Phương pháp nghiên cứu Luận văn đã vận dụng phương pháp phân tích nội dung để đo lường mức độ CBTT về QLRR và phương pháp phân tích hồi quy để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến mức
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng - Năm 2018
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hữu Cường
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Võ Hoàng Tùng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO 10
1.1 CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO 10
1.1.1 Công bố thông tin 10
1.1.2 Yêu cầu về công bố thông tin 11
1.1.3 Quản lý rủi ro 13
1.1.4 Công bố thông tin về quản lý rủi ro 14
1.2 YÊU CẦU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO 14
1.3 ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO 15
1.3.1 Đo lường bằng thang đo không trọng số 15
1.3.2 Đo lường bằng thang đo có trọng số 15
1.4 LÝ THUYẾT KHUNG VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO 15
1.4.1 Lý thuyết đại diện (Agency Theory) 16
1.4.2 Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory) 17
1.4.3 Lý thuyết chính trị (Political Theory) 17
1.4.4 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary Cost Theory) 18
1.4.5 Lý thuyết kinh tế thông tin (Information Economics Theory) 19 1.5 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
Trang 51.5.1 Quy mô DN 20
1.5.2 Tỷ suất nợ 21
1.5.3 Khả năng sinh lời 21
1.5.4 Khả năng thanh toán 22
1.5.5 Chủ thể kiểm toán 23
1.5.6 Đặc điểm hội đồng quản trị 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 26
2.1 THỰC TRẠNG NGÀNH TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM 26
2.2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 28
2.3 XÂY DỰNG CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 28
2.3.1 Quy mô doanh nghiệp 28
2.3.2 Tỷ lệ nợ 29
2.3.3 Khả năng sinh lời 30
2.3.4 Khả năng thanh toán 30
2.3.5 Chủ thể kiểm toán 31
2.3.6 Mức độ độc lập của thành viên hội đồng quản trị 31
2.4 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 32
2.4.1 Mô hình nghiên cứu 32
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu 35
2.4.3 Đo lường biến phụ thuộc 35
2.4.4 Đo lường biến độc lập 41
2.5 MẪU NGHIÊN CỨU VÀ THU THẬP DỮ LIỆU 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 43
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
3.1 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH TÀI CHÍNH NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM 44
3.1.1 Thống kê mô tả chỉ số công bố thông tin về quản lý rủi ro 44
Trang 63.1.2 Đánh giá mức độ công bố thông tin về quản lý rủi ro 47
3.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO 47
3.2.1 Thống kê mô tả các biến độc lập 47
3.2.2 Phân tích mối tương quan giữa các biến trong mô hình 49
3.2.3 Kiểm định phân phối chuẩn 50
3.2.4 Phân tích mô hình hồi quy 51
3.2.5 Đánh giá kết quả nghiên cứu 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 72
CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN 73
4.1 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO Ở VIỆT NAM 73
4.1.1 Về tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành 74
4.1.2 Về khả năng thanh toán 75
4.1.3 Về quy mô doanh nghiệp 76
4.1.4 Các kiến nghị khác 77
4.2 KẾT LUẬN 81
4.2.1 Kết quả đạt được 81
4.2.2 Hạn chế của nghiên cứu 82
KẾT LUẬN 84 PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (BẢN SAO)
Trang 8Bảng thống kê mô tả biến chỉ số công bố thông tin về
quản lý rủi ro của các doanh nghiệp ngành tài chính niêm
yết ở Việt Nam qua 3 năm
44
3.2
Bảng thống kê mô tả chỉ số công bố thông tin về quản lý
rủi ro của các doanh nghiệp ngành tài chính niêm yết trên
3.6 Bảng kết quả hồi quy mô hình Pooled OLS phương trình 1 52 3.7 Bảng kết quả hồi quy mô hình Pooled OLS phương trình 2 54 3.8 Bảng kết quả hồi quy mô hình FEM phương trình 1 56 3.9 Bảng kết quả hồi quy mô hình FEM phương trình 2 58 3.10 Bảng kết quả hồi quy mô hình REM phương trình 1 60 3.11 Bảng kết quả hồi quy mô hình REM phương trình 2 62 3.12 Bảng kết quả hồi quy mô hình REM tối ưu phương trình 1 66 3.13 Bảng kết quả hồi quy mô hình REM tối ưu phương trình 2 67
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các DN Việt Nam phải thường xuyên đối mặt với rủi ro ngày càng đa dạng và phức tạp Nếu rủi ro xảy ra đồng nghĩa với DN phải chịu tổn thất về giá trị hoặc mục tiêu đặt ra của họ bị ảnh hưởng Bên cạnh đó, khi mà mục tiêu của DN là lợi nhuận thì công tác QLRR có vai trò đặc biệt quan trọng, vì nó giúp giữ được những đồng tiền mà công ty kiếm được Rủi ro là điều tất yếu của hoạt động kinh doanh, lợi nhuận cao luôn song hành với rủi ro lớn Vì thế, đương đầu và QLRR là phần không thể thiếu của bất kỳ DN nào nếu muốn tạo ra lợi nhuận Do đó, việc QLRR trong DN là một vấn đề quan trọng mà DN cần phải chú trọng quan tâm hàng đầu
Toàn cầu hóa cũng đã đặt ra một thách thức đối với lĩnh vực QLRR trong ngành tài chính Do các DN nói chung và ngành tài chính nói riêng luôn mong muốn gia tăng về quy mô vì vậy rủi ro cũng gia tăng tỷ lệ thuận với quy
mô Ngoài ra, các tổ chức tài chính đang phải đối mặt với nguy cơ gia tăng rủi
ro vì họ đang chấp nhận đầu tư vào các dự án có mức rủi ro cao hơn Chẳng hạn việc các ngân hàng đang mở rộng tín dụng cho người có thu nhập thấp, người có thu nhập không đáng tin cậy cũng là minh chứng cho thực trạng này Việc đa dạng hóa sản phẩm như vậy có thể tác động tích cực đến lợi nhuận nhưng nó lại mang lại rủi ro lớn trong tương lai Ở nước ta, theo đánh giá của Moody's1 năm 2017 thì rủi ro của ngành ngân hàng Việt được coi là nghiêm trọng nhất trong số các quốc gia được tổ chức này xếp hạng ở khu vực Châu
Á Thái Bình Dương (Quỳnh Như, 2017) Trong bối cảnh này, các nhà đầu tư,
Trang 10
cổ đông và các bên có liên quan có quyền và mong muốn được biết tất cả các thông tin về rủi ro và QLRR của DN từ đó đưa ra các quyết định có liên quan Tuy vậy, cho đến thời điểm hiện tại thì các nghiên cứu liên quan đến QLRR và CBTT về QLRR chủ yếu là của các tác giả ngoài nước, và tập trung chủ yếu ở các nước phát triển Phần lớn các nghiên cứu này tập trung nghiên cứu các đối tượng là các công ty thuộc nhóm ngành phi tài chính niêm yết Hiện nay, tại Việt Nam các nghiên cứu về CBTT về QLRR của các Công ty thuộc ngành tài chính vẫn còn hạn chế
Với các lí do trên, đề tài nghiên cứu của luận văn được chọn là: “Nghiên
cứu công bố thông tin về quản lý rủi ro của các Công ty thuộc ngành tài chính niêm yết ở Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu
− Đánh giá thực trạng việc CBTT về QLRR của các DN thuộc nhóm ngành tài chính niêm yết ở Việt Nam thông qua đo lường mức độ CBTT về QLRR
− Nhận diện và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc CBTT về QLRR
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ tiến hành đo lường mức độ CBTT về QLRR trên báo cáo tài chính (đã kiểm toán) hoặc báo cáo tài chính hợp nhất (đã kiểm toán) cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2014, 31/12/2015 và 31/12/2016 của tất cả các công ty thuộc ngành tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) vàSở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)
Số lượng mẫu: 38 công ty trong 3 năm tương ứng với 114 quan sát (BCTC)
Trang 114 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã vận dụng phương pháp phân tích nội dung để đo lường mức
độ CBTT về QLRR và phương pháp phân tích hồi quy để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT về QLRR:
- Trên cơ sở thang đo mức độ CBTT về QLRR đã được xây dựng trên căn cứ vào các quy định về CBTT về QLRR có liên quan, luận văn đã đo lường mức độ CBTT về QLRR trên BCTC năm 2014, 2015 và 2016 của các
DN thuộc ngành tài chính niêm yết ở Việt Nam
- Ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT về QLRR được kiểm chứng thông qua phân tích hồi quy bằng các phương pháp phân tích hồi quy: Pooled Ordinary List Squares, Fix Effect Model và Random Effect Model
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các từ viết tắt, danh mục các hình, các bảng và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 4 Chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về CBTT về QLRR Chương 2 Thiết kế nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu
Chương 4 Hàm ý chính sách và kết luận
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Oliveira, Rodrigues và Craig (2001) đã thực hiện một nghiên cứu thăm
dò về CBTT rủi ro trong báo cáo hàng năm của các tổ chức tín dụng tại Bồ Đào Nha Nghiên cứu này đánh giá các hoạt động báo cáo rủi ro của 190 tổ chức tín dụng ở Bồ Đào Nha dựa trên phân tích nội dung của từng báo cáo thường niên Ngoài ra, các tác giả còn đánh giá mức độ thay đổi về công bố rủi ro trước và sau khi áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) số
7 và Basel II Kết quả cho thấy rằng việc áp dụng IFRS đã làm tăng số lượng
Trang 12thông tin liên quan đến rủi ro được công bố so với yêu cầu của chính sách Kế toán ban đầu của Bồ Đào Nha Tuy nhiên, vị trí của các thông tin công bố không đồng nhất Các ngân hàng thương mại thường báo cáo về rủi ro trong các phần cụ thể của báo cáo hàng năm Ngược lại, các công ty tài chính đã cho thấy mức độ báo cáo thấp hơn và thông tin được phân tán trong suốt Báo cáo thường niên, làm giảm khả năng hiểu được Tuy nhiên, khoảng trống của nghiên cứu này là không phân tích chuyên sâu về chất lượng công bố; Khả năng cung cấp thông tin về rủi ro có thể được báo cáo qua các phương tiện truyền thông khác ngoài báo cáo thường niên (chẳng hạn như báo cáo giữa niên độ, thông cáo báo chí, các trang web, các cuộc họp chuyên gia phân tích hoặc bản cáo bạch) và các dữ liệu dùng để phân tích được công bố trước ngày vận dụng IFRS 7 và Basel II
Lajili và Zeghal (2005) đã nghiên cứu CBTT về rủi ro và thông tin vè QLRR trong báo cáo hàng năm của công ty Canada trong năm 1999 để cung cấp những hiểu biết sâu sắc về môi trường CBTT rủi ro hiện tại, đặc tính của
nó và tính hữu ích của các thông tin được công bố cho các bên liên quan của công ty Trong nghiên cứu này, các tác giả đã phân tích nội dung CBTT về rủi
ro và về QLRR trên báo cáo thường niên của 300 công ty tại Canada Họ đã tiến hành phân tích mức độ và tính chất của các thông tin liên quan đến rủi ro, cũng như khối lượng (số từ, số câu) và vị trí của các thông tin đó (trên thuyết minh báo cáo tài chính hay trên phần thảo luận và phân tích quản lý) Kết quả thu được của nghiên cứu là: Các loại rủi ro được trích dẫn thường xuyên nhất
là rủi ro tài chính, rủi ro hàng hóa và thị trường (rủi ro kinh doanh); Các thông tin rủi ro do công ty Canada công bố gần như đảm bảo về bản chất và chất lượng và được trình bày trong các thuyết minh báo cáo tài chính và trong phần Thảo luận và Phân tích Quản lý theo các quy định về công bố rủi ro của Canada; Mức độ công bố rủi ro cao thể hiện ở cả việc CBTT về QLRR bắt
Trang 13buộc và tự nguyện Các tác giả kết luận rằng có thể công bố nhiều hơn nữa và toàn diện rủi ro trong tương lai nhằm giảm bớt những thông tin bất đối xứng giữa nhà quản lý và các bên liên quan Tuy nhiên, khoảng trống của nghiên cứu này là nghiên cứu chỉ chủ yếu nhấn mạnh nghiên cứu về các loại rủi ro phi tài chính như rủi ro về kinh doanh và hoạt động, rủi ro về chính sách và rủi ro môi trường, vì họ cho rằng rủi ro tổng thể của một công ty có thể được suy ra từ rủi ro hoạt động phi tài chính
Tương tự, Linsley và Shrives (2006) đã nghiên cứu về CBTT về rủi ro trong báo cáo thường niên của các công ty ở Anh Nghiên cứu này khảo sát CBTT rủi ro của 79 báo cáo thường niên của công ty phi tài chính ở Anh vào năm 2000 bằng cách sử dụng phương pháp phân tích nội dung Nghiên cứu tìm thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa mức độ CBTT về rủi ro (phi tài chính và tài chính) với quy mô công ty, và mối quan hệ ngược chiều giữa số lượng CBTT với mức độ rủi ro về môi trường của công ty Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ khảo sát trên báo cáo thường niên của các công ty phi tài chính
và các nhân tố được đưa vào vẫn còn hạn chế
Amran, Bin và Hassan (2009) nghiên cứu CBTT về QLRR trong báo cáo thường niên của Malaysia Mục đích của nghiên cứu này là để đánh giá mức
độ của việc CBTT rủi ro trên Báo cáo thường niên của các công ty Malaysia bằng cách tập trung vào phần phi tài chính của các Báo cáo Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu này là phân tích nội dung Tổng cộng 100 báo cáo thường niên của các công ty niêm yết đã được phân tích để đánh giá mức
độ CBTT về rủi ro và kiểm tra mối quan hệ của nó với đặc thù của công ty và chiến lược đa dạng hóa Ngoài ra, lý thuyết các bên liên quan đã được sử dụng để giải thích mối liên hệ giữa các biến Nghiên cứu đã phát hiện ra quy
mô công ty có ảnh hưởng và đã được chứng minh bằng các kết quả hồi quy Kết quả này phù hợp với dự đoán của các tác giả và nó được giải thích từ lý
Trang 14thuyết các bên liên quan Cụ thể, khi công ty phát triển về quy mô, nó sẽ thu hút nhiều bên liên quan quan tâm hơn đến các vấn đề của công ty, từ đó yêu cầu CBTT về QLRR cũng tăng lên Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ khảo sát ban đầu về CBTT về QLRR thực tế tại Malaysia, vì vậy chỉ một vài biến được
sử dụng trong nghiên cứu Ngoài ra, nghiên cứu này sử dụng lại danh mục đánh giá của Linsley và Shrives (2006)
Elzahar và Hussainey (2012) nghiên cứu các yếu tố quyết định của việc CBTT về rủi ro trong các báo cáo giữa niên độ ở Anh Nghiên cứu này cũng
sử dụng phân tích nội dung để đo lường mức độ CBTT rủi ro trên các báo cáo giữa niên độ (từ ngày 1 tháng 6 năm 2009 đến ngày 31 tháng 5 năm 2010) của các công ty phi tài chính ở Anh Ngoài ra, nghiên cứu cũng sử dụng phân tích hồi quy bình phương nhỏ nhất để kiểm tra tác động của các đặc tính cụ thể và các cơ chế quản trị DN đối với CBTT rủi ro Kết quả ghi nhận được rằng các công ty lớn công bố nhiều thông tin rủi ro hơn trong các báo cáo giữa niên độ.Bên cạnh đó, kết quả chứng tỏ được rằng các công ty thuộc ngành công nghiệp có mức độ CBTT rủi ro trong báo cáo giữa niên độ cao hơn Tuy nhiên, các đặc điểm cụ thể khác của công ty (như tính thanh khoản, khả năng chi trả, …) và các cơ chế quản trị DN lại không có tác động không đáng kể đến CBTT rủi ro của công ty Nghiên cứu này chỉ nghiên cứu trên báo cáo giữa niên độ ở Anh và các nhân tố ảnh hưởng đưa vào nghiên cứu vẫn còn hạn chế
Ismail và Rahman (2013) nghiên cứu CBTT về QLRR của các công ty niêm yết tại Malaysia Mục đích của nghiên cứu này là để kiểm tra mức độ CBTT về QLRR trong số 150 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Malaysia có giá trị vốn hóa cao nhất tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2007 Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, các tác giả đã loại bỏ các công ty trong ngành tài chính như ngân hàng, bảo hiểm, tín dụng, quỹ và chứng khoán khỏi
Trang 15mẫu do tính chất kinh doanh Phương pháp đánh giá được sử dụng là đánh giá theo thang điểm gồm 2 phần: thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện Kết quả cho thấy công tác QLRR tương đối thấp bất kể tầm quan trọng của thông tin này Các tác giả kết luận rằng các cơ quan quản lý phải thực hiện thêm các biện pháp để đảm bảo CBTT ra công chúng nhiều hơn Khoảng trống của nghiên cứu này là chỉ nghiên cứu với các công ty phi tài chính niêm yết ở Malaysia
Kolmatsui, Legenzova và Seilius (2016) đã đánh giá rủi ro và thông tin QLRR của các công ty niêm yết tại Nasdaq OMX Baltic và Euronext Brussels Mục đích chính của nghiên cứu này là đánh giá sự khác biệt giữa CBTT rủi ro và QLRR giữa các công ty niêm yết tại Nasdaq OMX Baltic và Euronext Brussels và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến những khác biệt đó Các tác giả đã sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng bằng cách phân tích nội dung, cũng như các phân tích hồi quy Kết quả cho thấy các công ty niêm yết tại Euronext Brussels công bố nhiều thông tin về QLRR
và rủi ro hơn Thông tin liên quan đến rủi ro và QLRR có tính định tính, chủ yếu tập trung vào các sự kiện trong quá khứ hoặc hiện tại ở cả hai sàn Các công ty CBTT về các rủi ro nhiều hơn là về QLRR và chỉ có quy mô công ty
và sự hiện diện của các công ty kiểm toán là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến CBTT về QLRR và rủi ro của các Công ty
Samanta và Dugal (2016) đã nghiên cứu đánh giá bản chất và đặc điểm của báo cáo QLRR theo quy định của các ngân hàng tư nhân và ngân hàng công ở Ấn Độ Báo cáo CBTT năm 2012-2013 của 38 của ngân hàng được lựa chọn để về nội dung theo yêu cầu của Basel II Kết quả cho thấy phần lớn CBTT của các ngân hàng tập trung vào rủi ro tín dụng và tỷ lệ an toàn vốn và
số lượng CBTT khác nhau giữa các ngân hàng Trong số ba loại rủi ro lớn (thị trường, tín dụng và hoạt động), công bố rủi ro trong hoạt động là ít nhất, các
Trang 16ngân hàng hầu như chỉ công bố tối thiểu về một số khía cạnh chính của rủi ro hoạt động Ngoài ra, các tác giả quan sát thấy rằng quy mô tài sản và thu nhập ròng tỷ lệ thuận với mức độ công bố theo quy định
Zéghal và El Aoun (2016) đã điều tra tác động của cuộc khủng hoảng tài chính đối với vấn đề QLRR trong các ngân hàng lớn nhất của Mỹ Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nội dung 59 báo cáo thường niên của ngân hàng lớn nhất của Mỹ trong những năm 2006, 2007, 2008 và 2009 Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng đến mức độ xảy ra rủi ro và hậu quả của nó sau cuộc khủng hoảng (rủi ro có thể xảy ra với mức độ cao hơn với những hậu quả nghiêm trọng hơn) Số ngân hàng công bố mức độ QLRR tăng sau cuộc khủng hoảng đặc biệt là đối với rủi ro hệ thống
Jia, Munro và Buckby (2016) nghiên cứu xem xét “chất lượng” của việc CBTT về QLRR từ quan điểm “số lượng” và “phong phú” (chiều rộng và chiều sâu) CBTT về QLRR trong Báo cáo thường niên từ 100 công ty niêm yết hàng đầu của Úc trong năm 2010 và 2012 đã được nghiên cứu bằng phân tích nội dung và phân tích hồi qui bình phương bé nhất Kết quả cho thấy mức
độ CBTT về QLRR đang thiếu chất lượng, từ “số lượng”, “chiều rộng” và đặc biệt là “chiều sâu” cho cả hai năm Nhiều công ty không tuân thủ mục tiêu của nguyên tắc và khuyến cáo về quản trị DN của Sở giao dịch chứng khoán
Úc Một số bằng chứng cho thấy mức độ CBTT về QLRR “chất lượng” tỷ lệ nghịch với đòn bẩy tài chính và mức độ tập trung của cổ đông
Singh (2017) đã đo lường mức độ CBTT rủi ro tự nguyện, kiểm tra mối quan hệ giữa chất lượng quản trị công ty dưới dạng đặc điểm của hội đồng quản trị và ảnh hưởng của sự tập trung quyền sở hữu với việc CBTT rủi ro trong các báo cáo thường niên của các công ty niêm yết ở Ấn Độ Phương pháp áp dụng trong nghiên cứu này là phân tích nội dung được áp dụng cho
Trang 17một mẫu gồm 100 công ty phi tài chính ở Ấn Độ được niêm yết để tìm ra mức
độ của việc CBTT về rủi ro Hơn nữa, phân tích hồi quy đa biến đã được áp dụng để tìm ra mối quan hệ giữa chất lượng quản trị công ty dưới hình thức đặc điểm hội đồng quản trị, tỷ lệ sở hữu và CBTT rủi ro
Achmad, Faisal và Oktarina (2017) đã nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thực tế CBTT tự nguyện của các công ty tại Indonesia Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của quản trị DN và đặc điểm công ty đến việc CBTT
về rủi ro của các công ty đại chúng tại Indonesia Tổng cộng 118 báo cáo thường niên đã được phân tích bằng cách sử dụng phương pháp phân tích nội dung Nghiên cứu đã vận dụng danh mục kiểm tra của Linsley và Shrives (2006) và mở rộng thêm để đo lường mức độ CBTT về rủi ro Kết quả cho thấy chỉ số CBTT về rủi ro trung bình là 32% Phân tích thống kê cho thấy quy mô công ty kiểm toán, quy mô công ty và hoạt động tài chính tác động tích cực đến mức độ CBTT về rủi ro Ý nghĩa của các phát hiện này cho thấy thực tế về quản trị DN ở Indonesia không đủ khuyến khích các công ty CBTT
về rủi ro nhiều hơn Nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về tình hình CBTT về rủi ro hiện tại và vai trò của các công ty kiểm toán trong việc tăng cường CBTT về rủi ro ở Indonesia - một nước đang phát triển
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO
1.1 CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO
1.1.1 Công bố thông tin
Theo Sổ tay CBTT dành cho công ty niêm yết của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (2013): “Công bố thông tin được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của DN nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời”
“Tầm quan trọng của việc công bố thông tin của công ty bắt nguồn từ việc đó là một phương tiện giao tiếp giữa nhà quản lý với các nhà đầu tư bên ngoài và những người tham gia thị trường nói chung” (Hassan & Marston, 2010) Bên cạnh đó, “Công bố thông tin có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo tính minh bạch của thị trường chứng khoán thông qua việc giảm thiểu tác động của sự bất đối xứng thông tin, từ đó đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên” (Nguyễn Hữu Cường, 2015) Thông tin công bố đầy đủ, chi tiết, trung thực sẽ giảm mất cân đối thông tin, góp phần bảo vệ các nhà đầu tư và những
cổ đông Vì vậy, tăng cường CBTT của công ty giúp giảm thiểu các vấn đề này
CBTT bao gồm ba loại đó là CBTT bắt buộc, CBTT tự nguyện và CBTT tùy ý
CBTT bắt buộc: Là những thông tin công bố theo yêu cầu bởi luật pháp
và những quy định có liên quan Các thông tin bắt buộc phải công bố trên các BCTC được quy định tùy thuộc vào từng quốc gia và vùng lãnh thổ Các thông tin bắt buộc này có thể được công bố định kỳ và thường xuyên
CBTT tự nguyện: Là những thông tin không bắt buộc phải công bố theo
quy định luật pháp mà do các DN tham gia trên TTCK chủ động và tự nguyện
Trang 19công bố Các DN CBTT tự nguyện nhằm mục đích nâng cao uy tín, gia tăng niềm tin của các nhà đầu tư, giảm thiểu chi phí huy động vốn, và làm giảm rủi
ro phát sinh
CBTT tùy ý: Là một trường hợp đặc biệt của CBTT bắt buộc CBTT tùy
ý được xem là những thông tin bắt buộc phải công bố theo quy định của pháp luật nhưng hiện nay các văn bản pháp luật vẫn chưa quy định rõ ràng về mức
độ CBTT như thế nào (chiều sâu) nên DN có thể tùy ý điều chỉnh mức độ CBTT nhiều hay ít nhằm đem lại lợi ích cho DN
1.1.2 Yêu cầu về công bố thông tin
a Công bố thông tin theo quy định của chuẩn mực kế toán
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01, việc CBTT kế toán phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau:
Trung thực: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo
Đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót
Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ
Dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong BCTC phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng Người sử dụng ở đây được hiểu là người
có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình Thông tin về những vấn đề phức tạp trong BCTC phải được giải trình trong phần thuyết minh
Trang 20Có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một DN và giữa các DN chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng BCTC có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các DN hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch
b Công bố thông tin kế toán trong báo cáo tài chính
BCTC là một trong các công cụ để DN truyền tải thông tin về tình hình hoạt động của DN ra bên ngoải và được xem như là công cụ hữu ích nhất của
DN trong việc truyền tải thông tin đến các đối tượng quan tâm trên thị trường Ngoài ra, Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 - Chuẩn mực chung cũng quy định rõ các yếu tố cơ bản của BCTC Theo đó, BCTC phản ánh tình trạng tài chính của DN bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tố của BCTC Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định tình hình tài chính trong bảng cân đối kế toán đó là tài sản,
nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Các yếu tố liên quan trực tiếp tới việc đánh giá tình hình và kết quả kinh doanh đó là doanh thu, thu nhập khác, chi phí và lợi nhuận của DN
c Công bố thông tin đối với các doanh nghiệp niêm yết
DN niêm yết CBTT nhằm giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin giữa các bên liên quan: nhà quản lý, chủ sở hữu, nhà đầu tư… Áp lực CBTT sẽ tăng lên khi DN gia tăng về quy mô, đối tượng chủ sở hữu được mở rộng dẫn đến khoảng cách giữa chủ sở hữu và nhà quản lý trở nên lớn hơn Ngoài ra, nhu cầu tìm kiếm thông tin về DN không chỉ riêng chủ sở hữu mà còn là các nhà đầu tư đang quan tâm đến DN Chính vì vậy, yêu cầu về CBTT đặt ra cho các
DN niêm yết luôn chặt chẽ và đầy đủ hơn các DN khác
Trang 21Nhà nước và các cơ quan quản lý đã đưa ra các quy định nhằm ngăn chặn việc che dấu thông tin hay CBTT thiếu chính xác làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng thông tin và cũng để duy trì một cơ chế giám sát
có hiệu quả từ các bên liên quan và công chúng đầu tư đối với hoạt động của
DN niêm yết Việc CBTT chính xác có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo lập và duy trì niềm tin của công chúng đầu tư đối với các DN niêm yết Để đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư cũng như sự phát triển bền vững của thị trường và đáp ứng nhu cầu quản lý của Nhà nước, Luật chứng khoán yêu cầu một sự CBTT cao hơn Cụ thể, Thông tư 155/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính yêu cầu việc CBTT của các DN niêm yết thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin phải đảm bảo tính “đầy đủ, chính xác và kịp thời” theo quy định của pháp luật và hoạt động CBTT phải do người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền thực hiện và phải chịu trách nhiệm về nội dung được công bố (Bộ Tài chính, 2015)
1.1.3 Quản lý rủi ro
COSO2 định nghĩa quản lý rủi ro doanh nghiệp “là một quy trình được thiết lập bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các cán bộ có liên quan khác áp dụng trong quá trình xây dựng chiến lược doanh nghiệp thực hiện xác định những sự vụ có khả năng xảy ra gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp đồng thời quản lý rủi ro trong phạm vi cho phép nhằm đưa ra mức độ đảm bảo trong việc đạt được mục tiêu của doanh nghiệp” Trong khi đó, rủi ro được định nghĩa là tập hợp của các khả năng có thể xảy ra của một sự việc nào đó cũng như hậu quả của nó
Quy trình quản lý rủi ro được thiết kế mang tính đồng bộ và có sự gắn kết với việc xây dựng và thực thi chiến lược của DN Về cơ bản, quy trình QLRR cần chứa đựng những giai đoạn hay bước công việc cơ bản như xác
Trang 22định rủi ro, mô tả rủi ro, lượng hóa rủi ro, phân tích rủi ro, xếp hạng rủi ro, đánh giá rủi ro, lập báo cáo về rủi ro, xử lý rủi ro, theo dõi và rà soát quy trình trình QLRR
1.1.4 Công bố thông tin về quản lý rủi ro
CBTT về QLRR là việc thông báo đến công chúng đầu tư về các loại rủi
ro công ty đang và sẽ phải đối mặt và cách thức công ty đối phó với những rủi
ro đó như thế nào nhằm tạo niềm tin với công chúng đầu tư về khả năng đối phó với rủi ro của DN, từ đó thu hút tài trợ từ các nhà đầu tư
Nội dung CBTT liên quan đến QLRR bao gồm:
Nhận diện các loại rủi ro như: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, thị trường bao gồm: biến động lãi suất, rủi ro tiền tệ, rủi ro giá cả hàng hóa, rủi ro liên quan đến chứng khoán phái sinh…
Cách thức đo lường, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các rủi ro đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN hoặc mục tiêu của DN trong tương lai Chính sách, kỹ thuật, công cụ, biện pháp sử dụng để hạn chế, đối phó, giảm thiểu rủi ro của DN
1.2 YÊU CẦU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO
Ngày 06 tháng 11 năm 2009, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 210/2009/TT-BTC hướng dẫn áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày báo cáo tài chính và thuyết minh thông tin đối với công cụ tài chính và được áp dụng cho mọi đơn vị thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế tại Việt Nam có các giao dịch liên quan đến công cụ tài chính Trong Thông tư này có quy định về trình bày các rủi ro và cách thức các công ty quản lý các rủi ro đó trong phần thuyết minh
Trang 231.3 ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO
1.3.1 Đo lường bằng thang đo không trọng số
Trên cơ sở hệ thống các chỉ mục thông tin cần công bố đã được xây dựng, từng mục thông tin tương ứng trong BCTC được nghiên cứu sẽ được gán giá trị bằng một (1) nếu thông tin đó được công bố, hoặc được gán giá trị bằng không (0) nếu thông tin đó không công bố, hoặc gán giá trị không liên quan (NA) nếu thông tin đó chắc chắn không liên quan đến DN Việc đo lường CBTT theo phương pháp này chỉ dừng lại ở chừng mực ghi nhận có hay không việc thông tin được công bố và nhà nghiên cứu ngầm định tất cả các chỉ mục đều quan trọng như nhau
1.3.2 Đo lường bằng thang đo có trọng số
Ngược lại, các chỉ mục thông tin cần công bố đã xây dựng trong phương pháp đo lường bằng thang đo có trọng số được đánh giá có tính hữu ích và mức độ quan trọng khác nhau đối với người sử dụng và do vậy được gán bởi các trọng số khác nhau khi đánh giá mức độ CBTT Chẳng hạn, nếu một mục thông tin không được công bố sẽ được gán giá trị bằng không (0), bằng (1) nếu là công bố định tính, và bằng (2) nếu là công bố bao gồm cả định tính và định lượng
Trong luận văn này phương pháp đo lường bằng thang đo không có trọng số được áp dụng để đo lường mức độ CBTT về QLRR bắt buộc và tùy
Trang 24lại khi CBTT về QLRR Sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT
về QLRR có thể được lý giải theo nhiều lý thuyết khác nhau Các nghiên cứu trước đây sử dụng nhiều lý thuyết khác nhau để giải thích sự chênh lệch về mức độ CBTT về QLRR cũng như sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT về QLRR Các lý thuyết được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu trước đây gồm: lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết chi phí chính trị, lý thuyết chi phí sở hữu, và lý thuyết kinh tế thông tin
1.4.1 Lý thuyết đại diện (Agency Theory)
Lý thuyết đại diện được phát triển bởi Jensen và Meckling trong một công
bố năm 1976 Lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền (cổ đông/chủ sở hữu công ty và nhà quản lý/ban giám đốc công ty) Nếu cả hai bên trong mối quan hệ này đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì chắc chắn rằng người quản lý DN sẽ không hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ sở hữu, mà trái lại, họ luôn có xu hướng tìm kiếm lợi ích cá nhân
Lý thuyết đại diện cho rằng xung đột sẽ phát sinh khi có thông tin không đầy đủ và bất cân xứng giữa cổ đông/chủ sở hữu và nhà quản lý/ban giám đốc công ty Cả hai bên có lợi ích khác nhau và vấn đề này được giảm thiểu bằng cách sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa
cổ đông/chủ sở hữu và nhà quản lý/ban giám đốc công ty, thông qua thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản lý/ban giám đốc, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của nhà quản lý/ban giám đốc công ty
Vấn đề đại diện có thể được giải quyết bằng việc người quản lý DN gia tăng mức độ CBTT nhằm thuyết phục các cổ đông rằng họ đang điều hành
DN ở mức tối ưu Việc gia tăng mức độ CBTT cũng được xem là một trong
Trang 25những giải pháp làm giảm chi phí đại diện và là một trong những công cụ nhằm giảm bớt mâu thuẫn về lợi ích giữa người quản lý DN và cổ đông
Có nhiều nghiên cứu về CBTT về QLRR và rủi ro trước đây đã vận dụng
lý thuyết đại diện Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, DN có mức độ rủi ro cao dẫn đến sự bất đối xứng thông tin cao giữa nhà quản lý với các nhà đầu tư (Deumes & Knechel, 2008) và báo cáo rủi ro có thể làm giảm chi phí đại diện
và sự không đối xứng thông tin giữa các nhà quản lý và các cổ đông (Watts & Zimmerman, 1983)
1.4.2 Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory)
Lý thuyết tín hiệu được phát triển bởi Robert E Wernikoff trong một công bố năm 1958 Lý thuyết tín hiệu cho rằng do sự không đối xứng thông tin giữa bên trong DN và nhà đầu tư sẽ gây ra sự lựa chọn bất lợi cho nhà đầu
tư Các thông tin tốt được công bố bởi các nhà quản lý đến thị trường làm giảm bất đối xứng thông tin và được xem như là một tín hiệu tốt của thị trường Lý thuyết này ngụ ý rằng các DN có kết quả hoạt động tốt thường sử dụng thông tin tài chính như là một công cụ truyền tín hiệu đến thị trường Vì vậy các DN cần phải CBTT ra thị trường một cách tự nguyện và đưa các tín hiệu đến các nhà đầu tư CBTT là một trong những công cụ mà DN có thể sử dụng tạo sự khác biệt về chất lượng hoạt động của bản thân DN so với các
1.4.3 Lý thuyết chính trị (Political Theory)
Lý thuyết chi phí chính trị được công bố lần đầu bởi Watts và Zimmerman vào năm 1978 Lý thuyết về ảnh hưởng của chính trị cho rằng
Trang 26các nhà quản lý nhà nước ra quyết định có liên quan đến lợi ích của công ty (chẳng hạn chính sách thuế, hạn chế độc quyền, cạnh tranh…) dựa trên thông tin được công bố bởi các công ty DN chịu chi phí chính trị cao sẽ công bố nhiều thông tin hơn nhằm giảm thiểu gánh nặng của những chi phí này Vì vậy, các DN lớn hơn phải chịu chi phí chính trị cao hơn, dẫn đến mức độ CBTT cao hơn để hạn chế chi phí chính trị này
Nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra rằng các công ty quy mô lớn có động lực để cải thiện lòng tin của nhà đầu tư và giảm độ nhạy cảm chính trị bằng cách CBTT về QLRR có chất lượng cao hơn (Hassan, 2009)
1.4.4 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary Cost Theory)
Lý thuyết được xây dựng bởi Carl Watner vào năm 1982 và được Verrecchia phát triển vào năm 1983 Theo lý thuyết này, chi phí sẽ phát sinh khi có sự suy giảm của dòng tiền trong tương lai do việc CBTT của DN Khi một DN cung cấp một thông tin xấu sẽ tạo ra một chi phí vì các nhà đầu tư sẽ giảm đầu tư vào DN vì không còn hấp dẫn họ, dòng tiền trong tương lai sẽ giảm Tuy nhiên, việc cung cấp thông tin xấu có thể ngăn cản được các đối thủ cạnh tranh gia nhập thị trường, dẫn đến dòng tiền trong tương lai có thể sẽ tăng lên Ngược lại, khi một DN cung cấp một thông tin tốt, các nhà đầu tư sẽ chú ý đến DN, dòng tiền trong tương lai có thể sẽ tăng lên Tuy nhiên, điều đó cũng làm cho các đối thủ cạnh tranh có thể gia nhập thị trường, dẫn đến dòng tiền trong tương lai có thể sẽ giảm xuống Vì vậy, các chi phí sở hữu được xem xét như một hạn chế của việc CBTT Những bất lợi của cạnh tranh ảnh hưởng đến quyết định cung cấp các thông tin riêng tư của các nhà quản lý
Lý thuyết về chi phí sở hữu cho thấy rằng các công ty có thể CBTT về QLRR không hữu ích cho người dùng, vì các nhà quản lý nhận thấy việc công
bố nhiều hơn không mang lại nhiều lợi ích hơn so với các chi phí tiềm tàng của việc công bố (Amran, Bin & Hassan, 2009) Ngoài ra, theo Healy và
Trang 27Palepu (2001), các công ty có lợi nhuận cao có thể không muốn tiết lộ thông tin độc quyền của mình cho đối thủ cạnh tranh, vì nó có thể làm giảm vị thế cạnh tranh của họ
1.4.5 Lý thuyết kinh tế thông tin (Information Economics Theory)
Lý thuyết này, được hình thành trên cơ sở ba nghiên cứu kinh điển bởi Akerlof (1970), Spence (1973), và Rothschild và Stiglitz (1976) (theo Nguyễn Hữu Cường, 2017) Lý thuyết này chỉ ra rằng khi tham gia các giao dịch kinh doanh hoặc các giao dịch tiềm năng có thể có một bên có lợi thế thông tin hơn
so với những bên còn lại Các nhà quản lý đối phó với việc CBTT không giống nhau, do sự đánh đổi chi phí và lợi ích là khác nhau
Bên cạnh đó, theo nghiên cứu của Johansen và Plenborg (2013) đã cung cấp các bằng chứng hàm ý rằng đối với các mục thông tin tốn nhiều chi phí cho đơn vị lập báo cáo như: thông tin về hợp nhất kinh doanh, các công cụ tài chính, và các thử nghiệm về tổn thất tài sản… thì mức độ CBTT thấp hơn, mặc dù người sử dụng thông tin rất cần các mục thông tin này
Lý thuyết tính kinh tế của thông tin cũng là một khuôn khổ lý thuyết phù hợp cho các phân tích thực nghiệm về việc CBTT nói chung và CBTT về QLRR nói riêng vì các DN CBTT nhằm giảm đi bất đối xứng thông tin giữa nhà quản lý và chủ sở hữu, giảm chi phí của các giao dịch mua bán cổ phiếu, giảm thiểu rủi ro ước tính của các nhà đầu tư, nhờ vào đó giảm chi phí vốn (Healy & Palepu, 2001) Mặc dù, CBTT như vậy có nhiều lợi ích, nhưng các
DN sẽ chỉ cung cấp thêm thông tin bổ sung nếu họ nhận thấy lợi ích của việc công bố đó nhiều hơn các chi phí có liên quan đến việc công bố
1.5 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO
Nội dung trong mục này tổng hợp các nghiên cứu có liên quan đến việc kiểm chứng ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT về QLRR Do các
Trang 28nghiên cứu liên quan đến CBTT về QLRR còn hạn chế, nên luận văn có đề cập đến các nghiên cứu về CBTT và CBTT về rủi ro làm cơ sở để xây dựng các giả thuyết nghiên cứu ở Chương tiếp theo
Các nghiên cứu trước đây đã kiểm chứng sự ảnh hưởng một số nhân tố khác nhau đến mức độ CBTT về QLRR Các nhân tố đã được các nghiên cứu trước kiểm chứng gồm: quy mô công ty, tỷ suất nợ, thời gian niêm yết, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, chủ thể kiểm toán và đặc điểm HĐQT
1.5.1 Quy mô DN
Có nhiều tiêu chí để đo lường quy mô công ty như: vốn điều lệ, tổng giá trị tài sản hay tổng nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán, doanh thu, giá trị vốn hóa trên thị trường, hay số lượng lao động Sự ảnh hưởng của yếu tố này đến mức độ CBTT về QLRR có thể được lý giải theo nhiều lý thuyết khác nhau Theo lý thuyết đại diện, quy mô công ty có ảnh hưởng đến mức độ CBTT, các công ty có quy mô lớn thường lựa chọn việc CBTT nhiều hơn nhằm giảm thiểu chi phí đại diện Điều này cũng đúng với mức độ CBTT về QLRR, các công ty có quy mô lớn thường sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn vì thế họ sẽ CBTT về QLRR nhiều hơn nhằm tạo niềm tin với các cổ đông về khả năng đối phó với rủi ro của nhà quản lý, từ đó giảm chi phí đại diện
Theo lý thuyết tín hiệu, các DN lớn nhận thức rằng bằng việc phát tín hiệu, công bố nhiều thông tin cho người sử dụng hơn sẽ thu hút nhiều nhà đầu
tư hơn, do đó sẽ làm tăng giá trị cổ phiếu của DN Với mức độ CBTT về QLRR cũng vậy, DN lớn sẽ CBTT về QLRR nhiều hơn nhằm mục đích thông báo cho các nhà đầu tư biết về khả năng quản lý, đối phó với các rủi ro của
DN từ đó thu hút nhiều nhà đầu tư hơn
Bên cạnh đó, các công ty lớn thường có đội ngũ nhân viên đông, chất lượng cao nên chi phí dành cho việc CBTT về QLRR thường thấp Nhưng lợi
Trang 29ích mang lại của việc CBTT về QLRR cho các công ty lớn là giảm được chi phí đại diện, tăng cường thu hút đầu tư và tăng danh tiếng cho công ty Xét theo lý thuyết kinh tế thông tin thì công ty lớn CBTT về QLRR nhiều hơn là hợp lý
Về bằng chứng định lượng, các nghiên cứu trước đây đã chỉ được sự tác động của nhân tố quy mô công ty đến mức độ CBTT về QLRR Trong số đó,
xu hướng nổi trội là sự ảnh hưởng tích cực của quy mô DN đối với mức độ CBTT về rủi ro của DN, chẳng hạn như các nghiên cứu của Kolmatsui, Legenzova và Seilius (2016); Linsley và Shrives (2006)
Về bằng chứng định lượng, có những nghiên cứu trước đây cũng đã chỉ
ra nhân tố tỷ suất nợ có tác động tích cực đến mức độ CBTT về QLRR, chẳng hạn như nghiên cứu của Khlif và Hussainey (2014) Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu chỉ ra CBTT về QLRR tỷ lệ nghịch với tỷ suất nợ như nghiên cứu của Jia, Munrro và Buckby (2016)
1.5.3 Khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời của một DN được đánh giá, đo lường dựa trên các chỉ tiêu: ROA, ROE và ROS Trong đó, ROE là một trong những chỉ tiêu tài chính quan trọng nhất Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo ra bao nhiêu đồng lời Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường,
Trang 30từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào Hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn
Lý thuyết đại diện chỉ ra rằng xung đột giữa nhà quản lý và các cổ đông xảy ra khi thông tin bất cân xứng Vì vậy, các nhà quản lý của các công ty có khả năng sinh lời cao sẽ CBTT về QLRR nhiều hơn để cho các cổ đông biết
về khả năng quản lý, đối phó với rủi ro và biến rủi ro thành cơ hội sinh cho
DN của họ
Về bằng chứng định lượng, các nghiên cứu trước đây cũng đã chỉ ra khả năng sinh lời có tác động tích cực đến mức độ CBTT về QLRR, chẳng hạn như các nghiên cứu của Elshandidy, Fraser và Hussainey (2013); Khlif và Hussainey (2014); Samanta và Dugal (2016)
1.5.4 Khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán thể hiện mức độ rủi ro của DN Mất khả năng thanh toán sẽ dẫn đến gia tăng rủi ro thanh khoản khi DN không thể thực hiện thanh toán các khoản nợ của mình cho các chủ nợ Như vậy, khả năng thanh toán càng thấp dẫn đến rủi ro mà DN phải đối mặt cao với rủi ro và đòi hỏi DN phải có chính sách QLRR phù hợp và CBTT về QLRR nhiều hơn
Việc CBTT về QLRR cao khi khả năng thanh toán của DN thấp cũng phù hợp với lý thuyết đại diện vì nó giải quyết được vấn đề bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và cổ đông, giữa người mua và người bán Các cổ đông sẽ biết được chính sách quản lý, đối phó với rủi ro của nhà quản lý từ đó tăng lòng tin, giảm chi phí đại diện Còn các nhà đầu tư sẽ an tâm hơn khi đầu
tư vào DN khi biết rõ khả năng quản lý và đối phó với rủi ro của DN hơn Điều này mang lại lợi ích khá lớn cho DN và cũng phù hợp với lý thuyết kinh
tế thông tin khi so sánh giữa lợi ích đạt được và chi phí mất đi
Về bằng chứng định lượng, các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra khả năng thanh toánảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT về QLRR, chẳng hạn như
Trang 31các nghiên cứu của Dobler và Zéghal (2011); Miihkinen (2012); Jia, Munro
và Buckby (2016)
1.5.5 Chủ thể kiểm toán
Hiện tại, ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới, kiểm toán BCTC năm của các DN niêm yết là một quy định bắt buộc Đây là yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo tính trung thực và khách quan của các thông tin tài chính, làm
cơ sở cho việc ra quyết định đầu tư và quản lý kinh doanh Vai trò của kiểm toán độc lập là kiểm tra tính tin cậy của các thông tin phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của DN Vì vậy, uy tín và chất lượng của công ty kiểm toán độc lập chính là tiêu chuẩn đánh giá mức độ tin cậy của thông tin tài chính được kiểm toán Các công ty có xu hướng ký hợp đồng với các công ty kiểm toán có uy tín để thực hiện kiểm toán độc lập là những công ty coi trọng tính chính xác và minh bạch
Các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của nhân tố này đến mức độ CBTT về QLRR chủ yếu được đặt ra dựa trên lý thuyết đại diện Theo lý thuyết đại diện, do mâu thuẫn giữa nhà quản lý và các cổ đông ở DN niêm yết, cần thiết phải có các công ty kiểm toán độc lập có chất lượng để kiểm tra độ tin cậy của các BCTC, từ đó các thông tin trên BCTC trong đó có thông tin về QLRR trở nên tin cậy hơn, giảm thiểu sự bất đối xứng thông tin và giảm chi phí đại diện
Về bằng chứng định lượng, các nghiên cứu trước đây cũng đã chỉ ra được rằng sự hiện diện của các công ty kiểm toán uy tín có ảnh hưởng tích cực đến CBTT về QLRR chẳng hạn nghiên cứu của Kolmatsui, Legenzova và Seilius (2016)
Trang 321.5.6 Đặc điểm hội đồng quản trị
Thành viên hội đồng quản trị độc lập (không tham gia giữ chức vụ trong ban giám đốc) và chủ tịch hồi đồng quản trị không kiêm nhiệm giám đốc điều hành sẽ đóng vai trò như những người giám sát Cơ chế này làm giảm nguy
cơ lạm dụng quyền hạn của những người quản lý, giảm thiểu cơ hội che dấu thông tin của những nhà quản lý, nhờ đó làm giảm thiểu sự bất đối xứng thông tin, góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của cổ đông
Sự ảnh hưởng của nhân tố này đến mức độ CBTT về QLRR được giải thích dựa trên lý thuyết đại diện Tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập càng cao sẽ thúc đẩy nhà quản lý CBTT về QLRR nhiều hơn dưới sự giám sát của các thành viên này Mức độ độc lập của các cổ đông có thể ảnh hưởng đến mức độ CBTT về QLRR, như lý thuyết đại diện cho thấy cơ cấu sở hữu ảnh hưởng đến mức độ giám sát, và điều đó lại ảnh hưởng đến mức độ CBTT
Về bằng chứng định lượng, các nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra mức độ độc lập của thành viên hội đồng quản trị có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT về QLRR, chẳng hạn các nghiên cứu của Jia, Munro và Buckby (2016); Singh (2017); António, Rodrigues và Russell (2017)
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 trình bày các khái niệm, tầm quan trọng và phân loại về CBTT; QLRR và CBTT về QLRR là gì; các yêu cầu CBTT về QLRR và cách thức để đo lường mức độ CBTT về QLRR của DN cùng với các lý thuyết phổ biến áp dụng trong các nghiên cứu về CBTT như: lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết chính trị, lý thuyết chi phí sở hữu, và lý thuyết kinh tế thông tin
Đối với các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về QLRR, kết quả tổng hợp được từ các nghiên cứu trước cho thấy những nhân tố thường được khảo sát gồm: quy mô DN, tỷ suất nợ, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, mức độ độc lập của thành viên hội đồng quản trị và chất lượng công ty kiểm toán độc lập Trong đó, nhân tố tỷ suất nợ là không đồng nhất
Trên cơ sở lý thuyết khung CBTT về QLRR và các nhân tố ảnh hưởng
đã được đánh giá trong Chương này, Chương 2 sẽ trình bày thiết kế nghiên cứu để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT về QLRR trên các BCTC năm của các DN niêm yết ở Việt Nam
Trang 34CHƯƠNG 2
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1 THỰC TRẠNG NGÀNH TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM
Các DN được phân loại thuộc ngành tài chính ở Việt Nam bao gồm: các
tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm và công ty quản lý quỹ Cơ cấu tài sản giữa các lĩnh vực trong hệ thống tài chính chưa hợp lý Thuộc phân ngành này thì các tổ chức tín dụng chiếm tới 96,2% tổng tài sản toàn hệ thống tài chính, trong khi đó các doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chiếm 2,8%, và còn lại các công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ chiếm 1% (Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, 2016) Vì vậy, cung ứng vốn cho nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống các tổ chức tín dụng, vốn cung ứng từ thị trường chứng khoán còn khiêm tốn so với tiềm năng và các nước trong khu vực
Đánh giá hoạt động hệ thống các tổ chức tín dụng:
Theo Báo cáo tổng quan thị trường tài chính (Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, 2016) thì chất lượng tín dụng theo báo cáo cải thiện nhẹ Tỷ lệ nợ xấu bình quân toàn hệ thống theo báo cáo của các tổ chức tín dụng giảm nhẹ
từ 2,9% năm 2015 xuống 2,8% năm 2016 Trong 2016, hệ thống tổ chức tín dụng đã xử lý khoảng 95 nghìn tỷ đồng nợ xấu, trong đó: qua thu hồi nợ, bán tài sản bảo đảm chiếm khoảng 52,6% tổng giá trị nợ xấu được xử lý, bằng nguồn dự phòng rủi ro chiếm 26,6%, bán cho công ty quản lý tài sản (VAMC) chiếm 21% Nợ xấu chờ xử lý (nợ bán cho VAMC) và nợ xấu tiềm ẩn trong tái cơ cấu lớn Tổng số nợ bán cho VAMC chưa xử lý được là 224 nghìn tỷ đồng (chiếm 85% nợ xấu bán cho VAMC, và chiếm khoảng 4,3% tổng tín dụng) Số dự phòng rủi ro tín dụng của hệ thống ước tăng khoảng 11,9% so với cuối năm 2015 (năm 2015 tăng 5,4%) Dự phòng rủi ro cụ thể tăng 24,9%,
Trang 35cao hơn so với cùng kỳ 2015 (11,9%) Tỷ lệ dự phòng rủi ro cụ thể/nợ xấu báo cáo là 57,2%
Hiệu quả sinh lời của hệ thống tổ chức tín dụng năm 2016 cao hơn so với năm 2015 Thu nhập lãi thuần tăng 9% so với 2015, chiếm 79,0% trong tổng thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh
Đánh giá hoạt động của hệ thống công ty chứng khoán:
Theo Báo cáo tổng quan thị trường tài chính (2016) của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia thì: hoạt động của hệ thống công ty chứng khoán (CTCK) lành mạnh hơn, kết quả tái cấu trúc đã loại bỏ các công ty yếu kém Cụ thể, đến cuối năm 2016 còn 76 CTCK đang hoạt động bình thường Năm 2016 đã chấm dứt hoạt động 5 CTCK và hợp nhất 2 CTCK Tình hình tài chính của các CTCK lớn an toàn, tiếp tục phát triển, còn các CTCK nhỏ bị thu hẹp dần thị phần và tiếp tục bị đào thải
Hệ thống CTCK duy trì tình hình tài chính an toàn, tổng tài sản cuối năm
2016 đạt 76.100 tỷ đồng, tăng 10% so với cuối năm 2015, tỷ lệ vốn khả dụng bình quân cao hơn chuẩn an toàn, cơ cấu tài sản lành mạnh Chất lượng tài sản toàn hệ thống CTCK an toàn Nợ quá hạn năm 2016 giảm 16%, dự phòng đầu tư tài chính năm 2016 giảm 25% Dư nợ cho vay ký quỹ của hệ thống CTCK tăng nhưng trong mức kiểm soát và phù hợp với tốc độ tăng trưởng của thị trường Tổng dư nợ cho vay ký quỹ của hệ thống CTCK cuối năm
2016 đạt 25.600 tỷ đồng, tăng 19% so với cuối năm 2015
Đánh giá hoạt động các công ty bảo hiểm:
Theo Báo cáo tổng quan thị trường tài chính (2016) của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia thì: các công ty bảo hiểm có tình hình tài chính an toàn, tổng tài sản, doanh thu phí bảo hiểm tiếp tục tăng trưởng khả quan Cuối năm
2016, tổng tài sản của toàn hệ thống các công ty bảo hiểm đạt 234 nghìn tỷ đồng, tăng 16% so với cuối năm 2015 Chất lượng tài sản an toàn với tỷ lệ
Trang 36đầu tư vào trái phiếu chính phủ và tiền gửi trên tổng đầu tư trên 70%, tỷ lệ các khoản phải thu quá hạn thấp Hầu hết công ty bảo hiểm có tỷ lệ biên khả năng thanh toán cao hơn chuẩn an toàn Tổng doanh thu phí bảo hiểm cả năm 2016 ước đạt 85 nghìn tỷ đồng, tăng 21% so với năm 2015
Như vậy, từ Báo cáo tổng quan thị trường tài chính (2016) của Ủy ban tài chính quốc gia, chúng ta có thể thấy được các DN thuộc ngành tài chính có
tỷ lệ tăng trưởng tốt và đều có mức độ rủi ro nằm trong tầm kiểm soát được
2.2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu của luận văn này là nhằm trả lời hai câu hỏi sau Một là, thực trạng CBTT về QLRR của các DN ngành tài chính niêm yết ở Việt Nam hiện nay như thế nào Và hai là, những nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ CBTT về QLRR của các DN ngành tài chính niêm yết ở Việt Nam
2.3 XÂY DỰNG CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở các lý thuyết khung, các bằng chứng định lượng và những gợi
ý của các nghiên cứu trước về mức độ CBTT về QLRR và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về QLRR, tác giả đã xây dựng sáu giả thuyết nhằm kiểm chứng sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT về QLRR trên BCTC năm 2014, 2015 và 2016 của các DN niêm yết ở Việt Nam thuộc ngành tài chính
2.3.1 Quy mô doanh nghiệp
Các lý thuyết về CBTT của DN như lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu
và một số nghiên cứu thực nghiệm đều chỉ ra rằng, quy mô DN có ảnh hưởng đến mức độ CBTT về QLRR của DN Quy mô DN càng lớn thì xu hướng CBTT về QLRR của DN càng nhiều Theo đó, các DN có quy mô lớn thường
có chính sách QLRR tốt hơn những DN có quy mô nhỏ Vì thế họ thường sẵn sàng CBTT về QLRR nhiều hơn để thu hút nhà đầu tư và làm tăng giá trị của
DN Ngoài ra, các nhà quản lý của các DN có quy mô càng lớn có khuynh
Trang 37hướng CBTT về QLRR nhiều hơn để thể hiện khả năng quản lý của bản thân
và nhằm tăng niềm tin với các cổ đông của DN
Thống nhất với các nghiên cứu trước của Kolmatsui, Legenzova và Seilius (2016), Linsley và Shrives (2006) luận văn cũng dự đoán rằng quy mô
DN càng lớn thì mức độ CBTT về QLRR của các DN ngành tài chính niêm
yết trên TTCK Việt Nam càng cao Do vậy, giả thuyết thứ nhất (H 1) được phát biểu như sau:
Tuy nhiên, khi tỷ lệ nợ cao đồng nghĩa với rủi ro mà DN đang phải đối mặt cũng cao Các rủi ro đó có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hút đầu tư của
DN và các rủi ro đó cũng có thể có lợi cho các đối thủ cạnh tranh vì thế các nhà quản lý có khả năng che giấu thông tin về các rủi ro mà DN đang đối mặt dẫn đến mức độ CBTT về QLRR cũng giảm Cũng đã có nghiên cứu đã chỉ ra CBTT về QLRR tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nợ trong tỷ suất nợ, chẳng hạn như Jia,
Trang 38Munro và Buckby (2016) Do vậy, giả thuyết thứ hai (H 2) được phát biểu như sau:
H 2 - Tỷ suất nợ của DN có ảnh hưởng đến mức độ CBTT về QLRR
2.3.3 Khả năng sinh lời
Theo lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu và một số bằng chứng thực nghiệm cũng đã chứng tỏ rằng khả năng sinh lời có mối quan hệ với mức độ CBTT về QLRR của DN Các nhà quản lý của các DN có lợi nhuận cao, hiệu quả hoạt động tốt thường có xu hướng CBTT về QLRR nhiều hơn nhằm thể hiện cho cổ đông biết về khả năng quản lý, đối phó với rủi ro có ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của DN Ngoài ra, khi DN CBTT về QLRR nhiều, các nhà đầu tư cũng có thể đánh giá cao khả năng QLRR của DN khi họ cho rằng khả năng sinh lời của DN cao là nhờ vào khả năng QLRR của DN tốt Bên cạnh đó, có nghiên cứu trước đây, chẳng hạn như Elshandidy, Fraser và Hussainey (2013), Khlif và Hussainey (2014), hay Samanta và Dugal (2016), cũng chỉ ra khả năng sinh lời có tác động tích cực đến mức độ CBTT về QLRR Vận dụng lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu và trên cơ sở kế thừa
nghiên cứu trước, giả thuyết thứ ba (H 3) được phát biểu như sau:
lớn
2.3.4 Khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán lại thể hiện mức độ rủi ro của DN Khả năng thanh toán càng thấp thì mức độ rủi ro của DN càng cao dẫn đến DN có xu hướng CBTT về QLRR nhiều hơn Việc CBTT về QLRR cao khi khả năng thanh toán của DN thấp phù hợp với lý thuyết đại diện vì nó sẽ cung cấp thông tin nhằm giải quyết vấn đề bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và nhà đầu
tư
Trang 39Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra yếu tố rủi ro càng cao thì mức độ CBTT về QLRR càng cao (chẳng hạn như, Dobler, Lajili và Zesghal, 2011; Miihkinen, 2012; Jia, Munro và Buckby, 2016) Vận dụng lý thuyết đại diện
và trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước, giả thuyết thứ tư (H 4) được phát biểu như sau:
càng cao
2.3.5 Chủ thể kiểm toán
Theo lý thuyết đại diện, sự có mặt của công ty kiểm toán độc lập sẽ giúp giảm thiểu mâu thuẫn giữa nhà quản lý và các cổ đông thông qua việc kiểm tra độ tin cậy của BCTC Để duy trì danh tiếng và tránh các chi phí do mất mát về danh tiếng, các DN kiểm toán lớn có lợi thế hơn về khả năng yêu cầu mức độ CBTT cao của khách hàng Vì thế, các công ty được kiểm toán bởi công ty kiểm toán độc lập có uy tín cao sẽ CBTT nhiều hơn nói chung và CBTT về QLRR cũng sẽ nhiều hơn nói riêng
Các nghiên cứu trước đây thường đo lường chất lượng các công ty kiểm toán thông qua tiêu chí là Big 4 hoặc là không phải Ngoài ra, nghiên cứu trước đây (chẳng hạn như, Kolmatsui, Legenzova và Seilius, 2016; hay Achmad, Faisal và Oktarina 2017) đã chỉ ra sự hiện diện của các công ty kiểm toán uy tín có ảnh hưởng tích cực đến CBTT về QLRR Vận dụng lý thuyết
đại diện và trên cơ sở kế thừa nghiên cứu trước, giả thuyết thứ năm (H 5) được phát biểu như sau:
H 5 - DN được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán độc lập có uy tín
càng cao thì mức độ CBTT về QLRR càng lớn
2.3.6 Mức độ độc lập của thành viên hội đồng quản trị
Theo lý thuyết đại diện, mâu thuẫn luôn xảy ra giữa các cổ đông và nhà quản lý Để giảm mâu thuẫn, hội đồng quản trị sẽ thực hiện quyền lực của
Trang 40mình để theo dõi và kiểm soát nhà quản lý Nếu tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị tham gia quản lý cao thì sẽ dẫn đến khả năng theo dõi và kiểm soát nhà quản lý giảm xuống Điều đó có thể dẫn đến việc nhà quản lý CBTT ra bên ngoài nói chung và CBTT về QLRR nói riêng với mức độ thấp hơn và tỷ
lệ thông tin giữ lại với mục đích thu lợi cao hơn
Mức độ độc lập của thành viên hội đồng quản trị được đo lường thông qua hai chỉ tiêu là tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành
và có hay không sự kiêm nhiệm của chủ tịch hội đồng quản trị với giám đốc điều hành Ngoài ra, các nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra mức độ độc lập của thành viên hội đồng quản trị có ảnh hưởng đến mức độ CBTT về QLRR (như Jia, Munro và Buckby, 2016; hay Singh, 2017) Vận dụng lý thuyết đại diện
và trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước, giả thuyết thứ sáu (gồm H 6a và
2.4 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.4.1 Mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu này gồm có hai mục tiêu chính tương ứng với hai câu hỏi nghiên cứu đã được xác định Trong đó, mức độ CBTT về QLRR (mục tiêu/câu hỏi nghiên cứu thứ nhất) được đánh giá bằng phương pháp phân tích nội dung, còn ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT về QLRR (mục tiêu/câu hỏi nghiên cứu thứ hai) được đánh giá bởi hai mô hình hồi quy dựa trên hai chỉ số CBTT là chỉ số CBTT bắt buộc và tùy ý như sau:
Phương trình 1 có dạng
CBTTBBQLRR it = β 0 + β 1 QM it + β 2 TSN it + β 3 KNSL it + β 4 KNTT it + β 5 CTKT it +