NGUYỄN THỊ SANG TÂY NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN BẮT BUỘC TRÊN THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN V
Trang 1NGUYỄN THỊ SANG TÂY
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN BẮT BUỘC TRÊN THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng - Năm 2016
Trang 2NGUYỄN THỊ SANG TÂY
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN BẮT BUỘC TRÊN THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM HOÀI HƯƠNG
Đà Nẵng - Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Tất cả những nội dung được kế thừa, tham khảo từ nguôn tài liệu đều
được tác giả trích dẫn và ghi cụ thể trong danh mục tài liệu tham khảo
Đà nẵng, ngày 1 tháng 8 năm 2016
Học viên thực hiện luận văn
Nguyễn Thị Sang Tây
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 8
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ THÔNG TIN TRÊN THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 8
1.1.1 Khái niệm công bố thông tin và tầm quan trọng của việc công bố thông tin 8
1.1.2 Thông tin trên thuyết minh báo cáo tài chính 14
1.2 CÁC LÝ THUYẾT GIẢI THÍCH MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP 15
1.2.1 Lý thuyết đại diện 15
1.2.2 Lý thuyết tín hiệu 17
1.2.3 Lý thuyết chi phí chính trị 17
1.2.4 Lý thuyết chi phí sở hữu 18
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 19
1.3.1 Quy mô doanh nghiệp 19
1.3.2 Khả năng sinh lời của doanh nghiệp 19
Trang 51.3.3 Đòn bẩy nợ 20
1.3.4 Công ty kiểm toán độc lập 20
1.3.5 Thời gian niêm yết của doanh nghiệp 21
1.3.6 Khả năng thanh toán 21
1.3.7 Sàn giao dịch chứng khoán mà công ty đang niêm yết 21
1.3.8 Mức độ độc lập của hội đồng quản trị 22
1.3.9 Tỷ lệ sở hữu nhà nước 23
1.3.10 Lĩnh vực hoạt động kinh doanh 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN BẮT BUỘC TRÊN THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 25
2.1 CÂU HỎI VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 25
2.1.1 Câu hỏi nghiên cứu 25
2.1.2 Giả thuyết nghiên cứu 25
2.2 PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU 30
2.3 ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN BẮT BUỘC TRÊN THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 30
2.4 ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN ĐỘC LẬP 32
2.4.1 Biến quy mô doanh nghiệp 32
2.4.2 Khả năng sinh lời của doanh nghiệp 33
2.4.3 Đòn bẩy nợ của doanh nghiệp 33
2.4.4 Công ty kiểm toán độc lập 33
2.4.5 Thời gian niêm yết 34
2.4.6 Khả năng thanh toán 34
2.4.7 Sàn giao dịch công ty niêm yết 34
2.4.8 Mức độ độc lập của hội đồng quản trị 34
Trang 62.4.9 Tỷ lệ sở hữu nhà nước 35
2.4.10 Lĩnh vực kinh doanh 35
2.5 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 38
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1 THỰC TRẠNG CÔNG BỐ THÔNG TIN BẮT BUỘC TRÊN THUYẾT MINH BCTC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 39
3.2 THỐNG KÊ MÔ TẢ CÁC BIẾN ĐỘC LẬP 45
3.2.1 Thống kế mô tả các biến liên tục 45
3.2.2 Thống kê mô tả các biến nhị phân 49
3.3 PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH 52
3.3.1 Phân tích sự tương quan giữa biến phụ thuộc và từng biến độc lập riêng lẻ trong mô hình 52
3.3.2 Phân tích sự tương quan giữa các biến độc lập 59
3.4 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN BẮT BUỘC TRÊN THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 60
3.4.1 Kết quả mô hình hồi quy lần thứ nhất 60
3.4.2 Kết quả mô hình hồi quy lần thứ hai 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 71
CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN 72
4.1 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 72
4.1.1 Đối với nhân tố khả năng sinh lời của doanh nghiệp 72
4.1.2 Đối vơi nhân tố đòn bẩy nợ 73
4.1.3 Đối với nhân tố công ty kiểm toán độc lập 74
4.1.4 Đối với nhân tố mức độ độc lập của HĐQT 75
Trang 74.1.5 Hàm ý chính sách từ các chủ thể liên quan đến việc công bố
thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTT của các công ty niêm yết 75
4.2 KẾT LUẬN 80
4.2.1 Kết quả nghiên cứu đạt được 80
4.2.2 Những hạn chế của nghiên cứu 80
4.2.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 8TGNY Thời gian niêm yết
Trang 93.2 Mức độ công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTC
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thông tin trên báo cáo tài chính của một doanh nghiệp là vô cùng quan trọng và đặc biệt hơn cả là thông tin trên thuyết minh báo cáo tài chính Các thông tin và số liệu trên thuyết minh sẽ giúp giải thích rõ hơn về các con số tổng quát được trình bày trên bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ của một doanh nghiệp Qua
đó, các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp có thể phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết định phù hợp trong đầu tư hay cho vay… Hiện nay, thông tin trên thị trường chứng khoán là vô cùng nhạy cảm, các doanh nghiệp niêm yết còn xem nhẹ việc công bố thông tin, đặt biệt là thông tin trên thuyết minh báo cáo tài chính còn sơ sài, chưa giải thích và thuyết minh được cho những con số mà doanh nghiệp trình bày trên báo cáo tài chính Việc công bố các thông tin trên thuyết minh báo cáo tài chính phụ thuộc và những yếu tố nào trong doanh nghiệp, liệu có phụ thuộc vào các yếu
tố bên ngoài doanh nghiệp hay không? Câu hỏi này cũng được nhiều tác giả trong và ngoài nước giải quyết qua những nghiên cứu của họ Hầu hết, các nghiên cứu trước đây đều tập trung vào việc công bố thông tin trên báo cáo tài chính Nhận thấy các thông tin trên thuyết minh trên báo cáo tài chính là cụ
thể và chi tiết hơn nên tác giả đã chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh báo cáo tài
chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”
Qua việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTC, tác giả mong muốn đưa ra một đánh giá khách quan về thực trạng công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua dựa trên quy định của
Trang 12chuẩn mực Việt Nam về các thông tin cần thuyết minh trên báo cáo tài chính, đồng thời phân tích ảnh hưởng của các nhân tố thuộc về quản lý, sở hữu và đặc điểm tài chính của DN đến mức độ công bố Từ đó rút ra hàm ý chính sách nâng cao mức độ công bố thông tin trên thuyết minh BCTC của các doanh nghiệp niêm yết, góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
theo hướng bền vững
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Định lượng mức độ công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Từ kết quả nghiên cứu, đánh giá thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Từ đó đưa ra hàm ý chính sách nhằm nâng cao mức
độ công bố thông tin trên thuyết minh báo cáo tài chính của các doanh nghiệp hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thông tin bắt buộc công
bố trên thuyết minh báo cáo tài chính năm 2014 của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thông tin bắt buộc trình bày trên thuyết minh BCTC được quy định bởi chuẩn mực kế toán Việt Nam của 100 doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam (50 doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán TP Hồ Chí Minh và 50 doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Hà Nội), mẫu nghiên cứu không bao gồm các công ty tài chính, ngân hàng và bảo hiểm
Trang 134 Phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên quy định về công bố thông tin của chuẩn mực kế toán Việt Nam, xác định danh mục các thông tin yêu cầu công bố trên thuyết minh BCTC
- Định lượng mức độ công bố thông tin dựa trên phương pháp đo lường mức độ công bố thông tin được áp dụng ở các nghiên cứu trước
- Dựa vào lý thuyết đại diện, lý thuyết dấu hiệu, lý thuyết chi phí chính trị, lý thuyết chi phí sở hữu… và kết quả của các nghiên cứu trước đây để xây dựng giả thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên thuyết minh BCTC
- Áp dụng mô hình hồi quy bội để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên thuyết minh BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, bảng biểu, và phụ lục, luận văn được bố cục gồm 04 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công bố thông tin và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
Chương 2: Thiết kế mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh báo cáo tài chính
Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu
Chương 4: Hàm ý chính sách và kết luận
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trong những năm trước đây, các nghiên cứu về công bố thông tin được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu Nhiều nghiên cứu tập trung vào mức độ công bố thông tin trong doanh nghiệp niêm yết và các công ty chưa niêm yết Các nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến công bố thông
Trang 14tin như: Năm 1994, Casol Streuly với nghiên cứu “The primary objective of finacial reporting: How are we doing?” đã thực hiện khảo sát với 1.300 các
chuyên gia phân tích tài chính ở Mỹ Kết quả cho thấy 53% số người được hỏi cho biết thông tin được công bố trong BCTC hàng năm là đủ cơ sở để họ đưa
ra quyết định đầu tư Nghiên cứu đa quốc gia về minh bạch thông tin của
Meek &Gray (1995) với tựa đề “Factors influencing voluntary annual report disloseures b U.S, U.K, and continental European miltinational corportions”
đề cập các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin tự nguyên về chiến lược, thông tin tài chính và phí tài chính trên báo cáo thường niên của các công ty đa quốc gia thuộc Mỹ, Anh và lục địa Châu Âu Hay nghiên cứu của
Zarzeski (1996) với tên gọi “Spontaneous harmoization effects of culture and maket forces on accuting disclose practinces” trong tạp chí accouting
Horizons, kết quả chỉ ra rằng mức độ công bố thông tin phụ thuộc vào văn hóa và sức mạnh của thị trường thông qua nhân tố như doanh thu xuất khẩu, đòn bẩy tài chính và quy mô công ty Nghiên cứu thực hiện trên 7 quốc gia với 256 công ty có quy mô nhỏ, vừa và lớn
Năm 2002, tác giả Almazan và cộng sự đã công bố nghiên cứu
“Stakeholder, catital structure anh transparency” Công trình nghiên cứu
mối quan hệ giữa tính minh bạch thông tin với quyết định cơ cấu vốn trong doanh nghiệp và kết quả đã chỉ ra các doanh nghiệp có xu hướng lựa chọn cơ cấu vốn an toàn thì mức độ minh bạch thông tin càng cao
Năm 2003, một nghiên cứa của Jeffrey và Marie nghiên cứu mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của các công ty, theo nhóm tác giả, ở góc độ công ty, các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp là: quyền sở hữu, tình trạng niêm yết, chính sách
cổ tức, kiểm toán và đòn bẩy tài chính Ngoài ra, tác giả còn cho rằng quá trình hoạt động của doanh nghiệp ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
Trang 15của các công ty niêm yết Quá trình hoạt động này gồm: quy mô công ty, lĩnh
vực kinh doanh và doanh thu xuất khẩu Năm 2004, nghiên cứu“Transparecy, specialization and FDI” của tác giả Assaf Razin, Efraim Sadka đã phân tích
mối quan hệ giữa công bố thông tin và sự phát triển của đầu tư nước ngoài Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng các quốc gia có dòng chảy FDI suy giảm thì mức độ công bố thông tin kém
Năm 2005, Nhóm tác giả Cheung và cộng sự trong nghiên cứu
“Determinants of Coporate disclosure and Transparecy: Evidence from HongKong and Thailand” đã xem xét mức độ công bố thông tin và tính minh
bạch của công ty niêm yết ở hai thị trường Hồng Kông và Thái Lan Nghiên cứu đã đưa ra 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin là nhóm nhân tố tài chính và nhóm nhân tố quản trị công ty Trong nhóm nhân
tố tài chính, tác giả đưa ra 5 biến có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin gồm: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, kết quản tài chính, tài sản đảm bảo
và hiệu quả sử dụng tài sản Đối với nhóm quản trị công ty, các biến gồm: mức độ tập trung quyền sở hữu, cơ cấu hội đồng quản trị và quy mô hội đồng quản trị Nghiên cứu thực hiện khảo sát với 265 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Thái Lan và 148 công ty niêm yết trên thi trường chứng khoán Hồng Kông Kết quả còn cho thấy mức độ công bố thông tin của các công ty Thái Lan cao hơn nhiều so với các công ty ở Hồng Kông
Bên cạnh các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, các nghiên cứu của các tác giả trong nước về công bố thông tin cũng đáng quan tâm như:
Nhóm tác giả Lê Trường Vinh và Hoàng Trọng (2008) nghiên cứu về “các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư” Trong nghiên cứu này tác giả đã
xây dựng mô hình sư dụng 5 biến nguyên nhân ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin bao gồm : quy mô, lợi nhuận, nợ phải trả tài sản cố định, vòng quay
Trang 16tài sản để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán TP Hồ Chí Minh và kết luận rằng chỉ có biến kết quả tài chính đại diện là chỉ tiêu lợi nhuận là ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yết Tuy nhiên, quá trình tiếp cận để đề xuất mô hình của tác giả chưa toàn diện và cỡ mẫu khá nhỏ so với quy mô của thị trường chứng khoán (30 công ty niêm yết)
Năm 2010 nghiên cứu của tác giả Đoàn Nguyên Trang Phương về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Kết quả cho thấy hai nhân tố chủ thể kiểm toán và khả năng sinh lời có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp niêm yết
Nghiên cứu của tiến sĩ Nguyễn Đình Hùng (2010) đề cập đến “Hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính công bố của các công ty niêm yết tại Việt Nam” Trong nghiên cứu này, tác giả đã xác định các thành
phần, mối quan hệ và cơ cấu hoạt động của hệ thống kiểm soát gồm 6 thành phần: hệ thống chuẩn mực kế toán, quy định liên quan đến công bố thông tin, kiểm soát nội bộ, ban giám đốc, kiểm toán độc lập, ban giám đốc Tuy nhiên, tác giả chỉ mới dừng lại ở việc thống kê mô tả các biến đại diện mà chưa thể hiện được mối quan hệ giữa các nhân tố nghiên cứu cũng như mức độ ảnh hưởng của các biến đó đến sự minh bạch thông tin như thế nào Đồng thời tác giả cũng chủ yếu sử dụng phương pháp định tính thể hiện cho các kết luận của mình
Qua việc tìm hiểu các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong doanh nghiệp Các nhân tố đó được xem xét ở nhiều góc độ từ vĩ mô như hệ thống kinh tế chính trị, văn hóa đến vi mô như các đặc điểm tài chính hay đặc điểm quản trị
Trang 17công ty Nhìn chung, các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài hầu hết xem xét các nhân tố ảnh hưởng tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau thông qua nhiều quốc gia, rất ít nghiên cứu đi sâu vào một thị trường cụ thể, trong đó chủ yếu
sử dụng phương pháp định lượng Trong khi đó các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán ở góc độ công ty Các nghiên cứu trong nước còn mang tính đơn lẻ, tính hệ thống chưa cao, phương pháp nghiên cứu
đa phần là định tính và tập trung vào mức độ công bố thông tin nói chung Xác định các biến ảnh hưởng còn chưa đa dạng và chủ yếu là kế thừa từ những nghiên cứu trước Và điều quan trọng hơn cả là các nghiên cứu trước chủ yếu nghiên cứu mức độ công bố thông tin trên BCTC, phạm vi nghiên cứu khá rộng nhưng rất ít tác giả nghiên cứu mức độ công bố thông tin trên thuyết minh BCTC Tác giả nhận thấy thông tin trên thuyết minh BCTC là vô cùng quan trọng vì nó được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà trong các bảng báo cáo khác không thể trình bày
rõ ràng và chi tiết Từ việc xác định các khoảng trống trong các nghiên cứu, bên cạnh kế thừa các nghiên cứa của các tác giả đi trước, luận văn còn tập trung phát triển thêm các nhân tố mới ảnh hưởng đến mức độc ông bố thông tin bắc buộc trên thuyết minh BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 18a Khái niệm công bố thông tin
Tùy thuộc vào trường hợp thực tế cụ thể hoặc từng góc nhìn mà có các khái niệm khác nhau về công bố thông tin Để hiểu được công bố thông tin là
gì, luận văn tiến hành làm rõ khái niệm công bố thông tin
Trong giao dịch tài sản, công bố thông tin liên quan đến việc người bán, người môi giới cung cấp những thông tin liên quan và có thể ảnh hưởng đến giá trị tài sản Những quy định liên quan đến thông tin phải được công bố
dù người mua có yêu cầu thông tin đó hay không Trong kế toán, công khai liên quan đến việc phổ biến thông tin của công ty liên quan đến hoạt động quá khứ, dự báo cho tương lai, hoạt động hiện tại và các thông tin khác mà nhà đầu tư có thể yêu cầu
Nói chung công bố thông tin là quá trình cung cấp tài liệu và những bằng chứng liên quan (video, hình ảnh, dữ liệu…) rộng rãi cho quần chúng, không che dấu thông tin và phổ biến rộng rãi trên các phương tiện như website, báo chí, internet
Nội dung thông tin liên quan đến công ty niêm yết bao gồm các thông tin trước và sau khi phát hành chứng khoán ra công chúng và sau khi chứng
Trang 19khoán được niêm yết giao dịch trên thị trương tập trung, các thông tin bao gồm:
- Thông tin trên bảng cáo bạch: là bảng thông báo của công ty niêm yết
khi thực hiện phát hành chứng khoán ra công chúng nhằm giúp cho nhà đầu
tư hiểu rõ về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tài chính…và các thông tin khác về mục tiêu phát hành chứng khoán
- Thông tin định kỳ: là những thông tin do tổ chức niêm yết công bố
vào những thời điểm theo quy định của cơ quan quản lý như: hàng năm, bán niên, hàng quý, hàng tháng Nội dung thông tin liên quan đến báo cáo tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ Các báo cáo thường niên phải có kiểm toán của tổ chức tài chính độc lập được ủy bán chứng khoán nhà nước chấp thuận
- Thông tin bất thường: là thông tin được tổ chức niêm yết công bố
ngay sau khi xảy ra các sự kiện quan trọng, làm ảnh hưởng đến giá chứng khoán hoặc lợi ích của nhà đầu tư Thông thường, các thông tin này được công bố trong vòng 24h sau khi xảy ra sự kiện hoặc sau 3 ngày Nội dung các thông tin bất thường này cũng được quy định trong luật chứng khoán
- Thông tin theo yêu cầu: là việc công bố thông tin khi ủy bán chứng
khoán hoặc sơ giao dịch chứng khoán yêu cầu công bố thông tin do có những dấu hiệu bất thường, hoặc tin đồn trên thị trường có tác động đến giá chứng khoán
Trong bài luận văn này đề cập đế thông tin bắt buộc phải công bố trên thuyết minh BCTC của doanh nghiệp Mặc dù thuyết minh là phần bắt buộc của BCTC và đã có mẫu thuyết minh BCTC, nhưng các công ty niêm yết thường không công bố đầy đủ thông tin theo quy định Thông thường, các công ty sẽ công bố thông tin ít nhất bằng yêu cầu tối thiểu của luật pháp để tránh những rắc rối không đáng có Nhưng sự tối thiểu này nằm ở đâu thì lại
Trang 20tuỳ thuộc vào phán xét chủ quan của đội ngũ quản lý doanh nghiệp Hơn thế nữa, thuyết minh BCTC phải càng minh bạch càng tốt, nhưng vẫn phải đảm bảo các bí mật thương mại và bí quyết duy trì khả năng cạnh tranh của công
ty Trong luận văn, tác giả lấy chuẩn mực kế toán Việt Nam (phần công bố thông tin trong mỗi chuẩn mực) làm cơ sở để đưa các các mục thông tin bắt buộc cần phải công bố trên thuyết mình báo cáo tài chính
b Tầm quan trọng của việc công bố thông tin
Trên cơ sở nghiên cứu các khái niệm, đặc điểm và yêu cầu công bố thông tin, có thể thấy rằng việc công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTC nói riêng và công bố thông tin tài chính nói chung là hết sức cần thiết
và là một yêu cầu mang tính khách quan Nhiều nghiên cứu cho thấy công bố thông tin có vài trò quan trọng không chỉ với người sử dụng thông tin mà cho
cả thị trường tài chính và nền kinh tế Các bên liên quan cũng như bản thân thị trường chứng khoán đều mong muốn thông tin được công bố nhanh chóng, kịp thời và có tính chính xác cao nhằm mục đích:
- Đối với nhà đầu tư: Công bố thông tin đầy đủ, chính xác góp phần
giảm thiểu rủi ro cho họ Thiệt hại lớn nhất thường tập trung vào các nhà đầu
tư thiểu số, mua chứng khoán với số lượng ít Đồng thời việc ít công bố thông tin cũng làm mất niềm tin của công chúng về sự minh bạch của công ty Như vậy, việc công bố thông tin kịp thời, đầy đủ và chính xác là điều kiện cần để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư, giúp họ giảm thiểu rủi ro khi tham gia vào TTCK Như vậy, dưới góc độ nhà đầu tư, mức độ công bố thông tin mang đến niềm tin và sự bảo vệ, đồng thời giúp họ đưa ra các quyết định hợp lý và hiệu quả hơn
- Đối với quản lý nhà nước: Với việc công bố thông tin đầy đủ, hợp lý
và kịp thời, các cơ quan quản lý nhà nước có cái nhìn xác thực và cụ thể hơn
về TTCK Từ đó, cơ quan quản lý nhà nước sẽ có những biện pháp phù hợp
Trang 21để hạn chế và ngăn chặn các hành vi vi phạm trên TTCK, thực hiện các chức năng vĩ mô khác đồng thời cũng đảm bảo lợi ích cho nhà đầu tư và các bên tham gia trên thị trường Do vậy, ở góc độ nhà nước, mức độ công bố thông tin kịp thời, chính xác và đầy đủ giúp cho việc quản lý, giám sát đồng thời phát hiện sai phạm được dễ dàng và hiệu quả hơn
- Đối với chính bản thân TTCK: Mức độ công bố thông tin phù hợp sẽ
góp phần xây dựng một TTCK minh bạch và hiệu quả Vì khi các thông tin cần được công bố bị che giấu là biển hiện của một TTCK không minh bạch Khi đó, nhà đầu tư sẽ ngại không muốn tham gia Các nguồn vốn trong nền kinh tế sẽ không được huy động và phân bố hiệu quả, gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế về nhiều mặt Bên cạnh đó, sự chính xác và minh bạch thông tin trên TTCK là một trong những nhân tố góp phần tăng khả năng cạnh tranh của TTCK quốc gia trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Như vậy, ở góc
độ thị trường, mức độ công bố thông tin chính xác góp phần tạo dựng một TTCK hiệu quả, bềnh vững và tăng khả năng cạnh tranh trong điều kiện hội nhập
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể thấy rằng mức độ công bố thông tin trên thị trường chứng khoán là vô cùng quan trọng, đặt biệt là các thông tin bắt buộc là những thông tin tối thiểu quan trọng cần được công bố góp phần tạo ra một TTCK hoạt động hiệu quả và minh bạch
c Nguyên tắc công bố thông tin
Hiện nay các công ty niêm yết đều thấy được tầm quan trọng về lợi ích của việc công bố thông tin nhưng họ không thể thực hiện công bố thông tin một cách tùy tiện về hình thức, thời gian, địa điểm… mà hoạt động công bố thông tin đã trở thành nghĩa vụ và tập quán trong kinh doanh và tuân thủ theo một số nguyên tắc và tiêu chí nhất định Việc đề ra các tiêu chí và nguyên tắc mang tính chuẩn tắc trong hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng
Trang 22khoán, kể cả các thông tin của tổ chức niêm yết lẫn thông tin thị trường là nhằm duy trì lòng tin của các nhà đầu tư khi họ tham gia vào thị trường chứng khoán Thông thường, các nguyên tắc và tiêu chí cơ bản về công bố thông tin
ở hầu hết các thị trường chứng khoán là:
- Tính chính xác, trung thực và đầy đủ: Đây là yêu cầu cơ bản và đầu
tiên của việc công bố thông tin Điều này đòi hỏi tổ chức thực hiện và công bố thông tin phải tôn trọng tính trung thực vốn có của thông tin, không được xuyên tạc, bóp méo thông tin công bố hoặc có những hành vi cố ý gây hiểu nhầm thông tin Các thông tin được công bố, đặc biệt là thông tin từ các tổ chức niêm yết là căn cứ cho hành vi mua bán của các nhà đầu tư trên thị trường, là một trong những vấn đề đảm bảo sự công bằng trong việc hình thành giá cổ phiếu Trái lại những thông tin thuộc loại tin đồn sẽ có mức độ chính xác và độ tin cậy thấp Nguyên tắc này được tuân thủ dựa trên cơ sở một danh mục thông tin quan trọng và cần được cung cấp Nói cách khác, các
tổ chức niêm yết có nghĩa vụ cung cấp tất cả các thông tin được xem là có ảnh hưởng đến nhận định của nhà đầu tư Những thông tin như vậy bao giờ cũng được quy định chặt chẽ trong luật chứng khoán và các quy định niêm yết và công bố thông tin
Một số thông tin quan trọng được cung cấp định kỳ dưới dạng tài liệu phải được kiểm tra kỹ để đảm bảo tính chính xác Chẳng hạn, đó là những thông tin về các khoản mục trên BCTC, đặc biệt là các khoản mục nằm ngoài bảng cân đối kế toán, những thay đổi trong giá các hợp đồng giao dịch trên thị trường, các dự án đầu tư Ngoài ra, để đảm bảo tính chính xác, trung thực, thông tin công bố cần phải được trình bày rõ ràng, không gây khó hiểu hoặc đánh lừa người đọc Về mặt nguyên tắc, các tổ chức phát hành phải cung cấp cho nhà đầu tư những thông tin quan trọng về công ty một cách đầy đủ nhất
để từ đó các nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết định đầu tư chính xác và chịu
Trang 23hoàn toàn trách nhiệm về quyết định của mình Nhưng tổ chức niêm yết luôn
có sự mâu thuẫn vê lợi ích với nhà đầu tư về mặt công bố thông tin Các công
ty thường không muốn tiết lộ các thông tin quá bí mật Ngược lại các nhà đầu
tư thì muốn biết những thông tin này càng nhiều càng tốt Vì vậy, thông tin công bố ra bên ngoài phải minh bạch ngay cả khi thông tin đó bất lợi cho công ty niêm yết Về mặt lý thuyết, các cơ quan quản lý thị trường được quyền kiểm tra, xem xét nội dung các thông tin này trước khi cho phép công
bố ra công chúng, như vậy các nhà đầu tư sẽ tránh được rủi ro khi mua chứng khoán Thực tế thì cơ quan quản lý không thể đánh giá được chất lượng của tất cả các loại chứng khoán Vì vậy, việc công bố thông tin cho công chúng thì nhà đầu tư phải chịu hoàn toàn mọi rủi ro đối với quyết đinh đầu tư của mình
- Tính kịp thời và liên tục: trong những năm gần đây thì nguyên tắc này
được đặt biệt chú trọng Điều này có nghĩa là thông tin phải được công bố trên
cơ sở thời gian một cách liên tục, bao gồm những thông tin tức thời và thông tin định kỳ và cả những thông tin bất thường liên quan đến công ty niêm yết
Công bố thông tin định kỳ thông thường được quy định trong luật chứng khoán hoặc các quy định niêm yết chứng khoán, chẳng hạn báo cáo tài chính quý hoặc năm Những thông tin đôi khi kèm theo cả những báo cáo về cuộc họp thảo luận, nhận định, phân tích kèm theo tình hình của ban điều hành công ty, do vậy những thông tin này cũng phải được công bố Những thông tin phải được tuân thủ về mặt thời gian theo quy định, không gián đoạn Tuy nhiên một số thông tin có thể được công bố chậm lại hoặc không công bố khi pháp luật cho phép ví dụ các thông tin mật liên quan đến an ninh quốc gia
Việc công bố thông tin kịp thời sẽ giúp tránh hiểu lầm cho nhà đầu tư, giảm bớt các vi phạm về giao nội gián có thể xảy ra Với ý nghĩa đó, việc công bố thông tin đúng thời hạn đóng vai trò quan trọng, thể hiện sự khách
Trang 24quan của việc công bố thông tin Vì vậy thông thường các sở giao dịch hay các trung tâm giao dịch chứng khoán buộc các công ty niêm yết phải công bố
- Đảm bảo tính công bằng: thông tin phải được công bố rộng rãi, tổ
chức công bố thông tin không được cung cấp thông tin có một số nhà đầu tư riêng biệt hoặc các bên có lợi ích khác trước khi công bố rộng rãi ra công chúng Các trường hợp ngoại lệ chỉ áp dụng khi cung cấp thông tin cho nhà tư vấn các công ty định mức tín nhiệm hoặc có khi là đối tác của công ty niêm yết đang có ý định hợp tác trong hoạt động đầu tư, kinh doanh
1.1.2 Thông tin trên thuyết minh báo cáo tài chính
Thông tin trên thuyết minh BCTC là hệ thống các số liệu được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các bảng báo cáo khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết Qua
đó, nhà đầu tư hiểu rõ về tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp
Thuyết minh BCTC gồm những nội dung cơ bản sau:
- Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
- Kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán
- Chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán áp dụng
Trong bối cảnh TTCK sụt giảm, lạm phát gia tăng, thông qua thuyết
minh BCTC, nhiều nhà đầu tư đã bắt đầu tìm hiểu sâu hơn về các khoản đầu
Trang 25tư tài chính (ngắn hạn và dài hạn), tình trạng hàng tồn kho… của các công ty Bởi nếu chỉ nhìn vào bảng cân đối kế toán, có thể chúng ta hoàn toàn không biết hoặc hiểu sai lệch về các thông tin này Chẳng hạn, một số công ty có khoản đầu tư ngắn hạn, đầu tư tài chính dài hạn trên bảng cân đối kế toán rất lớn và nhà đầu tư lầm tưởng đó là khoản đầu tư vào chứng khoán nên kết luận, với đà suy giảm của TTCK như hiện nay thì tài chính của công ty đang lâm vào tình trạng khó khăn, thậm chí có nguy cơ thua lỗ cao Tuy nhiên, có thể đó chỉ là khoản tiền gửi ngắn hạn tại một ngân hàng hay khoản đầu tư dài hạn vào trái phiếu chính phủ, góp vốn đầu tư vào các công ty khác… Tất nhiên, không loại trừ khả năng đó thực sự là khoản đầu tư vào chứng khoán Điều này, nhà đầu tư sẽ hiểu rõ khi đọc thuyết minh BCTC, từ đó đưa ra quyết định đầu tư chính xác nhất
1.2 CÁC LÝ THUYẾT GIẢI THÍCH MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Lý thuyết đại diện
Lý thuyết đại diện đã chỉ ra sự mâu thuẫn về lợi ích trong các mối quan
hệ giữa cổ đông và nhà quản lý, giữa người quản lý là người cho vay, cổ đông năm quyền kiểm soát và cổ đông không năm quyền kiểm soát Theo Jensen and Mec-Kling (1976) xác định mối quan hệ đại diện (hay quan hệ ủy thác) như là quan hệ hợp đồng mà theo đó các cổ đông (những người chủ - principals), bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý công ty (người đại diện - agents), để thực hiện việc quản lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm
cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công ty Các mối quan hệ này có mục tiêu chung đó là lợi ích Nhưng không phải lúc nào lợi ích của hai bên cũng giống nhau Nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (chủ sở hữu và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động
Trang 26vì lợi ích tốt nhất cho người chủ sở hữu, tức các cổ đông Với vị trí của mình, người quản lý công ty được cho là luôn có xu hướng tư lợi và không đủ siêng năng, mẫn cán, và có thể tìm kiếm các lợi ích cá nhân cho mình hay người thứ
ba của mình chứ không phải cho công ty Các đặc tính tự nhiên của quan hệ đại diện dẫn đến giả thiết rằng, các cổ đông cần thường xuyên giám sát hoạt động của người quản lý công ty nhằm đảm bảo lợi ích của mình Lý thuyết đại diện nhấn mạnh rằng, các cổ đông cần phải sử dụng các cơ chế thích hợp
để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty, bằng cách thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản trị, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty
Theo Healy và Palepu (2001) hợp đồng tối ưu giữa nhà quản trị với nhà đầu tư, thỏa thuận thù lao và tiền thưởng của nhà quản trị, giải pháp dung hòa lợi ích giữa nhà quản trị doanh nghiệp với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài Những hợp đồng này thường yêu cầu doanh nghiệp phải sử dụng thông tin được cung cấp bởi hệ thống kế toán quản trị như: hệ thống ngân sách, thông tin kiểm soát chi phí, phân bổ các nguồn lực để nhà đầu tư đánh giá sự tuân thủ những cam kết trong hợp đồng và đánh giá nhà quản trị doanh nghiệp có quản trị các nguồn lực của công ty gắn với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài
Lý thuyết đại diện giải thích vì sao phải áp dụng hệ thống kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp và đối với các công ty cổ phần, công ty niêm yết cần cung cấp những thông tin gì để đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư và các cổ đông Đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam khi mà chưa có một thị trường chứng khoán phát triển hoàn chỉnh thì các thông tin doanh nghiệp cung cấp chính xác và đầy đủ thực sự có ý nghĩa đối với các nhà đầu tư
Từ nội dung của lý thuyết đại diện, chúng ta có thể thấy rằng người quản lý luôn có xu hướng hạn chế mức độ công bố thông tin nhằm có thể che
Trang 27dấu các hành vi tư lợi cho bản thân trong khi đó người sở hữu công ty và người cho vay luôn muốn các thông tin được công bố một cách minh bạch để
có thể giám sát, hạn chế các hành vi tư lợi của người quản lý từ đó đảm bảo lợi ích của mình Lý thuyết đại diện thường được sử dụng để giải thích các nhân tố quy mô công ty, kết quả tài chính, hiệu quả sử dụng tài sản, cơ cấu hội đồng quản trị…ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong các giả thuyết nghiên cứu ở các phần tiếp theo
1.2.2 Lý thuyết tín hiệu
Lý thuyết tín hiệu xuất phát từ nguồn thông tin bất cân xứng giữa chủ doanh nghiêp và nhà đầu tư cũng như giữa các nhà đầu tư Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán xảy ra khi một hoặc nhiều nhà đầu tư sở hữu được nhiều thông tin hơn các nhà đầu tư còn lại (Kyle, 1985) Để khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng, Akerlof, Micheal Spence (1973) đã chỉ ra giải pháp bằng cơ chế phát tín hiệu: bên có nhiều thông tin tốt có thể phát tín hiệu ra thị trường Tuy nhiên, với việc phát tín hiệu này, bên có nhiều thông tin muốn phát tín hiệu ra bên ngoài cũng cần tốn khá nhiều chi phí Ví
dụ tập đoàn nổi tiếng thường triển khai các chương trình quảng cáo đắt tiền, việc duy trì chế độ bảo hành sản phẩm tin cậy cho khách hàng đang phát tín hiệu về chất lượng sản phẩm và dịch vụ của mình
Lý thuyết tín hiệu ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong doanh nghiệp thể hiện ở chỗ khi một doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt thường có xu hướng công bố thông tin nhiều hơn như một cách để phát tín hiệu đến thị trường cũng như những đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của công ty
1.2.3 Lý thuyết chi phí chính trị
Lý thuyết chi phí chính trị cho rằng các cơ quan quản lý nhà nước ra quyết định có liên quan đến lợi ích của công ty (chẳng hạn chính sách thuế,
Trang 28hạn chế độc quyền, cạnh tranh…) dựa trên thông tin được công bố bởi các công ty (Watts và Zimmerman, 1986) Các công ty sẽ công bố thông tin nhiều hơn để hạn chế chi phí chính trị này
Lý thuyết này ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin ở chỗ các doanh nghiệp có xu hướng công bố thông tin nhiều hơn để tránh các chính sách của nhà nước liên quan trực tiếp đến lợi ích của doanh nghiệp
1.2.4 Lý thuyết chi phí sở hữu
Các chi phí sở hữu được xem xét như một hạn chế quan trọng của việc công bố thông tin Những bất lợi của cạnh tranh ảnh hưởng đến quyết định cung cấp các thông tin riêng tư Lý thuyết chi phí sở hữu giải thích vì sao các chuẩn mực công bố thông tin tiết lộ rủi ro hiện đang áp dụng ở hầu hết các nước lại ít hữu dụng đối với những người có nhu cầu sử dụng các thông tin tài chính Lý thuyết chi phí sở hữu hàm ý đến các lợi ích và chi phí công bố thông tin
Nếu công ty quá bí mật, các thông tin rủi ro của họ sẽ hầu nhý không được công bố, tuy điều này gây khó khãn cho những nhà đầu tư nhưng lại là một chiến lược an toàn Ngược lại, nếu quá minh bạch đến mức công bố cả nội dung của các rủi ro và cả cách thức sử dụng những công cụ nào để kiểm soát các rủi ro này, công ty có khả năng phải gánh chịu chi phí sở hữu Ðiều này làm cho các nhà quản lý công ty luôn cân nhắc chiến lược công bố thông tin sao cho đạt được sự đánh đổi tối ưu giữa lợi ích nhận được và cái giá phải trả vì chấp nhận tiết lộ thông tin Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã tìm thấy những bằng chứng thực nghiệm về chi phí sở hữu như là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ công bố các thông tin rủi ro trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp
Trang 291.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.3.1 Quy mô doanh nghiệp
Lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu và một số nghiên cứu cho rằng các doanh nghiệp có quy mô lớn thì mức độ công bố thông tin nhiều hơn các công
ty có quy mô nhỏ Theo lý thuyết tín hiệu thì các công ty lớn thường có xu hướng phát tín hiệu ra bên ngoài thị trường để thu hút người quan tâm đến tình hình tài chính tại doanh nghiệp Bên cạnh đó, doanh nghiệp có quy mô lớn thì có nhà đầu tư lớn hơn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và thu hút nhiều
sự chú ý hơn từ các nhà phân tích và doanh nghiệp có quy mô lớn có nhiều nguồn thông tin công bố cho nhà đầu tư tốt hơn so với doanh nghiệp có quy
mô nhỏ Theo các nghiên cứu của Cooke (1987), Owusu - Ansah (1988), Wallacee (1994), Meek (1995), Zarzeski (1996), Khanna và cộng sự (2004) thì quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin Tuy nhiên, ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Thu Đông (2013) cho thấy quy mô doanh nghiệp không ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin Quy mô doanh nghiệp được đánh giá qua các chỉ tiêu tổng tài sản, tổng doanh thu thuần, tổng nguồn vốn, số lao động của doanh nghiệp hay giá trị vốn hóa của doanh nghiệp
1.3.2 Khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Theo lý thuyết tín hiệu, các doanh nghiệp có lợi nhuận cao muốn phân biệt mình với các công ty có lợi nhuận thấp, thông qua tín hiệu - tức việc công
bố thông tin ra bên ngoài giúp họ tăng giá trị cổ phiếu và thu hút nhiều nhà đầu tư Do đó, các doanh nghiệp có lợi nhuận càng cao thì càng mong muốn công bố thông tin của doanh nghiệp cho nhà đầu tư bên ngoài hơn là doanh nghiệp có ít lợi nhuận Các nghiên cứu của Lang và Lundholm (1993) và Khanna & cộng sự (2004) và các nghiên cứu trong nước của Đoàn Nguyễn
Trang 30Trang Phương (2010) và Phạm Thị Thu Đông (2013) đã có kết quả nghiên cứu biến khả năng sinh lời có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong doanh nghiệp Ngoài ra, lý thuyết đại diện chỉ ra rằng người quản lý của các công ty có lợi nhuận tốt có xu hướng công bố thông tin nhiều hơn để nhận các khoản tiền thưởng hoặc duy trì vị thế của mình (Cheung và cộng sự, 2005)
độ công bố thông tin nhiều hơn bởi vì các chủ nợ yêu cầu công ty công bố thông tin nhiều hơn Khi các doanh nghiệp có đòn bẩy nợ cao sẽ chịu sự giám sát nhiều hơn từ các bên liên quan, các chủ nợ sẽ yêu cầu doanh nghiệp công
bố thông tin nhiều hơn để đảm bảo lợi ích của họ Theo Ahmed và Courtis (1999); Archambalt (2003) nhà quản lý sẽ thuyết phục các chủ nợ trong việc cho vay bằng cách công bố thông tin nhiều hơn để giảm chi phí nợ vay
1.3.4 Công ty kiểm toán độc lập
Chủ thể kiểm toán là một phần không thể thiếu trong BCTC của các công ty niêm yết Chính vì thế những công ty niêm yết được thực hiện bởi các
công ty kiểm toán lớn như big 4 (Doilotte, PWC, E&Y, KPMG) thì kỳ vọng
mức độ công bố thông tin sẽ nhiều hơn vì các công ty kiểm toán lớn quan tâm nhiều hơn đến danh tiếng của mình, chính vì vậy sẽ đầu tư nhiều hơn vào chất lượng công tác kiểm toán báo cáo tài chính của công ty Ngoài ra, sự phụ thuộc vào khách hàng của các công ty lớn thường nhỏ hơn so với các công ty kiểm toán nhỏ Kết quả nghiên cứu của Owusu – Ansah và Yeoh (2005)
Trang 31nghiên cứu đã xác định rằng chủ thể kiểm toán có liên hệ mật thiết đến mức
độ công bố thông tin bắt buộc của doanh nghiệp Nghiên cứu của Fargher và cộng sự (2001); Archambault (2003) nghiên cứu cũng cho kết quả tương tự
Vì vậy khi công ty niêm yết được kiểm toán bởi công ty kiểm toán có qui mô lớn và chuyên nghiệp thì thông tin công bố của doanh nghiệp sẽ minh bạch, chính xác hơn
1.3.5 Thời gian niêm yết của doanh nghiệp
Có nhiều ý kiến cho rằng các doanh nghiệp có thời gian niêm yết càng lâu năm thì mức độ công bố thông tin càng nhiều nhiều vì các doanh nghiệp
có thời gian niêm yết lâu năm thì việc lập, trình bày BCTC theo thời gian sẽ được cải thiện Owusu – Ansah (1998) đã chứng minh rằng thời gian hoạt động của doanh nghiệp có mối quan hệ cùng chiều với mức độ công bố thông tin Nghiên cứu của Al shamari và cộng sự (2007) cũng đã có kết quả tương
tự
1.3.6 Khả năng thanh toán
Tính thanh khoản đề cập đến khả năng đáp ứng thanh toán nợ của doanh nghiệp trong ngắn hạn Tính thanh khoản của doanh nghiệp có liên quan đến người sử dụng thông tin kế toán Theo lý thuyết tín hiệu, doanh nghiệp có khả năng thanh toán càng cao sẽ công bố thông tin càng nhiều nhằm khuếch trương uy tín và tăng giá trị của doanh nghiệp theo nghiên cứu của (Cooke, 1989 và nghiên cứu của Belkaoui và Kahl, 1978) Mặt khác cũng
có ý kiến cho rằng các doanh nghiệp có khả năng thanh khoản yếu có cũng có
xu hướng công bố thông tin nhiều hơn để cho những cổ đông, nhà quản lý bớt
lo lắng về tình hình tài chính của công ty họ (Wallace et al, 1994)
1.3.7 Sàn giao dịch chứng khoán mà công ty đang niêm yết
Các công ty mà tác giả lựa chọn được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh (Hose) và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội
Trang 32(Hnx), liệu mức độ công bố thông tin có khác nhau giữa doanh nghiệp niêm yết trên hai sở giao dịch chứng khoán Theo nghiên cứu của Lê Thị Mỹ Hạnh
(2015) “Minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” mặc dù thị trường chứng khoán Việt Nam
hiện tại có hai sàn giao dịch hoạt động tại TP Hồ Chí Minh (Hose) và Hà Nội (Hnx) Sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh có thời gian hoạt động lâu hơn và có quy mô lớn hơn rất nhiều so với sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và điều quan trọng là các tiêu chí để niêm yết trên thị trường chứng khoán
TP Hồ Chí Minh khó khăn hơn nhiều so với sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội Ngoài ra, theo nhận định củaWorldBank thì sàn giao dịch TP Hồ Chí Minh là sàn giao dịch chứng khoán chính của Việt Nam Từ những nghiên cứu trước và các phân tích trên thì kỳ vọng có sự khác nhau trong mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn giao dịch này
1.3.8 Mức độ độc lập của hội đồng quản trị
Mức độ độc lập ở đây được hiểu là có bao nhiên thành viên kiêm nhiệm các vị trí quản lí trong tổng số thành viên trong hội đồng quản trị của doanh nghiệp Lý thuyết đại diện dự đoán kiêm nhiệm sẽ làm giảm đáng kể vai trò kiểm soát và tăng khả năng thỏa thuận mức thưởng cho nhà quản trị cấp cao (theo Brako, 2007) Đồng thời, người kiêm nhiệm dễ dàng thống trị quyền lực
và thực hiện những hành vi cơ hội, nguy hại cho các cổ đông khác, từ đó việc kiêm nhiệm sẽ làm giảm mức độ công bố thông tin Nghiên cứu của
TS.Nguyễn Chí Đức và ThS Hoàng Trọng (2011) về “CEO và tự nguyện công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết” nghiên cứu 135 doanh
nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh năm 2010 cũng đã kết luận rằng khi chủ tịch hội đồng quản trị kiêm nhiệm CEO thì mức
độ công bố thông tin doanh nghiệp sẽ giảm
Trang 331.3.9 Tỷ lệ sở hữu nhà nước
Sở hữu nhà nước là một đặc trưng của nền kinh tế khi nhà nước tham gia vào sở hữu vốn tại doanh nghiệp áp đặt một cơ chế giám sát khá nghiêm ngặt Chính vì vậy, tồn tại kỳ vọng mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ lệ sở hữu nhà nước và mức độ công bố thông tin Tỷ lệ sở hữu nhà nýớc trong cấu trúc vốn của doanh nghiêp càng cao thì mức độ công bố thông tin càng nhiều (McConnell và Servaes, 1990) Nhưng khi áp dụng tại nền kinh tế Việt Nam thì nhận định đó không còn đúng Theo nghiên cứu của TS Phạm Thị Bích
Ngọc về “Cấu trúc quyền sở hữu và công bố thông tin - cách tiếp cận ở giác
độ doanh nghiệp Việt Nam”, tác giả đã kết luận rằng do đặc điểm của nền
kinh tế tại Việt Nam khác với nền kinh tế thế giới nên khi doanh nghiệp có tỷ
lệ sở hữu vốn trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp thì mức độ công bố thông tin ít hơn các doanh nghiệp 100% vốn tư nhân Những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do tại Việt Nam có các chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp nhà nước, thậm chí là không công bằng đối với các doanh nghiệp tư nhân Nên việc công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTC có thể không phải là gánh nặng đối với các công ty thuộc sở hữu nhà nước như các công ty ngoài nhà nước Do vậy, đối với nền kinh tế Việt Nam thì tỷ lệ sở hữu nhà nước được kỳ vọng có mối quan hệ nghịch chiều với mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp
1.3.10 Lĩnh vực hoạt động kinh doanh
Lĩnh vực hoạt động kinh doanh ở đây tác giả muốn nói đến doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hay phi sản xuất Nghiên cứu có hay không sự khác biệt về mức độ công bố thông tin giữa ngành sản xuất và phi sản xuất Do đặc điểm của các doanh nghiệp sản xuất thường có quy mô lớn, cấu trúc phức tạp, nhân sự nhiều hơn nên các doanh nghiệp sản xuất được kỳ vọng mức độ công bố thông tin sẽ nhiều hơn các doanh nghiệp phi sản
Trang 34xuất.Theo nghiên cứu của Jeffrey và Marie (2003) về mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của các công ty, theo nhóm tác giả, ở góc độ công ty không những các nhóm nhân tố như quyền sở hữu, tình trạng niêm yết, chính sách cổ tức, kiểm toán và đòn bẩy tài chính ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin mà còn quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin Quá trình hoạt động này gồm: quy
mô công ty, lĩnh vực kinh doanh và doanh thu xuất khẩu Trong đó lĩnh vực kinh doanh có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ công bố thông của doanh nghiệp
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của bài luận văn đã trình bày một số vấn đề về thông tin bắt buộc trên thuyết minh báo cáo tài chính cũng như công bố thông tin và tầm quan trọng của nó đến nhà đầu tư, quản lý nhà nước và bản thân TTCK Cũng trong chương này, tác giả cũng đưa ra các lý thuyết liên quan đến công bố thông tin và các nghiên cứu liên quan đến công bố thông tin Tuy có nhiều kết luận khác nhau nhưng mỗi nghiên cứu đều đưa ra những cơ sở riêng để góp phần tìm ra mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin một cách hợp lý nhất Qua đây, ban đầu hình thành nên hệ thống lý thuyết cũng như sơ lược các công trình nghiên cứu để có cơ sở tiếp tục bước vào chương tiếp theo là thiết kế nghiên cứu cho bài luận văn
Trang 35CHƯƠNG 2
THIẾT KẾ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN BẮT BUỘC
TRÊN THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
2.1 CÂU HỎI VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
2.1.1 Câu hỏi nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu của tác giả là việc xây dựng một mô hình phù hợp
để trả lời cho câu hỏi đặt ra
“Những nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh cáo cáo tài chính của của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?”
Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu thì cần kiểm định các giả thiết nghiên cứu để biết được nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng Nghiên cứu kiểm định thông qua dữ liệu trên thuyết minh báo cáo tài chính của của các công ty niêm yết và thông tin tài chính trên thị trường chứng khoán Mục đích của nghiên cứu này là kiểm định mô hình mà tác giả
đã đưa ra để đề xuất mô hình hồi quy phù hợp giả thích mối tương quan giữa mức độ công bố thông tin trên thuyết minh báo cáo tài chính và các nhân tố ảnh hưởng mà tác giả đã đề xuất
2.1.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết H1: Quy mô doanh nghiệp và mức độ công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTC có mối quan hệ thuận chiều
Dựa vào các kết luận của nghiên cứu trước thì quy mô của doanh nghiệp với mức độ công bố thông tin có mối quan hệ thuận chiều tức là doanh
Trang 36nghiệp có quy mô càng lớn thì có xu hướng công bố thông tin càng nhiều để các nhà đầu tư, người quan tâm biết đến tình hình hoạt động kinh doanh cũng như một cách nữa để quản cáo và tạo uy tín cho doanh nghiệp trên sàn giao dịch chứng khoán Hơn nữa, các công ty có quy mô lớn họ thường tuân thủ các quy định, nguyên tắc hơn các công ty nhỏ vì họ luôn nhận được sự theo dõi nhiều phía và sự giám sát của nhà nước Vì vậy, họ cần công bố thông tin nhiều hơn để tạo niềm tin cũng như tránh được sự soát xét từ phía cơ quan quản lý
Giả thuyết H2: Khả năng sinh lời của doanh nghiệp và mức độ công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTC có mối quan hệ thuận chiều
Giả thuyết này cho rằng các doanh nghiệp kinh doanh có lợi nhuận càng cao thì có xu hướng công bố thông tin nhiều hơn các doanh nghiệp có lợi nhuận thấp vì các công ty này muốn giữ được vị thế của mình trên sàn giao dịch chứng khoán để tăng giá trị cổ phiếu và thu hút nhà đầu tư vì doanh nghiệp vừa kinh doanh có lãi vừa minh bạch trong việc công bố thông tin vừa tuân thủ đúng các quy định thì người quan tâm rất yên tâm để hợp tác kinh doanh, đầu tư hay cho vay Vì thế các doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao thì công bố thông tin càng nhiều
Giả thuyết H3: Đòn bẩy nợ của doanh nghiệp và mức độ công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTC có mối quan hệ nghịch chiều
Để giải thích cho giả thuyết này có thể giải thích rằng các công ty có tỷ
lệ nợ cao trong nguồn vốn của mình thì có xu hướng che dấu để có thể nhận được sự tin tưởng từ nhà đầu tư cũng như các tổ chức tín dụng, ngân hàng nên
họ sẽ công bố thông tin ra bên ngoài ít hơn các doanh nghiệp có tỷ lệ nợ thấp Một công ty mà có tỷ lệ nợ quá nhiều trong tổng tài sản của mình sẽ khiến cho nhà đầu tư không yên tâm đầu tư mạnh vốn và các tổ chức tín dụng, ngân hàng cũng sẽ e ngại để quyết định cho các công ty này vay tiếp hay không vì
Trang 37họ nghi ngờ khả năng thanh toán nợ của công ty niêm yết này và rất có thể các khoản cho công ty này vay sẽ trở thành nợ xấu Và để hạn chế những nghi ngờ và dễ dàng hơn trong việc kinh doanh thì các công ty có tỷ lệ nợ cao thường có xu hướng che giấu thông tin của mình, đặt biệt là những thông tin liên quan đến các khoản vay Từ những lập luận trên có thể lập luận rằng tỷ lệ
nợ và mức độ công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTC có mối quan
hệ nghịch
Giả thuyết H4: Doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán big 4 thì mức độ công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTC nhiều hơn các doanh nghiệp được kiểm toán bởi các công ty không phải là big 4
Ở giả thuyết này, có thê giải thích rằng các công ty kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn như Big4 thường quan tâm đến thương hiệu, danh tiếng của mình nên không thể lơ là hay che dấu trong kết quả kiểm toán của các công ty khách hàng của mình và họ cũng ít phụ thuộc khách hàng hơn các công ty kiểm toán nhỏ, tức là các công ty kiểm toán lớn thường quan tâm đến kết quả kiểm toán cuối cùng hơn là thái độ của công ty niêm yết được kiểm toán vì họ tin vào uy tín mà mình có được là điểm cộng rất lớn cho sự lựa chọn của các khách hàng của mình và cũng chính phong cách làm việc chuyên nghiệp này nên họ vẫn có đông đảo khách hàng đến với mình mặt dù một số công ty kiểm toán nhỏ có thể chi phí kiểm toán thấp hơn Chính vì những điểm này, các công ty được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán big 4 thì được kỳ vọng sẽ công bố thông tin nhiều hơn
Giả thuyết H5: Thời gian niêm yết của doanh nghiệp và mức độ công
bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTC có mối quan hệ thuận chiều
Giả thuyết này cho rằng các công ty có thời gian niêm yết càng lâu thì
có mức độ tuân thủ các quy định cũng như trong việc lập và trình bày BCTC
Trang 38sẽ cải thiện hơn các doanh nhiệp mới niêm yết hay có thời gian niêm yết ít hơn Hơn nữa, các công ty niêm yết lâu năm hơn họ sẽ có kinh nghiệp trong việc công bố thông tin như thế nào là đủ để không phải vi phạm các quy định trong việc công bố thông tin Vì vậy, kỳ vọng các công ty có thời gian niêm yết lâu năm trên thị trường chứng khoán sẽ có mức độ công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTC nhiều hơn so với các công ty có thời gian niêm yết ngắn hơn
Giả thuyết H6: Khả năng thanh toán của doanh nghiệp và mức độ công
bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTC có mối quan hệ thuận chiều
Giả thuyết này cho rằng các công ty có khả năng thanh toán các khoản
nợ ngắn hạn cao hơn thì có xu hướng công bố thông tin nhiều hơn các doanh nghiệp có khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn chậm Có thể giả thích rằng các công ty này muốn đưa thông ra bên ngoài như là một cách phát tín hiệu đến các nhà đầu tư để tăng giá trị của doanh nghiệp, các nhà đầu tư cũng yên tâm hơn trong quyết định đầu tư của mình Bên cạnh đó, công ty có khả năng thanh toán cao cũng tạo được niềm tin đối với ngân hàng và các tổ chức tín dụng về khả năng thanh toán các khoản nợ Vì vậy họ cần tích cực công bố thông tin để nhận được sự tin tưởng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vay vốn phục vụ nhu cầu kinh doanh
Giả thuyết H7: Công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP
Hồ Chí Minh có mức độ công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTC khác các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội
Ở giả thuyết này tác giả muốn nghiên cứu để xem có sự khác nhau giữa hai sàn giao dịch chứng khoán tại Việt Nam, một là sàn giao dịch Hose có thời gian hoạt động lâu hơn và quy mô lớn, hai là sàn giao dịch chứng khoán Hnx có thời gian hoạt động ngắn hơn và quy mô nhỏ hơn Hơn nữa các điều kiện để một công ty có thể niêm yết trên sàn giao dịch Hose cũng yêu cầu kỹ
Trang 39lưỡng và khắt khe hơn so với sàn giao dịch Hnx Vì vậy cho nên tác giả kỳ vọng có sự khác biệt trong mức độc công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTC của các các công ty niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán này
Giả thuyết H8: Mức độ độc lập của thành viên trong hội đồng quản trị
có mối quan hệ thuận chiều với mức độ công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTC của doanh nghiệp
Các công ty có mức độ độc lập của các thành viên trong HĐQT càng cao thì có xu hướng công bố thông tin nhiều hơn để minh bạch trong thông tin giữa các thành viên trong hội đồng quản trị Đặc biệt là sự tách biệt giữa chủ tịch HĐQT và giám đốc thì mức độ công bố thông tin càng nhiều vì chức năng của giám đốc và chủ tịch HĐQT là hoàn toàn khác nhau nên việc công
bố thông tin minh bạch sẽ giúp kiểm soát hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp
Giả thuyết H9: Tỷ lệ sở hữu nhà nước và mức độ công bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTC có mối quan hệ nghịch chiều
Trong nhiều nghiên cứu trên thế giới thì kết mối quan hệ trên là mối quan hệ thuận chiều Tuy nhiên, tại Việt Nam, tác giả kỳ vọng rằng các công
ty có có tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước nhiều thì có mức độ công bố thông tin ít hơn các công ty có vốn sơ hữu tư nhân vì do đặc điểm của nên kinh tế Việt Nam Các công ty thuộc sở hữu nhà nước thì có nhiều chính sách ưu đãi hơn nên họ cũng không quá nặng nề trong việc công bố thông tin như các doanh nghiệp ngoài nhà nước
Giả thuyết H10: Doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất thì mức độ công
bố thông tin bắt buộc trên thuyết minh BCTC thông nhiều hơn các doanh nghiệp phi sản xuất
Có thể giải thích rằng các doanh nghiệp sản xuất thường có quy mô
Trang 40lớn, có cấu trúc phức tạo hơn và số lượng lao động cũng nhiều hơn các các doanh nghiệp phi sản xuất nên kỳ vọng mức độ công bố thông tin sẽ nhiều hơn các doanh nghiệp phi sản xuất
2.2 PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU
Trong nghiên cứu khoa học thì có hai phương pháp chọn mẫu cơ bản là ngẫu nhiên và phi ngẫu nhiên Trong nghiên cứu của mình, tác giả chọn phương pháp chọn mẫu ngẫn nhiên đơn giản, tức là chọn ngẫu nhiên các công
ty niêm yết từ danh sách các công ty đã được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán được sắp xếp theo thứ tự ABC Cách chọn mẫu này sẽ mang tính tổng thể cao hơn và việc đo lường các biến độc lập cũng khách quan hơn Mẫu nghiên cứu gồm 100 công ty yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong tổng số khoảng trên 400 doanh nghiệp niêm yết trên cả hai thị trường chứng khoán Cỡ mẫu chiếm tỷ lệ 25% tổng thể Chọn lần lượt ngẫu nhiên 50 công ty niêm yết trên sàn GDCK Hose và 50 công ty niêm yết trên sàn GDCK Hnx, không bao gồm các công ty tài chính, bảo hiểm và ngân hàng vì các loại hình doanh nghiệp này áp dụng một chế độ kế toán và quy định riêng Vì điều kiện về thời gian nên từ 100 công ty nghiên cứu thì tác giả suy ra đặc điểm và tính chất chung của tổng thể Quy mô mẫu là 25% thì chưa phải là lớn nhưng
có thể chấp nhận được để tiến hành nghiên cứu
2.3 ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN BẮT BUỘC TRÊN THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Dựa vào chuẩn mực kế toán Việt Nam - nội dung “trình bày báo cáo tài chính” của mỗi chuẩn mực để xác định danh mục công bố thông tin bắt
buộc trình bày trên thuyết minh báo cáo tài chính (phụ lục 1) để chia nhỏ mục công bố thông tin đến mức nhỏ nhất để dễ dàng thống kê sau này Loại trừ các chuẩn mực liên quan đến các tổ chức tín dụng ngân hàng
- Chuẩn mực hàng tồn kho - VAS02: gồm 7 chỉ mục