1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi theo Luật nuôi con nuôi Việt Nam " pdf

10 638 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi theo Luật nuôi con nuôi Việt Nam
Tác giả Ts. Nguyễn Phương Lan
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Bài nghiên cứu
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 412,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nuôi con nuôi đầy đủ còn gọi là nuôi con nuôi trọn vẹn là hình thức nuôi con nuôi dẫn đến chấm dứt hoàn toàn các mối liên hệ pháp lí giữa người được nhận nuôi với gia đình cha mẹ đẻ đồng

Trang 1

TS NguyÔn Ph-¬ng Lan *

1 Những khía cạnh lí luận về hệ quả

pháp lí của việc nuôi con nuôi

Việc nhận nuôi con nuôi được cơ quan

nhà nước có thẩm quyền công nhận theo thủ

tục luật định sẽ làm phát sinh quan hệ pháp

luật cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con

nuôi và người được nhận làm con nuôi Khoản

1 Điều 3 Luật nuôi con nuôi quy định: “Nuôi

con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và

con giữa người nhận con nuôi và người

được nhận làm con nuôi”

Quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận

con nuôi và người được nhận làm con nuôi

là quan hệ cha mẹ và con đặc biệt, vì quan

hệ này không phát sinh trên cơ sở sự sinh đẻ

tự nhiên và gắn với huyết thống giữa hai bên

Nếu quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con, về bản

chất là quan hệ tự nhiên gắn với huyết thống,

phát sinh từ việc thụ thai, mang thai, sinh con

thì quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi là

quan hệ cha mẹ và con dựa trên ý chí, tình

cảm không liên quan đến sự sinh đẻ và quan

hệ huyết thống giữa hai bên Do quan hệ cha

mẹ và con giữa người nhận nuôi và người

được nhận làm con nuôi được tạo lập một

cách có chủ định nên sự điều chỉnh bằng pháp

luật đối với quan hệ này là cần thiết

Trong quan hệ nuôi con nuôi tồn tại mối

quan hệ giữa các chủ thể có liên quan là

người có quyền đồng ý cho trẻ em làm con

nuôi (cha, mẹ đẻ; người giám hộ của trẻ em),

trẻ em được cho làm con nuôi và người nhận nuôi Mối quan hệ giữa ba bên này không chỉ tồn tại khi bắt đầu xác lập quan hệ nuôi con nuôi, mà tồn tại suốt trong toàn bộ quá trình thực hiện việc nuôi con nuôi, tuỳ theo

sự điều chỉnh pháp luật của mỗi nước Pháp luật cần có quy định cụ thể, rõ ràng, đầy đủ

và toàn diện về các quyền và nghĩa vụ có thể phát sinh giữa các bên có liên quan trong quan hệ cho-nhận con nuôi Sự quy định về

hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi càng đầy đủ, cụ thể, phù hợp với bản chất của quan hệ nuôi con nuôi thì việc điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi càng có tính khả thi hiệu quả, đảm bảo được quyền, lợi ích chính đáng của các chủ thể đồng thời tránh được các tranh chấp có thể xảy ra

Theo quy định trong hệ thống pháp luật của một số nước trên thế giới, hệ quả pháp

lí của việc nuôi con nuôi phụ thuộc vào việc nuôi con nuôi được xác lập theo hình thức nuôi con nuôi đầy đủ hay nuôi con nuôi đơn giản

Nuôi con nuôi đơn giản là hình thức xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và con nuôi nhưng không làm chấm dứt hoàn toàn các quyền và nghĩa vụ pháp lí giữa người được nhận nuôi với cha mẹ đẻ và gia đình huyết thống Hình thức nuôi con nuôi đơn giản tồn tại đồng thời hai quan hệ cha

* Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

mẹ và con: quan hệ giữa cha mẹ đẻ - con,

quan hệ giữa cha mẹ nuôi - con nuôi Do đó

việc quy định các quyền và nghĩa vụ giữa

cha mẹ và con trong hai mối quan hệ này cần

rành mạch, rõ ràng, đầy đủ để có cơ sở pháp

lí điều chỉnh quan hệ giữa các bên

Nuôi con nuôi đầy đủ (còn gọi là nuôi

con nuôi trọn vẹn) là hình thức nuôi con nuôi

dẫn đến chấm dứt hoàn toàn các mối liên hệ

pháp lí giữa người được nhận nuôi với gia

đình cha mẹ đẻ đồng thời làm phát sinh đầy

đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lí của cha mẹ

và con giữa người nhận nuôi và người được

nhận làm con nuôi, người được nhận làm

con nuôi có mọi quyền và nghĩa vụ như con

đẻ trong gia đình cha mẹ nuôi Trong hình

thức nuôi con nuôi trọn vẹn, việc nuôi con

nuôi được xác lập làm chấm dứt mọi quyền

và nghĩa vụ pháp lí giữa cha mẹ đẻ và con

được cho làm con nuôi Điều này đã được

cha, mẹ đẻ hoặc người có quyền đồng ý cho

trẻ em làm con nuôi (trong trường hợp cha,

mẹ đều không còn sống, đều không thể thể

hiện được ý chí) bày tỏ ý chí và xác định

ngay từ lúc làm thủ tục xác lập quan hệ nuôi

con nuôi Điều này cũng được quy định

trong Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ

trẻ em và hợp tác về nuôi con nuôi giữa các

nước Công ước La Hay năm 1993 đòi hỏi

việc nhận nuôi con nuôi trọn vẹn chỉ được

công nhận ở nước nhận khi có sự thể hiện ý

chí rõ ràng của người có quyền đồng ý cho

trẻ làm con nuôi về việc hiểu rõ và đồng ý

chấm dứt mọi quan hệ pháp lí giữa gia đình

gốc với trẻ em được cho làm con nuôi (Điều

27 Công ước La Hay năm 1993) Nếu cha

mẹ đẻ hoặc người có quyền đồng ý cho trẻ

em làm con nuôi không thể hiện rõ điều đó thì việc nuôi con nuôi đó chỉ được công nhận theo hình thức nuôi con nuôi đơn giản ở nước tiếp nhận

Việc nuôi con nuôi đầy đủ gắn liền với việc chấm dứt mọi quan hệ pháp lí với gia đình cha mẹ đẻ, do đó đứa trẻ được nhận nuôi theo hình thức nuôi con nuôi đầy đủ chỉ còn gia đình duy nhất là gia đình người nhận nuôi (cha, mẹ nuôi) Vì vậy để đảm bảo quyền lợi cho đứa trẻ, đảm bảo quyền được sống trong gia đình của trẻ em, pháp luật các nước quy định những điều kiện nhận nuôi con nuôi đầy đủ gắn liền với những hệ quả pháp lí của hình thức nuôi con nuôi này Theo quy định của pháp luật các nước, hình thức nuôi con nuôi đầy đủ chỉ được xác lập với những điều kiện chặt chẽ Theo pháp luật Cộng hoà Pháp việc nuôi con nuôi đầy đủ chỉ được xác lập với những trẻ em

mà cả cha và mẹ hoặc hội đồng gia tộc chấp thuận cho làm con nuôi hoặc những trẻ em

mồ côi được nhà nước đỡ đầu hoặc trẻ em

bị tuyên bố bỏ rơi.(1)

Trong trường hợp vợ hoặc chồng nhận con riêng của người kia làm con nuôi theo hình thức đầy đủ thì người nhận nuôi con nuôi phải đã kết hôn với người cha hoặc mẹ đẻ của trẻ, người cha hoặc người mẹ kia của trẻ bị tước quyền cha mẹ hoàn toàn hoặc người cha hoặc người mẹ kia của trẻ chết và không còn người thân thuộc ở hàng thứ nhất (cha mẹ) hoặc khi những người này hiển nhiên không quan tâm đến trẻ.(2)

Về hệ quả pháp lí, “trong gia đình người nhận nuôi con nuôi, con nuôi có các quyền

và nghĩa vụ như những người con đã xác lập

Trang 3

quan hệ giữa cha mẹ và con…” và “việc

Pháp luật Trung Quốc quy định: kể từ ngày quan

hệ nuôi con nuôi được xác lập, các quy định

pháp luật về quan hệ giữa cha mẹ đẻ và trẻ

em sẽ được áp dụng đối với quan hệ giữa

cha mẹ nuôi và trẻ em được nhận nuôi; các

quy định pháp luật về mối quan hệ giữa trẻ

em và họ hàng thân thích của cha mẹ đẻ sẽ

được áp dụng quy định pháp luật về các

quyền và nghĩa vụ trong mối quan hệ giữa

trẻ nhận làm con nuôi với họ hàng thân

thích của cha mẹ nuôi Các quyền và nghĩa

vụ giữa trẻ được nhận làm con nuôi với cha

mẹ đẻ và những người họ hàng thân thích

khác sẽ chấm dứt kể từ ngày xác lập quan

hệ nuôi con nuôi.(4)

Như vậy, với hình thức nuôi con nuôi

đầy đủ, con nuôi có mọi quyền và nghĩa vụ

đầy đủ trong gia đình cha mẹ nuôi, cũng như

với các thành viên khác trong gia đình cha

mẹ nuôi đồng thời chấm dứt mọi quan hệ

pháp lí với cha mẹ đẻ và với các thành viên

trong gia đình huyết thống

Do đó, từ góc độ lí luận, hệ quả pháp lí

của việc nuôi con nuôi tuỳ thuộc vào việc

nuôi con nuôi được xác lập theo hình thức

nào Pháp luật các nước có thể quy định cả

hai hình thức nuôi con nuôi song song nhưng

luôn quy định rõ hậu quả pháp lí gắn với mỗi

hình thức nuôi con nuôi cụ thể Vì vậy, về

mặt lí luận, hệ quả pháp lí của việc nuôi con

nuôi phải được quy định đầy đủ mối quan hệ

giữa ba bên: cha mẹ đẻ (gia đình gốc), cha

mẹ nuôi (và các thành viên trong gia đình

cha mẹ nuôi) và con nuôi gắn với mỗi hình

thức nuôi con nuôi cụ thể

2 Những điểm mới về hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi theo quy định của Luật nuôi con nuôi

Hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi được quy định tại Điều 24 Luật nuôi con nuôi Trong Luật nuôi con nuôi, hệ quả pháp

lí của việc nuôi con nuôi có sự kế thừa các quy định trong Luật hôn nhân và gia đình (Luật HN&GĐ) năm 2000 nhưng cũng có những điểm mới quan trọng Có thể so sánh

để thấy những điểm giống nhau và khác nhau cơ bản giữa Luật HN&GĐ năm 2000 với Luật nuôi con nuôi quy định về hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi như sau:

2.1 Những điểm giống nhau mang tính

kế thừa

- Con nuôi và cha mẹ nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy định của pháp luật kể từ ngày giao nhận con nuôi Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có tất cả các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy định của Luật HN&GĐ năm

2000 được quy định từ Điều 34 đến Điều 46

và các quy định khác có liên quan Các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi bao gồm các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và các quyền, nghĩa vụ về tài sản Đó là các quyền như quyền chăm sóc, yêu thương, nuôi dưỡng, giáo dục; đại diện cho con chưa thành niên; không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng sức lao động của con; cha mẹ nuôi có quyền quản lí tài sản của con nuôi chưa thành niên; cha mẹ nuôi

có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản

do hành vi trái pháp luật của con nuôi chưa thành niên gây ra; giữa cha mẹ nuôi và con

Trang 4

nuôi có quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng đối với

nhau, có quyền thừa kế tài sản của nhau khi

một bên chết trước…

- Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan

nhà nước có thẩm quyền quyết định việc

thay đổi họ tên của con nuôi Việc thay đổi

họ, tên của con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên phải

được sự đồng ý của người đó

- Việc xác định dân tộc của con nuôi

được xác định theo quy định của Bộ luật dân

sự Đối với trẻ em bị bỏ rơi được nhận làm

con nuôi mà không xác định được cha mẹ thì

dân tộc của con nuôi được xác định theo dân

tộc của cha nuôi, mẹ nuôi

2.2 Điểm mới của Luật nuôi con nuôi so

với Luật HN&GĐ năm 2000

- Thứ nhất, Luật nuôi con nuôi không

những quy định mối quan hệ giữa con nuôi

với cha mẹ nuôi mà còn quy định mối quan

hệ giữa con nuôi với gia đình cha mẹ nuôi

Khoản 1 Điều 24 Luật nuôi con nuôi quy

định: “Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa

cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các

quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa

con nuôi và các thành viên khác của gia

đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa

vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật

về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và

các quy định khác của pháp luật có liên

quan” Qua quy định này có thể hiểu là giữa

con nuôi với các thành viên khác trong gia

đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền và

nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của

pháp luật hôn nhân và gia đình, pháp luật

dân sự Quan hệ giữa người con nuôi trong

gia đình cha mẹ nuôi bao gồm nhiều quan hệ

khác nhau như: Quan hệ giữa con nuôi với

cha đẻ, mẹ đẻ của người nhận nuôi; giữa con nuôi với các con đẻ của người nhận nuôi, giữa con nuôi với những người anh, chị, em ruột của cha nuôi, mẹ nuôi v.v Trong mối quan hệ với những thành viên này của gia đình cha mẹ nuôi, người con nuôi có được coi như con đẻ của người nhận nuôi hay không, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ như con đẻ của người nhận nuôi hay không là

điều chưa được làm rõ qua quy định trên Ví dụ: Giữa con nuôi với cha đẻ, mẹ đẻ của

người nhận nuôi có được thừa kế tài sản của nhau hay không hoặc giữa họ có phát sinh quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng đối với nhau theo quy định tại Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2000 hay không? Những câu hỏi tương

tự cũng có thể được đặt ra trong quan hệ giữa con nuôi của người nhận nuôi với những người con đẻ của người nhận nuôi, như giữa con nuôi với con đẻ của cha mẹ nuôi có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng cho nhau hay không? Theo chúng tôi, đây là nội dung quan trọng trong hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi, có ý nghĩa thiết thực trong quan hệ nuôi con nuôi đồng thời cũng là vấn đề dễ xảy ra tranh chấp, do

đó cần có quy định rõ ràng để có cơ sở pháp

lí giải quyết khi có tranh chấp

Luật nuôi con nuôi mới có hiệu lực chưa lâu, nên tác động điều chỉnh của nó chưa thể hiện rõ trong thực tế Tuy nhiên, với cách quy định không rõ ràng như trên, từ góc độ lí luận có thể có hai quan điểm cơ bản khác nhau về hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi Sự phân tích các quan điểm khác nhau

về vấn đề này là cần thiết để có thể xây dựng những quy định phù hợp, nhất quán, rõ ràng

Trang 5

trong việc điều chỉnh pháp luật về hệ quả

pháp lí của việc nuôi con nuôi

Quan điểm thứ nhất cho rằng giữa con

nuôi với các thành viên khác trong gia đình

cha mẹ nuôi chỉ tồn tại mối quan hệ giữa các

thành viên trong gia đình với nhau, được

điều chỉnh bởi quy định tại Điều 49 Luật

HN&GĐ năm 2000 Với quy định tại Điều

này thì con nuôi chỉ có quan hệ với các

thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi

khi con nuôi sống chung với những thành

viên này, do đó giữa con nuôi và những

thành viên khác trong gia đình của cha mẹ

nuôi chỉ có nghĩa vụ “quan tâm, giúp đỡ

nhau, cùng nhau chăm lo đời sống chung

của gia đình, đóng góp công sức, tiền và tài

sản khác để duy trì đời sống chung phù hợp

với thu nhập, khả năng thực tế của mình”

Khi con nuôi không sống chung với các

thành viên khác của gia đình cha nuôi, mẹ

nuôi thì giữa họ cũng không tồn tại quyền và

nghĩa vụ gì Do đó, quy định tại các điều 47,

48, 58, 59 Luật HN&GĐ năm 2000 cũng

không được áp dụng để điều chỉnh mối quan

hệ giữa họ với nhau Điều đó có nghĩa là

giữa con đẻ với con nuôi của người nhận

nuôi không có quan hệ anh, chị, em với

nhau, do đó cũng không có nghĩa vụ

“thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có

nghĩa vụ và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng

nhau trong trường hợp không còn cha mẹ

hoặc cha mẹ không có điều kiện trong nom,

nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con” theo

quy định tại Điều 48 Luật HN&GĐ năm

2000 và vì vậy giữa họ cũng không có quyền

và nghĩa vụ cấp dưỡng cho nhau theo quy

định tại Điều 58 Luật HN&GĐ năm 2000

Tương tự như vậy, giữa con nuôi của người nhận nuôi với cha đẻ, mẹ đẻ của người nhận nuôi cũng không có quan hệ giữa ông, bà nội, ông, bà ngoại với cháu nên giữa họ cũng không có các quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định tại Điều 47, Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2000

Về quan hệ thừa kế giữa con nuôi với các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi: Với cách hiểu như trên thì giữa con nuôi với các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi, như với cha đẻ, mẹ đẻ; các con đẻ; anh, chị, em ruột của cha nuôi, mẹ nuôi

sẽ không có quyền thừa kế theo luật của nhau theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân

sự năm 2005 Tương tự, con nuôi cũng không được hưởng thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 677 Bộ luật dân sự năm 2005 đối với tài sản của cha đẻ, mẹ đẻ của người nhận nuôi con nuôi nếu người nhận nuôi chết trước con nuôi Quan điểm này đã được thể hiện tương đối rõ ràng và khá thống nhất trong các giáo trình luật dân sự của các cơ sở đào tạo luật trước khi Luật nuôi con nuôi ra đời.(5)

Sở dĩ quan điểm về vấn đề này được nhận thức khá thống nhất là do vấn đề này

đã được quy định trong Nghị quyết số 02/1990/NQ-HĐTP ngày 19/10/1990 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thừa kế Nghị

quyết số 02/1990/NQ-HĐTP nêu rõ: “con nuôi không đương nhiên trở thành cháu của cha, mẹ của người nuôi dưỡng và cũng không đương nhiên trở thành anh, chị, em của con đẻ của người nuôi Do đó, con nuôi không phải là người thừa kế theo pháp luật của cha, mẹ, con đẻ của người nuôi” Tuy

Trang 6

nhiên con đẻ của người con nuôi thì được coi

là cháu của cha nuôi, mẹ nuôi và được

hưởng thừa kế thế vị phần tài sản mà đáng lẽ

cha, mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống

vào thời điểm mở thừa kế Như vậy, đối với

gia đình cha nuôi, mẹ nuôi, “con nuôi chỉ

có quan hệ thừa kế với cha nuôi, mẹ nuôi

mà không có quan hệ thừa kế với cha, mẹ

Quan điểm này vẫn được duy trì trong quá trình phát

triển của pháp luật dân sự qua Bộ luật dân

sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005

Khi Bộ luật dân sự năm 1995, sau đó là Bộ

luật dân sự năm 2005 được ban hành và có

hiệu lực không có văn bản nào hướng dẫn

khác về quan hệ thừa kế giữa con nuôi với

các thành viên khác trong gia đình cha nuôi,

mẹ nuôi, nên các quy định của Nghị quyết

số 02/1990/NQ-HĐTP vẫn mặc nhiên được

áp dụng để điều chỉnh quan hệ thừa kế giữa

con nuôi với gia đình cha nuôi, mẹ nuôi Vì

vậy, với quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật

nuôi con nuôi như trên thì có thể hiểu giữa

con nuôi và các thành viên khác của gia

đình cha mẹ nuôi không có quyền thừa kế

tài sản của nhau “theo quy định của pháp

luật về thừa kế”

Với cách hiểu như đã phân tích, có thể

nói quan hệ nuôi con nuôi chỉ làm phát sinh

quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi

với người được nhận làm con nuôi, còn giữa

người con nuôi với những thành viên khác

của gia đình cha, mẹ nuôi về cơ bản không

có quyền và nghĩa vụ đối với nhau

Quan điểm thứ hai cho rằng theo quy

định: “giữa con nuôi với các thành viên

khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các

quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan” (khoản 1 Điều 24

Luật nuôi con nuôi) thì giữa con nuôi với các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ giống như con đẻ Điều này là hợp lí khi việc nuôi con nuôi được xác lập theo hình thức nuôi con nuôi đầy đủ Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam từ trước đến nay chưa có quy định về việc nhận nuôi con nuôi đầy đủ Đặc biệt là việc nuôi con nuôi đầy đủ sẽ dẫn đến việc chấm dứt mọi quan hệ pháp lí giữa người được nhận làm con nuôi với cha mẹ

đẻ và gia đình huyết thống Điều này có phần nào không phù hợp với phong tục, tập quán, tâm lí của người Việt Nam Trong thực tế, việc nhận nuôi con nuôi không chỉ làm xác lập mối quan hệ tình cảm giữa cha

mẹ nuôi với con nuôi, mà còn làm xuất hiện những mối quan hệ gắn bó giữa người con nuôi với các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi Để tạo môi trường gia đình tốt nhất cho trẻ em được nhận làm con nuôi, để con nuôi có thể hoà nhập với gia đình cha

mẹ nuôi thì con nuôi không chỉ có mối quan

hệ với bản thân người nhận nuôi mà còn cần thiết lập mối quan hệ gắn bó về quyền

và nghĩa vụ giữa con nuôi với các thành viên khác trong gia đình của người nhận nuôi Vì vậy, quan điểm trong việc xây

dựng Luật nuôi con nuôi là “Con nuôi không chỉ có đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lí đối với cha mẹ nuôi mà còn với ông,

bà nội ngoại, anh, chị, em trong gia đình

Với quan điểm đó, nhà làm

Trang 7

luật muốn xác lập mối quan hệ pháp lí đầy

đủ giữa con nuôi với các thành viên khác

của gia đình cha mẹ nuôi, nên Luật nuôi

con nuôi đã quy định về điều này tại khoản

1 Điều 24 Với cách hiểu này, giữa con nuôi

với các thành viên khác của gia đình cha mẹ

nuôi, mà trước hết là với cha đẻ, mẹ đẻ của

người nhận nuôi, giữa con nuôi với các con

đẻ của người nhận nuôi cũng có các quyền

và nghĩa vụ theo quy định tại Chương V

Luật HN&GĐ năm 2000.(8)

Điều đó có nghĩa

là giữa họ không chỉ có quyền và nghĩa vụ

được quy định tại Điều 49 Luật HN&GĐ

năm 2000, mà còn có các quyền và nghĩa vụ

đối với nhau theo quy định tại Điều 47, Điều

48 Luật HN&GĐ năm 2000 Khi đã có các

quyền và nghĩa vụ tại các điều này thì giữa

họ cũng có quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng

cho nhau theo quy định tại Điều 58, Điều 59

Luật HN&GĐ năm 2000 Tuy nhiên, như đã

phân tích, quy định này là chưa rõ ràng nên

chưa có cách hiểu thống nhất Đặc biệt khi

việc nhận con nuôi đầy đủ chưa trở thành

thói quen, nếp nghĩ, cách ứng xử của người

dân Việt Nam thì càng cần phải có quy định

rõ ràng về hệ quả pháp lí của việc nuôi con

nuôi trong mối quan hệ này Mặt khác, các

quy định có liên quan của pháp luật dân sự

(Nghị quyết số 02/1990/NQ-HĐTP) lại có

quy định rất rõ về các mối quan hệ này và

không thừa nhận giữa người được nhận làm

con nuôi với cha đẻ, mẹ đẻ của người nhận

nuôi đương nhiên có quan hệ giữa ông bà

và cháu, giữa con nuôi và các con đẻ của

người nhận nuôi không đương nhiên có

quan hệ anh, chị, em với nhau… mà chưa

có văn bản nào quy định khác Vì vậy, quy

định tại khoản 1 Điều 24 Luật nuôi con nuôi chưa cụ thể, chưa xác định được quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình cha, mẹ nuôi với người được nhận làm con nuôi, dẫn tới những cách hiểu khác nhau, không thống nhất

- Thứ hai, về quan hệ giữa con đã cho

làm con nuôi với cha mẹ đẻ, khoản 2 Điều

24 Luật nuôi con nuôi quy định sự chấm dứt một số quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ với người con đã cho làm con nuôi như sau:

“trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thoả thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền

và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lí, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi” Với quy

định này, về nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ làm cha mẹ được chuyển từ cha mẹ đẻ sang cha mẹ nuôi kể từ ngày việc nuôi con nuôi được pháp luật công nhận Cha mẹ đẻ không còn quyền cha mẹ đối với con đã cho làm con nuôi Quy định này là cần thiết để tránh sự tranh chấp về quyền, nghĩa vụ làm cha mẹ giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi đối với con nuôi, khắc phục được điểm hạn chế của các quy định về hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi trong các văn bản trước đây Tuy nhiên, với quy định này thì không phải mọi quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con đều đương nhiên chấm dứt mà chỉ những quyền và nghĩa vụ nào được quy định rõ tại khoản 2 Điều 24 Luật nuôi con nuôi là chấm dứt thì mới chấm dứt Điều đó cũng có nghĩa là về nguyên tắc, quan hệ pháp lí giữa cha mẹ đẻ và con đẻ đã cho

Trang 8

làm con nuôi chấm dứt trước pháp luật khi

việc nhận nuôi con nuôi có hiệu lực nhưng

quan hệ thừa kế giữa người con đó với cha

mẹ đẻ và gia đình huyết thống lại không

đương nhiên chấm dứt, mà vẫn tồn tại, vì

quan hệ thừa kế này không được liệt kê

trong quy định trên là sẽ chấm dứt Như

vậy, người con đã cho làm con nuôi vẫn có

quyền thừa kế theo luật đối với cha đẻ, mẹ

đẻ và những người họ hàng huyết thống

khác trong gia đình gốc như trước khi đi

làm con nuôi và ngược lại, cha đẻ, mẹ đẻ và

những người họ hàng huyết thống vẫn là

người thừa kế theo luật của người được

nhận làm con nuôi khi người này chết Theo

quan điểm của chúng tôi, điều này không

phù hợp với bản chất và thực tế thực hiện

quan hệ nuôi con nuôi, kể cả quan hệ nuôi

con nuôi trong nước và đặc biệt là trong

quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước

ngoài Với trường hợp được nhận nuôi con

nuôi trong nước, khi cha mẹ nuôi đã xác lập

quan hệ cha mẹ với người con nuôi thì theo

lẽ thông thường, cha mẹ nuôi mong muốn

con nuôi có cuộc sống ổn định, yên ấm

trong gia đình cha mẹ nuôi, không muốn

duy trì bất cứ mối quan hệ nào với gia đình

cha mẹ đẻ, kể cả quan hệ thừa kế, trừ

trường hợp đặc biệt (như cô, dì, cậu, chú,

bác ruột nhận cháu ruột làm con nuôi hoặc

cha dượng, mẹ kế nhận con riêng của vợ

hoặc chồng làm con nuôi) hoặc giữa cha mẹ

đẻ với cha mẹ nuôi có thoả thuận khác

Trong trường hợp trẻ em Việt Nam được

nhận làm con nuôi người nước ngoài với

hình thức nuôi con nuôi đầy đủ phù hợp với

pháp luật của nước nhận thì mọi quyền và

nghĩa vụ giữa người con đó với cha mẹ đẻ

và gia đình huyết thống là chấm dứt, do đó quan hệ thừa kế giữa người con đã cho làm con nuôi nước ngoài với cha mẹ đẻ và gia đình gốc huyết thống cũng không thể tồn tại Vì vậy, quy định về việc quan hệ thừa

kế giữa con đã cho làm con nuôi với cha mẹ

đẻ và gia đình huyết thống không đương nhiên chấm dứt như các quyền và nghĩa vụ khác là không phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế về hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi và cũng không có tính khả thi Mặt khác, trong trường hợp giữa cha mẹ

đẻ và cha mẹ nuôi có thoả thuận thì việc chấm dứt hay tồn tại quyền và nghĩa vụ gì (kể cả quyền thừa kế) giữa cha mẹ đẻ và con

đã cho làm con nuôi tuỳ thuộc vào sự thoả thuận giữa hai bên Về nguyên tắc, cha mẹ

đẻ và cha mẹ nuôi có toàn quyền thoả thuận với nhau về các quyền và nghĩa vụ làm cha

mẹ đối với người con, trên cơ sở đảm bảo mục đích của việc nuôi con nuôi là vì lợi ích tốt nhất của người được nhận nuôi Việc thoả thuận giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi bao gồm các quyền và nghĩa vụ mà cha mẹ đẻ sẽ được giữ lại đối với con và cách thức thực hiện những quyền này sau khi đã cho con làm con nuôi Việc thoả thuận này được thực hiện trước khi đăng kí việc nuôi con nuôi tại

cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải được lập thành văn bản.(9)

Văn bản ghi nhận

sự thoả thuận giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi

là cơ sở pháp lí để uỷ ban nhân dân xấp xã nơi cha mẹ nuôi thường trú kiểm tra, theo dõi tình hình thực hiện việc nuôi con nuôi theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Luật nuôi con nuôi và là cơ sở pháp lí để cơ quan có

Trang 9

thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh

giữa các bên trong quá trình thực hiện việc

nuôi con nuôi

3 Một số ý kiến hoàn thiện quy định

về hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi

Qua sự phân tích trên đây, có thể thấy về

hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi Luật

nuôi con nuôi đã có sự tiếp cận gần với

những quy định của pháp luật các nước và

pháp luật quốc tế, đã phản ánh được phần

nào bản chất và mối quan hệ giữa các chủ

thể trong quan hệ nuôi con nuôi Tuy nhiên,

bên cạnh đó, quy định về vấn đề này trong

Luật nuôi con nuôi còn tồn tại những điểm

chưa rõ ràng, rành mạch, do đó có thể dẫn

đến những cách hiểu và áp dụng pháp luật

khác nhau như đã phân tích ở trên Vì vậy,

theo chúng tôi, cần có văn bản quy định rõ

về hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi ở

một số khía cạnh cụ thể sau:

- Luật nuôi con nuôi không có quy định

nào về việc con liệt sĩ, con thương binh, con

của người có công với cách mạng được

người khác nhận làm con nuôi vẫn tiếp tục

được hưởng mọi quyền lợi của con liệt sĩ,

con thương binh, con của người có công với

cách mạng như tại Điều 74 Luật HN&GĐ

năm 2000 Vậy vấn đề này được hiểu như

thế nào theo Luật nuôi con nuôi? Có ý kiến

cho rằng vấn đề này đã được điều chỉnh

trong Pháp lệnh ưu đãi người có công với

cách mạng, do đó “đối với các trường hợp

con nuôi trước đây là con liệt sĩ, con thương

binh, con của người có công với cách mạng,

thì hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi sẽ

được thực hiện theo quy định của Luật nuôi

con nuôi, còn việc hưởng các quyền lợi của cha mẹ đẻ sẽ được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công với

Tuy nhiên, việc nhận nuôi con nuôi thiết lập quan hệ cha mẹ và con mới, không gắn với huyết thống, nên các quyền lợi của người con đã cho làm con nuôi phát sinh trong quan hệ với cha mẹ đẻ không đương nhiên còn tồn tại mà tuỳ thuộc vào quy định của pháp luật Do đó, để các bên chủ thể hiểu rõ các quyền, nghĩa vụ trong quan hệ nuôi con nuôi, cũng như áp dụng pháp luật thống nhất để giải quyết tranh chấp khi phát sinh thì cần có quy định rõ và thống nhất về vấn đề này Vì vậy, Luật nuôi con nuôi cần quy định rõ như đoạn 2 Điều 74 Luật HN&GĐ năm 2000

- Quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật nuôi con nuôi là chưa rõ ràng, có thể dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau Mặc dù quan điểm của nhà lập pháp là muốn xác lập đầy

đủ các quyền và nghĩa vụ giữa con nuôi không chỉ với cha mẹ nuôi mà còn với các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi nhưng thực tế quy định này đã không được hiểu như vậy, từ góc độ thực tiễn và góc độ khoa học

Theo quan điểm của chúng tôi, việc nuôi con nuôi có làm phát sinh đầy đủ các quyền

và nghĩa vụ giữa con nuôi với các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi hay không tuỳ thuộc vào việc nuôi con nuôi được xác lập theo hình thức nào: đơn giản hay đầy đủ Phù hợp với logic quy định tại Điều 24 Luật nuôi con nuôi, chúng tôi cho rằng nếu giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi không có thoả

Trang 10

thuận gì khác thì việc nuôi con nuôi có hiệu

lực làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ

giữa người con với cha mẹ đẻ và gia đình

huyết thống đồng thời làm phát sinh đầy đủ

các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con

giữa cha mẹ nuôi với con nuôi giữa con nuôi

với các thành viên khác trong gia đình cha

mẹ nuôi như con đẻ của người nhận nuôi, kể

cả quyền thừa kế Điều đó cũng có nghĩa là

cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thể và cần lựa

chọn quyết định xác lập quan hệ nuôi con

nuôi theo hình thức nào, và quyết định đó

của họ chi phối đến hệ quả pháp lí phát sinh

sau khi việc nhận nuôi con nuôi được hoàn

tất về thủ tục

Do đó, ý chí của cha mẹ đẻ và cha mẹ

nuôi là yếu tố quyết định hệ quả pháp lí của

việc nuôi con nuôi song điều đó phải được

pháp luật ghi nhận Với logic như vậy thì hệ

quả pháp lí của việc nuôi con nuôi có thể

được quy định theo hai trường hợp:

Thứ nhất, có sự thoả thuận tự nguyện

giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi về các quyền

và nghĩa vụ pháp lí giữa cha mẹ đẻ, cha mẹ

nuôi, con nuôi cũng như giữa con nuôi với

gia đình cha mẹ đẻ hoặc giữa con nuôi với

các thành viên khác trong gia đình của cha

mẹ nuôi Sự thoả thuận này bao gồm cả hai

hướng: Chấm dứt hoặc giữ lại toàn bộ hay

một phần các quyền và nghĩa vụ pháp lí giữa

các bên chủ thể có liên quan Sự thoả thuận

này được lập thành văn bản có sự chứng kiến

của cơ quan nhà nước có thẩm quyền công

nhận việc nuôi con nuôi

Thứ hai, nếu giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ

nuôi không có thoả thuận gì về các quyền và

nghĩa vụ pháp lí giữa các bên sau khi quan

hệ nuôi con nuôi được xác lập thì quan hệ giữa con đã cho làm con nuôi với cha mẹ đẻ

và gia đình gốc huyết thống chấm dứt toàn

bộ, kể cả quan hệ thừa kế đồng thời con nuôi được hưởng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ trong gia đình cha mẹ nuôi, gồm cả quan hệ với các thành viên khác của gia đình cha nuôi, mẹ nuôi như con đẻ của người nhận nuôi, kể cả quyền thừa kế theo luật

Quy định như vậy vừa rõ ràng, vừa thể hiện sự tôn trọng quyền tự quyết gắn liền với nhân thân của các đương sự, đảm bảo sự tương thích với quy định của pháp luật các nước, do đó có tính khả thi và thống nhất khi thực hiện, áp dụng pháp luật./

(1).Xem: Điều 347 Bộ luật dân sự Pháp, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005

(2).Xem: Khoản 1 Điều 345 Bộ luật dân sự Pháp, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005

(3).Xem: Điều 358 và Điều 359 Bộ luật dân sự Pháp, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005

(4).Xem: Điều 23 Luật nuôi con nuôi của Trung Quốc

có hiệu lực từ ngày 01/4/1999

(5).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình

Luật dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội, 2005, tr 341; xem: Khoa luật, Viện đại học mở

Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự (tập II), Nxb Công

an nhân dân, tr 285 - 286

(6).Xem: Mục 5, mục 6 Nghị quyết số 02/1990/NQ-HĐTP

(7).Xem: Bản thuyết minh về Dự án Luật nuôi con nuôi của Bộ tư pháp, ngày 30/9/2009

(8).Xem: Triệu Thị Thu Thuỷ, “Hệ quả pháp lí của

nuôi con nuôi”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số

chuyên đề Pháp luật về nuôi con nuôi, Hà Nội,

2011, tr 45

(9).Xem: Điều 20, Điều 21 Luật nuôi con nuôi, khoản 3 Điều 8 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 quy định chi tiết một số điều của Luật nuôi con nuôi (10).Xem: Triệu Thị Thu Thuỷ, tlđd, tr 47

Ngày đăng: 17/02/2014, 02:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w