Đố tượng và p ạm v ng ên ứu Đố tượng ng ên ứu Nghiên cứu việc CBTT về BCBP của các CTNY trên HOSE năm 2015.Ngoài ra, đề tài nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về BCB
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRỊNH THỊ NGỌC MÙI
NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ BÁO CÁO
BỘ PHẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN
SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng - Năm 2018
Trang 2TRỊNH THỊ NGỌC MÙI
NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ BÁO CÁO
BỘ PHẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN
SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
Ngườ ướng ẫn o ọ : TS Ngu n H u Cường
Đà Nẵng - Năm 2018
Trang 3Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu trong luận văn là trung thực Những kết quả trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
TRỊNH THỊ NGỌC MÙI
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO BỘ PHẬN 9
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO BỘ PHẬN 9 1.1.1 Quá trình hình thành các quy định về báo cáo bộ phận 9
1.1.2 Nội dung báo cáo bộ phận 10
1.1.3 Vai trò của báo cáo bộ phận 11
1.1.4 Quy định về trình bày báo cáo bộ phận 13
1.1.5 Đo lường mức độ công bố thông tin về báo cáo bộ phận 16
1.2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO BỘ PHẬN 17
1.2.1 Các nghiên cứu ở các nước 17
1.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 24
2.1 LÝ THUYẾT KHUNG VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO BỘ PHẬN 24
2.1.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) 24
2.1.2 Lý thuyết tín hiệu (Signaling theory) 26
2.1.3 Lý thuyết chi phí chính trị (Political cost theory) 27
Trang 52.1.6 Lý thuyết chi phí độc quyền (Exclusive cost theory) 30
2.2 XÂY DỰNG CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 31
2.2.1 Công ty kiểm toán 31
2.2.2 Thời gian niêm yết 32
2.2.3 Tỷ suất sinh lời 33
2.2.4 Đòn bẩy tài chính 34
2.2.5 Tốc độ tăng trưởng 35
2.2.6 Cơ cấu sở hữu 36
2.2.7 Lĩnh vực hoạt động công nghiệp 37
2.2.8 Khả năng thanh toán 37
2.2.9 Mức độ độc lập của hội đồng quản trị và ban giám đốc 38
2.2.10 Sự kiêm nhiệm của chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc 39
2.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 40
2.3.1 Thiết lập mô hình 40
2.3.2 Đo lường biến phụ thuộc 41
2.3.3 Đo lường các biến độc lập 46
2.4 MẪU NGHIÊN CỨU 48
2.4.1 Quy mô mẫu nghiên cứu 48
2.4.2 Thu thập dữ liệu 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 49
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
3.1 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ BÁO CÁO BỘ PHẬN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 51
3.1.1 Thống kê mô tả chỉ số công bố thông tin về báo cáo bộ phận 51
Trang 6BỐ THÔNG TIN VỀ BÁO CÁO BỘ PHẬN 54
3.2.1 Đối với báo cáo tài chính cuối niên độ 54
3.2.2 Đối với báo cáo tài chính bán niên 64
3.2.3 Đối với báo cáo tài chính quý 2 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 80
CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ 81
4.1 ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN BÁO CÁO BỘ PHẬN 81
4.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ BÁO CÁO BỘ PHẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 82
4.2.1 Hàm ý từ sự ảnh hưởng của công ty kiểm toán 82
4.2.2 Hàm ý tự sự ảnh hưởng của tốc độ tăng trưởng 84
4.2.3 Chú trọng đến sự kiêm nhiệm của chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc 85
4.2.4 Một số kiến nghị khác 85
4.3 KẾT LUẬN 86
4.3.1 Kết quả đạt được 87
4.3.2 Hạn chế của nghiên cứu 87
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 88
KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản s o)
Trang 7BCBP Báo cáo bộ phận
BIG 4 Bốn công ty kiểm toán hàng đầu thế giới
CODM Người ra quyết định hoạt động
GAAP Những nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận HOSE Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
IASB Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế
IASC Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế
IFRS Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Trang 8bảng Tên bảng Trang
2.1 Danh sách các chỉ mục thông tin công bố về BCBP
2.2 Đo lường các biến độc lập trong mô hình 46
3.1
Thống kê mô tả đối với biến phụ thuộc CBTT về BCBP
trên BCTC cuối niên độ (Icn), bán niên (Ibn) và quý 2
(Iquý 2)
50
3.2 So sánh mức độ CBTT về BCBP trên ba loại BCTC 52
3.3 Bảng thống kê mô tả các biến độc lập ảnh hưởng đến
mức độ CBTT về BCBP trên BCTC cuối niên độ 54
3.5 Bảng phân tích tương quan giữa các biến (Mô hình 1) 57 3.6 Bảng kiểm định đa cộng tuyến (Mô hình 1) 58
3.7
Kết quả thống kê sự ảnh hưởng của các nhân tố đến
mức độ CBTT BCBP trên BCTC cuối niên độ năm
2015
59
3.8 Bảng thống kê mô tả các biến độc lập ảnh hưởng đến
mức độ CBTT về BCBP trên BCTC bán niên 64
3.10 Bảng phân tích tương quan giữa các biến (Mô hình 2) 67 3.11 Bảng kiểm định đa cộng tuyến (Mô hình 2) 68 3.12 Kết quả thống kê sự ảnh hưởng của các nhân tố đến 69
Trang 9mức độ CBTT về BCBP trên BCTC bán niên năm 2015
3.13 Bảng thống kê mô tả các biến độc lập ảnh hưởng đến
3.15 Bảng phân tích tương quan giữa các biến (Mô hình 3) 73 3.16 Bảng kiểm định đa cộng tuyến (Mô hình 3) 74 3.17 Kết quả thống kê sự ảnh hưởng của các nhân tố đến
mức độ CBTT về BCBP trên BCTC quý 2 năm 2015 75
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tín ấp t ết ủ đề tà
Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã trải qua gần mười chín năm hoạt động Số lượng các công ty niêm yết (CTNY) ngày càng tăng, đồng thời hoạt động của thị trường này cũng đang dần ổn định và chuyên nghiệp hơn Điều này góp phần làm lành mạnh hơn thị trường đầu tư và tạo thuận lợi đối với kênh dẫn vốn cho các công ty Công bố thông tin (CBTT) của các CTNY trên TTCK ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của nhà đầu tư, trong
đó thông tin về tài chính chiếm vị trí trọng yếu Nó là một trong những kênh thông tin mà các CTNY được yêu cầu cung cấp trên TTCK Các CTNY đó chủ yếu cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài (phục vụ cho các nhà đầu tư và nhà phân tích) và bên trong công ty Tuy nhiên, thông tin được trình bày và công bố như thế nào để đáp ứng được nhu cầu người sử dụng vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa mong đợi và thực tế
Với sự phát triển của nền kinh tế hiện nay, sự đa dạng hóa và những chiến lược quốc tế dẫn đến hoạt động của các công ty ngày càng phức tạp Với thực tế hiện nay các công ty và tập đoàn bắt đầu đa dạng hóa hoạt động kinh doanh thành các công ty đa ngành nghề (thông tin này thường được công
ty đề cập ở phần đặc điểm hoạt động kinh doanh trong thuyết minh (TM) BCTC) và hoạt động kinh doanh mở rộng trên nhiều khu vực địa lý (KVĐL) khác nhau (trên nhiều tỉnh, thành phố trong nước hay bên ngoài lãnh thổ Việt Nam) Mục tiêu chính của sự đa dạng hóa này là để chia sẻ rủi ro cũng như tận dụng lợi thế từ cơ hội phát triển ở những thị trường khác Với sự đa dạng
và toàn cầu hóa mạnh mẽ như vậy thì rõ ràng bản thân BCTC hợp nhất sẽ không thể hiện được cái nhìn tổng thể về thông tin tài chính một cách đúng và hoàn toàn chính xác cho người sử dụng BCTC vì sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng, khả năng sinh lời và những rủi ro trong từng bộ phận Họ sẽ không dễ
Trang 11dàng nhận biết được nếu không có sự trình bày của những thông tin riêng biệt
từ những bộ phận tạo ra hoạt động đó Trong một nghiên cứu được phát triển bởi Knutson (1993) chỉ ra rằng tính hữu ích của thông tin bộ phận được định nghĩa là quan trọng, cần thiết, cơ bản và không thể thiếu đối với quá trình phân tích đầu tư Hơn nữa, Nguyễn Hữu Cường (2015) đã tóm lược rằng thông tin về báo cáo bộ phận (BCBP) rất hữu ích đối với các nhà phân tích vì
nó là cơ sở để họ dự báo doanh thu và lợi nhuận (hợp nhất) của đơn vị báo cáo (Vivek và Richard, 2002), cần thiết cho việc đánh giá rủi ro và lợi ích kinh tế các công ty (Don và Wayne, 1997) Hiện nay tại Việt Nam, các công
ty đang CBTT về BCBP theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 28 (VAS 28) Tuy nhiên, sau nhiều năm áp dụng nhiều công ty vẫn chưa có sự hiểu biết rõ ràng, chưa lưu tâm đầy đủ đến việc lập và trình bày BCBP hoặc lập một cách
sơ sài chỉ với mục đích tuân thủ các quy định Loại BCBP này ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết đối với người đọc BCTC, giúp nhà đầu tư có cái nhìn đầy đủ về công ty, hiểu rõ hơn về hoạt động của công ty
Liên quan đến khía cạnh CBTT về BCBP của các CTNY thì hiện nay ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu sâu rộng về vấn đề này Xuất phát từ
thực tiễn trên tôi lựa chọn đề tài : “Nghiên cứu công bố thông tin về báo cáo
bộ phận của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh” để hoàn thành Luận văn của mình
2 Mụ t êu ng ên ứu
- Đánh giá mức độ CBTT về BCBP trên cả ba loại BCTC gồm BCTC cuối niên độ, BCTC bán niên và BCTC quý 2 của các CTNY trên SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)
- Khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về BCBP của các CTNY Qua đó tác giả đề xuất các chính sách cho công ty và nhà quản lý gia tăng các thông tin cần thiết, góp phần giảm rủi ro cho nhà đầu tư
Trang 12Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng CBTT về BCBP từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin được công bố trên BCBP của các CTNY trên HOSE
3 Đố tượng và p ạm v ng ên ứu
Đố tượng ng ên ứu
Nghiên cứu việc CBTT về BCBP của các CTNY trên HOSE năm 2015.Ngoài ra, đề tài nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về BCBP của các công ty này như thế nào
P ạm v ng ên ứu:
- Không gian: BCTC cuối niên độ đã kiểm toán, BCTC bán niên đã soát xét và BCTC quý 2 của các CTNY trên HOSE có thực hiện việc lập BCBP
- Thời gian: Dữ liệu nghiên cứu được lấy trong năm 2015
4 P ương p áp ng ên ứu
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Nghiên cứu sử dụng số liệu thu thập từ nguồn thứ cấp gồm các BCTC cuối niên độ đã được kiểm toán của 174 công ty, BCTC bán niên đã soát xét của 160 công ty
và BCTC quý 2 của 80 công ty năm 2015 được niêm yết trên HOSE Tác giả
sử dụng phương pháp phân tích hồi quy mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về BCBP từ đó xác định mối tương quan giữa các biến độc lập
và biến phụ thuộc thông qua các tham số hồi quy được ước lượng bằng phương pháp bình phương bé nhất (OLS)
5 Bố ụ đề tà
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về công bố thông tin báo cáo bộ phận
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 13Chương 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị
6 Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu
Các nghiên cứu liên quan đến BCBP trên thế giới và Việt Nam hiện nay chưa có nhiều, các hướng nghiên cứu thường tập trung ở ba khía cạnh là
đo lường mức độ CBTT về BCBP, thảo luận về chuẩn mực mới so với chuẩn mực cũ trước đây và đưa ra các bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố và ảnh hưởng của chúng đến việc trình bày BCBP Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu này được thực hiện trên BCTC năm, rất ít nghiên cứu thực hiện trên BCTC bán niên và đặc biệt trên BCTC quý 2 lại càng khan hiếm
Liên quan đến khía cạnh đo lường mức độ CBTT, các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận theo hai cách Một là sử dụng lại mức độ CBTT đã được các tổ chức độc lập đo lường như việc đo lường mức độ CBTT được công bố hàng năm bởi Hiệp hội Quản lý và Nghiên cứu Đầu tư hoặc được cung cấp bởi Trung tâm nghiên cứu và phân tích tài chính quốc tế (CIFAR1
) Theo Nguyễn Hữu Cường (2015), cách thứ hai là các nhà nghiên cứu sẽ tự xây dựng thang đo, trong đó hệ thống các chỉ mục được lựa chọn trên cơ sở các quy định về CBTT về BCBP có liên quan (Ahmad, 2008; Al-Shammari và cộng sự, 2008; Artiach và Clarkson, 2014; Beattie, McInnes và Fearnley, 2004; Beyer, Cohen, Lys, và Walther, 2010)
Đối với khía cạnh nghiên cứu mức độ CBTT về BCBP và các nhân tố ảnh hưởng, Alfaraih và Alanezi (2011)tập trung vào mức độ tuân thủ các yêu cầu bắt buộc của chuẩn mực kế toán quốc tế – Segment Reporting (IAS) 14
và sử dụng lý thuyết thông tin bất đối xứng để phân tích ảnh hưởng của các nhân tố bao gồm quy mô công ty, thời gian hoạt động, đòn bầy tài chính, khả năng sinh lời và chất lượng công ty kiểm toán đến mức độ CBTT về BCBP
1 Cả hai xếp hạng bên ngoài về CBTT bởi Hiệp Hội Quản Lý và Nghiên Cứu Đầu Tư và CIFAR đều không còn tiếp tục nữa
Trang 14Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ giới hạn ở việc xem xét các chỉ tiêu bắt buộc, không xem xét đến mức độ tuân thủ các chỉ tiêu tự nguyện của các công ty này Hessling và Jakkola (2008) nghiên cứu mức độ CBTT về BCBP các công ty ở Thụy Điển, Pardal và Morais (2012) nghiên cứu các CTNY ở Tây Ban Nha, cả hai nghiên cứu này đều chỉ ra rằng mức độ CBTT về BCBP được lập theo lĩnh vực kinh doanh (LVKD) cao hơn hẳn so với BCBP được lập theo khu vực địa lý (KVĐL)
Một số nghiên cứu lại tập trung vào xem xét mức độ CBTT về BCBP của những CTNY ở một ngành hoặc một nhóm ngành kinh tế cụ thể và ảnh hưởng tích cực từ việc áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế - Operating Segments (IFRS 8) đến việc cải thiện chất lượng và số lượng trình bày BCBP Benjamin và cộng sự (2010) khảo sát thực trạng lập BCBP của các công ty lớn ở Malaysia trong năm LVKD là điện thoại viễn thông, nước giải khát, truyền thông in ấn, truyền thông điện tử và tiện ích xã hội Benjamin và cộng sự (2010) sử dụng lý thuyết chi phí độc quyền và nhấn mạnh đến một số ít các công ty ở Malaysia không cung cấp bất kỳ một BCBP nào, trái ngược với tất cả các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của họ lại đều tuân thủ Hay Hyderabad và Pradeepkumar (2011) nghiên cứu về thực trạng lập và trình bày BCBP của 45 CTNY ở Ấn Độ trong lĩnh vực công nghệ thông tin Nghiên cứu này chỉ ra rằng có một khoảng cách lớn giữa các quy định đặt ra
và thực tiễn CBTT về BCBP của các công ty này.Tuy nhiên cả hai nghiên cứu này đều dừng lại ở việc sử phương pháp thống kê mô tả trong nghiên cứu của mình
Các nghiên cứu trước khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về BCBP như quy mô công ty, tỷ suất lợi nhuận, đòn bẩy tài chính, cơ chế quản trị công ty, công ty kiểm toán v.v Chẳng hạn, Alfaraih và Alanezi (2011), Pardal và Morais (2012) đều cho rằng quy mô công ty càng lớn thì
Trang 15mức độ CBTT về BCBP càng cao Tuy nhiên, Nguyễn Thị Phương Thúy (2010) kiểm chứng được rằng quy mô công ty không ảnh hưởng đến mức độ CBTT về BCBP Trong khi đó, Kevin và Zain (2001) khi xác định các yếu tố tác động đến BCBP của các công ty Malaysia chỉ ra rằng quy mô công ty có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ CBTT về BCBP hơn là những nhân tố khác như đòn bẩy tài chính hay tình trạng niêm yết Cùng cho kết quả này là nghiên cứu của Bradbury (1992) khi nghiên cứu mối quan hệ giữa CBTT BCBP tự nguyện của các công ty ở New Zealand và đặc điểm công ty Bradbury (1992) chỉ ra rằng quy mô công ty có ảnh hưởng đáng kể đến mức
độ CBTT BCBP Tuy nhiên, Mahajan và Chander (2007) kiểm tra mối liên hệ giữa các đặc điểm của công ty như thời gian niêm yết, quy mô, lợi nhuận, đòn bẩy, tình trạng niêm yết, mô hình cổ phần, công ty kiểm toán và tình trạng cư trú của công ty thì lại không có sự liên quan nào giữa mức độ CBTT BCBP và thời gian niêm yết, tình trạng niêm yết, đòn bẩy, mô hình cổ phần, và tình trạng cư trú của một công ty
Đối với khía cạnh nghiên cứu việc áp dụng các chuẩn mực kế toán về BCBP cũng có một số nghiên cứu ở các nước phát triển được thực hiện Việc
áp dụng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ - Statement of Financial Accounting Standards (SFAS) 131 thực sự đã đem lại cho người sử dụng nhiều lợi ích hơn, nhiều nghiên cứu đã cho thấy sự thay đổi chuẩn mực BCBP của Hoa Kỳ đã làm tăng số lượng các bộ phận được trình bày trong báo cáo Nghiên cứu của Herrmann và Thomas (2000) so sánh thực trạng CBTT về BCBP theo phạm vi SFAS 131, được thay thế cho SFAS 14 trước đó, bằng chứng từ các CTNY ở Italia Herrmann và Thomas (2000) chỉ ra rằng sự thay đổi đối với các yêu cầu về BCBP theo SFAS 131 đã có tác động tích cực tương đối đáng kể đến mức độ CBTT về BCBP, cụ thể là sự gia tăng về số lượng các công ty CBTT bộ phận và số lượng các khoản mục được công bố
Trang 16trong BCBP Farías và Rodríguez (2014) nghiên cứu sự ảnh hưởng của IFRS
8 đến việc thực hiện CBTT bộ phận của các công ty ở Tây Ban Nha năm
2008, 2009 và 2010 Kết quả chỉ ra rằng không có sự cải thiện đáng kể về mức độ CBTT bộ phận, phần lớn các công ty tiếp tục báo cáo thông tin bộ phận không phù hợp với cơ cấu tổ chức của họ và đa số BCBP được lập theo LVKD, rất ít các công ty báo cáo kết hợp theo LVKD và KVĐL Cả hai nghiên cứu trên đã được sử dụng như là những bằng chứng thực tế để so sánh
sự khác nhau của các phương pháp lập BCBP và sau đó đi đến kết luận áp dụng trình bày BCBP tại các quốc gia
Ở Việt Nam gần đây cũng đã có một vài nghiên cứu về thực trạng lập
và trình bày BCBP cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến nó Lê Thị Hà (2015)
sử dụng phương pháp thống kê mô tả để kiểm tra mức độ CBTT về BCBP trên BCTC năm của 140 CTNY trên HOSE đồng thời kiểm định các nhân tố
ảnh hưởng đến nó thông qua các tham số hồi quy được ước lượng bằng phương pháp OLS Một số nghiên cứu khác tập trung vào nghiên cứu ảnh
hưởng của các nhân tố đến việc lập và trình bày BCBP trên BCTC năm như nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Thúy (2011), Trần Thị Thúy An (2013),
Nguyễn Thị Kim Nhung (2013) Nguyễn Thị Phương Thúy (2011) chỉ ra rằng khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính và độ phân tán quyền sở hữu có mối
tương quan với việc trình bày BCBP trên BCTC năm, trong khi đó quy mô
công ty và công ty kiểm toán không có sự tương quan Tuy nhiên, cả năm biến khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, độ phân tán quyền sở hữu, quy mô công ty và công ty kiểm toán này được kiểm định là không tác động đến số lượng và chất lượng BCBP trong nghiên cứu của Trần Thị Thúy An (2013) Khác với kết quả của Nguyễn Thị Phương Thúy (2011), Nguyễn Thị Kim Nhung (2013) cho rằng biến tỷ suất sinh lời và công ty kiểm toán có tương
quan với mức độ trình bày BCBP trên BCTC năm của 176 CTNY trên TTCK
Trang 17Việt Nam Các nghiên cứu này hầu như đều sử dụng phương pháp nghiên cứu thống kê mô tả, kiểm định sự tương quan của biến phụ thuộc và các biến độc lập thông qua các tham số hồi quy bằng phương pháp OLS Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Cường (2015) được thực hiện trên 100 CTNY có giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất ở Việt Nam chỉ ra rằng đối với chỉ tiêu thông tin doanh thu
và kết quả bộ phận theo LVKD và KVĐL thì tỷ lệ không tuân thủ có sự chênh lệch đáng kể giữa BCTC giữa niên độ và BCTC quý 2
Qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu có liên quan cả trên thế giới và ở Việt Nam, tác giả nhận thấy còn một số khoảng trống nhất định Đối với các nghiên cứu ở nước ngoài có chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về BCBP Tuy nhiên, các công trình này bị giới hạn ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển Về việc trình bày BCBP thường là theo IFRS 8, đây là chuẩn mực mới nhất và nhiều yêu cầu hơn về trình bày BCBP Ở nước
ta các doanh nghiệp trình bày BCBP vẫn đang áp dụng theo VAS 28 và chưa
có sự thay đổi nhiều so với chuẩn mực kế toán quốc tế Nguyễn Hữu Cường (2015) đã tóm lược các nghiên cứu trên thế giới và cho rằng cổ đông mong muốn báo cáo thường xuyên hơn (Sanders, 1934), các nghiên cứu của Mỹ tiết
lộ rằng các báo cáo hàng quý ngày càng được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu
và các nhà phân tích, và được coi là rất hữu ích cho các những người tham gia thị trường vốn cũng như để nâng cao hiệu quả thị trường (ví dụ, Taylor, 1965; Seidler và Benjes, 1967; Ball và Brown, 1968; Newell, 1969) Tuy vậy, các nghiên cứu về BCBP khảo sát trên BCTC bán niên và quý 2 hiện nay kể cả trên thế giới và Việt Nam là rất ít Các nhân tố liên quan đến đặc điểm hội đồng quản trị (HĐQT) như mức độ độc lập của HĐQT và ban giám đốc (BGĐ) hay sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT và TGĐ chưa được chú trọng nhiều khi xem xét nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT BCBP
Trang 181.1.1 Quá trình hình thành á qu địn về báo áo bộ p ận
Chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ SFAS 14 – Finacial Reporting for Segments of a Business Enterprise (Báo cáo tài chính cho bộ phận kinh doanh) được Ủy ban chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ (FASB) ban hành lần đầu năm 1976 quy định việc lập BCBP bắt buộc bao gồm các nội dung cơ bản như: phạm vi áp dụng, cơ sở xác định bộ phận báo cáo, các thông tin cần báo cáo v.v và được thay thế bằng SFAS 131 năm 1997 SFAS 131 đã đánh dấu
sự thay đổi đáng kể so với chuẩn mực trước đó, đáng chú ý là nguyên tắc xác định bộ phận trình bày Trên góc độ chuẩn mực kế toán quốc tế, IAS 14 - Segment Reporting ra đời năm 1981, được sửa đổi năm 1997 và 2003 Năm
2006, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) đã ban hành Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 8 - Operating Segments thay thế cho IAS 14
và chính thức áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 Điểm khác biệt cơ bản giữa IFRS 8 và IAS 14 là đối tượng áp dụng chuẩn mực, định nghĩa bộ phận hoạt động và những thông tin cần báo cáo, trong đó IFRS 8 có cách tiếp cận
về các bộ phận hoạt động từ góc nhìn của các nhà quản lý công ty trong khi IAS 14 có cách tiếp cận về các bộ phận hoạt động trên góc độ tuân thủ các chuẩn mực BCTC (Epstein và Jermakowicz, 2009; Pardal và Morais, 2012)
Ở Việt Nam, BCBP được lập và trình bày tuân thủ theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 28 - Báo cáo bộ phận (VAS 28) VAS 28 được ban hành và công bố đợt 4 theo quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15 tháng 02 năm
Trang 192005 và có hiệu lực từ ngày 23 tháng 03 năm 2005 trên cơ sở tuân thủ 100% theo IAS 14 (PriceWaterHouseCoopers, 2008, P.17)
1.1.2 Nội dung báo cáo bộ phận
Nhiều công ty cung cấp các nhóm sản phẩm và dịch vụ hoặc hoạt động trong các KVĐL khác nhau có tỷ lệ sinh lời, cơ hội tăng trưởng, triển vọng và rủi ro khác nhau Thông tin về các loại sản phẩm, dịch vụ tại các KVĐL khác nhau được gọi là thông tin bộ phận Loại thông tin này cần thiết cho những người sử dụng thông tin trên BCTC vì chúng có lợi ích trong việc đánh giá rủi
ro và lợi ích kinh tế của các công ty có cơ sở ở nước ngoài hoặc công ty có phạm vi hoạt động trên nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước Lê Thị Hà (2015) tóm lược rằng BCBP còn có thể được định nghĩa là các số liệu tài chính riêng của các đơn vị, công ty con hoặc những bộ phận khác nhau của một công ty (Ijiri,1995) Người sử dụng BCTC, những chuyên gia phân tích và các nhà nghiên cứu được hỗ trợ các thông tin bổ sung về chia tách các bộ phận thông qua việc tìm hiểu BCBP
BCBP được lập theo LVKD, KVĐL hoặc kết hợp theo LVKD và KVĐL Bộ phận theo LVKD là một bộ phận có thể phân biệt được của một công ty tham gia vào quá trình sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ riêng lẻ, một nhóm các sản phẩm hoặc các dịch vụ có liên quan mà hai bộ phận kinh doanh này có rủi ro và lợi ích kinh tế khác với các bộ phận kinh
doanh khác Bộ phận theo KVĐL là một bộ phận có thể phân biệt được của
một công ty tham gia vào quá trình sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ trong một môi trường kinh tế cụ thể mà bộ phận này có rủi ro và lợi ích kinh
tế khác với các bộ phận trong các môi trường kinh tế khác Khác với VAS 28, IFRS 8 định nghĩa bộ phận cần báo cáo không nhất thiết là bộ phận theo LVKD hay theo KVĐL mà là các hoạt động kinh tế có thể tạo ra doanh thu hoặc phát sinh chi phí, có các thông tin tài chính riêng biệt cho chúng và kết
Trang 20quả hoạt động của chúng thường xuyên được các nhà quản lí xem xét để ra quyết định điều hành hoạt động
Mặc dù VAS 28 chưa có những cập nhật theo IFRS 8, với việc quy định nguyên tắc và phương pháp thiết lập các thông tin tài chính theo bộ phận khác nhau của công ty, VAS 28 vẫn có ý nghĩa trong việc giúp các đối tượng
sử dụng BCTC đánh giá đúng các rủi ro và lợi ích kinh tế của công ty và có những nhận định đúng đắn về công ty (Phạm Thị Thủy, 2013)
1.1.3 Vai trò của báo cáo bộ phận
Việc lập các BCBP là nhằm nâng cao tính hữu ích của thông tin được đưa ra, làm cơ sở hỗ trợ thêm cho việc xem xét và đưa ra quyết định của những người sử dụng BCTC của công ty bên cạnh việc xem xét các số liệu kinh tế tổng quát
BCBP nhằm hỗ trợ người sử dụng BCTC hiểu rõ về tình hình hoạt động các năm trước của công ty, đánh giá đúng về những rủi ro và lợi ích kinh tế của công ty và đưa ra những đánh giá hợp lý về công ty Qua những thông tin về BCTC được trình bày giúp nhà đầu tư có căn cứ quyết định đầu
tư hay quyết định cho vay Đồng thời việc xác định các thông tin cần báo cáo giúp người ta quyết định hoạt động cần sử dụng thông tin này để đánh giá hoạt động và phân bổ nguồn lực, đánh giá đúng về những rủi ro và lợi ích kinh tế của công ty và đưa ra những đánh giá hợp lý về công ty Các nghiên cứu định lượng cũng đã chứng minh được vai trò của thông tin về BCBP đối với việc ra quyết định bởi những đối tượng sử dụng thông tin báo cáo, việc dự đoán kết quả hoạt động của đơn vị, hay chất lượng thông tin của thị trường
Thứ nhất, BCBP giúp cho việc ra quyết định của người sử dụng báo cáo vì các quyết định mà họ đưa ra chịu tác động bởi những loại thông tin khác nhau Benjamin và cộng sự (2010) đã tóm lược và cho rằng thông tin bộ phận được xem như là thông tin quan trọng nhất cho việc ra quyết định đầu tư
Trang 21từ một cuộc khảo sát của 140 nhà phân tích tài chính (Epstein và Palepu, 1999) BCBP giúp cải thiện khả năng dự báo về thu nhập trong tương lai của công ty (Deegan và Rankin, 1996) và kết quả là ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư và người sử dụng khác Herrmann và Thomas (2000) đã tóm lược các nghiên cứu trước đây cho rằng đối với các công ty ở Hoa Kỳ, nhờ có các TM thông tin về bộ phận đã giúp cho các chuyên gia phân tích đưa ra các
dự báo về thu nhập chính xác hơn (Collin, 1976; Fried, Schiff, và Sondhi,1992) Nichols và cộng sự (1995) nghiên cứu ảnh hưởng của các báo cáo về bộ phận theo KVĐL đến các dự đoán của các chuyên gia phân tích về thu nhập Kết quả chỉ ra rằng các nhà phân tích tài chính sau khi thực hiện những điều chỉnh về sự khác biệt thu nhập thì những dự báo về thu nhập của các công ty đa quốc gia mà họ đưa ra trở nên chính xác hơn đáng kể sau khi
có được CBTT về BCBP theo KVĐL Benjamin và cộng sự (2010) đã tóm lược rằng các kết quả công bố trên thị trường về sự thay đổi giá cổ phiếu có ý nghĩa đáng kể hơn khi thông tin bộ phận được xác định (Berg, 1990)
Thứ hai, BCBP giúp so sánh khả năng dự đoán của các ước tính khác nhau Nó là việc kiểm tra khả năng dự đoán thông qua so sánh sự chính xác của các ước tính số học về doanh thu, thu nhập hay các chỉ tiêu kế toán khác bằng cách sử dụng các thông tin hợp nhất với các ước tính đơn giản thay vì dựa vào các thông tin bộ phận Có một số lượng lớn các nghiên cứu về khả năng dự đoán trong đó người nghiên cứu đưa ra dự đoán của họ về khả năng hoạt động của công ty Chẳng hạn Herrmann và Thomas (2010) đã tóm lược
và chỉ ra rằng mô hình nghiên cứu cho kết quả dự đoán chính xác nhất là mô hình dựa trên doanh thu và lợi nhuận bộ phận (Kinney, 1971)
Thứ ba, BCBP giúp kiểm tra phản ứng của thị trường chứng khoán Họ kiểm tra liệu các BCBP có làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu hay các phép tính
đo lường về rủi ro thị trường hay không Nếu các phản ứng này tồn tại, các
Trang 22thông tin phần nào được sử dụng và do đó nó hữu ích Nếu các thông tin bộ phận không có ảnh hưởng đáng kể đến thị trường thì có thể kết luận nó không được những người tham gia thị trường chứng khoán sử dụng hoặc là các thông tin này đã được thu thập từ nguồn khác Nghiên cứu của Simonds và Collins (1978) sử dụng phân tích các biến để kiểm chứng rủi ro của thị trường
và kết luận rằng BCBP theo LVKD đã ảnh hưởng đáng kể đến khả năng làm giảm rủi ro
1.1.4 Qu địn về trìn bà báo áo bộ p ận
VAS 28 yêu cầu trình bày thông tin trên cơ sở các thông tin tài chính tuân thủ theo các chuẩn mực kế toán tài chính đã được trình bày trong BCTC hợp nhất Liên quan đến cơ sở để một công ty xác định BCBP chính yếu theo LVKD hay KVĐL phụ thuộc vào tính chất rủi ro và lợi ích kinh tế của công
ty đó Để nhận biết được nguồn và tính chất chủ yếu của rủi ro và các tỷ suất sinh lời khác nhau phải dựa vào cơ cấu tổ chức, quản lý nội bộ của công ty và
hệ thống BCTC nội bộ cho BGĐ (Bộ Tài chính, 2006, đoạn 25) VAS 28 (Bộ Tài chính, 2006, đoạn 24) quy định trình bày đối với bộ phận chính yếu sẽ khác với bộ phận thứ yếu
Đối với BCBP chính yếu bắt buộc phải trình bày các chỉ tiêu như doanh thu bộ phận; kết quả bộ phận; tổng giá trị còn lại của tài sản bộ phận; nợ phải trả bộ phận; tổng chi phí đã phát sinh trong niên độ để mua sắm tài sản cố định (TSCĐ); tổng chi phí khấu hao TSCĐ và phân bổ chi phí trả trước dài hạn của bộ phận; tổng các khoản chi phí lớn không bằng tiền; bảng đối chiếu giữa số liệu của các bộ phận và số liệu tổng cộng trong BCTC của công ty hoặc BCTC hợp nhất (Bộ Tài chính, 2006, đoạn 49-61) Đối với BCBP thứ yếu, có thể xảy ra hai trường hợp Nếu BCBP chính yếu được lập theo LVKD thì BCBP thứ yếu phải trình bày ba chỉ tiêu sau Một là doanh thu bộ phận bán hàng ra bên ngoài KVĐL dựa trên vị trí của khách hàng và chiếm từ 10% trở lên trên tổng doanh thu của công ty bán hàng ra bên ngoài Hai là tổng giá trị còn lại của tài sản bộ phận theo vị trí của tài sản và chiếm từ 10% trở lên
Trang 23trên tổng tài sản của toàn bộ các KVĐL Ba là tổng chi phí đã phát sinh trong niên độ để mua TSCĐ - tài sản bộ phận dự kiến sẽ sử dụng nhiều hơn một niên độ theo vị trí của tài sản và chiếm từ 10% trở lên trên tổng tài sản của các
bộ phận Nếu BCBP chính yếu được lập theo KVĐL thì BCBP thứ yếu cũng phải trình bày doanh thu bộ phận, tổng giá trị còn lại của tài sản bộ phận, tổng chi phí phát sinh trong niên độ để mua TSCĐ – tài sản bộ phận dự kiến sẽ sử dụng nhiều hơn một niên độ
Riêng đối với chỉ tiêu doanh thu bộ phận công ty buộc phải báo cáo riêng biệt doanh thu từ việc bán hàng và cung cấp dịch vụ cho khách hàng với doanh thu từ các giao dịch với các bộ phận khác Ngoài ra, khuyến khích công
ty trình bày thêm các chỉ tiêu để đánh giá hoạt động của bộ phận như lợi nhuận gộp trên doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh hoặc lợi nhuận trước thuế hoặc lợi nhuận sau thuế
IFRS 8 yêu cầu trình bày thông tin về các bộ phận trên cơ sở thông tin
mà các nhà quản lý sử dụng để điều hành hoạt động của công ty Khác với VAS 28, IFRS 8 yêu cầu các mục thông tin bắt buộc cần công bố ít hơn, IFRS
8 chỉ yêu cầu công bố kết quả lãi hoặc lỗ và tài sản bộ phận Trong khi đó VAS 28, vẫn chỉ là áp dụng theo IAS 14 đã sửa đổi (IAS 14R) nên vẫn bắt buộc CBTT về doanh thu bộ phận, kết quả bộ phận, tài sản bộ phận, nợ phải trả bộ phận, tổng chi phí đã phát sinh trong niên độ để mua sắm TSCĐ, chi phí khấu hao TSCĐ và phân bổ chi phí trả trước dài hạn của bộ phận, tổng giá trị các khoản giá trị lớn không bằng tiền
Theo Thông tư 155/2015/TT-BTC (Bộ Tài chính, 2015) các CTNY phải lập và CBTT về BCTC năm, BCTC bán niên (06 tháng đầu năm tài chính) và BCTC quý Trong đó, BCTC năm đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận thực hiện kiểm toán, BCTC bán niên phải được soát xét bởi tổ chức kiểm toán chấp thuận, riêng đối với BCTC quý thì hiện tại ở Việt Nam không có quy định bắt buộc về việc soát xét các BCTC quý Điều này dẫn đến khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT
Trang 24về BCBP trên BCTC quý 2 sẽ không có nhân tố công ty kiểm toán
Bảng 1.2 dưới đây tóm tắt những điểm khác nhau cơ bản giữa VAS 28
và IFRS 8 bộ phận báo cáo, việc xác định và đo lường BCBP từ đó đưa ra những nhận xét nhằm làm tiền đề cho những đề xuất và hướng hoàn thiện BCBP trong chương 4
Bảng 1.2 Sự khác nhau giữa VAS 28 và IFRS 8
và phát sinh chi phí hoặc kể
cả tham gia vào hoạt động kinh doanh mà chưa tạo ra doanh thu
Hạn chế của VAS 28 dẫn tới thực tế có nhiều công ty xem toàn bộ công ty là một
bộ phận duy nhất, từ
đó không trình bày BCBP Phạm (Thị Thủy, 2013)
Không phân biệt doanh thu
và chi phí liên quan đến những giao dịch được tạo
ra từ bên thứ ba hay những giao dịch giữa các bộ phận
Điều này có thể làm gia tăng số lượng bộ phận được trình bày
theo IFRS 8
Đo lường t ông t n bộ p ận
Thông tin trên BCBP
dựa trên thông tin tài
chính tuân thủ các
chuẩn mực kế toán, phù
hợp với chính sách kế
toán của công ty
Thông tin trên BCBP dựa trên thông tin quản trị báo cáo cho người ra quyết định hoạt động (CODM), ngay
cả khi số liệu này không phù hợp với chính sách kế toán của công ty
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ VAS 28 và IFRS 8)
Trang 251.1.5 Đo lường mứ độ công bố thông tin về báo cáo bộ phận
Nguyễn Hữu Cường (2015) đã tóm lược các nghiên cứu trước đây và cho rằng phương pháp chung nhất để đánh giá mức độ tuân thủ (hoặc tự nguyện) về CBTT trên BCTC được thực hiện thông qua việc xây dựng danh mục các chỉ tiêu phải hoặc khuyến khích trình bày Trên cơ sở danh mục đã trình bày, nhà nghiên cứu đánh giá thực tế BCTC tuân thủ (hoặc tự nguyện) công bố chỉ tiêu nào Do vậy phương pháp đánh giá mức độ CBTT được xem
là một dạng của phương pháp phân tích nội dung (Beattie, McInnes và Fearnley, 2004) Việc đo lường mức độ CBTT bằng thang đo do chính các nhà nghiên cứu xây dựng có thể được tiếp cận theo một trong hai cách là đo lường bằng thang đo không trọng số và ngược lại là đo lường bằng thang đo
có trọng số Những chỉ mục bao gồm trong chỉ số đo lường mức độ CBTT có thể được xem xét cái nào quan trọng hơn (Marston và Shrives, 1991) Trong luận văn này, việc đo lường mức độ CBTT về BCBP được thực hiện bằng thang đo không trọng số Như vậy, việc đo lường theo phương pháp này chỉ dừng lại ở việc ghi nhận có hay không việc thông tin được trình bày trên BCBP được nghiên cứu và ngầm định rằng tất cả các chỉ mục đều có tính quan trọng (tính hữu ích) là như nhau
Trên cơ sở hệ thống các chỉ mục thông tin đã được xây dựng, từng mục thông tin tương ứng trong BCBP được nghiên cứu sẽ được gán giá trị bằng một nếu thông tin đó được công bố, hoặc được gán giá trị bằng không nếu thông tin đó không công bố Ngoài ra, nhà nghiên cứu còn có thể quyết định không gán giá trị cho một chỉ mục được đánh giá nếu chắc chắn rằng đối với BCBP được nghiên cứu đó thì chỉ mục này chắc chắn là không liên quan (not applicable - N/A) Theo Alfaraih và Faisal (2011), cách tính điểm dựa vào chỉ
số này cũng đã được sử dụng ở nhiều nghiên cứu trước đây (Tower và cộng
sự, 1999; Street và Bryant, 2000; Haniffa và Cooke, 2002; Street và Gray,
Trang 262002; Glaum và Street, 2003; Al-Shammari và cộng sự, 2008) Các chỉ số
CBTT là danh sách các chỉ mục được chọn có thể được công bố trên báo cáo của công ty Tính toán một chỉ số cho một công ty cụ thể có thể đo lường mức
độ CBTT nhưng không nhất thiết là đo lường chất lượng của việc công bố Kế thừa những nghiên cứu trước đây, trong nghiên cứu này, để đánh giá mức độ CBTT về BCBP tác giả xây dựng danh mục các chỉ tiêu phải hoặc nên trình bày trên BCBP được quy định tại các điểm khác nhau của VAS 28 (Bộ tài chính, 2006)
1.2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO BỘ PHẬN
1.2.1 Các nghiên cứu ở á nước
Nghiên cứu về BCBP ở các nước phát triển có từ rất sớm, có thể kể đến các nghiên cứu của Street và Nichols (2002) Hai ông đã nghiên cứu thực trạng CBTT về BCBP trước và sau khi ban hành IAS 14 đã sửa đổi, sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 210 công ty cung cấp BCTC bằng chuẩn Tiếng Anh trong hai năm 1998, 1999 và có trụ sở đặt tại Châu Âu (151), Trung Quốc (39), Châu Phi (9) và các khu vực khác (11) để phân tích các BCBP dựa trên LVKD và KVĐL Nghiên cứu phát hiện ra rằng có đến 33% đã không báo cáo thông tin bộ phận chính yếu và đưa ra lý do là chỉ có một LVKD, 11% xác định BCBP theo KVĐL và 56% báo cáo theo LVKD Nghiên cứu cho thấy một số chỉ tiêu đáng chú ý được các quốc gia công bố cụ thể trong BCBP như nợ, vốn bổ sung, khấu hao, các khoản chi phí không dùng tiền mặt khác
và phương pháp thu thập theo vốn chủ sở hữu
Ở Ấn Độ, một nghiên cứu quan trọng của Garrod (2007) nghiên cứu về việc có hay không những bất lợi từ việc công bố BCBP được lấy từ mẫu gồm
135 công ty có quy mô lớn từ sáu nước thuộc Châu Âu bao gồm Anh, Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Hà Lan Nghiên cứu này chỉ ra rằng những bất lợi
Trang 27được tạo ra là rất hạn chế và chủ yếu là từ CBTT về BCBP theo KVĐL hơn là
theo LVKD Liên quan đến mức độ CBTT về BCBP, nghiên cứu của
Hyderabad và Pradeepkumar (2011) về thực trạng lập và trình bày BCBP của
45 CTNY trong lĩnh vực công nghệ thông tin tuân thủ chuẩn mực kế toán Ấn
Độ số 17 về BCBP chỉ ra rằng có một khoảng cách lớn giữa quy định theo chuẩn mực và việc thực hiện trong thực tế Kết quả thống kê cho thấy đa số các công ty trình bày BCBP chính yếu theo LVKD và chỉ trình bày số lượng
có giới hạn các thông tin mà chuẩn mực bắt buộc trình bày Chỉ có 13% công
ty trong mẫu nghiên cứu trình bày đầy đủ tất cả các thông tin bắt buộc trình bày Các thông tin bộ phận tự nguyện trình bày sẽ rất hữu ích trong việc duy trì quan hệ với nhà đầu tư, nhà cung cấp, ngân hàng, nâng cao giá trị công ty
và giá trị thị trường nhưng lại được trình bày sơ sài Nghiên cứu này kết luận rằng các công ty Ấn độ áp dụng chuẩn mực một cách nửa vời và mong đợi rằng với việc áp dụng IFRS 8 sẽ giúp cải thiện chất lượng BCBP cũng như thay đổi quan điểm của nhà quản trị trong việc chia sẻ thông tin với nhà đầu
tư Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc sử dụng phương pháp thống
kê mô tả và mặc dù mức CBTT BCBP thấp như vậy nhưng nghiên cứu chưa chỉ ra được có những nhân tố nào tác động và tác động như thế nào đến mức
độ CBTT của các công ty trong ngành này như vậy
Liên quan đến mức độ CBTT về BCBP và các nhân tố ảnh hưởng có thể kể đến các nghiên cứu của Alfaraih và Alanezi (2011), Pardal và Morais
(2012) Alfaraih và Alanezi (2011) sử dụng chỉ số SDI (Segment Disclosure
Index) để đo lường mức độ CBTT về BCBP dựa trên những yêu cầu bắt buộc của IAS 14 bằng cách khảo sát 123 CTNY trên thị trường chứng khoán Kuwat (KSE) năm 2008 Nghiên cứu chỉ ra rằng có 56% công ty tuân thủ CBTT về BCBP Bên cạnh đó, cũng vận dụng những nghiên cứu trước đây, nghiên cứu này cũng sử dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất để
Trang 28kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT BCBP và cho kết quả rằng các công ty có quy mô lớn, hoạt động lâu năm, đòn bầy tài chính cao, khả năng sinh lời lớn và việc kiểm toán được thực hiện bởi những công ty kiểm toán thuộc nhóm Big 42
thì có mức độ CBTT bộ phận cao hơn các công
ty khác Nghiên cứu này cho kết quả tác động của biến khả năng sinh lời là cùng chiều với mức độ CBTT BCBP, điều này ngược với kết quả của một vài nghiên cứu trước đó (chẳng hạn như Benjamin và cộng sự, 2010; Pardal và Morais, 2012) Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào xem xét mức độ tuân thủ các chỉ tiêu bắt buộc, những chỉ tiêu tự nguyện hay khuyến khích công bố không được tính trong chỉ số này
Thay vì dùng chỉ số đo lường mức độ CBTT về BCBP (SDI) như
Alfaraih và Alanezi (2011), Pardal và Morais (2012) sử dụng phương pháp
thống kê mô tả khảo sát 150 CTNY tại Tây Ban Nha năm 2009 để đo lường mức độ tuân thủ CBTT về BCBP Ngoài ra nghiên cứu còn sử dụng mô hình hồi quy đa tuyến tính để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ CBTT về BCBP Kết quả cho thấy có 79% CTNY ở Tây Ban Nha trình bày BCBP theo LVKD Một phần nhỏ chiếm 7,6% công ty không trình bày bất kỳ một thông tin nào về BCBP với lý do được đưa ra là chỉ có một bộ phận trong công ty Các biến quy mô công ty tác động thuận chiều, biến tỷ suất sinh lời và tình trạng niêm yết tác động ngược chiều đến mức độ tuân thủ BCBP Trong khi đó, các biến công ty kiểm toán, đòn bẩy tài chính và đặc điểm công ty theo chỉ số IBEX353
lại không có ý nghĩa thống kê, và biến tình trạng niêm yết không ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện về BCBP
2 Big 4 gồm bốn công ty kiểm toán: PricewaterhouseCoopers (PwC), Ernst và Young (EvàY), Klynveld Peat Marwick Geordeler (KPMG), Deloitte Touche Tohmatsu Limited (Deloitte).
3 IBEX 35 là chỉ số thị trường chứng khoán tiêu chuẩn của Sàn giao dịch chứng khoán lớn nhất Tây Ban Nha
- Bolsa de Madrid
Trang 29Hessling và Jakkola (2008) nghiên cứu các công ty ở Thụy Điển cũng cho kết quả tương tự, kết quả chỉ ra rằng có đến 78% các công ty này chọn LVKD làm BCBP chính yếu và chỉ có 17% công ty lập BCBP chính yếu theo KVĐL Nghiên cứu của Benjamin và cộng sự (2010) cũng cho kết quả tương tự Pardal và Morais (2012) rằng những công ty có tỷ suất sinh lời cao đều không lập BCBP
Năm 2009 là năm IFRS 8 bắt đầu được đưa vào áp dụng nên có nhiều nghiên cứu được thực hiện lấy mẫu khoảng thời gian này để xem xét ảnh hưởng của nó Ngoài nghiên cứu của Pardal và Morais (2012) ở Tây Ban Nha, Pisano và Loris (2012) cũng xác định các nhân tố ảnh hưởng đến BCBP của những công ty ở Ý năm 2008 và 2009 sử dụng khuôn khổ lý thuyết chi phí chủ sở hữu Ngoài ra nghiên cứu cũng điều tra liệu việc áp dụng IFRS 8 có mang đến cho những công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp ít cạnh tranh một vài cơ hội, giảm mức độ công bố BCBP năm 2009, so sánh với năm trước đó áp dụng IAS 14 Kết quả chỉ ra rằng ngành công nghiệp cạnh tranh càng cao thì mức độ công bố BCBP càng cao Hơn nữa, nghiên cứu cũng chỉ
ra rằng so với năm trước đó thì những công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp ít cạnh tranh đã giảm các chỉ tiêu công bố trong BCBP khi áp dụng theo IFRS 8 Nghiên cứu của Farías và Rodríguez (2014) cũng xem xét ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến những CTNY ở Tây Ban Nha năm 2008,
2009, 2010, kết quả chỉ ra phần lớn các công ty này (35,6%) tiếp tục báo cáo thông tin bộ phận dựa trên cơ sở không phù hợp với cấu trúc tổ chức và một
tỷ lệ lớn các công ty này (71,2%) không hoặc cung cấp rất ít thông tin bộ phận theo IFRS 8
Cũng nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT BCBP nhưng Ibrahim và Jaafar (2013) lại xem xét ở một khía cạnh mới hơn Nghiên cứu xem xét mối liên hệ giữa cơ chế quản trị công ty như tính độc lập của HĐQT, quy mô HĐQT, tần suất cuộc họp HĐQT, quy mô ủy ban kiểm toán,
Trang 30tính độc lập của ủy ban kiểm toán và cuộc họp ủy ban kiểm toán với mức độ tuân thủ tự nguyện theo IFRS 8 của 69 CTNY tại Nigeria năm 2011 Nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp đo lường không trọng số để đo lường mức độ tuân thủ BCBP Chỉ số này xây dựng dựa trên danh sách các chỉ mục yêu cầu bắt buộc của IFRS 8 Kết quả nghiên cứu cho thấy không có mối quan hệ nào giữa ủy ban kiểm toán với các biến liên quan và mức độ tuân thủ tự nguyện Chỉ một thuộc tính quản trị công ty đó là sự độc lập của HĐQT có ảnh hưởng đến mức độ công bố tự nguyện theo IFRS 8 Tuy nhiên nghiên cứu này không
hỗ trợ cho lập luận rằng cơ chế HĐQT và ban kiểm soát giúp thúc đẩy mức
độ CBTT trong bối cảnh Nigeria Điều đó có thể cản trở việc thực hiện IFRS nói chung và IFRS 8 nói riêng
1.2.2 Cá ng ên ứu ở V ệt N m
Như đã đề cập ở mục tổng quan nghiên cứu, những nghiên cứu về BCBP được thực hiện trên BCTC bán niên và BCTC quý là rất ít Nguyễn Hữu Cường (2015) đã nghiên cứu về BCBP thực hiện trên cả BCTC bán niên lẫn BCTC quý và có sự so sánh với thực trạng CBTT về BCBP với các nước lân cận như Malaysia, Philippines Ông đã chỉ ra rằng đối với chỉ tiêu thông tin doanh thu và kết quả bộ phận theo LVKD và KVĐL thì tỷ lệ không tuân thủ có sự chênh lệch đáng kể giữa BCTC giữa niên độ và BCTC quý 2 công
bố từ 100 CTNY có giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất ở Việt Nam Tuy nhiên, tỉ lệ không tuân thủ đối với BCTC giữa niên độ của các CTNY ở Việt Nam (52%) không có chênh lệch nhiều so với Malaysia (41%) và Philippines (50%) Sự khác biệt đáng kể về mức độ tuân thủ yêu cầu trình bày thông tin doanh thu và kết quả bộ phận trên BCTC quý 2 và BCTC giữa niên độ phản ánh rõ nét ảnh hưởng tích cực từ việc soát xét của kiểm toán đối với chất lượng BCTC giữa niên độ Cụ thể là, rất nhiều CTNY trên SGDCK Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh “phải” trình bày thông tin doanh thu và kết quả bộ phận trên BCTC bán niên, trong khi đó chỉ tiêu này lại không được công bố
Trang 31trên BCTC quý 2
Khi đánh giá các nhân tố ảnh hưởng, các nghiên cứu hầu như đều tập trung vào các nhân tố như thời gian niêm yết, quy mô công ty, tỷ suất sinh lời, công ty kiểm toán, đòn bẩy tài chính (chẳng hạn Nguyễn Thị Phương Thúy, 2011; Nguyễn Thị Kim Nhung, 2013; Trần Thị Thúy An, 2013; Lê Thị Hà, 2015) Phần lớn các nghiên cứu này kiểm định sự tương quan của biến phụ thuộc và biến độc lập thông qua các tham số hồi quy và được ước lượng bằng phương pháp OLS Trong đó, nhân tố quy mô công ty, công ty kiểm toán và đòn bẩy tài chính tác động thuận chiều và yếu tố tỷ suất sinh lời tác động ngược chiều đến mức độ CBTT về BCBP (Nguyễn Thị Kim Nhung, 2013; Trần Thị Thúy An, 2013) Tuy vậy, những nghiên cứu này đều chỉ dừng lại ở việc sử dụng phương pháp thống kê mô tả, các nhân tố tác động đến mức độ CBTT về BCBP trên BCTC năm
Về khía cạnh nghiên cứu mức độ CBTT về BCBP, có thể kể đến nghiên cứu của Lê Thị Hà (2015) Nghiên cứu khảo sát mức độ CBTT về BCBP trên BCTC năm của 140 CTNY trên HOSE năm 2013, sử dụng phương pháp thống
kê mô tả và cho thấy mức độ tuân thủ việc BCBP trung bình là 58,99% Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp OLS để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ này, tuy nhiên khác với kết quả của Nguyễn Thị Kim Nhung (2013),Trần Thị Thúy An (2013), bà cho rằng nhân tố công ty kiểm toán tác động ngược chiều đến mức độ CBTT về BCBP
Ngoài ra trong lĩnh vực nghiên cứu về BCBP, một số nghiên cứu còn xem xét đến việc thực thi VAS 28 hiện nay, những hạn chế và đưa ra hướng đề xuất nên tiếp cận theo chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS 8 (Phạm Thị Thủy, 2013; Trần Thị Thúy An, 2013) Từ nghiên cứu thực trạng, hạn chế được các nghiên cứu này đưa ra là giới hạn các bộ phận báo cáo chỉ là theo LVKD hoặc KVĐL
đã dẫn tới thực tế có nhiều công ty coi toàn bộ công ty là một bộ phận duy nhất,
từ đó không trình bày BCBP trong TM BCTC (Phạm Thị Thủy, 2013)
Trang 32KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương này đã giới thiệu một cách khái quát về BCBP từ việc tóm lược quá trình hình thành BCBP trên thế giới, nội dung về BCBP, vai trò quan trọng của BCBP đối với người sử dụng thông tin trên BCTC, những quy định
về việc lập và trình bày BCBP Bên cạnh đó ở chương này còn đưa ra được những so sánh cụ thể giữa VAS 28 và IFRS 8 để từ đó xem xét những bất cập còn tồn tại và tạo tiền đề cho việc đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện BCBP ở chương 4 Chương này cũng tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan đến BCBP ở cả trên thế giới và Việt Nam liên quan đến mức độ CBTT về BCBP và các nhân tố ảnh hưởng đến nó Chương kế tiếp sẽ phân tích các lý thuyết nền tảng để trên cơ sở kết hợp với bằng chứng định lượng, tác giả sẽ xây dựng mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thuyết nghiên cứu
Trang 33CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 2.1 LÝ THUYẾT KHUNG VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN BÁO CÁO BỘ PHẬN
Như nội dung đã trình bày ở phần trên, có một số công trình trên thế giới nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về BCBP và kết quả của các nghiên cứu đó đã kiểm chứng được ảnh hưởng của một số nhân tố đến mức độ CBTT về BCBP Tuy nhiên kết quả của các nghiên cứu lại không giống nhau, có nhân tố trong nghiên cứu này không tác động nhưng trong nghiên cứu khác lại tác động, thêm vào đó có trường hợp nhân tố tác động thuận chiều đến mức độ CBTT về BCBP ở nghiên cứu này nhưng lại có tác động ngược chiều ở một nghiên cứu khác Vì vậy để có cơ sở cho việc phát triển giả thuyết nghiên cứu từ mô hình nghiên cứu trong luận văn, mục này tập trung phân tích các lý thuyết có nền tảng liên quan, bao gồm lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết chi phí chính trị, lý thuyết chi phí sở hữu, lý thuyết kinh tế thông tin và lý thuyết chi phí độc quyền
2.1.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory)
Lý thuyết đại diện xuất hiện trong bối cảnh việc quản trị kinh doanh gắn liền với những nghiên cứu về hành vi của người chủ và người làm thuê thông qua các hợp đồng Lý thuyết này được xây dựng đầu tiền bởi Ross (1973) tuy nhiên phải đến năm 1976, dưới kết quả nghiên cứu của Jensen và Merkling (1976) lý thuyết đại diện mới được quan tâm nhiều Lý thuyết này cho rằng cả hai bên (bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình Thông thường, bên được ủy nhiệm (đại diện) mong đợi
sẽ được hành xử theo hướng mang lại lợi ích lớn nhất cho bên ủy nhiệm nhưng bản thân những người được ủy nhiệm cũng theo đuổi những lợi ích riêng
Trang 34Người sở hữu (bên ủy nhiệm) vốn quan tâm đến giá trị công ty, giá cổ phiếu (cũng chính là lợi ích của bản thân họ), các cổ đông bổ nhiệm các nhà quản trị đại diện họ trực tiếp điều hành công ty với mong muốn các nhà quản trị sẽ làm gia tăng giá trị công ty và tối đa hóa lợi ích cho cổ đông Trong khi nhà quản trị về cơ bản không quan tâm nhiều đến lợi ích của cổ đông mà quan tâm đến lợi ích của mình (lương, thưởng, phụ cấp khác dựa trên vị trí công tác), chính điều đó sẽ làm ảnh hưởng đến mục đích của cổ đông
Việc không đồng nhất lợi ích giữa các cổ đông (chủ sở hữu) và người đại diện (Giám đốc) làm phát sinh một loại chi phí gọi là “chi phí đại diện” (agency cost) Chi phí này bằng không khi chủ sở hữu đồng thời là giám đốc của công ty Cụ thể, khi giám đốc sở hữu toàn bộ vốn của công ty, chi phí đại diện càng lớn khi chủ sở hữu sở hữu ít hoặc không sở hữu cổ phiếu của công
ty Chính vì điều này mà lý thuyết đại diện thường dùng để kiểm định ảnh hưởng của nhân tố mức độ độc lập của HĐQT hay sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT và TGĐ (chẳng hạn Nguyễn Thị Thu Hào, 2015; Nguyễn Trọng Nguyên, 2014)
Rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến CBTT về BCBP trước đây cũng đã vận dụng lý thuyết đại diện (Kevin và Zain, 2001; Shammari và
cộng sự, 2008; Alfaraih và Alanezi, 2011; Farías và Rodríguez, 2014; Lê Thị
Hà, 2015) Những nghiên cứu này đã lý giải sự ảnh hưởng của các nhân tố như quy mô của DN, đòn bẩy tài chính, và khả năng sinh lời
Ngoài ra, Jensen và Meckling (1976) cũng cho rằng sự can thiệp của kiểm toán làm giảm thiểu xung đột giữa cơ quan quản lý và các cổ đông bên ngoài Kiểm toán đóng vai trò giám sát cho các cổ đông vì kiểm toán viên sẽ báo cáo phát hiện sai sót trọng yếu trong BCTC Vì vậy với lý thuyết này ngụ
ý rằng các công ty được kiểm toán bởi công ty kiểm toán thuộc Big 4 thì mức
độ CBTT BCTC nói chung và BCBP nói riêng càng cao
Trang 352.1.2 Lý thuyết tín hiệu (Signaling theory)
Lý thuyết tín hiệu dựa trên cơ sở đóng góp của 2 nghiên cứu của Arrow (1972) và Schipper (1981) Lý thuyết tín hiệu mô tả hành vi của một bên nắm thông tin từ đó phát ra tín hiệu cho thị trường và một bên sử dụng thông tin
đó Akerlof (1970) cho rằng trong hai bên tham gia giao dịch, một bên thường
có thông tin nhiều hơn bên kia Đó là hiện tượng thông tin bất đối xứng Lý thuyết tín hiệu giải quyết vấn đề thông tin bất đối xứng giữa công ty và các nhà đầu tư Spence (1973) cũng chỉ ra giải pháp để khắc phục thông tin bất đối xứng bằng cơ chế phát tín hiệu đó là bên có nhiều thông tin có thể phát tín hiệu một cách trung thực và tin cậy đến những bên ít thông tin Như vậy, lý thuyết tín hiệu cho rằng các các nhà quản lý gửi đi tín hiệu là các quyết định tài chính cho các nhà đầu tư để xem xét những thông tin phản hồi và tín hiệu này là nền tảng cho chính sách truyền thông tài chính
Lý thuyết tín hiệu giả định rằng các công ty có kết quả hoạt động kinh doanh tốt thường sử dụng thông tin tài chính như là một công cụ truyền tín hiệu đến thị trường (Ross, 1997) Như vậy, nhà quản lý có thể CBTT của công ty cho người sử dụng BCTC để họ có thể đánh giá tình hình hoạt động của công
ty một cách phù hợp Lý thuyết tín hiệu đã góp phần vào việc giải thích rằng những công ty có kết quả kinh doanh tốt (chẳng hạn tỷ suất sinh lời cao) sẽ vận dụng chính sách kế toán để thể hiện ưu điểm này như công bố nhiều thông tin nhiều hơn, trong khi những công ty có kết quả kinh doanh xấu hơn sẽ cố gắng che giấu đi những khuyết điểm này như là hạn chế CBTT ra bên ngoài Như vậy khi thông tin trình bày trên BCBP của công ty có ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư, công ty sẽ vận dụng chính sách kế toán để có thể cung cấp thông tin có lợi nhất về công ty của họ cho nhà đầu tư
Ngoài ra, theo lý thuyết này các công ty có đòn bẩy tài chính càng cao (tỷ suất nợ lớn), để tạo uy tín tốt đối với bên cho vay, các công ty sẽ có
Trang 36khuynh hướng công bố thông tin rõ và chi tiết hơn cho các chủ nợ Lý thuyết cũng có thể giải thích rằng với những công ty có thời gian hoạt động càng dài hoặc thời gian niêm yết càng dài họ muốn tạo dựng uy tín nên sẽ lập và trình bày BCBP trung thực hợp lý hơn để khẳng định uy tín của họ
2.1.3 Lý thuyết chi phí chính trị (Political cost theory)
Lý thuyết này nhấn mạnh tính bất lợi trong cạnh tranh của việc gia tăng công bố thông tin (Verrecchia, 1983) Chi phí độc quyền này tùy thuộc vào từng ngành nghề khác nhau Tuy nhiên, các DN trong cùng một ngành chịu áp lực cạnh tranh và quan tâm đến vị trí cạch tranh của mình sẽ phải đưa ra các báo cáo với mức độ tương đương với đối thủ của mình để tránh bị thị trường đánh giá thấp Nội dung căn bản của lý thuyết chi phí chính trị là một công ty chịu chi phí chính trị cao dự kiến sẽ công bố thêm nhiều thông tin đến thị trường nhằm hạn chế chi phí chính trị này Dưới góc độ chi phí độc quyền, việc giảm thiểu chi phí độc quyền tiềm tàng gắn với CBTT và tăng tính thuận lợi của nội dung công bố được xem là động cơ để các doanh nghiệp gia tăng mức độ công bố các báo cáo của mình (Verrecchia, 1983) Do đó DN sẽ luôn quan tâm đến vị trí cạnh tranh của mình nhằm lựa chọn mức CBTT phù hợp Những DN hoạt động trong môi trường ít cạnh tranh thường hạn chế CBTT nội bộ hơn các DN hoạt động trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt (Birt
và cộng sự, 2006) Lý thuyết về ảnh hưởng của chính trị cho rằng các nhà quản lý sẽ đưa ra các quy định, quyết định có lợi ích liên quan đến công ty (như chính sách về thuế, hạn chế độc quyền, cạnh tranh v.v.) dựa trên thông tin được công bố bởi các công ty (Paul và Largay III, 2005)
Theo lý thuyết này, các công ty lớn có mức sinh lời cao phải chịu chi phí chính trị cao hơn, nên tự nguyện công bố nhiều thông tin hơn (Paul và Largay III, 2005) Những công ty có định hướng lâu dài sẽ CBTT nhằm tăng
sự tác động tích cực đến hình ảnh của họ và tránh được sự chú ý của công
Trang 37chúng và cơ quan pháp lý (Al-Shammari và cộng sự, 2008; Benjamin và cộng
sự, 2010) Lý thuyết này cũng thừa nhận rằng những công ty chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý (chẳng hạn công ty có vốn sở hữu bởi Nhà nước) có xu hướng CBTT đầy đủ để tránh sự can thiệp của các quy định (Watts và Zimmerman, 1986) Một số nghiên cứu trước đây cũng đã chứng minh được mối liên hệ giữa chi phí chính trị và mức độ CBTT (chẳng hạn như Inchausti, 1997; Raffournier, 1995) Các nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, các DN có quy mô lớn, khả năng sinh lời cao thường phải chịu một chi phí chính trị cao, do đó họ sẽ có xu hướng CBTT đầy đủ hơn
Vận dụng lý thuyết này còn có thể giải thích các công ty có quyền sở hữu bởi Nhà nước càng cao, quyền sở hữu vốn bởi tổ chức càng cao sẽ CBTT trên BCTC nói chung và BCBP nói riêng đầy đủ hơn bởi vì các tổ chức và các công ty có vốn của Nhà nước để nâng cao thương hiệu, tránh các tai tiếng có liên quan, có thể xu hướng của họ muốn báo cáo thông tin về bộ phận đầy đủ hơn, chất lượng hơn, tuân thủ các quy định hiện hành Lý thuyết này cũng giải thích được các công ty thuộc lĩnh vực hoạt động công nghiệp có mức độ cạnh tranh cao nên có xu hướng báo cáo thông tin một cách đầy đủ và chi tiết để thu hút đầu tư
2.1.4 Lý thuyết chi phí sở h u (Proprietary cost theory)
Lý thuyết chi phí sở hữu liên quan đến việc CBTT được phát triển bởi Dye (1985) và Verrecchia (1983) Chi phí sở hữu được xem như là một hạn chế quan trọng nhất trong CBTT Những bất lợi trong cạnh tranh sẽ ảnh hưởng đến quyết định cung cấp các thông tin riêng tư Các công ty nhỏ rất nhạy cảm, nếu CBTT ở một mức độ lớn nào đó hoặc CBTT nhiều hơn sẽ gây các bất lợi và làm tổn hại đến lợi thế cạnh tranh của công ty trên thị trường (Singhvi và Desai, 1971) Lý thuyết chi phí sở hữu hàm ý đến các lợi ích và chi phí CBTT Các nhà quản lý thường cân nhắc kỹ loại thông tin nào phù
Trang 38hợp nhất để họ công bố ra bên ngoài về những rủi ro, chẳng hạn, trong khi hầu hết các công ty đều mong muốn thiết lập một hệ thống quản trị rủi ro thật chi tiết để có thể nắm bắt và đương đầu với chúng, thì họ lại rất miễn cưỡng
để công bố những thông tin nhạy cảm về thương mại hoặc chính trị Lý do là các đối tác bên ngoài, như các đối thủ cạnh tranh, các nhóm lợi ích, có thể tận dụng những thông tin này để gây hại cho công ty Vì vậy, luôn có những sai lệch giữa các thông tin rủi ro trong nội bộ và các thông tin rủi ro công bố chính thức ra công chúng Nếu công ty quá bí mật, các thông tin rủi ro của họ
sẽ hầu như không hề tồn tại trên thực tế, tuy điều này gây khó khăn cho những nhà đầu tư nhưng lại là một chiến lược an toàn Ngược lại, nếu quá minh bạch đến mức công bố cả nội dung của các rủi ro và cả cách thức sử dụng những công cụ nào để kiểm soát các rủi ro này, công ty có khả năng phải gánh chịu chi phí sở hữu Điều này làm cho các nhà quản lý luôn cân nhắc chiến lược CBTT sao cho đạt được sự đánh đổi tối ưu giữa lợi ích nhận được và cái giá phải trả vì chấp nhận CBTT
2.1.5 Lý thuyết kinh tế thông tin (Information economics theory)
Lý thuyết kinh tế thông tin đã được áp dụng từ những năm 1970 để đánh giá mức độ mà thị trường tài chính cũng như các tổ chức khác xử lý và truyền đạt thông tin Lý thuyết này cho rằng nhà quản lý công ty cân nhắc giữa lợi ích và chi phí liên quan đến thông tin được công bố khi họ ra quyết định Lý thuyết này tập trung vào thông tin bất đối xứng trên thị trường và giá trị kinh tế của thông tin Akerlof là người đầu tiên giới thiệu về thông tin bất đối xứng, theo đó bên có ít thông tin hơn có những quyết định không chính xác khi thực hiện giao dịch đồng thời bên có nhiều thông tin hơn cũng sẽ có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện nghĩa vụ giao dịch (Akerlof, 1970) Thông tin bất đối xứng được nhấn mạnh trong lý thuyết đại diện (Jensen và Meckling, 1976) Thông tin bất đối xứng là nền tảng của
Trang 39nhiều nghiên cứu và kế toán cũng như quản trị công ty (Hyderabad và Pradeepkumar, 2011) Theo Nguyễn Hữu Cường (2015) tóm lược, thông tin bất đối xứng cũng có thể tồn tại trong những dạng lựa chọn nghịch hoặc rủi ro đạo đức (Artiach và Clarkson, 2014) Với lựa chọn nghịch, nhà quản lý có thể lợi dụng lợi thế thông tin về chi phí của nhà đầu tư bằng cách quản lý những thông tin công bố Kết quả là quyết định đầu tư của nhà đầu tư sẽ không đúng
vì cách ứng xử CBTT của nhà quản lý Với rủi ro đạo đức, nhà quản lý có thể không nỗ lực để đạt được mục tiêu của công ty Kết quả là họ có thể xử lý báo cáo doanh thu để bóp méo và giấu diếm sự thật
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Cường (2015) cho rằng mức độ CBTT được nhà quản lý xác định bởi sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích liên quan đến việc CBTT nhằm giảm thiểu sự bất đối xứng thông tin Theo Nguyễn Hữu Cường (2017), đối với các cơ quan quản lý, sự đánh đổi giữa lợi ích và các chi phí liên quan đến việc ban hành và thực thi pháp luật các chính sách quy định CBTT Về phía các DN, các chi phí thường phải cân nhắc bao gồm các chi phí trực tiếp (lập BCTC và CBTT) và chi phí gián tiếp (chi phí sở hữu thông tin hay chi phí xã hội) Còn đối với người sử dụng, chi phí này chính là chi phí để nhận và xử lý thông tin (bao gồm cả những chi phí phát sinh do tình trạng nhiễu thông tin) Các nghiên cứu định lượng cũng đã áp dụng lý thuyết kinh tế thông tin để đưa ra những bằng chứng thực nghiệm rằng, chiến lược CBTT của các công ty là tuân thủ rất thấp đới với những khoản mục thông tin tốn kém cho dù những thông tin này người sử dụng rất có nhu cầu (Nguyễn Thị Thanh Phương và Nguyễn Công Phương, 2014)
2.1.6 Lý t u ết p í độ qu ền (Ex lus ve ost t eor )
Lý thuyết này nhấn mạnh tính bất lợi trong cạnh tranh của việc gia tăng CBTT (Verrecchia, 1983) Chi phí độc quyền tùy thuộc vào các ngành nghề khác nhau Tuy nhiên, các DN trong cùng một ngành chịu áp lực cạnh tranh
Trang 40và quan tâm đến vị trí cạnh tranh của mình sẽ phải đưa ra các báo cáo với mức độ tương đương với đối thủ của mình để tránh bị thị trường đánh giá thấp Dưới góc độ chi phí độc quyền, việc giảm thiểu chi phí độc quyền tiềm tàng gắn với CBTT và tăng tính thuận lợi của nội dung công bố được xem là động cơ để các DN gia tăng mức độ công bố các báo cáo của mình (Verrecchia, 1983) Những DN hoạt động trong môi trường ít cạnh tranh thường hạn chế CBTT nội bộ hơn các DN hoạt động trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt (Birt và cộng sự, 2006)
2.2 XÂY DỰNG CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Có một vài nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ giữa mức độ CBTT về BCBP với các nhân tố như: tỷ suất sinh lời, mức tăng trưởng, loại hình sở hữu, chất lượng kiểm toán, đòn bẩy, thời gian hoạt động, v.v Vận dụng những lý thuyết liên quan đã phân tích ở trên cùng với các kết quả nghiên cứu trước đây, luận văn xây dựng mười giả thuyết để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về BCBP
2.2.1 Công ty ểm toán
Giả thuyết này được đưa ra dựa trên lý thuyết đại diện Sự mâu thuẫn lợi ích giữa nhà quản lý và các cổ đông cần thiết phải có các công ty kiểm toán để kiểm tra độ tin cậy của các BCTC Mức độ CBTT của một công ty và quy mô của công ty kiểm toán độc lập có quan hệ chặt chẽ (Palmer, 2008) De Angelo (1981) cho rằng những công ty kiểm toán lớn (chẳng hạn Big 4) sẽ có danh tiếng tốt, vì thế danh tiếng công ty sẽ dễ mất nếu đưa ra báo cáo sai, lỗi hoặc bóp mép sự thật về báo cáo của khách hàng Alfaraih và Alanezi (2011) tóm lược rằng những công ty kiểm toán nhỏ lại nhạy cảm với nhu cầu của khách hàng hơn vì sẽ dễ gây tổn thất kinh tế nếu để mất khách hàng (Malone, Fries và Jones, 1993) những công ty kiểm toán lớn dường như ít phụ thuộc hơn vào một hoặc một vài khách hàng (Wallace và Naser,1995) và rõ ràng là