1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Xây dựng dự thảo Luật tài nguyên và môi trường biển, hải đảo " docx

6 683 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng dự thảo luật tài nguyên và môi trường biển, hải đảo
Tác giả TS. Nguyễn Quang Tuyến
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật môi trường
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 295,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về biển và hải đảo ra đời đã tạo cơ sở pháp lí để quản lí, khai thác, bảo vệ tài nguyên và môi trường TN&MT biển, hải đảo và tăng cường hợp tác quốc t

Trang 1

TS NguyÔn Quang TuyÕn *

1 Sự cần thiết phải xây dựng Luật tài

nguyên và môi trường biển, hải đảo

Biển và hải đảo là vùng lãnh thổ rộng

lớn, có vai trò, vị trí quan trọng đối với sự

nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, có ý nghĩa

chiến lược và đặc biệt quan trọng đối với

công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong

giai đoạn hiện nay cũng như về lâu dài Nghị

quyết Hội nghị trung ương 4 khoá X về

Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã

nêu rõ: “Xây dựng và thực hiện chiến lược

phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng

tâm, trọng điểm; sớm đưa nước ta trở thành

quốc gia mạnh về biển trong khu vực, gắn

liền với bảo vệ quốc phòng, an ninh và hợp

tác quốc tế”

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về

biển và hải đảo ra đời đã tạo cơ sở pháp lí để

quản lí, khai thác, bảo vệ tài nguyên và môi

trường (TN&MT) biển, hải đảo và tăng

cường hợp tác quốc tế trên biển và hải đảo,

tăng cường khả năng kiểm soát biển nhằm

bảo đảm an ninh, quốc phòng; đã bước đầu

xác định phạm vi và chế độ pháp lí của từng

vùng biển cụ thể, từng bước tăng cường

quản lí nhà nước về biển và hải đảo, tạo cơ

sở và điều kiện cho việc đấu tranh bảo vệ

các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam;

bảo vệ chủ quyền của Việt Nam, giải quyết

vấn đề ranh giới các vùng biển và thềm lục

địa chồng lấn với các nước láng giềng

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về biển và hải đảo còn bộc lộ những tồn tại và bất cập chủ yếu sau đây:

- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lí, bảo vệ TN&MT biển, hải đảo tuy nhiều về số lượng nhưng lại mang tính quản lí chuyên ngành, thiếu các nội dung liên quan đến quản lí tổng hợp và thống nhất đối với tài nguyên và bảo vệ môi trường (BVMT) biển, hải đảo Trong các luật chuyên ngành, các bộ, ngành chỉ đề cập các nội dung quản lí về biển và hải đảo phù hợp với chức năng quản lí nhà nước được giao, chưa đề cập các vấn đề liên ngành và các công cụ quản lí tương ứng Việc phối kết hợp giữa các ngành, các cấp trong khai thác,

sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên và BVMT biển, hải đảo còn có những bất cập

nhất định Ví dụ: Trong thời gian dài, việc

phối hợp giữa các bộ, ngành, các địa phương chưa được pháp luật quy định cho cơ quan

cụ thể nào đóng vai trò chủ trì, đầu mối điều phối Chỉ đến khi Nghị định của Chính phủ

số 25/2009/NĐ-CP ngày 6/3/2009 về quản

lí tổng hợp tài nguyên và BVMT biển, hải đảo được ban hành (sau đây gọi tắt là Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 6/3/2009)

* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

quy định Bộ TN&MT có chức năng quản lí

nhà nước về TN&MT biển thì bất cập này

mới được khắc phục Tuy nhiên, Nghị định

số 25/2009/NĐ-CP ngày 6/3/2009 cũng mới

chỉ là văn bản dưới luật nên giá trị pháp lí

chưa cao Trong khi đó, quản lí biển và hải

đảo là lĩnh vực quản lí rộng lớn liên quan

không chỉ đến lợi ích của các ngành, các địa

phương mà còn liên quan đến lợi ích của

Việt Nam và những quốc gia láng giềng có

vùng biển tiếp giáp với nước ta Để nâng cao

hiệu quả cơ chế phối, kết hợp đa ngành, đa

lĩnh vực trong quản lí tổng hợp TN&MT

biển, hải đảo thì cần phải ban hành văn bản

có giá trị pháp lí cao hơn Nghị định số

25/2009/NĐ-CP ngày 6/3/2009

- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

về BVMT biển, hải đảo nằm rải rác trong

các văn bản quy phạm pháp luật chuyên

ngành và còn quy định chưa cụ thể, chi tiết

và phù hợp với đặc thù của biển, hải đảo nên

đã gây ra những khó khăn trong quá trình tổ

chức thực hiện Ví dụ: Các quy định về

BVMT biển nằm trong Luật BVMT, Luật

dầu khí, Bộ luật hàng hải, Luật nuôi trồng

thuỷ sản… Tuy nhiên, trong các luật này vẫn

còn thiếu những quy định về quản lí tổng

hợp đới bờ; thiếu quy định về quản lí tổng

hợp về biển nhằm bảo đảm hài hoà giữa việc

khai thác tiềm năng, thế mạnh của biển dưới

góc độ kinh tế với việc duy trì, bảo vệ bền

vững tài nguyên, môi trường biển v.v

- Công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng

cao nhận thức của các cấp, các ngành và

nhân dân về vị trí, vai trò của TN&MT biển,

hải đảo chưa đầy đủ nên chưa tích cực tổ

chức triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ liên quan đến bảo vệ TN&MT biển, hải đảo, đặc biệt là việc xây dựng chiến lược và hoạch định chính sách về vấn đề này v.v Nhằm khắc phục những tồn tại nêu trên, tạo cơ sở pháp lí cho việc quản lí tổng hợp

và thống nhất về tài nguyên và BVMT biển, hải đảo, tiến tới bảo vệ tốt TN&MT biển, hải đảo đồng thời đáp ứng yêu cầu thực hiện Nghị quyết Hội nghị trung ương 4 khoá X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về biển, hải đảo của Việt Nam thì việc ban hành Luật TN&MT biển, hải đảo là cần thiết

2 Nguyên tắc, quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật TN&MT biển, hải đảo

Việc xây dựng Luật TN&MT biển, hải đảo cần dựa trên nguyên tắc và quan điểm chỉ đạo cơ bản sau đây:

- Quán triệt đường lối, tư tưởng chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết Hội nghị trung ương 4 khoá X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020

- Cụ thể hoá các quy định của điều ước quốc tế liên quan đến khai thác, sử dụng hợp

lí tài nguyên và BVMT biển mà Việt Nam là thành viên

- Kế thừa và phát triển những thành quả của các văn bản quy phạm pháp luật về TN&MT biển, hải đảo đã ban hành như Nghị định của Chính phủ số 25/2009/NĐ-CP ngày 6/3/2009 về quản lí tổng hợp tài nguyên và BVMT biển, hải đảo; các quy định của các luật chuyên ngành liên quan đến vấn đề quy hoạch, cấp phép khai thác, sử dụng tài

Trang 3

nguyên và BVMT biển để cân nhắc đưa các

quy định quản lí mang tính tổng hợp, liên

ngành vào nội dung Luật TN&MT biển, hải

đảo Đồng thời bổ sung vào dự thảo Luật

TN&MT biển, hải đảo các quy định liên

quan đến việc thực hiện nhiệm vụ quản lí

nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển, hải

đảo, như: nội dung thanh tra, kiểm tra, xử lí

vi phạm, hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa

học biển và BVMT biển v.v

- Xây dựng Luật TN&MT biển, hải đảo

dựa trên quan điểm quản lí tổng hợp, bảo

đảm quản lí thống nhất, liên ngành, liên

vùng đồng thời hài hoà lợi ích chung giữa

các bên trong khai thác, sử dụng TN&MT

biển, hải đảo, bảo đảm phát triển bền vững

- Xây dựng Luật TN&MT biển, hải đảo

phải đảm bảo sự thống nhất, tương thích với

các luật khác có liên quan và phù hợp với

thực tế, điều kiện cụ thể của nước ta hiện

nay đồng thời góp phần hoàn thiện hệ thống

pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật về

TN&MT biển, hải đảo nói riêng

3 Về nội dung cơ bản của Luật

TN&MT biển, hải đảo

Theo chúng tôi, Luật TN&MT biển, hải

đảo cần được xây dựng theo mô hình một

đạo luật khung quy định những vấn đề về

quản lí thống nhất TN&MT biển, hải đảo

dưới khía cạnh quản lí và bảo vệ TN&MT

Bởi lẽ, TN&MT biển, hải đảo là lĩnh vực rất

rộng; là đối tượng quản lí của nhiều bộ,

ngành và địa phương vào các mục đích khác

nhau như an ninh - quốc phòng; du lịch;

giao thông, vận tải biển; nuôi trồng, khai

thác và chế biến thuỷ sản; thăm dò và khai

thác dầu khí v.v Hiện các lĩnh vực quản lí chuyên ngành này được một số đạo luật chuyên ngành điều chỉnh như Luật du lịch, Luật thuỷ sản, Bộ luật hàng hải, Luật dầu khí v.v Vì vậy để tránh sự chồng lấn, chồng chéo, mâu thuẫn với các đạo luật khác có liên quan, Luật TN&MT biển, hải đảo nên xây dựng theo mô hình là đạo luật khung quy định những vấn đề chung về quản lí nhà nước về TN&MT biển, hải đảo Chỉ có như vậy thì đạo luật này sau khi được ban hành mới có tính khả thi

Chúng tôi cho rằng Luật TN&MT biển, hải đảo được xây dựng không thể thiếu một

số nội dung cơ bản sau: Một là cần có một

chương đề cập những quy định chung, bao gồm: phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; vấn đề sở hữu tài nguyên biển, hải đảo; nội dung, nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về bảo vệ TN&MT biển, hải đảo;

Hai là cần có một chương quy định về quy

hoạch, kế hoạch sử dụng tài nguyên và BVMT biển, hải đảo; bởi lẽ, quy hoạch, kế hoạch sử dụng tài nguyên và BVMT biển, hải đảo là công cụ chủ yếu để Nhà nước thống nhất quản lí về TN&MT biển, hải đảo Hơn nữa, trong các luật chuyên ngành chưa đề cập vấn đề này nên dẫn đến việc thiếu sự phối, kết hợp liên ngành, liên vùng trong quản lí, khai thác và bảo vệ TN&MT

biển, hải đảo; Ba là cần có một chương quy

định về nội dung quản lí tài nguyên biển, hải đảo Để tránh sự chồng lấn, chồng chéo với nội dung quản lí chuyên ngành về biển của các bộ, ngành, nội dung quản lí nhà nước về tài nguyên biển, hải đảo ở chương

Trang 4

này nên chú trọng đến việc quản lí hoạt

động nghiên cứu khoa học và điều tra cơ

bản tài nguyên biển và quản lí hoạt động

khai thác, sử dụng tài nguyên biển; Bốn là

cần có một chương quy định về BVMT

biển, hải đảo; bởi lẽ, các quy định về vấn đề

này nằm rải rác ở những đạo luật chuyên

ngành và các văn bản hướng dẫn thi hành

Hơn nữa, các quy định hiện hành về vấn đề

này cũng chưa đề cập đầy đủ, toàn diện và

cụ thể đến việc BVMT biển, hải đảo; đặc

biệt là cơ chế phối, kết hợp thống nhất giữa

các bộ, ngành và các địa phương trong việc

BVMT biển, hải đảo; Năm là muốn bảo vệ

TN&MT biển, hải đảo có hiệu quả thì một

nội dung không thể thiếu được là nguồn lực

sử dụng cho hoạt động này Vì vậy, dự thảo

Luật TN&MT biển, hải đảo cần có một

chương quy định về nguồn lực để quản lí tài

nguyên và BVMT biển, hải đảo; trong đó đề

cập các nguồn vốn tài chính; nguồn lực con

người và các hoạt động khoa học, công

nghệ v.v được sử dụng để quản lí tài

nguyên và BVMT biển, hải đảo; Sáu là

TN&MT biển, hải đảo là môi trường hoạt

động của nhiều ngành kinh tế Hơn nữa,

Việt Nam cùng với các nước láng giềng

trong khu vực sở hữu chung biển Đông Để

hoạt động quản lí, bảo vệ TN&MT biển, hải

đảo đạt hiệu quả cao góp phần duy trì hoà

bình và mối quan hệ láng giềng hữu nghị

với các nước trong khu vực Đông Nam Á

thì không thể không có sự hợp tác quốc tế

trong lĩnh vực này Vì vậy, Dự thảo Luật

TN&MT biển, hải đảo cần có một chương

quy định về hợp tác quốc tế về TN&MT

biển, hải đảo; Bảy là muốn hoạt động quản

lí TN&MT biển, hải đảo đạt hiệu quả cao thì cần có sự phân định trách nhiệm một cách cụ thể giữa các cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền đặt trong mối quan hệ nhà nước thống nhất quản lí TN&MT biển, hải đảo Điều này một mặt vừa đảm bảo sự quản lí thống nhất của Nhà nước đối với TN&MT biển, hải đảo, mặt khác vừa tăng cường trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương và các đoàn thể quần chúng trong việc quản lí và bảo vệ TN&MT biển, hải đảo một cách bền vững Do đó, Dự thảo Luật TN&MT biển, hải đảo cần có một chương quy định về trách nhiệm của các bộ, ngành, uỷ ban nhân dân các tỉnh ven biển, của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên và trách nhiệm phối hợp giữa

các tổ chức nói trên; Tám là một nội dung

rất quan trọng của quản lí nhà nước nói chung và quản lí nhà nước về TN&MT biển, hải đảo nói riêng là thanh tra, xử lí vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo Trên thực tế, một trong những nguyên nhân của hoạt động thực thi pháp luật đạt hiệu quả thấp là việc thanh tra, xử lí vi phạm pháp luật còn chưa kịp thời, chưa dứt điểm với những chế tài xử phạt thấp chưa đủ sức răn

đe Để từng bước khắc phục tồn tại này, trong xây dựng pháp luật cơ quan soạn thảo phải rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định mới với những biện pháp chế tài xử lí nghiêm khắc Có như vậy mới mong ngăn chặn từng bước tình trạng vi phạm pháp luật và pháp luật mới có đủ sức răn đe Với cách tiếp cận như vậy, chúng tôi cho rằng

Trang 5

Dự thảo Luật TN&MT biển, hải đảo cần có

một chương quy định về thanh tra xử lí vi

phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo, bồi

thường thiệt hại về môi trường biển, hải

đảo với các nội dung về trách nhiệm kiểm

tra, thanh tra, xử lí vi phạm, giải quyết

tranh chấp, khiếu nại liên quan đến quản lí,

khai thác tài nguyên và BVMT biển, hải

đảo và vấn đề bồi thường thiệt hại về môi

trường biển, hải đảo; Chín là để bảo đảm

tính khả thi của Dự thảo Luật và đảm bảo

sau khi ban hành, Luật TN&MT biển, hải

đảo nhanh chóng đi vào cuộc sống và phát

huy hiệu quả Theo chúng tôi, Dự thảo Luật

TN&MT biển, hải đảo cần có một chương

quy định về điều khoản thi hành bao gồm

các nội dung về hiệu lực thi hành, tổ chức

thực hiện và việc hướng dẫn tổ chức thi

hành Luật

4 Về một số nội dung cụ thể của Dự

thảo Luật TN&MT biển, hải đảo

a Về phạm vi điều chỉnh

Như phần trên đã đề cập, TN&MT biển,

hải đảo là lĩnh vực rộng lớn, là địa bàn hoạt

động của nhiều ngành kinh tế quan trọng

TN&MT biển, hải đảo lại là đối tượng quản

lí chuyên ngành của các bộ, ngành, địa

phương và thuộc phạm vi điều chỉnh của các

luật có liên quan Trong bối cảnh đó, việc

xây dựng Luật TN&MT biển, hải đảo cần

xác định rõ phạm vi và đối tượng điều chỉnh

nhằm tránh sự chồng lấn, chồng chéo với

các luật khác có liên quan; đồng thời đảm

bảo tính khả thi sau khi luật này được ban

hành Chúng tôi cho rằng, cần xây dựng

Luật TN&MT biển, hải đảo theo mô hình là

một luật khung về lĩnh vực TN&MT biển, hải đảo Điều này có nghĩa là luật này chỉ quy định những vấn đề chung về quản lí nhà nước về tài nguyên biển, hải đảo và BVMT biển, hải đảo Các hoạt động quản lí chuyên ngành của các bộ, ngành và hoạt động khai thác, sử dụng tiềm năng, lợi thế của biển, hải đảo không chỉ tuân thủ những quy định của các luật chuyên ngành mà còn chịu sự điều chỉnh của Luật TN&MT biển, hải đảo trong việc BVMT, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường, suy thoái môi trường biển, hải đảo Hoạt động quản lí TN&MT biển, hải đảo là hoạt động quản lí mang tính chất đa ngành, đa lĩnh vực Để hoạt động quản lí TN&MT biển, hải đảo nằm trong quỹ đạo thống nhất và có hiệu quả, Dự thảo Luật cần xác định rõ vai trò “thủ lĩnh” - một cơ quan làm nhiệm vụ đầu mối, kết nối, tích hợp các hoạt động quản

lí mang tính chất đa ngành, đa lĩnh vực Với cách tiếp cận đó, Luật TN&MT biển, hải đảo

có phạm vi và đối tượng điều chỉnh bao gồm: 1) Hoạt động quản lí TN&MT biển, hải đảo; 2) Hoạt động khai thác, sử dụng và bảo vệ TN&MT biển, hải đảo

b Về đối tượng áp dụng

Phạm vi của Luật TN&MT biển, hải đảo được xác định là các hoạt động quản lí, khai thác, sử dụng và bảo vệ TN&MT biển, hải đảo thì đối tượng áp dụng của luật này là chủ thể của các hoạt động nêu trên; theo đó, đối tượng áp dụng của Luật TN&MT biển, hải đảo bao gồm: tổ chức, cá nhân trong nước;

tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài có các hoạt động

Trang 6

quản lí, khai thác, sử dụng và bảo vệ

TN&MT biển, hải đảo trong phạm vi lãnh

thổ Việt Nam

c Quy hoạch, kế hoạch sử dụng tài

nguyên và môi trường biển, hải đảo

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng TN&MT

biển, hải đảo là công cụ chủ yếu để giúp

Nhà nước quản lí TN&MT biển, hải đảo

Do đó quy hoạch, kế hoạch sử dụng

TN&MT biển, hải đảo cần được xây dựng

nhằm hai mục tiêu cơ bản là: 1) Quản lí nhà

nước về TN&MT biển, hải đảo; 2) Bảo vệ

TN&MT biển, hải đảo Vì vậy, xây dựng

quy hoạch, kế hoạch sử dụng TN&MT biển,

hải đảo phải dựa trên các căn cứ chủ yếu

như: Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát

triển kinh tế-xã hội của cả nước; chiến lược

BVMT quốc gia; định hướng chiến lược

phát triển bền vững và chiến lược biển của

Việt Nam; đặc điểm, vị trí địa lí, quy luật tự

nhiên của các vùng biển, hải đảo; kết quả

điều tra cơ bản về TN&MT biển, hải đảo;

thực trạng và dự báo nhu cầu khai thác, sử

dụng tài nguyên và BVMT biển, hải đảo

của cả nước, của vùng và của các tỉnh,

thành phố trực thuộc trung ương ven biển;

giá trị tài nguyên và mức độ dễ bị tổn

thương của môi trường biển, hải đảo

d Quản lí hoạt động khai thác, sử dụng

tài nguyên biển

Chúng tôi cho rằng muốn quản lí hoạt

động khai thác, sử dụng tài nguyên biển, hải

đảo thống nhất và có hiệu quả song hành

với việc BVMT thì Dự thảo Luật TN&MT

biển, hải đảo cần đề cập việc quản lí hoạt

động nghiên cứu khoa học và điều tra cơ bản tài nguyên biển Đây là hoạt động có ý nghĩa lớn nhằm đưa ra các thông số chuyên môn, kĩ thuật về thực trạng tài nguyên biển giúp Nhà nước định hướng xây dựng chính sách về khai thác, sử dụng tài nguyên biển

có hiệu quả Dự thảo Luật cần xác định rõ nội dung và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển; trong đó cần xác định rõ vai trò và nhiệm vụ của Bộ TN&MT

Mặt khác, muốn quản lí hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển có hiệu quả,

Dự thảo Luật cũng cần đề cập vấn đề cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên biển, hải đảo với các nội dung cụ thể như căn cứ cấp phép, hồ sơ xin khai thác, sử dụng, thẩm quyền cấp phép, thời hạn cấp phép, thuế khai thác, sử dụng TN&MT biển, hải đảo và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ TN&MT biển, hải đảo Về thẩm quyền cấp phép nên quy định thẩm quyền này cho Chính phủ, Bộ TN&MT cấp phép đối với các dự án lớn có tầm ảnh hưởng quốc gia hoặc có ảnh hưởng lớn đến TN&MT biển, hải đảo Còn đối với việc cho phép tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên trên các vùng biển, hải đảo

đã giao cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lí thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành Điều này

sẽ mang tính khả thi trong điều kiện hiện nay và không gây ra sự mâu thuẫn với các luật chuyên ngành có liên quan./

Ngày đăng: 17/02/2014, 02:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w