Jennifer Payne đã luận bàn về vai trò của vốn pháp định ở Anh trong tương quan với quy định vốn pháp định áp dụng tại các quốc gia khác ở châu Âu sau sự kiện nước Anh ban hành Luật công
Trang 1Ths TrÇn Huúnh Thanh NghÞ *
1 Vị trí và vai trò của vốn pháp định
trong pháp luật doanh nghiệp các nước
Vốn (capital) có vai trò quan trọng đối
với bất kì nhà đầu tư nào trên thế giới khi ra
thương trường Nhận xét về vai trò của vốn
ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống ngân
hàng, Barrios khẳng định: “Vốn đối với các
ngân hàng có vai trò quyết định để đánh giá
khả năng tài chính dài hạn và khả năng thanh
toán của các ngân hàng cũng như niềm tin
của công chúng vào hoạt động của các ngân
hàng”.(1) Có thể nói, vốn là yêu cầu quan
trọng hàng đầu để nhà đầu tư gia nhập thị
trường mà các quốc gia đang phát triển kinh
tế thị trường không thể không quan tâm Tuy
nhiên, điều đặt ra là ngưỡng vốn tối thiểu bao
nhiêu để cho phép nhà đầu tư gia nhập thị
trường lại là vấn đề không đơn giản mà pháp
luật doanh nghiệp nhiều nước phải cân nhắc
để có những điều chỉnh cho phù hợp Vì thế,
vốn pháp định (legal capital) khi thành lập
doanh nghiệp đã trở thành một trong những
nội dung cơ bản của pháp luật doanh nghiệp ở
nhiều nước Pháp luật doanh nghiệp của
Trung Quốc, Cộng hoà Liên bang Đức,
Indonesia, Hàn Quốc, Anh, Hoa Kỳ, Pháp
kể cả Việt Nam cũng đều có những quy định
điều chỉnh những vấn đề liên quan đến vốn
pháp định Mặt khác, sự cần thiết phải áp
dụng vốn pháp định đối với doanh nghiệp
cũng là đề tài được tranh luận nhiều giữa các
nhà khoa học trong thời gian vừa qua
Jennifer Payne đã luận bàn về vai trò của vốn
pháp định ở Anh trong tương quan với quy định vốn pháp định áp dụng tại các quốc gia khác ở châu Âu sau sự kiện nước Anh ban hành Luật công ti năm 2006.(2)
Còn John Armour cũng nêu lên sự cần thiết ở khía cạnh nhất định vai trò của vốn pháp định áp dụng đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế.(3) Ngay cả Báo cáo thường niên của Ngân hàng thế giới (WB) về môi trường kinh doanh toàn cầu bao giờ cũng dành nội dung quan trọng
để nói về sự “tăng trưởng” hay sụt giảm của
cơ chế áp dụng vốn pháp định ở các nền kinh
tế trên thế giới.(4)
Nhiều năm qua, Ngân hàng thế giới cũng xác định việc lấy vốn pháp định làm một trong những tiêu chí đánh giá mức
độ thông thoáng trong thủ tục thành lập doanh nghiệp cũng như tính hiệu quả của chương trình cải cách thủ tục hành chính ở nhiều quốc gia trên thế giới
Luận bàn về vai trò của vốn pháp định, chúng ta thấy rằng ở một số nước, nhà nước kiểm soát hoạt động đầu tư, kinh doanh của nhà đầu tư, đặc biệt là năng lực tài chính của
họ dựa trên mức vốn tối thiểu nhà nước ấn định khi thành lập doanh nghiệp (vốn pháp định) Đây được xem là biện pháp cần thiết
để đánh giá đúng thực lực và quy mô của nền kinh tế, hạn chế tình trạng nhà đầu tư ra thương trường theo dạng “tay không ra trận” gây rủi ro cho nền kinh tế nói chung và các
* Khoa Luật kinh tế Trường đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2đối tác của họ nói riêng Vốn pháp định được
xác định như là “ngưỡng” tài chính tối thiểu
mà nhà nước yêu cầu nhà đầu tư phải đáp ứng
và chứng minh bằng các phương thức khác
nhau rồi mới được phép hoạt động kinh
doanh Vốn pháp định là vấn đề phức tạp
trong pháp luật doanh nghiệp nhiều nước, vì
suy cho cùng quy định vốn pháp định ít nhiều
đụng chạm đến quyền tự do kinh doanh của
nhà đầu tư, ảnh hưởng đến môi trường kinh
doanh và việc cải cách thủ tục hành chính
trong nền kinh tế Khi đánh giá về vai trò và
phạm vi áp dụng vốn pháp định, do có sự
khác biệt về quan điểm chính trị pháp lí và
điều kiện kinh tế-xã hội mà các quốc gia cũng
nhìn nhận vấn đề vốn pháp định dưới các khía
cạnh khác nhau Thậm chí người ta còn chỉ ra
rằng một trong những điểm khác biệt giữa
trường phái pháp luật Anh - Mỹ và châu Âu
lục địa thể hiện ở mức độ áp dụng vốn pháp
định đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế
Ở các nước theo trường phái pháp luật
Anh-Mỹ thì vốn pháp định không phổ biến như là
biện pháp để bảo vệ quyền lợi của chủ nợ
Chẳng hạn, ở Hoa Kỳ, hầu hết các bang của
nước này đều bãi bỏ vốn pháp định như bang
California(5) hoặc chỉ còn tồn tại rất ít(6) ở một
số tiểu bang như bang Delaware hay NewYork.(7)
Ở Anh, vốn pháp định chỉ áp dụng cho mô
hình công ti cổ phần chứ không áp dụng cho
các loại hình công ti khác.(8)
Ngược lại, ở các nước châu Âu lục địa khác thì vốn pháp định
vẫn chiếm vai trò quan trọng trong pháp luật
doanh nghiệp.(9)
Ở Việt Nam, quy định về vốn pháp định
có quá trình hình thành và phát triển hơn 20
năm từ khi Việt Nam mở cửa kinh tế thị
trường.(10)
Dù trải qua những giai đoạn nhất
định nhưng vốn pháp định vẫn chiếm vị trí quan trọng trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam suốt từ năm 1990 cho đến nay Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng vào kinh tế quốc tế cùng với tiến trình cải cách thủ tục hành chính đang diễn ra hết sức mạnh
mẽ thì việc nhìn nhận và đánh giá lại pháp luật điều chỉnh vốn pháp định ở Việt Nam trong tương quan với quy định vốn pháp định
ở các nền kinh tế khác trên thế giới lại có ý nghĩa hơn bao giờ hết, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mà những vấn đề về vốn pháp định cho hoạt động của doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản ở Việt Nam vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập đòi hỏi phải nhanh chóng và hoàn thiện trong thời gian sớm nhất
để tạo ra sự ổn định cho kinh tế nước nhà phát triển bền vững, thoát ra thời kì khủng hoảng
và suy thoái kinh tế mà Việt Nam đang phải nếm trải suốt từ năm 2008 đến nay
2 Vốn pháp định trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam - Những điểm tương đồng
và khác biệt với pháp luật một số nước trên thế giới
Ở Việt Nam, vốn pháp định được hiểu là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định pháp luật để thành lập doanh nghiệp.(11)
Đó còn được hiểu như là biện pháp kiểm tra khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp (solvency test).(12) Bất kì nhà đầu tư nào khi thành lập doanh nghiệp đều phải có khối lượng tài sản nhất định, tức là họ phải có năng lực tài chính Nếu doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà nhà nước không đòi hỏi phải chứng minh năng lực tài chính thì vốn của doanh nghiệp sẽ do nhà đầu tư đăng kí và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của số
Trang 3vốn đó.(13)
Như đã phân tích ở trên, việc tồn
tại vốn pháp định trong pháp luật doanh
nghiệp không chỉ riêng Việt Nam mà pháp
luật của nhiều nước trên thế giới cũng đề cập
quy định này ở các góc độ khác nhau Nhìn
chung, quy định vốn pháp định giữa pháp luật
doanh nghiệp Việt Nam với các quốc gia
khác có những điểm tương đồng và khác biệt
thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:
- Thứ nhất, vốn pháp định ở Việt Nam
được xác định theo từng ngành, nghề kinh
doanh cụ thể, không áp dụng cho từng loại
hình doanh nghiệp như hầu hết các nước trên
thế giới đã và đang thực hiện
Khoản 2 Điều 7 Luật doanh nghiệp năm
2005 và Điều 8 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP
do Chính phủ ban hành ngày 01/10/2010 để
quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật doanh nghiệp đã xác định vốn pháp định
với tư cách là mức vốn “sàn” đối với doanh
nghiệp nhưng không áp dụng đại trà trong
nền kinh tế mà chỉ áp dụng cho từng ngành,
nghề kinh doanh cụ thể do pháp luật chuyên
ngành điều chỉnh Có thể nói, lịch sử phát
triển của vốn pháp định ở Việt Nam đã trải
qua nhiều giai đoạn nhưng tất cả đều thống
nhất ở chỗ: Vốn pháp định ở Việt Nam chưa
bao giờ áp dụng theo từng loại hình doanh
nghiệp như nhiều nước khác đã và đang làm
Giai đoạn từ năm 1991 - 1999, vốn pháp định
áp dụng tràn lan trong nhiều ngành nghề theo
yêu cầu của Luật công ti năm 1990 và Luật
doanh nghiệp tư nhân năm 1990 Mỗi ngành,
nghề Chính phủ đều ấn định mức vốn nhất
định buộc doanh nghiệp phải đáp ứng bằng
cách có xác nhận của ngân hàng nơi doanh
nghiệp mở tài khoản hoặc xác nhận của
phòng công chứng nhà nước về tài sản góp
vốn bằng hiện vật khi thành lập Nhìn chung, vốn pháp định áp dụng trong nhiều ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp giai đoạn
1991 - 1999 không đem lại hiệu quả trên thực
tế mà nguyên nhân là do Nhà nước quy định
mức vốn tối thiểu quá thấp Điều đó “đã làm
mất hết ý nghĩa của việc quy định về mức vốn pháp định là nhằm đảm bảo tối thiểu về tài sản của chủ doanh nghiệp đối với việc kinh doanh và đối với khách hàng”.(14)
Khi Luật
doanh nghiệp năm 1999 ra đời thì vốn pháp định chỉ còn lại trong số rất ít ngành nghề kinh doanh Đến thời điểm năm 2003, cả nước chỉ còn một số ngành, nghề doanh nghiệp phải chứng minh vốn pháp định như kinh doanh tiền tệ - tín dụng, kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh chứng khoán và kinh doanh vàng.(15) Sau này khi Luật doanh nghiệp năm
2005 được ban hành thì vốn pháp định tiếp tục được áp dụng cho một số ngành, nghề như: kinh doanh tiền tệ - tín dụng, kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ đòi
nợ thuê, kinh doanh dịch vụ bảo vệ, kinh doanh vận chuyển hàng không, kinh doanh cảng hàng không, kinh doanh cung cấp dịch
vụ hàng không, kinh doanh sản xuất phim, kinh doanh sở giao dịch hàng hoá và kinh doanh dịch vụ kiểm toán độc lập Chẳng hạn,
để kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê thì phải có
ít nhất là 2 tỉ đồng, kinh doanh bất động sản thì phải có vốn tối thiểu là 6 tỉ đồng (16) Thực ra, việc tiếp cận vốn pháp định để áp dụng trong từng ngành nghề kinh doanh cụ thể của Việt Nam có nét tương đồng với pháp luật doanh nghiệp của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào khi mà quốc gia này cũng quy định vốn pháp định theo từng ngành, nghề
Trang 4kinh doanh cụ thể.(17)
Trong khi đó, ở nhiều nước lại có cách
tiếp cận khác, đó là quy định vốn pháp định
áp dụng theo từng loại hình doanh nghiệp
hoặc một mức thống nhất cho doanh nghiệp,
chứ không áp dụng theo từng ngành, nghề
kinh doanh cụ thể như tại Việt Nam và Lào
Ví dụ, ở Phần Lan, vốn pháp định để thành
lập doanh nghiệp được quốc gia này quy định
chung là 2.500 euro.(18) Ở Cộng hoà Dominican
từ năm 2011 họ yêu cầu nhà đầu tư phải có ít
nhất 100.000 Dominican Pesos (khoảng 2.855
USD) để thành lập công ti TNHH.(19)
Ở Indonesia, để thành lập công ti TNHH thì bắt
buộc nhà đầu tư phải có ít nhất 50 triệu
rupiah.(20) Ở Hàn Quốc, một công ti cổ phần
trong lĩnh vực đầu tư phải có vốn tối thiểu 1 tỉ
won;(21) trong lĩnh vực thương mại thì vốn
pháp định đối với một công ti TNHH là 10
triệu won; trong đó giá trị mỗi phần vốn góp
ít nhất là 5.000 won; đối với công ti cổ phần
là 50 triệu won và giá trị danh nghĩa của mỗi
cổ phiếu thấp nhất là 100 won.(22)
Ở Trung Quốc, để thành lập công ti TNHH một thành
viên phải có vốn pháp định là 100.000 yuan,
đối với công ti cổ phần là 5.000.000 yuan, đối
với công ti TNHH hai thành viên là 30.000
yuan.(23) Ở Đức, để thành lập công ti TNHH
thì họ quy định phải có tối thiểu 25.000 euro,
công ti cổ phần là 50.000 euro.(24)
Ở Anh,
thành lập công ti cổ phần thì phải có tối thiểu
50.000 euro(25) và ít nhất ¼ trong số đó phải
được thành toán đủ khi thành lập.(26)
Ở Pháp,
để thành lập công ti hợp danh hữu hạn
(Société à responsabilité limitée - SARL) thì
phải có vốn tối thiểu là 7.500 euro, còn nếu
thành lập công ti cổ phần (La Société
Anonyme) thì phải có ít nhất 37.000 euro.(27)
Ở Romania, để thành lập công ti cổ phần thì phải có ít nhất là 1 triệu ROL.(28)
Chính vì không quy định mức vốn pháp định cụ thể áp dụng cho từng loại hình doanh nghiệp hoặc một ngưỡng thống nhất chung cho tất cả các doanh nghiệp như nhiều nước đang làm cho nên về mặt pháp lí nhà đầu tư ở Việt Nam khi thành lập doanh nghiệp có thể chỉ đăng kí với mức vốn khiêm tốn 1.000 đồng Qua đó, việc gia nhập thị trường của nhà đầu tư sẽ nhiều thuận lợi hơn, phù hợp với chủ trương phát huy nội lực, giải phóng sức sản xuất trong nhân dân mà Nhà nước Việt Nam đã và đang thực hiện Theo thống kê, trong năm 2010, cả nước Việt Nam đã có khoảng 85.000 doanh nghiệp dân doanh thành lập mới với số vốn đăng kí khoảng 500 nghìn tỉ đồng trên phạm
vi 63 tỉnh, thành Bình quân vốn đăng kí của mỗi doanh nghiệp đạt gần 6 tỉ đồng.(29)
- Thứ hai, việc quy định mức vốn pháp
định cụ thể ở Việt Nam chủ yếu được xác định thông qua các văn bản dưới luật do cơ quan hành pháp ban hành, trong khi ở hầu hết các nước vốn pháp định của họ lại thường được được điều chỉnh trong các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lí cao hơn do
cơ quan lập pháp ban hành
Theo quy định của Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 thì ngành nghề kinh doanh phải có vốn pháp định được xếp vào dạng ngành nghề kinh doanh có điều kiện, theo đó, chỉ có Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ mới có quyền quy định về điều kiện kinh doanh áp dụng trong các ngành nghề nhất định theo luật định Điều
đó có nghĩa là vốn pháp định có thể tồn tại trong các văn bản luật do Quốc hội ban hành hoặc trong các văn bản dưới luật do Uỷ ban
Trang 5thường vụ Quốc hội và Chính phủ ban hành
Thực tế, ở Việt Nam, danh mục ngành nghề
kinh doanh phải có vốn pháp định hầu như
chỉ được liệt kê trong các nghị định do Chính
phủ ban hành, còn luật và pháp lệnh do Quốc
hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành
chỉ đóng vai trò hết sức mờ nhạt, mang tính
định hướng là cơ bản Chẳng hạn, Luật kinh
doanh bất động sản chỉ khẳng định kinh
doanh bất động sản là ngành nghề phải có
vốn pháp định nhưng cụ thể mức vốn đó là
bao nhiêu lại được quy định tại Điều 3 Nghị
định của Chính phủ số 153/2007/NĐ-CP
Trong khi đó, ở các quốc gia khác nếu có quy
định vốn pháp định thì họ xác định rõ mức
vốn cụ thể trong đạo luật về doanh nghiệp mà
cơ quan lập pháp đã ban hành Ở Trung Quốc,
mức vốn pháp định cho các doanh nghiệp
được xác định cụ thể tại các điều luật số 26,
59 và 81 Luật công ti năm 2005,(30) ở Anh
cũng vậy - Điều 768 Luật công ti năm 2006
quy định rõ mức vốn pháp định áp dụng đối
với công ti cổ phần là 50.000 euro Sự khác
biệt này có thể được giải thích là do vốn pháp
định ở Việt Nam áp dụng trong từng ngành,
nghề kinh doanh cho nên các điều luật trong
một đạo luật không thể liệt kê hết mà dành
việc đó cho các văn bản dưới luật Trong khi
đó ở các nước khác, vốn pháp định thường
được quy định thống nhất cho loại hình doanh
nghiệp cụ thể hoặc chung cho tất cả các
doanh nghiệp nên việc xác định mức vốn tối
thiểu trong văn bản luật là điều phù hợp và dễ
dàng thực hiện Chính việc quy định vốn
pháp định trong các văn bản dưới luật cũng
dẫn đến hệ quả là so với nhiều nước trên thế
giới thì vốn pháp định ở Việt Nam có tính ổn
định không cao Ở Trung Quốc, việc điều
chỉnh vốn pháp định đối với công ti cổ phần
từ con số 10 triệu yuan theo Luật công ti năm
1993 xuống còn 5 triệu yuan theo Luật công
ti năm 2005 phải mất đến 12 năm.(31) Trong khi ở Việt Nam, đối với lĩnh vực ngân hàng hết sức quan trọng nhưng sự điều chỉnh vốn pháp định trong các nghị định của Chính phủ lại diễn ra hết sức chóng vánh, khiến cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này lúng túng từ con số 50 - 70 tỉ đồng theo Nghị định số 82/1998/NĐ-CP lên 1.000 tỉ đồng theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP vào thời điểm năm 2008 rồi đến 3.000 tỉ đồng cũng theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP vào thời điểm năm 2010, dự kiến còn có thể tăng lên đến 5.000 tỉ (năm 2012) và 10.000 tỉ đồng (năm 2015) theo định hướng của Chính phủ Điều này đã gây xáo trộn lớn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam, làm cho cung cầu tiền
tệ trên thị trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng, buộc doanh nghiệp phải “cõng” thêm thủ tục hành chính mà lẽ ra chúng phải được giảm trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế như: Doanh nghiệp phải làm thủ tục xin phép Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cho phát hành chứng khoán để tăng vốn trên thị trường chứng khoán, phải làm thủ tục xin phép Ngân hàng Nhà nước phê duyệt phương thức tăng vốn, phải làm đơn xin Nhà nước lùi thời hạn tăng vốn pháp định suốt hơn 2 năm qua khiến nhiều ngân hàng cảm thấy mệt mỏi với thủ tục hành chính “ăn theo” việc tăng vốn này Hơn nữa, việc quy định vốn pháp định và thay đổi mức vốn nhiều lần trong thời gian ngắn cũng gây bức xúc cho doanh nghiệp Điều đó thể hiện chính sách thiếu nhất quán mang tính lâu dài trong công tác quản lí nhà nước cho vấn đề vốn pháp định Tính đến thời
Trang 6điểm tháng 12/2010, có đến 9 ngân hàng
thương mại không đáp ứng đủ vốn pháp định
3.000 tỉ đồng, buộc Chính phủ phải cho gia
hạn thời hạn tăng vốn pháp định thêm 1 năm
nữa đến ngày 31/12/2011, thay cho ngày
31/12/2010 như Nghị định số 141/2006/NĐ-CP
đã quy định.(32)
- Thứ ba, trong khi hầu hết các nước trên
thế giới đang có xu hướng giảm bớt vai trò
và ảnh hưởng của vốn pháp định đối với
doanh nghiệp thì ở Việt Nam vốn pháp định
lại đang có chiều hướng gia tăng trở lại trong
nhiều ngành nghề
Trên thế giới hiện có nhiều quan điểm
khác nhau về phạm vi áp dụng vốn pháp định
Đề xuất của Uỷ ban châu Âu (EC) nhằm đơn
giản hoá Chỉ thị số 02 về vấn đề vốn của
doanh nghiệp(33)
đang được triển khai mạnh
mẽ nhưng cũng tiếp tục gây tranh luận về
khả năng mở rộng phạm vi áp dụng vốn
pháp định trên diện rộng trong tương lai.(34)
Trong Báo cáo thường niên của Ngân
hàng thế giới (WB) về môi trường kinh doanh
toàn cầu năm 2011 thì Việt Nam được xếp
vào nhóm các quốc gia không có quy định
vốn pháp định áp dụng trong thành lập doanh
nghiệp cùng với một số quốc gia khác trên thế
giới như Canada, Bangladesh, Tunisia,
Belarus, Colombia.(35) Thực ra, nếu chỉ nhìn
vào Báo cáo của Ngân hàng thế giới thì các
nhà đầu tư dễ hiểu nhầm là ở Việt Nam
không áp dụng mức vốn “sàn” trong thành lập
doanh nghiệp Ngược lại, do đặc thù vốn
pháp định ở Việt Nam không áp dụng cho
doanh nghiệp như đa phần các quốc gia trên
thế giới đã và đang thực hiện mà trong từng
ngành nghề kinh doanh cụ thể thì Nhà nước
Việt Nam có những quy định riêng để điều
chỉnh về vấn đề này Ở đây có điều cần luận bàn là trong bối cảnh toàn cầu hoá và cạnh tranh thu hút đầu tư, nhiều quốc gia đang tiến tới thu hẹp bớt vai trò của vốn pháp định bằng cách loại bỏ hoàn toàn quy định về vốn pháp định ra khỏi nền kinh tế hoặc điều chỉnh lại vốn pháp định theo hướng giảm xuống để tạo thuận lợi cho nhà đầu tư gia nhập thị trường
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới thì Bulgaria, Đan Mạch, Kazakhstan, Thụy Điển, Syria, Ukraine, Zambia là những quốc gia tiên phong trong việc bãi bỏ hoặc giảm yêu cầu về vốn pháp định trong thành lập doanh nghiệp, trong số đó Zambia đã chính thức bãi
bỏ vốn pháp định đối với doanh nghiệp, Syria thì giảm bớt yêu cầu vốn pháp định xuống gần 2/3 so với trước, Bulgaria đã giảm mức vốn pháp định từ 5.000 leva (tương đương 3.250 USD) xuống chỉ còn 2 leva (tương đương 1.30 USD),(36)
còn Kazkhstan đã giảm mức vốn pháp định để thành lập doanh nghiệp xuống chỉ còn 100 tenge (tương đương 0.70 USD) - những con số chủ yếu chỉ mang tính tượng trưng.(37)
Ngay cả Nhật Bản - nền kinh
tế lớn thứ ba thế giới, nơi nổi tiếng có truyền thống bảo thủ nhưng năm 2005 họ đã ban hành mới Luật công ti với nhiều quy định thông thoáng bằng cách loại bỏ hoàn toàn vốn pháp định khi thành lập doanh nghiệp nhằm khuyến khích nhà đầu tư ra thương trường nhiều hơn.(38)
Trong khi đó, ở Việt Nam, dù dưới góc nhìn của cộng đồng quốc tế qua đánh giá của Ngân hàng thế giới thì không áp dụng vốn pháp định nhưng thực chất vốn pháp định ở Việt Nam lại có dấu hiệu “tăng trưởng” âm ỷ trong nhiều ngành, nghề kinh doanh, đặc biệt trong khoảng thời gian từ năm
2006 trở về sau Đến thời điểm tháng 10/2010,
Trang 7cả nước có khoảng 16 ngành, nghề kinh
doanh phải có vốn pháp định,(39)
đó là chưa
kể đến ngành nghề kinh doanh dịch vụ kiểm
toán độc lập theo Luật kiểm toán độc lập năm
2010 phải có vốn pháp định (đang chờ Chính
phủ ban hành nghị định hướng dẫn thi hành
Luật này để quy định mức vốn cụ thể)
Nếu như vào thời điểm năm 2003, cả
nước chỉ có khoảng 3 - 4 ngành, nghề kinh
doanh phải có vốn pháp định thì tại thời điểm
năm 2011, số lượng ngành, nghề kinh doanh
phải có vốn pháp định đã tăng từ 5 - 6 lần so
với thời điểm năm 2003 và chưa có dấu hiệu
dừng lại trong thời gian tới Sự gia tăng các
ngành, nghề kinh doanh phải có vốn pháp
định ở Việt Nam cũng gây nhiều lo ngại cho
doanh nghiệp và đi ngược lại tiến trình cải
cách thủ tục hành chính mà Nhà nước Việt
Nam đang tiến hành Bởi lẽ, song song với
quy định vốn pháp định đó thì hàng loạt các
thủ tục hành chính “ăn theo” vốn pháp định
sẽ gắn chặt với doanh nghiệp, buộc doanh
nghiệp phải có thêm nhiều loại giấy tờ khi
thành lập bằng các phương thức khác nhau
như xác nhận của ngân hàng về số dư trên tài
khoản, đem báo cáo tài chính của doanh
nghiệp đi kiểm toán hoặc phải có chứng thư
định giá của công ti định giá chuyên
nghiệp.(40)
Thậm chí, trong một số trường hợp
vốn pháp định ở Việt Nam còn được sử dụng
để tạo lực cản cho nhà đầu tư gia nhập thị
trường, đây là điều mà hiếm khi xuất hiện
trong pháp luật doanh nghiệp các nước khác
Chẳng hạn, dẫu biết rằng kinh doanh dịch vụ
đòi nợ phải có vốn pháp định 2 tỉ đồng nhưng
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này
không được kinh doanh các ngành, nghề và
dịch vụ khác ngoài dịch vụ đòi nợ.(41)
Quy
định này khiến cho nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thu hồi nợ tại Việt Nam cảm thấy bất ngờ vì chúng xâm hại đến quyền
tự do kinh doanh dành cho nhà đầu tư mà Hiến pháp năm 1992 và Luật doanh nghiệp năm 2005 đã công nhận đồng thời phản ánh
sự khác biệt rất lớn trong cách hiểu và vận dụng quy định vốn pháp định ở Việt Nam và các nước khác trên thế giới Thử hình dung, nếu doanh nghiệp “ôm” ít nhất 2 tỉ đồng và chỉ được kinh doanh một ngành, nghề duy nhất là đòi nợ thuê mà đây lại là ngành nghề dịch vụ, không đòi hỏi chi phí lớn thì liệu có hấp dẫn nhà đầu tư bỏ vốn vào lĩnh vực này không hay điều kiện kinh doanh khắt khe đó tạo ra rào cản loại bỏ nhà đầu tư ở Việt Nam
ra khỏi ngành, nghề kinh doanh đang rất thịnh hành trong nền kinh tế này? Thực tiễn này đã đặt các nhà hoạch định chính sách pháp luật liên quan đến doanh nghiệp ở Việt Nam phải xem xét, đánh giá lại quy định vốn pháp định
để chúng thực sự phát huy được hiệu quả trên thực tế chứ không phải là rào cản cho quyền
tự do kinh doanh của người dân như dẫn chứng trên đã phân tích
Tóm lại, vốn pháp định ở Việt Nam đã có
sự phát triển đáng ghi nhận qua hơn 20 năm đổi mới Từng giai đoạn lịch sử nhất định, phạm vi áp dụng quy định về vốn pháp định ở Việt Nam có những mức độ đậm nhạt khác
nhau nhưng nhìn chung, “đối với các ngành,
nghề kinh doanh đòi hỏi vốn lớn và cần bảo hiểm rủi ro thì việc duy trì vốn pháp định ở Việt Nam là điều cần thiết”.(42)
Trên thế giới,
do sự khác biệt về nhận thức cũng như các quan điểm pháp lí khác nhau nên cơ chế áp dụng vốn pháp định đối với doanh nghiệp có nhiều khác biệt so với Việt Nam cũng là điều
Trang 8dễ hiểu Về cơ bản, vốn pháp định ở Việt Nam
chỉ áp dụng trong những ngành, nghề kinh
doanh cụ thể do văn bản dưới luật chuyên
ngành điều chỉnh, quy định cụ thể mức vốn,
không như đa phần các nước khác là vốn
pháp định áp dụng theo loại hình doanh nghiệp
và được quy định hẳn trong luật về doanh
nghiệp Bài viết này chỉ phác họa những nét
chung về sự khác biệt giữa quy định pháp lí
về vốn pháp định ở Việt Nam so với một số
nước trên thế giới để qua đó giúp cho người
đọc có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này
Qua bài viết tác giả hi vọng các nhà hoạch
định chính sách ở Việt Nam sẽ sớm có biện
pháp hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp nói
chung và quy định vốn pháp định nói riêng
trong thời gian tới để “vốn pháp định tồn tại
có thực chất, là công cụ bảo vệ lợi ích của
bạn hàng và chủ nợ của công ti”.(43)
(1).Xem: Victor E Barrios, Juan M.Blanco “The Effectiveness
of bank capital Adequacy Regulation : A Theoretical
and Emperical Approach” Journal of Banking &
Finance, 2003, Volume 27, Issue 10, Page 1935
(2).Xem: Jennifer Payne: “Legal capital in UK
Following theo Companies Act 2006” in J.Armour
and J Payne (eds) Rationality in company law:
Essays in Honour D D Prentice, Working Paper No
13, 2008, Hart Publishing 2008
(3).Xem: John Armour: “Legal capital: An outdated
concept ?”, European Business Organization Law
Review, Volume 7, 2006
(4).Xem: World Bank: “Doing Business 2011:
Making a difference for Entrepreneurs” Publisher:
World Bank Publications, 10/2010, Pages 20-22
(5).Xem: Luật công ti trách nhiệm hữu hạn của bang
California ban hành năm 2005 không khống chế số
vốn tối thiểu mà doanh nghiệp phải có khi thành lập
(6).Xem: John Armour – Center for Business
Research, University of Cambridge: “Legal Capital:
An outdated Concept?”, Working Paper No 320,
03/2006, Page 19
(7).Xem: Dr Andreas Engert, LL.M “Life without
Legal capital: Lessons from Americn Law” Working
Paper, 01/2006, Page 19
(8).Xem: Company Act 1985, 88, 118: “Minimum capital requiment stated to apply only to public company”
Một CTCP tại Anh quốc phải có vốn pháp định là 25.000 bảng Anh (Xem 77/91 EEC Article 6.1)
(9).Xem: John Armour – Center for Business
Research, University of Cambridge: “Legal Capital:
An outdated Concept?”, Working Paper No 320,
03/2006, Page 1
(10) Vốn pháp định được chính thức áp dụng đối với doanh nghiệp ở Việt Nam theo quy định tại Luật công
ti năm 1990, Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 và được quy định cụ thể chi tiết tại Nghị định số 221/1991/NĐ-HĐBT và Nghị định số
222/1991/NĐ-CP do Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành vào ngày 23/07/1991 để quy định chi tiết thi hành Luật công ti năm 1990 và Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990
(11).Xem: Khoản 7 Điều 4 Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
(12).Xem: “High level group of company Law exper
ts, a model regulatory framework for Company Law
in Europe 87-88 (2002)
(13) Nếu kê khai vốn đăng kí không đúng thực tế, theo quy định tại Nghị định số 53/2007/NĐ-CP do Chính phủ ban hành vào ngày 04/07/2007 thì doanh nghiệp có thể bị phạt hành chính từ 10 - 15 triệu đồng
(14).Xem: TS Hoàng Thế Liên (Chủ biên), Đinh Mai Phương, Nguyễn Xuân Anh, Chu Thị Hoa, Nguyễn
Văn Cương, Nguyễn Tuấn Anh: “Một số điểm mới cơ
bản của của Luật doanh nghiệp 1999”, Thông tin
khoa học pháp lí, Viện nghiên cứu khoa học pháp lí (Bộ tư pháp), 2000, tr 35
(15) Kinh doanh vàng áp dụng quy định vốn pháp định đến tháng 08/2003 thì bị bãi bỏ theo quy định tại Nghị định của Chính phủ số 64/2003/NĐ-CP ngày 11/06/2003
(16).Xem: Điều 13 Nghị định số 104/2007/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14/06/2007 về kinh doanh dịch
vụ đòi nợ và Điều 3 Nghị định số 153/2007/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 15/10/2007 để quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật kinh doanh bất động sản năm 2006
(17).Xem: Điều 20 Luật doanh nghiệp của CHDCND
Trang 9
Lào ban hành ngày 07/12/2005 và Điều 7 Luật doanh
nghiệp Việt Nam ban hành ngày 29/11/2005
(18).Xem: Luật công ti Phần Lan (Finnish Comp
anies Act) thông qua ngày 02/09/2005, áp dụng từ
ngày 01/09/2006
(19) Nguồn: http: //www.doingbusiness.org/reform
s/overview/topic/starting-a-business
(20).Xem: Khoản 1 Điều 32 Luật công ti trách nhiệm
hữu hạn của Indonesia, thông qua ngày 16/08/2007
(21).Xem: Điều 5 Luật công ti đầu từ Hàn Quốc số
8635 ban hành ngày 29/03/2004 và được sửa đổi, bổ
sung vào ngày 29/02/2008, có hiệu lực thi hành từ
ngày 04/02/2009
(22).Xem: Khoản 1 và khoản 2 Điều 546 Bộ luật
thương mại Hàn Quốc ban hành ngày 20/01/1962,
được sửa đổi, bổ sung lần thứ 12 vào ngày 29/12/2001
(23).Xem: Điều 26 và Điều 59 và Điều 81 Luật công
ti của Trung Quốc thông qua ngày 27/10/2005, áp
dụng từ ngày 01/01/2006
(24).Xem: PGS.TS Phạm Duy Nghĩa “Giấc mơ về
nửa triệu doanh nghiệp và một đạo luật chung: Luật
doanh nghiệp từ một góc nhìn so sánh”, Tạp chí nhà
nước và pháp luật, số 7 (219) năm 2006, tr 52
(25).Xem: Companies Act 2006, Section 763
(26).Xem: Companies Act 2006, Section 586 (forme
rly Companies Act 1985, section 101)
(27).Xem: Christophe Estay “Setting up Businesses in
France and USA: A Cross Cultural Analysis”, European
Management Journal, 2004, Volume 22, No 4, Page 457
(28).Xem: Điều 8 Luật doanh nghiệp Romania ban
hành ngày 19/11/1990
(29) Nguồn: Báo cáo của Chính phủ do Thủ tướng
Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng trình bày về tình hình
kinh tế-xã hội Việt Nam năm 2010 tại kì họp Quốc
hội khoá XII vào ngày 20/10/2010 tại Hà Nội
(30).Xem: Luật Công ti Trung Quốc ban hành năm
2005 và có hiệu lực thực thi từ ngày 01/01/2006
(31).Xem: Điều 78 Luật công ti Trung Quốc năm
1993 và Điều 81 Luật công ti Trung Quốc năm 2005
(32) Nguồn: Số liệu do ngân hàng Nhà nước công bố
vào tháng 12 năm 2010
(33).Xem: European Commission, Proposal for a
Directive of the European Parliament and the Council
Amending Council Directive 77/91 EEC, as regards
the formation of public limited liability companies
and the Maitenance and alterration of their capital,
COM (2004), final Brussels, 21/09/2004
(34).Xem: European Commission, Modernising Company Law and Enhancing Corporate Governance
in the European Union – A plan to move forward, COM (2003) 284 final, Brussels, 21/05/2003, 17-18, see generally Rickford et.al (2004); Ferran (2005)
(35).Xem: World Bank: “Doing Business 2011: Ma
king a difference for Entrepreneurs” Publisher: World
Bank Publications, 09/2010, Page 21
(36).Xem: World Bank: “Doing Business 2011:
Making a difference for Entrepreneurs” Publisher:
World Bank Publications, 09/2010, Pages : 19, 135
(37).Xem: World Bank: “Doing Business 2011:
Making a Difference for Entrepreneurs” Publisher:
World Bank Publications, 09/2010, Page 138
(38).Xem: Luật công ti Nhật Bản do Nghị viện Nhật Bản thông qua ngày 29/06/2006, có hiệu lực thực thi
từ ngày 01/05/2006 để thay thế cho Luật công ti năm
1994 Trước ngày 01/05/2006, để thành lập một công
ti cổ phần tại Nhật Bản thì phải có vốn pháp định 10 triệu JPY nhưng nay chỉ cần tượng trưng 1 JPY là có thể thành lập công ti cổ phần tại Nhật Bản
(39) Nguồn: http: //baodient u.chinhphu.vn/Ho me/V uong-ve-yeu-cau-xac-nhan-von-phap-dinh-trong-thu-tu c-dang-ky-kinh-doanh/20107/33884.vgp, đăng ngày 21/07/2010
(40).Xem: Thông tư số 13/2008/TT-BXD do Bộ xây dựng ban hành ngày 21/05/2008 về hướng dẫn thi hành Nghị định số 153/2007/NĐ-CP trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản Theo đó, doanh nghiệp kinh doanh bất động sản phải trải qua thủ tục chứng minh vốn pháp định bằng nhiều phương thức khác nhau khá phức tạp, trong khi mức vốn pháp định thì quá thấp (chỉ có 6 tỉ đồng), khiến vốn pháp định chỉ tồn tại mang tính hình thức nhưng thủ tục hành chính thì lại
là thực tế khó khăn mà doanh nghiệp kinh doanh bất động sản gặp phải
(41).Xem: Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 104/2007/NĐ-CP
do Chính phủ ban hành ngày 14/06/2007 về kinh doanh dịch vụ đòi nợ
(42).Xem: PGS.TS Trần Thị Minh Châu: Về chính
sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2007, tr 146
(43).Xem: TS Trang Thị Tuyết, Một số giải pháp
hoàn thiện quản lí nhà nước đối với doanh nghiệp ,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 140