độc lập theo Luật kiểm toán độc lập năm

2010 phải có vốn pháp định (đang chờ Chính

phủ ban hành nghị định hướng dẫn thi hành

Luật này để quy định mức vốn cụ thể)

Nếu như vào thời điểm năm 2003, cả

nước chỉ có khoảng 3 - 4 ngành, nghề kinh

doanh phải có vốn pháp định thì tại thời điểm

năm 2011, số lượng ngành, nghề kinh doanh

phải có vốn pháp định đã tăng từ 5 - 6 lần so

với thời điểm năm 2003 và chưa có dấu hiệu

dừng lại trong thời gian tới Sự gia tăng các

ngành, nghề kinh doanh phải có vốn pháp

định ở Việt Nam cũng gây nhiều lo ngại cho

doanh nghiệp và đi ngược lại tiến trình cải

cách thủ tục hành chính mà Nhà nước Việt

Nam đang tiến hành Bởi lẽ, song song với

quy định vốn pháp định đó thì hàng loạt các

thủ tục hành chính “ăn theo” vốn pháp định

sẽ gắn chặt với doanh nghiệp, buộc doanh

nghiệp phải có thêm nhiều loại giấy tờ khi

thành lập bằng các phương thức khác nhau

như xác nhận của ngân hàng về số dư trên tài

khoản, đem báo cáo tài chính của doanh

nghiệp đi kiểm toán hoặc phải có chứng thư

định giá của công ti định giá chuyên

nghiệp.(40)

Thậm chí, trong một số trường hợp

vốn pháp định ở Việt Nam còn được sử dụng

để tạo lực cản cho nhà đầu tư gia nhập thị

trường, đây là điều mà hiếm khi xuất hiện

trong pháp luật doanh nghiệp các nước khác

Chẳng hạn, dẫu biết rằng kinh doanh dịch vụ

đòi nợ phải có vốn pháp định 2 tỉ đồng nhưng

doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này

không được kinh doanh các ngành, nghề và

dịch vụ khác ngoài dịch vụ đòi nợ.(41)

Quy

định này khiến cho nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thu hồi nợ tại Việt Nam cảm thấy bất ngờ vì chúng xâm hại đến quyền

tự do kinh doanh dành cho nhà đầu tư mà Hiến pháp năm 1992 và Luật doanh nghiệp năm 2005 đã công nhận đồng thời phản ánh

sự khác biệt rất lớn trong cách hiểu và vận dụng quy định vốn pháp định ở Việt Nam và các nước khác trên thế giới Thử hình dung, nếu doanh nghiệp “ôm” ít nhất 2 tỉ đồng và chỉ được kinh doanh một ngành, nghề duy nhất là đòi nợ thuê mà đây lại là ngành nghề dịch vụ, không đòi hỏi chi phí lớn thì liệu có hấp dẫn nhà đầu tư bỏ vốn vào lĩnh vực này không hay điều kiện kinh doanh khắt khe đó tạo ra rào cản loại bỏ nhà đầu tư ở Việt Nam

ra khỏi ngành, nghề kinh doanh đang rất thịnh hành trong nền kinh tế này? Thực tiễn này đã đặt các nhà hoạch định chính sách pháp luật liên quan đến doanh nghiệp ở Việt Nam phải xem xét, đánh giá lại quy định vốn pháp định

để chúng thực sự phát huy được hiệu quả trên thực tế chứ không phải là rào cản cho quyền

tự do kinh doanh của người dân như dẫn chứng trên đã phân tích

Tóm lại, vốn pháp định ở Việt Nam đã có

sự phát triển đáng ghi nhận qua hơn 20 năm đổi mới Từng giai đoạn lịch sử nhất định, phạm vi áp dụng quy định về vốn pháp định ở Việt Nam có những mức độ đậm nhạt khác

nhau nhưng nhìn chung, “đối với các ngành,

nghề kinh doanh đòi hỏi vốn lớn và cần bảo hiểm rủi ro thì việc duy trì vốn pháp định ở Việt Nam là điều cần thiết”.(42)

Trên thế giới,

do sự khác biệt về nhận thức cũng như các quan điểm pháp lí khác nhau nên cơ chế áp dụng vốn pháp định đối với doanh nghiệp có nhiều khác biệt so với Việt Nam cũng là điều

Trang 8

dễ hiểu Về cơ bản, vốn pháp định ở Việt Nam

chỉ áp dụng trong những ngành, nghề kinh

doanh cụ thể do văn bản dưới luật chuyên

ngành điều chỉnh, quy định cụ thể mức vốn,

không như đa phần các nước khác là vốn

pháp định áp dụng theo loại hình doanh nghiệp

và được quy định hẳn trong luật về doanh

nghiệp Bài viết này chỉ phác họa những nét

chung về sự khác biệt giữa quy định pháp lí

về vốn pháp định ở Việt Nam so với một số

nước trên thế giới để qua đó giúp cho người

đọc có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này

Qua bài viết tác giả hi vọng các nhà hoạch

định chính sách ở Việt Nam sẽ sớm có biện

pháp hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp nói

chung và quy định vốn pháp định nói riêng

trong thời gian tới để “vốn pháp định tồn tại

có thực chất, là công cụ bảo vệ lợi ích của

bạn hàng và chủ nợ của công ti”.(43)

(1).Xem: Victor E Barrios, Juan M.Blanco “The Effectiveness

of bank capital Adequacy Regulation : A Theoretical

and Emperical Approach” Journal of Banking &

Finance, 2003, Volume 27, Issue 10, Page 1935

(2).Xem: Jennifer Payne: “Legal capital in UK

Following theo Companies Act 2006” in J.Armour

and J Payne (eds) Rationality in company law:

Essays in Honour D D Prentice, Working Paper No

13, 2008, Hart Publishing 2008

(3).Xem: John Armour: “Legal capital: An outdated

concept ?”, European Business Organization Law

Review, Volume 7, 2006

(4).Xem: World Bank: “Doing Business 2011:

Making a difference for Entrepreneurs” Publisher:

World Bank Publications, 10/2010, Pages 20-22

(5).Xem: Luật công ti trách nhiệm hữu hạn của bang

California ban hành năm 2005 không khống chế số

vốn tối thiểu mà doanh nghiệp phải có khi thành lập

(6).Xem: John Armour – Center for Business

Research, University of Cambridge: “Legal Capital:

An outdated Concept?”, Working Paper No 320,

03/2006, Page 19

(7).Xem: Dr Andreas Engert, LL.M “Life without

Legal capital: Lessons from Americn Law” Working

Paper, 01/2006, Page 19

(8).Xem: Company Act 1985, 88, 118: “Minimum capital requiment stated to apply only to public company”

Một CTCP tại Anh quốc phải có vốn pháp định là 25.000 bảng Anh (Xem 77/91 EEC Article 6.1)

(9).Xem: John Armour – Center for Business

Research, University of Cambridge: “Legal Capital:

An outdated Concept?”, Working Paper No 320,

03/2006, Page 1

(10) Vốn pháp định được chính thức áp dụng đối với doanh nghiệp ở Việt Nam theo quy định tại Luật công

ti năm 1990, Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 và được quy định cụ thể chi tiết tại Nghị định số 221/1991/NĐ-HĐBT và Nghị định số

222/1991/NĐ-CP do Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành vào ngày 23/07/1991 để quy định chi tiết thi hành Luật công ti năm 1990 và Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990

(11).Xem: Khoản 7 Điều 4 Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005

(12).Xem: “High level group of company Law exper

ts, a model regulatory framework for Company Law

in Europe 87-88 (2002)

(13) Nếu kê khai vốn đăng kí không đúng thực tế, theo quy định tại Nghị định số 53/2007/NĐ-CP do Chính phủ ban hành vào ngày 04/07/2007 thì doanh nghiệp có thể bị phạt hành chính từ 10 - 15 triệu đồng

(14).Xem: TS Hoàng Thế Liên (Chủ biên), Đinh Mai Phương, Nguyễn Xuân Anh, Chu Thị Hoa, Nguyễn

Văn Cương, Nguyễn Tuấn Anh: “Một số điểm mới cơ

bản của của Luật doanh nghiệp 1999”, Thông tin

khoa học pháp lí, Viện nghiên cứu khoa học pháp lí (Bộ tư pháp), 2000, tr 35

(15) Kinh doanh vàng áp dụng quy định vốn pháp định đến tháng 08/2003 thì bị bãi bỏ theo quy định tại Nghị định của Chính phủ số 64/2003/NĐ-CP ngày 11/06/2003

(16).Xem: Điều 13 Nghị định số 104/2007/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14/06/2007 về kinh doanh dịch

vụ đòi nợ và Điều 3 Nghị định số 153/2007/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 15/10/2007 để quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật kinh doanh bất động sản năm 2006

(17).Xem: Điều 20 Luật doanh nghiệp của CHDCND

Trang 9

Lào ban hành ngày 07/12/2005 và Điều 7 Luật doanh

nghiệp Việt Nam ban hành ngày 29/11/2005

(18).Xem: Luật công ti Phần Lan (Finnish Comp

anies Act) thông qua ngày 02/09/2005, áp dụng từ

ngày 01/09/2006

(19) Nguồn: http: //www.doingbusiness.org/reform

s/overview/topic/starting-a-business

(20).Xem: Khoản 1 Điều 32 Luật công ti trách nhiệm

hữu hạn của Indonesia, thông qua ngày 16/08/2007

(21).Xem: Điều 5 Luật công ti đầu từ Hàn Quốc số

8635 ban hành ngày 29/03/2004 và được sửa đổi, bổ

sung vào ngày 29/02/2008, có hiệu lực thi hành từ

ngày 04/02/2009

(22).Xem: Khoản 1 và khoản 2 Điều 546 Bộ luật

thương mại Hàn Quốc ban hành ngày 20/01/1962,

được sửa đổi, bổ sung lần thứ 12 vào ngày 29/12/2001

(23).Xem: Điều 26 và Điều 59 và Điều 81 Luật công

ti của Trung Quốc thông qua ngày 27/10/2005, áp

dụng từ ngày 01/01/2006

(24).Xem: PGS.TS Phạm Duy Nghĩa “Giấc mơ về

nửa triệu doanh nghiệp và một đạo luật chung: Luật

doanh nghiệp từ một góc nhìn so sánh”, Tạp chí nhà

nước và pháp luật, số 7 (219) năm 2006, tr 52

(25).Xem: Companies Act 2006, Section 763

(26).Xem: Companies Act 2006, Section 586 (forme

rly Companies Act 1985, section 101)

(27).Xem: Christophe Estay “Setting up Businesses in

France and USA: A Cross Cultural Analysis”, European

Management Journal, 2004, Volume 22, No 4, Page 457

(28).Xem: Điều 8 Luật doanh nghiệp Romania ban

hành ngày 19/11/1990

(29) Nguồn: Báo cáo của Chính phủ do Thủ tướng

Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng trình bày về tình hình

kinh tế-xã hội Việt Nam năm 2010 tại kì họp Quốc

hội khoá XII vào ngày 20/10/2010 tại Hà Nội

(30).Xem: Luật Công ti Trung Quốc ban hành năm

2005 và có hiệu lực thực thi từ ngày 01/01/2006

(31).Xem: Điều 78 Luật công ti Trung Quốc năm

1993 và Điều 81 Luật công ti Trung Quốc năm 2005

(32) Nguồn: Số liệu do ngân hàng Nhà nước công bố

vào tháng 12 năm 2010

(33).Xem: European Commission, Proposal for a

Directive of the European Parliament and the Council

Amending Council Directive 77/91 EEC, as regards

the formation of public limited liability companies

and the Maitenance and alterration of their capital,

COM (2004), final Brussels, 21/09/2004

(34).Xem: European Commission, Modernising Company Law and Enhancing Corporate Governance

in the European Union – A plan to move forward, COM (2003) 284 final, Brussels, 21/05/2003, 17-18, see generally Rickford et.al (2004); Ferran (2005)

(35).Xem: World Bank: “Doing Business 2011: Ma

king a difference for Entrepreneurs” Publisher: World

Bank Publications, 09/2010, Page 21

(36).Xem: World Bank: “Doing Business 2011:

Making a difference for Entrepreneurs” Publisher:

World Bank Publications, 09/2010, Pages : 19, 135

(37).Xem: World Bank: “Doing Business 2011:

Making a Difference for Entrepreneurs” Publisher:

World Bank Publications, 09/2010, Page 138

(38).Xem: Luật công ti Nhật Bản do Nghị viện Nhật Bản thông qua ngày 29/06/2006, có hiệu lực thực thi

từ ngày 01/05/2006 để thay thế cho Luật công ti năm

1994 Trước ngày 01/05/2006, để thành lập một công

ti cổ phần tại Nhật Bản thì phải có vốn pháp định 10 triệu JPY nhưng nay chỉ cần tượng trưng 1 JPY là có thể thành lập công ti cổ phần tại Nhật Bản

(39) Nguồn: http: //baodient u.chinhphu.vn/Ho me/V uong-ve-yeu-cau-xac-nhan-von-phap-dinh-trong-thu-tu c-dang-ky-kinh-doanh/20107/33884.vgp, đăng ngày 21/07/2010

(40).Xem: Thông tư số 13/2008/TT-BXD do Bộ xây dựng ban hành ngày 21/05/2008 về hướng dẫn thi hành Nghị định số 153/2007/NĐ-CP trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản Theo đó, doanh nghiệp kinh doanh bất động sản phải trải qua thủ tục chứng minh vốn pháp định bằng nhiều phương thức khác nhau khá phức tạp, trong khi mức vốn pháp định thì quá thấp (chỉ có 6 tỉ đồng), khiến vốn pháp định chỉ tồn tại mang tính hình thức nhưng thủ tục hành chính thì lại

là thực tế khó khăn mà doanh nghiệp kinh doanh bất động sản gặp phải

(41).Xem: Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 104/2007/NĐ-CP

do Chính phủ ban hành ngày 14/06/2007 về kinh doanh dịch vụ đòi nợ

(42).Xem: PGS.TS Trần Thị Minh Châu: Về chính

sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2007, tr 146

(43).Xem: TS Trang Thị Tuyết, Một số giải pháp

hoàn thiện quản lí nhà nước đối với doanh nghiệp ,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 140

Ngày đăng: 17/02/2014, 02:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm