1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển với việc bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa huế

128 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Quan Hệ Giữa Văn Hóa Và Phát Triển Với Việc Bảo Tồn, Phát Huy Các Giá Trị Di Sản Văn Hóa Huế
Tác giả Nguyễn Thị Ngân
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Văn Đính
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Khoa học xã hội và nhân văn
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI của Đảng ta chỉ rõ một trong những phương hướng của hoạt động chăm lo phát triển văn hóa là “Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy

Trang 1

NGUYỄN THỊ NGÂN

MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN VỚI VIỆC BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ

DI SẢN VĂN HÓA HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn: PGS.TS LÊ VĂN ĐÍNH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Đà Nẵng, tháng năm 2015

TÁC GIẢ

NGUYỄN THỊ NGÂN

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của vấn đề: 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 5

4 Phương pháp luận,phương pháp nghiên cứu: 6

5 Kết cấu của luận văn: 6

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu: 6

CHƯƠNG 1 VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN, BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11

1.1.VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN 11

1.1.1.Văn hóa và cấu trúc, của văn hóa: 11

1.1.2 Phát triển và các quan điểm về phát triển xã hội 14

1.1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển kinh tế- xã hội 15

1.2 BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 18

1.2.1 Lý luận chung về Di sản văn hoá : 18

1.2.2 Quan điểm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở nước ta hiện nay 29

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HUẾ THỜI GIAN QUA 35

2.1 TỔNG QUAN VỀ DI SẢN VĂN HÓA HUẾ 35

2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Huế 35

Trang 5

2.1.2 Hệ thống Di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Huế hiện nay 40 2.2 HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA HUẾ - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 49

2.2.1 Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy những giá trị của di sản văn hóa Huế 49

2.2.2 Một số hạn chế và những vấn đề đặt ra 69 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 82

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA HUẾ TRONG THỜI GIAN TỚI 84

3.1 QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA HUẾ 84

3.1.1 Những quan điểm, định hướng chung về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa 84

3.1.2 Những quan điểm định hướng cụ thể để bảo tồn và phát huy di sản văn hóa để xây dựng Thừa Thiên Huế là trung tâm văn hóa, du lịch đặc sắc của cả nước 84 3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA HUẾ TRONG THỜI GIAN TỚI 87

3.2.1 Chủ trương xã hội hóa và khẳng định vai trò chủ thể của nhân dân và tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức trong việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Huế [52] 87

3.2.2 Quy hoạch tổng thể hệ thống di sản gắn với bảo tồn và phát huy

di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh 92

3.2.3 Gắn kết chặt chẽ giữa văn hóa với du lịch, du lịch với văn hóa nhằm bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Huế 97

Trang 6

3.2.4 Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học trong việc cung cấp các luận cứ khoa học trong việc đề ra các phương án tối ưu để bảo tồn và phát

huy giá trị Di sản văn hóa Huế: 99

3.2.5 Xây dựng chiến lược nhằm quảng bá di sản văn hóa Huế với quốc tế thông qua các kỳ Festival Huế 101

3.2.6 Ưu tiên, tạo điều kiện để đào tạo lực lượng nghệ sĩ kế cận trong bảo tồn, lưu truyền âm nhạc truyền thống Huế, trong đó đặc biệt quan tâm đến Nhã nhạc cung đình Huế 103

3.2.7 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm đối với các di sản văn hóa 105

3.2.8 Tăng cường đầu tư ngân sách cho công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa 106

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 108

KẾT LUẬN 109

KIẾN NGHỊ 111 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)

Trang 7

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI của Đảng ta chỉ rõ một trong những

phương hướng của hoạt động chăm lo phát triển văn hóa là “Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá truyền thống, cách mạng …Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định

của pháp luật về sở hữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hoá, văn nghệ, bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá với phát triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hoá trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài Xây dựng

và thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá, ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số [21, tr 224,225]

Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI

về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, đã chỉ rõ thực trạng trên lĩnh vực bảo tồn, phát huy

di sản văn hóa: “Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII,

sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật

Trang 8

thể được bảo tồn, tôn tạo; nhiều phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân được quan tâm Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường, thể chế văn hóa từng bước được hoàn thiện.Tuy nhiên, so với những thành tựu trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng … Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hiệu quả chưa cao, nguy cơ mai một chưa được ngăn chặn” Nghị quyết cũng đã chỉ ra nhiệm vụ là “Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản v ăn hóa với phát triển kinh tế - xã hội B ảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển du lịch Phục hồi và bảo tồn một số loại hình nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một Phát huy các di sản được UNESCO công nhận, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam” [3, tr 9,11]

1.2.Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ XIV nhiệm

kỳ 2010 – 2015 đã chỉ rõ thành tựu, hạn chế, phương hướng trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Huế là “Công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích Cố đô Huế, di tích lịch sử cách mạng, di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh và bảo tồn các giá trị phi vật thể được chú trọng; đã đầu tư xây dựng, tôn tạo khu du lịch văn hoá lịch sử Quang Trung - Huyền Trân Công chúa, Chín hầm, tạo thêm sản phẩm mới về tham quan du lịch; gắn kết chặt chẽ giữa di sản với văn hoá và du lịch, giữa du lịch, văn hoá với di sản…”, “ Công tác trùng tu các hạng mục di tích còn chậm, do nguồn ngân sách chưa đáp ứng”, “Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc và văn hoá Huế gắn với bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá truyền

thống, là khâu đột phá để phát triển du lịch Giữ gìn và phát huy giá trị di sản

Trang 9

văn hoá vật thể và phi vật thể, xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành trung tâm văn hoá, du lịch đậm đà bản sắc dân tộc, văn hoá Huế Gắn kết chặt chẽ công tác bảo tồn di sản văn hoá với kinh tế du lịch và thông tin đối ngoại nhằm tuyên truyền sâu rộng các giá trị văn hoá dân tộc, văn hoá Huế Phối hợp chặt chẽ với Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch tập trung đầu tư hoàn thành cơ bản trùng tu Đại Nội và một số di tích quan trọng, để xứng đáng là trung tâm du lịch đặc sắc của Việt Nam”.[23, tr 38,48,73]

Năm 1981, trong Lời kêu gọi cứu vãn di sản văn hóa Huế tại Hà Nội, Tổng giám đốc UNESCO lúc bấy giờ - ông M’Bow - đã cho rằng, di sản Huế đang ở trong tình trạng lâm nguy, đang đứng bên vực thẳm của sự diệt vong

và sự quên lãng…chỉ có “một sự cứu nguy khẩn cấp” với nỗ lực của Chính phủ Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế thì mới có thể giúp Huế thoát ra khỏi tình trạng trên Trong thời gian qua; dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VHTT&DL), sự lãnh đạo của Đảng bộ Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế…công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nhân loại ở Cố đô Huế đã được triển khai và đạt kết quả rất quan trọng: Di sản văn hoá Huế đã được UNESCO

chính thức công nhận đã vượt qua “giai đoạn cứu nguy khẩn cấp” để bước vào “thời kỳ ổn định và phát triển” Công cuộc bảo tồn di tích Huế chuyển

sang giai đoạn ổn định và phát triển bền vững Những kết quả quan trọng ấy được thể hiện trên các mặt: bảo tồn, trùng tu di tích; bảo tồn văn hóa phi vật thể; bảo tồn, tôn tạo cảnh quan môi trường các khu di sản; hợp tác quốc tế, ứng dụng thành tựu khoa học bảo tồn và đào tạo nguồn nhân lực; phát huy giá trị di sản

Tuy nhiên những khó khăn, thử thách trên hành trình phát triển được đặt

ra dưới đây, đòi hỏi Đảng bộ Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế cần phải

nỗ lực hơn nữa trong công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác bảo tồn

Trang 10

và phát huy giá trị di sản văn hóa nhân loại ở cố đô Huế: Trước hết, đó là khả năng cần phải có sự đầu tư tương xứng để bảo tồn di sản Huế với một quần thể di tích đồ sộ, với những di sản văn hóa phi vật thể phong phú và với một môi trường cảnh quan rộng lớn gắn bó hữu cơ với đô thị Huế Thứ hai là cơ chế thế nào để quản lý, đầu tư và phát huy di sản Huế một cách hiệu quả nhất? Thứ ba là vấn đề nguồn nhân lực để đáp ứng cho công cuộc bảo tồn di sản Huế trong thời kỳ mới Thứ tư là thách thức đến từ sự cạnh tranh giữa các khu di sản trong khu vực Thứ năm là thách thức và khó khăn đến từ mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển… Để vượt qua những khó khăn và thử thách này đòi hỏi phải có một sự nhận thức đúng đắn trong toàn thể cộng đồng về di sản Huế, đòi hỏi phải có một chiến lược phù hợp cùng những sách lược linh hoạt của lãnh đạo địa phương, phải có sự nỗ lực lớn hơn từ đơn vị được trực tiếp giao phó việc quản lý khu di sản Huế (mà trọng trách là Đảng bộ Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế), phải có sự chung sức của nhân dân, và cuối cùng là sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế cũng là một yêu cầu không thể thiếu trong bối cảnh hội nhập cùng thế giới

1.3 Để góp phần vận dụng những quan điểm được nêu trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyêt Hội nghị Trung ương 9 khóa XI của Đảng Cộng sản Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa, lĩnh vực bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá truyền thống, cách

mạng…chúng tôi cho rằng việc chọn đề tài “Mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển với việc bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa Huế” làm luận văn

tốt nghiệp Cao học Triết học là vấn đề có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

2.1 Mục tiêu

Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ; Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng giữ gìn và phát

Trang 11

huy di sản văn hóa ở Thừa Thiên Huế hiện nay.Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc giữ gìn và phát huy các di sản văn hóa

ở địa phương hiện nay

2.2 Nhiệm vụ:

Để thực hiện mục tiêu trên, nhiệm vụ được đặt ra là:

- Làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề giữ gìn và phát huy di sản văn hóa ở nước ta hiện nay Đặc biệt là làm rõ các khái niệm liên quan đến luận văn như : văn hóa, phát triển, di sản văn hóa, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về bảo tồn

và phát huy di sản văn hóa.Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng

- Phân tích thực trạng, một số vấn đề đặt ra của việc bảo tồn , phát huy di sản văn hóa ở Thừa Thiên Huế hiện nay Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra các quan điểm làm cơ sở và một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa tại địa phương trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa tại cố đô Huế

là trách nhiệm của toàn Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế; trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ tập trung vào hoạt

Trang 12

động bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa tại cố đô Huế của Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế

- Thời gian: Nghiên cứu kết quả của bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa tại cố đô Huế từ năm 1982 đến nay (trọng tâm là từ năm 1993 đến nay)

4 Phương pháp luận,phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận macxit về văn hóa và phát triển; các quan điểm của Đảng ta về về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc nói chung và bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá

truyền thống, cách mạng nói riêng

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu: Lịch sử - lôgich, Phân tích - tổng hợp, Thống kê - so sánh…

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo…Luận văn có 3

chương, 6 tiết:

Chương 1: Văn hóa và phát triển; bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân

tộc ở nước ta hiện nay – cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn

hóa Huế thời gian qua

Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Huế trong thời gian tới

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu:

6.1 Các công trình khoa học liên quan đến lĩnh vực văn hóa; bảo tồn

và phát huy giá trị di sản văn hóa được công bố

+ Sách

Trang 13

Phan Thanh Hải: Với di sản văn hóa Huế, Nxb Thuận Hóa 2012 Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế: (Tập ảnh giới thiệu) 30 năm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Huế, Huế 2012 Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế: Di sản văn hóa Huế - Nghiên cứu và bảo tồn, Huế 2012 Phương Lựu (1984), Từ trong di sản, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội Nguyễn Văn Sáu - Hồ Văn Thông (chủ biên) (2001), Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị

Quốc gia, Hà Nội Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đảng, Toàn tập, Tập 52, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm BanChấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Đảng Cộng sản Việt Nam (204), Các nghị quyết của Trung ương Đảng (2011- 2014), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

+ Hội thảo, Kỷ yếu

+ PGS, TS Lê Văn Đính: Vấn đề bảo tồn và phát huy những giá trị của

di sản văn hóa Huế trong bối cảnh toàn cầu hóa, Hội thảo “Tổng kết 15 năm nghị quyết Trung ương 5 khóa VII về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Hội thảo do Học viện CT – HC Khu vực III tổ chức năm 2013 TS Phan Thanh Hải : Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cố đô Huế theo tinh thần nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Hội thảo

“Tổng kết 15 năm nghị quyết Trung ương 5 khóa VII về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Hội thảo do Học viện CT –

HC Khu vực III tổ chức năm 2013

+ PGS, TS Lê Văn Đính - TS Phan Thanh Hải: Khai thác, bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Huế trong hoạt động phát triển các nguồn lực cho

du lịch miền Trung, Hội thảo“Phát triển các nguồn lực cho du lịch miền Trung và Tây Nguyên ”, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng, 6/2013

Trang 14

+ Nguyễn Văn Cao (Chủ tịch UBND Tỉnh Thừa Thiên – Huế): 30 năm bảo tồn di sản Huế: Cuộc hành trình vươn đến những tầm cao, in trong Kỷ yếu 30 năm thành lập Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố Huế Huế, 6/2012 TS Phan Thanh Hải (Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế): 30 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành, Kỷ yếu 30 năm thành lập Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố Huế Huế, 6/2012 +Đại học Kinh tế Đà Nẵng: Kỷ yếu Hội thảo: Phát triển kinh tế - xã hội miền Trung và Tây Nguyên gắn với yêu cầu tái cơ cấu kinh tế, Đà Nẵng ngày 26/6/2012; với trên 50 bài viết trên các lĩnh vực, trong

đó có lĩnh vực văn hóa: TS Nguyễn Thị Mỹ Thanh: Định hướng các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội văn hóa dân gian Quảng Nam gắn với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế ThS Lưu Anh Rô: Tăng trưởng Kinh tế tác

động đến Văn hóa và Văn học nghệ thuật: nhìn từ Đà Nẵng …

+ Ban điều phối Vùng duyên hải miền Trung – UBND Thành phố Đà

Nẵng: Kỷ yếu hội thảo: Xúc tiến đầu tư vùng duyên hải miền Trung Đà Nẵng

ngày 21,22/3/2013; với trên 55 bài viết trên các lĩnh vực trong đó có lĩnh vực văn hóa – du lịch: Trần Bắc Hà: Phát triển không gian du lịch các tỉnh miền Trung PGS TS Trần Đình Thiên: Xúc tiến đầu tư phát triển du lịch vùng duyên hải miền Trung.Ths TS Nguyễn Phúc Nguyên: Phát triển du lịch miền Trung: Góc nhìn từ chuỗi giá trị TS Hà Văn Siêu: Tạo đột phá trong thu hút đầu tư phát triển du lịch các tỉnh/thành phố vùng duyên hải miền Trung Ngô

Minh Chính: Xây dựng thương hiệu du lịch biển vùng duyên hải miền Trung

+ Tạp chí quốc gia:

KTS Phùng Phu (Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế):

Giải pháp nào để bảo tồn di sản Huế bền vững? Kiến thức ngày nay, ngày 24/11/2008 Lê Hữu Ái, Phát huy vai trò của văn hóa truyền thống trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Tạp chí Lý luận chính trị số 12/2009 Lê Hữu Ái, Ảnh hưởng của văn hóa truyền thống đến phát triển kinh tế vIệt Nam trong bối

Trang 15

cảnh toàn cầu hóa , Tạp chí Lý luận chính trị số 12/20010 Nguyễn Hồ Minh

Trang: Một số nhân tố tác động đến sự phát triển ngành du lịch ở Tỉnh Thừa

Thiên – Huế, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, Số 3 (112) 2012 PGS, TS Nguyễn

Ngọc Hòa: Phát huy tính đặc thù của bản sắc văn hóa trong việc thúc đẩy sự

phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền Trung, Tạp chí Sinh hoạt lý luận,

Số 1 (104) 2011 Phan Công Tuyên: Văn hóa Huế, nhìn từ góc độ hội nhập, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, Số 1 (104) 2011 PGS, TS Nguyễn Hồng Sơn: Xây

dựng đời sống văn hóa tinh thần ở các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên thời kỳ

2005 – 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, Số 1 (110) 2012 Nguyễn Ngọc Hòa: Những thách thức trong giao lưu văn hóa và hội nhập hiện nay , Tạp chí Văn hóa học, tháng 6/ 2012 ; TS Nguyễn Văn Lý

– TS Nguyễn Tiến Dũng: Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với việc bảo

tồn và phát huy văn hóa lễ hội ở thành phố Huế hiện nay, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, Số 2 (111) 2012 Nguyễn Văn Lý – Nguyễn Tiến Dũng: Ảnh hưởng của

biến đổi khí hậu đối với việc bảo tồn và phát huy văn hóa lễ hội ở thành phố

Huế hiện nay, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, Số 5 (114) 2012.Nguyễn Hoàng

Thân – Phan Thị Huyền Trâm: Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Tuồng ở

Đà Nẵng, Tạp chí Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng số 38/ 2013 Nhiều tác giả: Văn hoá - Nguồn lực nội sinh, Báo Đại đoàn kết (số ra từ ngày 18 đến 22/05/2012)

+ Các Luận án Tiến sĩ, Luận văn Thạc sĩ, Cử nhân

- Nguyễn Thị Thảo: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và vấn đề xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Đại học Đà Nẵng năm 2013 Trịnh Thị Hợp: Mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển trong việc xây dựng nếp sống văn hóa khu dân cưa trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Đại học Đà Nẵng năm 2013.Nguyễn Thị Hằng: Xây dựng văn hóa công sở trong các cơ quan hành

Trang 16

chính nhà nước tại thành phố Huế, Luận văn Thạc sĩ Hành chính công, Học viện Hành chính Huế, năm 2014 Lê Xuân Kiều): Một số vấn đề về văn hóa và phát triển, NCS Văn hóa học khóa I Trường Đại học văn hóa Hà Nội

- Phan Thanh Hải: Một số giải pháp nhằm đổi mới nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa nhân loại ở Đảng bộ Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế, Luận

văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính Khu

vực III, năm 2012 Nguyễn Thanh Bình: Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa Huế hướng đến mục tiêu xây dựng Thừa Thiên Huế là trung tâm văn hóa, du lịch đặc sắc của cả nước”, Luận văn tốt nghiệp Cao cấp lý luận chính

trị, Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực III, năm 2014

- Trương Kim Chi (2000), Di tích và lễ hội đình làng Vẽ, Luận văn Thạc

sĩ, Văn hoá dân gian, Viện nghiên cứu dân gian, Hà Nội

6.2 Nhận xét

- Về phương diện lý luận văn hóa và phát triển: Các công trình khoa học nói trên đã trình bày khái quát quan điểm mácxit về văn hóa và phát triển; các quan điểm của Đảng ta về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói chung và bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá truyền thống, cách mạng nói riêng

- Về phương diện lý luận bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá truyền thống, cách mạng: Những công trình đó đã đề cập đến vai trò của hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá; vai trò của đảng bộ, chính quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa nhân loại ở cố đô Huế

- Việc hệ thống hóa và tiếp cận vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá Huế trên quan điểm văn hóa và phát triển thực sự là vấn đề cần thiết về phương diện lý luận và thực tiễn

Trang 17

CHƯƠNG 1VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN, BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY

DI SẢN VĂN HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY –

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN

1.1.1 Văn hóa và cấu trúc của văn hóa

a Định nghĩa văn hóa

Hiện nay có nhiều định nghĩa về văn hóa; mỗi một định nghĩa thường chỉ đề cập đến một nét nào đó của bản chất văn hóa

Văn hóa là phạm trù đa nghĩa, tinh tế, cho nên khi luận bàn về văn hóa, Đảng ta đã tạm thời sắp xếp vào 3 loại định nghĩa sau đây:Văn hóa theo nghĩa rộng bao gồm cả trình độ phát triển về vật chất và tinh thần.Văn hóa hiểu theo nội dung bao gồm cả khoa học, kỹ thuật, giáo dục, văn học nghệ thuật.Văn hóa đặc biệt trong phạm vi lối sống, nếp sống, đạo đức xã hội, văn hóa nghệ thuật [32 ]

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì văn hóa chỉ gắn liền với con người và xã hội loài người Cội nguồn của sự tồn tại và phát triển văn hóa

là ở hoạt động sáng tạo của con người Đó là hoạt động nhằm để hiểu biết, khám phá và sáng tạo Thực hiện hoạt động đó con người vừa sáng tạo ra bản

thân mình với tư cách là người vừa đồng thời sáng tạo ra “thiên nhiên thứ hai” của chính mình “Thiên nhiên thứ hai” ấy không phải cái gì khác hơn là

thế giới của văn hóa

Chủ tịch Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa nhân loại cũng tiếp cận văn

hóa theo nghĩa rộng của từ này Người đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người đã sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công

Trang 18

bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [45, tr 431]

- Tuyên bố toàn cầu của UNESCO về đa dạng văn hóa do Đại hội đồng

UNESCO lần thứ 31 (11/2001) định nghĩa: Văn hóa được xem là tập hợp các đặc điểm nổi bậc về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của xã hội hay một nhóm xã hội và ngoài văn họa, nghệ thuật , nó còn bao gồm cả lối sống, cách thức cùng chung sống, các hệ thống giá trị, các truyền thống và các tín ngưỡng”[33, tr 355]

Nhƣ vậy, văn hóa bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm mục địch phục vụ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng loài người Văn hóa, với tư cách là một hiện tượng xã hội, chính là sự phát triển của những năng lực bản chất của con người, không ngừng nâng cao trình độ làm chủ của con người đối với tự nhiên, xã hội, bản thân, nhằm thỏa mãn nhu cầu về sự hiểu biết, khám phá, sáng tạo trong thế giới con người theo hướng ngày càng vươn tới giá trị đích thực của ích, chân, thiện, mỹ” hay nói một cách ngắn gọn hơn “văn hóa chính là sự phát triển những năng lực bản chất của con người hướng tới các giá trị nhân văn” [34, tr 5]

Trang 19

Nhiều nhà khoa học chia văn hóa thành nhiều loại hơn như văn hóa kinh

tế, văn hóa chính trị, văn hóa khoa học, văn hóa tư tưởng, văn hóa tinh thần, văn hóa giáo dục, văn hóa đạo đức, văn hóa thẩm mỹ, văn hóa nghệ thuật, văn hóa thể thao, văn hóa truyền thông… Mỗi một cách phân chia tuy có những hạt nhân hợp lý, song cũng có những mặt hạn chế của nó

Các giá trị văn hóa tồn tại trong các sản phẩm vật chất, tinh thần được thể hiện trong lối sống, nếp sống, truyền thống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng … được xem như là tài sản vô giá của cộng đồng, dân tộc được tích lũy và trao truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác

người ta gọi là di sản văn hóa Di sản văn hóa cũng bao gồm di sản văn hóa

vật thể và di sản văn hóa phi vật thể

- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử -văn hóa,

khoa học, thẩm mỹ, nó bao gồm các di tích lịch sử -văn hóa, danh lam thắng cảnh, các di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia

- Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử văn

hóa, khoa học, thẩm mỹ được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề trình diễn

và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác Nó bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về trang phục truyền thống dân tộc, trí thức dân gian khác

Di sản văn hóa vật thể và phi vật thể gắn kết với nhau tạo nên một hệ thống các giá trị chuẩn mực xã hội và khẳng định bản sắc riêng của một cộng đồng, một dân tộc, cho nên sự phân biệt di sản văn hóa vật thể và phi vật thể chỉ có tính chất tương đối Chẳng hạn, trong các di sản văn hóa vật thể như các công trình kiến trúc, đình chùa, miếu mạo… nó đã bao hàm các giá trị văn hóa phi vật thể, đó là trí tuệ, tình cảm, thị hiếu cảm xúc thẩm mỹ, sự sáng tạo

Trang 20

theo quy luật của cái đẹp của người thiết kế, thi công và những di sản văn hóa phi vật thể nó lại được “vật chất hóa” thành lễ hội, nhạc khí, văn hóa ẩm thực, trang phục, cư trú

1.1.2 Phát triển và các quan điểm về phát triển xã hội

- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy Khuynh hướng chung của quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng là cái cũ mất đi, cái mới ra đời thay cho cái cũ nhưng cái mới không hoàn toàn loại bỏ cái cũ mà giữ lại những nhân tố tích cực, hợp lý của cái cũ, gia nhập vào cái mới, tạo điều kiện cho cái mới ra đời và phát triển tiến bộ hơn cái cũ [28, Tr.207]

Sự phát triển giúp chúng ta nhận thức sự vật, hiện tượng theo xu hướng vận động phát triển, tránh được cách nhìn phiến diện với tư tưởng định kiến, bảo thủ Là cơ sở khoa học để hình thành tư tưởng lạc quan trước những khó khăn, thất bại trong công việc và cuộc sống, vững tin vào tương lai

b Phát triển xã hội

Có nhiều cách tiếp cận và quan niệm về sự phát triển xã hội

* Tiếp cận từ góc độ kinh tế học; từ góc độ xã hội học; từ góc độ dân chủ - nhân quyền; từ giác độ triết học chính trị (mác xít)

- Từ góc độ văn hoá: Phát triển xã hội được xem là sự vận động có định

Trang 21

hướng của mỗi quốc gia, dân tộc trên con đường tiến hoá từ xã hội truyền thống đến xã hội văn minh hiện đại Tuy nhiên, trên thực tế, có thể có những nền văn hoá chứa đựng các giá trị cần thiết, phổ biến cho sự phát triển xã hội; nhưng không thể áp đặt các giá trị văn hoá của một xã hội, quốc gia dân tộc

này cho một xã hội, quốc gia dân tộc khác

- Từ giác độ triết học chính trị (Mác xít): Ở quan niệm này, phát triển xã

hội được quan niệm là sự vận động của các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp lên cao Tiêu chí của nó không chỉ thể hiện trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà cả trong sự phát triển của quan hệ sản xuất ; không chỉ trong sự phát triển của cơ sảo hạ tầng, mà cả trong sự phát triển của kiến trúc thượng tầng; không chỉ trong sự phát triển của tồn tại xã hội, mà cả trong sự phát triển của ý thức xã hội; không chỉ trong việc nâng cao mức sống của con người, làm cho con người thoát khỏi mọi áp bức bất công, mà còn được phát

triển toàn diện và tự làm chủ cuộc sống của mình

* Trên cơ sở phân tích nói trên, có thể quan niệm phát triển xã hội ở hai phương diện

- Thứ nhất, theo nghĩa rộng, Phát triển xã hội là sự vận động của các

hình thái kinh tế - xã hội từ trình độ thấp đến trình độ cao; là quá trình tạo ra những điều kiện, nhân tố tự phủ định làm cho lịch sử tiến lên một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn - xã hội xã hội chủ nghĩa

- Thứ hai, theo nghĩa hẹp, Phát triển xã hội là sự vận động có định hướng

của mỗi quốc gia, dân tộc nhằm đạt tới mục tiêu: tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị, công bằng, dân chủ, văn minh

1.1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển kinh tế- xã hội

Văn hóa có mối quan hệ thống nhất biện chứng với kinh tế, chính trị; xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục đích cuối cùng là văn hóa Trong mỗi chính sách kinh tế - xã hội luôn bao hàm nội dung và mục tiêu văn hóa

Trang 22

Văn hóa có khả năng khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội:

Theo Unessco: Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống diễn ra trong quá khứ cũng như trong hiện tại;

nó cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình

Các giá trị nói trên tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm nhuần trong mỗi con người và trong cả cộng đồng, được truyền lại, tiếp nối và phát huy qua các thế hệ, được vật chất hóa và khẳng định vững chắc trong cấu trúc xã hội của từng dân tộc; đồng thời, nó tác động hàng ngày đến cuộc sống, tư tưởng, tình cảm của mọi thành viên xã hội bằng môi trường xã hội - văn hóa Tóm lại, văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc vượt qua mọi khó khăn để phát triển

Vì vậy, chúng ta chủ trương làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để các giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội, trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội Đó cũng là con đường xây dựng con người mới, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh đủ sức đề kháng và đẩy lùi tiêu cực xã hội, đẩy lùi sự xâm nhập của tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ Biện pháp tích cực là đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa,…

Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển:

Nguồn lực nội sinh của sự phát triển của một dân tộc thấm sâu trong văn hóa Sự phát triển của một dân tộc phải vươn tới cái mới, tiếp nhận cái mới, tạo ra cái mới, nhưng lại không thể tách rời cội nguồn Phát triển phải dựa trên cội nguồn bằng cách phát huy cội nguồn Cội nguồn đó của mỗi quốc gia

Trang 23

dân tộc là văn hóa

Động lực của sự phát triển kinh tế một phần quan trọng nằm trong những giá trị văn hóa đang được phát huy (hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống con người càng cao bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế - xã hội càng hiện thực và bền vững bấy nhiêu)

Trong nền kinh tế thị trường, một mặt, văn hóa dựa vào tiêu chuẩn của cái đúng, cái tốt, cái đẹp để hướng dẫn và thúc đẩy người lao động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay nghề,…mặt khác, văn hóa sử dụng sức mạnh của các giá trị truyền thống, của đạo lý dân tộc để hạn chế xu hướng sùng bái lợi ích vật chất, sùng bái tiền tệ,…

Nền văn hóa Việt Nam đương đại với những giá trị mới sẽ là tiền đề quan trọng đưa nước ta hội nhập ngày càng sâu hơn, toàn diện hơn vào nền kinh tế thế giới

Trong vấn đề bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững, văn hóa giúp hạn chế lối sống chạy theo ham muốn quá mức của “xã hội tiêu thụ”, dẫn đến chỗ làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường sinh thái

Văn hóa cổ vũ và hướng dẫn cho một lối sống có chừng mực, hài hòa, nó đưa ra mô hình ứng xử thân thiện giữa con người với thiên nhiên vì sự phát triển bền vững của hiện tại và tương lai

Văn hóa là một mục tiêu của phát triển:

Mục tiêu xây dựng một xã hội Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” chính là mục tiêu văn hóa

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 1991-2000, Đảng ta xác định: “Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người” Đồng thời, nêu rõ yêu cầu “tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ

và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường” Phát triển hướng tới mục tiêu văn hóa - xã hội mới bảo đảm phát triển bền vững, trường tồn

Trang 24

Để làm cho văn hóa trở thành động lực và mục tiêu của sự phát triển, chúng ta chủ trương phát triển văn hóa phải gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với phát triển kinh tế - xã hội

Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người và xây dựng xã hội mới:

Việc phát triển kinh tế - xã hội cần đến nhiều nguồn lực, trong đó, tri thức của con người là nguồn lực vô hạn, có khả năng tái sinh và tự sinh, không bao giờ cạn kiệt Các nguồn lực khác sẽ không được sử dụng có hiệu quả nếu không có những con người đủ trí tuệ

Có thể thấy được ý nghĩa của vấn đề văn hóa và phát triển ở những khía cạnh sau đây:

Một là mọi thành tựu của các mô hình phát triển không chỉ do các nhân tố kinh tế đơn thuần mà tạo ra như vốn, tài nguyên, kỹ thuật…mà còn do các nhân

tố phi kinh tế như nội lực tinh thần, truyền thống văn hóa, môi trường sáng tạo Hai là văn hóa không phải là lĩnh vực ăn theo kinh tế mà còn định hướng cho kinh tế, phát triển nhằm phục vụ con người…

Ba là việc tìm kiếm mô hình phát triển phải dựa trên nền tảng văn hóa, tránh tình trạng hy sinh văn hóa để tìm kiếm lợi trước mặt…

1.2 BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.2.1 Lý luận chung về Di sản văn hoá

a Khái niệm “Di sản văn hoá”

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản là cái của thời trước để lại [31, tr 254] Di sản văn hoá theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại Sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị

Di sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng hợp của các ý nghĩa nói trên

Trang 25

Khái niệm Di sản văn hóa trong tư cách là một thuật ngữ khoa học được hình thành và được biết đến từ cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789 Quá trình tịch thu được tài sản của tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ giáo hội để tập trung tất cả lại thành tài sản quốc gia sau cách mạng tư sản Pháp đã dần dần hình thành khái niệm di sản Để tránh sự thất thoát và phá hoại loại tài sản này, nhà nước Pháp lúc bấy giờ đã tiến hành kiểm kê, mô tả sắp xếp, phân loại các công trình lịch sử để xác định thứ tự ưu tiên nhằm khôi phục và bảo tồn di sản quốc gia Di sản lúc đó được hiểu như “ý niệm về một tài sản chung, tài sản của mọi công dân, chứ không phải của riêng một ai, đó là ý niệm đã tạo thành cái ý thức về di sản quốc gia” [42, tr.32]

Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã định

nghĩa : “di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai” [58, tr.20]

Như vậy, Di sản văn hóa được hiểu như là tài sản, là báu vật của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau Di sản văn hóa là các tài sản văn hóa như các tác phẩm nghệ thuật dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học mà các thế hệ trước để lại cho hậu thế mai sau

Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc, gọi tắt là UNESCO họp phiên thứ 32 tại Paris từ 29-9 đến 17-10-2003

đã bàn thảo và ra Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể Công ước đã

ghi nhận: Các quá trình toàn cầu hóa và chuyển đổi cơ cấu xã hội cùng với các điều kiện khác đã tạo nhiều cơ hội đối thoại mới giữa các cộng đồng, đồng thời cũng làm nảy sinh những mối đe dọa về sự suy thoái biến mất và hủy hoại các di sản văn hóa phi vật thể

Luật Di sản văn hoá của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

xác định: “di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn

Trang 26

hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [8, tr.17]

Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong trong việc phê chuẩn

Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 của UNESCO và là

thành viên của Ủy ban Liên Chính phủ tham gia xây dựng phương hướng hoạt động và các chính sách quốc tế có liên quan đến Công ước này Di sản văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, chuyển tải bản sắc văn hóa của một cộng đồng xã hội Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản văn hóa quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hóa nhân loại,

có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta Như vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị Di sản văn hóa là hoạt động thiết thực nhằm hướng tới xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào việc giữ gìn và làm phong phú cho kho tàng Di sản văn hóa nhân loại

b Phân loại di sản văn hoá

Phân loại Di sản văn hóa là một nhu cầu chính đáng trong nghiên cứu Theo quan niệm của UNESCO, Di sản văn hóa bao gồm hai loại:

Di sản “văn hóa vật thể” (tangible culture) được hiểu là những sản phẩm

văn hóa có thể “sờ thấy được” Văn hóa vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hóa chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, màu sắc, kiểu dáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định Di sản văn hóa vật thể được tạo tác từ bàn tay khéo léo của con người, để lại dấu ấn lịch sử rõ rệt Hiện nay, vấn đề bảo tồn những Di sản văn hóa vật thể lâu đời đòi hỏi công nghệ kỹ thuật cao mới có thể phục nguyên lại như cũ

“Di sản “văn hóa phi vật thể” (intangible culture) được hiểu là các tập

quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là các

Trang 27

công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm và một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác,

di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và nhóm không ngừng tái tạo

để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc

và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người” [12, tr.142]

Trên cơ sở đồng thuận với quan niệm của UNESCO, Luật Di sản văn hoá của Việt Nam phân loại di sản văn hóa như sau:

“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và các tri thức dân gian khác

c Quan điểm về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

Trước hết là quan điểm bảo tồn Di sản văn hóa Từ điển Tiếng Việt cắt

nghĩa: “bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi”, còn “phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm”

Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó Bảo tồn là không để mai một, “không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái” Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển” Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực

và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác

Trang 28

nhau của đối tượng được bảo tồn

Đối tượng bảo tồn (tức là các giá trị Di sản văn hóa vật thể và phi vật thể) cần thỏa mãn hai điều kiện:

- Một là, nó phải được nhìn là tinh hoa, là một “giá trị” đích thực được thừa nhận minh bạch, không có gì phải hồ nghi hay bàn cãi

- Hai là, nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu dài (tức là có giá trị lâu dài, có thể “trơ gan cùng tuế nguyệt”) trước những biến đổi tất yếu về đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay với chính sách mở cửa và bối cảnh nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra cực kỳ sôi động

c Kinh nghiệm về bảo tồn và phát huy Di sản văn hóa dân tộc của một

số nước Châu Á

* Xác định Di sản văn hóa như là tài sản văn hoá:

Di sản văn hóa là bộ phận cơ bản và trọng yếu trong nền văn hóa của mỗi dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới

và giao lưu văn hóa Trong quá trình toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, nhiều quốc gia châu Á đều phải xử lý mối quan hệ giữa bảo tồn

và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống trước sự tác động mạnh mẽ của văn hoá phương Tây Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc là những nước có nhiều thành công trong việc giải quyết mối quan hệ này

Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia có chung một hằng số cho lịch sử phát triển văn hoá dân tộc Đó là nền văn minh lúa nước Trước thế kỷ XIX,

cả hai nước đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Trung Hoa, cùng với Triều Tiên là những nước “đồng văn” Trong lịch sử, khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, mỗi nước lại chọn những giải pháp khác nhau, đưa đến cách ứng xử khác nhau đối với Di sản văn hóa dân tộc Trong giai đoạn hiện

Trang 29

nay, bối cảnh thế giới đã có nhiều thay đổi, văn hoá các dân tộc có sự gần gũi hơn trong một định hướng chung cho sự phát triển Do vậy, mô hình bảo tồn

và phát huy văn hoá dân tộc của Nhật Bản qua hơn một thế kỷ mở cửa với phương Tây có nhiều bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo Đối với Nhật Bản, quan niệm di sản văn hoá là tài sản văn hoá không chỉ dừng lại ở nhận thức mà còn được cụ thể hoá trong những đạo luật, chính sách văn hoá, nổi bật nhất là Bộ luật bảo tồn các tài sản văn hoá được ban hành vào những năm 80 của thế kỷ trước Bộ luật ra đời nhằm thực hiện bảo tồn di sản văn hoá trên cơ sở xác lập quyền sở hữu và bảo trợ của nhà nước Trong đó, Bộ luật quy định rõ, mọi tài sản văn hoá đều thuộc quyền sở hữu của các công dân, các cơ quan sự vụ, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ Quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản văn hoá bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Việc công nhận quyền của các chủ

sở hữu được đảm bảo bằng một “Giấy chứng nhận” do Bộ trưởng Bộ Giáo dục cấp Bộ luật cũng quy định rõ, chính phủ và các cấp chính quyền địa phương phải tôn trọng quyền của các chủ sở hữu và quyền sở hữu của những người hữu quan

Không những được coi là tài sản văn hoá, Di sản văn hóa còn được xác định là một thứ văn hoá đặc biệt, thuộc về những chủ sở hữu cụ thể nhưng giá trị của nó luôn là tài sản quốc gia Khoản 2 điều 4 của Bộ luật

quy định: “Các chủ sở hữu tài sản văn hoá cùng những người hữu quan sẽ chịu trách nhiệm bảo quản chúng một cách tốt nhất và khai thác các giá trị văn hoá của chúng với một ý thức đầy đủ rằng: đó là những tài sản quý báu của quốc gia”

Vai trò của nhà nước ở đây rất quan trọng, nhà nước bảo trợ việc thực hiện các quyền trong quyền sở hữu Chính phủ Nhật Bản nghiêm cấm việc bán các tài sản văn hoá ra nước ngoài dưới mọi hình thức Nhà nước bỏ tiến

Trang 30

mua lại các tài sản văn hoá quan trọng, trợ cấp một phần kinh phí và phương tiện kỹ thuật cho việc bảo tồn tài sản văn hoá thuộc tư nhân đối với các tài sản hữu hình Nhà nước nắm giữ vai trò điều tiết hoạt động bảo tồn và khai thác tài sản văn hoá trong tổng thể các hoạt động chung của toàn xã hội Do đó, các di sản văn hoá hữu hình được giữ gìn trong các dự án phát triển Việc đảm bảo giữ nguyên cảnh quan trong đó di sản văn hoá đuợc bảo vệ chỉ có thể tiến hành một cách hiệu quả dưới sự quản lý của nhà nước với vốn kinh phí đầu tư thích đáng, với sự hợp tác của các ngành, các tổ chức liên quan Qua đó, các hoạt động bảo tồn văn hoá được tiến hành dưới một hành lang pháp lý Các di sản văn hoá ở Nhật Bản được kiểm kê và bảo tồn hiệu quả, tránh được mọi mất mất, thất thoát và hư hại từ phía thiên nhiên và con người

Ở Việt Nam, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiều ngôi nhà cổ, công trình kiến trúc, Di sản văn hóa có nguy cơ bị thay thế bằng những ngôi nhà cao tầng, đường cao tốc chạy dài hay những cây cầu trong các dự án phát triển Bài toán đặt ra cho Việt Nam là cần tìm ra được giải pháp thỏa đáng dung hòa giữa bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế, biến di sản văn hóa thành nguồn tài nguyên quí giá phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước Kinh nghiệm của Nhật Bản về vai trò chủ đạo của nhà nước trong công tác bảo tồn và khai thác các Di sản văn hóa là một bài học quý cho nước

ta trong quá trình phát triển hiện nay

Một bài học kinh nghiệm nữa của Nhật Bản trong việc bảo tồn, khai thác các Di sản văn hóa là phải có một bộ máy hành chính có tính chuyên biệt và thống nhất cao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai, chỉ đạo và giám định thi hành pháp luật Cục Văn hoá Nhật Bản là cơ quan duy nhất có chức năng pháp lý điều hành các hoạt động bảo tồn và phát huy Di sản văn hóa từ trung ương đến địa phương Cơ quan này có nhiệm vụ phổ biến văn hoá, bảo tồn và sử dụng các tài sản văn hoá, cũng như thực hiện việc quản lý nhà nước

Trang 31

liên quan đến tôn giáo với sự cộng tác của các cơ quan chính phủ hữu quan Người đứng đầu Cục Văn hóa Nhật bản có quyền tiến hành hoặc đình chỉ mọi hoạt động bảo tồn và khai thác Di sản văn hóa trong trường hợp cần thiết, theo quy định của pháp luật Nếu chính quyền các địa phương các cấp muốn tiến hành hoạt động bảo tồn và khai thác Di sản văn hóa , phải được uỷ quyền của Cục Văn hoá Ngân sách cho những hoạt động của Cục Văn hoá cũng không ngừng tăng theo các năm

Như vậy, cách thức tổ chức của Cục Văn hoá Nhật Bản và ngân sách dồi dào của chính phủ nước này đã giúp cho bộ máy điều hành triển khai các hoạt động bảo tồn và khai thác Di sản văn hóa một cách hiệu quả

Ở Việt Nam, mặc dù đã có Luật Di sản Văn hoá nhưng trên thực tế, nhiều vấn đề "nóng" như lấn chiếm di tích, trộm cắp cổ vật hay thiếu một quy hoạch tổng thể để bảo tồn vẫn là những "bài toán khó" mà bao năm nay vẫn chưa tìm được lời giải Những bài học của Nhật Bản trên đây có thể là kinh nghiệm quý, góp phần giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong công tác bảo tồn Di sản văn hóa nước ta

* Khai thác các giá trị của văn hoá truyền thống trên cơ sở gắn với đời sống hiện đại

Bảo tồn Di sản văn hóa không chỉ là cất giữ cho khỏi mất tài sản, để giữ gìn bản sắc dân tộc hoặc tự ca ngợi mình Bài học kinh nghiệm của Nhật Bản, Trung Quốc là chủ trương bảo tồn để phát triển, khai thác các giá trị văn hoá truyền thống là làm cho sống lại, làm cho các giá trị đó tồn tại trong đời sống, năng động hoá các hình thức tồn tại của di sản văn hoá trên cơ sở thu hút sự quan tâm của các tầng lớp xã hội, nhờ đó mà các giá trị được vận hành, thâm nhập vào cuộc sống hiện tại

Nhật Bản và Trung Quốc đã phát huy được tác dụng giáo dục của văn hoá truyền thống vì mục tiêu phát triển, làm cho văn hóa truyền thống thêm

Trang 32

vững bền, giàu có, phong phú và cao quý hơn Những giá trị của Di sản văn hóa lan tỏa, thấm sâu vào từng con người và toàn thể cộng đồng, trở thành động lực mạnh mẽ cho các quốc gia này phát triển toàn diện

Để thực hiện mục tiêu xây dựng văn hóa và phát triển kinh tế xã hội, Nhật Bản đã tiến hành rộng rãi sự hợp tác giữa chính phủ và các tổ chức phi chính phủ, giữa Trung ương và địa phương, giữa bộ máy hành chính nhà nước

và nhân dân và giữa các thiết chế văn hoá hữu quan Sự hợp tác với các tổ chức phi chính phủ (chủ yếu là tư nhân) làm tăng mạnh mẽ nguồn kinh phí cho các hoạt động khai thác di sản văn hoá Các công ty tư nhân tăng lượng đầu tư cho lĩnh vực văn hoá để qua đó khuếch trương danh tiếng và quảng cáo cho thương hiệu của họ Nhà nước cũng khuyến khích tư nhân tham gia đầu

tư bằng việc áp dụng chính sách miễn giảm thuế cho các công ty này Cùng với việc hợp tác như trên, hoạt động khai thác văn hoá truyền thống còn được

mở rộng trên cơ sở hợp tác chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương, giữa nhân dân và các cơ quan nhà nước Tại các địa phương, văn phòng hỗ trợ văn hoá vùng của chính phủ có chức năng phổ biến và đưa giá trị văn hoá thâm nhập vào cộng đồng nhân dân nơi đây Qua việc tổ chức các chương trình liên hoan văn hoá toàn quốc, lập các bảo tàng, hiện đại hoá phương tiện thông tin đại chúng… các tài sản văn hoá tại các địa phương được “tái sinh” trong sự khẳng định giá trị của mình ngay trong đời sống hiện tại Các hoạt động trên thu hút sự tham gia của đông đảo nhân dân, qua đó giúp họ tiếp nhận một cách tích cực, chủ động đối với các giá trị văn hoá truyền thống

Trong nhiều trường hợp, vai trò chủ thể tiến hành khai thác tài sản văn hoá chuyển từ cơ quan nhà nước sang nhân dân Sự hợp tác rộng rãi của các lực lượng toàn xã hội trong hoạt động khai thác tài sản văn hoá đã làm tăng lên mạnh mẽ sức sống của những giá trị truyền thống Với các hình thức tồn tại khác nhau, được khai thác từ những mối quan tâm khác nhau, vô số tài sản

Trang 33

văn hoá từ truyền thống đã hoá thân vào cuộc sống hiện tại, trở thành một bộ phận quan trọng và gần gũi với đời sống cộng đồng

Ở Trung Quốc, bên cạnh việc hoàn thiện pháp chế về bảo vệ các Di sản văn hóa lịch sử, thực hiện phân cấp bảo vệ văn vật, nhà nước yêu cầu các cấp chính quyền đưa việc bảo vệ văn vật vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vào quy hoạch xây dựng thành thị và nông thôn, vào ngân sách, vào cải cách thể chế; đồng thời cũng nhấn mạnh nghĩa vụ bảo vệ của cộng đồng, huy động lực lượng của toàn xã hội tham gia công tác bảo vệ văn vật [76- Tr.55]

Trong quá trình đẩy mạnh hội nhập thế giới, Trung Quốc đặc biệt chú trọng thúc đẩy việc bảo vệ Di sản văn hóa thông qua giáo dục cộng đồng Đề cương về chương trình: “Mỗi người đều có trách nhiệm bảo vệ di sản văn hóa của đất nước” do Bộ Văn hóa và Cục Di sản đã công bố từ năm 1989, được quán triệt và thực hiện trong cả nước Các viện bảo tàng, nhà tưởng niệm và các cơ quan bảo vệ Di sản văn hóa đã mở cửa đón công chúng và cung cấp nhiều chương trình về bảo vệ Di sản văn hóa Các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên đề cập nhiều tới tầm quan trọng và giá trị lịch sử, thẩm mỹ

và khoa học của Di sản văn hóa Trung Quốc Nhiều tờ báo lớn đã có chuyên mục về luật bảo vệ Di sản văn hóa Chính phủ Trung Quốc đã xác định: những tài sản văn hoá là do nhân dân tạo nên, chỉ khi nào bản thân tài sản ấy được nhân dân nhận thức đúng đắn, khi ấy nó mới có những giá trị đích thực Đặc biệt từ sau khi gia nhập WTO, công tác bảo tồn, phát huy và quảng bá Di sản văn hóa dân tộc của Trung Quốc càng được coi trọng Trong Báo cáo Chính trị của Đại hội 17, Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào đã chỉ rõ, Trung Quốc sẽ đẩy mạnh bảo tồn văn hoá trong quá trình xây dựng một xã hội thịnh vượng hài hoà trên tất cả các lĩnh vực Có thể nói, đây là lần đầu tiên, vấn đề bảo tồn văn hoá được đưa vào một văn kiện chính trị quan trọng của Đảng Cộng sản Trung Quốc

Trang 34

Chính phủ sẽ thúc đẩy bảo tồn văn hoá bằng cách tạo ra cấu trúc các ngành công nghiệp, cách thức tăng trưởng và phương thức tiêu dùng đặt cơ sở trên hiệu quả về năng lượng và tài nguyên, thân thiện với môi trường

* Bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc đi liền với mở rộng văn hoá ra thế giới

Hiện đại hoá là tiền đề cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… Thông qua việc mở cửa với thế giới, các nước này đã khai mở những tiềm năng giá trị truyền thống

mà trước đó vẫn còn bị khép kín trong biên giới hạn hẹp của quốc gia và khu vực, trong sự độc tôn và đơn dạng về văn hoá Tất nhiên, mở cửa đem theo cả những tác động không thuận chiều đối với bảo tồn văn hoá truyền thống, nhưng không vì thế mà né tránh mà chấp nhận nó như một tiền đề thực tiễn khách quan Từ chỗ mở cửa tiếp nhận các giá trị văn hoá từ các nền văn hoá khác, ngày nay các quốc gia này chủ trương bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của mình bằng cách tăng cường truyền bá các giá trị văn hoá đó ra toàn thế giới, trở thành tài sản văn hoá chung của toàn nhân loại Trung Quốc chú trọng mở rộng ảnh hưởng văn hóa của mình ra các nước

và khu vực trên thế giới mà châu Phi là một ví dụ điển hình Trung Quốc đã

ký với các nước châu Phi các hiệp định văn hóa và dự án văn hóa Trung Quốc cũng tổ chức hoạt động “Thực hành văn hóa Trung Quốc ở châu Phi”,

cử nhiều đoàn nghệ thuật và nghệ nhân biểu diễn lần lượt ở các nước châu Phi, những hoạt động này đã nâng cao sức hấp dẫn về văn hóa của Trung Quốc ở châu Phi

Chính sách trao đổi văn hoá của Nhật Bản tập trung chủ yếu vào đẩy mạnh văn hoá Nhật Bản bằng những hoạt động quản lý mà tạo ảnh hưởng ra thế giới Nhật Bản gửi các nghệ sĩ của mình sang phương Tây để học hỏi trào lưu mới và tìm những nguồn cảm hứng mới Mục tiêu chính của việc trao đổi

Trang 35

văn hoá của Nhật Bản là nâng cao chất lượng (theo tiêu chuẩn quốc tế )của các hoạt động nghệ thuật Nhật Bản nhằm đạt được sự thừa nhân trong cộng đồng quốc tế

+ Theo tổ chức Các Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam á, “Di sản văn hóa

là các dạng biểu hiện hữu hình hoặc vô hình của hệ thống văn hóa vừa ở quá khứ, vừa ở hiện tại, nó được coi trọng vì hoặc tiêu biểu cho một nền văn hóa” Luật Di sản văn hóa nước ta đã ghi rõ: “Di sản văn hóa quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”

- Tóm lại: Các giá trị văn hóa tồn tại trong các sản phẩm vật chất, tinh thần được thể hiện trong lối sống, nếp sống, truyền thống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng … được xem như là tài sản vô giá của cộng đồng, dân tộc được tích lũy và trao truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế

hệ khác người ta gọi là di sản văn hóa Di sản văn hóa cũng bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể

1.2.2 Quan điểm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở nước ta hiện nay

Trong quá trình lãnh đạo, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, đề cao giá trị của Di sản văn hóa trong sự phát riển văn hóa của dân tộc Quan điểm chỉ đạo của Đảng ta trong hơn 80 năm qua là: Trân trọng, bảo vệ, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc, vì tiến bộ của nhân dân

Đặc biệt từ năm 1986 đến nay, khi Đảng tiến hành đổi mới đất nước, Đảng ta không chỉ đổi mới về kinh tế mà còn đổi mới trong nhận thức và tư duy: Phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, gắn chặt với phát triển văn hóa Rõ ràng, Đảng ta đã nhận thức một cách đúng đắn và sâu sắc hơn về vai trò của văn hóa trong sự phát riển kinh tế - xã hội Trên nền tảng đó, các

Trang 36

Di sản văn hóa được tôn trọng, phát triển, góp phần làm cho đời sống tinh thần của xã hội ngày càng phong phú Hội nghị Trung ương lần thứ 4, khóa

VI (tháng 1- 1993) đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, một động lực phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội” và đề ra nhiệm vụ: Trước mắt, tập trung xây dựng để sớm ban hành Luật xuất bản và luật bảo vệ Di sản văn hóa dân tộc.cần có chính sách cụ thể giữ gìn và nâng cao tinh hoa văn hóa của công đồng các dân tộc và của từng dân tộc Vấn đề này cần được quan tâm một cách toàn diện, từ sưu tầm, nghiên cứu bảo tàng, phổ biến các Di sản văn hóa dân tộc đến đào tạo cán bộ văn hóa cho các dân tộc Nhà nước có kế hoạch xây dựng các bảo tàng, bảo vệ và tôn tạo các di tích văn hóa lịch sử, xây dựng các tượng đài về các anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa ở Thủ đô và các thành phố lớn [24, tr.413-416] Phát triển tư duy đó, tại Hội nghị Trung ương 5 khóa VII (7- 1998) Đảng

ta đã ra Nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và khẳng định: Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo ra những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật hể và phi vật thể [28, tr.63] Nghị quyết Trung ương 5 cũng nhấn mạnh việc bảo tồn, phát huy Di sản văn hóa dân tộc không chỉ bó hẹp trong phạm vi trong nước mà còn phải “làm tốt việc giới thiệu văn hóa, đất nước và con người Việt Nam với thế giới” Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2011), Đảng tiếp tục nêu rõ: Bảo tồn và phát huy các Di sản văn hóa dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; tôn tạo các di tích lịch sử; văn hóa và danh lam thắng cảnh; khai thác các kho tàng văn hóa cổ truyền Tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa của nhân loại [29, tr.15]

Trang 37

Trong kết luận của hội nghị Trung ương 10 khóa IX, mục tiêu, các nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp chủ yếu để tiếp tục xây dựng, phát riển văn hóa trong thời kỳ đổi mới được Đảng đề ra: Trong quá trình mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu văn hóa, cùng với việc tập trung xây dựng những giá trị mới của văn hóa Việt Nam đương đại, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa, phát huy các giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc và tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, bắt kịp sự phát triển của thời đại [30, tr.243]

Đại hội X, Đảng ta xác định tiếp tục phát triển sâu rộng, nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Gắn kết chặt chẽ hơn giữa văn hóa với phát triển kinh tế xã hội Làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, sinh viên, học sinh, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa Việt Nam Đặc biệt chú trọng đến đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, Di sản văn hóa vật thể, phi vật thể Kết hợp hài hòa giữa bảo tồn, phát huy với kế thừa và phát riển, giữ gìn di tích với phát triển kinh tế du lịch, tinh thần tự nguyện, tính tự quản của nhân dân trong xây dựng văn hóa Đồng thời tăng cường quản lý nhà nước về văn hóa

Xây dựng cơ chế chính sách, chế tài ổn định Tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa Chống sự xâm nhập văn hóa độc hại, lai căng, phản động Xây dựng, nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa Tiếp tục phát triển các quan điểm của các đại hội trước, đại hội XI của Đảng đã đưa ra nhiệm vụ chăm lo phát triển văn hóa tập trung vào 4 nội dung quan trọng: Một là: Củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh,

Trang 38

phong phú, đa dạng; tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội.; triển khai cuộc vận động xây dựng gia đình Việt Nam góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam, nuôi dưỡng giáo dục thế hệ trẻ

Hai là: Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị các Di sản văn hóa truyền thống, cách mạng Theo đó, tiếp tục phát triển nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, vươn lên hiện đại, phản ánh chân thật, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước; cổ vũ, khẳng định cái đúng, cái đẹp, đồng thời lên án cái xấu, cái ác Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy giá trị các

Di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc Xây dựng và thực hiện các chính sách, chế độ đào tạo, bồi dưỡng, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện để đội ngũ những người hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật

Ba là: Chú trọng phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin giáo dục, tổ chức và phản biện xã hội của các phương tiện thông tin đại chúng vì lợi ích của nhân dân và đất nước Tập trung đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ hoạt động báo chí, xuất bản vững vàng về chính trị, tư tưởng, nghiệp vụ và có năng lực đáp ứng tốt yêu cầu của thời kỳ mới

Bốn là: Đổi mới, tăng cường việc giới thiệu, truyền bá văn hóa, văn học, nghệ thuật, đất nước, con người Việt Nam với thế giới Xây dựng một số trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và trung tâm dịch thuật, quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài Tiếp thu những kinh nghiệm tốt về phát riển văn hóa của các nước, giới thiệu các tác phẩm văn học, nghệ thuật đặc sắc của nước ngoài với công chúng Việt Nam Ngăn chặn, đẩy lùi, vô hiệu hóa sự xâm nhập

và tác hại của các sản phẩm đồi trụy, phản động từ nước ngoài vào nước ta; bồi

Trang 39

dưỡng và nâng cao sức đề kháng của công chúng, nhất là thế hệ trẻ

Như vậy, những quan điểm trên của Đảng đã cho thấy, nền văn hóa mà chúng ta xây dựng mang bản sắc dân tộc, vừa phản ánh đậm cốt cách truyền thống dân tộc, vừa hiện đại phù hợp với trào lưu tiến bộ chung của nhân loại Đó

là sự tiếp biến các giá trị văn hóa nhân loại một cách tự nhiên trong quá trình hội nhập và phát riển Từ nhận thức này, Đại hội đã đưa ra những định hướng lớn về phát riển văn hóa của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội như: xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng để văn hóa trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của dân tộc trong hội nhập quốc tế, phát huy giá trị các Di sản văn hóa truyền thống… Rõ ràng, Đảng đã nhận thức sâu sắc về vai trò của văn hóa, đặc biệt là các di sản truyền thống đối với sự nghiệp phát triển đất nước hiện nay, để hội nhập mà không đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc Thông qua các Di sản văn hóa để giáo dục lịch sử dân tộc cho thế hệ trẻ, khơi dậy niềm tự hào dân tộc để họ sống có lý tưởng, niềm tin, bồi dưỡng để họ có một thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng đúng đắn, tránh

sự cám dỗ của kẻ thù, chạy theo lối sống thực dụng, xa rời mục tiêu và lý tưởng cách mạng mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Di sản văn hóa không chỉ là tài sản quý giá của các dân tộc, không chỉ

có giá trị trong việc giáo dục tuyên truyền về truyền thống văn hóa, lịch sử mà còn thực sự là lợi thế lớn trong phát triển kinh tế xã hội Kinh nghiệm từ các nước phát triển và ngay tại Việt Nam cho thấy, nếu biết kết hợp chặt chẽ và hài hòa giữa bảo tồn và khai thác các di sản văn hóa, lịch sử thì luôn luôn tạo

ra được lợi thế cho sự phát triển, nhất là phát triển kinh tế xã hội của địa phương, và ngược lại, chính sự phát triển của kinh tế xã hội sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho việc quảng bá và bảo tồn các giá trị di sản văn hóa Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm

Trang 40

tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế

hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và

là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta[53] Trong thời gian quan công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa đã đạt được những thành tựu là

“Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo; nhiều phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm

và phục dựng; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân được quan tâm”; tuy nhiên“Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hiệu quả chưa cao, nguy cơ mai một chưa được ngăn chặn” [3, tr 9,

11,tr 11] Để xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn

diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; làm cho văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh…; một trong những giải pháp cần quan tâm là

“Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu văn hóa dân tộc Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản v ă n hóa với phát triển kinh tế -

xã hội Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển du lịch Phục hồi và bảo tồn một số loại hình nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một Phát huy các di sản được UNESCO công nhận, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam” [3,tr13,21,22]

Ngày đăng: 04/04/2022, 22:34

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w