Tuy nhiên, việc nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động ở khía cạnh chính sách đầu tư tài sản lưu động và chính sách tài trợ vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động cũng như sự khác b
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VŨ THỊ TUYẾT MAI
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng - Năm 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VŨ THỊ TUYẾT MAI
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
N ư ư n n o ọ PGS TS Đư ng Nguyễn Hưn
Đà Nẵng - Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Vũ T ị Tuyết Mai
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Bố cục đề tài 5
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 12
1.1 VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 12
1.1.1 Khái niệm 12
1.1.2 Phân loại 12
1.2 CÔNG TÁC QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG 15
1.2.1 Khái niệm 15
1.2.2 Công tác quản trị vốn lưu động 16
1.3 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 20
1.3.1 Khái niệm 20
1.3.2 Các chỉ tiêu đo lường 20
1.4 ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 23
1.4.1 Ảnh hưởng của chính sách đầu tư tài sản lưu động, chính sách tài trợ vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động 24 1.4.2 Ảnh hưởng của hiệu quả công tác quản trị vốn lưu động đến hiệu
Trang 51.4.3 Ảnh hưởng của các yếu tố khác đến hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp 27
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 31
2.1 KHÁI QUÁT CÔNG TÁC QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 31
2.2 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG 35
2.3 CÁC GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 37
2.3.1 Các giả thuyết 37
2.3.2 Mô hình nghiên cứu 42
2.4 ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN 44
2.5 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 49
2.6 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 49
2.6.1 Phương pháp phân tích phương sai 1 yếu tố 49
2.6.2 Phương pháp ước lượng mô hình 50
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ CÁC HÀM Ý ĐỀ XUẤT TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55
3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55
3.1.1 Thống kê mô tả về các biến trong mô hình nghiên cứu 56
3.1.2 Sự khác biệt về công tác quản trị vốn lưu động trong mối liên hệ hiệu quả hoạt động giữa các nhóm ngành 59
3.1.3 Ước lượng và phân tích mô hình nghiên cứu 65
3.2 CÁC HÀM Ý VÀ ĐỀ XUẤT TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 75
3.2.1 Đối với chính sách đầu tư tài sản lưu động 76
3.2.2 Đối với chính sách tài trợ vốn lưu động 76
3.2.3 Đối với công tác quản trị khoản phải thu 77
Trang 63.2.4 Đối với công tác quản trị hàng tồn kho 79
3.2.5 Đối với hoạt động đầu tƣ tài chính 80
3.2.6 Các hàm ý và đề xuất khác 81
KẾT LUẬN 84
1 Những đóng góp của nghiên cứu 84
1.1 Về nghiên cứu lý thuyết 85
1.2 Về ý nghĩa thực tiễn 85
2 Hạn chế của đề tài 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TTCK Thị trường chứng khoán
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Một số chỉ tiêu về công tác quản trị vốn lưu động, lợi
nhuận trên tài sản theo nhóm ngành năm 2016 33
2.2 Một số chỉ tiêu về công tác quản trị vốn lưu động theo
3.1 Bảng thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 56
3.5 Kết quả thống kê mô tả tỷ suất lợi nhuận gộp theo nhóm
3.6 Hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình 65
3.13 Kết quả hồi quy mô hình sau khi khắc phục các khuyết tật 72
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tín ấp t ết ủ đề tà
Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế sâu, rộng nên việc cạnh tranh không chỉ còn trong phạm vi quốc gia mà còn rộng hơn trên phạm vi khu vực, toàn cầu Để tồn tại, doanh nghiệp cần phải thực hiện các chiến lược sản xuất kinh doanh: chiến lược về đầu tư vốn, chiến lược thị trường,… sao cho hiệu quả nhất Và việc quản trị vốn lưu động là một trong các chiến lược mà nhà quản trị quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Thực tế cũng đã cho thấy công tác quản trị vốn lưu động là hoạt động điều hành then chốt mà nhà quản trị luôn quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Quản trị vốn lưu động liên quan đến việc ra các quyết định về đầu tư vào tài sản lưu động và huy động các nguồn tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động, đồng thời thực hiện các hoạt động quản trị tại doanh nghiệp bao gồm: quản trị vốn bằng tiền, quản trị hàng tồn kho, quản trị các khoản phải thu và quản trị các khoản phải trả
Vốn lưu động chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau ở các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ở giai đoạn dự trữ sản xuất, vốn lưu động có thể là nguyên vật liệu, nhiên liệu,…Trong quá trình sản xuất, vốn lưu động có thể là bán thành phẩm hay vốn chi phí trả trước,…Trong khâu lưu thông, vốn lưu động có thể là thành phẩm, hàng hóa, vốn bằng tiền, các khoản phải thu,…vì vậy, vốn lưu động được ví như ―dòng máu tuần hoàn trong cơ thể‖ mà việc quản trị vốn lưu động là yếu tố sống còn của doanh nghiệp Thu Thủy (2014)
Quản trị vốn lưu động liên quan đến việc ra các quyết định về mức tài sản và nợ ngắn hạn tại doanh nghiệp bao gồm: quản trị vốn bằng tiền, quản trị hàng tồn kho, quản trị các khoản phải thu và quản trị các khoản phải trả Do
Trang 10đó, mục tiêu chính của quản lý vốn lưu động là duy trì sự cân bằng tối ưu giữa các thành phần vốn lưu động Sự thành công của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào khả năng quản lý các khoản phải thu, tồn kho và các khoản phải trả một cách hiệu quả Filbeck và Krueger (2005)
Việc quản trị vốn lưu động có tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Cụ thể: việc đẩy nhanh tốc độ thu hồi các khoản nợ phải thu, tốc độ xoay vòng hàng tồn kho sẽ giúp cho doanh nghiệp có được lượng tiền mặt dồi dào phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở chu kỳ kế tiếp, giảm các chi phí vốn, chi phí lưu kho,… để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp như Alipour (2011), Bhunia (2012), Ching và cộng sự (2011), Deloof (2003), Gill và cộng sự (2010), Khawaja và cộng sự (2011), Lazaridis và Tryfonidis (2006), Napompech (2012), Nazir và Afza (2009), Nobanee và cộng sự (2011), Quayyum (2011), Salawu (2007), Vahid và cộng sự (2012), Tại Việt Nam, có rất nhiều nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng tạo lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK ở các giai đoạn khác nhau: Hoàng Quân và Diễm Kiều (2016), , Kim Thoa và Uyên Uyên (2014), Thanh Trúc và Đình Thiên (2015),…hay các nghiên cứu về cụ thể về mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời của từng ngành như: Văn Hiệp (2017) nghiên cứu về ngành hàng tiêu dùng, Ngọc Toán (2016) nghiên cứu về ngành bất động sản, Hà Thành (2017) nghiên cứu ngành vận tải, Thu Thủy (2014) nghiên cứu về ngành công nghiệp chế biến chế tạo…Hầu hết, các nghiên cứu trên đều tìm thấy ảnh hưởng của kỳ luân chuyển hàng tồn kho (INV), kỳ thu tiền bình quân (AR), kỳ thanh toán bình quân (AP) hay chu kỳ
Trang 11chuyền đổi tiền mặt (CCC) Tuy nhiên, việc nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động ở khía cạnh chính sách đầu tư tài sản lưu động và chính sách tài trợ vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động cũng như sự khác biệt về việc quản trị vốn lưu động giữa các nhóm ngành của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu nào phân tích cụ thể
Để tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động ở khía cạnh chính sách đầu tư tài sản lưu động và chính sách tài trợ vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt
Nam Tác giả chọn đề tài: “N ên ứu ản ưởng của quản trị vốn lưu độn đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trư ng chứng khoán Việt N m” để làm nội dung nghiên cứu cho luận văn
Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu và phân tích sự khác biệt về công tác quản trị vốn lưu động
giữa các nhóm ngành trên TTCK Việt Nam Công tác quản trị vốn lưu động giữa các nhóm ngành càng khác biệt cho thấy những nhân tố phản ánh công tác quản trị vốn lưu động càng đóng vai trò cốt lõi Hơn nữa, việc nghiên cứu này sẽ cho người đọc thấy rõ hơn về công tác quản trị vốn lưu động của các nhóm ngành hiện nay Nghiên cứu vấn đề này có thể được xem như một bước đệm để nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động mang tính khái quát hơn
Trang 12- Phân tích tác động của quản trị vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam;
- Đề xuất một số kiến nghị về việc thực hiện công tác quản trị vốn lưu động cho các doanh nghiệp niêm yết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
3 Đố tượn và p ạm v n ên ứu
- Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
4 P ươn p áp n ên ứu
Để thực hiện đề tài ―Nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam‖, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu thực chứng, được thực hiện cụ thể như sau:
- Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu:
+ Đối với tài liệu nghiên cứu, tác giả tham khảo các bài báo khoa học liên quan đến đề tài ở các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước, các giáo trình và sách chuyên ngành nhằm tìm ra khoảng trống nghiên cứu, so sánh kết quả nghiên cứu thực chứng của đề tài với các nghiên cứu trước đây
+ Đối với số liệu nghiên cứu, tác giả thu thập số liệu thứ cấp từ các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
- Phương pháp xử lý, phân tích số liệu: Tác giả sử dụng phần mềm STATA14 và SPSS16 để thực hiện thống kê, so sánh và phân tích số liệu
Trang 13+ Phương pháp phân tích phương sai một yếu tố ANOVA, Wallis để tìm thấy sự khác biệt về công tác quản trị vốn lưu động giữa các nhóm ngành trên TTCK
Kruskal-+ Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng được sử dụng để ước lượng mô hình nghiên cứu
+ Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tìm hiểu thực trạng của công tác quản trị vốn lưu động ở các doanh ngiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam
5 Bố ụ đề tà
Bố cục của luận văn gồm các phần như sau:
- Phần Mở đầu: Trình bày lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
- Phần Nội dung: gồm 3 chương
+ Chương 1: Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Chương này trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến vốn lưu động, quản trị vốn lưu động ở khía cạnh chính sách đầu tư tài sản lưu động và chính sách tài trợ vốn lưu động cũng như kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thanh toán bình quân; hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, mối quan
hệ giữa quản trị vốn lưu động và hiệu quả hoạt động, các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ này
+ Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương này sẽ giới thiệu về thực trạng công tác quản trị vốn lưu động của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam, trình bày dữ liệu nghiên cứu, tìm hiểu sự khác biệt về công tác quản trị vốn lưu động giữa các nhóm ngành, trình bày các giả thuyết và mô hình nghiên cứu, cách đo lường các biến trong mô hình, phương pháp ước lượng trong mô hình
Trang 14+ Chương 3: Kết quả nghiên cứu và các hàm ý đề xuất từ kết quả nghiên cứu
Chương này sẽ trình bày kết quả ước lượng mô hình và đưa ra các hàm
ý từ kết quả nghiên cứu
- Phần kết luận và kiến nghị: Trình bày các kết quả chính và những đóng góp quan trọng của đề tài nghiên cứu, chỉ ra các hạn chế trong nghiên cứu cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo
6 Tổn qu n tà l ệu n ên ứu
Quản trị vốn lưu động đóng một vai trò quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của công ty trong kinh doanh do ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty cũng như tính thanh khoản Mục tiêu chính của quản trị vốn lưu động là duy trì sự cân bằng tối ưu giữa các thành phần vốn lưu động
Sự thành công của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào khả năng quản lý các khoản phải thu, tồn kho và các khoản phải trả có hiệu quả Filbeck và Krueger (2005) Vì vậy, có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới tìm hiểu về mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Deloof (2003) đã kết luận rằng hầu hết các công ty đều có một khoản tiền lớn để đầu tư vào vốn lưu động Do đó, có thể kỳ vọng rằng cách quản trị vốn lưu động sẽ có tác động đáng kể đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp đó Ông đã sử dụng phân tích hồi quy dữ liệu 1.009 doanh nghiệp phi tài chính của Bỉ từ 1992-1996 để tìm ra mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và hiệu quả hoạt động Kết quả, ông đã tìm ra mối quan hệ ngược chiều giữa lợi nhuận hoạt động gộp và số ngày phải thu, hàng tồn kho và thanh toán Trên cơ sở những kết quả này, ông gợi ý rằng các nhà quản lý có thể tạo
ra giá trị cho các cổ đông bằng cách giảm số ngày phải thu và hàng tồn kho xuống mức tối thiểu hợp lý Mối quan hệ tiêu cực giữa các khoản phải trả và lợi nhuận phù hợp với quan điểm cho rằng các công ty ít có khả năng sinh lợi
Trang 15phải chờ đợi lâu hơn để thanh toán hoá đơn
Một nghiên cứu khác của Lazaridis và Tryfonidis (2006) về 131 công
ty phi tài chính trên sàn giao dịch chứng khoán Athen giai đoạn 2001-2004 cũng đã tìm ra mối quan hệ đáng kể giữa quản trị vốn lưu động và hiệu quả hoạt động Họ đã sử dụng biến số ngày phải thu, số ngày luân chuyển hàng tồn kho, số ngày thanh toán, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt để thể hiện quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp, biến số suât lợi nhuận gộp (GOP) thể hiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Kết quả phân tích hồi quy cho thấy có mối quan hệ ngược chiều giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Kết quả này cũng đồng quan điểm với nghiên cứu của Deloof (2003) khi cho rằng có mối quan hệ ngược chiều giữa lợi nhuận hoạt động gộp và số ngày phải thu, hàng tồn kho và thanh toán Kết quả tương
tự về mối quan hệ ngược chiều giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp hay mối quan hệ ngược chiều giữa khả năng sinh lợi và số ngày phải thu, hàng tồn kho và các khoản phải trả như: Nghiên cứu của Alipour (2011) được thực hiện tại Iran trong giai đoạn 2001-2006, nghiên cứu của Napompech (2012) trong giai đoạn 2007-2009 của 256 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thái Lan, hay nghiên cứu trên phạm vi rộng hơn trên toàn khu vực châu Á trong giai đoạn 2006-2010 của Khawaja
và cộng sự (2011),…
Ngoài việc sử dụng chu kỳ chuyển đổi tiền mặt hay số ngày phải thu, số ngày luân chuyển hàng tồn kho và số ngày thanh toán để đánh giá hiệu quả của công tác quản trị vốn lưu động Một hướng nghiên cứu khác của Weinraub và Visscher (1998) đã thảo luận về vấn đề các chính sách quản lý vốn lưu động tích cực và thận trọng bằng cách sử dụng số liệu hàng quý cho giai đoạn 1984-393 của các công ty Hoa Kỳ Nghiên cứu đã sử dụng chỉ tiêu
tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản hay chính sách đầu tư tài sản lưu động
Trang 16và tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản hay chính sách tài trợ vốn lưu động để đánh giá chính sách quản trị vốn lưu động Sự gia tăng mức đầu tư vào tài sản lưu động cho thấy người quản lý tuân theo chính sách bảo thủ trong việc quản
lý vốn lưu động Tuy nhiên, việc đầu tư ít vào tài sản lưu động cho thấy một chính sách mạo hiểm Nếu xem xét chính sách tài trợ, công ty có thể sử dụng khoản nợ ngắn hạn hoặc dài hạn để tài trợ cho hoạt động của mình Bằng cách
sử dụng nợ dài hạn để tài trợ cho hoạt động của mình, công ty tuân theo chính sách tài chính bảo thủ, trong khi nếu công ty sử dụng nhiều nợ ngắn hạn để tài trợ cho hoạt động của mình thì công ty tuân theo chính sách tài trợ mạo hiểm Nghiên cứu của họ đã xem xét 10 nhóm ngành công nghiệp khác nhau để kiểm tra mối quan hệ tương đối giữa các chính sách vốn mạo hiểm / thận trọng Sử dụng phương pháp phân tích ANOVA nghiên cứu đã tìm ra sự khác biệt đáng kể về chính sách vốn lưu động giữa các ngành công nghiệp
Nghiên cứu của Nazir và Afza (2009) cũng đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa chính sách quản trị vốn lưu động và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nghiên cứu này đã tìm hiểu về tác động của chính sách đầu tư và tài trợ mạo hiểm/ thận trọng lên lợi nhuận của 204 công ty Pakistan được chia thành 16 nhóm công nghiệp ở sàn chứng khoán Karachi trong giai đoạn 1998-
2005 Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản và tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản làm biến độc lập và chỉ tiêu lợi nhuận trên tài sản (ROA) để đo lường hiệu quả hoạt động Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa các biện pháp về lợi nhuận của các doanh nghiệp và mức độ mạo hiểm của các chính sách đầu tư và tài trợ vốn lưu động Kết quả là các công ty báo cáo lợi nhuận âm nếu họ làm theo một chính sách vốn lưu động mạo hiểm Một nghiên cứu khác của Vahid
và cộng sự (2012) với mẫu 28 công ty niêm yết trên TTCK Tehran trong thời gian 5 năm từ năm 2005 đến năm 2009 cũng đã cho kết quả tương tự ở chính
Trang 17sách tài trợ vốn lưu động, kết quả đối lập ở chính sách đầu tư tài sản lưu động
Việt Nam có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ở nhiều giai đoạn, lĩnh vực ngành nghề khác nhau Nghiên cứu công bố gần đây nhất vào năm 2015 ở phạm vi sàn chứng khoán Việt Nam là nghiên cứu Thanh Trúc và Đình Thiên Nghiên cứu đã tìm hiểu mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động với chính sách quản trị vốn lưu động của các công ty dựa trên dữ liệu từ báo cáo tài chính của 564 công ty niêm yết trên thị truờng chứng khoán Việt Nam giai doạn
2006 – 2013 Phương pháp hồi quy theo mô hình tác động cố định và ngẫu nhiên dựa vào dữ liệu bảng không cân bằng đã được các tác giả sử dụng trong nghiên cứu này Các kiểm định cho thấy mô hình tác động cố định giải thích mối quan hệ giữa các biến độc lập với hiệu quả hoạt động của công ty tốt hơn Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ nguợc chiều giữa khả năng sinh lợi của doanh nghiệp đuợc đo luờng qua tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) và các số ngày luân chuyển vốn lưu động, gồm số ngày tồn kho bình quân, số ngày thu tiền bình quân, số ngày thanh toán khoản phải trả và chu kỳ luân chuyển tiền Ngoài ra, vòng quay tài sản ngắn hạn và tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản cũng có quan hệ cùng chiều với ROA Kết quả này hàm
ý rằng các nhà quản lý các công ty niêm yết Việt Nam có thể gia tăng hiệu quả hoạt động của công ty thông qua một chính sách quản trị vốn lưu động hợp lý
Một nghiên cứu khác của Kim Thoa và Uyên Uyên (2014) cũng đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lợi của 208 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn 2006-2012 Nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp uớc luợng bình phương tối thiểu (pooled OLS), mô hình hiệu ứng cố định (FEM) và bình phương tối
Trang 18thiểu tổng quát (GLS) kiểm dịnh mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lợi ở các doanh nghiệp Việt Nam Kết quả cho thấy việc quản trị vốn lưu động hiệu quả bằng cách rút ngắn kỳ thu tiền và kỳ lưu kho sẽ gia tăng khả năng sinh lợi cho các doanh nghiệp Nhóm tác giả còn nghiên cứu mối quan hệ này ở một số ngành khác nhau và kết quả cho thấy do đặc điểm ngành khác nhau mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lợi giữa các ngành cũng khác nhau
Nhìn chung, rất nhiều nghiên cứu ở trong và ngoài nước đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Tuy vậy, xét trong bối cảnh Việt Nam, bên cạnh những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn, các nghiên cứu trước đây vẫn còn một số hạn chế như sau:
Một là, đa số các nghiên cứu trước chỉ sử dụng kỳ thu tiền bình quân,
kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thanh toán các khoản phải trả hay chu kỳ chuyển đổi tiền mặt làm biến giải thích về công tác quản trị vốn lưu động Các nghiên cứu trước đây chưa làm rõ ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động ở khía cạnh chính sách đầu tư tài sản lưu động, chính sách tài trợ vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Hai là, các nghiên cứu trước đây chỉ tìm hiểu về mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Chưa có nghiên cứu nào xem xét sự khác biệt về công tác quản trị vốn lưu động giữa các nhóm ngành
Từ những hạn chế nêu trên, tác giả đã sử dụng các biến về chính sách đầu tư tài sản lưu động, chính sách tài trợ vốn lưu động và các biến về kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thanh toán các khoản phải trả
để đại diện cho công tác quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp Tác giả cũng đã sử dụng phương pháp phân tích phương sai một yếu tố để tìm hiểu
Trang 19liệu có sự khác biệt về công tác quản trị vốn lưu động Và việc sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuân gộp (GOP) để đo lường biến phụ thuộc hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là phù hợp với các doanh nghiệp trên TTCK Việt Nam Hơn nữa, tác giả cũng đưa vào mô hình biến kiểm soát tỷ số chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp trên doanh thu Tỷ số này phản ánh một đồng doanh thu được tạo ra từ bao nhiêu đồng chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp Doanh nghiệp sẽ hoạt động hiệu quả hơn khi mà có ít chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp để tạo ra doanh thu tương ứng Biến số này cũng hoàn toàn mới vì chưa có nghiên cứu nào sử dụng trong mô hình khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Trên đây là những ―khoảng trống nghiên cứu‖ mà đề tài hy vọng sẽ lấp đầy
Trang 20CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN
LƯU ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA DOANH NGHIỆP
1 1 VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1 K á n ệm
Vốn lưu động là toàn bộ số vốn mà doanh nghiệp sử dụng để mua sắm, hình thành nên tài sản lưu động phục vụ cho quá trình kinh doanh ở một thời điểm nhất định hay nói cách khác vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động [1] Trong đó, tài sản lưu động là những tài sản có thời gian sử dụng tương đối ngắn và dễ dàng thay đổi hình thái trong quá trình sử dụng
Vốn lưu động chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau ở các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ở giai đoạn dự trữ sản xuất, vốn lưu động có thể là nguyên vật liệu, nhiên liệu Trong quá trình sản xuất, vốn lưu động có thể là bán thành phẩm hay vốn chi phí trả trước Trong khâu lưu thông, vốn lưu động có thể là thành phẩm, hàng hóa, vốn bằng tiền, các khoản phải thu
Vốn lưu động còn được gọi định nghĩa là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn phải trả Theo nghĩa rộng, vốn lưu động là giá trị của toàn
bộ tài sản ngắn hạn, những tài sản gắn với chu kỳ kinh doanh của công ty Kim Thoa, Uyên Uyên (2014)
1 1 2 P ân loạ
a Phân loại vốn lưu động theo hình thái biểu hiện
Theo hình thái biểu hiện, vốn lưu động lưu động được chia làm hai
loại: vốn bằng tiền và vốn vật tư hàng hóa
- Vốn bằng tiền bao gồm: tiền mặt tại quỹ, vàng bạc, tiền gửi ngân
Trang 21hàng, tiền đang chuyển, chứng khoán ngắn hạn, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Các khoản mục này thường sinh lời thấp hoặc không có khả năng sinh lời nhưng lại có ý nghĩa lớn trong việc đáp ứng kịp thời nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh do khả năng chuyển hóa thành tiền nhanh nhất
- Các khoản phải thu bao gồm công nợ phải thu người mua, khoản ứng trước cho người bán, phải thu nội bộ, phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng Đây chính là các khoản vốn mà khách hàng còn nợ doanh nghiệp
Vì vậy, để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không bị gián đoạn do khách hàng nợ nhiều đồng thời không bị mất khách hàng do chính sách thắt chặt tín dụng, doanh nghiệp phải thực hiện tốt công tác quản
lý các khoản phải thu này
- Vốn vật tư, hàng hóa bao gồm giá trị các loại hàng tồn kho như: trị giá hàng đi đường, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí sản xuất kinh doanh
dở dang, thành phẩm, hàng hóa, hàng gửi đi bán Đây là loại vốn có khả năng chuyển hóa thành tiền nhanh sau vốn bằng tiền Vì vậy, việc quản lý vốn vật
tư, hàng hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh
b Phân loại theo vai trò vốn lưu động
Cách phân loại này cho thấy được từng loại vốn lưu động có vai trò gì trong chu kỳ sản xuất kinh doanh Theo từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động chia ra làm 3 loại: vốn trong khâu dự trữ sản xuất, vốn trong khâu sản xuất, vốn trong khâu lưu thông
- Vốn trong khâu dự trữ sản xuất gồm: vốn nguyên liệu chính, nguyên liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ
- Vốn trong khâu sản xuất gồm: vốn sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển
- Vốn trong khâu lưu thông gồm: vốn thành phẩm (hàng hóa), vốn bằng
Trang 22tiền, vốn đầu tư tài chính ngắn hạn, vốn trong thanh toán
c Phân loại theo quan hệ sở hữu vốn
Tài sản lưu động sẽ được tài trợ bởi hai nguồn vốn, đó là vốn chủ sở hữu và các khoản nợ Trong đó, các khoản nợ tài trợ chủ yếu cho tài sản lưu động, nguồn vốn chủ sở hữu cũng cần tài trợ một phần cho tài sản lưu động
Vốn chủ sở hữu: là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt
Các khoản nợ: là các khoản được hình thành từ vốn vay các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ người bán chưa thanh toán Doanh nghiệp chỉ có quyền
sử dụng các khoản nợ này trong một khoản thời gian nhất định Đối với các khoản vay thì doanh nghiệp phải mất chi phí tiền lãi và chịu áp lực về thời gian thanh toán tùy vào thời hạn vay Trong khi đó, khoản nợ thanh toán người bán thì doanh nghiệp không phải mất chi phí tiền lãi nhưng khi doanh nghiệp nợ quá nhiều thì rủi ro về thanh toán sẽ gia tăng
Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành từ vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ các khoản nợ Từ
đó, doanh nghiệp sẽ có các quyết định hợp lý trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động nhằm mang lại hiệu quả hoạt động
Vốn lưu động vận động không ngừng qua các khâu kinh doanh và mang tính lặp lại theo chu kỳ Việc phân loại vốn lưu động chỉ mang tính chất tương đối Điều quan trọng nhất của việc phân loại vốn lưu động giúp cho công tác quản trị vốn lưu động đạt được các mục tiêu cơ bản sau đây:
- Thứ nhất, đạt được hiệu quả tối ưu của đồng vốn và lợi nhuận;
- Thứ hai, đảm bảo các khâu của quá trình kinh doanh được liên tục, không bị gián đoạn;
- Thứ ba, đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn
Trang 231.2 CÔNG TÁC QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG
Muốn thực hiện tốt công tác quản trị vốn lưu động cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Thỏa mãn nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời phải sử dụng vốn tiết kiệm;
- Đảm bảo chấp hành các chính sách, chế độ tài chính, tín dụng của Nhà nước và định mức vốn lưu động của doanh nghiệp
- Kết hợp chặt chẽ giữa vận động của vật tư, hàng hóa với tiền vốn;
- Thực hiện tốt việc phân công, phân cấp quản lý vốn kết hợp giữa quản
lý chuyên môn với quản lý từng bộ phận
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, công việc đầu tiên của quản trị vốn lưu động thể hiện trong việc đưa ra các quyết định về mức đầu tư tài sản lưu động và tài trợ vốn lưu động Tiếp theo, nhà quản lý sẽ tiến hành quản trị các khoản mục của vốn lưu động bằng nhiều cách khác nhau; mà kết quả cuối cùng để đánh giá công tác quản trị đó hiệu quả hay kém hiệu quả thông qua các chỉ số như: kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thanh toán bình quân hay chu kỳ chuyển đổi tiền mặt Các quyết định này có thể thay đổi hoặc không ở mỗi chu kỳ kinh doanh tùy thuộc vào chiến lược nhà quản trị
Trang 241.2.2 Công tác quản trị vốn lưu độn
Công tác quản trị vốn lưu động đóng vai trò then chốt trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đem lại hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp Trong đó, chính sách đầu tư tài sản lưu động và chính sách tài trợ vốn lưu động được xem như là các định hướng ban đầu cho việc thực hiện quản trị vốn lưu động Vốn lưu động trong doanh nghiệp bao gồm các loại vốn bằng tiền hàng tồn kho, khoản phải thu, khoản phải trả,…Để biết được công tác quản trị vốn lưu động có hiệu quả hay không thì cần xem xét việc quản lý các loại vốn bằng tiền, hàng tồn kho, khoản phải thu, khoản phải trả Vì vậy, trong phần này, tác giả đề cập đến các mục chính sách đầu tư tài sản lưu động, chính sách tài trợ vốn lưu động, quản lý vốn bằng tiền, quản lý hàng tồn kho, quản lý khoản phải thu, quản lý khoản phải trả như các mục bên dưới
a Chính sách đầu tư tài sản lưu động
Chính sách đầu tư tài sản lưu động (IP) là các chỉ dẫn cho việc đưa ra các quyết định về mức độ đầu tư vào tài sản lưu động và có tính lặp lại ở mỗi chu kỳ kinh doanh tại doanh nghiệp IP được đo lường bằng tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản Mức đầu tư vào tài sản ngắn hạn cao, doanh nghiệp có thể xoay vòng vốn nhanh phục vụ kịp thời cho yêu cầu sản xuất kinh doanh, tăng khả năng sinh lợi Vì vậy, tỷ lệ này cao được cho là chính sách đầu tư thận trọng khi mà giá trị tài sản ngắn hạn cao hơn nhiều so với tổng tài sản của doanh nghiệp Ngược lại, tỷ lệ này thấp hơn được cho là chính sách đầu
tư mạo hiểm khi mà giá trị tài sản ngắn hạn thấp hơn nhiều so với tổng tài sản của doanh nghiệp Horne và Wachowicz (2008) Tóm lại, nhà quản trị cần thiết lập mức đầu tư tài sản lưu động thích hợp để đảm bảo việc sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao
b Chính sách tài trợ vốn lưu động
Trang 25quyết định về mức độ tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn cho tài sản lưu động
và có tính lặp lại ở mỗi chu kỳ kinh doanh tại doanh nghiệp FP được đo lường bằng tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản Mức nợ ngắn hạn cao dẫn đến doanh nghiệp bị áp lực về thời hạn thanh toán Vì vậy, tỷ lệ này cao được cho
là chính sách tài trợ vốn lưu động mạo hiểm khi mà giá trị nợ ngắn hạn cao hơn nhiều so với tổng tài sản của doanh nghiệp Ngược lại, tỷ lệ này thấp hơn được cho là chính sách tài trợ thận trọng khi mà giá trị nợ ngắn hạn thấp hơn nhiều so với tổng tài sản của doanh nghiệp Van Horne & Wachowicz (2008) Tóm lại, nhà quản trị cần duy trì mức nợ ngắn hạn hợp lý để doanh nghiệp vừa không bị áp lực về thanh toán cũng như tận dụng được nguồn vốn ngắn hạn bên ngoài nhằm đat được hiệu quả sản xuất kinh doanh
c Quản trị hàng tồn kho
Hàng tồn kho là những tài sản mà doanh nghiệp dự trữ để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh bao gồm nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí sản xuất dở dang, thành phẩm, hàng hóa Việc dữ trữ hàng tồn kho có ý nghĩa quan trọng vì nếu dự trữ quá ít có thể vật tư hàng hóa không đủ cho sản xuất làm gián đoạn việc kinh doanh Ngược lại, dữ trữ hàng tồn kho quá lớn tới mức dư thừa không cần thiết sẽ làm đọng vốn, tăng chi phí Vì vậy, mục tiêu quản trị hàng tồn kho là phải đảm bảo dự trữ đủ vật tư, hàng hóa cho nhu cầu sản xuất kinh doanh liên tục và tối thiểu hóa số vốn lưu động ở khâu dữ trữ để tránh ứ đọng vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động Để quản trị tốt hàng tồn kho, doanh nghiệp cần chú ý thực hiện các biện pháp sau:
- Một là, xác định đúng nhu cầu hàng tồn kho cho nhu cầu kinh doanh trong kỳ Nếu là dự trữ vật tư thì tính toán trên cơ sở các định mức kinh tế kỹ thuật về tiêu dùng vật tư, sản xuất sản phẩm Nếu là dự trữ hàng hóa thì tính toán trên cơ sở hàng hóa tiêu thụ hàng ngày và trong kỳ;
Trang 26- Hai là, tìm nguồn cung ứng vật tư, hàng hóa ổn định thích hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc so sánh về giá
cả, chất lượng,… giữa các nhà cung ứng;
- Ba là, áp dụng các biện pháp tài chính như mua bảo hiểm, lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho để có nguồn tài chính bù đắp
d Quản trị khoản phải thu
Khoản phải thu trong doanh nghiệp có nhiều loại, đó là khoản phải thu khách hàng, khoản trả trước cho người bán, khoản phải thu nội bộ, khoản phải thu thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, khoản phải thu khác Trong đó, khoản phải thu khách hàng mua thường chiếm tỷ lệ lớn nhất Khoản phải thu trong doanh nghiệp tồn tại là khách quan nhưng mức phải thu cao hay thấp cũng phụ thuộc vào nhân tố chủ quan là cách quản lý của doanh nghiệp
Nợ phải thu quá lớn làm cho vốn lưu động bị chiếm dụng tạm thời tăng lên, tức tăng chi phí sử dụng vốn như: chi phí quản lý nợ phải thu, chi phí thu hồi nợ Nợ phải thu giảm quá mức cần thiết có thể giảm cơ hội kinh doanh Vì vậy, để quản lý tốt các khoản phải thu, doanh nghiệp cần áp dụng các biện pháp cụ thể, nhất là đối với khoản phải thu khách hàng như sau:
- Thứ nhất, lựa chọn thể thức thanh toán qua ngân hàng thích hợp nhằm rút ngắn được thời gian than toán tiền hàng;
- Thứ hai, xây dựng chính sách bán chịu thích hợp với từng đối tượng khách hàng nhằm giảm bớt rủi ro do nợ khó đòi, nợ mất;
- Thứ ba, kiểm soát các khoản nợ phải thu nhằm chủ động trong việc đòi nợ và áp dụng các biện pháp cần thiết để thu được nợ
Ngoài việc quản lý các khoản phải thu khách hàng như trên để tránh tình trạng chiếm dụng vốn, doanh nghiệp cũng cần chú ý thực hiện tốt công tác thu nợ, xử lý nợ khó đòi bằng nguồn tài chính dự phòng
Trang 27e Quản trị khoản phải trả
Khoản phải trả là các khoản vốn mà doanh nghiệp thanh toán cho nhà cung cấp theo hợp đồng đã ký kết trước, khoản phải nộp ngân sách nhà nước, khoản phải trả cho người lao động, khoản phải trả khác Trong đó, khoản thanh toán cho nhà cung cấp thường chiếm tỷ trọng lớn Khi doanh nghiệp tồn tại, khoản nợ thanh toán cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đang tận dụng được nguồn vốn từ bên ngoài để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, nếu khoản phải trả quá lớn sẽ ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp
do bị hoài nghi về khả năng thanh toán, sản xuất kinh doanh Do vậy, việc quản trị khoản phải trả tốt, doanh nghiệp cần phải thường xuyên kiểm tra, đối chiếu các khoản phải thanh toán với nhà cung cấp để kịp xoay vòng vốn trả
nợ, tránh tình trạng nợ quá hạn Hơn nữa, doanh nghiệp phải lựa chọn hình thức thanh toán sao cho kéo dài được thời gian trả nợ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
f Quản trị vốn bằng tiền
Tiền mặt kết nối tất cả các hoạt động liên quan đến tài chính của doanh nghiệp Quản trị vốn bằng tiền là một quá trình bao gồm quản lý luồng tiền mặt tại quỹ và tài khoản thanh toán tại ngân hàng, kiểm soát chi tiêu, dự báo nhu cầu tiền mặt của doanh nghiệp, bù đắp thâm hụt ngân sách, giải quyết tình trạng thừa, thiếu tiền mặt trong ngắn hạn cũng như dài hạn Việc dự trữ tiền mặt trong doanh nghiệp nhằm các mục đích: thực hiện các giao dịch kinh doanh như mua sắm nguyên vật liệu, hàng hóa và thanh toán các khoản chi phí cần thiết cho doanh nghiệp, thanh toán các khoản nợ, vay,… Hơn nữa, với lượng tiền mặt sẵn có, doanh nghiệp có thể tận dụng được cơ hội mua hàng hóa với số lượng lớn dự trữ chờ tăng giá, mua hàng hưởng chiết khấu,… để gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Vì vậy, mức dự trữ vốn bằng tiền cần được xác định sao cho doanh nghiệp có thể tránh được rủi ro liên quan đến
Trang 28khả năng thanh toán ngay, tận dụng được các cơ hội kinh doanh có lợi nhuận cao cho doanh nghiệp
1 3 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1 3 1 K á n ệm
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là khả năng đạt được kết quả, khả năng sinh lãi của doanh nghiệp Bởi vì, mục đích cuối cùng của người chủ sở hữu, của nhà quản trị là đảm bảo sự giàu có, sự tăng trưởng tài sản của doanh nghiệp; để thực hiện tốt nhiệm vụ này, doanh nghiệp phải sử dụng và phát huy tốt tiềm năng kinh tế của mình Nếu không đảm bảo được khả năng sinh lãi thì lợi nhuận tương lai sẽ không chắc chắn, giá trị doanh nghiệp sẽ bị giảm, người chủ có nguy cơ bị mất vốn [6]
1 3 2 Cá ỉ t êu đo lư n
Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất Do vậy, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đo lường theo công thức chung như sau:
Cách đo lường trên phản ánh một cách chung nhất về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đại lượng so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả đạt được Hiệu quả hoạt động được nâng cao trong trường hợp kết quả tăng, chi phí giảm và cả trong trường hợp chi phí tăng nhưng tốc độ tăng kết quả cao hơn tốc độ tăng chi phí để đạt kết quả đó Xét ở nhiều khía cạnh khác nhau của hiệu quả hoạt động như hiệu quả hoạt động kinh doanh, hiệu quả kinh doanh tổng hợp, hiệu quả tài chính của doanh nghiệp sẽ có nhiều chỉ tiêu đo
Hiệu quả hoạt động Kết quả đầu ra
Các yếu tố đầu vào
=
Trang 29lường khác nhau Tuy nhiên, trong phần này, tác giả chỉ đề cập đến các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà được nhiều nghiên cứu trước sử dụng khi nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động
Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA) là chỉ tiêu thể hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận trước thuế có được so với toàn bộ tài sản mà doanh nghiệp đã bỏ ra
Vì vậy, ROA sẽ cho thấy hiệu quả của doanh nghiệp trong việc quản lý, sử dụng tài sản vào hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư tài chính,…để tạo ra lợi nhuận
Công thức:
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng tài sản đầu tư tại doanh nghiệp sẽ tạo
ra bao nhiêu đồng lợi nhuận truớc thuế Chỉ tiêu ROA càng cao phản ánh khả năng sinh lời tài sản càng cao
Biến phụ thuộc ROA được các tác giả Charitou và cộng sự (2012), Ching và cộng sự (2011), Quayyum (2011), Ngọc Toán (2016)… sử dụng khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và hiệu quả hoạt động
Tỷ suất sinh lợi kinh tế tài sản (RE)
Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của tài sản đã phản ánh một cách tổng hợp hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, kết quả về lợi nhuận còn chịu tác động bởi cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp Nếu hai doanh nghiệp kinh doanh trong cùng một ngành có các điều kiện tương tự như nhau nhưng áp dụng chính sách tài trợ khác nhau sẽ dẫn đến hiệu quả khác nhau Vì vậy, để thấy rõ thật sự hiệu quả của hoạt động thuần kinh tế ở doanh nghiệp, ta sử
ROA Lợi nhuận trư c thuế
Tổng tài sản bình quân
=
Trang 30dụng chỉ tiêu tỷ suất sinh lời kinh tế Chỉ tiêu này đuợc xác định như sau:
Áp dụng tỷ suất này, doanh nghiệp sẽ có quyết định nên huy động từ vốn chủ sở hữu hay huy động vốn vay Nếu tỷ suất sinh lời kinh tế của doanh nghiệp lớn hơn lãi suất vay thì doanh nghiệp nên tiếp nhận các khoản vay và tạo ra phần tích lũy cho nguời chủ sở hữu Về phía các nhà đầu tư, chỉ tiêu này là căn cứ để xem xét đầu tư vào đâu là có hiệu quả nhất
Rất ít nghiên cứu sử dụng chỉ tiêu này làm biến phụ thuộc khi nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động, chỉ có nghiên cứu của Raheman và Quayyum (2010)
Tỷ suất sinh lợi vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) là chỉ tiêu thể hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận có được so với toàn bộ vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp đã bỏ
ra Vì vậy, ROE sẽ cho thấy hiệu quả của doanh nghiệp trong việc quản lý, sử dụng nguồn vốn để tạo ra lợi nhuận
Công thức:
Chỉ tiêu này thể hiện 1 đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận cuối cùng, lợi nhuận sau thuế Trong truờng hợp doanh nghiệp huy dộng vốn từ nhiều nguồn, chỉ tiêu này càng cao thì doanh nghiệp càng có cơ hội tìm kiếm được nguồn vốn mới thông qua thị trường tài chính Nguợc lại, tỷ suất này càng thấp duới mức sinh lời cần thiết của thị truờng thì
Trang 31khả năng thu hút vốn chủ sở hữu cũng như khả năng đầu tư của doanh nghiệp càng khó
Nghiên cứu của Bhunia và Amit (2012), Sur và Chakraborty (2011), Vishnani và Shah (2007) sử dụng biến phụ thuộc này khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa vốn lưu động và khả năng sinh lợi
Tỷ suất lợi nhuận gộp (GOP)
Tỷ suất lợi nhuận gộp (GOP) là tỷ lệ tài chính phản ánh giữa mức chênh lệch giữa giá bán và giá vốn so với tài sản ngoại trừ các tài sản tài chính của đơn vị Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính tại đơn vị sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lãi gộp
Công thức:
Chỉ tiêu GOP đo lường hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp Do vậy, tài sản tài chính đã được loại ra khỏi tài sản của doanh nghiệp nhằm phản ánh chính xác trình độ điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh chính của nhà quản lý
Các nghiên cứu trước đây đã sử dụng tỷ suất lợi nhuận gộp làm biến phụ thuộc khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và hiệu quả hoạt động như Dong và Su (2010), Gill và cộng sự (2010), Lazaridis và Tryfonidis (2006), Khawaja và cộng sự (2011), Hoàng Quân và Diễm Kiều (2016), Văn Hiệp (2017),…
1.4 ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
Quản lý vốn lưu động đóng vai trò quan trọng trong lợi nhuận và rủi ro của công ty cũng như giá trị của nó Smith (1980) Vốn lưu động là các tài sản
GOP
Doanh thu- Giá vốn Tài sản – Tài sản tài chính
=
Trang 32ngắn hạn để đáp ứng các hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, và tùy thuộc vào hoạt động của mỗi doanh nghiệp mà công tác quản trị vốn lưu động cũng khác nhau Tuy nhiên, việc đưa ra quyết định mức đầu tư vào tài sản lưu động hay mức tài trợ vốn lưu động cao hay thấp là công việc đầu tiên
mà mỗi nhà quản trị phải thực hiện trong công tác quản trị vốn lưu động Mức đầu tư tài sản lưu động, mức tài trợ vốn lưu động ít nhiều đều có ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Mặt khác, công tác quản trị lưu động còn thể hiện ở kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thanh toán bình quân dài hay ngắn cũng tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Tóm lại, công tác quản trị vốn lưu động ở khía cạnh chính sách đầu tư tài sản lưu động, chính sách tài trợ vốn lưu động hay ở khía cạnh quản trị khoản phải thu, hàng tồn kho, khoản phải trả đều có những tác động nhất định đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
1.4.1 Ản ưởn ủ ín sá đầu tư tà sản lưu động, chính
sá tà trợ vốn lưu độn đến ệu quả oạt độn
Quản trị vốn lưu động đầu tiên được xem xét thông qua chính sách đầu
tư vào các tài sản lưu động của doanh nghiệp Chính sách đầu tư tài sản lưu động là các chỉ dẫn cho việc đưa ra các quyết định về mức độ đầu tư vào tài sản lưu động và có tính lặp lại ở mỗi chu kỳ kinh doanh tại doanh nghiệp Chính sách đầu tư tài sản lưu động (IP) mạo hiểm khi mức đầu tư cho tài sản ngắn hạn rất ít so với tài sản dài hạn cũng đồng nghĩa với lượng hàng tồn kho thấp, khoản phải thu thấp và do đó chu kỳ chuyển đổi tiền mặt thấp, doanh nghiệp theo đuổi chính sách này có thể đạt lợi nhuận cao nhưng cũng đối mặt với nguy cơ mất khách hàng Ngược lại, một chính sách đầu tư thận trọng khi mức đầu tư cho tài sản ngắn hạn cao hơn so với tài sản dài hạn đồng thời với lượng hàng tồn kho và khoản phải thu cao dẫn đến chu kỳ chuyển đổi tiền mặt dài hơn, doanh nghiệp theo đuổi chính sách này sẽ có rủi ro thanh toán thấp,
Trang 33lợi nhuận thấp
Sau khi nhà quản trị đã quyết định được mức đầu tư cho tài sản lưu động thì cũng sẽ xem xét nguồn tài trợ cho các tài sản lưu động Chính sách tài trợ vốn lưu động là các chỉ dẫn cho việc đưa ra các quyết định về mức độ tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn cho tài sản lưu động và có tính lặp lại ở mỗi chu kỳ kinh doanh tại doanh nghiệp Chính sách tài trợ vốn lưu động (FP) mạo hiểm khi tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản lớn đồng nghĩa với việc doanh nghiệp chịu áp lực thời hạn thanh toán nợ Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng tận dụng được nguồn vốn bên ngoài để kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh, làm tăng khả năng sinh lợi Ngược lại, chính sách tài trợ vốn lưu động thận trọng khi tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản thấp đồng nghĩa với áp lực thời hạn thanh toán thấp Trong khi đó, doanh nghiệp phải sử dụng ngồn vốn dài hạn để đáp ứng nhu cầu kinh doanh, chi phí sử dụng vốn cao, giảm khả năng sinh lợi Horne và Wachowicz (2008)
Nghiên cứu của Al-shubiri (2011) trên 59 doanh nghiệp niêm yết ở sàn giao dịch Amadan giai đoạn 2004-2007 và nghiên cứu Nazir và Afza (2009) trên 204 doanh nghiệp ở sản chứng khoán Karachi giai đoạn 1998-2005 về ảnh hưởng của chính sách đầu tư tài sản và chính sách tài trợ vốn lưu động đến lợi nhuận trên tài sản (ROA) và giá trị thị trường Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa các biện pháp về lợi nhuận của các doanh nghiệp
và mức độ mạo hiểm của các chính sách tài trợ và đầu tư vốn lưu động Các công ty báo cáo lợi nhuận âm nếu họ làm theo một chính sách vốn lưu động mạo hiểm Một nghiên cứu khác của Vahid và cộng sự (2012) về ảnh hưởng của chính sách vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran giai đoạn 2005 -2009 Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng, kết quả cho thấy chính sách đầu tư thận trọng có mức đầu tư tài sản ngắn hạn cao có ảnh hưởng
Trang 34tiêu cực đến khả năng sinh lời và giá trị của công ty, trong khi theo đuổi chính sách tài trợ mạo hiểm có tác động tích cực đến lợi nhuận và giá trị của công
ty
Ở Việt Nam, chưa có tác giả nào nghiên cứu về ảnh hưởng của chính sách đầu tư tài sản lưu động và chính sách tài trợ vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
1.4.2 Ản ưởn ủ ệu quả ôn tá quản trị vốn lưu độn đến
ệu quả oạt độn
Sau khi doanh nghiệp đưa ra quyết định về mức đầu tư tài sản ngắn hạn
và tỷ trọng nợ ngắn hạn, doanh nghiệp cần phải đánh giá công tác quản trị vốn lưu động đạt hiệu quả hay không thông qua việc quản trị tốt các khoản phải thu, hàng tồn kho, khoản phải trả,… để kỳ vọng đạt được lợi nhuận như mong muốn Chỉ số kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thanh toán bình quân hay chu kỳ chuyển đổi tiền mặt phản ánh được hiệu quả của công tác quản trị vốn lưu động một cách cụ thể Vì vậy, kỳ thu tiền bình quân,
kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thanh toán bình quân hay chu kỳ chuyển đổi tiền mặt làm biến giải thích cho việc quản trị vốn lưu động ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động được thể hiện rất nhiều ở các nghiên cứu trong và ngoài nước
Nghiên cứu của Dong và Su (2010) đã cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt; mối quan hệ cùng chiều giữa kỳ thanh toán bình quân với tỷ suất lợi nhuận gộp khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và hiệu quả hoạt động của 130 công ty niêm yết tại Việt Nam, giai đoạn 2006-
2008 Một bằng chứng khác về ảnh hưởng của quản lý vốn lưu động đến khả năng sinh lời của các công ty vừa và nhỏ ở Tây Ban Nha khi nghiên cứu trên mẫu gồm 8.872 doanh nghiệp giai đoạn 1996-2002 của Juan và Martinez-
Trang 35Solano (2007) Kết quả nghiên cứu cho thấy doanh nghiệp rút ngắn số ngày thu tiền khách hàng, số ngày luân chuyển hàng tồn kho hay chu kỳ chuyển đổi tiền mặt sẽ làm tăng khả năng sinh lời
Một số bằng chứng khác ở Việt Nam khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động ở khía cạnh kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thanh toán bình quân với hiệu quả hoạt động phải kể đến như: nghiên cứu của Hà Thành (2017) cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa
kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thanh toán bình quân với tỷ suất lợi nhuận gộp ở các doanh nghiệp ngành vận tải Một nghiến cứu khác của Ngọc Toán (2016) về ngành bất động sản cũng cho kết quả tương tự với biến phụ thuộc là lợi nhuận trên tài sản (ROA) Nghiên cứu của Bùi Thu Hiền và Nguyễn Hoài Nam (2015) về mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động
và khả năng sinh lời trên 27 doanh nghiệp lớn trong ngành dược phẩm - đồ uống niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2009 – 2013 cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa về mặt thống kê giữa kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thu tiền bình quân, kỳ thanh toán bình quân, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt với khả năng sinh lời của doanh nghiệp Hay nghiên cứu của Tuyết Nga và Ngọc Toán (2017) trên 20 doanh nghiệp thủy sản niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2008-2016 Bằng phương pháp phân tích hồi quy
dữ liệu bảng GMM, nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng về mối quan hệ ngược chiều giữa kỳ thu tiền khách hàng, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thanh toán bình quân với tỷ suất sinh lời tài sản
1.4.3 Ản ưởn ủ á yếu tố á đến ệu quả oạt độn ủ
o n n ệp
Để phản ánh đúng ảnh hưởng của công tác quản trị vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động; các nghiên cứu trước đây cũng đã đưa thêm vào mô hình các biến kiểm soát Các biến kiểm soát này thường bao gồm các tỷ số tài
Trang 36chính như đòn bẩy tài chính, tỷ trọng tài sản tài chính trên tổng tài sản, các tỷ
số về khả năng thanh toán, quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng doanh thu,…Nhóm biến này vẫn thuộc vào đặc điểm hoạt động, quản lý của doanh nghiệp và do đó có thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Có rất nhiều nghiên cứu sử dụng biến kiểm soát tỷ trọng tài sản tài chính trên tổng tài sản, quy mô doanh nghiệp trong mô hình nghiên cứu như: Dong và Su (2010), Gill và cộng sự (2010), Khawaja và cộng sự (2011), Lazaridis và Tryfonidis (2006), Nazir và Afza (2009), Vahid và cộng sự (2012),…, Văn Hiệp (2017), Kim Thoa và Uyên Uyên (2014), Ngọc Toán (2016)…Đa số các nghiên cứu trên tìm ra mối quan hệ cùng chiều giữa quy
mô hoạt động doanh nghiệp với hiệu quả hoạt động, doanh nghiệp càng lớn thì hiệu quả hoạt động càng cao Đối với biến tỷ trọng tài sản tài chính trên tổng tài sản, có ý kiến trái chiều xoay quanh mối quan hệ giữa nó với hiệu quả hoạt động Nghiên cứu của Alipour (2011), Khawaja và cộng sự (2011), Lazaridis và Tryfonidis (2006), Napompech (2012), Văn Hiệp (2017), Kim Thoa và Uyên Uyên (2014) cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ trọng tài sản tài chính trên tổng tài sản với hiệu quả hoạt động Điều này có ý nghĩa khi doanh nghiệp đầu tư càng nhiều vào tài sản tài chính thì hiệu quả hoạt động doanh nghiệp càng cao Trong khi nghiên cứu của Gill và cộng sự (2010) lại cho thấy mối quan hệ ngược chiều nhưng không đáng kể Một nghiên cứu khác, nghiên cứu Dong và Su (2010) thì không thấy mối quan hệ giữa tỷ trọng tài sản tài chính trên tổng tài sản với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
Biến kiểm soát tốc độ tăng trưởng doanh thu, các nghiên cứu trước đây tuy ít sử dụng nhưng cũng đã tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa tốc độ tăng trưởng doanh thu và hiệu quả hoạt động: nghiên cứu của Charitou và cộng sự (2012), Vahid và cộng sự (2012), Văn Hiệp (2017)
Và còn rất nhiều nghiên cứu khác nói về mối quan hệ giữa quản trị vốn
Trang 37lưu động và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Mỗi nghiên cứu trình bày
ở một khía cạnh, lĩnh vực, khu vực khác nhau đã có những đóng góp về mặt
lý luận cũng như thực tế Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động ở khía cạnh chính sách đầu
tư tài sản lưu động và chính sách tài trợ vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động một cách thỏa đáng Vì vậy, tác giả đã sử dụng các biến về chính sách đầu tư tài sản lưu động (IP), chính sách tài trợ vốn lưu động (FP), kỳ thu tiền bình quân (AR), kỳ luân chuyển hàng tồn kho (INV), kỳ thanh toán bình quân (AP) làm các biến chính để giải thích về công tác quản trị vốn lưu động Ngoài ra, các biến kiểm soát như tỷ trọng tài sản tài chính trên tổng tài sản (FATA), tỷ
số chi phí bán hàng và quản lý trên doanh thu (SAS), tốc độ tăng trưởng (GROWTH), quy mô doanh nghiệp (SIZE) Hơn nữa, việc tìm hiểu về sự khác biệt trong công tác quản trị vốn lưu động giữa các nhóm ngành trên TTCK Việt Nam cũng cần xem xét cụ thể Trên đây là những khoảng trống nghiên cứu mà đề tài hy vọng sẽ lấp đầy mà các nghiên cứu trước đây chưa từng đề cập đến
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Đề tài đã trình bày cơ sở lý thuyết về vốn lưu động, công tác quản trị vốn lưu động không chỉ ở khía cạnh chính sách đầu tư tài sản lưu động, chính sách tài trợ vốn lưu động mà còn ở khía cạnh hiệu quả công tác quản trị vốn lưu động thông qua các chỉ số đo lường kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thanh toán bình quân; ảnh hưởng của công tác quản trị vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp thông qua các nghiên cứu trước đây Ngoài ra, chương 1 cũng đề cập đến các biến giải thích công tác quản trị vốn lưu động cũng như biến phụ thuộc về hiệu quả hoạt động trong các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài Tóm lại, chương 1 là cơ sở để tác giả thiết lâp mô hình nghiên cứu ở chương 2 cũng như đưa ra kết quả phân tích số liệu ở chương 3 nhằm tìm kiếm bằng chứng về ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động đến hiệu quả hoạt động ở các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam
Trang 39CHƯƠNG 2
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1 KHÁI QUÁT CÔNG TÁC QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Trước khi tìm hiểu về mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và hiệu quả hoạt động, tác giả đã tổng hợp số liệu thực tế trên TTCK Việt Nam năm
2016 để có cái nhìn toàn cảnh về bức tranh của công tác quản trị vốn lưu động của các doanh nghiệp niêm yết hiện nay Số liệu được tổng hợp theo nhóm ngành, ngành trên các trang web uy tín
Để thấy được các quyết định liên quan đến công tác quản trị vốn lưu động như: chính sách đầu tư tài sản lưu động, chính sách tài trợ vốn lưu động
và vòng quay tài sản ngắn hạn cũng như hiệu quả hoạt động doanh nghiệp thông qua tỷ suất sinh lời tài sản của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay, tác giả đã tổng hợp, tính toán dựa trên nguồn số liệu sẵn
có từ trang web http://www.cophieu68.com.vn thể hiện cụ thể ở Bảng 2.1
Tùy theo mỗi nhóm ngành mà mức đầu tư vào tài sản ngắn hạn, mức tài trợ từ nợ ngắn hạn, vòng quay tài sản ngắn hạn, lợi nhuận trên tài sản khác nhau Bảng tổng hợp cho thấy: mức đầu tư tài sản trung bình toàn thị trường 53,87%>50% cho thấy các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam chú trọng trong việc đầu tư vào tài sản lưu động, nhóm ngành tài chính như chứng khoán và ngân hàng - bảo hiểm có mức đầu tư vào tài sản ngắn hạn cao 86,86% và 77,57%, nhóm ngành dịch vụ công ích có mức đầu tư vào tài sản ngắn hạn thấp nhất Mức tài trợ từ vốn lưu động trung bình 38,14% <50% cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn nguồn tài trợ chủ yếu không phải từ tài sản ngắn hạn, nhóm ngành tài chính như ngân hàng-bảo hiểm, chứng khoán tỷ lệ
Trang 40này rất cao lần lượt 85,94% và 53,85% và thấp nhất là dịch vụ công ích 11,83% Ngoài ra, trong 25 nhóm ngành thì có đến 14 nhóm ngành có tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản >50%, 20 nhóm ngành có tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản < 50%, các nhóm ngành phi tài chính có mức đầu tư vào tài sản lưu động giao động trong khoản 21,55% - 73,2%, mức tài trợ vốn lưu động giao động trong khoản 11,83% - 66,6% trong khi đó nhóm ngành liên quan tài chính thì chỉ số này khá cao Một lần nữa cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam rất chú trọng trong việc đầu tư vào tài sản lưu động và ngại rủi ro khi lựa chọn mức tài trợ từ vốn lưu động thấp Vòng quay tài sản ngắn hạn thể hiện 1 đồng tài sản ngắn hạn có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu, vậy chỉ tiêu này đã phần nào thể hiện hiệu quả của việc quản lý tài sản lưu động hay vốn lưu động của doanh nghiệp Các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thương mại có hiệu quả quản lý tài sản lưu động cao nhất 353% và nhóm ngành tài chính (ngân hàng-bảo hiểm) có hiệu quả quản lý tài sản lưu động thấp nhất 4% Chỉ tiêu lợi nhuận trên tài sản (ROA) phản ảnh 1 đồng tài sản của doanh nghiệp sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, một chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thực phẩm có ROA cao nhất 13%; trong khi đó doanh nghiệp thuộc nhóm ngành có ROA thấp nhất 1% gồm các nhóm ngành cao su, khoáng sản, năng lượng điện/ khí, khoáng sản, ngân hàng-bảo hiểm, thủy sản Hầu hết chỉ tiêu ROA của các nhóm ngành đều dương cho thấy đa số các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả