HỒ THỊ THÙY LINH NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH DỊCH VỤ TẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN... THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞ
Trang 1HỒ THỊ THÙY LINH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN
ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP DU LỊCH DỊCH VỤ TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Trang 2HỒ THỊ THÙY LINH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN
ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP DU LỊCH DỊCH VỤ TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
N ườ ướn n o ọ GS.TS TRƯƠNG BÁ THANH
Đà Nẵng - Năm 2018
Trang 3Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Hồ Thị Thùy Linh
Trang 41 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Bố cục đề tài 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 9
1.1 TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH 9
1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp 9
1.1.2 Cấu trúc vốn doanh nghiệp 10
1.1.3 Hiệu quả tài chính doanh nghiệp 17
1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 21
1.2.1 Ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến suất sinh lời của vốn chủ sở hữu 21 1.2.2 Một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH DỊCH VỤ TẠI VIỆT NAM 29
2.1 GIỚI THIỆU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DU LỊCH DỊCH VỤ 29 2.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò ngành Du lịch dịch vụ 29
2.1.2 Chính sách phát triển ngành Du lịch dịch vụ 33
Trang 52.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH
DỊCH VỤ TẠI VIỆT NAM 41
2.2.1 Các giả thuyết nghiên cứu 41
2.2.2 Mô hình nghiên cứu 45
2.2.3 Kiểm định lựa chọn mô hình và kiểm định giả thiết của mô hình 49 2.2.4 Dữ liệu nghiên cứu 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 53
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH DỊCH VỤ TẠI VIỆT NAM 54
3.1 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VỐN VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH 54
3.1.1 Đặc điểm cấu trúc vốn 54
3.1.2 Đặc điểm hiệu quả tài chính 55
3.2 PHÂN TÍCH HỆ SỐ TƯƠNG QUAN 56
3.3 PHÂN TÍCH HỒI QUY 57
3.3.1 Kết quả hồi quy biến ROE và các biến độc lập 57
3.3.2 Kết quả kiểm định Hausman 58
3.4 KIỂM ĐỊNH GIẢ THIẾT 60
3.4.1 Kiểm định giả thiết không có đa cộng tuyến 60
3.4.2 Kiểm đinh giả thiết không có phương sai sai số thay đổi 61
3.4.3 Kiểm định giả thiết không có tự tương quan 62
3.4.4 Mô hình FEM sau khi khắc phục khuyết tật 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 65
Trang 64.2 ĐỐI VỚI CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 777
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 833
KẾT LUẬN 844
1 Những kết quả đạt được 844
2 Hạn chế 844
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 7WACC Chi phí sử dụng vốn bình quân
ROE Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
ROA Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
RE Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản
Trang 8Số
2.1 Thống kê tổng thu nhập ngành Du lịch dịch vụ giai đoạn
2.2 Tóm tắt cách tính và kì vọng về dấu của các biến 46
3.2 Thống kê mô tả biến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
3.3 Ma trận hệ số tương quan các biến trong mô hình 56
3.4 Kết quả hồi quy tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài
3.6 Kết quả hồi quy tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài
chính của doanh nghiệp sau khi khắc phục khuyết tật 62 3.7 Kết quả hồi quy tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tín ấp t ết ủ đề tà
Hiệu quả tài chính là vấn đề cơ bản trong sản xuất kinh doanh của một hình thái kinh tế xã hội Nó phản ánh lợi nhuận đạt được khi sử dụng vốn tài trợ của các doanh nghiệp và được thể hiện qua việc huy động, sử dụng, quản
lý vốn trong doanh nghiệp Các chủ thể tham gia vào nền kinh tế đều đặt mục tiêu sinh lời, lợi ích kinh tế, hay nói cách khác, là hiệu quả tài chính lên hàng đầu, nhằm khẳng định giá trị doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh hiện nay
Để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh trong thời kì hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam cần có một cấu trúc vốn phù hợp Cấu trúc vốn của một doanh nghiệp nên như thế nào là hợp lý luôn là câu hỏi được đặt ra không chỉ với nhà điều hành của doanh nghiệp mà còn ở các nhà đầu tư vốn Cấu trúc vốn phù hợp có vai trò quan trọng với doanh nghiệp bởi nhu cầu tối
đa hóa lợi ích thu được từ các cá nhân, tổ chức liên quan và hoạt động của doanh nghiệp; một quyết định cụ thể về cấu trúc vốn ảnh hưởng đến sự tồn tại của doanh nghiệp, thể hiện năng lực kinh doanh, khẳng định vai trò công tác quản trị tài chính của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh sự tác động của cấu trúc vốn ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính Tuy nhiên, mỗi lĩnh vực có những nét đặc thù riêng trong hoạt động kinh doanh cũng như trong quản trị nguồn vốn, nên mức độ tác động cũng khác nhau Trong nền kinh tế có chiều hướng phát triển như hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam được tiếp xúc với nhiều cơ hội mở rộng thị trường, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, hưởng các ưu đãi thương mại, tiếp cận với nhiều công nghệ hiện đại… Tuy nhiên, hội nhập đem đến những cơ hội nhưng cũng không ít thách thức, đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm bắt, thích ứng nhanh với thị trường; do đó, công tác quản trị được chú
Trang 10trọng nhất Trong quản trị doanh nghiệp, yếu tố cốt lõi quyết định thành công của doanh nghiệp là quản trị vốn Một nghiên cứu của ngân hàng Mỹ cho thấy 82% số doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, thậm chí phá sản bắt nguồn
từ việc quản lý vốn yếu kém Do đó, có thể nói, quản trị vốn được xem như nút thắt lớn mà nhiều công ty vướng phải khi gia nhập thị trường toàn cầu với nhiều thách thức khắt khe Như vậy, hoạch định một cấu trúc vốn phù hợp là yếu tố quan trọng làm nên hiệu quả tài chính
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cùng với sự phát triển của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, ngành Du lịch dịch vụ cũng có những bước tiến vượt bậc trong giai đoạn hội nhập khi việc giao lưu văn hóa trở thành nhu cầu tất yếu của con người Tờ TTR Weekly, một trang thông tin chuyên ngành du lịch về ASEAN đưa tin cho biết, ngành du lịch Việt Nam dự kiến sẽ đạt doanh thu hàng năm lên đến 35 tỷ USD vào năm 2020 Qua đó, cơ hội, tiềm năng của các doanh nghiệp Du lịch dịch vụ tại Việt Nam là rất lớn, đòi hỏi nhà quản trị phải đưa ra những chiến lược nhằm kiểm soát rủi ro, duy trì sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp trước nhiều yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh, hiệu quả tài chính Và một trong những nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính của ngành chính là cấu trúc vốn của doanh nghiệp
Để tối đa hóa lợi ích kinh tế, các doanh nghiệp Du lịch dịch vụ tại Việt Nam cần xây dựng cấu trúc vốn phù hợp với điều kiện hoạt động của mình Bởi, một sự thay đổi về tỷ lệ vay nợ khiến chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp thay đổi, dẫn đến tỷ suất lợi nhuận thay đổi Để nghiên cứu cụ thể chiều hướng tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của doanh
nghiệp như thế nào, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp Du lịch dịch vụ tại Việt Nam” Qua đó, doanh nghiệp ngành Du lịch dịch vụ tại Việt Nam có thể thực
hiện những chính sách phù hợp, kịp thời trong hoạt động kinh doanh của
Trang 11mình nhằm tránh rủi ro phá sản, nâng cao hiệu quả tài chính, đồng thời góp phần tạo điều kiện ổn định và phát triển kinh tế, phát triển thị trường chứng khoán, mang đến thị trường Du lịch dịch vụ tốt cho khách thập phương
2 Mụ t êu n ên ứu
Trên cơ sở tổng hợp các lý thuyết và hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả tài chính, xác định mô hình nghiên cứu cấu trúc vốn ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính Dựa trên mô hình đã xây dựng, vận dụng để nhận diện, đánh giá cấu trúc vốn có ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp Du lịch dịch vụ Việt
Nam hay không và ảnh hưởng theo chiều hướng như thế nào
Từ kết quả nghiên cứu, rút ra một số kết luận có cơ sở khoa học và hàm
ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả tài chính đối với các doanh nghiệp Du lịch dịch vụ tại Việt Nam và các chủ thể có liên quan
3 Đố tượn và p ạm v n ên ứu
Nghiên cứu này tập trung xác định tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính thông qua báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán của 50 doanh nghiệp Du lịch dịch vụ được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 4 năm từ năm 2013 đến năm 2016 Với tổng thể nghiên cứu bao gồm khoảng 1,600 doanh nghiệp trong ngành và chỉ 87 doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán
Nghiên cứu tập trung khai thác dữ liệu của các công ty ngành Du lịch dịch vụ có các hoạt động sau: dịch vụ hàng không, vận tải hành khách, khách sạn, dịch vụ lưu trú, nhà hàng, dịch vụ ăn uống, nghệ thuật, giải trí, quảng bá,
tổ chức sự kiện, tour du lịch… Các hoạt động dịch vụ này chủ yếu là những dịch vụ thiết yếu phục vụ du lịch
Trang 124 P ươn p áp n ên ứu
Phương pháp xác định, đánh giá tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp Du lịch dịch vụ Việt Nam được thực hiện thông qua phương pháp định lượng
Thông qua việc thu thập thông tin, tính toán các chỉ số ROE, tỷ suất nợ,
tỷ suất nợ dài hạn, quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp, cấu trúc tài sản và khả năng thanh toán Qua đó, dùng phương pháp thống kê
mô tả để phân tích, đánh giá bao quát về thực trạng cấu trúc vốn và hiệu quả tài chính trong quá khứ của các doanh nghiệp Du lịch dịch vụ niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Thiết lập mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính dựa trên các chỉ tiêu thu thập trên, sử dụng mô hình hồi quy có dạng tổng quát sau:
Trang 136 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Nhiều nghiên cứu xoay quanh vấn đề tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính cho ra những kết quả khác nhau: thuận chiều hay ngược chiều
Điểm bắt đầu cho tất cả các nghiên cứu hiện đại về cấu trúc vốn của doanh nghiệp là lý thuyết M&M của Modigliani và Miller (1958 - 1963) Giả định ban đầu khi chưa xét đến tác động của thuế Thu nhập doanh nghiệp, lý thuyết M&M cho rằng không có cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp Nghĩa
là, cấu trúc vốn không ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp Tuy nhiên, nghiên cứu sau của Modigliani và Miller (1963), khi xem xét lại điều kiện thực tế của thị trường với hiệu quả tài chính chịu ảnh hưởng bởi thuế thu nhập doanh nghiệp, M&M cho rằng việc tăng cường sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ nâng cao giá trị doanh nghiệp Do đó, cấu trúc vốn ảnh hưởng thuận chiều đến hiệu quả tài chính
Abor (2005) nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp của 22 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Ghana từ năm 1998-2002 đã chỉ ra rằng có mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ suất nợ và ROE
Nghiên cứu của Weill (2007) về ảnh hưởng của cấu trúc vốn lên hiệu quả của doanh nghiệp, đã rút ra kết luận rằng cấu trúc vốn tác động thuận chiều đến hiệu quả doanh nghiệp ở Tây Ban Nha và Italy
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2010) về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính: tiếp cận theo phương pháp phân tích đường dẫn, quan sát 428 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, cho thấy cấu trúc tài chính có quan hệ tỷ lệ thuận với hiệu quả tài chính và có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 0.1%
Trang 14Nghiên cứu của Lê Thị Mỹ Phương (2017) cho thấy cấu trúc vốn có quan hệ tỷ lệ thuận với hiệu quả tài chính trong tất cả các nhóm ngành của ngành sản xuất Có thể thấy, các doanh nghiệp trong ngành sản xuất sử dụng
nợ có hiệu quả, lợi ích thu được từ việc vay nợ có thể bù đắp cho các chi phí phát sinh từ nợ
Nghiên cứu của Skopljak (2012) với các doanh nghiệp trong ngành Tài chính của Úc cho kết quả: ở mức độ nợ thấp tương đối thì gia tăng tỉ lệ nợ sẽ làm tăng kết quả kinh doanh, nhưng ở mức độ nợ cao tương đối thì gia tăng tỉ
lệ nợ lại làm giảm kết quả kinh doanh, nghĩa là tồn tại một cơ cấu vốn tối ưu nhất mà ở đó mang lại kết quả kinh doanh tốt nhất
Bên cạnh những nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả tài chính là thuận chiều, cũng có những nghiên cứu khác cho kết quả ngược lại
Nghiên cứu của Gleason và Mathur (2000) cho thấy cấu trúc vốn tỷ lệ nghịch với hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, nên đòn bẩy tài chính cao sẽ làm giảm hiệu quả của doanh nghiệp
Các nghiên cứu thực nghiệm của Pendey (2001), Huang và Song (2002), Braduri (2002) ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi cho thấy hiệu quả kinh doanh có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với tỉ suất nợ
Nghiên cứu của R Zeitun và Tian (2007) sử dụng dữ liệu của 167 công
ty từ năm 1989 đến 2003, đã chứng minh cấu trúc vốn của doanh nghiệp có tác động tiêu cực đến các chỉ số hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Majumdar và Chhibber (1997) cùng với Rao, M-Yahyaee và Syed (2007) nghiên cứu mối quan hệ nghịch biến giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động, chỉ ra tính thanh khoản, số năm hoạt động và cường độ vốn ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động
Trang 15Nghiên cứu của Ong Tze San và Teh Boon Heng Dr (2011) về 49 doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng ở Malaysia trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2008 cho thấy: tỉ suất nợ trên vốn chủ sở hữu có tác động tỷ lệ nghịch đến lợi nhuận trên mỗi cổ phần
Nghiên cứu của Hasan, Ahsan, Rahaman và Alam (2014) cho biết cấu trúc vốn ảnh hưởng ngược chiều lên khả năng sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Nghiên cứu của Odongo Kodongo và các cộng sự (2014) về mối quan
hệ giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết tại Kenya trong giai đoạn từ năm 2002 đến 2011, cho thấy đòn bẩy tài chính có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lợi của các công ty niêm yết tại Kenya
Nghiên cứu của Trịnh Thị Trinh, Lê Phương Dung (2012) về cấu trúc tài chính và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ở Việt Nam, dựa trên
dữ liệu của 31 doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên
Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, cho thấy cấu trúc tài chính tác động tỷ lệ nghịch đến ROE
Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phúc (2014) về ảnh hưởng của cấu trúc vốn lên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp sau cổ phần hóa cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa cấu trúc vốn và kết quả kinh doanh với mức ý nghĩa 1%
Nghiên cứu của Phan Thanh Hiệp (2016) về ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến kết quả kinh doanh của 95 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2007 đến 2013, cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa cấu trúc vốn và kết quả kinh doanh
Như vậy, các nghiên cứu trước cho thấy sự không thống nhất trong xu hướng tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính Điều này cho thấy, sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính phụ thuộc vào tỷ lệ nợ đối
Trang 16với mỗi nhóm ngành nghiên cứu
Mặt khác, một số nghiên cứu trước đây sử dụng phần mềm Eview nên chưa kiểm định được các khuyết tật của mô hình nghiên cứu, nhằm đưa ra mô hình tối ưu nhất
Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung cũng như các nhóm ngành Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, đối với ngành Du lịch dịch
vụ, chưa có nghiên cứu cụ thể về vấn đề này Nghiên cứu này sử dụng phần mềm STATA để đảm bảo việc lựa chọn mô hình tối ưu nhất, khắc phục được những hạn chế trong việc kiểm định khuyết tật mô hình, thông qua đó xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính, đặc biệt là sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA
DOANH NGHIỆP 1.1 TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH
1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là hoạt động liên quan đến việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó để tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu đề ra
Như vậy, tài chính doanh nghiệp liên quan đến ba loại quyết định chính: quyết định đầu tư, quyết định nguồn vốn, và quyết định phân phối lợi nhuận nhằm đạt mục tiêu đề ra là tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu doanh nghiệp
Bản chất của tài chính doanh nghiệp: tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh gắn liền với việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các doanh nghiệp để phục vụ và giám đốc quá trình sản xuất kinh doanh
Chức năng của tài chính doanh nghiệp: tổ chức vốn (tạo vốn bảo đảm thỏa mãn nhu cầu vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp)
và luân chuyển vốn; phân phối thu nhập bằng tiền; giám đốc (kiểm tra)
Vai trò của tài chính doanh nghiệp: đảm bảo đủ nguồn vốn cho doanh nghiệp hoạt động; huy động vốn với chi phí thấp nhất; sử dụng có hiệu quả các nguồn tài trợ; giám sát và hướng dẫn các hoạt động, chi tiêu phù hợp với tình hình tài chính doanh nghiệp
Mục tiêu quản trị tài chính doanh nghiệp: tối đa hóa lợi nhuận sau thuế, tối đa hóa lợi nhuận phân phối cho chủ sở hữu, tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
Trang 181.1.2 Cấu trúc vốn doanh nghiệp
a Khái niệm
Cấu trúc vốn thường đi kèm với thuật ngữ cấu trúc tài chính Cả hai thuật ngữ đều sử dụng để phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa các khoản nợ và vốn chủ sở hữu Theo Bertoneche và Teulie: “Cấu trúc tài chính doanh nghiệp
là quan hệ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu phục vụ cho quá trình tài trợ của doanh nghiệp, còn cấu trúc vốn được hiểu là quan hệ tỷ lệ giữa nợ trung dài hạn và vốn chủ sở hữu” Như vậy, cấu trúc tài chính bao gồm cả cấu trúc vốn
Theo Trần Ngọc Thơ, “Cấu trúc vốn là sự kết hợp số lượng nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của một doanh nghiệp Ngược lại, cấu trúc tài chính là sự kết hợp nợ vay ngắn hạn, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được dùng để tài trợ cho quyết định đầu tư của một doanh nghiệp”
Theo Bùi Hữu Phước (2009), “Cơ cấu vốn gồm nguồn vốn chủ sở hữu
và nợ trung, dài hạn thể hiện nguồn tài trợ thường xuyên, doanh nghiệp có thể
an tâm sử dụng trong thời gian tương đối dài không phải lo chi trả Tuy nhiên, nguồn tài trợ từ nợ tích lũy là nguồn tài trợ ngắn hạn nhưng có thể xem như nguồn thường xuyên Vì thế, cơ cấu vốn của doanh nghiệp bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu, nợ trung hạn, nợ dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn thường xuyên”
Ở Việt Nam, nguồn tài trợ từ nợ ngắn hạn tại các doanh nghiệp trong ngành Du lịch dịch vụ mang tính chất thường xuyên Vì vậy, để phản ánh cấu trúc vốn, luận văn sử dụng hai chỉ tiêu: chỉ tiêu tổng nợ (bao gồm nợ ngắn hạn
và dài hạn) và chỉ tiêu nợ dài hạn để phản ánh tác động của tỷ suất nợ nói chung và tỷ suất nợ dài hạn nói riêng đến suất sinh lời vốn chủ sở hữu
Trang 19b Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc vốn
Chỉ tiêu tỷ suất nợ (hệ số nợ so với tài sản): đo lường mức độ sử dụng
nợ của doanh nghiệp để tài trợ cho tổng tài sản Chỉ tiêu này cho biết: trong 1 đồng giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp được tài trợ từ nợ phải trả là bao nhiêu Tỷ số này được xác định:
Tỷ số nợ so với tài sản = Tổng nợ / Giá trị tổng tài sản Nếu tỷ số bằng 1, chứng tỏ toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp được hình thành từ nguồn vốn đi chiếm dụng Nếu tỷ số này nhỏ hơn 1, tài sản hiện có của doanh nghiệp được tài trợ một phần từ nợ phải trả, phần còn lại tài trợ từ vốn chủ sở hữu Tỷ số này thấp nghĩa là khả năng tự chủ tài chính
và khả năng còn được vay nợ của doanh nghiệp cao, tuy nhiên lại không tận dụng được lợi thế của đòn bẩy tài chính Ngược lại, tỷ số này quá cao nghĩa là doanh nghiệp sử dụng quá nhiều nợ để tài trợ cho tài sản, khiến khả năng tự chủ tài chính thấp Nếu tỷ số này lớn hơn 1, số nợ phải trả mà doanh nghiệp đi chiếm dụng một phần để tài trợ tài sản của doanh nghiệp, phần còn lại dùng
để bù lỗ
Chỉ tiêu tỷ suất nợ dài hạn (hệ số nợ dài hạn so với tài sản): đo lường mức độ sử dụng nợ dài hạn của doanh nghiệp để tài trợ cho tài sản Chỉ tiêu này cho biết: trong 1 đồng giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp được tài trợ
từ nợ dài hạn là bao nhiêu Tỷ số này được xác định:
Tỷ số nợ dài hạn = Nợ dài hạn / Giá trị tổng tài sản Nếu tỷ số bằng 1, chứng tỏ toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp được tài trợ bởi nợ dài hạn Nếu tỷ số này nhỏ hơn 1, tài sản hiện có của doanh nghiệp được tài trợ một phần từ nợ dài hạn, phần còn lại tài trợ từ nợ ngắn hạn và vốn chủ sở hữu Nếu tỷ số này lớn hơn 1, số nợ dài hạn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng một phần để tài trợ tài sản của doanh nghiệp, phần còn lại dùng để bù lỗ
Trang 20 Chỉ tiêu tỷ suất nợ so với vốn chủ sở hữu: cho biết cứ một đồng tài sản tài trợ bằng vốn chủ sở hữu thì tương ứng với mấy đồng tài trợ bằng nợ phải trả Công thức như sau:
Tỷ số nợ so với vốn chủ sở hữu = Tổng nợ / Giá trị vốn chủ sở hữu
Tỷ số này thấp hơn 1 nghĩa là doanh nghiệp hiện sử dụng nợ ít hơn là
sử dụng vốn chủ sở hữu để tài trợ cho tài sản Doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính và tiếp tục tăng khả năng vay nợ để phát triển kinh doanh, nhưng lại không tận dụng được lợi thế đòn bẩy tài chính Ngược lại, nếu tỷ số này lớn hơn 1, chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng nợ nhiều hơn để tài trợ cho tài sản Tính tự chủ của doanh nghiệp giảm Doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng ngưng trệ và có nhiều khả năng không nhận được các khoản tín dụng từ bên ngoài tài trợ
Chỉ tiêu tỷ suất nợ so với tổng nguồn vốn: chỉ tiêu này phản ánh trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp hiện có được hình thành từ nợ là bao nhiêu phần trăm Công thức tính như sau:
Tỷ số nợ so với nguồn vốn = Tổng nợ / Tổng nguồn vốn
Tỷ suất nợ cao là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang mất dần tính tự chủ về mặt tài chính
c Các lý thuyết cấu trúc vốn
- Lý thuyết cấu trúc tài chính tối ưu:
Đây là quan điểm truyền thống về cấu trúc tài chính, cho rằng khi một doanh nghiệp bắt đầu vay nợ và có những lợi ích từ việc vay nợ vượt trội hơn những bất lợi Chi phí sử dụng vốn vay thấp, kết hợp với lợi ích từ “lá chắn thuế” giúp chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) giảm khi tăng vay nợ Tuy nhiên, khi hệ số nợ tăng lên, mức độ rủi ro cũng tăng tương ứng khi đó chủ sở hữu doanh nghiệp sẽ đòi hỏi một tỷ suất sinh lời cao hơn, lãi suất vay vốn cũng tăng theo từ đó làm tăng WACC Do đó, quan điểm truyền thống cho
Trang 21rằng khi tăng vay nợ đến một mức nào đó sẽ làm tăng WACC nên tồn tại một cấu trúc tài chính tối ưu mà tại đó tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Như vậy, việc tăng cơ cấu vốn sẽ làm tăng hiệu quả tài chính, nhưng đến một thời điểm nhất định, việc tăng cơ cấu vốn sẽ làm giảm hiệu quả tài chính Bên cạnh đó, quan điểm này chưa được thuyết phục
do không có một lý thuyết cơ sở nào thể hiện chi phí vốn chủ sở hữu sẽ tăng lên bao nhiêu khi tăng hệ số nợ và chi phí sử dụng nợ sẽ tăng như thế nào khi
có nguy cơ vỡ nợ
- Lý thuyết cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (M&M)
Theo Nguyễn Minh Kiều (2011), Lý thuyết M&M về cơ cấu vốn được xem là lý thuyết hiện đại lý giải được quan hệ giữa giá trị công ty, chi phí sử dụng vốn và mức độ sử dụng nợ của công ty Modigliani và Miller đưa ra hai mệnh đề và xem xét trong hai trường hợp có thuế và không có thuế
Trong trường hợp không có thuế, giá trị công ty có vay nợ và giá trị công ty không vay nợ là như nhau, nghĩa là không có chi phí giao dịch, chi phí phá sản và không có bất cân xứng thông tin Do đó, giá trị công ty không thay đổi khi cơ cấu vốn của công ty thay đổi Ngoài ra, chi phí sử dụng vốn trung bình không đổi trong khi chi phí sử dụng vốn cổ phần tăng lên khi công
ty gia tăng tỷ số nợ
Trong trường hợp có thuế, giá trị công ty có vay nợ bằng giá trị công ty không vay nợ cộng với hiện giá của của lá chắn thuế do sử dụng nợ Như vậy, việc sử dụng nợ hay sử dụng đòn bẩy tài chính làm gia tăng giá trị công ty Điều này thể hiện mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
Tuy nhiên, lý thuyết M&M chưa xem xét tác động của một số chi phí khác khiến cho lợi ích của lá chắn thuế bị giảm dần và đi đến triệt tiêu khi công ty gia tăng tỷ số nợ Đó chính là tác động của chi phí khốn khó tài chính
Trang 22Khi công ty gia tăng sử dụng nợ làm cho rủi ro của công ty tăng theo Điều này làm phát sinh chi phí khốn khó tài chính tác động đồng thời với lợi ích của lá chắn thuế Đến một thời điểm nào đó thì chi phí khốn khó tài chính sẽ vượt qua lợi ích của lá chắn thuế Ở điểm đó, gọi là điểm cơ cấu vốn tối ưu, giá trị công ty đạt cực đại và chi phí sử dụng vốn trung bình đạt cực tiểu Khi công ty tiếp tục gia tăng sử dụng nợ, công ty sẽ vượt qua điểm tối ưu, ở đó giá trị công ty bắt đầu giảm và chi phí sử dụng vốn trung bình của công ty bắt đầu tăng Lợi ích của lá chắn thuế không đủ bù đắp cho chi phí khốn khó về tài chính Do đó, việc tăng cơ cấu vốn sẽ làm tăng hiệu quả tài chính, nhưng đến một thời điểm nhất định khi chi phí khốn khó tài chính vượt qua lợi ích của lá chắn thuế, việc tăng cơ cấu vốn sẽ làm giảm hiệu quả tài chính
- Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn
Lý thuyết này được khởi xướng bởi Kraus và Litzenberger, được tiếp cận theo quan điểm về sự đánh đổi giữa chi phí và lợi ích trong việc sử dụng
nợ Lý thuyết này cho rằng nhà quản trị doanh nghiệp có thể xác định được một cấu trúc vốn tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Lợi ích từ nợ đó
là lợi ích từ lá chắn thuế nhờ lãi vay Chi phí tiềm tàng từ việc sử dụng nợ là chi phí kiệt quệ tài chính, bao gồm các chi phí như : chi phí trả cho luật sư giải quyết phá sản, chi phí trả cho kế toán và nhân viên quản trị công ty trong quá trình chờ phá sản, chi phí do mất khách hàng và nhà cung cấp hay chi phí đại diện… Ở mức nợ trung bình, xác suất kiệt quệ tài chính không đáng kể và giá trị hiện hữu của chi phí kiệt quệ tài chính cũng nhỏ nên việc vay nợ sẽ là một lợi thế cho doanh nghiệp Tuy nhiên, khi doanh nghiệp vay nợ ngày càng nhiều thì rủi ro phá sản sẽ ngày càng cao và làm sụt giảm giá trị doanh nghiệp; đến một lúc nào đó giá trị của tấm chắn thuế bằng với giá trị của chi phí kiệt quệ tài chính Theo quan điểm này, nhà quản trị có thể tối ưu cấu trúc vốn của mình bằng cách gia tăng lượng nợ vay cho tới khi lợi ích biên từ tấm
Trang 23chắn thuế cân bằng với chi phí biên của kiệt quệ tài chính
Như vậy, lý thuyết này có bước tiếp cận thực tế hơn so với lý thuyết M&M khi xem xét cấu trúc vốn ở cả hai khía cạnh chi phí và lợi ích thay vì
chỉ tính toán đến lợi ích và giả thiết các chi phí là không tồn tại
- Lý thuyết trật tự phân hạng
Lý thuyết này được nghiên cứu bởi Myers và Majluf, chia nguồn tài trợ thành nguồn vốn nội bộ (lợi nhuận để lại) và nguồn vốn bên ngoài (nguồn vốn vay và phát hành cổ phiếu mới) và giải thích trật tự ưu tiên giữa các nguồn vốn này khi các doanh nghiệp huy động vốn Lý thuyết này dựa trên cơ sở bất cân xứng thông tin giữa người quản lý và nhà đầu tư So với nhà đầu tư bên ngoài, người quản lý biết rõ hơn về giá trị thực và rủi ro của công ty, điều này ảnh hưởng đến quyết định tài trợ vốn từ nguồn vốn nội bộ hay nguồn vốn bên ngoài Các doanh nghiệp chỉ phát hành cổ phiếu khi cổ phiếu của họ được định giá cao hơn so với giá trị thực Vì vậy, khi doanh nghiệp công bố thông tin phát hành thêm cổ phiếu, thị trường sẽ đón nhận thông tin đó như một dấu hiệu xấu về triển vọng của doanh nghiệp, nên giá cổ phiếu sẽ giảm Để tránh tình trạng thiệt hại do giá cổ phiếu giảm, doanh nghiệp thường huy động thêm vốn, nhà quản lý thường tìm cách tài trợ các dự án mới bằng cách huy động các nguồn vốn không bị thị trường định giá thấp như nguồn vốn nội bộ hoặc vốn vay Lý thuyết trật tự phân hạng giải thích lý do các doanh nghiệp có xu hướng ưu tiên sử dụng nguồn vốn nội bộ và nếu cần phải huy động thêm vốn bên ngoài thì họ sẽ ưu tiên sử dụng nguồn vốn vay trước Phát hành vốn cổ phần mới thường là phương án cuối cùng khi doanh nghiệp đã sử dụng hết khả năng vay nợ tức là khi xuất hiện mối đe dọa của chi phí khánh tận tài chính của doanh nghiệp cho các chủ nợ hiện hữu cũng như các nhà quản lý
Do đó, ba ưu điểm lớn của thuyết trật tự phân hạng là: Một là, giải thích tại sao các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi nhất thường vay ít hơn
Trang 24Không phải vì họ có các tỷ lệ đòn bẩy mục tiêu thấp mà vì họ không cần nguồn tài trợ bên ngoài Các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi ít hơn phát hành nợ vì họ không có nguồn vốn nội bộ đủ cho đầu tư vốn và vì tài trợ nợ chỉ đứng sau lợi nhuận giữ lại trong trật tự phân hạng đối; Hai là, lý giải những hành động quản trị, đó là các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi cao với cơ hội đầu tư hạn chế sẽ cố gắng duy trì tỷ lệ nợ mục tiêu thấp trong khi các doanh nghiệp có cơ hội đầu tư lớn hơn các nguồn phát sinh nội bộ buộc phải tăng tỷ lệ nợ; Ba là, dự báo các thay đổi trong tỷ lệ nợ của nhiều doanh nghiệp ở giai đoạn phát triển bão hòa Tỷ lệ nợ của các doanh nghiệp tăng khi các doanh nghiệp có thâm hụt tài chính và giảm khi có thặng dư tài chính
Như vậy, Myers và Majluf (1984) cho rằng sẽ không có một cấu trúc vốn tối ưu với các doanh nghiệp Tuy nhiên, thuyết trật tự phân hạng không giải thích được các khác biệt trong tỷ lệ nợ giữa các ngành Ví dụ, tỷ lệ nợ có
xu hướng thấp trong các ngành công nghệ cao, tăng trưởng cao ngay cả khi nhu cầu vốn bên ngoài rất lớn
- Lý thuyết thời điểm thị trường
Lý thuyết này được phát triển bởi Graham và Harvey (2001), nhận được sự ủng hộ của các CFO trên toàn thế giới vì tính thống nhất và chắc chắn của lý thuyết Lý thuyết này cho rằng sự khác biệt giữa giá trị thị trường
và giá trị công ty chính là yếu tố quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp Theo đó, các nhà quản lý sẽ quan sát thị trường vốn và lợi dụng sự bất cân xứng thông tin sẽ chỉ phát hành cổ phiếu mới khi họ tin rằng cổ phiếu của họ được định giá cao hơn bởi các nhà đầu tư Ngược lại, trong giai đoạn cổ phiếu được định giá thấp, họ thường lựa chọn hình thức vay nợ Chính vì vậy, Barclay và Smith (2005) cho rằng những công ty hoạt động có hiệu quả trong khi giá cổ phiếu lại bị định giá dưới giá trị thường chọn phát hành nợ nhiều hơn vốn chủ để tránh thiệt hại cho cổ đông hiện hành Lý thuyết này cũng
Trang 25khuyến khích các công ty linh hoạt trong việc phát hành cổ phần mới, có thể hoãn phát hành nếu thị trường định giá cổ phần của công ty quá thấp hoặc cũng có thể phát hành đưa vào quỹ tích lũy nếu thị trường định giá cao cổ
phần của công ty Do đó, khi giá cổ phiếu được định giá thấp, việc sử dụng nợ
sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty
1.1.3 Hiệu quả tài chính doanh nghiệp
a Khái niệm
Hiệu quả tài chính là hiệu quả gắn liền với việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng, quản lý nguồn vốn để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế
b Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính doanh nghiệp
- Hiệu quả tài chính đo lường qua giá trị kế toán: Để đo lường hiệu quả
tài chính doanh nghiệp, chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) là hệ số được sử dụng phổ biến nhất Hệ số này là chỉ báo hiệu quả cho kết quả sản xuất kinh doanh hiện tại và phản ánh giá trị lợi nhuận mà doanh nghiệp đã đạt được trong các kì kế toán đã qua Tuy nhiên, nó không đưa ra một góc nhìn dài hạn cho cổ đông và lãnh đạo doanh nghiệp bởi đó là thước đo quá khứ và ngắn hạn, theo Jenkins, Ambrosini & Collier (2011)
- Hiệu quả tài chính đo lường qua giá trị thị trường: tỷ số giá cổ phiếu
trên thu nhập (P/E) phản ánh nhà đầu tư phải trả giá bao nhiêu cho mỗi đồng thu nhập của một cổ phiếu Tỷ số này được các nhà đầu tư quan tâm nhiều, chúng phản ánh được đánh giá của thị trường cả về tiềm năng lợi nhuận của doanh nghiệp trong tương lai (phản ánh vào thị giá của cổ phiếu)
Trang 26c Một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính
- Cấu trúc vốn
Bất kỳ doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh cũng cần
bố trí nguồn tài trợ vốn hợp lý: nguồn vốn chủ sở hữu, vay ngắn hạn, vay dài hạn ngân hàng, phát hành trái phiếu… Việc xác định cơ cấu vốn hợp lý ảnh hưởng đến lợi nhuận dành cho chủ sở hữu nên doanh nghiệp cần hoạch định
cơ cấu vốn mục tiêu Hoạch định chính sách cơ cấu vốn liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro
Lý thuyết M&M (1963) trong trường hợp có thuế đã chỉ ra cơ cấu vốn liên quan đến giá trị doanh nghiệp Chi phí sử dụng nợ được cho là chi phí hợp lý được khấu trừ khỏi phần lợi nhuận trước thuế Vì vậy, giá trị doanh nghiệp được tăng lên là nhờ lợi ích từ lá chắn thuế
Theo lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu, khi doanh nghiệp vay nợ, doanh nghiệp có lợi thế về thuế Chi phí nợ thấp cùng với lợi ích từ lá chắn thuế sẽ làm chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC) giảm khi nợ tăng Tuy nhiên, khi tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu tăng, buộc các chủ sở hữu phải tăng lợi tức yêu cầu của cổ đông (nghĩa là chi phí vốn chủ sở hữu tăng) Đồng thời khi gia tăng các khoản nợ có thể dẫn đến chi phí sản xuất kinh doanh cũng tăng cao dẫn đến lợi nhuận của doanh nghiệp giảm Nếu doanh thu tăng là kết quả của vốn vay sản xuất kinh doanh, nhưng lợi nhuận lại giảm do sự gia tăng của chi phí, thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút Ngoài ra, khi sử dụng một khoản nợ ngắn hạn sẽ gắn liền với rủi ro phá sản
do khả năng thanh toán giảm Do đó, khi tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu tăng, chi phí nợ cũng tăng bởi khả năng doanh nghiệp không trả được nợ dẫn đến nguy cơ phá sản là cao hơn Vì vậy, ở mức tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu cao hơn, WACC sẽ tăng Cho nên, lý thuyết này cho rằng, cơ cấu vốn có tác động đến WACC và giá trị công ty; hay có một tỷ lệ nợ tối ưu mà tại điểm đó,
Trang 27WACC của doanh nghiệp là nhỏ nhất và giá trị doanh nghiệp là lớn nhất
Qua lý thuyết M&M và lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu, ta có thể thấy tồn tại mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
- Quy mô doanh nghiệp
Quy mô doanh nghiệp được đại diện bằng quy mô doanh thu hoặc quy
mô tổng tài sản… Mô hình lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô hay còn gọi
là lợi nhuận tăng dần theo quy mô được thể hiện khi chi phí bình quân trên một sản phẩm sản xuất ra sẽ giảm dần theo mức tăng của sản lượng sản phẩm Lợi thế kinh tế theo quy mô có được là do giảm thiểu chi phí cố định Chi phí
cố định phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có sản xuất hay không, nó không thay đổi theo mức sản lượng, vì vậy, khi sản lượng tăng, doanh nghiệp sẽ đạt được tính kinh tế nhờ quy mô (chi phí cố định chia đều cho số lượng sản phẩm, cho nên khi số lượng nhiều, chi phí bình quân trên một đơn vị sản phẩm sẽ ít hơn) Bên cạnh đó, lợi thế kinh tế theo quy mô có được bởi hiệu quả của tính chuyên môn hóa Mỗi người công nhân có thể tập trung vào một công việc cụ thể và giải quyết nó hiệu quả hơn, góp phần là giảm chi phí bình quân
Tóm lại, khi doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ có những thuận lợi về uy tín, thương hiệu, thị phần và sức mạnh tài chính, nên có khả năng tiếp cận các nguồn vốn được dễ dàng hơn (huy động vốn dễ hơn, mức vay cao hơn và lãi suất vay thấp hơn), do đó sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp
- Tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp
Tăng trưởng giúp doanh nghiệp tích lũy nguồn vốn và cơ sở vật chất để đầu tư mở rộng sản xuất, tạo dựng được uy tín với khách hàng, nhà cung cấp
và các nhà đầu tư, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường
Tốc độ tăng trưởng được đo lường thông qua tốc độ tăng doanh thu Myers cho rằng các doanh nghiệp tăng trưởng cao sẽ có nhiều cơ hội phát
Trang 28triển hơn trong trương lai, nghĩa là mang lại tỷ suất sinh lời cao hơn so với các doanh nghiệp có mức tăng trưởng thấp
Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh cũng có thể mang lại rủi ro cho doanh nghiệp, khi năng suất và năng lực quản lý không phù hợp, trường hợp này phát triển nhanh không mang lại lợi ích gì, thậm chí còn gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Do đó, doanh nghiệp cần duy trì một tốc độ tăng trưởng phù hợp dựa trên các nguồn lực hợp lý nhằm gia tăng hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp
- Cấu trúc tài sản
Cấu trúc tài sản được đo lường thông qua chỉ tiêu tỷ trọng đầu tư tài sản
cố định Chỉ tiêu này được đo lường bằng tỷ lệ giữa tài sản cố định trên tổng tài sản của doanh nghiệp Khi tỷ lệ tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn, doanh nghiệp có cơ hội thế chấp các tài sản này để tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài
dễ dàng hơn, hiệu quả kinh doanh mang lại cao hơn so với các doanh nghiệp
có tỷ trọng tài sản cố định thấp Ngoài ra, lợi ích từ lá chắn thuế từ khấu hao tài sản cố định là điều kiện làm tăng hiệu quả tài chính doanh nghiệp Qua các nghiên cứu của Akistnye (2008), Margaritis và Psillaki (2010), ta có thể thấy, một doanh nghiệp có tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản lớn hơn thường sử dụng nhiều nợ hơn hay cấu trúc tài sản tỷ lệ thuận với hệ số nợ Một số nhà nghiên cứu nước ngoài như Zeitun và Tian (2007), Anaolapo và Kajola (2010) lại chỉ ra rằng tỷ trọng tài sản cố định có tác động ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh, được thể hiện qua chỉ số ROA Những công ty có tỷ trọng tài sản cố định cao thì hiệu quả kinh doanh thấp do các công ty này đầu
tư quá nhiều vào tài sản cố định mà không cải thiện được hiệu quả kinh doanh
Trang 29- Khả năng thanh toán
Theo quan điểm của Myers (1977) hay Opler và cộng sự (1999), khả năng thanh toán cao sẽ giúp công ty đối phó với các tình huống xảy ra bất ngờ
và giải quyết vấn đề thanh toán nợ một cách nhanh chóng Đây là dấu hiệu chứng tỏ doanh nghiệp đang kinh doanh tốt Do đó có thể nói tính thanh khoản cao có là một yếu tố tạo nên hiệu quả tài chính
Tuy nhiên, Hvide và cộng sự (2007) lại cho rằng, một sự phong phú trong thanh khoản có thể gây hại nhiều hơn đối với hiệu quả kinh doanh
Do đó, cần xét theo mức độ ngành nghề kinh doanh mới khẳng định được sự ảnh hưởng của khả năng thanh toán là cùng chiều hay ngược chiều với hiệu quả tài chính
- Hình thức sở hữu của doanh nghiệp
Hình thức sở hữu của doanh nghiệp được đo lường bằng tỷ lệ vốn góp nhà nước trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp Sở hữu nhà nước càng lớn, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng thấp Ngược lại, sở hữu nước ngoài càng lớn, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng cao
1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Ản ưởng của cấu trúc vốn đến suất sinh lời của vốn chủ sở hữu
ROE chịu ảnh hưởng của cấu trúc vốn thông qua phân tích phương trình Dupont sau:
ROE = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu bình quân
= (Lợi nhuận trước thuế / Doanh thu thuần) × (Doanh thu thuần / Tổng tài sản bình quân) × (Tổng tài sản bình quân / Vốn chủ sở hữu bình quân) × (1-T)
= ROA × [1/(1-Tỷ suất nợ) ] × (1-T)
Trang 30Dựa vào phương trình Dupont, phân tích chỉ tiêu ROE có thể thấy rằng
tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu bị ảnh hưởng bởi 3 nhân tố : cấu trúc vốn, hiệu quả kinh doanh và thuế
Tuy nhiên, cách phân tích trên chưa thấy được chiều ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến ROE trong các điều kiện kinh tế khác nhau Theo các tác giả Trương Bá Thanh, Trần Đình Khôi Nguyên (2001), để đánh giá ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến ROE dưới tác động của điều kiện kinh tế của doanh nghiệp, ta phân tích chi tiết công thức trên với sự hiện diện của tỷ suất sinh lời kinh tế
LNTT = RE × (N+VCSH) – N × r LNTT = N × (RE – r) + VCSH × RE LNST = [N × (RE – r) + VCSH × RE] × (1 – T) ROE = {[N × (RE – r) + VCSH × RE] × (1 – T)}/ VCSH ROE = [RE + (RE – r) × ĐBTC] × (1 – T)
Trong đó :
LNTT : lợi nhuận trước thuế
LNST : lợi nhuận sau thuế
LV : chi phí lãi vay
N : nợ phải trả
TS : tài sản trong bảng cân đối kế toán
T : thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 31RE : tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (không chịu ảnh hưởng của chính sách tài trợ - cấu trúc vốn, mà chịu ảnh hưởng của đặc thù về ngành và quản lý kinh doanh của doanh nghiệp)
r : chi phí sử dụng vốn vay bình quân
Xét về sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính, ta có thể viết lại phương trình Dupont trên như sau :
ROE = ROA × (1 – T) × (1+ đòn bẩy tài chính) Qua đó, ta có thể thấy vai trò của việc vay nợ đối với ROE thông qua
hệ số đòn bẩy tài chính (với đòn bẩy tài chính = tổng tài sản bình quân/ vốn chủ sở hữu bình quân) Nếu hệ số đòn bẩy tài chính càng cao thì hiệu quả tài chính của doanh nghiệp càng tăng Hay, cấu trúc vốn có mối quan hệ thuận chiều với ROE, nghĩa là sử dụng nợ càng nhiều thì ROE càng tăng
Để xem xét riêng ảnh hưởng của viêc vay nợ và cấu trúc vốn đến tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu, ta xem xét công thức :
ROE = [RE + (RE – r) × ĐBTC] × (1 – T) Qua công thức trên, ta thấy, nếu RE lớn hơn r, việc vay nợ sẽ làm cho ROE tăng lên Trường hợp này cho thấy, cấu trúc vốn ảnh hưởng cùng chiều đến suất sinh lời vốn chủ sở hữu Doanh nghiệp vay nhiều sẽ góp phần gia tăng mức sinh lời của chủ sở hữu, nên doanh nghiệp có thể vay thêm để mở rộng kinh doanh mà vẫn giữ được hiệu quả kinh doanh như cũ
Nếu RE nhỏ hơn r thì việc vay nợ sẽ làm cho tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu giảm và rủi ro doanh nghiệp tăng lên do hệ số tự tài trợ giảm Trường hợp này cho thấy, cấu trúc vốn ảnh hưởng ngược chiều đến suất sinh lời vốn chủ sở hữu Doanh nghiệp không nên vay thêm nợ để kinh doanh vì điều này sẽ khiến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp giảm
Như vậy, việc sử dụng nợ vay sẽ ảnh hưởng đến suất sinh lời vốn chủ
sở hữu, hay cấu trúc vốn sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của doanh
Trang 32nghiệp Nghiên cứu việc sử dụng nợ vay sẽ tác động như thế nào đến suất sinh lời vốn chủ sở hữu cần được thực hiện trên số lớn các doanh nghiệp trong một nhóm ngành cụ thể để nhận định rõ hơn sự ảnh hưởng này
1.2.2 Một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ản ưởng của
cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
Có nhiều nghiên cứu đưa ra nhận định về sự ảnh hưởng thuận chiều hay nghịch chiều của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính Cũng có những nghiên cứu đưa ra nhận định riêng về mức độ ảnh hưởng thuận chiều hay nghịch
chiều của nợ dài hạn, nợ ngắn hạn lên hiệu quả tài chính doanh nghiệp
Các nghiên cứu thực nghiệm của Pendey (2001), Huang và Song (2002), Braduri (2002) ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi cho thấy hiệu quả kinh doanh có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với tỉ suất nợ
Zeitun và Tian (2007) sử dụng dữ liệu của 167 Công ty ở Jordan trong
15 năm (1989 -2003) và chứng minh cấu trúc vốn của doanh nghiệp có tác động tiêu cực đến các chỉ số hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, kể cả đối với giá trị thị trường và giá trị sổ sách Tuy nhiên, tỷ suất nợ ngắn hạn trên tổng tài sản có mối quan hệ cùng chiều với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Điều này cho rằng doanh nghiệp nào có có vốn vay ngắn hạn cao có nghĩa là đang hoạt động tốt và tăng trưởng tốt
Nghiên cứu của Onaolapo và Kajola (2010) khi nghiên cứu biến hiệu quả kinh doanh dưới góc độ tài chính và được đại diện bởi chỉ số ROA, ROE với dữ liệu nghiên cứu là 30 công ty phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Nigeria (2001-2007), với mức độ giải thích của mô hình hồi quy
Trang 33cấu trúc tài chính có quan hệ nghịch chiều với tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, khi tỷ lệ nợ phải trả trên tổng tài sản lớn hơn 30.37% Tỷ lệ nợ phải trả trên tổng tài sản bình quân của các doanh nghiệp ngành sản xuất và chế biến thực phẩm niêm yết trên sàn HOSE là 47.94% nên cấu trúc tài chính có quan
hệ nghịch chiều với tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Cẩm Hương (2015) về ảnh hưởng của cấu trúc tài chính đến hiệu quả tài chính của 18 doanh nghiệp ngành khai khoáng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2009 đến 2013, đã cho thấy tỷ suất nợ và tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu tỷ lệ nghịch với tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Nghiên cứu của Đặng Phương Mai (2016) về giải pháp tái cấu trúc tài chính các doanh nghiệp trong ngành thép ở Việt Nam đã sử dụng dữ liệu của
25 doanh nghiệp ngành thép trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2014, qua
mô hình FEM, đã chỉ ra: cấu trúc tài chính (đại diện bằng chỉ tiêu hệ số nợ) là một trong những nhân tố tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành thép Việt Nam
Nghiên cứu của Dessi & Robertson (2003) chỉ ra rằng cấu trúc tài chính
có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả tài chính của công ty Các công ty vay nợ
cố gắng tận dụng các cơ hội tăng trưởng và đầu tư để làm tăng lợi nhuận doanh nghiệp Do đó, nó sẽ làm tăng hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
Nghiên cứu của Margaritis & Psillaki (2007) về mối quan hệ giữa cơ cấu vốn, quyền sở hữu và hiệu quả kinh doanh của công ty, với dữ liệu nghiên cứu là các công ty Pháp thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp truyền thống như: ngành dệt may, dược phẩm và lĩnh vực công nghiệp phát triển như máy tính, nghiên cứu và phát triển, cho thấy tỷ lệ nợ có mối quan hệ tuyến tính và mối quan hệ bậc 2 với hiệu quả kinh doanh Tỷ lệ nợ có tác động dương đến hiệu quả kinh doanh khi tỷ lệ nợ ở mức nợ trung bình
Trang 34Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2010) về các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính được quan sát trên cơ sở số liệu báo cáo tài chính trong 3 năm (2007-2009) của 428 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, theo cách tiếp cận bằng phương pháp phân tích đường dẫn Nghiên cứu cho thấy, đối với hiệu quả tài chính, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu trung bình của các doanh nghiệp là 17.63% Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, cấu trúc tài chính có tác động cùng chiều đến ROE và các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã sử dụng tốt công cụ đòn bẩy tài chính để nâng cao hiệu quả tài chính
Nghiên cứu của Lê Thị Mỹ Phương (2017) - “Mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả tài chính tại các doanh nghiệp sản xuất” được thực hiện tại 207 công ty niêm yết của ngành sản xuất giai đoạn từ năm 2010-2015, cho thấy cấu trúc vốn (đại diện bằng chỉ tiêu tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu) có tác động cùng chiều đến hiệu quả tài chính trong tất cả các nhóm ngành của ngành sản xuất
Nghiên cứu của Mesquita & Lara (2003) về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và khả năng sinh lời của 70 công ty niêm yết ở Brazil trong giai đoạn từ năm 1995 đến 2001, cho thấy tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản có mối quan
hệ dương có ý nghĩa thống kê với ROE, trong khi tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản có mối quan hệ âm có ý nghĩa thống kê với ROE
Nghiên cứu của Abor (2005) đã sử dụng dữ liệu của 20 công ty niêm yết để xem xét mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ở Ghana trong giai đoạn từ năm 1998 đến 2002 cũng cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa nợ ngắn hạn với suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu và mối quan hệ ngược chiều giữa nợ dài hạn với suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Đối với tổng nợ, cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa tổng
nợ và ROE Do đó, sự gia tăng quy mô nợ có liên quan đến sự gia tăng lợi
Trang 35nhuận doanh nghiệp, tuy nhiên cần xét đến 2 yếu tố nợ ngắn hạn và nợ dài hạn để xác định rõ hơn chiều hướng ảnh hưởng này
Nghiên cứu của Ong Tze San và The Boon Heng Dr (2011) về ngành xây dựng ở Malaysia đo lường về mối quan hệ giữa cấu trúc tài chính và hiệu quả hoạt động của 49 doanh nghiệp trong ngành trên thị trường chứng khoán Bursa trong giai đoạn 2005-2008 Nghiên cứu cho thấy: đối với các công ty lớn (có vốn chủ sở hữu lớn hơn 5,000,000,000 RM) thì tỉ suất nợ trên vốn chủ
sở hữu có tác động tỷ lệ nghịch đến lợi nhuận trên mỗi cổ phần, tỉ suất nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu có tác động tỷ lệ thuận với lợi nhuận trên mỗi cổ phần Tỉ suất nợ trên vốn chủ sở hữu cũng có tác động tỷ lệ nghịch đến lợi nhuận trên mỗi cổ phần đối với các công ty nhỏ (có vốn chủ sở hữu nhỏ hơn 1,000,000,000 RM)
Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phúc (2014) về ảnh hưởng của cấu trúc vốn lên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp sau cổ phần hóa với dữ liệu nghiên cứu gồm 217 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE và HNX từ năm 2007 đến 2012, đã cho thấy nợ dài hạn có tác động tích cực đến ROE, trong khi nợ ngắn hạn lại có tác động tiêu cực đến ROE
Nghiên cứu của Hasan, Ahsan, Rahaman và Alam (2014) với 36 doanh nghiệp Bangladesh cho biết cấu trúc vốn ảnh hưởng ngược chiều lên khả năng sinh lời trên tổng tài sản (ROA) của doanh nghiệp nhưng lại không có mối quan hệ nào có ý nghĩa thống kê với hai nhân tố khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và cơ hội tăng trưởng của doanh nghiệp (Tobin’s Q)
Như vậy, các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã chứng tỏ sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính Từ đó đặt ra vấn đề cần nghiên cứu chiều hướng ảnh hưởng này ở các doanh nghiệp ngành Du lịch dịch vụ tại Việt Nam
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Qua đó, làm rõ khái niệm cấu trúc vốn và hiệu quả tài chính, khái quát các lý thuyết về cấu trúc vốn, các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc vốn và hiệu quả tài chính, một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính mà đặc biệt là cấu trúc vốn
Ngoài ra, chương này cũng trình bày tổng quát một số nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Các nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở những phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu về không gian và thời gian khác nhau
Từ nội dung chương 1 có thể rút ra một số kết luận chính sau:
- Hiệu quả tài chính được đo lường qua giá trị kế toán và giá trị thị
trường
- Qua phân tích phương trình Dupont có thể thấy cấu trúc vốn ảnh hưởng
tích cực đến hiệu quả tài chính nếu tỷ suất sinh lời kinh tế lớn hơn tỷ lệ lãi suất vay nợ bình quân và ngược lại
- Qua các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và quốc tế, có thể thấy cấu
trúc vốn ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, tùy thuộc từng nhóm ngành, từng giai đoạn cụ thể và thực hiện bằng những phương pháp nghiên cứu khác nhau
Việc xác định cấu trúc vốn ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp như thế nào là khá quan trọng Bởi nó sẽ giúp doanh nghiệp có cái nhìn cụ thể về tình hình hoạt động của mình để đưa ra phương án huy động và
sử dụng vốn một cách hiệu quả nhất Từ đó, duy trì một cấu trúc vốn lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
Trang 37CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH DỊCH VỤ TẠI VIỆT NAM
2.1 GIỚI THIỆU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DU LỊCH DỊCH VỤ
2.1.1 K á n ệm, đặ đ ểm và vai trò ngành Du lị ị vụ
Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh
tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Hay, du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm đem đến cho du khách sự trải nghiệm trọn vẹn và hài lòng
Trên quan điểm của nhà kinh doanh, người ta xem xét du lịch trên ba
bộ phận cấu thành của nó đó là: khách du lịch, tài nguyên du lịch và các hoạt động dịch vụ du lịch trên cơ sở của Pháp luật hiện hành Du lịch là thiết lập các quan hệ giữa khách du lịch với nhà cung ứng các dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương và dân cư ở địa phương
Du lịch dịch vụ là một ngành kinh doanh tổng hợp bao gồm các hoạt động tổ chức, hướng dẫn du lịch, sản xuất trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những tổ chức, xí nghiệp đặc biệt, nhằm đáp ứng nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí và các nhu cầu khác của khách du lịch Do đó, ngành
Trang 38động du lịch như: dịch vụ hàng không, vận tải hành khách, hàng hóa, khách sạn, dịch vụ lưu trú, nhà hàng, dịch vụ ăn uống, nghệ thuật, giải trí, quảng bá,
tổ chức sự kiện, tour du lịch…
Sau thế chiến thế giới 2, du lịch trên phạm vi toàn cầu đã phát triển nhanh với tốc độ tăng trưởng bình quân về khách 6.93%/năm, về thu nhập 11.8%/năm, và trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu trong nền kinh tế thế giới Do lợi ích nhiều mặt mà du lịch mang lại, nhiều nước đã tận dụng tiềm năng, lợi thế của mình để phát triển du lịch, tăng đáng kể nguồn thu ngoại tệ, tạo thêm công ăn việc làm, thúc đẩy sản xuất trong nước, đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế xã hội Trong quá trình phát triển, khu vực kinh tế thế giới đã hình thành các khu vực lãnh thổ với các thị phần khách du lịch quốc tế khác nhau Năm 2000, Châu Âu là khu vực đứng đầu với 57.8% thị phần khách du lịch quốc tế (đón 403.3 triệu lượt khách), tiếp đó là Châu
Mỹ với 18.6%, Đông Á – Thái Bình Dương 16%… Từ cuối thế kỷ XX, hoạt động du lịch có xu hướng chuyển dịch sang khu vực Đông Á – Thái Bình Dương Đến năm 2010 thị phần khách du lịch quốc tế của khu vực Đông Á – Thái Bình Dương đạt 22.08% thị trường toàn thế giới,và dự báo đến năm
2020 sẽ là 27.34%
Trong khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, du lịch các nước Đông Nam Á (ASEAN) có vị trí quan trọng, chiếm khoảng 34% lượng khách và chiếm 38% thu nhập du lịch của toàn khu vực Bốn nước ASEAN có ngành
du lịch phát triển nhất là Malaysia, Thái Lan, Singapore và Indonesia Những nước này đều đã vượt qua con số đón 5 triệu lượt khách quốc tế một năm và thu nhập hàng tỷ đô la từ du lịch Việt Nam và Philippine là hai nước thu hút được lượng khách du lịch quốc tế cao nhất trong 6 nước Đông Nam Á còn lại, đạt xấp xỉ 1/3 lượng khách quốc tế so với bốn nước trên
Trang 39Như vây, có thể thấy, ngành Du lịch dịch vụ đang từng bước phát triển
- Quy mô, cơ cấu dân số: Việt Nam là nước có dân số đông, cơ cấu trẻ, đây là tiềm năng lớn về nguồn lao động dồi dào cũng như trình độ năng lực để bắt kịp xu thế phát triển của ngành Du lịch dịch vụ
- Phân bố dân cư và mạng lưới quần cư: Nếu dân cư đông, mạng lưới dịch vụ dày, nếu dân cư phân tán sẽ gây khó khăn cho ngành dịch vụ
- Truyền thống văn hóa, phong tục tập quán: Việt Nam có truyền thống văn hóa và phong tục tập quán đa dạng, phong phú Đây là tiềm năng lớn để hình thành và phát triển ngành Du lịch dịch vụ
- Mức sống và thu nhập thực tế: Điều này sẽ ảnh hưởng đến sức mua và nhu cầu Du lịch dịch vụ của người dân
- Tài nguyên thiên nhiên, di sản văn hóa lịch sử, cơ sở hạ tầng du lịch: Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có, nhiều di sản văn hóa lịch
sử thu hút khách du lịch, đồng thời ngày càng có nhiều cơ sở hạ tầng phục vụ
du lịch, cung cấp đa dạng các sản phẩm dịch vụ Đây là yếu tố có sức ảnh hưởng lớn đến ngành Du lịch dịch vụ Việt Nam
Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội ở các nước Về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước công nghiệp phát triển
Trang 40Mạng lưới Du lịch dịch vụ đã được thiết lập ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Các lợi ích kinh tế mang lại là điều không thể phủ nhận, thông qua việc tiêu dùng của du khách đối với các sản phẩm dịch vụ của du lịch
Sự khác biệt giữa tiêu dùng dịch vụ du lịch và tiêu dùng các hàng hoá khác là tiêu dùng các sản phẩm du lịch dịch vụ xảy ra cùng lúc, cùng nơi với việc sản xuất ra chúng Đây cũng là lý do làm cho sản phẩm du lịch dịch vụ mang tính đặc thù mà không thể so sánh giá cả của sản phẩm du lịch dịch vụ này với giá cả của sản phẩm du lịch dịch vụ kia một cách tuỳ tiện được Sự tác động qua lại của quá trình tiêu dùng và cung ứng sản phẩm du lịch dịch vụ tác động lên lĩnh vực phân phối lưu thông và do vậy ảnh hưởng đến các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch dịch vụ
sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, vì sản phẩm du lịch dịch
vụ mang tính liên ngành có quan bệ đến nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh
tế, đồng thời làm biến đổi cơ cấu ngành trong nền kinh tế quốc dân Hơn nữa, các hàng hoá, vật tư cho du lịch đòi hỏi phải có chất lượng cao, phong phú về chủng loại, hình thức đẹp, hấp dẫn Do đó nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng sáng tạo cải tiến, phát triển các loại hàng hoá Để làm được điều này, các doanh nghiệp bắt buộc phải đầu tư trang thiết bị hiện đại, tuyển chọn
và sử dụng công nhân có tay nghề cao đáp ứng được nhu cầu của du khách
Trên bình diện chung, hoạt động du lịch dịch vụ có tác dụng làm biến đổi cán cân thu chi của đất nước Du khách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước có địa điểm du lịch, làm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ của đất nước đó Ngược lại, phần chi ngoại tệ sẽ tăng lên đối với những quốc gia có nhiều người đi du lịch ở nước ngoài Trong phạm vi một quốc gia, hoạt động du lịch làm xáo trộn hoạt động luân chuyển tiền tệ, hàng hoá, điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế kém phát triển hơn, kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở các vùng sâu, vùng xa…