Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu Các nhà quản lý trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình sẽ nhận thức được tầm quan trọng của việc lập dự toán như là phương tiện để c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGÔ THÙY TRANG
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC
LẬP DỰ TOÁN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGÔ THÙY TRANG
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC
LẬP DỰ TOÁN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
Người hướng dẫn khoa ho ̣c: PGS.TS ĐOÀN NGỌC PHI ANH
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 3Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Ngô Thùy Trang
Trang 41 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu 4
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP DỰ TOÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LẬP DỰ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 10
1.1 TỔNG QUAN VỀ LẬP DỰ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 10
1.1.1 Khái niệm dự toán 10
1.1.2 Phân loại dự toán 10
1.1.3 Tầm quan trọng của lập dự toán 13
1.1.4 Quy trình lập dự toán 16
1.1.5 Hệ thống các báo cáo dự toán 17
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC LẬP DỰ TOÁN 26
1.2.1 Quy mô doanh nghiệp 26
1.2.2 Loại hình doanh nghiệp 26
1.2.3 Thời gian hoạt động của doanh nghiệp 27
1.2.4 Kế hoạch chiến lược của doanh nghiệp 28
1.2.5 Trình độ, năng lực lập dự toán của doanh nghiệp 28
1.2.6 Phân cấp quản lý doanh nghiệp 29
1.2.7 Cơ sở vật chất, công nghệ - kỹ thuật của doanh nghiệp 29
1.2.8 Chế độ, chính sách Nhà nước 29
Trang 52.1 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 32
2.2 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 32
2.2.1 Quy mô doanh nghiệp 32
2.2.2 Loại hình doanh nghiệp 33
2.2.3 Thời gian hoạt động 33
2.2.4 Kế hoạch, chiến lược 34
2.2.5 Trình độ, năng lực lập dự toán 34
2.2.6 Phân cấp quản lý doanh nghiệp 35
2.2.7 Cơ sở vật chất, công nghệ - kỹ thuật 35
2.2.8 Chế độ, chính sách Nhà nước 36
2.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 37
2.4 QUY TRÌNH THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU 37
2.4.1 Phương pháp định tính 38
2.4.2 Phương pháp định lượng 38
2.5 XÂY DỰNG THANG ĐO CÁC NHÂN TỐ CỦA MÔ HÌNH 43
2.5.1 Mức độ thực hiện công tác lập dự toán 43
2.5.2 Quy mô doanh nghiệp 43
2.5.3 Loại hình doanh nghiệp 44
2.5.4 Thời gian hoạt động 44
2.5.5 Kế hoạch chiến lược 45
2.5.6 Trình độ, năng lực lập dự toán 45
2.5.7 Phân cấp quản lý doanh nghiệp 46
2.5.8 Cơ sở vật chất, công nghệ - kỹ thuật 46
2.5.9 Chế độ, chính sách Nhà nước 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 47
Trang 63.1.1 Cơ cấu mẫu phân loại theo quy mô doanh nghiệp 48
3.1.2 Cơ cấu mẫu phân loại theo loại hình doanh nghiệp 49
3.1.3 Cơ cấu mẫu phân loại theo thời gian hoạt động của doanh nghiệp 49 3.2 MỨC ĐỘ THỰC HIỆN CÁC THÀNH PHẦN DỰ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH 51
3.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ LẬP DỰ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH 51
3.3.1 Quy mô doanh nghiệp 51
3.3.2 Loại hình doanh nghiệp 512
3.3.3 Thời gian hoạt động của doanh nghiệp 53
3.3.4 Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố còn lại theo mô hình hồi quy tuyến tính bội 55
3.4 TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 70
3.4.1 Mức độ thực hiện công tác lập dự toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 70
3.4.2 Các nhân tố tác động đến công tác lập dự toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 78
CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 80
4.1 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 79
4.1.1 Lập kế hoạch, chiến lược cụ thể, rõ ràng 79
4.1.2 Đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ - kỹ thuật 79
4.1.3 Nâng cao trình độ, năng lực lập dự toán 81
4.1.4 Thực hiện phân cấp quản lý doanh nghiệp 82
Trang 74.2.1 Đóng góp của nghiên cứu 82
4.2.2 Hạn chế và phương hướng phát triển đề tài 83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 84
KẾT LUẬN 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
GIẤY ĐỀ NGHỊ BẢO VỆ LUẬN VĂN (Bản sao)
BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN
NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1
NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 2
BÁO CÁO GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN
Trang 8Số
1.1 Tóm lược các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán 30
2.2 Phân loại quy mô doanh nghiệp theo số lượng lao động 44 3.1 Cơ cấu mẫu phân loại theo quy mô doanh nghiệp 48 3.2 Cơ cấu mẫu phân loại theo loại hình doanh nghiệp 49 3.3 Cơ cấu mẫu phân loại theo thời gian hoạt động 49 3.4 Mức độ thực hiện các thành phần lập dự toán 50 3.5 Thống kê Levene nhân tố quy mô doanh nghiệp 51 3.6 Kiểm định Welch nhân tố quy mô doanh nghiệp 51 3.7 Thống kê Levene nhân tố loại hình doanh nghiệp 52 3.8 Kiểm định Welch nhân tố loại hình doanh nghiệp 52 3.9 Kiểm định T-Test nhân tố số năm hoạt động 53
3.10 Trung bình giữa các thành phần dự toán theo thời gian hoạt
Trang 93.16 Kiểm định KMO và Bartlett thang đo các nhân tố ảnh
3.18 Kiểm định KMO và Bartlett thang đo mức độ lập dự toán 61
3.19 Kiểm định mức độ giải thích các biến quan sát đối với các
3.24 Bảng kiểm định giả định phương sai của sai số 68
3.26 So sánh với kết quả nghiên cứu trước về các thành phần dự
3.27 So sánh với kết quả nghiên cứu trước về sự ảnh hưởng của
Trang 10hiệu
2.1 Tóm tắt quy trình thực hiện nghiên cứu 42
3.3 Biểu đồ phân tán giữa giá trị dự đoán và phần dư từ hồi quy 68
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi hoạt động cũng đều có mục tiêu cần hướng đến, để đạt được mục tiêu đó doanh nghiệp cần thực hiện thông qua các kế hoạch ngắn hạn và kế hoạch dài hạn Để thực hiện các mục tiêu và kế hoạch đã đặt ra, cần thiết phải có nguồn lực, nghĩa là doanh nghiệp phải lập
dự toán Dự toán là một công cụ, một phương tiện để thiết lập mối quan hệ phù hợp giữa các mục tiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn của doanh nghiệp
Có thể nói việc lập dự toán là một nội dung quan trọng trong công tác tài chính cũng như sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp
Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Bình nói riêng đang trong giai đoạn hội nhập với kinh tế thế giới Nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp phải năng động, sáng tạo, nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh tế và đẩy nhanh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Chính vì thế, để có thể vững vàng và nâng cao năng lực cạnh tranh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có kế hoạch sản xuất và kế hoạch chi tiêu tài chính phù hợp Việc lập dự toán là công cụ quản lý khoa học nhằm làm hiểu rõ ưu điểm, nhược điểm, cắt giảm chi phí, tận dụng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Tuy nhiên, thực tế việc ứng dụng kế toán quản trị nói chung và lập dự toán nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình còn chưa được thực hiện một cách đầy
đủ, khoa học và hiệu quả, các số liệu trình bày trong bảng dự toán còn chưa phản ánh đúng tiềm năng thực tế của doanh nghiệp Bên cạnh đó, chưa có một nghiên cứu nào liên quan đến thực trạng vận dụng lập dự toán trong các
doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu các
nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình”, với mong muốn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ
Trang 12thống lập dự toán, để nó thực sự là công cụ hữu ích cho nhà quản trị, từ đó nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Luận văn hướng đến những mục tiêu nghiên cứu sau:
Thứ nhất, nghiên cứu thực trạng việc lập dự toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Thứ hai, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
Thứ ba, đề xuất các chính sách phù hợp góp phần thúc đẩy công tác lập
dự toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Công tác lập dự toán và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác lập dự toán tại doanh nghiệp
Phạm vi nghiên cứu: Các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, không khảo sát các doanh nghiệp hoạt động ở các lĩnh vực như: tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, các doanh nghiệp siêu nhỏ
Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu nghiên cứu, khảo sát được tiến hành năm 2017
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp hỗn hợp, bao gồm phương pháp định tính và định lượng Phương pháp định tính được sử dụng trong giai đoạn xây dựng bảng câu hỏi để phỏng vấn nhà quản lý, nhân viên kế toán công tác tại các đơn vị Phương pháp định lượng được thực hiện bằng cách phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi bằng giấy được gửi đến các đối tượng Thông tin thu thập được được xử lý bằng phần mềm SPSS 20
Trang 13Thang đo được sử dụng là thang đo định danh và thang đo Likert Thang đo định danh dùng để đánh giá thông tin của doanh nghiệp, thang đo Likert dùng để đánh giá mức độ thực hiện công tác lập dự toán, các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ở các doanh nghiệp
Thống kê mô tả được sử dụng để so sánh mức độ thực hiện công tác lập
dự toán cũng như mức độ hữu ích của việc lập dự toán Kiểm định T-Test và ANOVA được sử dụng để kiểm định sự khác biệt trong việc thực hiện công tác lập dự toán của các nhóm đối tượng khác nhau Mô hình hồi quy tuyến tính bội được sử dụng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc lập dự toán
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ cung cấp bằng chứng thực nghiệm về việc thực hiện công tác lập dự toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Đồng thời, nghiên cứu sẽ đóng góp vào việc bổ sung những nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong bối cảnh hiện nay, đây là đóng góp quan trọng vì cho tới thời điểm hiện tại chưa
có một nghiên cứu nào về việc đánh giá các nhân tố tác động đến việc lập dự toán của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Các nhà quản lý trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
sẽ nhận thức được tầm quan trọng của việc lập dự toán như là phương tiện để cải thiện thành quả hoạt động và duy trì khả năng cạnh tranh trên thị trường Đồng thời, kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ cho các nhà nghiên cứu trong việc hoạch định chính sách về công tác lập dự toán và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ thực hiện công tác lập dự toán để Ủy ban nhân dân tỉnh, các tổ chức
Trang 14tài chính, các đối tượng quan tâm đến các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh có các quyết định chính sách trong tương lai
6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Đề tài gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về lập dự toán và các nhân tố ảnh hưởng tới
việc lập dự toán trong các doanh nghiệp
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Hàm ý chính sách từ kết quả nghiên cứu
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Nghiên cứu nước ngoài
Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về việc vận dụng kế toán quản trị nói chung và lập dự toán nói riêng trong các doanh nghiệp, nổi bật như các nghiên cứu sau:
Horngren và cộng sự (2008) trong nghiên cứu “Tầm quan trọng của kế toán quản trị chi phí” đã đề cập đến việc lập dự toán tổng quát trong doanh nghiệp Xuất phát từ chiến lược chung của doanh nghiệp, kế toán quản trị sẽ lập dự toán tổng quát, sau đó từ dự toán tổng quát sẽ lập các dự toán cụ thể, bao gồm: (1) Dự toán hoạt động, (2) Dự toán vốn và (3) Dự toán tài chính Nghiên cứu đã chỉ rõ dự toán có thể lập chung cho các hoạt động hoặc dự toán riêng cho các bộ phận tùy thuộc vào nhà quản trị doanh nghiệp Bên cạnh
đó, nghiên cứu cũng đã xây dựng quy trình lập dự toán linh hoạt trong các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất và dịch vụ
Nghiên cứu của Joshi (2001) ở 60 doanh nghiệp vừa và lớn ở Ấn Độ cho thấy tỷ lệ áp dụng các công cụ kế toán quản trị truyền thống trong đó có lập dự toán cao hơn so với các công cụ kế toán quản trị hiện đại Theo đó, các công cụ kế toán quản trị truyền thống và hệ thống đánh giá thành quả được áp
Trang 15dụng rộng rãi, trong khi đó các công cụ kế toán quản trị hiện đại được áp dụng với tỷ lệ khá thấp và tỷ lệ tăng lên khá chậm
Barrett và cộng sự (1997) trong “Nghiên cứu về vai trò tác động của việc lập dự toán ngân sách cho các hoạt động” cho thấy dự toán có thể là những công cụ hữu ích để đánh giá hiệu suất của các nhà quản lý và nhân viên thông qua kết quả của họ trong việc đạt được các mục tiêu của dự toán Nói cách khác, dự toán có thể được xem là thước đo đánh giá hiệu quả công việc của các nhà quản lý và nhân viên trong doanh nghiệp
Qi (2010) trong nghiên cứu về tác động của quá trình dự toán ngân sách đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Trung Quốc đã đưa ra 7 yếu tố chính liên quan đến dự toán ngân sách, đó là: (1) Hoạch định ngân sách, (2) Mục tiêu ngân sách rõ ràng, (3) Sự phức tạp trong ngân sách (Công nghệ và mô hình được sử dụng trong ngân sách), (4) Kiểm soát quá trình ngân sách, (5) Sự tham gia vào ngân sách, (6) Quy mô doanh nghiệp và (7) Loại hình doanh nghiệp Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các doanh nghiệp lập
dự toán ngân sách đạt doanh thu bán hàng cao hơn so với các doanh nghiệp không lập dự toán, phát hiện này giống với kết quả nghiên cứu của Wijewardena và de Zoysa (2001) Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc đề ra mục tiêu và kiểm soát ngân sách rõ ràng có ảnh hưởng tốt đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Nghiên cứu của Warue và Wanjira (2013) đưa ra 5 yếu tố ảnh hưởng đến dự toán ngân sách là: (1) Sự tham gia của người lao động, (2) Quy mô doanh nghiệp, (3) Cấu trúc sở hữu doanh nghiệp, (4) Trình độ và kỹ năng của nhà quản trị và (5) Hệ thống thông tin kế toán Kết quả chỉ ra rằng sự tham gia của người lao động có ảnh hưởng đáng kể đến việc lập dự toán ngân sách, điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Chalos và Poon (2000) Nghiên cứu cũng cho thấy rằng sự phát triển tích cực của quy mô doanh nghiệp ảnh
Trang 16hưởng tốt đến quá trình lập dự toán và hoạt động của doanh nghiệp Nhóm tác giả cũng đã chỉ ra hệ thống thông tin kế toán tác động đáng kể đến quá trình lập dự toán ngân sách, quá trình lập ngân sách sẽ có hiệu quả hơn bằng cách tin học hóa hệ thống kế toán trong doanh nghiệp
Kamilah Ahmad (2012) tiến hành nghiên cứu việc áp dụng kế toán quản trị trong đó có công cụ lập dự toán trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực sản xuất ở Malaysia Kết quả nghiên cứu từ 160 doanh nghiệp cho thấy tỷ lệ áp dụng các công cụ kế toán quản trị truyền thống cao hơn so với các công cụ kế toán quản trị hiện đại Nghiên cứu cũng cho thấy rằng, 4 nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng kế toán quản trị trong đó có công cụ lập dự toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Malaysia gồm: (1) Quy mô doanh nghiệp, (2) Mức độ cạnh tranh trên thị trường, (3) Sự tham gia của nhà quản lý và (5) Công nghệ sản xuất
Nghiên cứu trong nước
Có nhiều tác giả trong nước đã nghiên cứu về việc xây dựng hệ thống
dự toán và hoàn thiện dự toán ngân sách cho doanh nghiệp, những nghiên cứu này góp phần không nhỏ trong việc xây dựng, bổ sung và khẳng định lý thuyết việc lập dự toán
Vũ Thị Kim Anh (2012) nghiên cứu về “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí vận tải tại các doanh nghiệp vận tải đường sắt Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” đã xác định công tác lập dự toán là quan trọng và cần thiết trong các doanh nghiệp vận tải đường sắt Theo đó, mô hình lập dự toán trong các doanh nghiệp này là mô hình từ dưới lên (xuất phát từ đơn vị
cơ sở) với các loại dự toán: dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung, dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp Tác giả cũng cho rằng việc xây dựng dự toán linh hoạt
Trang 17cho ngành đường sắt hiện nay là cần thiết nhằm kiểm soát chi phí, đồng thời giúp các nhà quản trị đánh giá được kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Trần Thúy Hằng (2016) đã đề xuất mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến dự toán ngân sách của các doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm
7 yếu tố: (1) Nguồn nhân lực thực hiện dự toán ngân sách, (2) Quy trình lập
dự toán ngân sách, (3) Cơ sở vật chất, công nghệ kỹ thuật, (4) Chế độ, chính sách Nhà nước, (5) Tổ chức công tác kế toán, (6) Kiểm soát quá trình lập dự toán ngân sách và (7) Môi trường hoạt động Nghiên cứu cho thấy các yếu tố đều có tác động dương lên công tác lập dự toán của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tác giả cũng chỉ ra rằng quá trình lập dự toán thúc đẩy sự phối hợp của các bộ phận với những thông tin liên quan, từ đó sẽ đạt được mục tiêu của từng bộ phận và toàn doanh nghiệp
Nghiên cứu của Lê Thị Quyên (2015) đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ở các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng bao gồm: quy mô, lĩnh vực hoạt động, thời gian hoạt động, cạnh tranh, phân cấp quản lý, trình độ nhân viên kế toán và ứng dụng công nghệ thông tin Nghiên cứu cho thấy các nhân tố cạnh tranh, phân cấp quản lý, trình độ nhân viên kế toán, ứng dụng công nghệ thông tin có tác động mạnh đến việc mức độ lập dự toán Cụ thể, khi mức độ cạnh tranh càng cao, các doanh nghiệp cần có nhiều thông tin để có thể ứng phó với các đối thủ trên thị trường, thông tin dự toán
là nguồn thông tin đáng tin cậy để phục vụ cho các mục đích quản trị khác nhau Tương tự, khi mức độ phân cấp quản lý càng lớn, đòi hỏi việc kiểm soát quản lý phải được thực hiện tốt hơn, dự toán được xem như công cụ giúp đo lường trách nhiệm của các cấp quản trị trong doanh nghiệp Bên cạnh đó, khi trình độ nhân viên kế toán càng cao sẽ thúc đẩy việc vận dụng kế toán quản trị, do đó công cụ lập dự toán cũng sẽ được sử dụng nhiều hơn để cung cấp thông tin cho nhà quản trị Ngoài ra, việc vận dụng công cụ lập dự toán cũng
Trang 18sẽ thuận lợi và nhanh chóng hơn khi doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin, nói cách khác, ứng dụng công nghệ thông tin sẽ thúc đẩy việc lập và sử dụng công cụ dự toán trong doanh nghiệp
Trần Thị Thủy Vân (2015) trong nghiên cứu về vận dụng lập dự toán ở Việt Nam cho thấy việc áp dụng dự toán hoạt động và dự toán tiền là dự toán thường xuyên được sử dụng trong các doanh nghiệp Việt Nam Ngược lại, dự toán đầu tư và dự toán linh hoạt dường như ít được sử dụng Ngoài ra, các doanh nghiệp có xu hướng sử dụng dự toán truyền thống nhiều hơn so với dự toán hiện đại
Nguyễn Thúy Hằng (2012) nghiên cứu về “Xác lập mô hình dự toán và báo cáo dự toán ngân sách cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Biên Hòa 2” đã đưa ra mô hình nghiên cứu gồm 5 biến: (1) Nguồn nhân lực, (2) Cơ
sở vật chất, (3) Chế độ chính sách Nhà nước, (4) Tổ chức công tác kế toán, (5) Quy trình thực hiện dự toán Tác giả đã khảo sát 121 doanh nghiệp, trong
đó có 54,5% doanh nghiệp không lập dự toán, phần lớn các doanh nghiệp không lập dự toán là các doanh nghiệp siêu nhỏ Trong các doanh nghiệp được khảo sát thì doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất có tỉ lệ lập
dự toán cao nhất chiếm 46,3% Theo đó, có 45,5% doanh nghiệp đưa dự toán ngân sách vào công tác quản lý, điều này giúp cho các cấp quản lý của doanh nghiệp có cái nhìn sơ bộ về hoạt động dự toán cho năm kế hoạch
Nguyễn Tiến Phương (2017) đã nêu ra 8 nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ở các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai là: (1) Quy mô, (2) Lĩnh vực hoạt động, (3) Thời gian hoạt động, (4) Cạnh tranh, (5) Phân cấp quản lý, (6) Trình độ nhân viên kế toán, (7) Ứng dụng công nghệ thông tin và (8) Công nghệ sản xuất trong việc lập dự toán Tác giả đã chỉ ra rằng việc lập
dự toán diễn ra nhiều ở các doanh nghiệp hoạt động trên 10 năm và lập dự
Trang 19toán có một vai trò rất lớn trong việc cung cấp thông tin cho các nhà quản trị cũng như làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Nhóm sinh viên Nhà kinh tế trẻ (2014) nghiên cứu về các nhân tố tác động đến xu hướng tạo ra khe hổng dự toán ngân sách cho các doanh nghiệp tại Việt Nam đã đưa ra mô hình nghiên cứu gồm 3 biến: (1) Thông tin kế toán quản trị phi tài chính, (2) Sự quan tâm của nhà quản trị đến kết quả thực hiện
dự toán ngân sách và (3) Sự hiểu biết của cá nhân Từ đó, nhóm tác giả đưa giải pháp xây dựng chuẩn giá trị ứng xử đạo đức trong doanh nghiệp và tăng cường sự nhận thức của nhân viên về chuẩn giá trị đạo đức này Tăng cường
sự nhận thức về đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp hạn chế xu hướng tạo ra khe hổng dự toán ngân sách
Những nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận văn đều chỉ ra được tầm quan trọng của việc lập dự toán đối với hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung nghiên cứu việc hoàn thiện dự toán ngân sách, một số nghiên cứu còn bị giới hạn về kích thước mẫu và thời gian nghiên cứu Bên cạnh đó, còn quá ít các nghiên cứu về các nhân tố tác động hay kiềm hãm sự vận dụng công cụ lập dự toán trong các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và trong một địa bàn cụ thể nói riêng, đặc biệt chưa có một nghiên cứu nào về mức độ thực hiện công tác lập
dự toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Do đó, việc nghiên cứu thực trạng việc lập dự toán và các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập
dự toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn
Trang 20CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP DỰ TOÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LẬP DỰ TOÁN TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN VỀ LẬP DỰ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm dự toán
Trong các nghiên cứu trước đây, dự toán được các học giả định nghĩa theo nhiều khía cạnh khác nhau:
Dự toán là một bản kế hoạch thể hiện dưới hình thức tiền tệ được chuẩn
bị trước cho thời gian sắp tới, thường là một năm (Brookson, 2000)
Hay dự toán ngân sách là công cụ lượng hóa các mục tiêu quản trị cho từng giai đoạn thực hiện chiến lược Theo đó, dự toán có 3 loại: dự toán vốn,
dự toán linh hoạt và dự toán chủ đạo (Trần Đình Phụng, 2009)
Trong khi đó, Huỳnh Lợi (2012) định nghĩa dự toán là những tính toán,
dự kiến, phối hợp một cách chi tiết và toàn diện về nguồn lực, cách thức huy động và sử dụng nguồn lực để thực hiện một khối lượng công việc cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định được biểu hiện bằng một hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị
Như vậy, dự toán là một kế hoạch toàn diện, phối hợp các hoạt động và nguồn lực của doanh nghiệp trong tương lai Dự toán cụ thể hóa các mục tiêu
mà tổ chức cần phải đạt được, đồng thời chỉ rõ cách thức huy động và sử dụng các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu đó thông qua hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị cho một khoảng thời gian xác định trong tương lai
1.1.2 Phân loại dự toán
Tuỳ theo nhu cầu cung cấp thông tin của nhà quản lý cũng như mục đích phát triển của doanh nghiệp, khi xây dựng dự toán các nhà quản trị có thể
Trang 21lựa chọn các loại dự toán khác nhau Căn cứ vào tiêu thức phân loại cụ thể, dự toán có thể được phân loại như sau:
a Phân loại theo chức năng:
Phân loại theo chức năng dự toán gồm hai loại: dự toán hoạt động và
dự toán tài chính (Huỳnh Đức Lộng, 2013)
Dự toán hoạt động: là dự toán phản ánh mức thu nhập và chi phí đòi
hỏi để đạt mục tiêu lợi nhuận trong một kỳ thời gian cụ thể
Dự toán hoạt động bao gồm các dự toán liên quan đến hoạt động cụ thể của doanh nghiệp như: dự toán bán hàng hoặc dự toán tiêu thụ, dự toán sản xuất, dự toán chi phí vật tư và cung ứng vật tư cho sản xuất, dự toán lao động trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung, dự toán giá vốn hàng bán, dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Dự toán tài chính: là dự toán phản ánh tình hình tài chính theo dự kiến
và cách thức tài trợ cần thiết cho các hoạt động đã lập dự toán
Dự toán tài chính bao gồm các dự toán liên quan đến tiền tệ như: dự toán vốn (dự toán đầu tư), dự toán vốn bằng tiền, dự toán báo cáo kết quả kinh doanh, dự toán bảng cân đối kế toán và dự toán báo cáo lưu chuyển tiền
tệ
b Phân loại theo mối quan hệ với mức độ hoạt động
Theo tiêu thức này dự toán được phân thành hai loại: dự toán tĩnh và dự toán linh hoạt (Huỳnh Đức Lộng, 2013)
Dự toán tĩnh: là dự toán được lập theo một mức độ hoạt động nhất
định Dự toán tĩnh sẽ không bị điều chỉnh hay thay đổi kể từ khi được lập ra bất kể có sự thay đổi về doanh thu tiêu thụ hoặc các điều kiện kinh doanh xảy
ra trong kỳ dự toán Dự toán tĩnh được lập tương đối giản đơn, tính toán ít Tuy nhiên, nó không cung cấp đủ thông tin để ứng phó với các tình huống khác nhau, nhất là khi doanh nghiệp có sự điều chỉnh về quy mô, mức độ hoạt
Trang 22động để thích ứng với tình hình thực tế của thị trường Dự toán này phù hợp với doanh nghiệp có hoạt động kinh tế ổn định Do đó, nếu dùng dự toán này
để đánh giá thành quả kinh doanh của doanh nghiệp mà các nghiệp vụ luôn biến động thì khó đánh giá được tình hình thực hiện dự toán của doanh nghiệp
Dự toán linh hoạt: là dự toán cung cấp cho đơn vị khả năng tính toán ở
các mức doanh thu, chi phí khác nhau Dự toán linh hoạt giúp các nhà quản lý giải quyết các vấn đề không chắc chắn bằng cách xem trước kết quả ở các mức doanh thu, chi phí cụ thể Thông thường, dự toán linh hoạt lập ở 3 mức
độ khác nhau: mức độ hoạt động khả quan nhất, mức độ hoạt động trung bình
và mức độ hoạt động bất lợi Ưu điểm của dự toán linh hoạt là thích ứng với
sự thay đổi của hoạt động kinh doanh, mở rộng phạm vi dự toán, dự toán linh hoạt giúp nhà quản trị có nhiều thông tin hơn để ứng phó với các tình huống sản xuất kinh doanh khác nhau Nhà quản lý thường thích sử dụng dự toán linh hoạt hơn dự toán tĩnh vì khi sử dụng dự toán linh hoạt nhà quản lý có thể đánh giá kết quả thực hiện công việc của nhân viên sau khi kiểm soát tác động ảnh hưởng từ doanh số Tuy nhiên, dự toán linh hoạt do phải lập ở nhiều mức
độ hoạt động khác nhau nên đòi hỏi tính toán tương đối phức tạp và tốn nhiều chi phí
c Phân loại theo thời gian
Phân loại theo thời gian dự toán gồm hai loại: dự toán dài hạn và dự toán ngắn hạn (Huỳnh Đức Lộng, 2013)
Dự toán dài hạn: còn được gọi là dự toán vốn hoặc dự toán đầu tư, dự
toán này liên quan đến tài sản cố định Dự toán dài hạn thường bao gồm việc
dự toán cho các tài sản lớn phục vụ cho hoạt động sản xuất và hệ thống phân phối như nhà xưởng, máy móc thiết bị để đáp ứng yêu cầu chiến lược kinh doanh Đặc điểm cơ bản của dự toán ngân sách vốn là lợi nhuận dự kiến lớn,
Trang 23mức độ rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài Dự toán ngân sách dài hạn thường được lập cho 5 năm, 10 năm hoặc dài hơn
Dự toán ngắn hạn: là dự toán được lập cho kỳ kế hoạch 1 năm và được
chia ra thành từng kỳ ngắn hơn như từng quý, từng tháng Dự toán ngắn hạn thường liên quan đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như hoạt động mua hàng, bán hàng, sản xuất, thu, chi,…Vì vậy, nó cũng chính là nguồn tài chính hoạt động hằng năm Đặc điểm cơ bản của dự toán này là được lập hằng năm trước khi niên độ kế toán kết thúc để định hướng nguồn tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp trong năm kế hoạch tiếp theo
1.1.3 Tầm quan trọng của lập dự toán
a Mục đích lập dự toán
Lập dự toán có 5 mục đích như sau:
- Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh: Lập dự toán cung cấp cho doanh
nghiệp toàn bộ thông tin về kế hoạch hoạt động trong một khoảng thời gian nhất định và yêu cầu các hoạt động cần diễn ra đúng kế hoạch, đem lại kết quả kinh doanh tốt nhất
- Phối hợp các hoạt động chức năng trong doanh nghiệp và thuận tiện hóa quá trình truyền đạt: Để đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp, tất
cả các bộ phận trong doanh nghiệp phải có sự phối hợp nhịp nhàng với nhau, mỗi bộ phận và cá nhân phải hiểu rõ được nhiệm vụ cụ thể của mình Dự toán
là công cụ mà các nhà quản trị dùng để quán triệt kế hoạch kinh doanh cho cấp dưới và lượng hóa các mục tiêu ở tất cả các cấp trong doanh nghiệp, đặt
ra mục tiêu cụ thể cho từng bộ phận, giúp cho quá trình truyền đạt thông tin
giữa các cấp thuận tiện hơn
- Khai thác các nguồn lực: Dự toán là căn cứ để khai thác, vận dụng
các khả năng tiềm tàng về nguồn lực của doanh nghiệp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh
Trang 24- Kiểm soát các hoạt động: Dự toán là căn cứ để đánh giá tình hình
thực hiện mục tiêu, kế hoạch và nhiệm vụ đã đặt ra Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ theo đúng tiến độ
- Đánh giá tình hình hoạt động: Dự toán giúp nhà quản trị kiểm soát
quá trình hoạt động và đánh giá trách nhiệm quản lý của từng bộ phận, từng
cá nhân trong doanh nghiệp Dự toán còn là công cụ để nhà quản trị cấp cao kiểm soát, đánh giá tình hình thục hiện các chỉ tiêu dự toán đối với đơn vị trực thuộc Họ sẽ so sánh kết quả đạt được với dự toán ban đầu từ đó có thể đánh giá được kết quả, hiệu quả và trách nhiệm quản lý của cấp dưới, phân tích và xác định nguyên nhân, điều chỉnh các hoạt động hướng về mục tiêu chung
b Vai trò của lập dự toán
Dự toán là cơ sở định hướng, chỉ đạo, kiểm tra và kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh cũng như phối hợp các chương trình hành động ở các bộ phận trong doanh nghiệp Qua các báo cáo dự toán, nhà quản trị dự tính được những gì sẽ xảy ra trong tương lai, kể cả những điều bất lợi, thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện dự toán Các báo cáo dự toán đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chức năng hoạch định, kiểm tra, kiểm soát của quản trị Thực hiện mục tiêu này, kế toán quản trị phải đảm bảo truyền đạt các thông tin dự toán và thông tin khác cho bộ phận liên quan trong nội bộ doanh nghiệp Các báo cáo dự toán phải được lập một cách toàn diện, đầy đủ bao gồm cả dự toán tổng thể và dự toán đầu tư (Trương Bá Thanh, 2008)
c Sự hữu ích của lập dự toán
Dự toán là một công việc tốn kém và chiếm khá nhiều thời gian Tuy nhiên, nếu dự toán được lập một cách cẩn thận và phù hợp thì các lợi ích đạt được thông qua việc lập dự toán sẽ lớn hơn rất nhiều so với thời gian và công
Trang 25sức bỏ ra Khi lập dự toán, doanh nghiệp có thể đạt được những lợi ích sau đây:
- Dự toán cung cấp cho các nhà quản trị phương tiện thông tin một cách
có hệ thống toàn bộ kế hoạch của doanh nghiệp
- Dự toán giúp truyền đạt kế hoạch, mục tiêu, chiến lược của nhà quản trị đến tất cả các bộ phận
- Dự toán làm cho các mục tiêu và cách thức để đạt được các mục tiêu được biểu hiện một cách rõ ràng Vì vậy, dự toán giúp cho việc quản lý trở nên thuận lợi hơn trong việc định hướng hoạt động kinh doanh theo các mục tiêu đã định
- Dự toán khuyến khích việc lập kế hoạch, liên kết, đánh giá kết quả thực hiện, cụ thể như sau:
+ Dự toán buộc nhà quản trị phải nghĩ đến kế hoạch hoạt động trong tương lai và xem việc lập kế hoạch như là khẩu lệnh đối với từng cá nhân trong doanh nghiệp nhằm giúp hạn chế bớt những tình huống không mong muốn có thể xảy ra Dự toán thúc ép các nhà quản lý luôn nhìn về phía trước
và xem xét mọi việc để sẵn sàng ứng phó khi các điều kiện hoạt động thay đổi
+ Các chỉ tiêu kết quả trong dự toán được xem là cơ sở cho việc đánh giá kết quả thực tế công việc
- Dự toán giúp phối hợp hoạt động của các đơn vị và các bộ phận Thông qua dự toán, tất cả các yếu tố của sản xuất, của các bộ phận, các phòng ban sẽ được kết nối thành một hệ thống mà trong đó tất cả các mối quan hệ trong doanh nghiệp sẽ ăn khớp với nhau và cân đối để đáp ứng các mục tiêu của doanh nghiệp
Trang 26- Dự toán giúp cải thiện mối liên kết và truyền thông Tuy nhiên, điều này có thể dễ dàng nhận thấy trên lý thuyết nhưng trên thực tế mất rất nhiều công sức và trí lực mới có thể đạt được
Tóm lại, dự toán giúp ích rất nhiều cho các nhà quản lý, nhưng chính bản thân dự toán cũng cần sự giúp đỡ từ phía các nhà quản lý Các nhà quản
lý cấp cao nên hiểu điều này và có những biện pháp từ mọi khía cạnh để dự toán đạt kết quả cao hơn Có thể nói dự toán đã cung cấp cho nhà quản lý một
hệ thống cảnh báo nhằm tư vấn kịp thời cho nhà quản lý những rắc rối tiềm tàng có thể xảy ra trong tương lai và giải quyết nó một cách tự tin và hợp lý
1.1.4 Quy trình lập dự toán
Do mỗi doanh nghiệp có một đặc điểm và một phong cách quản lý riêng nên quy trình lập dự toán cũng sẽ khác nhau Dưới đây là một quy trình
quản lý dự toán tiêu biểu được trình bày trong quyển Managing budgets của
tác giả Stephen Brookson (2000) Theo tác giả, quá trình lập dự toán trải qua
3 giai đoạn sau: giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn soạn thảo và giai đoạn kiểm soát
Giai đoạn chuẩn bị: Đây là bước khởi đầu cũng là khâu quan trọng
nhất trong toàn bộ quy trình dự toán Trong giai đoạn này cần phải làm rõ các mục tiêu cần đạt được vì tất cả các báo cáo dự toán đều được xây dựng dựa vào chiến lược và mục tiêu phát triển kinh doanh của doanh nghiệp trong một giai đoạn nhất định Sau khi xác định rõ ràng mục tiêu, doanh nghiệp sẽ xây dựng một mô hình dự toán chuẩn Điều này giúp nhà quản lý cấp cao dễ dàng phối hợp dự toán của tất cả các bộ phận và cho phép so sánh, kết nối nội dung
dự toán một cách dễ dàng Khi tất cả các công việc cần thiết cho việc lập dự toán đã được chuẩn bị đầy đủ cũng là lúc cần phải xem lại tất cả các vấn đề một cách có hệ thống để chắc chắn rằng dự toán sẽ cung cấp thông tin chính xác và phù hợp nhất
Trang 27Giai đoạn soạn thảo: Trong giai đoạn này, những bộ phận và cá nhân
có liên quan đến việc lập dự toán phải tập hợp toàn bộ thông tin về các nguồn lực có sẵn trong doanh nghiệp, các yếu tố bên trong, bên ngoài có tác động và ảnh hưởng đến công tác dự toán, đồng thời ước tính giá trị thu, chi Trên cơ sở
đó, soạn thảo các báo cáo dự toán có liên quan như: dự toán tiêu thụ, dự toán sản xuất, dự toán chi phí, dự toán tiền, dự toán bảng cân đối kế toán, dự toán
báo cáo kết quả kinh doanh, vv
Giai đoạn kiểm soát: Dự toán ngân sách là một công việc quan trọng
được thực hiện từ năm này sang năm khác, từ tháng này sang tháng khác Vì vậy, để dự toán ngày càng hoàn thiện hơn thì ở mỗi kỳ dự toán cần phải thường xuyên theo dõi, đánh giá tình hình dự toán để từ đó xem xét lại các thông tin, cơ sở lập dự toán và có những điều chỉnh cần thiết, đồng thời rút kinh nghiệm cho lần lập dự toán tiếp theo
1.1.5 Hệ thống các báo cáo dự toán
Hệ thống chỉ tiêu ngân sách của doanh nghiệp được xây dựng riêng cho từng quá trình như: quá trình mua hàng, quá trình sản xuất, quá trình tiêu thụ
và chi tiết cho từng nội dung như: vốn bằng tiền, hàng tồn kho; từng loại chi phí nghiệp vụ kinh doanh như: chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp; từng loại báo cáo tổng hợp như: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,…
Do hoạt động của doanh nghiệp sản xuất thường đa dạng và phức tạp nhất nên trình tự xây dựng dự toán tổng thể ở doanh nghiệp sản xuất được xét đến nội dung này Dự toán sản xuất được lập cho cả năm và chia ra các quý, các tháng trong năm Song để việc lập dự toán chính xác và có tính khả thi thì cuối tháng, cuối quý doanh nghiệp căn cứ vào tình hình thực hiện dự toán tháng, quý đó và các yếu tố ảnh hưởng của tháng, quý tiếp theo để lập dự toán (Trương Bá Thanh, 2008)
Trang 28a Dự toán tiêu thụ sản phẩm
Dự toán tiêu thụ sản phẩm là dự toán được lập đầu tiên và là căn cứ để xây dựng các dự toán còn lại trong dự toán tổng thể Dự toán tiêu thụ sản phẩm được xây dựng căn cứ trên chỉ tiêu lượng tiêu thụ với giá bán kỳ vọng Khi lập dự toán tiêu thụ, doanh nghiệp cũng dự kiến dòng tiền thu từ hoạt động bán hàng thu tiền ngay và bán hàng trả chậm, bảng dự kiến dòng tiền thu này sẽ là cơ sở để xây dựng dự toán tiền mặt
Công thức xác định dự toán tiêu thụ sản phẩm:
Dự toán tiêu thụ =
Dự toán sản phẩm tiêu thụ x
Đơn giá bán theo dự toán Sau khi xác lập mục tiêu chung của dự toán tiêu thụ, dự toán còn có trách nhiệm chi tiết hoá nhiệm vụ cho từng thời kỳ, từng bộ phận Việc xem xét khối lượng tiêu thụ theo thời kỳ còn dựa vào chu kỳ sống của sản phẩm Nếu sản phẩm của doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi tính thời vụ thì khi xây dựng dự toán phải tính đầy đủ múc ảnh hưởng này, và có phương pháp tính đến tính thời vụ trong các phương pháp dự báo Một trong những phương tiện giúp đỡ cho các dự báo này là việc phân tích dữ liệu quá khứ theo luồng được thành lập dựa trên nhiều thời kỳ khác nhau
Trên cơ sở mục tiêu theo từng thời kỳ của doanh nghiệp, dự toán tiêu thụ phải được lập cụ thể theo từng vùng, theo từng bộ phận, từng sản phẩm Như vậy, nó không những giúp đỡ nhà quản trị trong việc tổ chức thực hiện
mà còn cho phép đánh giá kết quả và thành tích của các vùng khi so sánh kết quả thực hiện và mục tiêu đạt được
Khi lập dự toán tiêu thụ cũng cần quan tâm đến chính sách bán hàng của doanh nghiệp để ước tính các dòng tiền thu vào liên quan đến bán hàng trong các thời kỳ khác nhau
Trang 29b Dự toán sản lượng sản xuất
Dự toán sản lượng sản xuất được lập trên cơ sở số lượng tiêu thụ, số lượng dự trữ cho kỳ kế tiếp và tồn kho thành phẩm đầu kỳ Mục đích của dự toán này là phải tính được số lượng sản phẩm cần sản xuất trong kỳ nhằm đảm bảo kế hoạch bán ra của kỳ dự toán và tuân thủ chính sách tồn kho sản phẩm của doanh nghiệp
Công thức xác định lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ:
+
Số sản phẩm tiêu thụ trong
kỳ
-
Số sản phẩm tồn đầu kỳ theo dự toán Khi lập dự toán sản xuất cần chú ý đến việc phân chia công việc cho các đơn vị cũng như theo thời gian thực hiện từng công đoạn Việc phân bổ cụ thể công việc cho phép doanh nghiệp tổ chức thực hiện công việc tốt hơn, đồng thời kiểm tra, kiểm soát được công việc một cách dễ dàng
Phân bổ công việc theo thời gian thường là hằng tháng, cho phép chọn lựa các cách thức điều chỉnh tuỳ thuộc vào nội dung doanh nghiệp và bản chất của sản phẩm Phân bổ công việc theo bộ phận nhằm lập dự toán nội bộ là công việc rất quan trọng vì nó là cơ sở để lập dự toán chi phí sản xuất theo bộ phận cũng như theo thời gian Thường công việc này khá đơn giản đối với các doanh nghiệp chỉ sản xuất một loại sản phẩm, nhưng khá phức tạp đối với doanh nghiệp có nhiều đơn vị, nhiều loại sản phẩm Phân bổ công việc vừa theo thời gian vừa theo bộ phận trước hết phải quan tâm đến cấu trúc tổ chức của doanh nghiệp để qua đó xem xét tiềm năng của từng bộ phận Các nhân tố quan trọng cần xem xét khi thực hiện công việc này là khả năng dự trữ tồn kho, lực lượng lao động chủ yếu của doanh nghiệp, sự phù hợp giữa mức trang bị tài sản cố định Đối với một số loại hình sản xuất có ảnh hưởng của
Trang 30yếu tố thiên nhiên khi lập dự toán còn phải chú ý đến tính thời vụ của sản phẩm trong việc phân bố công việc
c Dự toán chi phí sản xuất
Lập dự toán chi phí sản xuất nhằm xác định toàn bộ chi phí để sản xuất một khối lượng sản phẩm đã được xác định trước Chi phí để sản xuất sản phẩm bao gồm 3 khoản mục là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Dự toán chi phí sản xuất phải thể hiện đầy đủ ba loại chi phí này
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phản ánh tất cả chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp cần thiết để đáp ứng yêu cầu sản xuất đã được thể hiện trên
dự toán khối lượng sản phẩm sản xuất Để lập dự toán nguyên vật liệu trực tiếp cần xác định:
- Định mức tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất một sản phẩm
- Đơn giá xuất nguyên vật liệu Thông thường đơn giá xuất ít thay đổi Tuy nhiên để có thể phù hợp với thực tế và làm cơ sở cho việc kiểm tra, kiểm soát khi dự toán đơn giá này cần phải biết doanh nghiệp sử dụng phương pháp tính giá hàng tồn kho nào
- Mức độ dự trữ nguyên vật liệu trực tiếp vào cuối kỳ dự toán được tính toán trên cơ sở lý thuyết quản trị tồn kho
x
Số lượng sản phẩm sản xuất theo dự toán
sử dụng
x
Đơn giá xuất nguyên vật liệu
Trang 31Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được xây dựng từ dự toán sản xuất
Dự toán này cung cấp những thông tin quan trọng liên quan đến quy mô của lực lượng lao động cần thiết cho kỳ dự toán Mục tiêu cơ bản của dự toán này
là duy trì lực lượng lao động vừa đủ để đáp ứng yêu cầu sản xuất, tránh tình trạng lãng phí sử dụng lao động Dự toán lao động còn là cơ sở để doanh
nghiệp lập dự toán về đào tạo, tuyển dụng trong quá trình hoạt động sản xuất
Chi phí nhân công trực tiếp thường là biến phí trong mối quan hệ với khối lượng sản phẩm sản xuất, nhưng trong một số ít các trường hợp chi phí nhân công trực tiếp không thay đổi theo mức độ hoạt động Đó là trường hợp
ở các doanh nghiệp sử dụng công nhân có trình độ tay nghề cao, không thể trả công theo sản phẩm hoặc theo thời gian Để lập dự toán chi phí này, doanh nghiệp phải dựa vào số lượng nhân công, quỹ lương, cách phân phối lương và nhiệm vụ của doanh nghiệp
Đối với biến phí nhân công trực tiếp, để lập dự toán doanh nghiệp cần xây dựng định mức lao động để sản xuất sản phẩm và tiền công cho từng giờ lao động hoặc từng sản phẩm nếu doanh nghiệp trả lương theo sản phẩm
x
Định mức thời gian sản xuất
1 đơn vị sản phẩm
x
Đơn giá giờ công lao động trực tiếp
Dự toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là các chi phí liên quan đến phục vụ và quản lý hoạt động sản xuất, phát sinh trong phân xưởng Dự toán chi phí sản xuất chung được lập dựa vào số lượng sản phẩm sản xuất hoặc thực hiện dịch vụ, định mức biến phí sản xuất chung, định mức định phí sản xuất chung Cụ thể
là số lượng sản xuất, định mức giờ công của nhân công trực tiếp và đơn giá
Trang 32phân bổ biến phí, định phí sản xuất chung Dự toán chi phí sản xuất chung bao gồm dự toán biến phí sản xuất chung và dự toán định phí sản xuất chung
Biến phí sản xuất chung có thể được xây dựng theo từng yếu tố chi phí cho một đơn vị hoạt động (chi phí vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp, ) Tuy nhiên cách làm này thường khá phức tạp, tốn nhiều thời gian
Do vậy khi dự toán chi phí này, người ta thường xác lập biến phí sản xuất chung cho từng đơn vị hoạt động
Dự toán biến phí cũng có thể được lập theo tỷ lệ trên biến phí trực tiếp, khi đó dự toán biến phí sản chung sẽ được xác định:
Dự toán biến phí
sản xuất chung =
Dự toán biến phí trực tiếp x
Tỷ lệ biến phí theo dự kiến
Dự toán định phí sản xuất chung cần thiết phải phân biệt định phí bắt buộc và định phí tùy ý Đối với định phí bắt buộc, trên cơ sở định phí chung
cả năm chia đều cho 4 quý nếu là dự toán quý, hoặc chia đều cho 12 tháng nếu là dự toán tháng Còn đối với định phí tùy ý thì phải căn cứ vào kế hoạch của nhà quản trị trong kỳ dự toán
Công thức xác định dự toán định phí sản xuất chung:
kỳ trước
x
Tỷ lệ % tăng (giảm) định phí sản xuất theo dự kiến
d Dự toán giá vốn hàng bán
Giá vốn hàng bán thực chất là tổng giá thành của khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ tính theo phương pháp giá toàn bộ Như vậy, trên cơ sở số lượng sản phẩm sản xuất theo dự toán, giá thành dự toán để sản xuất sản
Trang 33phẩm, số lượng sản phẩm dự trữ dự toán vào cuối kỳ, dự toán giá vốn hàng bán được xây dựng như sau:
+
Tổng giá thành sản phẩm sản xuất trong kỳ
-
Giá vốn thành phẩm tồn kho cuối kỳ Nếu đơn vị không có tồn kho sản phẩm hoặc chi phí đơn vị tồn kho tương tự nhau thì giá vốn hàng bán có thể tính bằng tích của sản lượng tiêu thụ nhân với giá thành sản xuất đơn vị sản phẩm
e Dự toán chi phí bán hàng
Dự toán chi phí bán hàng phản ánh các chi phí liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm dự tính của kỳ sau Dự toán này nhằm mục đích tính truớc và tập hợp các phương tiện chủ yếu trong quá trình bán hàng Khi xây dựng dự toán cho các chi phí này cần tính đến nội dung kinh tế của chi phí cũng như yếu tố biến đổi và yếu tố cố định trong thành phần chi phí
Dự toán chi
phí bán hàng =
Dự toán định phí bán hàng +
Dự toán biến phí bán hàng
Dự toán định phí bán hàng
Yếu tố định phí thường ít biến đổi trong một phạm vi phù hợp gắn với các quyết định dài hạn, và có thể dự báo một cách dễ dàng dựa vào chức năng kinh doanh của doanh nghiệp Các chi phí này cũng có thể thay đổi trong trường hợp phát triển thêm mạng phân phối mới, thêm các dịch vụ mới sau bán hàng, dịch vụ nghiên cứu phát triển thị trường,
Dự toán định phí bán hàng
=
Định phí bán hàng thực tế
kỳ trước
x
Tỷ lệ % tăng (giảm) theo
dự kiến
Trang 34Dự toán biến phí bán hàng
Các biến phí bán hàng của doanh nghiệp có thể là biến phí trực tiếp như hoa hồng, lương nhân viên bán hàng, … Biến phí gián tiếp là những chi phí liên quan đến từng bộ phận bán hàng như chi phí bảo trì, xăng dầu, hỗ trợ bán hàng, và thường được dự toán trên cơ sở số lượng bán hàng dự toán hoặc xác định một tỷ lệ biến phí bán hàng theo thống kê kinh nghiệm nhiều kỳ
Dự toán biến
phí bán hàng =
Dự toán biến phí đơn vị bán hàng x
Sản lượng tiêu thụ theo dự toán Hoặc:
Dự toán biến
phí bán hàng =
Dự toán biến phí trực tiếp x
Tỷ lệ biến phí theo dự kiến
f Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Dự toán chi phí quản lý thường phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp Chi phí này liên quan đến toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp Tương tự như dự toán bán hàng, việc lập dự toán biến phí quản lý này thường dựa vào biến phí quản lý đơn vị nhân với sản lượng tiêu thụ dự kiến
Công thức xác định dự toán biến phí quản lý doanh nghiệp:
Dự toán biến
phí QLDN =
Dự toán biến phí đơn vị QLDN x
Sản lượng tiêu thụ theo dự toán Hoặc sử dụng phương pháp thống kê kinh nghiệm, trên cơ sở tỷ lệ biến phí quản lý doanh nghiệp trên biến phí trực tiếp trong và ngoài khâu sản xuất
ở các kỳ kế toán trước để xác định tỷ lệ biến phí bình quân giữa các kỳ Công thức để xác định biến phí này như sau:
Dự toán biến
phí QLDN =
Dự toán biến phí trực tiếp x
Tỷ lệ biến phí QLDN Định phí quản lý doanh nghiệp thường không thay đổi theo mức độ
Trang 35thêm cho bộ phận quản lý của doanh nghiệp Lập dự toán bộ phận này cần căn cứ vào dự báo các nội dung cụ thể của từng yếu tố chi phí để xác định chính xác định phí theo dự toán
g Dự toán vốn bằng tiền
Dự toán vốn bằng tiền được tính bao gồm việc tính toán các luồng tiền mặt và tiền gửi ngân hàng thu vào và chi ra liên quan đến các mặt hoạt động của doanh nghiệp trong các thời kỳ Dự toán này có thể được lập hằng năm,
hằng quý và nhiều khi cần thiết phải lập hằng tháng, tuần, ngày
Dự toán vốn bằng tiền là một trong những dự toán quan trọng của doanh nghiệp Vì nó thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán bằng tiền cho người lao động, các nhà cung cấp và đáp ứng các nhu cầu chi tiêu khác
Dự toán vốn bằng tiền là cơ sở để doanh nghiệp có dự toán vay mượn, phát hành trái phiếu, cổ phiếu, kịp thời khi lượng tiền mặt thiếu hoặc có kế
hoạch đầu tư sinh lợi khi lượng tiền mặt tồn quỹ thừa
h Dự toán Bảng cân đối kế toán
Trên cơ sở các dự toán về vốn bằng tiền, về tồn kho, mà các bộ phận
đã lập, phòng kế toán lập dự toán bảng cân đối kế toán Dự toán bảng cân đối
kế toán thực chất là xác lập các danh mục tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ
sở hữu để đảm bảo và cân đối với tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh đã được dự toán trong kỳ Việc dự toán bảng cân đối thường được căn cứ vào bảng cân đối kế toán năm trước và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, những dự báo thay đổi về tài sản, nguồn vốn trong kỳ dự toán
i Dự toán Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Trên cơ sở các dự toán bộ phận đã lập, bộ phận kế toán quản trị lập báo cáo kết quả kinh doanh dự toán Số liệu dự toán trên các báo cáo tài chính này thể hiện kỳ vọng của các nhà quản lý tại doanh nghiệp và có thể được xem
Trang 36như một công cụ quản lý của doanh nghiệp cho phép ra các quyết định về quản trị, nó cũng là cơ sở để đánh giá tình hình thực hiện dự toán đã đề ra
Dự toán này được lập căn cứ vào các dự toán doanh thu, dự toán giá vốn và các dự toán chi phí ngoài sản xuất đã được lập Dự toán này có thể được lập theo phương pháp toàn bộ hoặc theo phương pháp trực tiếp
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC LẬP DỰ TOÁN
1.2.1 Quy mô doanh nghiệp
Quy mô doanh nghiệp được đo lường bằng tổng tài sản hay tổng doanh thu của doanh nghiệp hoặc số lượng nhân viên làm việc trong doanh nghiệp Burns và Stalker (1968), Woodward (1965) cho rằng quy mô doanh nghiệp được xem là một biến ngữ cảnh của đơn vị và nó có thể tác động đến thiết kế của một tổ chức cũng như hệ thống quản lý ngân sách của doanh nghiệp Các nghiên cứu trước đây của Firth (1996) ở Trung Quốc hay của El-Ebaishi (2003) ở Arập Saudi đã cho thấy tỉ lệ vận dụng kế toán quản trị trong đó có công cụ lập dự toán ở các doanh nghiệp có quy mô lớn cao hơn so với các doanh nghiệp quy mô nhỏ, điều này phù hợp với nghiên cứu của Abdel-Kader
và Luther (2008) Ngược lại, Williams và Seaman (2001) tìm thấy sự thay đổi của hệ thống kế toán quản trị nói chung và việc lập dự toán nói riêng xảy ra nhiều hơn ở các doanh nghiệp có quy mô nhỏ chứ không phải trong các doanh nghiệp có quy mô lớn
1.2.2 Loại hình doanh nghiệp
Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam (2014), hiện nay nước ta có 4 loại hình doanh nghiệp chính, bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh Các loại hình doanh nghiệp khác nhau có bản chất khác nhau về chủ sở hữu, tư cách pháp lý, giới hạn trách nhiệm, cách thức huy động vốn và cách chuyển quyền sở hữu khác nhau, từ đó dẫn đến mục tiêu và cách thức hoạt động khác nhau
Trang 37Chẳng hạn, doanh nghiệp tư nhân chỉ do một cá nhân làm chủ, mỗi cá nhân chỉ được làm chủ một doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân
có tư cách thể nhân có nghĩa là không phân biệt giữa tư cách của doanh nghiệp và tư cách chủ doanh nghiệp, về cách thức huy động vốn của doanh nghiệp tư nhân là do chủ doanh nghiệp tự đăng ký bằng tài sản cá nhân của mình và không được huy động vốn trên sàn chứng khoán Bên cạnh đó, công
ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có chủ doanh nghiệp là tổ chức hoặc cá nhân, số lượng từ 2 tới 50 thành viên, có tư cách pháp nhân và không được phát hành cổ phiếu mà chỉ được mời thêm thành viên tham gia góp vốn Còn đối với công ty cổ phần, vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, những người sở hữu cổ phần là cổ đông và một công ty cổ phần phải có ít nhất 3 cổ đông và không hạn chế số lượng tối
đa, công ty cổ phần có tư cách pháp nhân và có quyền phát hành chứng khoán
để huy động vốn
Như vậy, các loại hình doanh nghiệp đều có những đặc điểm khác nhau, các nhà quản trị tùy thuộc vào mục tiêu kinh doanh để đưa ra chiến lược
và kế hoạch kinh doanh phù hợp, từ đó sẽ có cách thức quản trị và chiến lược
sử dụng ngân sách khác nhau Hiện nay chưa có nghiên cứu nào nói về việc vận dụng kế toán quản trị trong đó có công cụ lập dự toán tại các loại hình doanh nghiệp khác nhau Vì vậy, việc nghiên cứu mức độ lập dự toán theo loại hình sở hữu doanh nghiệp sẽ có ý nghĩa thực tiễn và phục vụ cho cơ sở lý thuyết của những nghiên cứu sau này
1.2.3 Thời gian hoạt động của doanh nghiệp
Thời gian hoạt động của doanh nghiệp được tính từ khi doanh nghiệp thành lập đến thời điểm nghiên cứu Nghiên cứu của O’Connor và cộng sự (2004) cho thấy các doanh nghiệp có thời gian hoạt động càng lâu sử dụng càng nhiều kế toán quản trị Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Phương (2017) tìm
Trang 38thấy rằng, các doanh nghiệp chủ yếu vận dụng công cụ lập dự toán với số năm hoạt động trên 10 năm Ngược lại, nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) cho thấy ảnh hưởng của nhân tố thời gian hoạt động không có sự tác động lớn đến với việc áp dụng kế toán quản trị nói chung và công cụ lập dự toán nói riêng trong các doanh nghiệp vừa và lớn ở Việt Nam
1.2.4 Kế hoạch chiến lược của doanh nghiệp
Kế hoạch chiến lược là các chương trình hành động tổng quát, là kế hoạch triển khai và phân bố các nguồn lực quan trọng để đạt được mục tiêu cơ bản toàn diện và lâu dài của tổ chức Theo Horngren và cộng sự (2008) kế toán quản trị trong đó có công cụ lập dự toán có tác động cùng chiều với hoạch định chiến lược Điều này phù hợp với nghiên cứu của Hồ Mỹ Hạnh (2013), tác giả đã tiến hành khảo sát và xác định được rằng chiến lược của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến mức độ lập dự toán của doanh nghiệp Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Minh Huệ (2014) thì các yếu tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán lại không bao gồm yếu tố này
1.2.5 Trình độ, năng lực lập dự toán của doanh nghiệp
Trình độ, năng lực lập dự toán được hiểu là tầm nhìn tổng quát của người lập dự toán, mức độ sử dụng các thông tin quản lý, khả năng phân tích, phán đoán và ước lượng về tình hình của doanh nghiệp trong tương lai Theo kết quả nghiên cứu của Hồ Mỹ Hạnh (2013), trình độ nhân viên thực hiện công tác kế toán có ảnh hưởng cùng chiều với mức độ lập dự toán trong doanh nghiệp Nghiên cứu của Libby và Waterhouse (1996) tìm thấy mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa năng lực của một tổ chức với sự thay đổi của hệ thống kế toán quản trị O’Connor và cộng sự (2004) cho rằng việc lập dự toán trong doanh nghiệp phụ thuộc vào vấn đề đào tạo Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ lập dự toán tăng lên cùng với mức độ đào tạo mà nhân viên được nhận
Trang 391.2.6 Phân cấp quản lý doanh nghiệp
Phân cấp trong quản lý doanh nghiệp đề cập đến mức độ tự chủ của các nhà quản trị các cấp, là năng lực quyết định chỉ huy với cấp dưới một cách hợp pháp và chính đáng Phân cấp quản lý cũng là công cụ để nhà quản trị thực hiện chức năng theo từng cấp bậc của mình Williams và Seaman (2001) cho rằng, giữa việc quản lý tập trung và sự thay đổi của hệ thống các công cụ
kế toán quản trị có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau Ngược lại, Soobaroyen
và Poorundersing (2008), Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) lại tìm thấy có mối
quan hệ tỷ lệ thuận giữa phân cấp quản lý và việc áp dụng kế toán quản trị trong đó có công cụ lập dự toán Tuy nhiên, Libby và Waterhouse (1996), Chenhall và Morris (1986) lại không tìm thấy bằng chứng về sự tác động của
phân cấp quản lý lên nhân tố này
1.2.7 Cơ sở vật chất, công nghệ - kỹ thuật của doanh nghiệp
Cơ sở vật chất, công nghệ - kỹ thuật được được đo lường dựa trên các khía cạnh về việc ứng dụng các thiết bị, máy móc, công nghệ số và các loại công nghệ khác nói chung Tayles và Drury (1994) nhận thấy rằng ứng dụng công nghệ có ảnh hưởng quan trọng vào việc lập dự toán của công ty trong việc đo lường hiệu suất và kiểm soát hoạt động Bên cạnh đó, theo nghiên cứu của Abdel – Maksoud và cộng sự (2005) phát hiện ra rằng các công cụ thuộc
kế toán quản trị được sử dụng tương đối phức tạp trong các doanh nghiệp đầu
tư đáng kể vào công nghệ - kỹ thuật
1.2.8 Chế độ, chính sách Nhà nước
Chế độ, chính sách của Nhà nước được hiểu là các điều luật, chế độ, chính sách quản lý kinh tế tài chính do Nhà nước ban hành trong từng thời kỳ nhất định Đó có thể là sự thay đổi trong chế độ kế toán, chính sách thuế, điều chỉnh giá, lạm phát, quy định môi trường hoạt động của doanh nghiệp Theo Pomberg và cộng sự (2012), sự thay đổi của chính sách Nhà nước có tỷ lệ
Trang 40thuận với các thành phần thuộc kế toán quản trị trong doanh nghiệp Kết quả này cũng giống với nghiên cứu của Lê Thị Minh Huệ (2014) cho rằng việc lập
dự toán trong doanh nghiệp chịu sự tác động của hệ thống chính sách và chế
độ của Nhà nước Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Hồ Mỹ Hạnh (2013) thì trong các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ lập dự toán lại không bao gồm nhân tố này
Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ thực hiện công tác lập dự toán trong các nghiên cứu trước đây được trình bày trong Bảng 1.1
Bảng 1.1 Tóm lược các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán
Quy mô doanh
nghiệp
Số lượng nhân viên
Williams và Seaman (2001) Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) Loại hình doanh
nghiệp
Sử dụng thang đo danh nghĩa
Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam (2014)
Thời gian hoạt
động
Số năm từ khi thành lập
O’Connor và cộng sự (2004)
Kế hoạch chiến
lược
Sử dụng thang đo Likert
Horngren và cộng sự (2008)
Hồ Mỹ Hạnh (2013) Trình độ, năng
lực lập dự toán
Sử dụng thang đo Likert
Hồ Mỹ Hạnh (2013) Libby và Waterhouse (1996) Phân cấp quản lý Sử dụng thang đo
Likert
Williams và Seaman (2001) Soobaroyen và Poorundersing (2008) Đoàn Ngọc Phi Anh (2012)
Cơ sở vật chất,
công nghệ - kỹ
thuật
Sử dụng thang đo Likert
Tayles và Drury (1994) Abdel - Maksoud và cộng sự (2005)
Chế độ, chính
sách
Sử dụng thang đo Likert
Pomberg và cộng sự (2012)
Lê Thị Minh Huệ (2014)
(Nguồn: Tổng hợp từ các kết quả nghiên cứu)