Chính vì vậy việc nghiên cứu mức độ công bố thông tin và c c nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của c c công ty đại chúng lớn, công ty niêm yết rất cần được quan tâm kể cả đố
Trang 1VŨ THỊ MAI HƯƠNG
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC NHÓM NGÀNH VẬN
TẢI NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 2VŨ THỊ MAI HƯƠNG
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC NHÓM NGÀNH VẬN
TẢI NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG TÙNG
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 3Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
T c giả
VŨ THỊ MAI HƯƠNG
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương ph p nghiên cứu 3
6 Bố cục của luận văn 5
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 13
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 13
1.1.1 Kh i niệm về công bố thông tin 13
1.1.2 Tầm quan trọng của việc công bố thông tin 15
1.1.3 Yêu cầu về công bố thông tin 18
1.1.4 B o c o thường niên – kênh công bố thông tin quan trọng 20
1.2 ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 22
1.2.1 Phương ph p đo lường mức độ công bố thông tin 22
1.2.2 Danh mục đ nh gi mức độ công bố thông tin 24
1.2.3 Trọng số trong đo lường mức độ công bố thông tin 27
1.3 LÝ THUYẾT ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN 27
1.3.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) 28
1.3.2 Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory) 29
1.3.3 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary costs theory) 30 1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG
Trang 51.4.3 Nhóm nhân tố liên quan đến đặc điểm doanh nghiệp 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 41
2.1 TỔNG QUAN VỀ THỰC TIỄN CÔNG BỐ THÔNG TIN TẠI VIỆT NAM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH VẬN TẢI 41
2.1.1 Kh i qu t về môi trường công bố thông tin tại Việt Nam 41
2.1.2 Thực trạng công bố thông tin của c c doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên thị trường chứng kho n 44
2.1.3 Đặc điểm ngành vận tải 46
2.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 47
2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 47
2.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 47
2.2.3 Chọn mẫu 52
2.2.4 Đo lường mức độ công bố thông tin 53
2.2.5 Đo lường c c biến 55
2.2.6 Mô hình nghiên cứu 60
2.2.7 Thu thập và xử lý số liệu 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 62
3.1 MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VẬN TẢI NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 62
3.2 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 66
3.2.1 Thống kê mô tả c c biến độc lập và biến kiểm so t 66
3.2.2 Phân tích tương quan c c biến trong mô hình 68
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 85
CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN 86
4.1 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 86
4.1.1 Đối với doanh nghiệp niêm yết 86
4.1.2 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 87
4.2 KẾT LUẬN 92
4.2.1 Kết quả nghiên cứu đạt được 92
4.2.2 Những hạn chế của nghiên cứu 93
4.2.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo 94
PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
GIẤY ĐỀ NGHỊ BẢO VỆ LUẬN VĂN
BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN (Bản sao)
NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1
NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 2
BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN
Trang 7CBTT : Công bố thông tin
DN : Doanh nghiệp SGDCK : Sở giao dịch chứng kho n HĐQT : Hội đồng quản trị
UBCKNN : Uỷ ban chứng kho n Nhà nước
Trang 8sơ đồ
1.1 Phương ph p phân tích thông tin trên b o c o thường
Trang 93.4 Kết quả đ nh gi độ phù hợp của mô hình 71
3.6 Kết quả kiểm tra giả thiết phương sai sai số thay đổi 75 3.7 Kết quả đ nh gi độ phù hợp của mô hình lần 2 77
3.9 Tổng hợp kết quả nghiên cứu c c nhân tố ảnh hưởng đến
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh thị trường mang tính toàn cầu hóa ngày càng cao, đối tượng tham gia thị trường ngày càng đa dạng đòi hỏi doanh nghiệp phải theo kịp xu thế tất yếu đang hình thành trên thị trường chứng kho n đó là thông tin phải ngày càng minh bạch và được truyền thông, phản hồi hai chiều giữa doanh nghiệp niêm yết và nhà đầu tư Khi nguồn cung cổ phiếu dồi dào thì sự cạnh tranh giữa c c doanh nghiệp niêm yết trong việc giữ chân cổ đông và thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư tiềm năng trên thị trường diễn ra ngày càng gay gắt Hiển nhiên, doanh nghiệp nào có hoạt động công bố thông tin tốt và xây dựng quan hệ nhà đầu tư một c ch chuyên nghiệp sẽ góp phần giúp nhà đầu tư, cổ đông thường xuyên cập nhật tin tức, so s nh, đ nh gi và phân tích
để đưa ra c c quyết định về định gi kịp thời và chính x c, từ đó tạo nên sức hút của cổ phiếu và sức mạnh toàn diện của doanh nghiệp Do đó, có thể thấy thông tin là yếu tố then chốt, nhạy cảm và ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của tất cả c c đối tượng tham gia thị trường, đó là nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước, c c công ty chứng kho n
Tính đến thời điểm 12/2015, trên thị trường chứng kho n Việt Nam có tổng cộng 1.670 công ty đại chúng, trong đó có 695 công ty đã niêm yết trên 2
Sở Giao dịch Chứng kho n, 400 công ty đăng ký giao dịch trên UPCOM, 80 công ty chứng kho n, 50 công ty quản lý qu và hơn 1,6 triệu tài khoản nhà đầu tư trong và ngoài nước Tuy nhiên, theo kết quả công bố từ vietstock.vn vào năm 2012 ch có 23 doanh nghiệp trên tổng số 688 doanh nghiệp niêm yết, tương ứng tỷ lệ 3.3 hoàn thành ngh a vụ công bố thông tin theo quy định Tỷ lệ này tăng lên 4.2 vào năm 2013 và là 9.7 vào năm 2015 Như vậy có rất nhiều doanh nghiệp niêm yết đã chậm công bố thông tin hoặc bỏ sót những thông tin quan trọng, ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư
Trang 11Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn ph t triển như hiện nay thì ngành vận tải đóng vai trò ngày càng quan trọng trong sự
ph t triển của đất nước Vận tải là yếu tố cần thiết của tất cả c c giai đoạn của
qu trình sản xuất Trong qu trình hoạt động của mình, dịch vụ vận tải đã góp phần tiêu thụ một khối lượng lớn c c sản phẩm của ngành kh c, bằng
c ch đưa c c sản phẩm đó từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng, làm cho gi trị sản phẩm được tăng lên Do đó, khi nền kinh tế tăng trưởng, nhu cầu vận chuyển hàng hóa tăng lên thì ngày càng nhiều c c doanh nghiệp cổ phần kinh doanh dịch vụ vận tải ra đời để đ p ứng nhu cầu ph t triển của toàn ngành Trong đó, nguồn vốn huy động từ thị trường chứng kho n đối với ngành này chiếm tỷ trọng không hề nhỏ Nhưng dường như nhà đầu tư chưa nhận được những thông tin tương xứng về doanh nghiệp mà họ đã bỏ vốn đầu tư Trong khi thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự ra quyết định của nhà đầu tư cũng như ảnh hưởng đến qu trình hoạt động và ph t triển của thị trường chứng kho n
Chính vì vậy việc nghiên cứu mức độ công bố thông tin và c c nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của c c công ty đại chúng lớn, công
ty niêm yết rất cần được quan tâm kể cả đối với cả nhà đầu tư, công ty niêm yết và cả cơ quan quản lý Có nhiều t c giả trong nước và thế giới đã nghiên cứu ảnh hưởng của c c nhân tố đến mức độ công bố thông tin trong doanh nghiệp niêm yết nhưng hiện nay chưa có nghiên cứu về mức độ công bố thông tin của c c doanh nghiệp ngành vận tải để giúp người đọc, nhà đầu tư
có c i nhìn tổng qu t hơn về vấn đề này, từ đó có thể giúp nhà đầu tư và c c bên liên quan có đ nh gi chung trước khi ra quyết định
Xuất ph t từ thực tiễn nêu trên, đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp thuộc nhóm
Trang 12ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” được lựa
chọn để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đ nh gi mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứng kho n Việt Nam
- X c định c c nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứng kho n Việt Nam
- Gợi ý các chính sách nhằm nâng cao mức độ công bố thông tin
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu của nghiên cứu đặt ra ở trên, nội dung chính của
đề tài cần phải trả lời được c c câu hỏi sau:
- Mức độ công bố thông tin tự nguyện của c c doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứng kho n Việt Nam như thế nào?
- C c yếu tố nào ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứng kho n Việt Nam?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về mức độ công bố thông tin tự nguyện của c c doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, trên cơ sở đó đ nh gi ảnh hưởng của c c yếu tố t c động đến mức độ công bố thông tin tự nguyện
Phạm vi nghiên cứu: Các b o c o thường niên năm 2015 của 47 doanh nghiệp vận tải niêm yết tại tại sàn giao dịch chứng kho n thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và sàn giao dịch chứng kho n Hà Nội (HNX)
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương ph p nghiên cứu chủ yếu trong luận văn này là phương pháp nghiên cứu định lượng Với phương ph p này luận văn sử dụng mô hình hồi
Trang 13quy để kiểm tra những giả thuyết nghiên cứu đặt ra Trong đó biến về về đặc điểm quản trị doanh nghiệp gồm số lượng thành viên hội đồng quản trị, thành viên hội đồng quản trị độc lập và việc kiêm nhiệm giữa chủ tịch hội đồng quản trị và tổng gi m đốc, loại công ty kiểm to n độc lập Yếu tố về cơ cấu sở hữu gồm: sở hữu nhà nước, sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, sở hữu của nhóm nhà quản lý Cuối cùng là c c yếu tố về đặc tính của doanh nghiệp gồm quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, đòn bẩy nợ
- Trình tự nghiên cứu: Bước đầu tiên, t c giả đã tiến hành tìm hiểu và
tổng hợp c c lý thuyết có liên quan Tiếp theo, lựa chọn mẫu nghiên cứu là các doanh nghiệp vận tải niêm yết tại HOSE và HNX trước năm 2015 và thu thập b o c o thường niên năm 2015 của c c doanh nghiệp này Bước 3, xây dựng bảng c c yếu tố thông tin tự nguyện công bố trong b o c o thường niên, tính to n ch số công bố thông tin đồng thời x c định c c nhân tố có thể có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong b o c o thường niên của c c doanh nghiệp thuộc nhóm ngành vận tải niêm yết, đặt ra c c giả thuyết nghiên cứu Và cuối cùng là tiến hành phân tích hồi quy, kiểm định c c giả thuyết, rút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp phân tích:
Nghiên cứu sử dụng ch số công bố thông tin theo c ch tiếp cận không trọng số để đo lường mức độ công bố thông tin trong b o c o thường niên của các doanh nghiệp vận tải và sử dụng phương ph p thống kê mô tả để xem xét đặc điểm, đ nh gi mức độ công bố thông tin trong b o c o thường niên của các doanh nghiệp này
Đồng thời, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội ( p dụng phương ph p bình phương bé nhất - OLS regression model) với phần mềm ứng dụng SPSS nhằm x c định c c nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong b o c o thường niên của c c doanh nghiệp vận tải
Trang 146 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục c c từ viết tắt, sơ đồ, bảng biểu và phụ lục, bố cục của luận văn được chia làm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công bố thông tin và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chuơng 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Hàm ý chính sách và kết luận
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Công bố thông tin của c c doanh nghiệp niêm yết là một chủ đề luôn nhận được nhiều sự quan tâm, chú ý của c c nhà nghiên cứu, học thuật trong nước cũng như trên thế giới trong thời gian qua
- Các nghiên cứu trên thế giới:
Đã có rất nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin và đặc điểm của doanh nghiệp nhằm xem xét những yếu tố quyết định đến hành động công bố thông tin của c c doanh nghiệp Những yếu tố hay được xem xét trong c c nghiên cứu trước là c c đặc điểm trong quản trị doanh nghiệp như hội đồng quản trị, quy mô hội đồng quản trị, thành phần hội đồng quản trị, thành phần ban kiểm to n và cơ cấu sở hữu Trong khi c c thuộc tính công ty được sử dụng nhiều ở c c nghiên cứu trước là quy mô công ty, lợi nhuận, tính thanh khoản, đòn bẩy nợ, chất lượng công ty kiểm to n, tình trạng niêm yết, tuổi công ty Có thể kể đến c c nghiên cứu của Gray và cộng sự (1995), Ho và Wong (2001), Chau và Gray (2002), Eng và Mak (2003), Barako và cộng sự (2006), Yuen và cộng sự (2009), Rouf (2010) [25], [30], [16], [20], [10], [49], [39] Luận văn sẽ trình cụ thể từng nghiên cứu của họ để giúp hiểu bản chất, phương ph p và kết quả của nghiên cứu này
Trang 15Nghiên cứu của Gray và cộng sự (1995): Nghiên cứu này đã phân tích
c c yếu tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin tự nguyện của c c công ty ở
M , Anh và châu Âu [25] Họ đã sử dụng một bảng điểm để đo lường số điểm mức độ công bố thông tin tự nguyện C c mục thông tin trong bảng điểm được chia thành chiến lược, thuyết minh tài chính và phi tài chính C c yếu tố được kiểm tra bao gồm quy mô công ty, quốc gia/khu vực, tình trạng niêm yết, ngành, đòn bẩy tài chính, đa dạng hóa kinh doanh và lợi nhuận Nghiên cứu này đã không kiểm tra c c yếu tố về cơ cấu sở hữu
Kết quả phân tích hồi quy đã cho thấy rằng quy mô công ty và quốc gia/khu vực là những yếu tố quan trọng nhất giải thích mức độ công khai thông tin Đòn bẩy cho một mối quan hệ ngược chiều đ ng kể đối với mức độ công bố thông tin đã được quan s t trong khi đó ít có bằng chứng cho thấy lợi nhuận có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
Nghiên cứu của Ho và Wong (2001): Nghiên cứu này bàn về mối quan
hệ giữa quản trị doanh nghiệp và mức độ công bố thông tin tự nguyện của c c công ty niêm yết tại Hồng Kông [30] C c biến trong nghiên cứu bao gồm
gi m đốc điều hành độc lập, sự tồn tại của một ủy ban kiểm to n, sự tồn tại của c c nhân chi phối và tỷ lệ phần trăm của c c thành viên gia đình trong hội đồng quản trị
Kết quả nghiên cứu tìm thấy rằng tỷ lệ phần trăm của c c thành viên gia đình trong hội động quản trị là biến quan trọng nhất ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện Hơn nữa, kết quả cũng cho thấy sự tồn tại của một ủy ban kiểm to n tự nguyện là tích cực đối với mức độ công bố tự nguyện Hai biến kh c, thành viên hội đồng quản trị độc lập và c nhân chi phối không có mối liên hệ đ ng kể với mức độ công bố tự nguyện
Nghiên cứu của Chau và Gray (2002): Nghiên cứu này đã phân tích
mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và công bố tự nguyện của công ty tại Hồng
Trang 16Kông và Singapore [16] Mẫu của họ đã được lựa chọn gồm 60 công ty trong ngành công nghiệp, trong đó b o c o thường niên năm 2007 là nguồn dữ liệu chính Nghiên cứu đã sử dụng một bảng điểm đo lường mức độ công khai để
đo lường số điểm công bố thông tin tự nguyện Cơ cấu sở hữu được đo bằng
tỷ lệ cổ phần thuộc sở hữu của bên ngoài
Kết quả cho thấy có sự ủng hộ cho giả thuyết tỷ lệ sở hữu bên ngoài công ty lớn hơn làm cho công bố thông tin tự nguyện cao hơn Hơn nữa, nghiên cứu cũng ch ra rằng có một mối quan hệ ngược chiều giữa quyền sở hữu hoặc quyền sở hữu gia đình tập trung và c c công bố thông tin tự nguyện
Nghiên cứu của Eng và Mak (2003): Nghiên cứu đã kiểm tra mối quan
hệ giữa quản trị doanh nghiệp và c c công bố thông tin tự nguyện tại Singapore [20] Họ đã sử dụng một mẫu của 158 công ty niêm yết vào cuối năm 1995 C c t c giả đã ph t triển một bảng điểm công bố thông tin để đ nh
gi mức độ công bố thông tin tự nguyện C c yếu tố sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm thành phần hội động quản trị và cơ cấu sở hữu Đối với cơ cấu
sở hữu họ sử dụng c c yếu tố sở hữu cổ đông lớn, quyền sở hữu của ban điều hành, quyền sở hữu của nhà nước Kết quả cho thấy rằng quyền sở hữu của nhà quản lý thấp hơn làm tăng mức độ công bố thông tin tự nguyện Hơn nữa,
họ không tìm thấy liên hệ giữa quyền sở hữu của cổ đông lớn và mức độ công
bố thông tin tự nguyện Liên quan đến quyền sở hữu của chính phủ nghiên cứu cho thấy rằng quyền sở hữu của chính phủ nhiều hơn dẫn đến công bố thông tin tự nguyện cao hơn
Nghiên cứu của Barako và công sự (2006): Nghiên cứu này phân tích
c c yếu tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin tự nguyện của c c công ty Kenya [10] C c yếu tố được sử dụng trong nghiên cứu của họ là sự xuất hiện của ủy ban kiểm to n, thành phần hội đồng quản trị, sở hữu nước ngoài, sở hữu tổ chức, sự tập trung cổ đông, quy mô doanh nghiệp, công ty kiểm to n
Trang 17độc lập, khả năng sinh lời, khả năng thanh to n, ngành và tỷ lệ đòn bẩy Mẫu của họ bao gồm 54 công ty niêm yết trên NSE Kết quả cho thấy rằng sự hiện diện của một ủy ban kiểm to n liên quan tích cực đến mức độ công bố thông tin tự nguyện Nghiên cứu này được thực hiện qua nhiều năm và trong những năm đầu có một mối quan hệ ngược chiều giữa c c thành phần hội đồng quản trị và số lượng công bố thông tin tự nguyện trong khi trong những năm sau này là một mối quan hệ cùng chiều Ngoài ra, sở hữu nước ngoài, tổ chức sở hữu, quy mô doanh nghiệp và đòn bẩy cũng có một mối quan hệ cùng chiều
đ ng kể với mức độ công bố tự nguyện Tập trung sở hữu cổ đông cho thấy một mối quan hệ ngược chiều với mức độ công bố thông tin
Nghiên cứu của Yuen và cộng sự (2009): Nghiên cứu này xem xét t c
động của sở hữu, cơ chế quản trị doanh nghiệp, và đặc điểm công ty với việc công bố tự nguyện của c c công ty niêm yết trên thị trường chứng kho n Thượng Hải [49] C c tính năng cơ cấu sở hữu và cơ chế quản trị doanh nghiệp bao gồm: (1) mức độ sở hữu tập trung, (2) sở hữu của c c tổ chức nhà nước; (3) quyền sở hữu c nhân, (4) gi m đốc điều hành kiêm chủ tịch hội đồng quản trị, (5) hội đồng quản trị độc lập, và (6) sự tồn tại của ủy ban kiểm
to n C c đặc tính công ty gồm (1) quy mô doanh nghiệp, (2) đòn bẩy, (3) lợi nhuận, và (4) ngành Nghiên cứu này sử dụng một bảng ch số để đo lường mức độ công bố tự nguyện Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng quyền sở hữu c nhân, sự tồn tại của một ủy ban kiểm to n, quy mô doanh nghiệp, và đòn bẫy tài chính, bao gồm cả tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập có liên quan đ ng kể đến mức công bố thông tin Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho c c nhà hoạch định chính s ch Trung Quốc và cơ quan quản lý để cải thiện c c cơ chế quản trị doanh nghiệp và minh bạch của
c c công ty niêm yết được nghiên cứu
Trang 18Nghiên cứu của Akhtaruddin và cộng sự (2009): Nghiên cứu này điều
tra mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và mức độ công bố tự nguyện của
c c doanh nghiệp niêm yết tại Malaysia [6] C c yếu tố quản trị được kiểm tra bao gồm số lượng thành viên hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập, sở hữu cổ phần bên ngoài, kiểm so t gia đình, và tỷ lệ phần trăm của c c thành viên ủy ban kiểm to n trên tổng số thành viên hội đồng quản trị Kết quả nghiên cứu cho thấy một mối liên hệ thuận giữa số lượng thành viên hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập và công bố thông tin tự nguyện Tuy nhiên, kiểm so t gia đình có t c động ngược chiều đến công bố thông tin tự nguyện tại Malaysia, trong khi đó tỷ lệ của c c thành viên ủy ban kiểm to n trên tổng số thành viên hội đồng quản trị không liên quan đến mức độ công bố thông tin
Nghiên cứu của Rouf (2010): Nghiên cứu này t c giả muốn kiểm tra
c c mối quan hệ giữa "đặc điểm của công ty", "thuộc tính quản trị" và "mức
độ công bố thông tin tự nguyện" ở Bangladesh [39] Bài nghiên cứu này dựa trên một mẫu gồm 120 công ty phi tài chính niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán DSE trong năm 2007 Nghiên cứu sử dụng phương ph p OLS để kiểm tra c c mối quan hệ giữa c c biến giải thích và công bố thông tin Kết quả thực nghiệm cho thấy một mối liên hệ thuận giữa số lượng thành viên hội đồng quản trị, cơ cấu hội đồng quản trị và Ủy ban ban kiểm to n với công bố
tự nguyện Ngược lại, mức độ công bố thông tin tự nguyện có liên quan ngược chiều đối với việc kiêm nhiệm Chủ tịch hội đồng quản trị và tổng gi m đốc, cơ cấu sở hữu và lợi nhuận ròng
- Các nghiên cứu tại Việt Nam
Việc nghiên cứu c c chủ đề liên quan đến công bố thông tin được thực hiện tại c c quốc gia trên thế giới sớm hơn so với Việt Nam, tuy nhiên, trong
Trang 19thời gian gần đây, c c nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đã quan tâm nhiều hơn và đã có những nghiên cứu liên quan đến chủ đề này
Nghiên cứu của Kelly Vu (2012): “Determinants of Voluntary
Disclosure for Vietnamese Listed Firms” Nghiên cứu này xem xét c c yếu tố
t c động đến mức độ công bố thông tin của 252 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng kho n Việt Nam trong năm 2009 [34] Nghiên cứu này sử dụng bảng điểm gồm 84 mục và không có trọng số để x c mức độ công bố thông tin c c doanh nghiệp tại Việt Nam T c giả đã sử dụng phân tích hồi quy hỗ trợ cho việc giải thích nghiên cứu về thực tế công bố thông tin tự nguyện tại Việt Nam C c bằng chứng cho thấy công bố thông tin tự nguyện của doanh nghiệp bị ảnh hưởng tích cực bởi sức mạnh của quản trị doanh nghiệp (tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập) Sở hữu nhà nước cao là một đặc thù của
c c công ty niêm yết Việt Nam, có liên quan đ ng kể và ngược chiều với mức
độ công bố thông tin Trong khi một tỷ lệ cao hơn về quyền sở hữu của ban điều hành làm giảm mức độ công bố thông tin tự nguyện, sở hữu nước ngoài không ảnh hưởng đến công bố thông tin Quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận, ngành, yếu tố về công ty kiểm to n, thời gian niêm yết và nơi niêm yết là những thuộc tính quan trọng liên quan đến việc công bố tự nguyện trong c c
b o c o thường niên tại Việt Nam
Bằng chứng từ nghiên cứu này cho thấy rằng quản trị doanh nghiệp có thể như là một cơ chế gi m s t hiệu quả để nâng cao mức độ công bố thông tin tại Việt Nam Ph t hiện này khuyến nghị c c nhà ban hành chính s ch Việt Nam cần p dụng mạnh hơn cơ chế quản trị doanh nghiệp để nâng cao mức
độ minh bạch thông tin Ảnh hưởng ngược chiều của sở hữu nhà nước đến mức độ công bố tự nguyện tại Việt Nam cung cấp những lý luận có gi trị vào
c c kế hoạch cổ phần hóa trong tương lai của c c doanh nghiệp nhà nước Hơn nữa, mối quan hệ ngược chiều giữa quyền sở hữu quản lý và thực thi
Trang 20công bố thông tin tự nguyện cho thấy c c vấn đề về quyền sở hữu quản lý, đặc biệt trong một thị trường mới nổi như Việt Nam
Nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2012) nghiên cứu về “Mối quan
hệ giữa cơ chế quản trị công ty và công bố thông tin trong báo cáo thường niên: nghiên cứu tại thị trường Việt Nam” [4] Số mẫu thực nghiệm gồm 101
công ty niêm yết bao gồm 46 công ty niêm yết trên HOSE và 55 công ty niêm yết trên HNX được thu thập Điểm số công bố thông tin trong bài nghiên cứu này được khảo s t từ 24 mục trong thông tư 52/2012/TT-BTC về thông tin cần có trong b o c o thường niên tại Việt Nam Kết quả ch ra rằng, c c biến đại diện cho cơ chế quản trị công ty như: số lượng thành viên hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập không điều hành, sở hữu vốn của
c c tổ chức có mối tương quan thuận và có ý ngh a thống kê với biến mức độ công bố thông tin Tuy nhiên, sự bất kiêm nhiệm giữa Tổng gi m đốc và chủ tịch hội đồng quản trị có mối tương quan nghịch với mức độ công bố thông tin C c biến độc lập trong mô hình giải thích được 26,7 biến phụ thuộc
Nghiên cứu mới nhất về vấn đề này là nghiên cứu của Hiếu và Lan
(2015): "Factors Influencing the Voluntary Disclosure of Vietnamese Listed
Companies" Bài nghiên cứu này nhằm mục đích để đ nh gi c c yếu tố ảnh
hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện bằng c ch kiểm tra c c b o
c o hàng năm của 205 công ty công nghiệp và sản xuất niêm yết trên SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh (HSX) và Sở GDCK Hà Nội (HNX) cho năm 2012 [37] Những yếu tố ảnh hưởng bao gồm quy mô công ty, lợi nhuận, đòn bẩy, quyền sở hữu nhà nước, quyền sở hữu ban điều hành, sở hữu nước ngoài, thành viên hội đồng quản trị độc lập, chủ tịch hội đồng quản trị kiêm tổng
gi m đốc và công ty kiểm to n Bài viết đ nh gi mức độ công bố thông tin dựa trên một bảng gồm 42 câu và được chia làm 4 nhóm chính Bằng chứng
từ nghiên cứu này cho thấy hai ph t hiện chính: (1) C c công ty có sở hữu
Trang 21nước ngoài cao có mức độ công bố thông tin tự nguyện tốt hơn; (2) Quy mô công ty là một yếu tố quan trọng liên quan đến sự gia tăng mức độ công bố thông tin tự nguyện trong c c b o c o hàng năm của c c công ty niêm yết Việt Nam Tuy nhiên, c c yếu tố còn lại không có t c động đên mức độ công
bố thông tin như đưa ra trong giả thuyết trong nghiên cứu
Kết quả của c c nghiên cứu về công bố thông tin trên thế giới và tại Việt Nam được t c giả thể hiện tóm tắt trong bảng phụ lục A
- Kết luận tổng quan tài liệu nghiên cứu:
Qua việc tổng quan c c nghiên cứu được thực hiện trên thế giới và tại Việt Nam có liên quan đến công bố thông tin, có thể thấy rằng, công bố thông tin và c c nhân tố ảnh hưởng là một trong những chủ đề được đặc biệt quan tâm Hầu hết c c nghiên cứu này sử dụng phương ph p định lượng tiếp cận theo quy trình từ c c nghiên cứu trước, lý thuyết nền tảng và đặc điểm kinh tế
xã hội ở mỗi quốc gia để xây dựng mô hình và kiểm định mô hình Tuy nhiên
c c nghiên cứu vẫn còn chưa thống nhất về c c nhân tố ảnh hưởng đến công
bố thông tin, có thể do xuất ph t về đo lường hoặc do chọn mẫu Hơn nữa hầu hết c c nghiên cứu ch tập trung nghiên cứu mức độ công bố thông tin cho các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng kho n Việt Nam thuộc tất cả c c nhóm ngành nghề, có rất ít c c nghiên cứu liên quan đến công bố thông tin riêng cho một nhóm ngành cụ thể, ví dụ như nhóm ngành vận tải Vì vậy, tất yếu cần phải có c c nghiên cứu về chủ đề này cho từng nhóm ngành cụ thể để
c c cơ quan quản lý nhà nước có thể có những chính s ch, quy định chặt chẽ hơn, phù hợp hơn với thị trường chứng kho n Việt Nam
Trang 22CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ CÁC NHÂN
TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.1.1 Khái niệm về công bố thông tin
Công bố thông tin là qu trình cung cấp thông tin liên quan đến tình hình tài chính, vị thế cạnh tranh, triển vọng ph t triển và c c thông tin phi tài chính của công ty, quan trọng là c c khoản mục bằng tiền cho c c bên có quan tâm
và có lợi ích liên quan đến công ty (Owusu-Ansah, 1998) [36]
Trong hoạt động của thị trường chứng kho n c c nhà đầu tư yêu cầu thông tin phải kịp thời và chính x c để đưa ra quyết định đầu tư hiệu quả Thông tin có thể được thu thập qua nhiều c ch kh c nhau và một trong những nguồn quan trọng nhất là từ c c công bố thông tin của công ty Vai trò quan trọng nhất của công bố thông tin là cung cấp thông tin tài chính liên quan, hữu ích và đ ng tin cậy cho c c nhà đầu tư, cổ đông và những người quan tâm
kh c về tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động công ty Đồng thời cung cấp những thông tin về triển vọng trong tương lai của công ty để giúp c c nhà đầu
tư trong việc ra quyết định Có bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng việc công bố thông tin tăng làm giảm chi phí vốn của một công ty bằng c ch giảm thông tin bất cân xứng (Botosan, 1997) [12] Như vậy, công bố thông tin tự
nó là một công cụ chiến lược giúp tăng cường khả năng của một công ty để huy động vốn với chi phí thấp nhất có thể C c thông tin được cung cấp bởi
c c công ty bao gồm hai loại: công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin
tự nguyện
- Công bố thông tin bắt buộc:
Là việc công bố những thông tin cơ bản theo quy định của ph p luật mà
cụ thể là c c quy định công bố thông tin theo luật doanh nghiệp, luật chứng
Trang 23khoán 2005 (đã có sửa đổi và bổ sung), thông tư 155/2015/TT-BTC về công
bố thông tin Theo Simon (2001) công bố thông tin bắt buộc là c c quy tắc cho phép truy cập những thông tin cơ bản [40] Hay công bố thông tin bắt buộc là c c thông tin mà c c doanh nghiệp nhất thiết phải công bố theo quy chuẩn, nội dung và thời gian bắt buộc do luật quy định (Durukan, 2003) [19] Hiện tại theo quy định của thông tư 155/2015/TT-BTC việc công bố thông tin được phân chia làm 3 loại gồm: công bố thông tin định kỳ, công bố thông tin bất thường, công bố thông tin theo yêu cầu
Công bố thông tin định kỳ: Công bố thông tin định kỳ gồm những b o
c o: b o c o tài chính quý, b n niên, năm, đối với công ty là công ty mẹ - công ty con hoặc công ty có kế to n phụ thuộc phải có cả b o c o tài chính riêng và b o c o tài chính hợp nhất Ngoài ra, công bố thông tin định kỳ còn
có báo c o thường niên và b o c o quản trị Thông tư 155 còn quy định cụ thể nội dung, thời hạn và c ch thức công bố thông tin
Công bố thông tin bất thường: Cũng theo quy định của thông tư 155
những sự kiện, thông tin xảy ra ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh, cổ đông của công ty thì phải công bố thông tin trong thời hạn quy định của thông tư này Một số sự kiện phải công bố thông tin bất thường như: tài khoản công ty bị phong tỏa, nghị quyết/quyết định của Đại hội đồng cổ đông,
c c nghị quyết quan trọng của Hội đồng quản trị, thay đổi nhân sự chủ chốt,
sự kiện ảnh hưởng lớn đến họat động sản xuất kinh doanh…
Công bố thông tin theo yêu cầu: Công ty phải công bố thông tin trong
vòng 24h khi có yêu cầu của Ủy ban chứng kho n nhà nước khi xảy ra c c sự kiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của cổ đông, gi chứng kho n C ch thức và nội dung công bố thông tin cũng được quy định rõ trong thông tư 155
Trang 24- Công bố thông tin tự nguyện:
Công bố thông tin tự nguyện là thuật ngữ kh mới ở Việt Nam và c c thị trường tài chính mới nổi nhưng đối với c c thị trường ph t triển như Châu Âu, Châu M thì đây là thuật ngữ phổ biến Như FASB (Financial Accounting Standard Board in US) đã định ngh a công bố thông tin tự nguyện là c c thông tin được công bố ngoại trừ những b o c o tài chính đã công bố theo yêu cầu Gray và cộng sự (1995) x c định công bố thông tin tự nguyện như là những công bố được thực hiện vượt qu những yêu cầu thông tin cơ bản Công bố thông tin tự nguyện như là công cụ giảm bớt thông tin bất cân xứng giữa lãnh đạo công ty và nhà đầu tư Công bố thông tin tự nguyện thường xuyên được chia thành ba loại thông tin: chiến lược, tài chính và phi tài chính Nghiên cứu đầu tiên về ba loại thông tin này là của Gray và cộng sự (1995) Chiến lược và thông tin tài chính thường liên quan đến nhà đầu tư và c c nhà sản xuất Trong khi đó thông tin phi tài chính tập trung nhiều hơn về tr ch nhiệm xã hội của một doanh nghiệp, bên cạnh việc thông tin cho c c nhà đầu
tư, cũng liên quan đến công chúng nói chung Có nhiều phương thức kh c nhau để cung cấp thông tin tự nguyện, thông qua c c b o c o thường niên, nửa năm, hàng quý, b o c o quan hệ nhà đầu tư, b o c o ph t triển bền vững, chú thích, phỏng vấn, thông c o b o chí và những c ch thức kh c [25]
1.1.2 Tầm quan trọng của việc công bố thông tin
Verrecchia (1983) lập luận rằng quyết định của người quản lý tiết lộ hoặc che giấu thông tin phụ thuộc vào sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích của việc cung cấp thông tin [45] Chi phí liên quan công bố tự nguyện, bao gồm chi phí thu thập, lưu trữ, kiểm to n và chi phí cạnh tranh bất lợi Trong đó, chi phí cạnh tranh bất lợi là đến từ c c thông tin như c c chiến lược và đổi mới công nghệ, quản lý về hoạt động của một công ty Như công bố thông tin liên quan đến kế hoạch ph t triển sản phẩm trong tương lai của công ty với công
Trang 25chúng thì dễ xảy ra một nguy cơ cạnh tranh tiềm tàng cho chính công ty đã công bố thông tin Đó chính là đối thủ cạnh tranh có thể sử dụng công bố thông tin của công ty để ph t triển một sản phẩm tương tự hoặc cập nhật sản phẩm, kết quả là gây bất lợi trong cạnh tranh với công ty
Tuy nhiên, có nhiều ích lợi trong việc công bố thông tin của c c công ty như khuyến khích c c giao dịch thị trường vốn Khi quản lý một công ty dự kiến giao dịch thị trường vốn trong tương lai gần, một số công bố thông tin tự nguyện được sử dụng để làm giảm sự bất đối xứng thông tin giữa công ty và nhà đầu tư Lý do việc nhà quản lý làm như vậy là nó có thể làm giảm chi phí tài chính bên ngoài Nhiều nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng thực nghiệm cho lý thuyết này Botosan (2000) kết luận rằng kết quả công bố thông tin nhiều hơn thì có chi phí vốn thấp hơn [13]
Nghiên cứu trước đây ch ra rằng tăng công bố tự nguyện có thể cải thiện tính thanh khoản thị trường vốn bằng c ch giảm chi phí giao dịch và do đó làm tăng nhu cầu đối với cổ phiếu của một công ty Nhu cầu cao hơn đối với
cổ phiếu dẫn đến gi cổ phiếu cao hơn, dẫn đến chi phí thấp hơn vốn (Verrecchia, 1983) [45] Trong một nghiên cứu về công bố tự nguyện và thanh khoản thị trường trong thị trường mới nổi ở Jordan, Cormier (1999) thấy rằng tăng cường công bố thông tin tự nguyện giúp giảm thiểu khoảng
c ch giữa lệnh đặt mua – lệnh đặt b n trong c c hoạt động giao dịch cổ phiếu, làm giảm chi phí vốn và do đó cải thiện tính thanh khoản của thị trường [18] Hiệu quả của việc công bố thông tin tốt là làm giảm chi phí nợ cũng được xem xét trong nghiên cứu trước đây Bằng chứng thực nghiệm từ Botosan (2000) nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ lãi suất thấp có liên quan với mức độ cao hơn trong công bố thông tin [13] Điều này là do khi c c vấn đề thông tin bất đối xứng tồn tại, chủ nợ có thể cho rằng c c công ty đang che giấu thông tin, có thể dẫn đến sự gia tăng trong chi phí đi vay vì chủ nợ phải
Trang 26tự bảo vệ mình từ c c thông tin không đầy đủ nhận được từ c c công ty Điều
đó cũng có ngh a là khi một công ty công bố thêm thông tin tự nguyện giúp chủ nợ tiết kiệm chi phí tìm kiếm thông tin và giúp làm giảm chi phí đi vay Mức độ công bố thông tin tự nguyện có thể làm giảm sự không chắc chắn xung quanh một công ty cụ thể và cho phép nhà đầu tư hoặc c c nhà đầu
tư tiềm năng có được dự b o chính x c hơn từ đó, cổ phiếu chịu ít biến động
và gi trị của chúng được x c định chính x c hơn (Healy và Palepu , 2001) [28] C c nghiên cứu trước đây cũng tìm thấy rằng mức độ công bố thông tin tốt có một t c động tích cực trở lại cổ phiếu của một công ty Barako (2004) cho rằng việc công bố thông tin tự nguyện phi tài chính có thể nâng cao gi trị
cổ phiếu của một công ty cũng như uy tín xã hội [9]
Công bố thông tin là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc phân
bổ hiệu quả c c nguồn lực của xã hội và giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin giữa doanh nghiệp và c c đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp, (Adina, 2008) [5] Thật vậy, một số c c vấn đề liên quan đến thông tin và động cơ công bố thông tin đã cản trở việc phân bổ nguồn lực tối ưu trong thị trường vốn Đó chính là c c vấn đề như vấn đề bất đối xứng thông tin, vấn đề đại diện, Vấn đề bất đối xứng thông tin nảy sinh từ sự kh c biệt
về mức độ và nội dung thông tin, từ sự kh c biệt về động cơ giữa chủ doanh nghiệp, nhà quản trị doanh nghiệp với c c nhà đầu tư Thông tin bất đối xứng tạo ra những kỳ vọng về giá khác nhau đối với mỗi chủ thể trên thị trường dẫn đến sự khác nhau về mặt hiệu quả kinh tế và thường là thiệt hại cho các nhà đầu tư có những thông tin không đầy đủ hay những thông tin thiếu chính xác, thậm chí còn gây ra c c hành vi tiêu cực như đầu cơ, giao dịch nội gián, tung tin đồn thất thiệt, làm cho thị trường kém hiệu quả, dễ chao đảo, hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư cũng dễ rủi ro hơn, Còn vấn đề đại diện ph t sinh khi c c cổ đông của doanh nghiệp, tức là những nhà đầu tư đã đầu tư vốn
Trang 27vào doanh nghiệp, bổ nhiệm, ch định người kh c, người quản lý doanh
nghiệp (người đại diện - agents), để thực hiện việc quản lý doanh nghiệp cho
họ, trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của doanh nghiệp Nếu cả cổ đông và người quản lý doanh nghiệp đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì chắc chắn rằng người quản lý doanh nghiệp sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức
c c cổ đông và doanh nghiệp, mà tr i lại họ luôn có xu hướng tìm kiếm lợi ích
c nhân (lý thuyết đại diện) Và một trong số những giải ph p làm giảm các vấn đề nêu trên là việc thúc đẩy công bố thông tin doanh nghiệp trên thị trường chứng kho n
Nhìn chung, tăng cường công bố thông tin cho phép c c công ty dễ dàng huy động vốn bên ngoài thông qua một chi phí vốn giảm và chi phí nợ giảm, đồng thời nâng cao gi trị của công ty và cải thiện thanh khoản thị trường, đóng góp vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế của một quốc gia
1.1.3 Yêu cầu về công bố thông tin
Yêu cầu công bố thông tin đối với các doanh nghiệp niêm yết
Thông tư số 155/2015/TT-BTC của Bộ Tài Chính hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng kho n có c c quy định điều về yêu cầu thực hiện công bố thông tin như sau:
- Việc công bố thông tin phải đầy đủ, chính x c, kịp thời theo quy định
ph p luật;
- Đối tượng công bố thông tin phải chịu tr ch nhiệm về nội dung thông tin công bố Trường hợp có sự thay đổi nội dung thông tin đã công bố, đối tượng công bố thông tin phải công bố nội dung thay đổi và lý do thay đổi so với thông tin đã công bố trước đó;
- Trường hợp có sự kiện, thông tin làm ảnh hưởng đến gi chứng kho n, đối tượng công bố thông tin phải x c nhận hoặc đính chính về sự kiện, thông
Trang 28tin đó trong vòng 24 giờ, kể từ khi nhận biết được về sự kiện, thông tin đó hoặc theo yêu cầu của Ủy ban Chứng kho n Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán;
-Việc công bố thông tin phải do người đại diện theo ph p luật của công
ty hoặc người được uỷ quyền công bố thông tin thực hiện Người đại diện theo ph p luật của công ty phải chịu tr ch nhiệm về tính chính x c, kịp thời và đầy đủ về thông tin do người được uỷ quyền công bố thông tin công bố;
-Việc công bố thông tin phải được thực hiện đồng thời với việc b o c o UBCKNN, Sở GDCK về nội dung thông tin công bố
Các tiêu chí đánh giá chất lượng công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
- Độ tin cậy của thông tin được công bố
Mức độ tin cậy của c c thông tin được biểu hiện qua c c khía cạnh như sau: Độ rõ ràng của c c thông tin được công bố, thông tin được công bố bởi
c c chủ thể có thẩm quyền, c c thông tin đó có thể dễ dàng tìm kiếm và được kiểm chứng khi cần thiết, c c thông tin sai sót (nếu có) có thể dễ dàng được đính chính, sửa chữa
- Tính khách quan của thông tin được công bố
Tính kh ch quan của thông tin được hiểu là, c c thông tin được công bố phải phục vụ cho sự ph t triển của công ty, vì quyền lợi của cổ đông Tính
kh ch quan của thông tin được công bố phải phản nh trung thực tình hình hoạt động tại thời điểm công bố, công ty không được che giấu những thông tin gây bất lợi cho nhà đầu tư
- Thông tin công bố phải đa dạng và dễ dàng truy cập, tiếp cận bình
đẳng đối với mọi chủ thể
Khi công bố thông tin c c chủ thể có ngh a vụ công bố thông tin phải bảo đảm những thông tin đó phản nh trung thực tình hình hoạt động của
Trang 29công ty, đồng thời cũng phải bảo đảm khi nhà đầu tư hay cơ quan quản lý nhà nước cần tra cứu hay kiểm chứng thông tin thi có thể tìm kiếm trên trang thông tin điện tử của công ty, quyền bình đẳng trong tiếp cận thông tin của cổ đông phải tuyệt đối được tôn trọng
- Thông tin công bố phải kịp thời
Tính kịp thời của thông tin có ý ngh a rất quan trọng Tính kịp thời của thông tin được hiểu là thông qua kênh thông tin, diễn biến hoạt động của công
ty được phản nh đầy đủ, thông tin thường xuyên được cập nhất, tìm kiếm Khi có những dấu hiệu bất lợi cho công ty thì phải thông b o kịp thời để cổ đông biết và tìm c ch th o gỡ những khó khăn Nếu tiêu chí này được bảo đảm sẽ hạn chế được tình trạng cố tình che giấu hoặc không cung cấp thông tin và hạn chế được tình trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán
1.1.4 Báo cáo thường niên – kênh công bố thông tin quan trọng
Có một số lượng lớn nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc công bố thông tin thông qua b o c o thường niên cho tính to n và đầu tư Báo
c o thường niên thường được coi như là một phương tiện quan trọng giải trình những sự việc của công ty trong năm và nó là một trong những phương tiện giúp công ty có thể nâng cao nhận thức của cổ đông và c c bên liên quan về
tr ch nhiệm của công ty Botosan (1997) cho rằng mặc dù c c b o c o thường niên không phải là phương tiện công bố thông tin duy nhất của công ty nhưng
là một biểu hiện tốt nhất cho mức độ công bố thông tin tự nguyện cung cấp bởi c c công ty [12] Flack và Douglas (2007) cho rằng hoạt động công bố thông tin b o c o thường niên là hoạt động nhằm nâng cao nhận thức về tr ch nhiệm giữa c c bên liên quan và cộng đồng rộng lớn hơn [23] Ngoài ra, công
bố thông tin trong b o c o thường niên là một công cụ chiến lược, có thể tăng cường khả năng của công ty trong việc huy động vốn với chi phí thấp nhất có
Trang 30thể (Healy và Palepu, 1993) [28] B o c o thường niên được sử dụng như một phương tiện để giao tiếp thông tin doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng cho c c cổ đông, c c nhà đầu tư và người sử dụng kh c (Al-Shammari, 2008) [7] Tầm quan trọng của b o c o thường niên cũng đã được đưa ra trong c c nghiên cứu trước ở c c thị trường vốn mới nổi Hassan và Christopher (1999) cho rằng c c nhà phân tích đầu tư tại Malaysia xem c c b o c o thường niên
là nguồn thông tin quan trọng nhất để ra quyết định đầu tư [27] Ho và Wong (2001) thấy rằng c c nhà phân tích đầu tư tại Hồng Kông xem xét c c b o c o thường niên như là nguồn thông tin quan trọng nhất của công ty [30] Trong khi đó, b o c o thường niên được coi là một tài liệu quan trọng của c n bộ tín dụng ngân hàng trong nước mới nổi như Kenya (Barako 2004) [9]
B o c o thường niên của c c công ty niêm yết là một yếu tố quan trọng trong qu trình công bố thông tin (Todd và Sherman, 1991) [44] Hơn nữa, mức độ công bố thông tin trong c c b o c o thường niên là có mối tương quan dương đến việc việc công bố c c thông tin hàng quý và c c loại công bố thông tin khác (Gray và cộng sự, 1995) [25] Ngoài ra, ở Việt Nam b o c o thường niên còn tập hợp c c b o c o có mức độ uy tín cao của doanh nghiệp như Thư ngỏ chủ tịch hội đồng quản trị, B o c o tài chính được kiểm to n,
B o c o hoạt động của tổng gi m đốc, hội đồng quản trị Vì vậy, có thể nói rằng mức độ công bố thông tin được thực hiện trong c c b o c o thường niên phản nh th i độ của công ty đối với việc công bố thông tin cho nhà đầu tư bên ngoài
Bài viết này cũng sẽ sử dụng b o c o thường niên như là nguồn thu thập thông tin chủ yếu để đo lường mức độ công bố thông tin của c c doanh nghiệp
Trang 311.2 ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.2.1 Phương pháp đo lường mức độ công bố thông tin
Theo Wallace và Naser (1995) công bố thông tin là một kh i niệm trừu tượng mà khó để đo lường trực tiếp [46] Nó không có đặc trưng vốn có để có thể x c định cường độ hoặc chất lượng của nó Mức độ công bố thông tin ở đây cũng không đồng ngh a với việc ch công bố thông tin đầy đủ, ngh a là đo lường “mức độ” phải là thể hiện như là một thước đo về chất lượng tổng thể trong c c b o c o thường niên Vì vậy đo lường mức độ công bố thông tin là một vấn đề khó khăn vì phải lượng hóa những yếu tố trừu tượng thành một thước đo thống kê đo lường mức độ công bố thông tin thể hiện được c c thuộc tính của thông tin (1) thể hiện độ tin cậy của thông tin (2) tính kh ch quan của thông tin (3) tính kịp thời của thông tin (4) tính toàn diện của thông tin Nghiên cứu của Beattie và cộng sự (2004) [11] về phân tích thông tin trong b o c o thường niên cho thấy c c phương ph p chủ yếu để phân tích thông tin như sơ đồ sau :
Trang 32Sơ đồ 1.1: Phương pháp phân tích thông tin trên báo cáo thường niên
(Nguồn: Beattie và cộng sự, 2004)
Hiện nay phương ph p tiếp cận b n kh ch quan được sử dụng nhiều nhất, phương ph p này sử dụng số lượng công bố thông tin như một đại diện cho chất lượng công bố thông tin (Beattie và cộng sự, 2004) [11] C ch tiếp cận b n kh ch quan được chia thành phân tích văn bản và phân tích ch số Phân tích văn bản là việc phân tích toàn bộ văn bản, điều này có thể chia thành c c hình thức phân tích nội dung chuyên đề, nghiên cứu khả năng đọc
và phân tích ngôn ngữ Phân tích nội dung chuyên đề nhìn vào đó chủ đề được nêu trong c c văn bản, điều này có thể là trong toàn bộ văn bản hoặc trong một phần nhất định Nghiên cứu khả năng đọc đ nh gi những khó khăn của văn bản mà thường được thực hiện bằng c ch sử dụng một công thức dễ
Đo lường không
có trọng số
Phân tích nội dung chuyên đề
Phân tích ngôn ngữ
Nghiên cứu khả năng đọc
Đo lường có trọng số
Trang 33đọc (Beattie và cộng sự, 2004) [11] C c điểm thu được sau đó được so s nh với một bộ tiêu chuẩn để x c định mức độ khó hoặc dễ đọc Phân tích ngôn ngữ còn được gọi là một phương ph p tập trung vào c c điểm tường thuật Có hai hạn chế chính liên quan đến phân tích văn bản theo Beattie và cộng sự (2004) là phân tích một chiều, như tập trung chủ yếu vào việc phân loại c c chủ đề và sự vắng mặt hay hiện diện của c c thông tin về chủ đề này [11] Thứ hai, thường không phải là toàn bộ nội dung của c c b o c o thường niên được phân tích và do đó ch phân tích là một phần
Một c ch tiếp cận b n khách quan kh c là phân tích ch số Số lượng thông tin được cung cấp trong b o c o thường niên liên quan đến một chủ đề
cụ thể được đo và sử dụng như một đại diện cho chất lượng công bố thông tin (Beattie và cộng sự , 2004) [11] C c nghiên cứu ch ra rằng có hai hình thức phổ biến, đo lường không trọng số ngh a là không có t trọng điểm giữa c c mục Đo lường không trọng số là tương đối đơn giản, được sử dụng ghi lại sự tồn tại hay không tồn tại của một mục C ch tiếp cận trọng số là khi trọng số
kh c nhau (ví dụ từ 1-10) được ấn định cho c c thông tin, ngh a là c c mục thông tin càng quan trọng thì được cho điểm số nhiều hơn
1.2.2 Danh mục đánh giá mức độ công bố thông tin
Các nghiên cứu trước đây đã kiểm tra c c hành vi công bố thông tin của
c c công ty bằng c ch sử dụng một danh s ch kiểm tra công bố thông tin Phương ph p này lần đầu tiên được sử dụng bởi Cerf (1961) trong nghiên cứu của 527 công ty niêm yết của M trong năm 1956 và 1957 [14] Kể từ đó, nhiều nghiên cứu tính to n theo phương ph p này đã p dụng tương tự để đo lường cả về số lượng và chất lượng công bố thông tin Tuy nhiên, chưa có một sự thống nhất về lựa chọn và đo lường c c mục công bố thông tin cho mỗi ch số Danh s ch kiểm tra mức độ công bố thông tin được ph t triển bởi Gray và cộng sự (1995) đã được sử dụng để kiểm tra việc công bố thông tin tự
Trang 34nguyện của c c doanh nghiệp ở c c nước ph t triển [25] Chau và Gray (2002) cũng đã sử dụng danh s ch của Gray và cộng sự (1995) với một số sửa đổi để kiểm tra công bố thông tin của c c doanh nghiệp Hồng Kông và Singapore [16] Một danh s ch kiểm tra việc công bố thông tin đã được sử dụng như một công cụ trong rất nhiều nghiên cứu về công bố thông tin [17], [12], [20] Hầu hết c c nhà nghiên cứu thực hiện những nỗ lực để tạo ra một danh s ch kiểm tra hợp lý trong môi trường nghiên cứu cụ thể đang được điều tra
Một số nhà nghiên cứu p dụng một ch số được lập sẵn của c c tổ chức
để đo lường mức độ công bố thông tin Ví dụ, Rajan và Zingales (1998) sử dụng ch số của (CIFAR) để đo lường mức độ công bố thông tin [38] Trong khi, Khanna và cộng sự (2004) sử dụng c c ch số minh bạch của Standard and Poor (S&P) [35] Tuy nhiên phương ph p này không được kh ch quan khi bảng điểm được xây dựng dựa trên nhận thức của c c nhà phân tích tài chính Hơn nữa, c c ch số này thường được thiết kế và phục vụ cho nhu cầu của c c tổ chức ph t triển nó Vì vậy, c c bảng điểm này ít có gi trị để trả lời
c c câu hỏi của từng nghiên cứu cụ thể Tuy nhiên, cũng có c c nhà nghiên cứu như Cooke (1989) dựa trên bộ khuyến nghị công bố thông tin của Swedish Institute of Authorized Public Accountants and the International Standards Committee để tạo ra danh s ch 146 mục để kiểm tra mức độ công
bố thông tin tại Thụy Điển [17] Hay Yuen và cộng sự (2009) tham chiếu c c mục trong khuyến nghị công bố thông tin và quản trị doanh nghiệp của OECD, Sàn chứng kho n Úc (ASX), Sàn chứng kho n Hồng Kông (HKSE)
và CSRC để tạo ra ban đầu gồm 120 mục về mức độ công bố thông tin, sau
đó sàng lọc cho phù hợp với nghiên cứu tại Trung Quốc đã đưa ra danh s ch cuối cùng gồm 51 mục [49] Tại Việt Nam nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2012) sử dụng thông tư 52/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về
Trang 35Công bố thông tin để tạo ra 24 câu hỏi để đ nh gi mức độ công bố thông tin của c c doanh nghiệp niêm yết trên 2 Sở giao dịch chứng kho n HOSE, HNX [4]
Một phương ph p tạo ra bảng tính điểm mức độ công bố thông tin kh c
đó là tham khảo những bảng điểm được tạo ra ban đầu của c c nghiên cứu đầu tiên như Cooke (1989), Gray và cộng sự (1995), Botosan (1997) sau đó sửa đổi để tạo ra một ch số đ ng tin cậy và phù hợp để đ nh gi mức độ công
bố thông tin phù hợp với môi trường nghiên cứu cụ thể C ch tiếp cận này đã được sử dụng rộng rãi trong c c nghiên cứu sau này về vấn đề x c định mức
độ công bố thông tin Cụ thể, Hossain và cộng sự (1995) tham khảo c c nghiên cứu trước của Cooke (1989), Gray và cộng sự (1995) và những quy định bắt buộc về công bố thông tin tại New Zealand để chọn lọc và cuối cùng lựa ra 95 mục trong bảng điểm đ nh gi về công bố thông tin từ danh s ch
110 mục ban đầu [31] Nghiên cứu của Ferguson và cộng sự (2002) đã sàng lọc từ ban đầu 102 mục công bố thông tin từ danh s ch tham khảo của c c nghiên cứu trước như Gray và cộng sự (1995), Hossain và cộng sự (1995) so
s nh và đ nh gi với yêu cầu tại Hong Kong để loại bỏ và kết quả là một danh mục gồm 93 câu hỏi để đ nh gi [22] Tại Malaysia có nghiên cứu của Ho (2009) đã tích hợp nhiều nghiên cứu trước để có ban đầu 151 mục về công bố thông tin và sau qu trình sàng lọc cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu thì danh s ch điểm đ nh gi công bố thông tin còn 85 mục [29] Kelly Vu (2012) khi nghiên cứu mức độ công bố thông tin tự nguyện tại Việt Nam cũng tạo ra danh sách ban đầu gồm 119 mục được tích hợp từ c c nghiên cứu của Gray và cộng sự (1995), Ferguson và cộng sự (2002), Xiao và Yuan (2007), Ho (2009), Akhtaruddin và cộng sự (2009) [34] Sau đó, nghiên cứu này đã sàng lọc danh mục này so với những quy định luật kế to n 2003, luật chứng kho n
2006, Quyết định 38/2007/TT – BTC để loại bỏ 35 mục là những quy định bắt
Trang 36buộc về công bố thông tin để tạo ra danh mục gồm 84 mục để đ nh mức độ công bố thông tin tự nguyện của c c doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam vào năm 2009
1.2.3 Trọng số trong đo lường mức độ công bố thông tin
Một số nghiên cứu đã ủng hộ cho quan điểm mỗi mục trong một danh
s ch kiểm tra mức độ công bố thông tin kh c nhau có mức độ quan trọng kh c nhau [12], [21] Trong nghiên cứu Botosan (1997) g n một điểm cho từng hạng mục giới thiệu công ty, hai điểm cho thống kê hiệu suất và c c tỷ số tài chính của công ty, và ba điểm về c c thông tin dự b o tương lai [12] Phương
ph p tương tự được sử dụng bởi Eng và cộng sự (2001); Eng và Mak (2003) [21], [20]
Cũng có nhiều nghiên cứu lại cho rằng không có trọng số nào cho mỗi mục trong danh s ch kiểm tra tiêu biểu là Cooke (1989); Gray và cộng sự (1995); Chau và Gray (2002); Akhtaruddin và cộng sự (2009); Hossain (1995) [17], [25], [15], [6], [31] Theo c ch tiếp cận này c ch tính điểm “1” cho công ty khi có một thông tin nào đó trong b o c o thường niên và “0” nếu không công bố thông tin này trên b o c o thường niên C ch thức này được coi là thích hợp để p dụng vì phương ph p không trọng số này được xem là ít chủ quan hơn Do đó việc p dụng không trọng số đối với điểm số công bố thông tin tự nguyện tại Việt Nam có thể coi là thích hợp
1.3 LÝ THUYẾT ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN
Như nội dung đã trình bày ở phần trên, có kh nhiều công trình trên thế
giới nghiên cứu về c c nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin và kết quả của c c nghiên cứu này cho thấy có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin Tuy nhiên kết quả của c c nghiên cứu không giống nhau,
có nhân tố trong nghiên cứu này không t c động nhưng trong nghiên cứu kh c lại có t c động, thêm vào đó cũng có trường hợp nhân tố t c động thuận chiều
Trang 37đến công bố thông tin ở nghiên cứu này nhưng lại có kết quả ngược chiều ở nghiên cứu kh c Vì vậy để có cơ sở cho việc ph t triển giả thuyết nghiên cứu, t c giả thực hiện phân tích c c lý thuyết nền tảng có liên quan, c c lý thuyết đó là lý thuyết đại diện (Agency theory), lý thuyết tín hiệu (Signalling theory), lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary costs theory)
1.3.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory)
Lý thuyết đại diện xuất hiện từ những năm 1970 với sự ph t triển vượt bậc của c c công ty trên thế giới và cũng từ đó ph t sinh mối quan hệ giữa người chủ và người quản lý thông qua hợp đồng đại diện Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết được đề cập trong nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976) Theo nghiên cứu này chủ sở hữu hay cổ đông người cung cấp vốn cho công ty hoạt động, ph t triển và kỳ vọng sẽ nhận được những mức lợi tức nhất định từ công ty trong tương lai [32] Người quản lý là một dạng của lao động nhưng với một vai trò đặc biệt đó là điều phối hoạt động của toàn công ty hướng tới mục đích của người chủ Theo lý thuyết về đại diện, quan hệ giữa c c cổ đông
và người quản lý công ty được hiểu như là quan hệ đại diện – hay quan hệ ủy
th c Mối quan hệ này được coi như là quan hệ hợp đồng mà theo đó, c c cổ đông bổ nhiệm, ch định người kh c, người quản lý công ty để thực hiện việc quản lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công ty Lý thuyết đại diện mô hình hóa mối quan hệ giữa người sở hữu thực sự và người đại diện Trong trường hợp một công ty thì người đại diện làm việc thay mặt c c cổ đông Nói c ch kh c, c c
gi m đốc điều hành là những người được cổ đông ủy quyền đứng ra điều hành công ty, đem lại lợi ích cho cả hai phía Kết quả nghiên cứu Jensen và Meckling (1976) có một số điểm chính như sau:
Thứ nhất, chủ sở hữu và người quản lý luôn có sự đối lập về mặt lợi ích Người chủ sở hữu quan tâm đến gi trị và định hướng lâu dài của công ty
Trang 38Trong khi nhà quản trị quan tâm đến lợi ích của bản thân, thích ngh ngơi hơn thích làm, thích những vấn đề ít rủi ro hơn và thu nhập nhiều hơn, luôn có xu hướng tư lợi và không đủ mẫn c n và có thể tìm kiếm lợi ích c nhân cho mình hay người thân của mình chứ không phải cho công ty
Thứ hai, từ việc không đồng nhất lợi ích giữa chủ sở hữu và nhà quản lý làm ph t sinh chi phí người đại diện Jensen và Meckling (1976) cho rằng chi phí người đại diện càng lớn khi nhà quản lý sở hữu ít cổ phiếu công ty [32] Cuối cùng, một vấn đề quan trọng nảy sinh khi có sự t ch rời giữa quyền
sở hữu và quyền quản lý là hiện tượng thông tin bất đối xứng giữa người đại diện và c c cổ đông Trong mối quan hệ này, người bên trong có thông tin nội
bộ rõ ràng hơn, sớm hơn Vì vậy, c c cổ đông đang đối mặt với nhiều vấn đề như: họ không thể x c định và đ nh gi một c ch chính x c gi trị của c c quyết định mà nhà quản trị đưa ra Lý thuyết người đại diện có khả năng lý giải hành động công bố hoặc không công bố thông tin của người quản lý công
ty từ đó ảnh hưởng tới mức độ công bố thông tin của công ty
C c đặc tính tự nhiên của quan hệ đại diện dẫn đến tình trạng c c cổ đông cần thường xuyên gi m s t hoạt động của người quản lý công ty nhằm đảm bảo lợi ích của mình Lý thuyết về đại diện cho rằng cổ đông cần sử dụng cơ chế thích hợp để hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty bằng c ch thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho c c nhà quản trị và thiết lập cơ chế gi m s t hiệu quả để hạn chế những hành vi không minh bạch và tư lợi của người quản lý công ty
1.3.2 Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory)
Lý thuyết tín hiệu đã được hình thành vào đầu những năm 1970 và được dựa trên hai đóng góp nghiên cứu chính Arrow (1972) và Spence (1973) [8], [42] Lý thuyết tín hiệu xuất ph t từ nguồn thông tin bất cân xứng giữa chủ doanh nghiệp và nhà đầu tư cũng như giữa c c nhà đầu tư Thông tin bất cân
Trang 39xứng trên thị trường chứng kho n xảy ra khi một hoặc nhiều nhà đầu tư sở hữu được nhiều thông tin hơn c c nhà đầu tư kh c Đây được xem là một lý
do cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sử dụng thông tin tài chính để gửi tín hiệu đến thị trường Thông tin được công bố bởi c c nhà quản lý đến thị trường làm giảm thông tin bất đối xứng và được xem như là một tín hiệu tốt của thị trường Sự bất đối xứng thông tin ở c c doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ lớn hơn nên c c doanh nghiệp này thường công bố thông tin nhiều hơn
để giảm thiểu sự bất đối xứng thông tin
Xét trên thị trường chứng kho n, nhà đầu tư khi mua cổ phiếu của một công ty niêm yết, ít nhiều họ cũng cần biết công ty đó hoạt động ra sao, sản xuất c i gì…C c công ty muốn nâng cao vị thế, b n cổ phiếu với gi cao và hợp lý, nó phải cho nhà đầu tư thấy được danh tiếng, hiệu quả hoạt động và tiềm năng ph t triển của nó Vì vậy c c công ty có quy mô, lợi nhuận và khả năng tăng trưởng cao có xu hướng công bố thông tin nhiều hơn đến thị trường nhằm tăng độ tin cậy, sức hấp dẫn trên thị trường
1.3.3 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary costs theory)
Lý thuyết chi phí sở hữu p dụng đối với việc công bố thông tin được
ph t triển bởi nghiên cứu của Verrecchia (1983) [45]
Lý thuyết chi phí sở hữu lưu ý đến chi phí công bố thông tin cũng như
c c lợi ích của nó C c nhà quản lý xem xét c c chi phí công bố thông tin và không công bố khi chi phí lớn hơn lợi ích C c chi phí này bao gồm không ch những chi phí lập và công bố c c thông tin mà còn là c c chi phí để có được
c c thông tin của đối thủ cạnh tranh
Lý thuyết chi phí sở hữu cho thấy rằng c c nhà quản lý có động cơ để giữ lại một số thông tin nếu công bố nó có ngh a là công ty phải chịu một số chi phí (Verrecchia, 1983) [45]
Trang 40Một công ty cũng sẽ phải chịu chi phí sở hữu hay chi phí cạnh tranh bất lợi khi c c bên liên quan, như đối thủ cạnh tranh, c c nhà cung cấp, c c kh ch hàng, c c nhóm lao động và c c cơ quan quản lý vốn đầu tư, có thể dựa trên
c c thông tin được công bố mà có t c động tiêu cực đến công ty ch vì c c lợi ích riêng của họ C c thành phần trên có thể sử dụng c c thông tin được công
bố bởi c c công ty để đ nh gi lại lần lượt c c mối quan hệ hợp đồng của họ với công ty và có thể làm giảm dòng tiền của công ty (Cormier, 1999) [18]
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
Dựa vào việc phân tích c c lý thuyết về c c vấn đề ảnh hưởng đến công
bố thông tin và tổng hợp c c nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
từ c c nghiên cứu trước, có thể thấy rằng c c nhân tố liên quan đến cơ cấu sở hữu, quản trị doanh nghiệp và đặc điểm doanh nghiệp được dùng để giải thích mức độ công bố thông tin của c c công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, cụ thể như sau:
1.4.1 Nhóm nhân tố liên quan đến cơ cấu sở hữu
C c khía cạnh kh c nhau của c c cấu trúc quyền sở hữu đã được đề cập trong c c nghiên cứu trước đây như quyền sở hữu tập trung, sở hữu gia đình, quyền sở hữu của chính phủ, sở hữu nước ngoài, sở hữu tổ chức (Barako, 2006) [10] Nghiên cứu này xem xét ba khía cạnh của cơ cấu sở hữu của một công ty, cụ thể là, quyền sở hữu nhà nước, quyền sở hữu nước ngoài và sở hữu nhóm quản lý
Sở hữu nhà nước: Nghiên cứu của Ghazali và Weetman (2006) tại
Malaysia, nơi có một kết nối chính trị mạnh mẽ, lập luận rằng c c công ty có
sở hữu nhà nước cao không được khuyến khích cung cấp thêm thông tin để bảo vệ mối quan hệ chính trị, lợi ích của c c chủ sở hữu chính là nhà nước [24] Ngoài ra, Jiang và Habib (2009) lập luận rằng c c công ty nhà nước ít có