1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

118 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Mức Độ Công Bố Thông Tin Tùy Ý Trên Báo Cáo Tài Chính Giữa Niên Độ Của Các Công Ty Niêm Yết Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
Tác giả Dương Ngọc Như Quỳnh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hữu Cường
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 6,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, mức độ công bố thông tin CBTT tùy ý trong BCTC giữa niên độ của các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay như thế nào và những nhân tố nào có thể ảnh hưởng đến mứ

Trang 1

CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng - Năm 2017

Trang 2

CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Mã số: 60.34.03.01

Ngư ư ng n o ọ : TS NGUYỄN HỮU CƯỜNG

Đà Nẵng - Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Dương Ngọ N ư Quỳn

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 3

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÙY Ý TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH GIỮA NIÊN ĐỘ 7

1.1 CƠ CỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH GIỮA NIÊN ĐỘ 7

1.1.1 Nội dung báo cáo tài chính giữa niên độ 7

1.1.2 Vai trò của báo cáo tài chính giữa niên độ 8

1.1.3 Đo lường mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ 9

1.2 LÝ THUYẾT KHUNG VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÙY Ý 12

1.2.1 Lý thuyết thông tin hữu ích 13

1.2.2 Lý thuyết tín hiệu 13

1.2.3 Lý thuyết đại diện 14

1.2.4 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 15

1.2.5 Lý thuyết tính kinh tế của thông tin 16

1.3 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 18

1.3.1 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố mức độ trì hoãn công bố báo cáo tài chính 18

1.3.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố chủ thể kiểm toán thực hiện soát xét báo cáo tài chính 19

Trang 5

1.3.3 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố tỉ lệ vốn nhà nước trên

vốn điều lệ 21

1.3.4 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố tỉ lệ vốn sở hữu của nhà quản lý 22

1.3.5 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố mức độ độc lập của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc 23

1.3.6 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố quy mô công ty 24

1.3.7 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố tỉ suất sinh lời 25

1.3.8 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố tính tự chủ về tài chính 26

1.3.9 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố khả năng thanh toán nhanh 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 29

2.1 XÂY DỰNG CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 29

2.1.1 Giả thuyết về mức độ trì hoãn công bố báo cáo tài chính 29

2.1.2 Giả thuyết về chủ thể kiểm toán thực hiện soát xét báo cáo tài chính 30

2.1.3 Giả thuyết về tỉ lệ vốn nhà nước trên vốn điều lệ 31

2.1.4 Giả thuyết về tỉ lệ vốn sở hữu của nhà quản lý 32

2.1.5 Giả thuyết về mức độ độc lập của hội đồng quản trị và ban giám đốc 32

2.1.6 Giả thuyết về quy mô công ty 34

2.1.7 Giả thuyết về tỉ suất sinh lời 34

2.1.8 Giả thuyết về tính tự chủ về tài chính 35

2.1.9 Giả thuyết về khả năng thanh toán nhanh 35

2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 36

2.2.1 Thiết lập mô hình 36

Trang 6

2.2.2 Đo lường biến phụ thuộc 37

2.2.3 Đo lường các biến độc lập 40

2.3 MẪU NGHIÊN CỨU 42

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 43

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44

3.1 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÙY Ý TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH GIỮA NIÊN ĐỘ CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 44

3.1.1 Mức độ công bố thông tin tùy ý theo từng chỉ tiêu 44

3.1.2 Tổng hợp mức độ công bố thông tin tùy ý 49

3.2 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÙY Ý TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH GIỮA NIÊN ĐỘ Ở VIỆT NAM 50

3.2.1 Đối với Báo cáo tài chính bán niên năm 2016 51

3.2.2 Đối với trường hợp Báo cáo tài chính quý 2 năm 2016 62

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 72

CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN 74

4.1 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÙY Ý TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH GIỮA NIÊN ĐỘ Ở VIỆT NAM 74

4.1.1 Chú trọng hơn nữa đến tính độc lập của Ban giám đốc và Hội đồng quản trị 74

4.1.2 Hàm ý từ sự ảnh hưởng của tỉ lệ sở hữu vốn của Nhà nước 75

4.1.3 Hàm ý từ sự ảnh hưởng của khả năng thanh toán nhanh 76

4.1.4 Các kiến nghị khác 77

4.2 KẾT LUẬN 79

4.2.1 Kết quả đạt được 79

4.2.1 Hạn chế của nghiên cứu 81

Trang 7

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 82

PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản s o)

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

OLS Hồi quy bình phương bé nhất

VIF Thừa số tăng phương sai

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Số ệu

2.1 Thang đo các chỉ tiêu về mức độ CBTT tùy ý 39

3.1 Chi tiết mức độ CBTT tùy ý trên BCTC bán niên năm

3.7 Kết quả kiểm định tự tương quan ở Mô hình 1a 55

3.8 Kết quả kiểm định phương sai không đồng nhất ở Mô

3.9 Kết quả thống kê sự ảnh hưởng của các nhân tố đến

mức độ CBTT tùy ý trên BCTC bán niên năm 2016 59

3.10 Thống kê mô tả các biến độc lập trên BCTC quý 2 năm

3.11 Hệ số tương quan cặp của các biến độc lập (Mô hình

Trang 10

Số ệu

3.13 Kết quả kiểm định tự tương quan ở Mô hình 1b 66

3.14 Kết quả kiểm định phương sai không đồng nhất ở Mô

3.15 Kết quả thống kê sự ảnh hưởng của các nhân tố đến

mức độ CBTT tùy ý trên BCTC quý 2 năm 2016 69

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tín ấp t ết ủ đề tà

Cùng với sự phát triển kinh tế đất nước thì thị trường chứng khoán ở Việt Nam ngày càng phát triển Tính đến nay, trên cả nước, ở cả hai Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 700 công ty niêm yết (CTNY) Thị trường chứng khoán ngày càng trở thành một kênh đầu tư hấp dẫn thu hút nhiều cá nhân và tổ chức tham gia Trên thị trường đó, một trong những điều nhà đầu tư quan tâm nhất khi tham gia trên thị trường chứng khoán chính là thông tin, đặc biệt là thông tin liên quan đến tài chính BCTC giữa niên độ chính là một trong những kênh thông tin được nhiều nhà đầu tư quan tâm, vì loại BCTC này phản ánh khá kịp thời những thông tin liên quan đến tài chính của CTNY Hiện nay, chuẩn mực kế toán Việt Nam số 27 (BCTC giữa niên độ) đã quy định một số thông tin mà các doanh nghiệp cần phải công bố trên BCTC giữa niên độ Tuy nhiên, do chuẩn mực không quy định mức độ rõ mức độ chi tiết của từng chỉ tiêu phải công bố, nên trên thực tế doanh nghiệp có thể tùy ý điều chỉnh về mức độ công bố những thông tin bắt buộc này khi phát hành các BCTC giữa niên độ Những thông tin tùy ý công bố trên các BCTC này có thể tác động không nhỏ đến quyết định của nhà đầu tư Tuy nhiên, mức độ công bố thông tin (CBTT) tùy ý trong BCTC giữa niên độ của các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay như thế nào và những nhân tố nào có thể ảnh hưởng đến mức độ CBTT này vẫn còn là một khoảng trống trong nghiên cứu Xuất phát từ lý do đó, tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ của các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam” nhằm đánh giá về thực trạng (mức độ) CBTT tùy ý trong BCTC giữa niên độ ở Việt Nam và quan trọng hơn là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT này Trên cơ sơ đó, đề xuất được các giải pháp phù hợp nhằm cải thiện chất lượng thông tin mà BCTC giữa niên độ

Trang 12

cung cấp cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam

2 Mụ t êu ng ên ứu

Xác định mức độ CBTT tùy ý trong BCTC giữa niên độ của các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tùy ý trong BCTC giữa niên độ của các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện mức độ CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ của các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam

3 Đố tượng và p ạm v ng ên ứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mức độ CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ bởi các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT này

Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn trong phạm vi là các BCTC quý 2 và BCTC bán niên đã soát xét năm 2016 của 100 CTNY (được lựa chọn theo phương pháp chọn ngẫu nhiên hệ thống) trên Sở giao dịch chứng khoán

Hà Nội và Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

4 P ương p áp ng ên ứu

- Xác định mức độ CBTT tùy ý thông qua việc vận dụng phương pháp phân tích nội dung Cụ thể, trên cơ sở thang đo mức độ CBTT tùy ý đã được xây dựng trên cơ sở các quy định về CBTT có liên quan, luận văn đã đo lường mức độ CBTT tùy ý trên BCTC bán niên và quý 2 năm 2016 của các CTNY được khảo sát

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tùy ý trên BCTC bán niên của các CTNY thông qua việc kiểm định mô hình hồi quy Cụ thể, trên cơ sở mô hình hồi quy đã được xây dựng, luận văn đã thực hiện phân tích hồi quy bằng mô hình hồi quy (kết hợp tất cả các quan sát – Pooled Ordinary List Squares) để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan đến các giả thuyết đã được xây dựng

Trang 13

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Hàm ý chính sách và kết luận

6 Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu

Trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay có nhiều nghiên cứu về các nhân

tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trên BCTC năm cả bắt buộc lẫn tự nguyện Tuy nhiên, các nghiên cứu được thực hiện trên BCTC bán niên lại không đáng kể Hơn nữa, đa phần các nghiên cứu đều chỉ mới tập trung vào mức độ CBTT bắt buộc hoặc tự nguyện, trong khi đó nghiên cứu tập trung đánh giá, kiểm chứng các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tùy ý trên BCTC bán niên còn khan hiếm

Nguyễn Hữu Cường [27] đã tóm lược rằng nghiên cứu sớm nhất về CBTT trên BCTC quý được thực hiện bởi McEwen và Schwartz (1992) với

76 CTNY trên Sở Giao dịch chứng khoán New York và cho rằng các công ty không công bố tất cả các thông tin phù hợp với chuẩn mực kế toán số 28 về BCTC giữa niên độ Nghiên cứu của họ cũng lập luận rằng việc thực thi các yêu cầu sẽ nâng cao tính hữu ích của BCTC giữa niên độ, nên đã đề xuất việc soát xét thường xuyên cho BCTC giữa niên độ Tuy nhiên, các đánh giá này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu việc CBTT bắt buộc ở các BCTC quý bằng phương pháp thống kê mô tả chứ chưa thực hiện việc kiểm chứng sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT bắt buộc cũng như tùy ý trên BCTC giữa niên độ

Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Thủy Hưởng [12] đã tóm lược các nghiên cứu

Trang 14

về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện trên BCTC bán niên

ở New Zealand trong đó đưa ra kết luận rằng các nhân tố như vốn bên ngoài, các khoản chi trả cổ tức giữa niên độ và các khoản thu nhập không mong đợi

có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện, trong khi đó sự biến động của mùa vụ ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ CBTT tự nguyện (Bradbury, 1991)

Khác với nghiên cứu trên sử dụng hồi quy logistic để kiểm định sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT tự nguyện giữa niên độ, nghiên cứu của Schadewitz và Blevins [29] đã kiểm tra các yếu tố quyết định về việc CBTT bắt buộc và tự nguyện trên BCTC giữa niên độ của các CTNY không thuộc lĩnh vực tài chính ở Phần Lan trong giai đoạn từ năm 1985 đến năm

1993 bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất (OLS) và mức độ CBTT được đo bằng hệ thống chỉ mục do chính các nhà nghiên cứu

tự xây dựng nên Nghiên cứu của họ đã chỉ ra rằng rủi ro kinh doanh (đo lường bằng độ lệch tiêu chuẩn về sự thay đổi tỷ lệ phần trăm trong doanh thu thuần hoặc độ lệch chuẩn của thay đổi tỷ lệ cố định đến tổng tài sản) và quy

mô doanh nghiệp (đo lường bằng số lượng nhân viên) có ảnh hưởng đáng kể,

cụ thể là có mối quan hệ thuận chiều với mức CBTT của các CTNY; ngược lại, tiềm năng tăng trưởng lại có mối quan hệ ngược chiều với mức CBTT Ngoài ra, trong lĩnh vực CBTT cũng còn có một số nghiên cứu khác khảo sát sự ảnh hưởng của nhân tố đến mức độ CBTT bắt buộc và tự nguyện trên BCTC năm của các CTNY ở Vương quốc Anh [23] cũng sử dụng hồi quy OLS Kết quả đã chỉ ra rằng quyền sở hữu cổ phần của ủy ban kiểm toán

có quan hệ cùng chiều với mức độ CBTT của BCTC giữa niên độ; nhưng chuyên môn về kiểm toán tài chính của nhóm kiểm toán có quan hệ nghịch chiều; còn quy mô của ủy ban kiểm toán lại không có sự liên quan đáng kể nào Ngoài ra, quy mô doanh nghiệp (đo lường bằng tổng tài sản), sự tham gia của kiểm toán viên có mối liên hệ tích cực đáng kể với mức độ CBTT trên

Trang 15

BCTC giữa niên độ Như vậy, hạn chế là nghiên cứu trên là chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của một số rất ít các nhân tố (đặc biệt là chú trọng đến các nhân tố thuộc về đặc trưng của ủy ban kiểm toán) đến mức độ CBTT trên BCTC giữa niên độ

Ở các nước đang phát triển như Malaysia, Ấn Độ, đã có những nghiên cứu để kiểm tra các mức độ CBTT trên BCTC giữa niên độ và các nhân tố ảnh hưởng đến nó Tuy nhiên, các nghiên cứu này hầu như chỉ sử dụng phương pháp thống kê mô tả, và chưa đưa ra kết luận gì về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trên BCTC giữa niên độ [28]

Mặt khác, điểm đáng chú ý là các nghiên cứu này đã đánh giá về mức

độ CBTT trên BCTC quý, đây là một điểm khác biệt so với các nghiên cứu ở các nước phát triển hầu như chỉ tập trung vào BCTC bán niên

Cá ng ên ứu ở V ệt N m

Là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về BCTC giữa niên

độ của nhiều quốc gia, Nguyễn Hữu Cường [27] đã nghiên cứu về mức độ CBTT bắt buộc, tùy ý và tự nguyện trên 700 BCTC giữa niên độ của 7 nước thuộc châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam Ông đã thiết lập thang đo các mức độ CBTT, khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT dựa trên lý thuyết về tính kinh tế của thông tin (Information Economics Theory) và đưa ra kết luận: mức độ CBTT trên BCTC giữa niên

độ ở các quốc gia là khác nhau, và mức độ CBTT là cao hơn ở những quốc gia có hoặc áp dụng luật phù hợp với chuẩn mực kế toán/chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, và cao hơn ở các BCTC được soát xét

Mặt khác, ở bài báo có liên quan Nguyễn Hữu Cường [6] đã dựa vào các nghiên cứu ở các chỉ tiêu về mức độ CBTT bắt buộc và tùy ý ở 7 nước đã chỉ

ra rằng mức độ CBTT ở các CTNY ở Việt Nam là kém nhất, đặc biệt là đối với BCTC quý 2 Từ đó, ông đưa ra một số kiến nghị và giải pháp đối với doanh nghiệp cũng như cơ quan ban hành chính sách

Trang 16

Ngoài ra, trong lĩnh vực nghiên cứu về CBTT cũng có một số nghiên cứu có liên quan khác đã đánh giá được mức độ và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các CTNY tại Việt Nam, nhưng là đối với các BCTC Phần lớn các nghiên cứu đó đều sử dụng phương pháp OLS và dựa trên các khung lý thuyết như lý thuyết đại diện, hay lý thuyết tín hiệu, v.v để kiểm định sự tác động của các nhân tố đến mức độ CBTT bắt buộc trên BCTC năm Trong đó có các nhân tố như nhân tố khả năng thanh toán [12] hay khả năng sinh lời và tài sản cố định [11]

Về khía cạnh nghiên cứu về CBTT tự nguyện, có thể kể đến nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hào [10], đã nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện của các CTNY ở Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Bà đã sử dụng lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu để nhận diện các nhân tố ảnh hưởng thông qua phương pháp OLS, kết quả là lợi nhuận, quy mô và loại hình sở hữu có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện

Nhìn chung, các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT

ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào CBTT trên BCTC năm, hiếm có nghiên cứu

về CBTT trên BCTC giữa niên độ, và càng hiếm hơn đối loại nghiên cứu về CBTT tùy ý Hơn nữa, trong điều kiện áp dụng Thông tư 155/2015/TT-BTC [5] về CBTT trên sàn giao dịch chứng khoán, thay thế Thông tư 52/2012/TT-BTC [2] trước đó, việc CBTT của các CTNY ít nhiều có thay đổi Tuy nhiên, đến nay chưa có nghiên cứu nào về CBTT tùy ý được tiến hành trong điều kiện

áp dụng Thông tư 155/2015/TT-BTC [5] này Đây là một khoảng trống nghiên cứu về mức độ CBTT của các CTNY ở Việt nam

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÙY Ý TRÊN BÁO CÁO TÀI

CHÍNH GIỮA NIÊN ĐỘ 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH GIỮA NIÊN ĐỘ

1.1.1 Nộ ung báo áo tà ín g ữ n ên độ

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 27 [1] thì BCTC giữa niên độ là BCTC gồm các báo cáo đầy đủ theo quy định trong chuẩn mực kế toán Việt Nam 21 “Trình bày báo cáo tài chính (BCTC)” hoặc các BCTC tóm lược quy định trong chuẩn mực này cho một kỳ kế toán giữa niên độ Như vậy, hệ thống BCTC giữa niên độ bao gồm:

+ Bảng cân đối kế toán (đầy đủ hoặc tóm lược),

+ Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (đầy đủ hoặc tóm lược), + Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (đầy đủ hoặc tóm lược), và

+ Bản Thuyết minh BCTC chọn lọc

Trong đó, kỳ kế toán giữa niên độ là kỳ lập BCTC tháng hoặc quý theo quy định của pháp luật Hiện nay, kỳ báo cáo giữa niên độ ngắn nhất được được quy định bắt buộc đối với các CTNY ở Việt Nam là quý [1]

CBTT trên BCTC giữa niên độ ở các nước đã áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế chủ yếu chịu sự điều chỉnh của IAS 34, còn ở Việt Nam thì việc này chịu sự điều tiết của chuẩn mực kế toán Việt Nam 27 và đối với các CTNY thì trực tiếp là Thông tư 155/2015/TT-BTC [5] về hướng dẫn CBTT trên thị trường chứng khoán

Cũng theo Thông tư này thì các CTNY phải lập và CBTT về BCTC bán niên (06 tháng đầu năm tài chính) và BCTC quý, trong đó BCTC bán niên phải được soát xét bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận

Trang 18

1.1.2 V trò ủ báo áo tà ín g ữ n ên độ

Thông tin trên BCTC là hệ thống các dữ kiện liên quan đến hoạt động của các CTNY tham gia trên thị trường chứng khoán Nguyễn Hữu Cường [27] đã tóm lược rằng trong những nghiên cứu thời kì đầu trước khi BCTC giữa niên độ được quy định bắt buộc phải công bố, các nhà nghiên cứu đã chỉ

ra rằng những nhà đầu tư mong muốn biết được nhiều thông tin hơn trên thị trường chứng khoán (Sanders, 1934) Do vậy họ cần nhiều BCTC thường xuyên hơn, nên BCTC giữa niên độ đóng vai trò rất quan trọng

Nguyễn Hữu Cường [27] cũng tóm lược rằng theo thời gian, BCTC giữa niên độ trở nên phổ biến hơn, và trong những nghiên cứu ở châu Âu (Opong, 1995) đã chứng minh rằng CBTT trên BCTC giữa niên độ đã cải thiện tình trạng thông tin bất cân xứng, tác động tích cực đến giá cổ phiếu và các giao dịch trên thị trường chứng khoán Nhờ vậy, tính thanh khoản của chứng khoán trên thị trường được cải thiện, đồng thời sự giao dịch mua – bán chứng khoán cũng được tăng lên

Đầy đủ hơn, trong một nghiên cứu gần đây, Claudia & Lucia [17] đã chỉ

ra rằng BCTC giữa niên độ cung cấp thông tin kế toán kịp thời cho người sử dụng để xây dựng các kế hoạch hoạt động và ra các quyết định đầu tư Đồng thời, loại BCTC này cũng cung cấp những thông tin ý nghĩa về định hướng phát triển của doanh nghiệp và những thông tin mang tính mùa vụ của một số hoạt động có thể ảnh hưởng đến năm tài chính của doanh nghiệp Những thông tin này còn hữu ích trong việc giúp người đọc đánh giá những thay đổi

về quy mô và cấu trúc của doanh nghiệp trong ngắn hạn

Bên cạnh đó, nghiên cứu của Claudia & Lucia [17] cũng cho rằng BCTC giữa niên độ có thể cung cấp tình hình cân bằng tài chính của doanh nghiệp, dựa vào đó người đọc có thể dự đoán được nhu cầu tài chính của doanh nghiệp trong tương lai và có thể nắm bắt nhu cầu vay mượn của doanh nghiệp

để lấy các lợi ích về tài chính

Trang 19

Nghiên cứu của họ cũng cho rằng, nhìn từ góc độ khác, thông tin kế toán – tài chính kịp thời và chất lượng trên BCTC giữa niên độ còn giúp đóng góp vào sự quản lý hiệu quả của doanh nghiệp và tăng giá trị thị trường của nó Ngoài ra, nghiên cứu của họ cũng chỉ ra rằng BCTC giữa niên độ còn giúp tăng hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán thông qua việc tiết kiệm chi phí và tăng cường tính minh bạch thông tin và giao tiếp với bên thứ

ba Như vậy, nó giúp cho nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, các chuyên gia tài chính có thể nhận biết được xu hướng phát triển của thị trường từ đó chống lại được những ảnh hưởng tiêu cực (nếu có) từ hoạt động của doanh nghiệp, hạn chế những tổn thất không đáng có và đưa ra những định hướng phát triển

BCTC giữa niên độ đóng vai trò rất quan trọng trên thị trường chứng khoán như vậy, nhưng chất lượng của nó đến nay vẫn còn là vấn đề [25] Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng chất lượng của BCTC giữa niên độ có thể được cải thiện nhờ vào các quy định về chuẩn mực kế toán, sự bắt buộc phải soát xét và đo lường các chỉ tiêu được công bố

1.1.3 Đo lư ng mứ độ ông bố t ông t n trên báo áo tà ín g ữ

n ên độ

CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời [14]

Nội dung và hình thức thông tin được công bố tùy thuộc vào những luật pháp, quy định về kế toán của từng quốc gia Đa số các nghiên cứu trên thế giới khi xem xét đến mức độ CBTT trên BCTC đều phân loại CBTT thành tự nguyện và bắt buộc (chẳng hạn như: [19], [21], [27]) Theo đó, sự khác nhau giữa hai loại CBTT này có thể được tóm tắt như sau

Về CBTT tự nguyện: Thông tin được công bố tự nguyện là các thông tin

mà CTNY không bắt buộc phải công bố Hay nói cách khách, các CTNY tự

Trang 20

nguyện công bố thêm những thông tin này để nhà đầu tư có thể hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động của đơn vị mình Việc CBTT tự nguyện nhằm đáp ứng tốt hơn và đầy đủ hơn nhu cầu của người sử dụng Thông tin tự nguyện công bố

bổ sung những thiếu hụt của thông tin bắt buộc nhằm thỏa mãn nhu cầu người

sử dụng Mức độ công bố những thông tin này tùy thuộc vào sự lựa chọn của doanh nghiệp

Để đánh giá mức độ CBTT tự nguyện, trong số các nghiên cứu hiện có

về lĩnh vực này, Nguyễn Trọng Nguyên [13] đã tóm lược rằng các nghiên cứu

đã đo lường mức độ công bố những thông tin thuộc loại này thông qua danh mục thông tin tự nguyện công bố từ những nghiên cứu trước đó hoặc của các hội nghề nghiệp, dựa trên việc cho điểm từng khoản mục Khi khảo sát BCTC của các đơn vị, điểm 1 sẽ được gán cho những khoản mục có công bố và điểm

0 sẽ được gán cho những khoản mục không công bố Trong đó, danh mục thông tin tự nguyện công bố có sự khác nhau ở các nghiên cứu khác nhau Chẳng hạn như, danh mục này gồm 71 yếu tố ở nghiên cứu của Jouini Fathi (2013), hay gồm 72 tiêu chí ở nghiên cứu của Eugene và Stephen (2006) (theo [27]) Ở Việt Nam, Nguyễn Thị Thu Hào [10] khi nghiên cứu về mức độ CBTT tự nguyện trên các BCTC năm ở Sở giao dịch chứng khoán thành phố

Hồ Chí Minh đã thiết lập danh mục thông tin công bố tự nguyện dựa trên các nghiên cứu trên thế giới và Thông tư 52 [2] hướng dẫn về CBTT trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam Tiếp đến, bà tiến hành khảo sát lấy ý kiến của những người làm trong lĩnh vực kế toán – kiểm toán, tài chính, ngân hàng

về tầm quan trọng của các mục CBTT tự nguyện Sau khi loại trừ các mục có điểm thấp hơn điểm trung bình, nghiên cứu này đã đưa ra được danh mục thông tin tự nguyện công bố bao gồm 34 chỉ mục

Về CBTT bắt buộc: Thông tin phải công bố bắt buộc là các thông tin mà

các văn bản pháp luật có liên quan quy định các CTNY phải công bố theo quy Thông tin bắt buộc phải công bố trên các BCTC được quy định tùy thuộc

Trang 21

vào từng quốc gia và vùng lãnh thổ thông qua các hội nghề nghiệp (ví dụ Hiệp hội kế toán ở các nước) hoặc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (ví

dụ như Bộ Tài chính ở nước ta) Thông thường, các văn bản pháp luật có quy định và điều tiết việc CBTT bắt buộc gồm: Luật kinh doanh, Luật kế toán, Quy định Ủy ban chứng khoán, v.v… Thông tin bắt buộc có thể được công bố định kỳ và thường xuyên

Để đo lường mức độ CBTT bắt buộc, các nhà nghiên cứu thường tiếp cận theo một trong hai cách phổ biến, đó là đo lường có đánh giá trọng số của từng mục thông tin và không trọng số (tức là tất cả các mục thông tin được đánh giá có mức độ quan trọng hay tính hữu ích là như nhau) Đối với phương pháp tiếp cận trọng số, tầm quan trọng của các khoản mục thường được đánh giá bởi người sử dụng hoặc nhà nghiên cứu Các khoản mục có thể được cho điểm tùy theo mức độ quan trọng của nó, thang điểm này đa dạng trong nhiều nghiên cứu khác nhau Nguyễn Hữu Cường [27] đã tóm lược rằng đó có thể là thang điểm 1; 2 (Botosan, 1997) hoặc hệ thống chín điểm, bắt đầu từ 0 (Gallery và cộng sự, 2008) Tuy nhiên, phương pháp này bị đánh giá là không chính xác vì việc đánh giá tầm quan trọng của khoản mục phụ thuộc vào nhận xét chủ quan của người nghiên cứu

Ông cũng tóm lược rằng phương pháp tiếp cận không trọng số không phát sinh hạn chế của phương pháp có trọng số nêu trên Theo đó, đối với mỗi khoản mục bắt buộc phải CBTT trên BCTC, các nhà nghiên cứu sẽ gán điểm

1 đối với các khoản mục có công bố trên BCTC được khảo sát, và gán điểm 0 đối với các khoản mục không được công bố (Cooke, 1985, Meek và cộng sự, 1995)

Ngoài hai loại CBTT thường được đề cập và nghiên cứu, trong lĩnh việc nghiên cứu vừ CBTT, còn có loại CBTT tùy ý CBTT tùy ý là một trường hợp đặc biệt của CBTT bắt buộc CBTT tùy ý phát sinh khi những thông tin bắt buộc phải công bố theo quy định của pháp luật nhưng chưa được các văn bản

Trang 22

pháp luật quy định chi tiết về chừng mực (chiều sâu) của thông tin được công

bố nên doanh nghiệp có thể tùy ý điều chỉnh mức độ CBTT nhiều hay ít Để

đo lường mức độ CBTT tùy ý, phương pháp tiếp cận không trọng số thường được áp dụng trên nhiều nghiên cứu để đánh giá độ sâu của thông tin trên BCTC Theo đó, trước hết từng mục thông tin được đánh giá là có được công

bố hay không và sau đó bản thân từng mục thông tin được đánh giá ở bước tiếp theo là đã được đơn vị công bố chi tiết đến mức độ nào; tương ứng với từng mức độ chi tiết là các trọng số khác nhau Như vậy, phương pháp đo lường này khác với phương pháp đo lường có trọng số đã nêu trên ở điểm là trọng số được so sánh bởi bản thân trong từng mục tin chứ không phải giữa các mục tin với nhau Chẳng hạn, trong nghiên cứu của Botosan (1997) hay nghiên cứu của Inchausti (1997) (theo [27]), các điểm số từ 0 đến 3 được gán cho các mức độ CBTT của từng mục thông tin Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn có thể thêm vào việc gán cho một mục thông tin giá trị “không thích hợp”

để loại trừ những mục thông tin này khi xác định chỉ số CBTT mục thông tin này hiển nhiên không phát sinh doanh nghiệp được khảo sát và do vậy không phải công bố trên BCTC tương ứng [27]

1.2 LÝ THUYẾT KHUNG VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TÙY Ý

Trên thực tế, mức độ CBTT tùy ý của các doanh nghiệp là khác nhau do nhiều yếu tố Đó có thể là do mục đích của nhà quản lý, yêu cầu cung cấp thông tin của người sử dụng hoặc do sự cân đối về mặt chi phí – lợi ích khi CBTT, v.v Sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT nói chung và thông tin tùy ý nói riêng có thể được lý giải theo nhiều lý thuyết khác nhau trong các nghiên cứu trước đây thuộc lĩnh vực CBTT, gồm lý thuyết thông tin hữu ích, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết đại diện, lý thuyết thông tin bất cân xứng

và lý thuyết tính kinh tế của thông tin

Trang 23

1.2.1 Lý t uyết t ông t n ữu í

Lý thuyết thông tin hữu ích ra đời vào năm 1960; đây là lý thuyết kế toán chuẩn tắc được sử dụng như một lý thuyết nền tảng để xây dựng khuôn mẫu

lý thuyết kế toán hiện nay của chuẩn mực BCTC quốc tế và chuẩn mực kế toán nhiều quốc gia [13] Lý thuyết này nhấn mạnh nhiệm vụ cơ bản của BCTC là cung cấp thông tin hữu ích và thích hợp cho các đối tượng sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế Giả thiết cho việc chấp nhận cách tiếp cận ra quyết định trên cơ sở thông tin hữu ích của kế toán là về mặt lý thuyết, các BCTC được lập để phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của người dùng Lý thuyết thông tin hữu ích cũng đề cập đến khái niệm cân bằng lợi ích – chi phí, là một khía cạnh quan trọng cần quan tâm khi thiết lập các chuẩn mực [13]

Theo lý thuyết thông tin hữu ích, việc cung cấp thông tin qua các BCTC được xem như là quá trình cung cấp thông tin thích hợp cho các đối tượng sử dụng Vì vậy, tính hữu ích của thông tin được đánh giá qua khả năng đáp ứng cho các đối tượng sử dụng trong quá trình ra quyết định Áp dụng lý thuyết thông tin hữu ích có vai trò quan trọng trong việc đánh giá chất lượng thông tin BCTC mà các CTNY công bố Đối với các CTNY, nhà quản lý là người cung cấp thông tin, còn người sử dụng thông tin trên các BCTC phần lớn là các nhà đầu tư Vì vậy, nhà quản lý của CTNY cần phải cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư Do đó, ngoài những thông tin bắt buộc, nhà quản

lý còn cân nhắc cung cấp cả những thông tin tùy ý ở những mức độ khác nhau

để thông tin thật sự hữu ích đối với người sử dụng

Khi vận dụng lý thuyết này, các nhà nghiên cứu đã kiểm chứng sự ảnh hưởng của các nhân tố như chủ thể kiểm toán, tỉ lệ thành viên độc lập của HĐQT (chẳng hạn như, [13], [11], v.v)

1.2.2 Lý t uyết tín ệu

Tiếp tục phát triển lý thuyết của Akerlof [16], Spence [32] đã nghiên cứu trên thị trường lao động Spence [32] xem việc thuê lao động là một quyết

Trang 24

định đầu tư không chắc chắn Tính không chắc chắn ở đây là việc thuê lao động mà người chủ không biết được khả năng đóng góp, khả năng tạo ra năng suất của người lao động là bao nhiêu Vì thế, việc thuê lao động có thể thuê được lao động có chất lượng hoặc không Một trong những phương cách giúp người chủ thuê được lao động có năng lực đó là ông chủ có thể xem qua chất lượng bằng cấp, kinh nghiệm làm việc, v.v của người lao động hoặc có thời gian thử việc Đó được gọi là những tín hiệu được phát ra của người lao động Như vậy, việc phát tín hiệu này đã làm giảm thông tin bất cân xứng giữa những người lao động và ông chủ

Đối với các CTNY, các nhà quản lý CBTT ra thị trường một cách tự nguyện và đưa các tín hiệu đến nhà đầu tư Do vậy, CBTT là một trong những công cụ mà các công ty dùng để tạo ra sự khác biệt về chất lượng hoạt động của đơn vị mình so với đơn vị khác CBTT được xem là tín hiệu của riêng công ty phát ra cho nhà đầu tư; chẳng hạn như tín hiệu (thông qua CBTT) nhằm thu hút đầu tư như sự tăng trưởng về quy mô, lợi nhuận và khả năng thanh toán nhanh, hoặc là tín hiệu về nhu cầu vay vốn như tính tự chủ về tài chính, v.v

Vì vậy, khi vận dụng lý thuyết này, các nhà nghiên cứu đã kiểm chứng

sự ảnh hưởng của các nhân tố như quy mô, lợi nhuận hay sự tăng trưởng đến mức độ CBTT trên BCTC (chẳng hạn như, [13], v.v)

1.2.3 Lý t uyết đạ ện

Nghiên cứu của Jensen và Meckling [20] đã xác định mối quan hệ đại diện như là một hợp đồng mà theo đó giữa một hay nhiều cá nhân (bên ủy nhiệm) cam kết với cá nhân khác (bên đại diện) để thay mặt họ thực hiện một

số công việc nào đó bao gồm cả việc ủy quyền ra quyết định kinh tế cho bên đại diện Đối với các CTNY thì bên ủy nhiệm hay người chủ sở hữu là các cổ đông còn bên đại diện chính là các nhà quản lý – họ được “thuê” để thực hiện việc kiểm soát và ra các quyết định nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho cổ

Trang 25

đông

Khi người chủ sở hữu thuê bên đại diện quản lý công ty, có thể xuất hiện xung đột lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý Cổ đông mong muốn tối đa hóa lợi ích, muốn kiểm soát nhưng lại không trực tiếp điều hành kinh doanh Trong khi đó, nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định nhằm mang lại lợi ích cho chính bản thân họ và có xu hướng quên đi lợi ích của cổ đông khi họ có thể đạt được mức lợi nhuận nào đó Khi lợi ích của cổ đông và nhà quản lý bất đồng, lúc đó xuất hiện khả năng về mối bất hòa những người quản lý [18] Xung đột lợi ích này bộc lộ rõ nhất ở các công ty lớn [24]

Điều này đã được chứng minh trong nghiên cứu của Tuggle và các cộng

sự [33], nhà quản lý thường có kiến thức chuyên môn hơn những người chủ vì

họ thực hiện những hoạt động kinh doanh hằng ngày Khi có kiến thức cao họ càng nhanh chóng có hành vi lợi dụng chủ sở hữu một khi hoạt động giám sát không hiệu quả [24] Vì vậy, cần phải phải thiết lập hệ thống giám sát thích hợp để bảo vệ chủ sở hữu trong vấn đề xung đột lợi ích với nhà quản lý và đảm bảo rằng nhà quản lý cung cấp BCTC có chất lượng cao, mức độ CBTT trên BCTC sâu rộng hơn

Vận dụng lý thuyết đại diện, các nhà nghiên cứu thường kiểm chứng ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT gồm mức độ độc lập của hội đồng quản trị HĐQT với ban giám đốc (BGĐ), tỉ lệ sở hữu cổ phiếu của nhà quản

lý, tỉ lệ vốn nhà nước trên vốn điều lệ (chẳng hạn như, [13], [10], v.v)

1.2.4 Lý t uyết t ông t n bất ân xứng

Có nhiều nghiên cứu liên quan đến lý thuyết thông tin bất cân xứng Akerlof [16] là người đầu tiên giới thiệu về lý thuyết thông tin bất cân xứng vào những năm 1970 Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có

ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có thông tin nhưng thông tin không chính xác Điều này khiến cho bên có ít thông tin hơn có những quyết định không chính xác khi thực hiện giao dịch đồng thời bên có nhiều thông tin hơn cũng

Trang 26

sẽ có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện nghĩa vụ giao dịch Hai hệ quả phổ biến nhất do thông tin bất cân xứng gây ra là lựa chọn bất lợi

và tâm lý ỷ lại

Trên thị trường chứng khoán, CTNY với tư cách là người cung cấp hàng hóa (chứng khoán) có nhiều thông tin hơn là nhà đầu tư với tư cách là người mua, nên các đơn vị này sẽ biết chắc chắn giá bán trên mỗi cổ phiếu đó bao nhiêu là hợp lý Vì vậy, nếu nhà đầu tư không xác định chính xác cổ tức kỳ vọng của CTNY thì sẽ định giá cổ phiếu không chính xác và nếu định giá cao hơn giá trị thực của cổ phiếu thì sự bất lợi hoàn toàn thuộc về nhà đầu tư Bên cạnh đó, do tính chất của đầu tư trên thị trường là đầu tư gián tiếp nên việc quản lý, giám sát vốn đầu tư của các nhà đầu tư phải thông qua một số người đại diện để điều hành công ty có sử dụng nguồn vốn đầu tư của họ Tâm

lý ỷ lại của nhà quản lý sẽ gia tăng nếu như tỷ lệ sở hữu cổ phần của những người đại diện thấp, vì khi hoạt động sản xuất kinh doanh không hiệu quả thì trách nhiệm của họ không cao và sự thiệt hại trên phần vốn góp là thấp Như vậy, họ có thể không công bố thông tin tùy ý ở mức độ cao trên các BCTC nói chung và BCTC giữa niên độ nói riêng, vì họ không có nhu cầu và trách nhiệm phải công bố nhiều hơn thông tin cho các đối tượng khác

Vận dụng lý thuyết thông tin bất cân xứng, các nhà nghiên cứu thường kiểm chứng ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT gồm tỉ lệ sở hữu

cổ phiếu của nhà quản lý (chẳng hạn như, [13], [11], v.v)

Trang 27

Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Cường [27] đã chỉ ra những nghiên cứu chi tiết về chi phí và lợi ích của việc CBTT bắt buộc CBTT bắt buộc liên quan đến việc đánh đổi chi phí-lợi ích đối với các nhà quản lý có liên quan Cụ thể, đối với người lập báo cáo, chi phí trực tiếp của việc CBTT liên quan đến quá trình lập BCTC và CBTT; còn chi phí gián tiếp là chi phí sở hữu thông tin và chi phí xã hội Về người sử dụng thông tin, chi phí đầu tư để có được thông tin được cân nhắc so với những lợi ích có được từ việc đưa ra các quyết định đầu tư tốt hơn khi có được thông tin tốt hơn [19] Bên cạnh đó còn có nghiên cứu thực nghiệm đã cung cấp các bằng chứng hàm ý rằng đối với các mục thông tin tốn nhiều chi phí cho đơn vị lập báo cáo thì mức độ CBTT thấp hơn, mặc dù người sử dụng thông tin rất cần các mục thông tin này [21]

Lý thuyết tính kinh tế của thông tin cũng là một khuôn khổ lý thuyết phù hợp cho các phân tích thực nghiệm về việc CBTT tùy ý vì lý thuyết cho thấy rằng các công ty thực hiện CBTT nhiều hơn và rõ ràng có thể làm giảm sự bất đối xứng thông tin quản lý, chi phí giao dịch, rủi ro ước tính của nhà đầu tư và cuối cùng sẽ giảm chi phí vốn [7] Tuy việc CBTT như vậy có nhiều lợi ích, nhưng theo nghiên cứu của Shi và cộng sự [30], Nguyễn Hữu Cường [27], việc này bị hạn chế bởi chi phí thông tin Một cách giải thích hợp lí cho vấn

đề này là các doanh nghiệp sẽ chỉ cung cấp thêm thông tin bổ sung nếu lợi ích

cơ bản của việc tiết lộ đó nhiều hơn các chi phí có liên quan [30]

Tóm lại, nghiên cứu của Nguyễn Hữu Cường [27] cho rằng mức độ CBTT được nhà quản lý xác định bởi sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích liên quan đến việc CBTT nhằm giảm thiểu sự bất đối xứng thông tin và các vấn đề của lý thuyết đại diện Việc áp dụng lý thuyết đại diện trong bối cảnh lý thuyết tính kinh tế của thông tin là thích hợp hơn để cung cấp những hiểu biết sâu sắc về việc CBTT, cho rằng các nhà quản lý tìm cách giảm thiểu sự bất đối xứng thông tin bằng cách cân bằng chi phí và lợi ích của việc CBTT khi đối mặt với các quyết định về mức độ CBTT ra bên ngoài (giá trị kinh tế của

Trang 28

thông tin)

Vận dụng lý thuyết tính kinh tế của thông tin, các nhà nghiên cứu thường kiểm chứng ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ trì hoãn công bố BCTC

và quy mô công ty (chẳng hạn như, [27], v.v)

1.3 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Nội dung trong mục này tổng hợp các nghiên cứu có liên quan đến việc kiểm chứng ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT trên BCTC Như

đã trình bày ở mục tổng quan tài liệu nghiên cứu, các nghiên cứu về CBTT cũng như CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ còn khan hiếm nên luận văn

có đề cập đến các nghiên cứu về CBTT trên BCTC năm có liên quan làm cơ

sở để xây dựng các giả thuyết nghiên cứu ở chương tiếp theo

Mỗi một nghiên cứu trước đây đã kiểm chứng sự ảnh hưởng một số nhân

tố khác nhau đến mức độ CBTT trên BCTC Một cách tổng hợp nhất, các nhân tố đã được các nghiên cứu trước kiểm chứng gồm: mức độ trì hoãn việc công bố các BCTC, chủ thể kiểm toán soát xét các BCTC, tỉ lệ vốn nhà nước trên vốn điều lệ của công ty, tỉ lệ vốn sở hữu của nhà quản lý tại công ty, mức

độ độc lập của HĐQT và BGĐ của công ty, quy mô công ty, tính tự chủ về tài chính của công ty và khả năng thanh toán nhanh của công ty

1.3.1 Cá ng ên ứu về ản ưởng ủ n ân tố mứ độ trì hoãn ông bố báo cáo tài chính

Mức độ trì hoãn công bố BCTC được đo bằng tỉ lệ giữa độ trễ thực tế so với độ trễ lý thuyết Độ trễ thực tế là số ngày từ khi kết thúc kì kế toán giữa niên độ đến khi sở giao dịch chứng khoán nhận được BCTC giữa niên độ; còn

độ trễ lý thuyết được quy định theo các văn bản pháp luật có liên quan [27] Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố này được đặt ra trên cơ sở lý thuyết tính kinh tế của thông tin Nhà quản lý sẽ dựa trên sự cân nhắc về mối quan hệ giữa chi phí và lợi ích để quyết định về thời gian CBTT (liên quan đến độ trễ) và mức độ CBTT trên BCTC Về lý thuyết, độ trễ quy định dài

Trang 29

ngày hơn sẽ giúp cho người chuẩn bị BCTC giữa niên độ có thêm thời gian để chuẩn bị BCTC, điều này có thể giúp gia tăng mức độ CBTT tùy ý trên BCTC Tuy nhiên, việc CBTT kịp thời lại là một trong những chỉ tiêu liên quan đến chất lượng CBTT trên BCTC giữa niên độ Bởi vì, đối với những bên liên quan trên thị trường chứng khoán, việc nắm thông tin kịp thời là điều cực kì quan trọng, giúp họ đưa ra những quyết định tốt hơn (Sarra, 2007; Aktaş & Kargin, 2011; Glaum et al, 2013, theo Nguyễn Hữu Cường [27]) Ngược lại, Nguyễn Hữu Cường [27] cũng đã tóm lược rằng có một số nghiên cứu lại ủng hộ việc trì hoãn của việc CBTT và đưa ra một số lý do phù hợp cho việc này Chẳng hạn như Verrecchia (1983) đã chỉ ra rằng các nhà quản lý cố tình trì hoãn công bố những thông tin bất lợi để có nhiều thời gian

để hoàn thành các cuộc đàm phán hợp đồng theo những điều khoản thuận lợi của họ hoặc để chuẩn bị trả lời những lời chỉ trích có thể xảy ra hoặc chuẩn bị một kế hoạch để đảo ngược hiệu suất kém

Trên phương diện các nghiên cứu định lượng, gần đây, nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng [11] đã kết luận rằng mức độ trì hoãn của BCTC

có tác động thuận chiều đến chất lượng BCTC

Ngược lại, với lĩnh vực CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ, nghiên cứu của Nguyễn Hữu Cường [27] đã kết luận rằng tại Việt Nam, mức độ CBTT là cao hơn ở các CTNY có thời gian phát hành BCTC giữa niên độ ngắn hơn Điều này có thể được lý giải là các công ty này có động cơ hơn trong việc cung cấp thông tin kịp thời cho người sử dụng, qua đó nâng cao chất lượng CBTT và do vậy hưởng được nhiều lợi ích hơn

1.3.2 Cá ng ên ứu về ản ưởng ủ n ân tố ủ t ể ểm toán

t ự ện soát xét báo cáo tài chính

BCTC giữa niên độ có thể phải được soát xét hoặc không, tùy thuộc vào quy định của mỗi quốc gia cũng như yêu cầu khác nhau của mỗi thị trường chứng khoán Đối với nước ta, BCTC bán niên bắt buộc phải được soát xét

Trang 30

theo thông tư số 155/2015/TT-BTC Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối quan

hệ giữa việc BCTC được kiểm toán và mức độ CBTT của nó

Các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của nhân tố này đến mức độ CBTT trên BCTC được chủ yếu được đặt ra dựa trên lý thuyết đại diện và lý thuyết thông tin bất cân xứng Do mâu thuẫn giữa nhà quản lý và các cổ đông ở CTNY (theo lý thuyết đại diện), cần thiết phải có các chủ thể kiểm toán để kiểm tra

độ tin cậy của các BCTC giữa niên độ, từ đó thông tin trên BCTC trở nên tin cậy hơn, giảm thiểu sự bất đối xứng thông tin

Năm 2005, nghiên cứu của Mangena & Pike [23] đã chỉ ra rằng việc soát xét BCTC đã khiến cho các doanh nghiệp công bố nhiều thông tin hơn Hơn nữa, nghiên cứu của Nguyễn Hữu Cường [27] đã tóm lược rằng việc soát xét BCTC giữa niên độ cũng góp phần nâng cao tính minh bạch và trung thực của thông tin trên BCTC giữa niên độ (Young & McFadden, 2012) Bên cạnh đó, ông cũng tóm lược một số nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty được soát xét BCTC giữa niên độ cũng là các công ty có chi phí đại diện cao hơn và những công ty này đã nhận thức được lợi ích của việc soát xét là cao hơn chi phí cho việc soát xét Vì vậy, việc soát xét các BCTC giữa niên độ có thể làm tăng độ tin cậy của việc CBTT và làm giảm chi phí đại diện (Ettredge và cộng sự, 1994)

Gần đây nhất, năm 2015, Nguyễn Hữu Cường [27] đã nghiên cứu trên

700 BCTC giữa niên độ ở các nước thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương

và kết luận rằng mức độ CBTT tùy ý ở các BCTC đã được soát xét cao hơn mức độ CBTT của những BCTC không được soát xét Đồng thời, ông cũng chỉ ra chủ thể kiểm toán (có được soát xét bởi Big 4 – KPMG, E&Y, PwC, và Deloitte hay không) cũng ảnh hưởng đến mức độ CBTT trên BCTC giữa niên

độ

Tuy nhiên, Nguyễn Thị Thủy Hưởng [12] đã tóm lược ở một số nghiên cứu của Meek và cộng sự (1995) và nghiên cứu của Owusu-Ansah và Yeoh

Trang 31

(2005), lại kết luận rằng biến chủ thể kiểm toán không có tác động đến mức

độ CBTT tự nguyện của doanh nghiệp

Để kiểm tra sự ảnh hưởng của nhân tố chủ thể kiểm toán đến mức độ CBTT trên BCTC, các nghiên cứu trên đều dùng mô hình hồi quy sử dụng biến giả theo hai hướng:

- Một là, kiểm định ảnh hưởng của nhân tố soát xét (hoặc kiểm toán) các BCTC Theo đó, các nhà nghiên cứu đánh giá có hay không việc BCTC được soát xét (kiểm toán) có mức độ cao hơn các BCTC không được soát xét (kiểm toán), chẳng hạn [27], hay [24]

- Hai là, kiểm định ảnh hưởng của nhân tố chủ thể kiểm toán đến BCTC Theo đó, các nhà nghiên cứu đánh giá liệu rằng các BCTC được soát xét (kiểm toán) bởi các công ty kiểm toán lớn (thường là Big 4) có mức độ CBTT cao hơn các BCTC được soát xét (kiểm toán) bởi các công ty kiểm toán nhỏ hơn (thường là không phải Big 4), chẳng hạn [11], [27]

1.3.3 Cá ng ên ứu về ản ưởng ủ n ân tố tỉ lệ vốn n à nư trên vốn đ ều lệ

Sự ảnh hưởng của nhân tố này được lý giải dựa trên lý thuyết đại diện và

lý thuyết tính kinh tế của thông tin Các nhà nghiên cứu cho rằng chính phủ thường có xu hướng kém chủ động trong việc kiểm soát khoản đầu tư của mình, đồng thời do việc huy động vốn dễ dàng hơn, dẫn đến hiện tượng các công ty có vốn đầu tư của nhà nước có cơ chế kiểm soát công ty kém hơn, hay nói cách khác sẽ làm tăng chi phí đại diện [22] Bên cạnh đó, khi lựa chọn CBTT tùy ý thì chi phí phát sinh nhiều trong khi lợi ích có khi không được là bao nhiêu nên nếu vận dụng lý thuyết tính kinh tế của thông tin thì nhà quản

lý có thể nghĩ rằng việc CBTT nhiều hơn là không có lợi cho doanh nghiệp Cho đến nay, theo sự hiểu biết của tác giả thì chưa có nghiên cứu nào kiểm chứng mối liên hệ giữa nhân tố tỉ lệ vốn nhà nước trên vốn điều lệ và mức độ CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ Tuy nhiên, sự ảnh của nhân tố này đã

Trang 32

được kiểm chứng trong các nghiên cứu về CBTT bắt buộc trên các BCTC năm

Werner [34] khi thực hiện nghiên cứu 128 CTNY tại Indonesia trong 3 năm 2005-2007 cũng đã phát hiện rằng cổ đông kiểm soát (là nhà nước) chiếm trên 50% cổ phần thì mức độ CBTT thấp hơn Tương tự, Nguyễn Trọng Nguyên [13] đã tóm lược rằng nghiên cứu của Jason Zezong Xiao và cộng sự (2004) đã kiểm chứng được rằng vốn nhà nước càng cao thì mức độ công bố tự nguyện thông tin trên Internet càng ít Ông cũng chỉ ra nghiên cứu của Huang Zhizong và cộng sự (2011) khi xem xét 880 báo cáo được công bố lại của 465 CTNY tại Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải và Thẩm Quyến kết luận được rằng những công ty có vốn nhà nước cao thì quyền kiểm soát của những người đại diện vốn nhà nước bị giảm sút, từ đó dẫn đến mức độ CBTT trên BCTC thấp hơn

Tuy nhiên nghiên cứu ở Việt Nam lại có kết luận rằng quyền sở hữu vốn của Nhà nước (đo lường bằng tỉ lệ vốn Nhà nước trên vốn điều lệ) không có ảnh hưởng gì đến mức độ CBTT trên BCTC (xem [11])

1.3.4 Cá ng ên ứu về ản ưởng ủ n ân tố tỉ lệ vốn sở ữu ủ

n à quản lý

Sự ảnh hưởng của nhân tố này thường được lý giải dựa trên lý thuyết đại diện, lý thuyết bất đối xứng thông tin và lý thuyết tính kinh tế của thông tin Cho đến nay, mới chỉ có những nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố này đến mức độ CBTT trên BCTC năm, chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của nhân tố này đến mức độ CBTT trên BCTC giữa niên độ

Jensen [20] đã nghiên cứu và kết luận rằng trong một công ty nếu có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát, tức là người sở hữu thực sự của công ty không tham gia vào việc quản lý công ty thì chi phí đại diện sẽ xuất hiện vì tình trạng bất đối xứng thông tin giữa nhà quản lý và các cổ đông Và một khi nhà quản lý có nhiều thông tin hơn về tình hình công ty thì họ sẽ

Trang 33

dùng quyền quản lý để trục lợi cho bản thân họ

Đặc biệt, chi phí đại diện tăng lên đáng kể ở những công ty được quản lý bởi một giám đốc không phải là cổ đông của công ty [15] Chi phí đại diện và

số lượng cổ phần của nhà quản lý công ty có mối quan hệ nghịch biến với nhau Chi phí đại diện tăng lên cùng với số lượng những cổ đông không nằm trong bộ phận quản lý công ty

Tuy nhiên, trong một nghiên cứu gần đây ở Việt Nam, Nguyễn Thị Phương Hồng [11] có kết luận rằng tỉ lệ sở hữu vốn của nhà quản lý lại không

về sự ảnh hưởng của thành viên độc lập đến mức độ CBTT trên BCTC năm thường đưa ra kết luận về sự ảnh hưởng cùng chiều của nhân tố này

Nguyễn Trọng Nguyên [13] đã tóm lược rằng các nghiên cứu của Mohamed Akhtaruddin và cộng sự (2009); Eugene C.M Cheng & Stephen M.Courtenay (2006), Chiraz Ben Ali (2009), Nurwati Ashikkin Ahmad Zaluki (2009), Ienciu (2012) đã kết luận rằng các công ty có tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT càng cao thì mức độ CBTT càng nhiều Hơn nữa, thành viên HĐQT độc lập còn giúp nâng cao chất lượng thông tin công bố Ông

Trang 34

cũng kết luận rằng thành viên HĐQT độc lập giúp thông tin doanh nghiệp công bố bên ngoài được kịp thời và giúp cân bằng quyền lực của Ban điều hành, từ đó đảm bảo sự khách quan quá trình lập và CBTT trên BCTC

1.3.6 Cá ng ên ứu về ản ưởng ủ n ân tố quy mô công ty

Sự ảnh hưởng của nhân tố này được lý giải dựa trên lý thuyết tín hiệu và

lý thuyết tính kinh tế của thông tin Lý thuyết tín hiệu cho rằng công ty có quy

mô càng lớn thì càng muốn phát đi tín hiệu tốt cho các nhà đầu tư, và do vậy thường CBTT tùy ý ở mức độ sâu rộng hơn Hơn nữa, những công ty có quy

mô lớn thường có tiềm lực tài chính mạnh, do vậy khi xem xét mối quan hệ lợi nhuận – chi phí thì phần lợi nhuận khi CBTT tùy ý cao sẽ nhiều hơn

Các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của quy mô công ty đến mức độ CBTT trên BCTC thường đưa ra kết luận về sự ảnh hưởng cùng chiều của nhân tố này

Nguyễn Trọng Nguyên [13] đã tóm lược rằng các nghiên cứu của Jouini Fathi, Anna Watson và cộng sự (2002) đã kết luận rằng quy mô công ty càng lớn thì mức độ CBTT trên BCTC năm càng nhiều Nguyên nhân là do quá trình tạo lập và CBTT cần phải tốn nhiều chi phí, vì vậy những công ty lớn sẽ

có nguồn lực tài chính mạnh hơn với nhiều chuyên gia tài chính sẽ cung cấp cấp đầy đủ thông tin hơn

Cũng theo chiều hướng này, nhiều nghiên cứu cho rằng các công ty lớn

có thể có nhiều động lực hơn để CBTT tùy ý Một trong những lí do có thể đưa ra là họ có xu hướng tìm kiếm nguồn tài chính từ bên ngoài nhiều hơn các công ty nhỏ hơn [31] và vì vậy, cần phải cung cấp thông tin đầy đủ để có được nguồn tài nguyên rẻ hơn và dễ dàng hơn Bên cạnh đó, Nguyễn Hữu Cường [27] cũng đã tóm lược các nghiên cứu trên thế giới cho rằng việc CBTT bắt buộc nhiều hơn cũng cho phép các công ty lớn hơn giảm bớt những

áp lực không mong muốn từ chính phủ hoặc các chi phí chính trị (ví dụ Buzby, 1975, Cooke, 1989, Watts & Zimmerman, 1990, Ahmed & Courtis,

Trang 35

1999) để duy trì hình ảnh công cộng hoặc danh tiếng của họ (Ali và cộng sự, 2004), hoặc để đáp ứng những mong đợi lớn hơn về sự sở hữu (Ahmed & Courtis, 1999)

Bên cạnh đó, ở Việt Nam, trên phương diện các nghiên cứu định lượng, Nguyễn Hữu Cường [27] cũng đã kết luận rằng quy mô của doanh nghiệp có tác động thuận chiều đến mức độ CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ Ông

đã kiểm chứng được rằng quy mô của doanh nghiệp (đo lường theo ba cách khác nhau, gồm doanh thu, vốn hóa thị trường và logarit tự nhiên của tổng tài sản) có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT trên BCTC giữa niên độ của các CTNY Trong khi đó nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Hào [10] cũng đưa ra kết luận tương tự nhưng khi nghiên cứu ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp đến mức độ CBTT tự nguyện trên BCTC năm

1.3.7 Cá ng ên ứu về ản ưởng ủ n ân tố tỉ suất s n l

Sự ảnh hưởng của nhân tố này đến mức độ CBTT tùy ý trên BCTC năm cũng như BCTC bán niên được lý giải dựa trên lý thuyết về tính kinh tế của thông tin và lý thuyết tín hiệu Theo lý thuyết tín hiệu, các công ty có tỉ suất sinh lời cao thường muốn CBTT nhiều hơn như một tín hiệu tốt để thu hút nhiều nhà đầu tư, nâng cao giá trị của công ty Mặt khác, các công ty này thường được nhiều sự quan tâm của Nhà nước và các cơ quan pháp lý Do vậy, nó thường cung cấp thông tin nhiều hơn để giải thích cho tình hình tài chính của mình cũng như giảm các chi phí chính trị Như vậy lợi ích của việc CBTT nhiều hơn, theo lý thuyết tính kinh tế của thông tin, được hiểu là lớn hơn so với chi phí của nó; và như vậy doanh nghiệp có khuynh hướng CBTT với mức độ cao hơn

Các nghiên cứu trước đây có kết luận trái ngược nhau về ảnh hưởng của nhân tố tỉ suất sinh lời đến mức độ CBTT trên BCTC năm và bán niên bao gồm cả ảnh hưởng thuận chiều và ảnh hưởng nghịch chiều

Theo chiều hướng đưa ra kết luận về mối quan hệ thuận chiều giữa lợi

Trang 36

nhuận của công ty và mức độ CBTT, có nghiên cứu của Singhvi & Desai [31]

Ở Việt Nam, dựa trên phương pháp định lượng, nghiên cứu của Lê Thị Trúc Loan (2012) cũng đã đưa ra kết luận theo chiều hướng tương tự (theo [12]) Ngược lại, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy Hưởng [12] đã tóm lược nghiên cứu của Belkaoui và Kahl (1978) cho rằng mức độ sinh lời có tác động ngược chiều đối với mức độ CBTT trên BCTC năm Bên cạnh đó, nghiên cứu của Nguyễn Hữu Cường [27] trên các nước ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương lại kết luận rằng đối với mức độ CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ, công ty có thu nhập thuần dương thì có mức độ CBTT tùy ý thấp hơn

1.3.8 Cá ng ên ứu về ản ưởng ủ n ân tố tín tự ủ về tà chính

Sự ảnh hưởng của nhân tố này đến mức độ CBTT cũng thường được lý giải dựa trên lý thuyết đại diện và lý thuyết tín hiệu Theo lý thuyết đại diện,

sự có mặt của các khoản nợ sẽ làm tăng mâu thuẫn giữa bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm Do vậy, nhà quản lý sẽ cung cấp thêm nhiều thông tin để làm giảm sự nghi ngờ của các chủ nợ để giảm chi phí giám sát của chủ nợ và tránh trường hợp các khoản nợ bị thu hồi Bên cạnh đó, các công ty có tính tự chủ thấp có thể CBTT nhiều hơn để phát ra tín hiệu về nhu cầu tài chính của công

ty

Cũng tương tự như nhân tố tỉ suất sinh lời, các nghiên cứu trước cũng có kết luận trái ngược nhau về ảnh hưởng của tính tự chủ về tài chính đến mức

độ CBTT trên BCTC năm và BCTC giữa niên độ Có những nghiên cứu chỉ

ra rằng nhân tố này có tác động ngược chiều đối với mức độ CBTT, nhưng cũng những nghiên cứu lại có kết luận rằng nhân tố này không có ảnh hưởng

gì đến mức độ CBTT

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy Hưởng [12] có tóm lược rằng các nghiên cứu thực nghiệm của Bradbury (1990), hay Naser (1998) đã tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa đòn bẩy nợ và mức độ CBTT, tức mối quan hệ

Trang 37

ngược chiều giữa tính tự chủ về tài chính và mức độc CBTT Theo các nghiên cứu này, những công ty có tính tự chủ về tài chính thấp thường CBTT nhiều hơn để tăng cơ hội nhận được sự quan tâm đầu tư của các tổ chức tài chính khác Kết luận tương tự cũng được đưa ra trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính tự chủ tài chính và mức độ CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ của Nguyễn Hữu Cường [27]

Ngược lại, Nguyễn Thị Thủy Hưởng [12] cũng đã tóm lược rằng cũng nghiên cứu về tác động của nhân tố tự chủ về tài chính, nhưng các nghiên cứu của Carson và Simnett (1997), hay của Archambault (2003) lại không tìm ra được bằng chứng định lượng về ảnh hưởng của nhân tố này đến mức độ CBTT trên BCTC năm của doanh nghiệp

1.3.9 Cá ng ên ứu về ản ưởng ủ n ân tố ả năng t n toán nhanh

Khả năng thanh toán nhanh được đo lường bằng tổng tài sản lưu động ngắn hạn trên nợ ngắn hạn Cho đến thời điểm thực hiện luận văn này, tác giả vẫn chưa tìm được một nghiên cứu nào kiểm chứng mối quan hệ giữa nhân tố này và mức độ CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ Tuy nhiên, với các nghiên cứu về CBTT trên BCTC năm thì sự ảnh hưởng của nhân tố này đến mức độ CBTT trên BCTC năm thường được lý giải dựa trên lý thuyết tín hiệu Theo đó, các doanh nghiệp có khả năng thanh toán nhanh càng cao sẽ càng tích cực CBTT để chứng minh tình trạng hoạt động tốt của doanh nghiệp mình, đồng thời cũng để phát tín hiệu tốt cho các nhà đầu tư trên thị trường Đối với nhân tố này, bằng chứng định lượng tìm được từ các nghiên cứu trước cũng không được đồng nhất Cụ thể, trong khi có nghiên cứu chỉ ra rằng khả năng thanh toán nhanh có tác động thuận chiều đối với mức độ CBTT thì các nghiên cứu khác lại có kết luận rằng khả năng thanh toán nhanh có tác động ngược chiều đến mức độ CBTT

Singhvi và Desai [31] cho thấy rằng khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Trang 38

càng cao thì mức độ CBTT trên BCTC năm càng cao Khi nghiên cứu bằng phương pháp định lượng trên các CTNY ngành chế biến lương thực thực phẩm tại Sở giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh, bà cũng đưa ra kết luận tương tự Ngược lại, Nguyễn Thị Phương Hồng [11] lại cho rằng khả năng thanh

toán nhanh ảnh hưởng ngược chiều đến chất lượng CBTT trên BCTC năm

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương này lược khảo những lý luận cơ bản về CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ ở Việt Nam từ việc giới thiệu nội dung, vai trò của BCTC giữa niên độ và đo lường CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ Tiếp đến, chương này cũng đã tóm tắt các lý thuyết khung có liên quan đến CBTT và thường được vận dụng để lý giải sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT trên BCTC Quan trọng hơn hết là chương này cũng đã tổng hợp các công trình có liên quan nghiên cứu ảnh hưởng các nhân tố đến mức độ CBTT trên BCTC để làm cơ sở xây dựng các giả thuyết nghiên cứu ở chương tiếp theo

Trang 39

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.1 XÂY DỰNG CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở các lý thuyết khung, các bằng chứng định lượng cũng như gợi

ý của các nghiên cứu trước về mức độ CBTT và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tùy ý trên BCTC, luận văn này đã xây dựng chín giả thuyết nhằm đánh giá được ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ của các CTNY ở Việt Nam trong bối cảnh năm đầu tiên

áp dụng các quy định mới về CBTT trên thị trường chứng khoán theo Thông

tư 155/2015/TT-BTC [5]

2.1.1 G ả t uyết về mứ độ trì hoãn ông bố báo cáo tài chính

Mức độ trì hoãn công bố BCTC được đo bằng tỉ lệ giữa độ trễ thực tế so với độ trễ lý thuyết Hiện nay, độ trễ lý thuyết được quy định tại Thông tư 155/2015/TT-BTC [5] Cụ thể là các CTNY phải công bố BCTC bán niên đã được soát xét trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày tổ chức kiểm toán ký báo cáo soát xét nhưng không được vượt quá 45 ngày, kể từ ngày kết thúc 06 tháng đầu năm tài chính; đối với BCTC quý, thời hạn này là 20 ngày kể từ ngày kết thúc quý,còn đối với BCTC quý được soát xét, thời hạn này là 05 ngày, kể từ ngày tổ chức kiểm toán ký báo cáo soát xét

Thông tư này cũng quy định một số trường hợp có thể gia hạn nhưng đối với BCTC bán niên là không quá 60 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán, còn đối với BCTC quý là không quá 30 ngày kể từ ngày kết thúc quý

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng [11] đã kết luận rằng mức độ trì hoãn của BCTC có tác động thuận chiều đến chất lượng BCTC

Ngược lại, nghiên cứu của Nguyễn Hữu Cường [27] khi nghiên cứu sự ảnh hưởng của nhân tố này đến mức độ CBTT trên BCTC giữa niên độ của

700 CTNY thuộc bảy nước khác nhau trong khu vực Châu Á – Thái Bình

Trang 40

Dương trên cơ sở vận dụng lý thuyết tính kinh tế của thông tin lại kết luận rằng không có mối quan hệ nào giữa độ trễ của BCTC giữa niên độ và mức độ CBTT tùy ý trên đó

Như vậy, có nhiều quan điểm cũng như bằng chứng định lượng trái ngược nhau về sự ảnh hưởng của mức độ trì hoãn công bố BCTC đến mức độ CBTT trên BCTC giữa niên độ Tuy nhiên, thống nhất với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu Cường [27], luận văn vày cũng đưa ra giả thuyết sau để kiểm định:

H1 - Không có mối liên hệ nào giữa mức độ trì hoãn công bố BCTC và mức độ CBTT trên BCTC giữa niên độ của các doanh nghiệp

2.1.2 G ả t uyết về ủ t ể ểm toán t ự ện soát xét báo cáo tài chính

Phần lớn các nhà nghiên cứu kiểm định giả thuyết này thường đặt ra giả thuyết dựa trên lý thuyết đại diện Do mâu thuẫn giữa nhà quản lý và các cổ đông ở CTNY nên cần thiết phải có các chủ thể kiểm toán để kiểm tra độ tin cậy của các BCTC giữa niên độ, từ đó thông tin trên BCTC trở nên tin cậy hơn, giảm thiểu sự bất đối xứng thông tin Vì vậy, khi BCTC được kiểm toán (hoặc soát xét) thì mức độ CBTT trên BCTC cũng cao hơn Hơn nữa, những nghiên cứu trước đây cũng lập luận rằng BCTC được kiểm toán bởi các đơn

vị kiểm toán lớn (như Big 4) thì có mức độ CBTT cao hơn

Dựa trên những lập luận đó, nghiên cứu của Nguyễn Hữu Cường [27] đã cho rằng chủ thể kiểm toán có ảnh hưởng thuận chiều đến mức độ CBTT trên BCTC Cụ thể, nghiên cứu của ông đã kiểm chứng được rằng chất lượng của chủ thể kiểm toán (có nằm trong nhóm Big 4 hay không) có tác động tích cực đến mức độ CBTT bắt buộc trên các BCTC giữa niên độ của các CTNY Hay nói cách khác, chủ thể kiểm toán càng có uy tín thì mức độ CBTT bắt buộc ở các BCTC bán niên được soát xét cao hơn các BCTC bán niên được soát xét bởi các chủ thể khác

Ngày đăng: 04/04/2022, 22:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ tài chính (2005). Chuẩn mực số 27: Báo cáo tài chính giữa niên độ, Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC về việc ban hành và công bố sáu (6) chuẩn mực kế toán Việt Nam (đợt 4), ban hành ngày 15/02/2005.Truy cập ngày 20/4/2017 từhttp://www.ketoanthue.vn/index.php/he-thong-chuan-muc-ke-toan-viet-nam/2103-chuan-muc-ke-toan-so-27-bao-cao-tai-chinh-giua-nien-do-.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn mực số 27: Báo cáo tài chính giữa niên độ
Tác giả: Bộ tài chính
Năm: 2005
[4] Bộ Tài chính (2014). Thông tư 200/2014/TT-BTC Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp, ban hành ngày 22/12/2014. Truy cập ngày 20/4/2017 từ http://vbpl.vn/TW/Pages/vbpq- toanvan.aspx?ItemID=66801 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 200/2014/TT-BTC Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2014
[5] Bộ tài chính (2015). Thông tư số 155/2015/TT-BTC Hướng dẫn về việc CBTT trên thị trường chứng khoán, ban hành ngày 16/10/2015.Truy cập ngày 20/4/2017 từ http://vbpl.vn/TW/Pages/vbpq- toanvan.aspx?ItemID=91233&Keyword= Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 155/2015/TT-BTC Hướng dẫn về việc CBTT trên thị trường chứng khoán
Tác giả: Bộ tài chính
Năm: 2015
[6] Nguyễn Hữu Cường (2015a), Công bố thông tin trong báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam: Tồn tại và giải pháp, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, Số Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bố thông tin trong báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam: Tồn tại và giải pháp
[7] Nguyễn Hữu Cường (2017), Bàn về lý thuyết khung áp dụng trong các nghiên cứu về công bố thông tin trong báo cáo tài chính. Tạp chí Kế toán và Kiểm toán, Số Tháng 4/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về lý thuyết khung áp dụng trong các nghiên cứu về công bố thông tin trong báo cáo tài chính
Tác giả: Nguyễn Hữu Cường
Năm: 2017
[8] Mạn Đình (2015), Vai trò của các thành viên hội đồng quản trị độc lập trong các công ty cổ phần, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, Tập 163, tháng 12 (2015), trang 2-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của các thành viên hội đồng quản trị độc lập trong các công ty cổ phần
Tác giả: Mạn Đình (2015), Vai trò của các thành viên hội đồng quản trị độc lập trong các công ty cổ phần, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, Tập 163, tháng 12
Năm: 2015
[9] Phạm Thị Thu Đông (2013), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, chuyên ngành Kế toán, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội
Tác giả: Phạm Thị Thu Đông
Năm: 2013
[10] Nguyễn Thị Thu Hào (2015), Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE, Tạp chí Phát triển Kinh tế, 26(11), tr. 99-115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hào
Năm: 2015
[11] Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của CTNY trên thị trường chứng khoán – bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của CTNY trên thị trường chứng khoán – bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Hồng
Năm: 2016
[12] Nguyễn Thị Thủy Hưởng (2014), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của các doanh nghiệp chế biến lương thực thực phẩm niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, chuyên ngành Kế toán, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTC của các doanh nghiệp chế biến lương thực thực phẩm niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Tp. "HCM
Tác giả: Nguyễn Thị Thủy Hưởng
Năm: 2014
[13] Nguyễn Trọng Nguyên (2014), Tác động của quản trị công ty đến chất lượng thông tin BCTC tại các CTNY tại Việt Nam, Luận văn Tiến sĩ Khoa Tài chính – Kế toán, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của quản trị công ty đến chất lượng thông tin BCTC tại các CTNY tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trọng Nguyên
Năm: 2014
[14] Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (2013), Sổ tay công bố thông tin dành cho công ty niêm yết, trang 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay công bố thông tin dành cho công ty niêm yết
Tác giả: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
Năm: 2013
[15] Thân Thị Thu Thủy, Lê Văn Lâm, Nguyễn Trung Thông (2014), Nghiên cứu mối tương quan giữa chi phí đại diện và cấu trúc tỉ lệ sở hữu của các công ty cổ phần tại Việt Nam, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, Số 14 (24), trang 71-75.T ếng An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mối tương quan giữa chi phí đại diện và cấu trúc tỉ lệ sở hữu của các công ty cổ phần tại Việt Nam
Tác giả: Thân Thị Thu Thủy, Lê Văn Lâm, Nguyễn Trung Thông
Năm: 2014
[16] Akerlof, G. A. (1970), The market for "Lemons": Quality uncertainty and the market mechanism, The Quarterly Journal of Economics, 84(3), 488-500 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lemons
Tác giả: Akerlof, G. A
Năm: 1970
[17] Claudia-Elena GRIGORAȘ-ICHIM and Lucia MOROŞAN-DANILĂ (2015), The importance of Financial Interim Reporting for the position of companies, The USV Annals of Economics and Public Administration, 15 (2), 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The importance of Financial Interim Reporting for the position of companies
Tác giả: Claudia-Elena GRIGORAȘ-ICHIM and Lucia MOROŞAN-DANILĂ
Năm: 2015
[24] Miller and Sardais (2011), Angel Agents: Agency Theory Reconsidered, Academy of Management Perspectives Sách, tạp chí
Tiêu đề: Angel Agents: Agency Theory Reconsidered
Tác giả: Miller and Sardais
Năm: 2011
[25] Newell, G. E. (1969), Is quarterly financial data adequate for investment decision making?, Financial Analysts Journal, 25(6), 37- 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Is quarterly financial data adequate for investment decision making
Tác giả: Newell, G. E
Năm: 1969
[26] Nguyen Huu Cuong (2013), Interim financial Reporting in the Asia – Pacific Region: A review of regulatory requirements, Corporate Ownership & Control, 10 (3), 2013, 380-388 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Interim financial Reporting in the Asia – Pacific Region: A review of regulatory requirements
Tác giả: Nguyen Huu Cuong
Năm: 2013
[27] Nguyen Huu Cuong (2015), Interim financial Reporting in the Asia- Pacific Region, School of Acountancy, QUT Business School, Queensland University of Technology Sách, tạp chí
Tiêu đề: Interim financial Reporting in the Asia-Pacific Region
Tác giả: Nguyen Huu Cuong
Năm: 2015
[28] Saxena, P., Saxena, N. K., & Kumar, S. (2012), Compliance of interim financial reporting as per regulatory requirement in India (with special reference to nationalized bank), Retrieved from:http://ssrn.com/abstract=2018183 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Compliance of interim financial reporting as per regulatory requirement in India (with special reference to nationalized bank)
Tác giả: Saxena, P., Saxena, N. K., & Kumar, S
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Tên bảng Trang - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
ng Tên bảng Trang (Trang 10)
Bảng 2.1. Thang đo các chỉ tiêu về mức độ CBTT tùy ý - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.1. Thang đo các chỉ tiêu về mức độ CBTT tùy ý (Trang 49)
Bảng 2.2 trình bày tên gọi, cách thức đo lƣờng, và dự kiến chiều hƣớng tác động của tất cả các biến độc lập đƣợc sử dụng trong mơ hình 1 đã đƣợc  xây dựng ở mục 2.2.1 - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.2 trình bày tên gọi, cách thức đo lƣờng, và dự kiến chiều hƣớng tác động của tất cả các biến độc lập đƣợc sử dụng trong mơ hình 1 đã đƣợc xây dựng ở mục 2.2.1 (Trang 50)
Bảng 2.2. Mô tả và đo lường các biến độc lập - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2.2. Mô tả và đo lường các biến độc lập (Trang 51)
Bảng 3.1. Chi tiết mức độ CBTT tùy ý trên BCTC bán niên năm 2016 theo từng chỉ tiêu - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.1. Chi tiết mức độ CBTT tùy ý trên BCTC bán niên năm 2016 theo từng chỉ tiêu (Trang 54)
Bảng 3.2. Chi tiết mức độ CBTT tùy ý trên BCTC quý 2 năm 2016 theo từng chỉ tiêu - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.2. Chi tiết mức độ CBTT tùy ý trên BCTC quý 2 năm 2016 theo từng chỉ tiêu (Trang 57)
Bảng 3.3. Tổng hợp mức độ CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ năm 2016 - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.3. Tổng hợp mức độ CBTT tùy ý trên BCTC giữa niên độ năm 2016 (Trang 59)
Bảng 3.4. Thống kê mô tả các biến độc lập trên BCTC bán niên năm 2016 - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.4. Thống kê mô tả các biến độc lập trên BCTC bán niên năm 2016 (Trang 61)
b. Kiểm định các khiếm khuyết của mơ hình - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
b. Kiểm định các khiếm khuyết của mơ hình (Trang 63)
Bảng 3.8. Kết quả kiểm định phương sai khơng đồng nhất ở Mơ hình 1a - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.8. Kết quả kiểm định phương sai khơng đồng nhất ở Mơ hình 1a (Trang 66)
Bảng 3.9. Kết quả thống kê sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT tùy ý trên BCTC bán niên năm 2016 - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.9. Kết quả thống kê sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT tùy ý trên BCTC bán niên năm 2016 (Trang 69)
Bảng 3.10. Thống kê mô tả các biến độc lập trên BCTC quý 2 năm 2016 - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.10. Thống kê mô tả các biến độc lập trên BCTC quý 2 năm 2016 (Trang 72)
Cũng theo Bảng 3.11, hệ số xác định điều chỉnh Adjusted R2 - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
ng theo Bảng 3.11, hệ số xác định điều chỉnh Adjusted R2 (Trang 75)
Theo Bảng 3.11, hệ số Durbin – Watson của mơ hình là 1.58, gần đến 2, nên mơ hình khơng có hiện tƣợng tự tƣơng quan - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
heo Bảng 3.11, hệ số Durbin – Watson của mơ hình là 1.58, gần đến 2, nên mơ hình khơng có hiện tƣợng tự tƣơng quan (Trang 76)
PHỤ LỤC 1: BẢNG – BIỂU – HÌNH - (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính giữa niên độ của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
1 BẢNG – BIỂU – HÌNH (Trang 88)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w