Một công ty có khả năng thanh khoản tốt tức là công ty đó có thể chi trả các khoản nợ ngắn hạn, ngược lại, nếu tính thanh khoản của công ty kém công ty có thể mất đi những cơ hội đầu tư,
Trang 1HÀ THỊ KIM PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH THIẾT BỊ, VẬT LIỆU XÂY DỰNG TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng - Năm 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HÀ THỊ KIM PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH THIẾT BỊ, VẬT LIỆU XÂY DỰNG TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRƯƠNG BÁ THANH
Đà Nẵng - Năm 2018
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
7 Kết cấu của đề tài 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH THANH KHOẢN 9
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH THANH KHOẢN 9
1.1.1 Khái niệm về tính thanh khoản 9
1.1.2 Ý nghĩa của tính thanh khoản trong công ty 10
1.1.3 Lý thuyết ưu chuộng về khả năng thanh khoản 12
1.1.4 Lý thuyết người đại diện (The agency theory) 15
1.1.5 Các chỉ số đo lường khả năng thanh khoản 17
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA DOANH NGHIỆP 24
1.2.1 Quy mô doanh nghiệp 24
1.2.2 Tổng nợ 25
1.2.3 Tỷ lệ nợ ngắn hạn 26
1.2.4 Thu nhập từ hoạt động kinh doanh chia cho tổng tài sản, thu nhập từ hoạt động kinh doanh chia cho doanh thu 27
1.2.5 Tỷ lệ hàng tồn kho và tổng tài sản cố định chia tổng tài sản 29
1.2.6 Hệ số giá ghi sổ trên giá thị trường 29
Trang 51.2.7 Doanh thu 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH TBVLXD TRÊN TTCK VIỆT NAM 33
2.1 TỔNG QUAN VỀ NHÓM NGÀNH TBVLXD TRÊN TTCK VIỆT NAM 33
2.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 39
2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 39
2.2.2 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 39
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu 41
2.2.4 Thu thập số liệu 43
2.2.5 Phân tích dữ liệu 44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
3.1 THỰC TRẠNG TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CÔNG TY NHÓM NGÀNH TBVLXD VIỆT NAM NIÊM YẾT TRÊN TTCK VIỆT NAM 51
3.2 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53
3.2.1 Thống kê mô tả 53
3.2.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản 54
3.3 HÀM Ý TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 63
3.3.1 Xây dựng cấu trúc vốn hợp lý 64
3.3.2 Đẩy mạnh vòng quay hàng tồn kho 66
3.3.3 Xem xét, thay đổi tình hình sử dụng nợ vay 67
3.3.4 Có chính sách về cấu trúc tài sản hợp lý 68
3.3.5 Tăng cường chất lượng quản trị tín dụng 69
Trang 63.3.6 Lên kế hoạch hợp lý khi có biến động doanh thu 743.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI ĐỊA PHƯƠNG VÀ NHÀ NƯỚC 753.4.1 Các giải pháp giúp đẩy mạnh hoạt động của thị trường mua bán nợ 753.4.2 NHNN cần có chính sách khuyến khích TCTD tự chuyển nợ xấu thành vốn góp 763.4.3 Các biện pháp từ chính các TCTD 773.4.4 Tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển 793.4.5 Các cơ quan Nhà nước cần tăng cường thúc đẩy nguồn vốn đầu tư cho các doanh nghiệp TBVLXD 80KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 82
KẾT LUẬN 83 PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VIF Hệ số phóng đại phương sai
TBVLXD Thiết bị vật liệu xây dựng
TTCK Thị trường chứng khoán
TCTD Tổ chức tín dụng
NHNN Ngân hàng nhà nước
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
3.1 Bảng thống kê mô tả chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện
hành
52
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
2.1 Tốc độ phát triển ngành xây dựng Việt Nam 34
2.3 10 ngành có chỉ số ROE, ROA trung bình cao nhất
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thanh khoản là chỉ số đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty, bao gồm: Tỷ số thanh khoản hiện thời (Current ratio) và tỷ số thanh khoản nhanh (Quick ratio) (Nguyễn Minh Kiều, 2011) Một công ty có khả năng thanh khoản tốt tức là công ty đó có thể chi trả các khoản nợ ngắn hạn, ngược lại, nếu tính thanh khoản của công ty kém công ty có thể mất đi những
cơ hội đầu tư, hạn chế khả năng quản lý điều hành cũng như có thể làm giảm
uy tín của công ty đó trên thị trường, nguồn vốn bị ứ đọng, và công ty có thể lâm vào tình trạng phá sản Do đó, tính thanh khoản luôn là vấn đề cần được các công ty quan tâm hàng đầu
Hiện nay trong quan hệ thanh toán, hầu hết các doanh nghiệp (doanh nghiệp) đều có xu hướng thực hiện việc tài trợ vốn thông qua vay nợ ngắn hạn Vấn đề đặt ra là liệu doanh nghiệp có khả năng thanh toán và thanh toán đúng hạn các khoản nợ? Đây là câu hỏi, không chỉ bản thân doanh nghiệp mà các ngân hàng, nhà cung cấp, nhà đầu tư, cũng rất quan tâm Cụ thể, nhà đầu tư quan tâm đến tính thanh khoản vì nó quyết định đến chi phí thực hiện các giao dịch của họ; ngân hàng và nhà cung cấp quan tâm đến tính thanh khoản vì nó quyết định khả năng chi trả của doanh nghiệp
Nắm bắt được vấn đề này, nhiều phân tích nghiên cứu về tính thanh khoản của các công ty nói chung đã được thực hiện Kết quả đã chỉ ra dòng tiền hoạt động, tỷ lệ vốn lưu động được xem là một trong yếu tố ảnh hưởng lớn đến khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bên cạnh đó còn phải kể đến quy mô nhỏ lẻ của doanh nghiệp, khả năng cung thanh khoản và các chính sách tài khóa của Chính phủ,…
Trang 11Tuy nhiên, đối với mỗi ngành khác nhau thì có những đặc trưng riêng biệt do đó tính thanh khoản cần được đánh giá dựa trên tính đặc thù lĩnh vực hoạt động của công ty, nhất là đối với các công ty hoạt động trong những ngành thâm dụng vốn như ngành thiết bị, vật liệu xây dựng (TBVLXD) Nhận thức được vai trò quan trọng của tính thanh khoản cũng như hiểu được những nguyên nhân cốt lõi cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của doanh nghiệp thời gian qua các công ty trong ngành TBVLXD đã có sự chú ý quan tâm đến vấn đề này và đưa ra những chính sách cơ cấu vốn nhằm gia tăng tính thanh khoản của doanh nghiệp nhưng vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong đợi Do đó, cần có những nghiên cứu thực nghiệm đánh giá một cách tổng thể về những nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các công
ty thuộc nhóm ngành này là một vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trên cơ sở đó thì đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành thiết bị, vật liệu xây dựng trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả là hết sức
cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến tính thanh khoản của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành TBVLXD trên TTCK Việt Nam
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đưa ra một số hàm ý chính sách và khuyến nghị gia tăng khả năng thanh khoản của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành TBVLXD trên TTCK Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: những nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành TBVLXD trên TTCK Việt Nam
Trang 12 Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: công ty niêm yết thuộc nhóm ngành TBVLXD trên TTCK Việt Nam
+ Thời gian: trong giai đoạn từ năm 2010 - 2016
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin: Tác giả lựa chọn, thu thập dữ liệu và tính toán các chỉ tiêu tài chính trên cơ sở các báo cáo tài chính (BCTC) chủ yếu từ năm 2010 đến năm 2016 của công ty niêm yết thuộc nhóm ngành TBVLXD trên TTCK Việt Nam
Phương pháp xử lý thông tin được thu thập:
+ Tác giả sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp và phương pháp so sánh đối chiếu để phân tích kết quả
+ Sử dụng phương pháp thống kê miêu tả, phân tích mô hình hồi quy đa biến trên cơ sở xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS 20.0
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học, đề tài góp phần tham gia vào việc hoàn thiện mô hình xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các các công
ty niêm yết thuộc nhóm ngành TBVLXD vốn có rất ít nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực này
Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở để các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành TBVLXD trên TTCK nói riêng và các công ty thuộc nhóm ngành TBVLXD nói chung đề ra phương hướng, chiến lược, giải pháp để nâng cao khả năng thanh khoản thông qua kế hoạch cải thiện các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của công ty
Trang 136 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Hiểu rõ được tầm quan trọng về tính thanh khoản, một trong những yếu
tố có thể đảm bảo khả năng sống còn của công ty, trong quá khứ đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về tính thanh khoản và các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản tại nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, áp dụng đa dạng các phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện nghiên cứu tác giả tham khảo một số tài liệu và nghiên cứu:
Khi nghiên cứu về tính thanh khoản cần nhắc đến một trong những lý thuyết nổi bật trong “The General Theory of Employment, Interest and Money” (Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ) của Keynes là “Lý thuyết ưa chuộng tính thanh khoản” Ông đưa ra ba động cơ lý giải cho mục đích nắm giữ tiền mặt của con người, đó là: giao dịch, dự phòng và đầu cơ Học thuyết đã trở thành nền tảng lý thuyết cho nhiều nghiên cứu sau này Bruinshoofd và Kool (2004) đã tiến hành thực nghiệm về khả năng thanh khoản ngắn hạn của các công ty Hà Lan Nghiên cứu sử dụng dữ liệu 453 doanh nghiệp giai đoạn 1986–1997 Các tác giả xem xét yếu tố quy mô, vốn lưu động, tài sản, doanh thu, tổng nợ, nợ ngắn hạn, đầu tư, lợi nhuận trên tài sản, thu nhập không chắc chắn, lãi suất bình quân là biến độc lập Kết quả cho thấy vốn lưu động, đầu tư và lợi nhuận trên tài sản lại có tác động tiêu cực đến khả năng thanh khoản của công ty
Opler và cộng sự (1999) đã thực nghiệm các yếu tố tác động đến thanh khoản của 1048 công ty Mỹ từ 1971 đến 1994 Kết quả cho thấy thanh khoản
có mối tương quan ngược chiều đến quy mô, vốn lưu động, đòn bẩy, chi trả
cổ tức Ở chiều ngược lại, tỷ lệ dòng tiền/tài sản, tỷ lệ chi tiêu vốn/tổng tài sản, rủi ro ngành, và tỷ lệ chi phí nghiên cứu phát triển/doanh thu có tương
Trang 14quan cùng chiều với thanh khoản Các tác giả kết luận rằng các công ty lớn có tiếp cận thị trường vốn tốt hơn sẽ nắm giữ ít tiền mặt hơn, sẽ khiến chỉ số thanh khoản kém hơn
Kim, Mauer và Sherman (1998) nghiên cứu những yếu tố quyết định tính thanh khoản của công ty Họ thu thập mẫu gồm 915 công ty công nghiệp ở
Mỹ trong giai đoạn 1975-1994 Kim, Mauer và Sherman dự đoán rằng có mối quan hệ tích cực giữa chi phí tài chính (CPTC) bên ngoài và đầu tư vào tài sản lưu động Họ cũng dự đoán rằng các công ty có biến động dòng tiền lớn có xu hướng đầu tư vào tài sản lưu động nhiều hơn Ngoài ra, nghiên cứu này cũng chỉ ra tính thanh khoản của công ty có mối quan hệ tích cực với tỷ suất sinh lời của tài sản
Với mẫu nghiên cứu trong 3 năm 2008–2010, Gill và Mathur (2011) đã chọn 164 công ty trên TTCK Toronto, Canada nhằm tìm ra các yếu tố tác động đến thanh khoản của công ty Quy mô, vốn lưu động ròng, tỷ lệ nợ, nợ ngắn hạn, tỷ lệ đầu tư và yếu tố ngành có tác động đến thanh khoản của công
ty Các biến có tác động ngược chiều đến thanh khoản là tỷ lệ nợ, vốn lưu động ròng và tỷ lệ đầu tư
Muhammad Usama (2012) phân tích quản lý vốn lưu động và nghiên cứu ảnh hưởng của vốn lưu động đến lợi nhuận và thanh khoản của công ty Usama lấy mẫu gồm 18 công ty thuộc ngành thực phẩm được niêm yết trên TTCK Karachi trong thời gian từ 2006-2010 Usama kiểm tra tác động của quy mô, kỳ thu tiền bình quân, kỳ trả nợ bình quân, vòng quay hàng tồn kho,
tỷ lệ nợ đến lợi nhuận và thanh khoản của các công ty Qua phân tích hồi quy, kết quả cho thấy có tác động tích cực của quy mô đến lợi nhuận và thanh khoản, trong khi kỳ thu tiền bình quân có tác động tiêu cực đến lợi nhuận của công ty
Trang 15Niaz Ahmed Bhutto và các cộng sự (2011) nghiên cứu mối quan hệ giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt với quy mô công ty, vốn lưu động và lợi nhuận của các công ty ngành công nghiệp ở Pakistan Dữ liệu thu thập được từ các BCTC năm 2009 của 157 công ty đại chúng được niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi Nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tiêu cực giữa chiều dài chu kỳ chuyển đổi tiền mặt với lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), nhưng
có mối quan hệ tích cực với quy mô và lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) Isshaq và Bokpin (2009) thu thập dữ liệu hàng năm giai đoạn 1991-2007 tại Ghana để đánh giá mối quan hệ giữa thanh khoản, quy mô, vốn lưu động,
tỷ lệ đầu tư và lợi nhuận trên tài sản Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô, lợi nhuận trên tài sản, vốn lưu động và tỷ lệ đầu tư có mối quan hệ cùng chiều với khả năng thanh khoản của công ty
Chen và Mahajan (2010) nghiên cứu các công ty từ 45 quốc gia giai đoạn 1994-2005 Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá khả năng thanh khoản của công ty thông qua biến quy mô, dòng tiền/tài sản, vốn lưu động/tài sản, chi phí vốn/tài sản, tỷ lệ nợ, chi trả cổ tức Nghiên cứu cho thấy dòng tiền có tác động cùng chiều trong khi vốn lưu động/tài sản và tỷ lệ nợ có tác động ngược chiều với khả năng thanh khoản
Ferreira và Vilela (2004) nghiên cứu các yếu tố quyết định tính thanh khoản của 400 công ty tại 12 quốc gia EU bao gồm Đức, Áo, Pháp, Hy Lạp,
Ý, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Bỉ, Ireland, Phần Lan và Luxemburg giai đoạn 1987-2000 Kết quả cho thấy tính thanh khoản chịu ảnh hưởng cùng chiều với cơ hội đầu tư và lưu chuyển tiền tệ của công ty Trong khi đó, đòn bẩy, quy mô công ty và nợ có ảnh hưởng ngược chiều đến tính thanh khoản
Ở Việt Nam, bài báo của PGS.TS.Trương Quang Thông (2013) nghiên
Trang 16cứu “Các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam” Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro thanh khoản ngân hàng không những phụ thuộc vào các yếu tố bên trong hệ thống ngân hàng như quy mô tổng tài sản, dự trữ thanh khoản, vay liên ngân hàng và tỷ lệ vốn
tự có trên nguồn vốn mà còn chịu sự tác động của các biến kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát
Năm 2014 Nguyễn Đình Thiên, Nguyễn Thị Mai Trâm, Nguyễn Hồng Thu đã nghiên cứu định lượng các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản của các công ty đang niêm yết (trừ các tổ chức tài chính) tại TTCK Việt Nam (HOSE, HNX) Dữ liệu nghiên cứu được trích từ BCTC từ năm 2007 – 2013 Nghiên cứu đã cho thấy khả năng thanh khoản của các doanh nghiệp niêm yết giai đoạn 2007 – 2013 bị ảnh hưởng nhiều nhất từ tỷ lệ vốn lưu động thuần và
tỷ số P/B Các yếu tố trên cũng có tương tác cùng chiều với khả năng thanh khoản bên cạnh tỷ số P/E và tỷ lệ lưu chuyển tiền thuần Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ
và tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản có tương quan âm đến khả năng thanh khoản
Tuy nhiên các nghiên cứu trên hầu như chưa đề cập đánh giá các nhân
tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các công ty hoạt động riêng biệt trong ngành TBVLXD; một lĩnh vực hoạt động có đặc điểm giá trị hàng tồn kho lớn dẫn đến khả năng thanh toán hiện thời cao nhưng vẫn gặp rủi ro thanh khoản
Do đó, nghiên cứu này thực hiện trong phạm vi 550 mẫu được thu thập từ 50 công ty thuộc nhóm ngành TBVLXD niêm yết trên TTCK đễ làm rõ hơn vấn
đề trên
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Trang 17Chương 1: Cơ sở lý thuyết về tính thanh khoản
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành TBVLXD trên TTCK Việt Nam
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và hàm ý từ kết quả nghiên cứu
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH THANH KHOẢN
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH THANH KHOẢN
1.1.1 Khái niệm về tính thanh khoản
Theo Shim và Siegel (2000, trang 46-47) tính thanh khoản là khả năng thanh lý nợ ngắn hạn phát sinh của công ty (trong vòng một năm) Đảm bảo tính thanh khoản cao không những là mục tiêu của công ty mà là một điều kiện mà không có điều đó không thể đạt được sự liên tục của một doanh nghiệp
Khả năng thanh toán và thanh khoản là hai khái niệm liên quan chặt chẽ và phản ánh chính sách vốn lưu động của công ty Mức thanh khoản thấp
có thể dẫn đến tăng chi phí tài chính và dẫn đến việc không có khả năng thanh toán (Maness & Zietlow 2005, trang 25)
Thực tế giữ tỷ lệ thanh toán của công ty cao hơn 1,0 là cần thiết Điều này chứng tỏ khả năng trả nợ ngắn hạn theo cam kết của các doanh nghiệp, với việc thanh lý tài sản ngắn hạn Bất kỳ tỷ lệ dưới 1,0 có thể có nghĩa là doanh nghiệp có thể không tạo ra được tiền đủ để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán ngắn hạn (Morrel, 2007, trang 65) Tuy nhiên, như Matarazzo (2003, trang 54) đã nhấn mạnh, "nếu một nhà phân tích đang quan sát bảng cân đối của công ty và phải đối mặt với tỷ lệ thanh khoản dưới 1,0, về nguyên tắc, ông sẽ không thể trả nợ đúng hạn" Theo tác giả, tỷ lệ thanh khoản sẽ được hiểu là một chỉ số về mức độ độc lập của công ty đối với các chủ nợ và khả năng đối mặt với khủng hoảng và những khó khăn bất ngờ
Một khẳng định chung khác là thanh khoản cao chưa hẳn là kết quả tốt hơn là thanh khoản thấp, có nghĩa là quản lý kém tài chính Theo Matarazzo
Trang 19(2003, trang 55), tính thanh khoản không cao không phải lúc nào cũng là dấu hiệu của quản lý tài chính kém Nếu tỷ lệ hiện tại cao trong một khoản nợ ngắn hạn, nó có thể là một dấu hiệu của một tổ chức khôn ngoan, tránh chi phí tài chính cho vay ngân hàng, hoặc thậm chí một chiến lược giảm giá tốt với nhà cung cấp khi thanh toán bằng tiền mặt Cũng có thể là trường hợp mức tồn kho cao là một phần của các đặc tính hoạt động của công ty Ví dụ, hàng tồn kho là đăc tính của ngành TBVLXD
Trong thế giới kinh doanh, tồn tại nhu cầu cao về tính thanh khoản của công ty, và trên thực tế các doanh nghiệp thuộc ngành tài chính và công nghiệp quản lý các nhu cầu thanh khoản theo nhiều cách để thực hiện các kế hoạch sản xuất và đầu tư trong tương lai một cách hiệu quả mà không bị đình trệ bởi sự thiếu hụt thanh khoản nhất thời
Nhà đầu tư có thể hiểu được khả năng thanh khoản bằng cách phân tích các BCTC của một công ty Các chỉ tiêu tài chính sau được yêu cầu phải xác định được để có thể đánh giá khả năng thanh khoản của một công ty: Tài sản ngắn hạn và Nợ ngắn hạn
1.1.2 Ý nghĩa của tính thanh khoản trong công ty
Một công ty không thể tiếp tục giữ đúng nghĩa vụ thanh toán và không thể trả nợ đúng hạn của mình đối với các nhà cung cấp tín dụng, dịch vụ và hàng hóa thì công ty đó có thể đang rơi vào tình trạng yếu kém hoặc bị phá sản Không có khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn có thể ảnh hưởng đến hoạt động của công ty và trong nhiều trường hợp có thể ảnh hưởng nhiều đến uy tín của công ty
Thiếu tài sản lưu động hoặc tiền mặt trong tay sẽ làm cho doanh nghiệp
bỏ lỡ những ưu đãi được đưa ra bởi các nhà cung cấp tín dụng, dịch vụ và
Trang 20hàng hóa Mất ưu đãi như vậy có thể dẫn đến chi phí cao hơn do đó lợi nhuận của doanh nghiệp bị ảnh hưởng
Tất cả các bên liên quan đều quan tâm đến khả năng thanh toán của một công ty Các nhà cung cấp tín dụng, hàng hóa và dịch vụ sẽ kiểm tra tính thanh khoản của công ty trước khi bán chịu hay cho vay Đôi khi các ngân hàng yêu cầu thanh khoản bởi khi họ đánh giá một khoản cho vay Nếu một công ty cần một khoản vay, ngân hàng có thể sẽ yêu cầu công ty đó duy trì mức thanh khoản tối thiểu nhất định, như một phần của thỏa thuận cho vay
Vì lý do đó, các bước cải thiện thanh khoản là cần thiết
Các nhân viên cũng quan tâm đến tính thanh khoản của công ty để biết liệu các công ty có thể đáp ứng các nghĩa vụ liên quan đến các nhân viên của mình như: tiền lương, lương hưu, quỹ tích lũy
Tính thanh khoản được các cổ đông quan tâm đến do tác động rất lớn của nó đến lợi nhuận Các cổ đông có thể không thích tính thanh khoản cao khi lợi nhuận được chia cho các cổ đông và thanh khoản có mối quan hệ tỷ lệ nghịch Tuy nhiên, các cổ đông cũng nhận thức được rằng không có khả năng thanh khoản sẽ làm cho công ty mất đi những ưu đãi từ các nhà cung cấp, các
tổ chức cho vay và ngân hàng; và thậm chí công ty có thể bị phá sản nếu như
bị mất tính thanh khoản
Như vậy, trong hoạt động kinh doanh có thể nói rằng tính thanh khoản là mạch máu duy trì sự sống của công ty Một khi công ty bị mất tính thanh khoản thì sẽ không thể thanh toán được các khoản nợ và tất nhiên sẽ rơi vào tình trạng vỡ nợ Lúc này nếu doanh nghiệp không kịp thời khôi phục được tính thanh khoản thì khoảng cách giữa vỡ nợ và phá sản chỉ là vấn đề về thời gian Do đó, để tránh được các rủi ro thanh khoản trong tương lai, các nhà quản lý kinh doanh phải hiểu rõ về tính thanh khoản của công ty
Trang 211.1.3 Lý thuyết ưu chuộng về khả năng thanh khoản
Lý thuyết ưu chuộng về khả năng thanh khoản cho biết chi tiết rằng lợi tức trên trái phiếu của chính phủ là một tài sản có sự gia tăng lên theo thời gian đến khi đáo hạn Các trái phiếu có thời hạn ngắn thường có lãi suất thấp
và trái phiếu có thời gian đáo hạn dài thường có lãi suất thấp hơn Theo lý giải của lý thuyết ưu chuộng về khả năng thanh khoản thì các trái phiếu dài hạn có nhiều rủi ro hơn; có nghĩa là nhà đầu tư dễ bị ảnh hưởng bởi biến động trong lãi suất hơn trái phiếu ngắn hạn và các cá nhân cần được bù đắp cho rủi ro trong việc giữ các trái phiếu này, và khả năng dự đoán thấp hơn (Boudoukh
và Matthew, Tom và Robert, 1999)
Lý thuyết ưu chuộng về khả năng thanh khoản định hướng về những lựa chọn nhà đầu tư được thực hiện trên đánh giá toàn bộ tài sản tài chính, hoặc các tài sản khác Lý thuyết ưu chuộng về khả năng thanh khoản đã đưa
ra các lựa chọn để các nhà đầu tư xác định số tiền đầu tư vào tài sản tài chính
và liên quan đến việc phân phối số tiền này giữa tiền mặt và tài sản tài chính thay thế Một vấn đề có thể được xác định ở đây; đó là, tại sao bất kỳ số dư phải được giữ bằng tiền mặt, mặc dù tài sản tài chính khác? Tác giả phân biệt hai nguồn có thể ưu tiên thanh khoản, trong khi thừa nhận rằng những điều này không loại trừ lẫn nhau Thứ nhất là không biến đổi về lãi suất trong tương lai Thứ hai là có sự biến đổi của lãi suất trong tương lai (Tobin, 1958)
Tobin (1958) cho rằng ưu tiên thanh khoản là lý thuyết về danh mục thuận lợi nhất trong một thế giới tài sản (tiền, trái phiếu) trong đó một tài sản (tiền) không có rủi ro Kết luận cơ bản về lý thuyết của Tobin về ưu đãi thanh khoản và sự lựa chọn danh mục đầu tư dựa trên các thuộc tính tài sản
Theo Lachmann (1937), sự không chắc chắn phải được xem xét như là
Trang 22yếu tố quyết định quan trọng nhất cho sự biến động về quy mô của số dư tiền mặt, tức là nguyên nhân chính của ưu tiên thanh khoản Tuy nhiên, mối liên
hệ nhân quả giữa sự không chắc chắn và sự ưu chuộng thanh khoản trong các nghiên cứu quá khứ không thành công Có thể sự thất bại của tác giả trong việc thiết lập mối quan hệ nhân quả giữa sự không chắc chắn và sự ưa thích
về thanh khoản là do tác giả đã sử dụng từ không chắc chắn trong một khái niệm quá rộng và quá vô hạn Tuy nhiên nỗ lực để xác định mối liên hệ nhân quả giữa sự không chắc chắn và sở thích về thanh khoản đến nay đã được chứng minh
Keynes (1936) đã công bố rằng ưu chuộng thanh khoản là một phản ứng kinh tế không thể thiếu được để đối phó với những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai Tính thanh khoản được đánh giá cao trong một tổ chức thiếu quyết đoán vì nó cho phép các đơn vị kinh tế được ưu tiên không gặp phải sự khó khăn cho tương lai trong những biến động của nền kinh tế Nó giúp cho các doanh nghiệp tổ chức lại các kế hoạch kinh tế của họ, phân phối lại tài sản của họ trong tương lai Tóm lại, lý thuyết về tính thanh khoản của Keynes (1936) thể hiện tầm quan trọng trung tâm rủi ro theo thời gian đối với tính thanh khoản và ưu tiên thanh khoản
Theo thuyết ưu chuộng thanh khoản của Keynes (1936), các cơ quan chức năng đã đạt được các mục tiêu mà tác giả hiểu được về tác động lãi suất, dựa trên cơ sở ưu tiên thanh khoản Lãi suất thay đổi không chỉ thông qua thay đổi tỷ lệ tiền mặt mà ngân hàng trung ương quy định cho các ngân hàng giữ lại, mà còn bằng các hoạt động thị trường mở: bán hoặc mua chứng khoán giữa ngân hàng trung ương và các thành viên thị trường khác
Kaldor (1939) đã quan sát thấy rằng sự ưu chuộng thanh khoản như là
Trang 23một lý thuyết về nhu cầu tiền bạc đã đóng góp to lớn cho việc hoàn thành thuyết tiền tệ Nhu cầu, khả năng cung cấp tiền là yếu tố quyết định chính cho hoạt động kinh tế Tác giả Kaldor (1939) nhấn mạnh rằng ưu tiên thanh khoản là một lý thuyết cho thấy mong muốn giữ tài sản ngắn hạn, dài hạn và tình trạng ưu chuộng thanh khoản chủ yếu do năng suất kinh doanh (Mott, 1985-1986)
Theo Reilly và Keith (2005), lý thuyết ưu đãi về thanh khoản cho rằng lợi nhuận cao hơn phải được đầu tư lâu dài hơn so với các khoản đầu tư ngắn hạn bởi vì các khoản đầu tư ngắn hạn đã được các nhà đầu tư thực hiện để tránh sự biến động rủi ro Một cách khác để giải thích giả thuyết về tính ưu chuộng thanh khoản là nói rằng các nhà cho vay ưa thích các khoản vay ngắn hạn và, để khiến họ cho vay dài hạn, cần phải mang lại lãi suất cao hơn Lý thuyết ưu đãi về tính thanh khoản cũng được gọi là Thuật ngữ Tiền tệ Đặc quyền (Term Premium Theory) và khẳng định rằng sự không chắc chắn và biến động làm cho các nhà đầu tư ưa thích các cổ phiếu ngắn hạn hơn đối với
cổ phiếu có kỳ hạn dài hơn bởi vì chứng khoán ngắn hạn ít biến động hơn và
có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt dự đoán nếu xảy ra sự kiện không lường trước được xảy ra Lý thuyết này lập luận rằng đường cong năng suất nhìn chung dốc lên và bất kỳ hình dạng nào khác cần được xem như một độ lệch tạm thời Để xem lý thuyết ưu chuộng thanh khoản dự đoán lợi nhuận trong tương lai và cách bù đắp Lý thuyết về ưu chuộng thanh khoản cho thấy các nhà đầu tư đã cộng thêm phí bảo hiểm thanh khoản lên các tỷ lệ kế tiếp để lấy được lãi suất thực tế trên thị trường Ví dụ, các nhà đầu tư có thể đạt tỷ lệ 6.3%, 7.9%, và 9.0% Trong thực tế, đường cong năng suất cho thấy một xu hướng đi lên, có nghĩa là, một số sự kết hợp của lý thuyết ưu chuộng thanh khoản và lý thuyết kỳ vọng sẽ giải thích chính xác hơn hình dạng của đường
Trang 24cong năng suất hơn Cụ thể, tỷ lệ lãi suất dài hạn nhà đầu tư nhận được thực tế thường xuyên có xu hướng cao hơn những gì được hình dung từ giả thuyết kỳ vọng giá cả Xu hướng này hàm ý sự tồn tại của phí bảo hiểm thanh khoản Phí bảo hiểm thanh khoản được cung cấp để bù đắp cho nhà đầu tư dài hạn
1.1.4 Lý thuyết người đại diện (The agency theory)
Lý thuyết người đại diện (The agency theory) năm 1976, Jensen và Meckling đưa ra lý thuyết người đại diện khi nghiên cứu các lý thuyết khái quát của công ty gồm lý thuyết hành vi quản lý, chi phí đại diện và cấu trúc vốn chủ sở hữu Lý thuyết người đại diện đề cập đến mối quan hệ giữa một bên là chủ sở hữu của công ty và một bên khác là nhà quản lý – người đại diện thông qua hợp đồng Khi đó, chủ sở hữu ủy quyền cho người đại diện điều hành hoạt động của công ty trong quyền hạn nhất định và hy vọng người đại diện làm việc vì lợi ích tốt nhất cho chủ sở hữu Tuy nhiên, sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý có thể dẫn đến sẽ xung đột tìm ẩn giữa chủ sở hữu và nhà quản lý, những mục tiêu của nhà quản lý có thể khác với các cổ đông Chủ sở hữu và nhà quản lý đều mong muốn tối đa hóa lợi ích của mình, nhưng điều kiện tối đa hóa lợi ích của hai bên có thể khác nhau Chủ sở hữu mong muốn tối đa hóa lợi ích của mình thông qua việc tăng giá trị công ty, còn lợi ích của nhà quản lý thường gắn trực tiếp với thu nhập nhận được từ lương, thưởng nên nhà quản lý có thể không luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho chủ sở hữu Do được ủy quyền trực tiếp điều hành họat động của công ty nên đôi khi nhà quản lý đưa ra những quyết định nhằm tối đa hóa lợi ích của mình như làm tổn hại đến lợi ích của chủ sở hữu (Horne và Wachowicz, 2008; Jensen và Meckling, 1976) Để đảm bảo nhà quản lý luôn đưa ra quyết định tối ưu với lợi ích của chủ sở hữu thì chủ sở hữu phải có các
Trang 25chính sách đãi ngộ, thưởng phù hợp và cơ chế giám sát chặt chẽ Chính sách đãi ngộ phải liên quan trực tiếp đến những quyết định mang đến lợi ích cho cổ đông như thưởng bằng cổ phiếu Lúc này, nhà quản lý sẽ tối đa hóa lợi ích của họ bằng cách nỗ lực làm cho công ty hoạt động hiệu quả, tạo sự thay đổi tích cực trong giá cổ phiếu và tăng khối lượng giao dịch của cổ phiếu (Jensen
và Meckling, 1976) Liên quan đến lý thuyết người đại diện, do tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý làm cho mục tiêu của nhà quản lý có thể khác với mục tiêu của các cổ đông nên vai trò quản trị công ty của nhóm cổ đông lớn sẽ được phát huy tích cực Lợi ích của nhóm cổ đông lớn sẽ bị ảnh hưởng mạnh nếu công ty hoạt động kém hiệu quả nên nhóm cổ đông lớn sẽ tích cực giám sát nhà quản lý nhằm tối đa hóa lợi ích của họ Nhóm cổ đông lớn sẽ gây áp lực để nhà quản lý hoạt động hiệu quả, họ tích cực thực thi quyền bỏ phiếu của cổ đông để thay thế nhà quản lý kém hiệu quả Bởi vì cổ phiếu có tính thanh khoản cao, nhóm cổ đông lớn có thể thực hiện mua bán cổ phiếu một cách dễ dàng nên khi họ không hài lòng với hoạt động điều hành của nhà quản lý, họ gây áp lực đối với nhà quản lý, đe dọa sẽ bán cổ phiếu và khi một khối lượng lớn cổ phiếu được bán ra sẽ làm cho giá cổ phiếu có xu hướng giảm Khi trách nhiệm của nhà quản lý gắn chặt với giá của cổ phiếu thì nhà quản lý có thể đối diện với nguy cơ bị cắt giảm thu nhập, cắt chức hoặc sa thải nếu để cổ phiếu giảm giá Vì vậy, để ngăn cản nhóm cổ đông lớn bán cổ phiếu dẫn đến giảm giá cổ phiếu thì nhà quản lý phải đặt lợi ích của họ cùng với lợi ích của cổ đông, tập trung tạo ra giá trị cho công ty làm cho cổ đông hài lòng Lúc này, cổ phiếu có tính thanh khoản cao có tác động nâng cao giá trị công ty (Edmans và Manso,2011; Edmans và ctg, 2011; Maug, 1998; Dou
và ctg, 2014)
Trang 26Dow và Gorton (1997); Subrahmanyam và Titman (1999) cho rằng cổ phiếu có tính thanh khoản cao sẽ thu hút những nhà đầu tư có thông tin bởi vì
họ có thể che giấu các giao dịch của mình một cách dễ dàng hơn trên thị trường chứng khoán Những nhà đầu tư có thông tin sẽ thực hiện các giao dịch một cách tích cực hơn và làm tăng tính thanh khoản cho cổ phiếu Dựa theo mô hình định giá tài sản vốn CAPM (Capital asset pricing model), đối với những cổ phiếu có tính thanh khoản cao hơn thì nhà đầu tư sẽ yêu cầu tỷ suất sinh lợi thấp hơn vì chi phí để bù đắp cho những tổn thất phải gánh chịu
vì rủi ro thanh khoản tốt hơn, tỷ suất lợi nhuận yêu cầu thấp hơn làm cho giá thị trường của cổ phiếu được định giá cao hơn (Bodie và ctg, 2011; Amihud
và Mendelson, 2012) Chính những giao dịch của các nhà đầu tư có thông tin này làm cho giá cổ phiếu tăng lên và mang thông tin nhiều hơn đến nhà quản
lý công ty, nhà đầu tư, nhà cung cấp, người cho vay, nhân viên và những bên liên quan khác Giá cổ phiếu có thể truyền tải những thông tin hữu ích, tác động đến nhận thức của các bên liên quan hoạt động của công ty Giá cổ phiếu tăng cao làm cho các bên liên quan phi tài chính như nhà cung cấp, nhà cho vay tin tưởng đồng hành cùng công ty, tài trợ vốn với chi phí thấp giúp giảm bớt căng thẳng về tài chính, cải thiện hoạt động kinh doanh Bên cạnh
đó, giá cổ phiếu cao là tín hiệu để các nhà quản lý tin tưởng rằng thị trường đánh giá công ty tốt, có cơ hội đầu tư sinh lợi, theo đó nhà quản lý có thể dựa vào thông tin từ giá cổ phiếu để đưa ra quyết định đầu tư vào các dự án tiềm năng giúp tăng trưởng dòng tiền tương lai, cải thiện giá trị công ty (Dow và Gorton, 1997) Qua đây cho thấy tác động phản hồi từ giá cổ phiếu làm cho tính thanh khoản của cổ phiếu có ảnh hưởng cùng chiều với giá trị công ty
1.1.5 Các chỉ số đo lường khả năng thanh khoản
Trong quan hệ thanh toán, hầu hết các doanh nghiệp đều có xu hướng
Trang 27thực hiện việc tài trợ vốn thông qua vay nợ ngắn hạn Vấn đề đặt ra là liệu doanh nghiệp có khả năng thanh toán và thanh toán đúng hạn các khoản nợ? Đây là câu hỏi, không chỉ bản thân doanh nghiệp mà các ngân hàng, nhà cung cấp, nhà đầu tư, cũng rất quan tâm Để trả lời câu hỏi trên thì phải đo lường tính thanh khoản của doanh nghiệp Các doanh nghiệp chủ yếu sử dụng tỷ số thanh toán để đo lường tính thanh khoản, do các tỷ số này cho biết khả năng của một doanh nghiệp trong việc dùng các tài sản ngắn hạn để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn của mình Tuy nhiên, mỗi tỷ số đều có những ưu và nhược điểm riêng trong việc đo lường tính thanh khoản Sau đây, tác giả sẽ tập trung phân tích những hạn chế của các tỷ số thanh toán này
Thứ nhất, tỷ số thanh toán hiện hành Tỷ số thanh toán hiện hành có
lẽ là tỷ số thanh toán phổ biến nhất được sử dụng để đo lường thanh khoản của một công ty, được xác định bằng cách lấy thương số giữa tài sản ngắn hạn
và nợ ngắn hạn.:
Khh = Tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn
Ý nghĩa của tỷ số thanh toán hiện hành là cho thấy một đồng nợ ngắn hạn của công ty được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn
Tỷ số này được chấp nhận hay không tùy thuộc vào sự so sánh với tỷ
số thanh toán của các công ty cạnh tranh hoặc so sánh với các năm trước để thấy sự tiến bộ hay giảm sút
Nếu tỷ số thanh toán hiện hành giảm cho thấy khả năng thanh toán của công ty giảm và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra
Nếu tỷ số thanh toán hiện hành cao điều đó có nghĩa là công ty luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Tuy nhiên, nếu tỷ số này quá cao
Trang 28chưa hẳn đã tốt Nó chỉ cho thấy sự dồi dào của công ty trong việc thanh toán nhưng có thể dẫn đến việc quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn không hiệu quả (ví dụ: có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi, nợ phải thu nhiều, hàng tồn kho bị
ứ đọng)
Hạn chế của chỉ tiêu này là nó dựa trên khái niệm thanh lý toàn bộ tài sản ngắn hạn của công ty, kể cả những tài sản khó hoán chuyển thành tiền để đáp ứng tất cả các khoản nợ ngắn hạn Trong thực tế, điều này là không thể xảy ra Nhà đầu tư phải nhìn một công ty như là một hoạt động liên tục Thời gian để chuyển đổi tài sản vốn lưu động của công ty thành tiền mặt để thanh toán các nghĩa vụ hiện tại mới chính là chìa khóa cho thanh khoản của công
ty Do đó, trong nhiều trường hợp, tỷ số thanh toán hiện hành không phản ánh chính xác khả năng thanh toán của công ty Để giải quyết hạn chế của chỉ tiêu này, khi phân tích có thể loại trừ những tài sản khó hoán chuyển thành tiền ra khỏi tử số, như: các khoản nợ phải thu khó đòi, hàng tồn kho kém phẩm chất, các khoản thiệt hại chờ xử lý Chúng ta có thể phân tích 2 chỉ tiêu tỷ số thanh toán nhanh và tỷ số thanh toán tức thời
Thứ hai, tỷ số khả năng thanh toán nhanh Tỷ số thanh toán nhanh là một chỉ số thanh khoản chọn lọc hơn so với tỷ số thanh toán hiện hành bởi nó
đo lường tổng các tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản nhất có thể trang trải
nợ ngắn hạn, bằng cách loại trừ chỉ tiêu hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác
ra khỏi tử số vì hai bộ phận này có giá trị và thời gian hoán chuyển thành tiền không chắc chắn nhất Do đó, tỷ số thanh toán nhanh cho phép đánh giá tốt hơn tính thanh khoản của doanh nghiệp so với tỷ số thanh toán hiện hành Cụ thể, tỷ số này được tính như sau:
phải thu)/Nợ ngắn hạn
Tỷ số này nói lên tình trạng tài chính ngắn hạn của một công ty có lành
Trang 29mạnh hay không Về nguyên tắc, hệ số này càng cao thì khả năng thanh toán công nợ càng cao Hệ số này bằng 1 hoặc lớn hơn cho thấy khả năng đáp ứng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn cao, hay nói cách khác, doanh nghiệp không gặp khó khăn nếu cần phải thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn Trái lại, nếu một công ty có tỷ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1, nó sẽ không đủ khả năng thanh toán ngay lập tức toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn Phân tích sâu hơn, khi tiến hành so sánh giữa tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số thanh toán nhanh của một công ty, nếu tỷ số thanh toán hiện hành cao hơn đáng kể, điều này chứng tỏ rằng tài sản ngắn hạn của công ty phụ thuộc nhiều vào hàng tồn kho Trong trường hợp này, tính thanh khoản của tài sản ngắn hạn là tương đối thấp Ngoài ra, cần phải so sánh tỷ số thanh toán nhanh của năm nay so với những năm trước để nhận diện xu hướng biến động, và so sánh với
tỷ số thanh toán nhanh của các doanh nghiệp cùng ngành để đánh giá tương quan cạnh tranh
Tất nhiên, với tỷ lệ nhỏ hơn 1, doanh nghiệp có thể không đạt được tình hình tài chính tốt nhưng điều đó không có nghĩa là doanh nghiệp chắc chắn bị phá sản vì có nhiều cách để huy động thêm vốn cho việc trả nợ Ở một khía cạnh khác, nếu tỷ số thanh toán nhanh quá cao thì vốn bằng tiền quá nhiều, vòng quay vốn lưu động thấp, hiệu quả sử dụng vốn cũng không cao
Xét về tính khả thi theo lý thuyết, như một công ty hoạt động liên tục phải chú trọng vào thời gian cần để chuyển đổi các tài sản vốn lưu động sang tiền mặt,
đó là thước đo thực sự của thanh khoản Vì vậy, nếu các khoản phải thu có thời gian chuyển đổi sang tiền mặt là một vài tháng chứ không phải vài ngày, thì lúc này thuộc tính “nhanh” của chỉ số này là một vấn đề cần xem xét lại
Thứ ba, tỷ số khả năng thanh toán tức thời: Đây là tỷ số thể hiện mối quan hệ giữa tiền và tương đương tiền so với nợ ngắn hạn:
Trang 30Ktt = Vốn bằng tiền / Nợ ngắn hạn
So với hai tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số thanh toán ngay, tỷ số thanh toán tức thời đòi hỏi khắt khe hơn về tính thanh khoản Nó chỉ nhìn vào các tài sản ngắn hạn thanh khoản nhất của công ty, đó là những tài sản có thể
dễ dàng được sử dụng để thanh toán các nghĩa vụ hiện tại một cách nhanh chóng nhất Tỷ số này bỏ qua hàng tồn kho và các khoản phải thu vì không có
sự đảm bảo rằng hai khoản mục này có thể được chuyển đổi nhanh thành tiền mặt để kịp thời đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn
Tuy nhiên rất ít công ty sẽ có đủ tiền mặt và các khoản tương đương tiền để trang trải đầy đủ nợ ngắn hạn, do đó tỷ số thanh toán tức thời rất ít khi lớn hơn hay bằng 1 Đây không nhất thiết là một vấn đề xấu Một doanh nghiệp giữ tiền mặt và các khoản tương đương tiền ở một mức cao để đảm bảo chi trả các khoản nợ ngắn hạn là một việc không thực tế vì như vậy cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không biết sử dụng loại tài sản có tính thanh khoản cao này một cách có hiệu quả Doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng số tiền và các khoản tương đương tiền này để tạo ra doanh thu cao hơn (ví dụ như cho vay ngắn hạn) Mặc dù chỉ tiêu này phản ánh được mức thanh khoản cao nhất của tài sản doanh nghiệp, nhưng tính khả dụng của nó lại tương đối hạn chế Vì vậy, tỷ số thanh toán tức thời ít khi được sử dụng trong báo cáo tài chính và các nhà phân tích cũng ít khi dùng chỉ số này trong phân tích cơ bản một công ty
Nhận xét, việc sử dụng ba tỷ số thanh toán nêu trên trong việc đo lường tính thanh khoản có những hạn chế nhất định, chưa đủ để đánh giá chính xác tính thanh khoản của doanh nghiệp Vì vậy, để khắc phục được những hạn chế trên thì ngoài ba tỷ số khả năng thanh toán, doanh nghiệp có thể vận dụng
Trang 31chỉ số Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (Cash Conversion Cycle-CCC) Đây là chỉ
số được Verlyn Richards và Eugene Laughlin giới thiệu vào năm 1980 trong bài viết “Một sự tiếp cận chu kỳ chuyển đổi tiền mặt để phân tích tính thanh khoản” Nói cách khác, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt phản ánh độ dài của thời gian mà một doanh nghiệp bán hàng tồn kho, thu các khoản phải thu và trả các khoản phải trả của mình Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt được tính theo công thức sau:
CCC = ICP + RCP – PDP
Trong đó:
- ICP là kỳ chuyển đổi hàng tồn kho (Inventory Conversion Period): Chỉ tiêu này phản ánh số ngày của một vòng quay hàng tồn kho và được tính như sau:
ICP = Giá trị hàng tồn kho bình quân/Giá vốn hàng bán trung bình ngày
- RCP là kỳ thu tiền khách hàng (Receivable Conversion Period): Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân của một chu kỳ nợ, từ khi bán hàng đến khi thu tiền và được tính như sau:
RCP = Số dư bình quân nợ phải thu/Doanh thu trung bình ngày
- PDP là kỳ thanh toán cho nhà cung cấp (Payable Deferral Period): Chỉ tiêu này phản ánh số ngày doanh nghiệp cần để thanh toán các khoản phải trả của mình và được tính như sau:
PDP = Số dư bình quân nợ phải trả/Giá vốn hàng bán trung bình ngày
Từ công thức tính CCC, ta thấy chỉ tiêu này càng thấp sẽ rút ngắn chu
kỳ chuyển đổi tiền mặt, giảm lượng vốn lưu động bị ứ đọng, nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng tính thanh khoản cho doanh nghiệp
Trang 32Ngoài ra, chỉ số vòng quay vốn lưu động cũng là một chỉ số quan trọng cần được xem xét để đánh giá tính thanh khoản của một doanh nghiệp
Vốn lưu động là một thước đo tài chính đại diện cho khả năng thanh khoản có sẵn của một doanh nghiệp, tổ chức hoặc thực thể khác, bao gồm cả
cơ quan chính phủ Cùng với các tài sản cố định như nhà máy và thiết bị, vốn lưu động được coi là một phần của vốn hoạt động Vốn lưu động được tính như tài sản hiện tại trừ nợ ngắn hạn Nếu tài sản hiện tại ít hơn nợ ngắn hạn, một thực thể có một thiếu vốn lưu động, còn được gọi là thâm hụt vốn lưu động Một công ty có thể có lợi nhuận nhưng khả năng thanh khoản thấp nếu tài sản của nó không thể dễ dàng được chuyển đổi thành tiền mặt Vốn lưu động lớn hơn 0 là cần thiết để đảm bảo rằng một công ty có thể tiếp tục các hoạt động của nó và nó có đủ khả năng để đáp ứng cả nợ ngắn hạn cũng như các chi phí vận hành sắp tới Việc quản lý vốn lưu động liên quan đến quản lý hàng tồn kho, các khoản phải thu và phải trả, và tiền mặt
Vốn lưu động của doanh nghiệp được sử dụng cho các quá trình dự trữ, sản xuất và lưu thông Quá trình vận động của vốn lưu động bắt đầu từ việc dùng tiền tệ mua sắm vật tư dự trữ cho sản xuất, tiến hành sản xuất và khi sản xuất xong doanh nghiệp tổ chức tiêu thụ để thu về một số vốn dưới hình thái tiền tệ ban đầu với giá trị tăng thêm Mỗi lần vận động như vậy được gọi là một vòng luân chuyển của vốn lưu động doanh nghiệp sử dụng vốn đó càng
có hiệu quả bao nhiêu thì càng có thể sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhiều bấy nhiêu Vì lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn từng đồng vốn lưu động làm cho mỗi đồng vốn lưu động hàng năm có thể mua sắm nguyên, nhiên vật liệu nhiều hơn, sản xuất ra sản phẩm
và tiêu thụ được nhiều hơn Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tức là
Trang 33có thể tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, rút ngắn thời gian vốn lưu động nằm trong lĩnh vực dự trữ, sản xuất và lưu thông, từ đó giảm bớt số lượng vốn lưu động chiếm dùng, tiết kiệm vốn lưu động trong luân chuyển Thông qua việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, doanh nghiệp có thể giảm bớt số vốn lưu động chiếm dùng mà vẫn đảm bảo được nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh như cũ hoặc với quy mô vốn lưu động không đổi doanh nghiệp vẫn có thể mở rộng được quy mô sản xuất
Thứ 4, Tổng tiền mặt và chứng khoán thị trường chia cho tổng tài sản Theo Horne và David (1968), thanh khoản có thể được thể hiện như là khả năng nhận ra giá trị trong một phương tiện được chấp nhận của trao đổi
Là phương tiện trao đổi có thể chấp nhận được, tiền là tài sản có tính thanh khoản nhất và cũng là một chuẩn so sánh giá trị của các loại tài sản tiền tệ khác với mức độ thay thế của nó Ngoài ra, tính thanh khoản có hai chiều: một là thời gian cần thiết để chuyển đổi tài sản thành tiền, và thứ hai là sự chắc chắn của giá thực hiện, tức là sự ổn định của tỷ giá hối đoái giữa tiền và tài sản Kim và David và Ann (1998) và John (1993) đo cả tính thanh khoản dưới dạng tiền mặt và chứng khoán thị trường chia cho tổng tài sản
Trên cơ sở các lý thuyết đã nêu, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả đo lường tính thanh khoản dưới dạng tiền mặt và chứng khoán thị trường chia cho tổng tài sản
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Quy mô doanh nghiệp
Nghiên cứu gần đây cho thấy các doanh nghiệp nhỏ thường gặp khó khăn trong việc vay mượn so với các doanh nghiệp lớn (Whited, 1992), và
Trang 34(Fazzari và Petersen, 1993) Ngoài ra, Barclay và Jr (1996) lập luận rằng chi phí tài trợ bên ngoài thấp hơn đối với các công ty lớn vì các nền kinh tế quy mô là kết quả của chi phí cố định chi phí đáng kể cho chi phí phát hành chứng khoán
Một số nghiên cứu trước đây cho thấy rằng quy mô có tác động đến tính thanh khoản của doanh nghiệp Các công ty lớn thường đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh, có dòng tiền ổn định, khả năng phá sản cũng thấp hơn các công ty nhỏ Mặt khác, các công ty nhỏ có nhiều khả năng phải đối mặt với khó khăn vay nợ hơn các công ty lớn (Whited, 1992, Fazzari và Petersen, 1993) và nguồn vốn tín dụng cho các công ty nhỏ có xu hướng “khô” nhanh hơn so với nguồn vốn tín dụng cho các công ty lớn (Fazzari, Hubbard và Petersen 1988) Ngoài ra, Barclay và Smith (1996) lập luận rằng các công ty lớn hơn sẽ có chi phí tài chính bên ngoài ít tốn kém hơn vì tính kinh tế theo quy mô được tạo ra bởi một phần chi phí cố định đáng kể trong chi phí phát hành cổ phiếu
Hạn chế thanh khoản trở nên nghiêm trọng hơn khi quy mô công ty giảm Các công ty nhỏ và ít tuổi bị hạn chế thanh khoản hơn so với các công
ty lớn và lâu năm, do đó có nhiều khả năng phải đối mặt với các loại hình phân bổ tín dụng
Cụ thể trong nghiên cứu “Những nhân tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ thanh khoản của các công ty ở Canada” của Amarjit Gill và Neil Mathur (2011) trên cơ sở số liệu điều tra 164 công ty ở Canada niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Toronto trong thời gian ba năm 2008 - 2010 đã chỉ ra rằng tính thanh khoản có mối tương quan thuận với quy mô doanh nghiệp
1.2.2 Tổng nợ
Tỷ lệ nợ của công ty có thể sẽ có liên quan đến tài sản lưu động Có ít
Trang 35nhất hai lý do hợp lý Baskin (1987) lập luận rằng khi tỷ lệ nợ của công ty tăng, chi phí của các quỹ đầu tư vào thanh khoản tăng lên do đó làm giảm tính thanh khoản Thêm vào đó, John (1993) lập luận rằng các công ty có khả năng tiếp cận thị trường nợ - theo tỷ lệ nợ - có thể sử dụng khoản vay để thay thế cho việc duy trì cổ phiếu tài sản lưu động Các công ty có toàn quyền tham gia vào thị trường nợ và các nguồn vay bổ sung cũng có thể sử dụng trách nhiệm pháp lý thay thế cho việc bảo vệ thanh khoản
Tỷ lệ nợ của công ty có thể sẽ ảnh hưởng không tốt đến tài sản lưu động, ví dụ như cơ hội đầu tư trong tương lai, gây ra nhu cầu nắm giữ thanh khoản Trong hoạt động, các công ty có lịch sử dòng tiền ổn định hơn luôn mong muốn có thanh khoản cao hơn để đáp ứng cho các trường hợp bất trắc (Bruinshoofd and Kool, 2004) Ngoài ra, các công ty thực hiện vay nợ ngắn hạn nhiều hơn để cố gắng có cấp độ nắm giữ thanh khoản cao hơn vì sự không chắc chắn của tái cấp vốn cho các khoản vay (Holmstrom và Tirole, 1998) Tuy nhiên, mức độ cao hơn của sự cân bằng thanh khoản có thể làm trầm trọng thêm vấn đề thông tin bất đối xứng, do đó dẫn đến tăng chi phí tài chính bên ngoài (Myers và Rajan, 1998) Để giảm thiểu các vấn đề thông tin bất đối xứng, Myers và Rajan mô tả rằng thông qua các kênh giám sát, tăng đòn bẩy có thể sẽ dẫn đến giảm mức độ thanh khoản
1.2.3 Tỷ lệ nợ ngắn hạn
Nếu một doanh nghiệp có thể kiếm được một tỷ suất lợi nhuận trên vốn cao hơn chi phí lãi vay mà họ phải vay vốn, thì sẽ có lợi cho việc kinh doanh khi vay tiền Điều đó không có nghĩa là khôn ngoan, đặc biệt nếu có rủi
ro về sự không phù hợp về tài sản/ nợ, nhưng có nghĩa là có thể tăng thu nhập bằng cách tăng lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Trang 36thị trường tự do các nhà đầu tư phản ứng với xếp hạng đầu tư trái phiếu Các nhà đầu tư yêu cầu mức lãi suất thấp hơn nhiều như là bồi thường cho việc đầu tư vào trái phiếu được gọi là trái phiếu đầu tư Các trái phiếu có lãi suất cao khi khả năng vỡ nợ cao
Một rủi ro khác đối với các nhà đầu tư liên quan đến nợ ngắn hạn là khi một công ty vay hoặc phát hành trái phiếu trong môi trường lãi suất thấp Mặc
dù đây có thể là một chiến lược thông minh, nếu lãi suất tăng đột ngột, nó có thể làm giảm lợi nhuận trong tương lai khi những trái phiếu này cần phải được tái cấp vốn
Baskin (1987) lập luận rằng khi tỷ lệ nợ ngắn hạn của công ty tăng lên, chi phí sử dụng để đầu tư vào thanh khoản tăng làm giảm tính thanh khoản Thêm vào đó, John (1993) lập luận rằng các công ty có khả năng tiếp cận với thị trường nợ - như tỷ lệ nợ ngắn hạn - có thể sử dụng khoản vay để thay thế cho việc duy trì cổ phiếu tài sản lưu động Các công ty có toàn quyền tham gia vào thị trường nợ và các nguồn vay bổ sung cũng có thể sử dụng trách nhiệm pháp lý thay thế cho việc bảo vệ thanh khoản
1.2.4 Thu nhập từ hoạt động kinh doanh chia cho tổng tài sản, thu nhập từ hoạt động kinh doanh chia cho doanh thu
Theo Gitman (2003), tài sản hiện tại của doanh nghiệp phải ở mức có thể bao trùm các khoản nợ phải trả với mức an toàn hợp lý Theo Chandra (2001), thường thì tính thanh khoản cao được coi là dấu hiệu của sức mạnh tài chính, tuy nhiên theo một số tác giả như Assaf Neto (2003, trang 22), thanh khoản cao có thể không được mong đợi như thanh khoản thấp Điều này có thể là do tài sản lưu động thường không có lợi nhuận sau đó là tài sản cố định Điều đó có nghĩa là số tiền đầu tư vào tài sản hiện tại tạo ra lợi nhuận ít hơn sau đó là tài sản cố định, đại diện là chi phí cơ hội Bên cạnh đó, số tiền được
Trang 37sử dụng trong tài sản hiện tại tạo ra chi phí bổ sung cho việc bảo trì, do đó làm giảm lợi nhuận của công ty
Tuy nhiên, Arnold (2008) cho rằng việc thu nhập mang lại một số lợi ích, chẳng hạn như (1) cung cấp thanh toán cho các chi phí hàng ngày như tiền lương, vật liệu và thuế (2) Do thực tế là các dòng tiền trong tương lai không chắc chắn, việc giữ tiền mặt tạo ra một biên lợi nhuận an toàn cho những suy thoái cuối cùng Và cuối cùng (3) quyền sở hữu tiền mặt đảm bảo thực hiện các khoản đầu tư có lãi suất cao đòi hỏi thanh toán ngay
Do đó, nhiệm vụ quan trọng của người quản lý tài chính là đạt được sự cân bằng giữa tính thanh khoản và lợi nhuận hợp lý cho công ty Như vậy, theo Perobeli, Pereira và David (2007), quyết định về mức độ thanh khoản nên dựa vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan sau:
- Nguồn tài nguyên đang sử dụng càng lớn, lợi nhuận càng thấp (tuy nhiên cũng thấp hơn nguy cơ khả năng chi trả);
- Tuy nhiên, một mức vốn lưu động thấp hơn cùng thời gian làm tăng khả năng sinh lợi của nó cũng làm tăng nguy cơ khả năng chi trả của công ty, bằng cách giảm thời gian dài các quỹ có thể được chuyển sang các tài sản kém sinh lời hơn
Theo John (1993), theo cách tương tự, thu nhập từ hoạt động kinh doanh thể hiện cơ sở có tổ chức thanh khoản Các công ty có toàn quyền nhập cảnh vào thị trường trách nhiệm và các nguồn vốn vay bổ sung cũng có thể sử dụng khoản tiền vay để thay thế cho việc bảo vệ thanh khoản Do đó, các doanh nghiệp có thu nhập từ hoạt động có chất lượng cao (OI/S hoặc OI /TA) hoặc nền tảng vay vốn hoàn chỉnh có thể chịu đựng được mức thanh khoản thấp
Vì lý do này, thanh khoản sẽ thấp đối với các doanh nghiệp có thu nhập cao
Trang 381.2.5 Tỷ lệ hàng tồn kho và tổng tài sản cố định chia tổng tài sản
Một thước đo bổ sung về tính thanh khoản của việc tái tổ chức tài sản
là "giá trị an ninh" của các nguồn lực (Shleifer và Vishny, 1992)
Hàng tồn kho thường không tồn tại ở dạng ban đầu trong các hoạt động hiện tại của công ty mà không mất giá trị, chúng được bán như một phần của sản xuất, công việc hoặc dịch vụ đã hoàn thành hoặc dưới hình thức hàng hoá
và hình thức phải thu Nhưng để tính các khoản nợ phải thu phải được chuyển thành tiền mặt, giống như việc xử lý hàng tồn kho trước khi việc bán phải mất một thời gian Do đó, thời gian kinh doanh không trùng với thời gian luân chuyển tài sản lưu động khác bằng số chênh lệch về doanh thu phải thu và phải trả Nếu các khoản phải trả lớn hơn các khoản phải thu thì doanh thu của tiền mặt sẽ cao hơn so với tất cả tài sản lưu động Trong tình huống ngược lại kết quả sẽ ngược lại Titman and Wessels (1988) đề nghị các giải pháp thay thế cho tỷ lệ thanh khoản an toàn hoạt động thông qua việc giải quyết hàng tồn kho Tỷ lệ hàng tồn kho và tổng tài sản cố định chia tổng tài sản (IGP / TA) là tỷ số để đánh giá chi phí thanh khoản của việc tổ chức lại tài sản Một công ty có nguồn tài chính bảo đảm cao chỉ muốn giữ được mức độ thanh khoản nhanh Do đó, mức độ thanh khoản sẽ giảm dần trong IGP / TA
1.2.6 Hệ số giá ghi sổ trên giá thị trường
Hệ số giá ghi sổ trên giá thị truờng là chỉ tiêu để xác định giá trị thực sự của một công ty bằng cách so sánh giá trị kế toán (giá trị ghi sổ) với giá trị thị truờng của công ty đó Giá trị kế toán được tính dựa trên những con số đã ghi nhận trên sổ kế toán, như giá trị tài sản cố định, tài sản lưu động hay tính toán qua nguồn vốn gồm có nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả Đây là những tài sản đã được ghi nhận trong quá khứ, tức là từ khi công ty sở hữu tài sản này
Trang 39và theo nguyên tắc giá phí lịch sử thì nó được giữ nguyên đến khi tài sản đó mất đi Do vậy có thể nói giá kế toán là tổng giá trị tài sản của công ty tính trong một thời kỳ nhất định, thường trong một niên độ kế toán, và nó chỉ thay đổi khi có sự thay đổi qui mô hay cơ cấu tài sản
Giá trị thị trường của công ty được quyết định trên thị trườngchứng khoán qua việc vốn hóa thị trường, tức là cổ phiếu do công ty đó phát hành có
"giá trị" như thế nào đối với các nhà đầu tư Công ty phát hành cổ phiếu với một mệnh giá nhất định trên thị trường sơ cấp, nhưng khi nó được mua bán trên thị trường thứ cấp thì giá cả có thể khác xa so với mệnh giá Nếu công ty làm ăn có hiệu quả và tiềm năng thu đuợc lợi nhuận cao thì giá trị của cổ phiếu sẽ tăng, tức là giá thị truờng của công ty cũng theo đó tăng; ngược lại nếu làm ăn kém hiệu quả thì giá cổ phiếu giảm và tất nhiên giá trị công ty theo đó giảm đi Như vậy thực chất giá thị truờng của công ty cao hay thấp không có mối quan hệ nhân quả với giá kế toán Giá kế toán là "giá lịch sử" thì giá thị trường là "giá hiện tại" được tính theo từng thời điểm, và luôn biến động trên thị truờng chứng khoán
Myers và Rajan (1995) lập luận rằng việc tài trợ nợ rủi ro có thể tạo ra các ưu đãi đầu tư tối ưu không tốt khi cơ hội đầu tư của công ty bao gồm các lựa chọn tăng trưởng Các nhà quản lý hoạt động thay mặt chủ sở hữu cổ phần
có thể không thực hiện các lựa chọn đầu tư có lợi nhuận do nợ vay chiếm một phần lợi nhuận của chủ sở hữu bằng hình thức giảm khả năng vỡ nợ Công ty
có thể giảm rủi ro về tình trạng khó khăn về tài chính và từ đó giảm bớt động lực đầu tư vào các giải pháp tăng trưởng bằng cách duy trì tính thanh khoản
dư thừa Quan điểm này cũng dự đoán mối quan hệ tích cực giữa tính thanh khoản của công ty và hệ số giá ghi sổ trên giá thị trường
Trang 401.2.7 Doanh thu
Doanh thu là tổng luồng các khoản lợi ích kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động bình thường của một tổ chức khi các luồng vốn này dẫn đến tăng vốn chủ sở hữu, trừ các khoản tăng liên quan đến đóng góp của các bên tham gia
Theo John (1993), việc doanh thu biến đổi là một trong những biến số quyền lực để báo cáo cho điểm thanh khoản được chứng minh bằng các thỏa thuận và các ý định phòng ngừa Doanh thu biến đổi đã thay thế cho thỏa thuận mong muốn của công ty