1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) lập kế hoạch tổng hợp cho bộ phận sản xuất tại nhà máy bia việt nam (VBL) đà nẵng

98 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lập Kế Hoạch Tổng Hợp Cho Bộ Phận Sản Xuất Tại Nhà Máy Bia Việt Nam (VBL) Đà Nẵng
Tác giả Văn Công Chính
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Minh Hằng
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển các kế hoạch sản xuất hiện thực và tối ưu thông qua 3 mục tiêu chính: - Hoạch định tổng hợp về mức dự trữ và sản xuất để thoả mãn nhu cầu của thị trường sao cho tổng chi phí d

Trang 1

VĂN CÔNG CHÍNH

LẬP KẾ HOẠCH TỔNG HỢP CHO BỘ PHẬN SẢN XUẤT TẠI NHÀ MÁY BIA VIỆT NAM (VBL) ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

VĂN CÔNG CHÍNH

LẬP KẾ HOẠCH TỔNG HỢP CHO BỘ PHẬN SẢN XUẤT TẠI NHÀ MÁY BIA VIỆT NAM (VBL) ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 60.34.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ MINH HẰNG

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Văn Công Chính

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục của đề tài 3

6 Tài liệu tổng quan 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH TỔNG HỢP 5

1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ HOẠCH TỔNG HỢP 5

1.1.1 Phạm vi, thời gian của lập kế hoạch tổng hợp 5

1.1.2 Mục tiêu của lập kế hoạch tổng hợp 6

1.1.3 Sự cần thiết và mối quan hệ của hoạch định tổng hợp 7

1.2 NỘI DUNG CÁC CHIẾN LƯỢC TRONG HOẠCH ĐỊNH TỔNG HỢP 7

1.3 CÁC TIỀN ĐỀ CỦA KẾ HOẠCH TỔNG HỢP 12

1.3.1 Sản xuất và phân loại sản xuất 12

1.3.2 Dự báo 20

1.3.3 Năng lực sản xuất 33

1.4 PHƯƠNG PHÁP LẬP KẾ HOẠCH TỔNG HỢP 37

1.4.1 Phương pháp trực giác 37

1.4.2 Phương pháp biểu đồ và phân tích chiến lược 38

1.4.3 Phương pháp cân bằng tối ưu 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH TỔNG HỢPTẠI NHÀ MÁY BIA VBL 40

2.1 TỔNG QUAN NHÀ MÁY BIA VBL TẠI ĐÀ NẴNG 40

Trang 5

2.1.3 Các nguồn lực hiện tại của nhà máy 41

2.2 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG SẢN XUẤT BIA 42

2.2.1 Đặc điểm hệ thống sản xuất bia 42

2.2.2 Phân loại sản xuất 42

2.2.3 Quy trình sản xuất bia 44

2.2.4 Bố trí sản xuất 51

2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH TỔNG HỢP TỪ 2012-2014 54

2.3.1 Thực trạng công tác dự báo từ 2012-2014 54

2.3.2 Thực trạng hoạch định năng lực sản xuất của nhà máy 60

2.3.3 Thực trạng về lập kê hoạch tổng hợp của doanh nghiệp 61

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH TỔNG HỢP CỦA NHÀ MÁY 64

2.4.1 Thành công và hạn chế 64

2.4.2 Nguyên nhân hạn chế 65

CHƯƠNG 3 LẬP KẾ HOẠCH TỔNG HỢP TẠI CÔNG TY VBL CHO NĂM 2016 67

3.1 CƠ SỞ XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP LẬP KẾ HOẠCH TỔNG HỢP67 3.1.1 Xu thế phát triển ngành bia tại việt nam 67

3.1.2 Định hướng phát triển giai đoạn 2016-2020 68

3.2 PHÁT TRIỂN CÁC TIỀN ĐỀ CHO LẬP KẾ HOẠCH TỔNG HỢP 69

3.2.1 Dự báo nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của công ty VBL đến năm 2016 69

3.2.2 Xác định và đánh giá năng lực sản xuất của nhà máy 72

3.2.3 Xác định chi phí trong sản xuát của nhà máy 75

Trang 6

XUẤT CHO NĂM 2016 77

3.3.1 Lựa chọn phương pháp lập kế hoạch tổng hợp 77

3.3.2 Xây dựng phương án sản xuất cho năm 2016 77

3.3.3 Đánh giá phương án sản xuất 82

KẾT LUẬN 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 7

các kết quả dự báo sản lượng

76

3.8 Phân bổ sản lượng 2016 77 3.9 Chi phí sản xuất theo phương án thay đổi tồn kho 79 3.10 Chi phí sản xuất theo phương án tăng giờ làm 81

Trang 8

Số hiệu

1.1 Các loại kế hoạch sản xuất 6 1.2 Quá Trình Sản xuất 12 1.3 Hình thức tổ chức sản xuất hỗn hợp 20 2.1 Quy trinh sản xuất của Nhà máy bia VBL 51 2.2 Bố trí sản xuất Nhà máy bia VBL 54 2.3 Sản lượng thức tế năm 2012 58 2.4 Sản lượng thức tế năm 2013 58 2.5 Sản lượng thức tế năm 2014 59 2.6 Quy trình lập kế hoạch của nhà máy 63 3.1 Quy trình lập kế hoạch theo phương án thay

đổi tồn kho

78

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài

Hầu hết các doanh nghiệp nước ngoài công tác sản xuất kinh doanh luôn mang lại hiệu quả, bởi vì họ xây dựng một kế hoạch đủ rộng và xa Bảng kế hoạch, hoạch định của họ luôn chuẩn bị kỹ càng,khoa học nên họ luôn đối phó nhanh và tối ưu đối với sự thay đổi của môi trường bên trong lẫn bên ngoài Từ đó, các doanh nghiệp có thể tận dung đối đa nguồn lực và sử dụng

nó một cách triệt để và hiệu quả Giúp giảm giá thành sản xuất từ đó năng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

Ngày nay, Hội nhập kinh tế quốc tế mở ra những cơ hội thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước vươn ra thị trường quốc tế, đồng thời cũng đặt

ra những thách thức lớn đối với các doanh nghiệp trong nước Sự thâm nhập của các doanh nghiệp nước ngoài sẽ làm môi trường cạnh tranh gay gắt hơn ngay tại thị trường nội địa Điều này có thể làm cho doanh nghiệp bị thu hẹp thị trường, thua lỗ thậm chí phá sản Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp trong nước buộc phải đổi mới

Nhưng Ở Việt Nam việc lập kế hoạch là việc ít được chú trọng, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ chú trọng vào khâu bán hàng, việc sản xuất phụ thuộc vào các đơn hàng mà doanh nghiệp kiếm được Họ không chú trọng tới việc dự báo nhu cầu Từ đó dẫn đến tình trạng, doanh nghiệp luôn bị động trước nhưng biến đổi của môi trưởng Đặc biệt, là các doanh nghiệp sản xuất bia khi mà nhu cầu của ngành này phụ thuộc rất nhiều vào tính thời vụ và xu hướng tiêu dùng

Một kế hoạch tổng hợp tốt sẽ giúp doanh nghiêp giảm gánh nặng chi phí

về tồn kho, nhân lực, mang lai sự hiệu quả cao trong sản xuất khi tận dụng triệt để năng lực sản xuất của mình bằng cách phân bổ được mức sản xuất,

Trang 10

mức dự trữ, giúp doanh nghiệp đáp ứng tốt và kịp thời nhu cầu của thị trường trong ngắn, trung và dài hạn

Với các lý do trên, tôi đã chọn đề tài luận văn tốt nghiệp của mình là:

“Lập kế hoạch tổng hợp cho bộ phận sản xuất tại Nhà máy bia Việt Nam (VBL) tại Đà Nẵng"

2 Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống hóa những vấn đề lí luận cơ bản về lập kế tổng hợp cho doanh nghiệp

Phân tích thực trạng lập kế hoạch tổng hợp tại nhà máy bia VBL

Đánh giá khách quan về thực trạng công tác lập kế hoạch tổng hợp tại nhà máy

Xây dựng kế hoạch tổng hợp giúp Nhà máy bia VBL cho năm 2016

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Lập kế hoạch tổng hợp tại Nhà máy bia VBL

3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Về không gian: giới hạn trong phạm vi quản trị doanh nghiệp tại Nhà máy bia VBL

Về thời gian: trong 3 năm (2012-2014) và định hướng phát triển của công ty trong thời gian tới(2016)

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích kinh tế, xã hội

Phương pháp phận loại và hệ thống hóa lý thuyết

Phương pháp lịch sử

Phương pháp điều tra, phỏng vấn

Phương pháp thống kê Nghiên cứu chính thức là một nghiên cứu định lượng

Trang 11

Chương 3: Lập kế hoạch tổng hợp tại Nhà máy bia VBL trong năm 2016

6 Tài liệu tổng quan

Theo “A managerial perspective on aggregate planning” của Geoff Buxey: Kê hoạch nguồn lực và sản xuất là rất quan trọng khi nhu cầu phụ thuộc và mùa vụ Vấn đề này được xử lý bằng 3 mức độ, chiến lược, chiến thuật và sản xuất Những mức độ này được liên kết với nhau để cung cấp đủ phạm vi để xử lý nhưng biến đổi thường trực của 3 mức này trong kế hoạch sản xuất tổng thể Hay nhiều chi phí phát sinh và khó khăn được loại bỏ trong thực hàng quản lý hàng hóa nông sản

Nghiên cứu cũng cho thấy “quy hoạch tuyến tính” cũng được áp dụng một cách thành công trong việc tính toán kế hoạch sản xuất tổng thể Một công ty sản xuát thức ăn tiện lợi và một thứ khác (ví dụ: bia) có cùng một môi trường sản xuất, nhưng một lần nữa mô hình đã đưa ra qua quá trình quản lý rằng có những cấu trúc khác nhau trong kế hoạch tổng hợp

Theo “Comparing Two Aggregate Planning Models” của S Barman and

RJ Tersine Mô hình PSH (production switching heuristic) là một trong số ít

mô hình thành công trong việc triển khai trong thử nghiệm những nghiên cứu gần đây về PSH đã chỉ ra mô hình này có thể đưa ra phương án tối ưu qua các phương thức nghiên cứu gần đây Mô hình cũng cho thấy nó có thể áp dụng một cách tốt nhất Thêm vào đó Khi so sánh với mô hình hỗ trợ đưa ra quyết định LDR ( Linear Programing Model) and LP(Linear Programing), mô hình

đã cho những kết quả khả quan với những lỗi ước lượng liên quan tới biến chi

Trang 12

phí Nghiên cứu này bổ sung những kiến thức mới so với những nghiên cứu trước đây bằng cách so sánh cách thức hoạt động của mô hình PSH và LP với những dự báo lỗi trong ước lượng nhu cầu bằng sử dụng cấu trúc chi phí tuyến tính Kết quả của nghiên cứu đồng thời cung cấp những bằng chứng cho thấy những kinh nghiệm hoạt động trong quá khứ có thể phát triển xa hơn với một thay đổi phần nào đó sản xuất thay thế điều có thể tách biệt tốt hơn hai và

ba mức của mô hình PSH

Theo “Aggregate Planning For Production” của Elwood S Buffa: Các phương thức quá khứ và tìm kiếm máy tính từng cái đã đề xuất công việc quản lý vài điểm khác biệt trong hoạch định tổng hợp Các mô hình hệ số quản lý có sức hấp dẫn lớn của sự kết hợp những quý tắc xây dựng và lối suy nghĩ chu đáo có phần thực dụng Những hệ số này được phát triển từ những cách quản lý thực tế được thu thập từ nhiều người quàn lý Kinh nghiệm qua ngày với những hệ số quản lý đã nhấn mạnh rằng nó có thể phát triển quy trình quản lý thông thường bằng cách áp dụng các quy tắc thích hợp Tham số

kế hoạch sản xuất có những lợi thế rõ rệt, mềm dẻo hơn trong việc phát triển các nguyên tắc đưa ra quyết định kể từ khi việc đánh giá chi phí được tách khỏi những hạn chế của hình thức toán học Chúng ta có ít kinh nghiệm với phương thức tìm kiếm máy tính Phương thức này đang từng bước có những dấu hiệu tiềm năng trong việc sử dụng của quản trị kể từ khi phương thúc này được triển khai môt phương thức để tìm sự tối ưu với sự mềm dẻo lớn trong

mô hình phát triển Tuy nhiên, đầu ra của máy tính có thể cho ra những dữ liệu lớn cho nhà quản trị để đưa ra quyết định trong việc dự đoán sản xuất và chi phí

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH TỔNG HỢP

1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ HOẠCH TỔNG HỢP

Định nghĩa: Lập kế hoạch tổng hợp: là phát triển các kế hoạch sản xuất

trung hạn nhằm biến đổi mức sản xuất phù hợp với nhu cầu và đạt được hiệu quả kinh tế cao

1.1.1 Phạm vi, thời gian của lập kế hoạch tổng hợp

Trong quá trình lập kế hoạch,nhà quản trị lập ra 3 loại kế hoạch xét về mặt thời gian, đó là kế hoạch ngắn hạn, kế hoạch trung hạn và kế hoạch dài hạn, trong đó kế hoạch trung hạn là hạt nhân của hoạch định tổng hợp

Khi lập kế hoạch dài hạn các nhà quản trị đưa ra các dự định, kế hoạch dài hạn thuộc về chiến lược, huy động công suất của doanh nghiệp, đây là trách nhiệm các các nhà lãnh đạo của doanh nghiệp Kế hoạch này chỉ ra con đường và chính sách phát triển của doanh nghiệp; định vị doanh nghiệp; phương hướng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới; nhu cầu và giải pháp đầu tư trong một giai đoạn kéo dài nhiều năm

Kế hoạch trung hạn chỉ bắt đầu được xây dựng sau khi đã có quyết định

về huy động công suất dài hạn Trong loại kế hoạch này, nhà quản trị tác nghiệp phải ra các quyết địnhcó liên quan đến chiến lược theo đuổi, kế hoạch tổng hợp cho thời gian 3 tháng, 6 tháng đến 3 năm Kế hoạch tổng hợp phải phù hợp với với những chủ trương của kế hoạch dài hạn mà các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã đề ra

Kế hoạch ngắn hạn thường được xây dựng cho thời gian ngắn dưới 3 tháng, như kế hoạch ngày tuần, tháng Kế hoạch ngắn hạn thường do các nhà quản trị tác nghiệp ở phân xưởng, tổ hoặc đội sản xuất xây dựng Các quản đốc phân xưởng, tổ trưởng sản xuất căn cứ vào kế hoạch tổng hợp trung hạn

Trang 14

được giao tiến hành phân bổ công việc ra cho từng tuần, tháng để thực hiện Các công việc phải làm để thực hiện kế hoạch ngắn hạn là: phân công công việc, lập tiến độ sản xuất, đặt hàng

Hình 1.1 Các loại kế hoạch sản xuất

1.1.2 Mục tiêu của lập kế hoạch tổng hợp

Mỗi hệ thống sản xuất đều có mục tiêu tối cao là tạo ra các sản phẩm và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu khách hàng Chất lượng của sự đáp ứng nhu cầu quyết định sự thành công của doanh nghiệp, điều này thể hiện ở chỗ doanh nghiệp không chỉ tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt mà còn luôn chủ động tạo

ra khối lượng sản phẩm phù hợp với mức yêu cầu của thị trường Do đó

Trang 15

doanh nghiệp phải chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết để đáp ứng nhu cầu một cách tốt nhất

Phát triển các kế hoạch sản xuất hiện thực và tối ưu thông qua 3 mục tiêu chính:

- Hoạch định tổng hợp về mức dự trữ và sản xuất để thoả mãn nhu cầu của thị trường sao cho tổng chi phí dự trữ và các chi phí sản xuất là gần đạt mức nhỏ nhất

- Phân bổ mức sản xuất và mức dự trữ cho từng loại sản phẩm sao cho tổng các giá trị phân bổ phải bằng giá trị tổng hợp và tổng các chi phí vẫn gần như thấp nhất;

- Huy động tổng hợp các nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu thị trường

1.1.3 Sự cần thiết và mối quan hệ của hoạch định tổng hợp

Giữa sản xuất và nhu cầu dự báo luôn có sự sai lệch: Một là, sai lệch về thời gian giữa nhu cầu dự báo và sản xuất thực sự, sản phẩm hay dịch vụ chỉ gặp nhau thật sự sau một khoảng thời gian cần để sản xuất, bao gói, bóc dỡ, vận chuyển, giao hàng, Hai là, các nhu cầu dự báo có thể biến thiên với những dao động lớn dẫn đến việc cần phải cân nhắc mức sản xuất đáp ứng nhu cầu hiệu quả Điều này làm cho mức sản xuất có độ lệch nào đó so với nhu cầu dự báo

Do đó, để có thể chuẩn bị mức sản xuất đáp ứng nhu cầu một cách chủ động, đơn vị cần phải có kế hoạch trong tương lai Tuỳ theo đặc tính biến đổi của nhu cầu, tuỳ từng loại sản phẩm mà khoảng thời gian cụ thể cho yêu cầu hoạch định có độ dài khác nhau

1.2 NỘI DUNG CÁC CHIẾN LƯỢC TRONG HOẠCH ĐỊNH TỔNG HỢP

Khi lập kế hoạch tổng hợp, các nhà quản trị sản xuất phải trả lời các câu

Trang 16

- Nếu nhu cầu thay đổi thì doanh nghiệp có thể thực hiện việc ổn định lực lượng lao động kết hợp với việc thuê gia công ngoài hoặc làm gia công cho bên ngoài để vẫn có thể đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng với chi phí nhỏ nhất không?

- Khi nhu cầu thay đổi thì doanh nghiệp nên áp dụng một giải pháp riêng

lẻ nào đó (tổ chức làm thêm giờ, thuê nhân công ) hay áp dụng đồng thời nhiều giải pháp với nhau? Trả lời các câu hỏi trên, doanh nghiệp sẽ tìm ra cách thức nhằm thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng phù hợp với điều kiện thị trường và đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp, đó chính là chiến lược hoạch định tổng hợp trong quản trị doanh nghiệp

Căn cứ vào các tiêu tức khác nhau, chiến lược hoạch định tổng hợp có thể phân thành các loại khác nhau

- Chiến lược thuần tuý và chiến lược hỗn hợp: Nếu trong cùng một thời gian ta chỉ thay đổi một yếu tố, tức là chúng ta dùng “Chiến lược thuần tuý” Nếu đồng thời kết hợp nhiều yếu tố khác nhau trong điều kiện thay đổi theo những nguyên tắc nhất quán, tức là chúng ta dùng chiến lược hỗn hợp để hoạch định tổng hợp Ta có thể khái quát hóa nội dụng các chiến lược như sau:

Trang 17

Đặc Điểm Ưu Điểm Nhược Điểm

 Thích hợp đối với những nơi mà lao động không cần có

kỹ xảo chuyên môn hoặc đối với những người làm thêm để

có thêm thu nhập phụ

 Tránh được rủi

ro do sự biến động quá thất thường của nhu cầu

 Giảm được một

số chi phí của các cách lựa chọn khác như chi phí dự trữ hàng hoá

 Chi phí thuê mướn và sa thải đều gây ra chi phí lớn

 Doanh nghiệp có thể bị mất uy tín do thường xuyên cho lao động thôi việc

 Ảnh hưởng đến tinh thần của công nhân, có thể làm giảm năng suất của

số đông công nhân sản xuất trong doanh

có thể cố định số lao động nhưng thay đổi số giờ làm việc Khi nhu cầu tăng cao có thể

tổ chức làm thêm giờ, trong giai đoạn

 Giúp doanh nghiệp đối phó kịp thời với những biến động của nhu cầu thị trường

 Ổn định được nguồn nhân lực, giảm chi phí liên quan đến học nghề,

 Chi phí trả cho những giờ làm thêm thường cao

 Công nhân dễ mệt mỏi do làm việc quá sức

 Nguy cơ không đáp ứng được nhu cầu

Trang 18

Đặc Điểm Ưu Điểm Nhược Điểm

nhu cầu thấp có thể để cho nhân viên được nghỉ ngơi chứ không cần cho thôi việc

học việc

 Tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động

Hợp

đồng phụ

Trong các giai đoạn nhu cầu tăng cao, doanh nghiệp có thể ký hợp đồng thuê gia công ngoài Ngược lại doanh nghiệp cũng

có thể nhận các hợp đồng từ bên ngoài

về làm tại doanh nghiệp khi doanh nghiệp có thừa khả năng nhằm tận dụng các phương tiện, lao động dư thừa

 Đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng

 Tận dụng được công suất của máy móc thiét bị, lao động, diện tích sản xuất

 Tạo ra sự nhanh nhậy, linh hoạt trong điều hành

 Khó kiểm soát thời gian, sản lượng, chất lượng trong trường hợp thuê gia công; Phải chia sẻ lợi nhuận cho bên nhận gia công

 Tạo cơ hội cho đối thủ cạnh tranh tiếp cận với khách hàng, làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

tỉ lê đâu ra cố định

Thâm hụt và dư

 Quá trình sản xuất

ổn định, không có những thay đổi bất thường;

 Nhiều loại chi phí tăng lên như chi phí tồn kho, chi phí bảo hiẻm

Trang 19

Đặc Điểm Ưu Điểm Nhược Điểm

thừa sản xuất sẽ được tập trung xử

lý bằng thay đổi mức tốn kho, các đơn hàng trễ

 Kịp thời thoả mãn nhu cầu của khách hàng;

 Việc điều hành quá trình sản xuất đơn giản

 Nếu thiếu hàng

sẽ bị mất doanh số bán một khi có nhu cầu gia tăng

dụ doanh nghiệp có thể kết hợp việc làm thêm giờ, hợp đồng phụ và chịu tồn kho

để xây dựng kế hoạch Đây cũng là một nhiệm vụ thách thức đối với công tác hoạch định tổng hợp

vì nó có vô vàn cách phối hợp các khả năng lại với nhau, thường thì khó có thể tìm ra được một hoạch định tổng hợp tối ưu

 Có thể xây dựng một kế hoạch sản xuất tốt nhất

 Khó xây dựng

Trang 20

1.3 CÁC TIỀN ĐỀ CỦA KẾ HOẠCH TỔNG HỢP

1.3.1 Sản xuất và phân loại sản xuất

a Sản Xuất

Hiện nay theo quan niệm phổ biến trên thế giới thì sản xuất (Production) được hiểu là một quá trình (Process) tạo ra sản phẩm (Goods) hoặc dịch vụ (Services)

Sản phẩm của quá trình sản xuất bao gồm hai loại chính Thứ nhất, sản phẩm hữu hình là kết quả của quá trình sản xuất thoả mãn nhu cầu của con người và tồn tại dưới dạng vật thể Thứ hai, sản phẩm vô hình là kết quả của quá trình sản xuất thoả mãn nhu cầu của con người nhưngkhông tồn tại dưới dạng vật thể (thường gọi là dịch vụ) Quan niệm cũ cho rằng chỉ có những doanh nghiệp chế tạo sản xuất các sản phẩm vật chất có hình thái cụ thể như vật liệu máy móc thiết bị, mới gọi là đơn vị sản xuất

Hình 1.2 Quá Trình Sản xuất

b Phân loại sản xuất

Trong thực tiễn có rất nhiều kiểu, dạng sản xuất khác nhau Sự khác biệt

về kiểu, dạng sản xuất có thể do sự khác biệt về trình độ trang bị kỹ thuật, trình độ tổ chức sản xuất, về tính chất sản phẩm

Mỗi kiểu, dạng sản xuất đòi hỏi phải áp dụng một phương pháp quản trị thích hợp Do đó phân loại sản xuất là một yếu tố quan trọng, là cơ sở để

Trang 21

trên, việc phân loại này phải được tiến hành trước khi thực hiện một dự án quản trị sản xuất Sản xuất của một doanh nghiệp được đặc trưng trước hết bởi sản phẩm của nó Tuy nhiên người ta có thể thực hiện phân loại sản xuất theo các đặc trưng sau đây:

- Số lượng sản phẩm sản xuất

- Tổ chức các dòng sản xuất

- Mối quan hệ với khách hàng

- Kết cấu sản phẩm

- Khả năng tự chủ trong việc sản xuất sản phẩm

Phân loại theo số lượng sản xuất và tính chất lặp lại:

Phân loại theo số lượng sản xuất và tính chất lặp lại là một cách phân loại có tính chất giao nhau Theo cách phân loại này ta có:

- Sản xuất đơn chiếc

Loại vừa và

nhỏ

+ Dụng cụ + Máy công cụ

+ Sản phẩm cơ khí, điện tử chuyên dung

Loại lớn + Đồ điện dân dụng + Báo, tạp chí

+ Sản phẩm mốt

Trang 22

* Sản xuất đơn chiếc

Đây là loại hình sản xuất diễn ra trong các doanh nghiệp có số chủng loại sản phẩm được sản xuất ra rất nhiều nhưng sản lượng mỗi loại được sản xuất rất nhỏ Thường mỗi loại sản phẩm người ta chỉ sản xuất một chiếc hoặc vài chiếc Quá trình sản xuất không lặp lại, thường được tiến hành một lần nên chúng có một số đặc điểm cơ bản sau:

- Khâu chuẩn bị kỹ thuật sản xuất và khâu sản xuất thường không được tách rời Không có sự chế tạo, thử nghiệm sản phẩm trước khi đưa vào sản xuất như ở trong các loại hình sản xuất cao hơn

- Quy trình công nghệ thường được lập ra một cách sơ sài, trong nhiều trường hợp chúng cần được chính xác hoá nhờ kinh nghiệm của người công nhân

- Trình độ nghề nghiệp của người công nhân cao vì họ phải làm nhiều loại công việc khác nhau Nhưng do không được chuyên môn hoá nên năng suất lao động thường thấp

- Máy móc thiết bị của doanh nghiệp chủ yếu là các thiết bị vạn năng được sắp xếp theo từng loại máy có cùng tính năng, tác dụng phù hợp với những công việc khác nhau và thay đổi luôn luôn

- Đầu tư ban đầu nhỏ và tính linh hoạt của hệ thống sản xuất cao Đây là

ưu điểm chủ yếu của loại hình sản xuất này

* Sản xuất hàng khối

Đây là loại hình sản xuất đối lập với loại hình sản xuất đơn chiếc, diễn ra trong các doanh nghiệp có số chủng loại sản phẩm được sản xuất ra ít thường chỉ có một vài loại sản phẩm với khối lượng sản xuất hàng năm rất lớn Quá trình sản xuất rất ổn định, ít khi có sự thay đổi về kết cấu sản phẩm, yêu cầu

kỹ thuật gia công sản phẩm cũng như nhu cầu sản phẩm trên thị trường Sản xuất thép, sản xuất giấy, sản xuất điện, xi măng là những ví dụ tương đối

Trang 23

điển hình về loại hình sản xuất này Các doanh nghiệp có loại hình sản xuất này thường có những đặc điểm chính sau:

- Vì gia công chế biến ít loại sản phẩm với khối lượng lớn nên thiết bị máy móc thường là các loại thiết bị chuyên dùng hoặc các thiết bị tự động, được sắp xếp thành các dây chuyền khép kín cho từng loại sản phẩm

- Khâu chuẩn bị kỹ thuật sản xuất như thiết kế sản phẩm, chế tạo các mẫu thử sản phẩm và quy trình công nghệ gia công sản phẩm được chuẩn bị rất chu đáo trước khi đưa vào sản xuẩt đồng loại Như vậy khâu chuẩn bị kỹ thuật sản xuất và khâu sản xuất là hai giai đoạn tách rời

- Do tổ chức sản xuất theo kiểu dây chuyền nên trình độ chuyên môn hoá người lao động cao, mỗi người công nhân thường chỉ thực hiện một nguyên công sản xuất ổn định trong khoảng thời gian tương đối dài nên trình độ nghề nghiệp của người lao động không cao nhưng năng suất lao động thì rất cao

- Chất lượng sản phẩm ổn định, giá thành hạ Đây là những ưu điểm lớn nhất của loại hình sản xuất này

- Nhu cầu vốn đầu tư ban đầu vào các thiết bị chuyên dùng rất lớn Đây

là nhược điểm lớn nhất của loại hình sản xuất này, khi nhu cầu thị trường thay đổi, doanh nghiệp rất khó khăn trong việc chuyển đổi sản phẩm Do vậy, chúng thường chỉ được áp dụng đối với các sản phẩm thông dụng có nhu cầu lớn và ổn định

* Sản xuất hàng loạt (Sản xuất loại nhỏ và loại trung bình) - Batch

Sản xuất hàng loạt là loại hình sản xuất trung gian giữa sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng khối, thường áp dụng đối với các doanh nghiệp có số chủng loại sản phẩm được sản xuất ra tương đối nhiều nhưng khối lượng sản xuất hàng năm mỗi loại sản phẩm chưa đủ lớn để mỗi loại sản phẩm có thể được hình thành một dây chuyền sản xuất độc lập Mỗi bộ phận sản xuất phải gia công chế biến nhiều loại sản phẩm được lặp đi lặp lại theo chu kỳ Với

Trang 24

mỗi loại sản phẩm người ta thường đưa vào sản xuất theo từng "loạt" nên chúng mang tên "sản xuất hàng loạt" Loại hình sản xuất này rất phổ biến trong ngành công nghiệp cơ khí dụng cụ, máy công cụ, dệt may, điện dân dụng, đồ gỗ nội thất với những đặc trưng chủ yếu sau:

- Máy móc thiết bị chủ yếu là thiết bị vạn năng được sắp xếp bố trí thành những phân xưởng chuyên môn hoá công nghệ Mỗi phân xưởng đảm nhận một giai đoạn công nghệ nhất định của quá trình sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện một phương pháp công nghệ nhất định

- Chuyên môn hoá sản xuất không cao nhưng quá trình sản xuất lặp đi lặp lại một cách tương đối ổn định nên năng suất lao động tương đối cao

- Vì mỗi bộ phận sản xuất gia công nhiều loại sản phẩm khác nhau về yêu cầu kỹ thuật và quy trình công nghệ nên tổ chức sản xuất thường rất phức tạp Thời gian gián đoạn trong sản xuất lớn, chu kỳ sản xuất dài, sản phẩm tồn kho trong nội bộ quá trình sản xuất lớn Đó là những vấn đề lớn nhất trong quản lý sản xuất loại hình này

- Đồng bộ hoá sản xuất giữa các bộ phận sản xuất là một thách thức lớn khi xây dựng một phương án sản xuất cho loại hình sản xuất này

- Vì là một loại hình trung gian của hai loại hình trên nên nó cũng có những đặc điểm trung gian của sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng khối

Phân loại theo hình thức tổ chức sản xuất:

Theo cách phân loại này chúng ta có ba dạng sản xuất chủ yếu sau đây:

- Sản xuất liên tục

- Sản xuất gián đoạn

- Sản xuất theo dự án

Trong thực tế còn có thể có các dạng sản xuất trung gian

* Sản xuất liên tục (Flow shop)

Sản xuất liên tục là một quá trình sản xuất mà ở đó người ta sản xuất và

Trang 25

xử lý một khối lượng lớn một loại sản phẩm hoặc một nhóm sản phẩm nào

đó Thiết bị được lắp đặt theo dây chuyền sản xuất làm cho dòng di chuyển của sản phẩm có tính chất thẳng dòng Vì các xưởng được sắp xếp thẳng dòng nên tiếng Anh gọi là Flow shop Trong dạng sản xuất này, máy móc thiết bị và các tổ hợp sản xuất được trang bị chỉ để sảnxuất một loại sản phẩm vì vậy hệ thống sản xuất không có tính linh hoạt Để hạn chế sự tồn ứ chế phẩm và khơi thông dòng chuyển sản phẩm trong nội bộ quá trình sản xuất, cân bằng năng suất trên các thiết bị và các công đoạn sản xuất phải được tiến hành một cách thận trọng và chu đáo

Dạng sản xuất liên tục thường đi cùng với tự động hoá quá trình vận chuyển nội bộ bằng hệthống vận chuyển hàng hoá tự động Tự động hoá nhằm đạt được một giá thành sản phẩm thấp, mộtmức chất lượng cao và ổn định, mức tồn đọng chế phẩm thấp và dòng luân chuyển sản phẩm nhanh Trong các doanh nghiệp dạng sản xuất liên tục bắt buộc phải thực hiện phương pháp sửa chữa dự phòng máy móc thiết bị (sửa chữa trước khi máy hỏng) để tránh sự gián đoạn hoàn toàn của quá trình sản xuất

* Sản xuất gián đoạn (Job shop)

Sản xuất gián đoạn là một hình thức tổ chức sản xuất ở đó người ta xử

lý, gia công, chế biến một số lượng tương đối nhỏ sản phẩm mỗi loại, song số loại sản phẩm thì nhiều, đa dạng Quá trình sản xuất được thực hiện nhờ các thiết bị vạn năng (máy tiện, máy phay) Việc lắp đặt thiết bị được thực hiện theo các bộ phận chuyên môn hoá chức năng Bộ phận chuyên môn hoá chức năng là bộ phận ở đó tập hợp tất cả các máy móc, thiết bị có cùng chức năng, cùng nhiệm vụ (máy tiện, máy phay, ) dòng di chuyển của sản phẩm phụ thuộc vào thứ tự các nguyên công cần thực hiện

Trong dạng sản xuất này người ta bố trí các bộ phận theo nhiệm vụ (Job shop), máy móc thiết bị có khả năng thực hiện nhiều công việc khác nhau, nó

Trang 26

không phải là để chuyên môn hoá cho một loại sản phẩm vì vậy tính linh hoạt của hệ thống sản xuất cao Ngược lại rất khó cân bằng các nhiệm vụ trong một quá trình sản xuất gián đoạn Năng suất của các máy không bằng nhau làm cho mức tồn đọng chế phẩm trong quá trình sản xuất tăng lên Công nghiệp cơ khí và công nghiệp may mặc là những ví dụ điển hình về dạng sản

xuất này

* Sản xuất theo dự án

Sản xuất theo dự án là một loại hình sản xuất mà ở đó sản phẩm là độc nhất (Ví dụ: đóng một bộ phim, đóng một con tàu, viết một cuốn sách, ) và

vì lẽ đó quá trình sản xuất cũng là duy nhất, không lặp lại

Nguyên tắc của tổ chức sản xuất theo dự án là tổ chức thực hiện các công việc và phối hợp chúng sao cho giảm thời gian gián đoạn, đảm bảo kết thúc dự án và giao nộp sản phẩm đúng thời hạn

Trong dạng sản xuất này quá trình sản xuất không ổn định, cơ cấu tổ chức bị xáo trộn rất lớn do chuyển từ dự án này sang dự án khác, tổ chức sản xuất phải đảm bảo tính chất linh hoạt cao để có thể thực hiện đồng thời nhiều

dự án sản xuất cùng một lúc Sản xuất theo dự án có thể coi như một dạng đặc biệt của sản xuất gián đoạn

Phân loại theo mối quan hệ với khách hàng

Theo cách phân loại này chúng ta phân biệt hai dạng sản xuất chính sau:

- Sản xuất để dự trữ

- Sản xuất khi có yêu cầu ( đặt hàng)

* Sản xuất để dự trữ

Sản xuất để dự trữ sản phẩm cuối cùng của một doanh nghiệp xảy ra khi:

- Chu kỳ sản xuất lớn hơn chu kỳ thương mại mà khách hàng yêu cầu Chu kỳ sản xuất sản phẩm là khoảng thời gian kể từ khi đưa sản phẩm vào gia công cho tới khi sản phẩm hoàn thành và có thể giao cho khách hàng Chu kỳ

Trang 27

thương mại đó là khoảng thời gian kể từ khi khách hàng có yêu cầu cho đến khi yêu cầu đó được phục vụ (thoả mãn), nói một cách khác, từ khi khách hàng hỏi mua đến khi nhận được sản phẩm Khi chu kỳ sản xuất dài hơn chu

kỳ thương mại, cần phải sản xuất trước (dựa trên kết quả của quá trình dự báo nhu cầu) để thoả mãn nhu cầu của khách hàng nhanh nhất ngay khi xuất hiện một yêu cầu

- Các nhà sản xuất muốn sản xuất một khối lượng lớn để giảm giá thành

- Nhu cầu về các loại sản phẩm có tính chất thời vụ, trong các giai đoạn nhu cầu sản phẩm trên thị trường thấp, sản phẩm không tiêu thụ được, các nhà sản xuất không muốn ngừng quá trình sản xuất, sa thải công nhân, vì vậy họ quyết định sản xuất để dự trữ rồi tiêu thụ cho các kỳ sau, khi nhu cầu trên thị trường tăng lên

* Sản xuất theo yêu cầu

Theo hình thức này quá trình sản xuất chỉ được tiến hành khi xuất hiện những yêu cầu cụ thể của khách hàng về sản phẩm Vì vậy nó tránh được sự tồn đọng của sản phẩm cuối cùng chờ tiêu thụ Dạng sản xuất này hiện nay được ưa chuộng và sử dụng nhiều hơn dạng sản xuất để dự trữ bởi vì nó giảm được khối lượng dự trữ, giảm các chi phí tài chính nhờ đó mà giảm được giá thành sản phẩm, nâng cao lợi nhuận Vì vậy hãy lựa chọn hình thức sản xuất này khi có thể Trong thực tế, hình thức tổ chức sản xuất hỗn hợp tồn tại khá nhiều, ở đó người ta tận dụng thời hạn chấp nhận được của khách hàng để lắp ráp hoặc thực hiện khâu cuối cùng của quá trình sản xuất sản phẩm, hoặc để

cá biệt hoá tính chất của sản phẩm (phần này được thực hiện theo những yêu cầu của khách hàng), giai đoạn đầu được thực hiện theo phương pháp sản xuất

để dự trữ

Trang 28

Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu)

Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận Về mặt quản lý, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của

cá nhân Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá nhân

Trang 29

Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay mất cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa

Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng Nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội

* Đặc điểm nhu cầu:

- Không ổn định, biến đổi

- Năng động

- Biến đổi theo quy luật

- Không bao giờ thỏa mãn cùng một lúc mọi nhu cầu

- Ham muốn không có giới hạn

* Các yếu tố ảnh hưởng tới cầu:

Tổng nhu cầu thị trường đối với một sản phẩm là tổng khối lượng sẽ

được mua bởi một loại khách hàng nhất định tại một khu vực địa lý nhất định trong một thời gian nhất định ở một hoàn cảnh marketing nhất định dưới một mức độ và phối hợp nhất định các nổ lực marketing của ngành sản xuất sản phẩm đó

Chúng ta có thể thấy rằng tổng nhu cầu thị trường không phải là con số

cố định, mà là một hàm số thay đổi theo những điều kiện riêng biệt Một trong những điều kiện đó có thể là mức độ và sự phối hợp các nỗ lực marketing của

Trang 30

ngành, hoàn cảnh thực tế của thị trường hay thực trạng nền kinh tế

Có nhiều phương pháp để ước lượng tổng nhu cầu thị trường, sau đây là hai phương pháp đơn giản và được áp dụng khá phổ biến

Cách ước lượng phổ biến như sau :

Q = n * q * p (*)

Q : tổng nhu cầu thị trường

n : số lượng người mua trong thị trường

q : số lượng mà một khách mua trung bình đã mua trong 1 năm

p : mức giá trung bình của một đơn vị sản phẩm

Ước lượng nhu cầu thị trường khu vực

Nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với vấn đề lựa chọn những khu vực tốt nhất và việc phân chia có hiệu quả nhất ngân sách marketing vào những khu vực đó Do vậy, họ cần ước lượng được tiềm năng thị trường của nhiều khu vực địa lý Có hai phương pháp ước lượng tiềm năng thị trường trong trường hợp này: phương pháp tạo dựng thị trường (the market - building method), thường được sử dụng chủ yếu cho các doanh nghiệp để ước lượng nhu cầu thị trường tư liệu sản xuất, và phương pháp chỉ số đa yếu tố thị trường (the maeket - factor index method) được sử dụng phổ biến cho các doanh nghiệp

để ước lượng nhu cầu thị trường tiêu dùng

Phương pháp tạo dựng thị trường đòi hỏi phải phát hiện tất cả những

khách hàng tiềm năng về một sản phẩm nhất định trên từng thị trường và ước tính khả năng mua hàng của họ Việc này sẽ đơn giản nếu như chúng ta có được danh sách tất cả những khách hàng tiềm năng về sản phẩm đó và ước tính được số sản phẩm mà từng người đó sẽ mua Trên thực tế thì thường người ta không có những tư liệu này Vì thế người ta phải dựa vào những căn

cứ nào đó được coi là quan trọng có sức thuyết phục để lập ra mức nhu cầu

mà người ta tin là gần với nhu cầu thực tế của thị trường

Trang 31

Phương pháp chỉ số đa yếu tố thị trường được sử dụng trong việc ước

lượng tiềm năng thị trường khu vực về sản phẩm tiêu dùng Do số lượng khách hàng quá lớn nên không thể thống kê danh sách khách hàng được Phương pháp đưọc dùng phổ biến nhất là phương pháp chỉ số đơn giản Ví dụ, một nhà sản xuất dược phẩm có thể giả định rằng tiềm năng của thị trường thuốc chữa bệnh tỉ lệ thuận với số dân Nếu số dân thành phố Đà Nẵng chiếm 1% dân số Việt Nam thì công ty có thể giả thiết Đà Nẵng sẽ là thị trường tiêu

thụ 1% tổng số thuốc chữa bệnh đã bán ra

Tuy nhiên, trên thực tế rất có thể số thuốc được bán ra lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố quan trọng, như thu nhập trung bình của người dân, số bác sĩ tính trên 100.000 dân, tình trạng sức khỏe và nhiều yếu tố khác nữa Do vậy, cần xây dựng một chỉ số đa yếu tố, trong đó mỗi yếu tố có một hệ số quan trọng riêng

Ước lượng doanh số và thị phần

Ngoài việc ước lượng nhu cầu khu vực và tổng nhu cầu thị trường, các doanh nghiệp còn muốn biết doanh số của cả ngành hiện nay trên thị trường Việc này có nghĩa là phải xác định các đối thủ cạnh tranh và ước tính doanh

số của họ

Hiệp hội thương mại của ngành thường sẽ thu thập và cho xuất bản số liệu về tổng doanh số của cả ngành, tuy không liệt kê doanh số của từng doanh nghiệp

Bằng vào những số liệu này, mỗi doanh nghiệp có thể đánh giá được hoạt động của mình trong ngành Giả sử doanh số của doanh nghiệp tăng 5 phần trăm mỗi năm trong khi mức tăng toàn ngành là 10 phần trăm, thì doanh nghiệp đó đang thực sự mất dần vị trí tương đối của mình trong ngành đó

b Dự báo

Khái niệm:

Dự báo là sự tiên đoán có căn cứ khoa học, mang tính chất xác suất về

Trang 32

mức độ, nội dung, các mối quan hệ, trạng thái, xu hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu hoặc về cách thức và thời hạn đạt được các mục tiêu nhất định đã đề ra trong tương lai

Tiên đoán là hình thức phản ánh vượt trước về thời gian hiện thực khách quan, đó là kết quả nhận thức chủ quan của con người dựa trên cơ sở nhận thức quy luật khách quan trong sự vậnđộng và phát triển của sự vật và hiện tượng Có thể phân biệt ba loại tiên đoán:

Tiên đoán không khoa học: Đó là các tiên đoán không có cơ sở khoa học, thường dựa trên các mối quan hệ qua lại có tính tưởng tượng, không hiện thực, được cấu trúc một cách giả tạo, hoặc những phát hiện có tính chất bất chợt Các hình thức như bói toán, tiên tri, các luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch, thuộc loại tiên đoán này

Tiên đoán kinh nghiệm: Các tiên đoán hình thành qua kinh nghiệm thực

tế dựa vào các mối quan hệ qua lại thường xuyên trong thực tế hoặc tưởng tượng mà không trên cơ sở phân tích cấu trúc lý thuyết, nghiên cứu các quy luật hay đánh giá kinh nghiệm Loại tiên đoán này ít nhiều có cơ sở song lại không giải thích được sự vận động của đối tượng và đa số mới chỉ dừng lại ở mức độ định tính

Tiên đoán khoa học: đây là tiên đoán dựa trên việc phân tích mối quan

hệ qua lại giữa các đối tượng trong khuôn khổ của một hệ thống lý luận khoa học nhất định Nó dựa trên việc phân tích tính quy luật phát triển của đối tượng dự báo và các điều kiện ban đầu với tư cách như là các giả thiết Tiên đoán khoa học là kết quả của sự kết hợp giữa những phân tích định tính và những phân tích định lượng các quá trình cần dự báo Chỉ có dự báo khoa học mới đảm bảo độ tin cậy cao và là cơ sở vững chắc cho việc thông qua các quyết định quản lý khoa học

* Phân loại dự báo

Trang 33

khoảng thời gian khác nhau Căn cứ vào thời gian có 3 loại dự báo sau:

Dự báo ngắn hạn:

Dự báo ngắn hạn là dự báo có tầm xa dự báo rất ngắn, có thể tuần, tháng đến dưới một năm Dự báo loại này thường được dùng cho các quyết định mua sắm, điều độ công việc, phân giao nhiệm vụ, cân đối các mặt trong quản trị tác nghiệp

Dự báo trung hạn:

Khoảng thời gian dự báo thường từ tháng đến 3 năm Loại dự báo này cần thiết cho việc lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch bán hàng, dự thảo ngân sách, kế hoạch tiền mặt, huy động các nguồn lực

Dự báo dài hạn

Dự báo dài hạn là các dự báo cho khoảng thời gian từ 3 năm trở lên Loại

dự báo này cần cho việc lập các dự án sản xuất sản phẩm mới, lựa chọn các

dây chuyền công nghệ, thiết bị mới, mở rộng doanh nghiệp

* Các phương pháp dự báo

Phương pháp dự báo định tính

Các phương pháp này dựa trên cơ sở nhận xét của những nhân tố nhân quả, dựa theo doanh số của từng sản phẩm hay dịch vụ riêng biệt và dựa trên những ý kiến về các khả năng có liên hệ của những nhân tố nhân quả này trong tương lai Những phương pháp này có liên quan đến mức độ phức tạp khác nhau, từ những khảo sát ý kiến được tiến hành một cách khoa học để nhận biết về các sự kiện tương lai Dưới đây là các dự báo định tính thường dùng:

+ Lấy ý kiến của ban điều hành

Phương pháp này được sử dụng rộng rãi ở các doanh nghiệp Khi tiến hành dự báo, họ lấy ý kiến của các nhà quản trị cấp cao, những người phụ trách các công việc, các bộ phận quan trọng của doanh nghiệp, và sử dụng các

Trang 34

số liệu thống kê về những chỉ tiêu tổng hợp: doanh số, chi phí, lợi nhuận Ngoài ra cần lấy thêm ý kiến của các chuyên gia về marketing, tài chính, sản xuất, kỹ thuật

Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là có tính chủ quan của các thành viên và ý kiến của người có chức vụ cao nhất thường chi phối ý kiến của những người khác

+ Lấy ý kiến của người bán hàng

Những người bán hàng tiếp xúc thường xuyên với khách hàng, do đó họ hiểu rõ nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng Họ có thể dự đoán được lượng hàng tiêu thụ tại khu vực mình phụ trách

Tập hợp ý kiến của nhiều người bán hàng tại nhiều khu vực khác nhau,

ta có được lượng dự báo tổng hợp về nhu cầu đối với loại sản phẩm đang xét Nhược điểm của phương pháp này là phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của người bán hàng Một số có khuynh hướng lạc quan đánh giá cao lượng hàng bán ra của mình Ngược lại, một số khác lại muốn giảm xuống để dễ đạt định mức

+ Phương pháp chuyên gia (Delphi)

Phương pháp này thu thập ý kiến của các chuyên gia trong hoặc ngoài doanh nghiệp theo những mẫu câu hỏi được in sẵn và được thực hiện như sau:

 Mỗi chuyên gia được phát một thư yêu cầu trả lời một số câu hỏi phục

vụ cho việc dự báo

 Nhân viên dự báo tập hợp các câu trả lời, sắp xếp chọn lọc và tóm tắt lại các ý kiến của các chuyên gia

 Dựa vào bảng tóm tắt này nhân viên dự báo lại tiếp tục nêu ra các câu hỏi để các chuyên gia trả lời tiếp

 Tập hợp các ý kiến mới của các chuyên gia Nếu chưa thỏa mãn thì tiếp tục quá trình nêu trên cho đến khi đạt yêu cầu dự báo

Trang 35

Ưu điểm của phương pháp này là tránh được các liên hệ cá nhân với nhau, không xảy ra va chạm giữa các chuyên gia và họ không bị ảnh hưởng bởi ý kiến của một người nào đó có ưu thế trong số người được hỏi ý kiến + Phương pháp điều tra người tiêu dùng

Phương pháp này sẽ thu thập nguồn thông tin từ đối tượng người tiêu dùng về nhu cầu hiện tại cũng như tương lai Cuộc điều tra nhu cầu được thực hiện bởi những nhân viên bán hàng hoặc nhân viên nghiên cứu thị trường Họ thu thập ý kiến khách hàng thông qua phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp hay điện thoại Cách tiếp cận này không những giúp cho doanh nghiệp về dự báo nhu cầu mà cả trong việc cải tiến thiết kế sản phẩm Phương pháp này mất nhiều thời gian, việc chuẩn bị phức tạp, khó khăn và tốn kém, có thể không chính xác trong các câu trả lời của người tiêu dùng

Phương pháp dự báo định lượng

Các phương pháp dự báo định lượng dựa vào các số liệu thống kê và thông qua các công thức toán học được thiết lập để dự báo nhu cầu cho tương lai Khi dự báo nhu cầu tương lai, nếu không xét đến các nhân tố ảnh hưởng khác có thể dùng các phương pháp dự báo theo dãy số thời gian Nếu cần ảnh hưởng của các nhân tố khác đến nhu cầu có thể dùng các mô hình hồi quy tương quan

Để tiến hành dự báo nhu cầu sản phẩm theo phương pháp định lượng cần thực hiện 8 bước sau:

- Xác định mục tiêu dự báo

- Lựa chọn những sản phẩm cần dự báo

- Xác định độ dài thời gian dự báo

- Chọn mô hình dự báo

- Thu thập các dữ liệu cần thiết

- Phê chuẩn mô hình dự báo

Trang 36

- Tiến hành dự báo

- Áp dụng kết quả dự báo

Phương pháp dự báo theo dãy số thời gian (Phương pháp ngoại suy)

Phương pháp dự báo theo dãy số thời gian được xây dựng trên một giả thiết về sự tồn tại và lưu lại các nhân tố quyết định đại lượng dự báo từ quá khứ đến tương lai Trong phương pháp này đại lượng cần dự báo được xác định trên cơ sở phân tích chuỗi các số liệu về nhu cầu sản phẩm (dòng nhu cầu) thống kê được trong quá khứ

Như vậy thực chất của phương pháp dự báo theo dãy số thời gian là kéo dài quy luật phát triển của đối tượng dự báo đã có trong quá khứ và hiện tại sang tương lai với giả thiết quy luật đó vẫn còn phát huy tác dụng

Các yếu tố đặc trưng của dãy số theo thời gian gồm:

- Tính xu hướng: Tính xu hướng của dòng nhu cầu thể hiện sự thay đổi của các dữ liệu theo thời gian (tăng, giảm )

- Tính mùa vụ: Thể hiện sự dao động hay biến đổi dữ liệu theo thời gian được lặp đi lặp lại theo những chu kỳ đều đặn do sự tác động của một hay nhiều nhân tố môi trường xung quanh như tập quán sinh hoạt, hoạt động kinh

tế xã hội Ví dụ: Nhu cầu dịch vụ bưu chính viễn thông không đồng đều theo các tháng trong năm

- Biến đổi có chu kỳ: Chu kỳ là yếu tố lặp đi lặp lại sau một giai đoạn thời gian Ví dụ: Chu kỳ sinh học, chu kỳ phục hồi kinh tế

- Biến đổi ngẫu nhiên: Biến đổi ngẫu nhiên là sự dao động của dòng nhu cầu do các yếu tố ngẫu nhiên gây ra, không có quy luật

Sau đây là các phương pháp dự báo theo dãy số thời gian

* Phương pháp trung bình giản đơn (Simple Average)

Phương pháp trung bình giản đơn là phương pháp dự báo trên cơ sở lấy trung bình của các dữ liệu đã qua, trong đó các nhu cầu của các giai đoạn

Trang 37

trước đều có trọng số như nhau, nó được thể hiện bằng công thức:

1

n

t i i t

D F

Ft - Nhu cầu dự báo cho kỳ t

Dt-i - Mức nhu cầu thực ở kỳ t-i

n - Số kỳ quan sát (Số kỳ có nhu cầu thực)

Phương pháp này san bằng được tất cả mọi sự biến động ngẫu nhiên của dòng yêu cầu, vì vậy nó là mô hình dự báo rất kém nhạy bén với sự biến động của dòng nhu cầu Phương pháp này phù hợp với dòng nhu cầu đều, ổn định, sai số sẽ rất lớn nếu ta gặp dòng nhu cầu có tính chất thời vụ hoặc dòng nhu cầu có tính xu hướng

* Phương pháp trung bình động

Trong trường hợp khi nhu cầu có sự biến động, trong đó thời gian gần nhất có ảnh hưởng nhiều nhất đến kết quả dự báo, thời gian càng xa thì ảnh hưởng càng nhỏ ta dùng phương pháp trung bình động sẽ thích hợp hơn Phương pháp trung bình động dùng kết quả trên cơ sở thay đổi liên tục khoảng thời gian trước đây cho dự báo giai đoạn tiếp theo:

1

n

t i i t

D F

Ft - Nhu cầu dự báo cho kỳ t

Dt-i - Mức nhu cầu thực ở kỳ t-i

n - Số kỳ quan sát

* Phương pháp trung bình động có trọng số

Đây là phương pháp bình quân nhưng có tính đến ảnh hưởng của từng

Trang 38

giai đoạn khác nhau đến nhu cầu, thông qua việc sử dụng các trọng số

1

n

t i i



Trong đó:

Ft - Mức nhu cầu dự báo kỳ t

Dt-i - Mức nhu cầu thực kỳ t-i

n - Số kỳ quan sát

αt-i - Trọng số của kỳ t-i

αt-i được lựa chọn bởi người dự báo dựa trên cơ sở phân tích tính chất của dòng nhu cầu, thoả mãn điều kiện:

1

1

n

t i i

 và 0 ≤ ∀∝t-i≤1 Trong phương pháp trung bình động có trọng số, độ chính xác của dự báo phụ thuộc vào khả năng xác định được các trọng số phù hợp Thực tế chỉ

ra rằng, nhờ điều chỉnh thường xuyên hệ số αt-i của mô hình dự báo, phương pháp trung bình động có trọng số mang lại kết quả dự báo chính xác hơn phương pháp trung bình động

* Phương pháp san bằng hàm mũ giản đơn

Để khắc phục những hạn chế của các phương pháp trên, người ta đề xuất

sử dụng phương pháp san bằng hàm mũ giản đơn để dự báo Đây là phương pháp dễ sử dụng nhất, nó cần ít số liệu trong quá khứ Theo phương pháp này:

Ft = Ft-1 + ∝(Dt-1-Ft-1) với 0 < ∝<

Trong đó:

Ft - Mức nhu cầu dự báo kỳ t

Ft-1 - Mức nhu cầu dự báo kỳ t-1

Dt-i - Mức nhu cầu thực kỳ t-i

αt-i - Hệ số san bằng mũ

Trang 39

giữa nhu cầu thực và dự báo của kỳ đã qua, có điều chỉnh cho phù hợp

Hệ số α trong mô hình dự báo thể hiện tầm quan trọng hay mức độ ảnh hưởng của số liệu hiện tại đến đại lượng dự báo Hệ số α càng lớn mô hình càng nhạy bén với sự biến động của dòng nhu cầu Nếu chọn α = 0,7, thì chỉ cần 3 số liệu đầu tiên đã tham gia 97,3% vào kết quả dự báo

Hệ số α chọn càng nhỏ mô hình dự báo càng kém nhạy bén hơn với sự biến đổi của dòng nhu cầu Nếu chọn α = 0,2 thì giá trị hiện tại chỉ tham gia 20% vào kết quả dự báo, tiếp đó là 16% và 5 số liệu mới nhất chiếm khoảng 67%, dãy số còn lại từ kỳ thứ 6 trong quá khứ về vô cùng chiếm 33% kết quả

dự báo

Việc chọn α phải dựa trên cơ sở phân tích tính chất của dòng nhu cầu

* Phương pháp san bằng hàm mũ có điều chỉnh xu hướng

Phương pháp san bằng hàm mũ giản đơn không thể hiện rõ xu hướng biến động của dòng nhu cầu, do đó cần phải sử dụng thêm kỹ thuật điều chỉnh

xu hướng Trong phương pháp này nhu cầu dự báo được xác định theo công thức:

FITt = Ft + Tt

Trong đó:

FITt - Mức nhu cầu dự báo theo phương pháp san bằng hàm mũ có điều chỉnh xu hướng

Ft - Mức nhu cầu dự báo theo phương pháp san bằng hàm mũ giản đơn

Tt - Lượng điều chỉnh theo xu hướng, Tt được xác định theo công thức sau:

Tt =Tt-1 + β(Ft – Ft-1) Trong đó:

Tt - Lượng điều chỉnh theo xu hướng trong kỳ t

Tt-1 - Lượng điều chỉnh theo xu hướng trong kỳ t-1

β - Hệ số san bằng xu hướng

Trang 40

Như vậy, để dự báo nhu cầu theo phương pháp san bằng hàm mũ có điều chỉnh xu hướng, cần tiến hành các bước sau:

- Dự báo nhu cầu theo phương pháp san bằng hàm mũ giản đơn Ft ở thời

kỳ t

- Tính lượng điều chỉnh theo xu hướng: Để tính lượng điều chỉnh theo xu hướng, giá trị điều chỉnh xu hướng ban đầu phải được xác định và đưa vào công thức

Giá trị này có thể được đề xuất bằng phán đoán hoặc bằng những số liệu

đã quan sát được trong thời gian qua

* Dự báo theo đường xu hướng

Phương pháp dự báo theo đường xu hướng giúp ta dự báo nhu cầu trong tương lai dựa vào dãy số theo thời gian

Dãy số theo thời gian cho phép xác định đường xu hướng lý thuyết trên

cơ sở kỹ thuật bình phương bé nhất, tức là tổng khoảng cách từ các điểm thể hiện nhu cầu thực tế trong quá khứ đến đường xu hướng lấy theo trục tung là nhỏ nhất Sau đó dựa vào đường xu hướng lý thuyết để dự báo nhu cầu cho tương lai

Để xác định đường xu hướng lý thuyết trước hết cần biểu diễn các nhu cầu trong quá khứ lên biểu đồ và phân tích xu hướng phát triển của các số liệu

đó Qua phân tích nếu thấy rằng các số liệu tăng hoặc giảm tương đối đều đặn theo một chiều hướng nhất định thì ta có thể vạch ra một đường thẳng biểu hiện chiều hướng đó Nếu các số liệu biến động theo một chiều hướng đặc biệt hơn, như tăng giảm ngày càng tăng nhanh hoặc ngày càng chậm thì ta có thể sử dụng các đường cong thích hợp để mô tả sự biến động đó, như đường parabol, hyperbol, logarit

Một số đường cong xu hướng nhu cầu sản phẩm thường gặp như: tuyến tính, Logistic và hàm mũ

Ngày đăng: 04/04/2022, 22:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Thành Bang, Võ Duy Kiệt(2004), Kế hoạch hóa và quan hệ thị trường, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch hóa và quan hệ thị trường
Tác giả: Nguyễn Thành Bang, Võ Duy Kiệt
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2004
[3] TS. Nguyễn Thanh Liêm (2006), Quản Trị Sản Xuất, NXB Tài Chính [4] Trương Đoàn Thế - chủ biên (2002), Quản trị sản xuất và tác nghiệp,NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản Trị Sản Xuất", NXB Tài Chính [4] Trương Đoàn Thế - chủ biên (2002), "Quản trị sản xuất và tác nghiệp
Tác giả: TS. Nguyễn Thanh Liêm (2006), Quản Trị Sản Xuất, NXB Tài Chính [4] Trương Đoàn Thế - chủ biên
Nhà XB: NXB Tài Chính [4] Trương Đoàn Thế - chủ biên (2002)
Năm: 2002
[5] TS Phan Thị Ngọc Thuận(2003), Chiến lược kinh doanh và kế hoạch hóa nội bộ doanh nghiệp, NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược kinh doanh và kế hoạch hóa nội bộ doanh nghiệp", NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội
Tác giả: TS Phan Thị Ngọc Thuận
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội. "Tiếng Anh
Năm: 2003
[7] Geoff Buxey (1994), A managerial perspective on aggregate planning [8] McGraw-Hill/Irwin(2004), Operations Management for CompetitiveAdvantage Edition 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A managerial perspective on aggregate planning
Tác giả: Geoff Buxey (1994), A managerial perspective on aggregate planning [8] McGraw-Hill/Irwin
Năm: 2004
[2] Th.s Vũ Đăng Đoàn[2013], Công tác hoạch định tổng hợp tại công ty cổ phần đức nhân Khác
[6] Elwood S Buffa (1967), Aggregate Planning for Production Khác
[9] S Barman and RJ Tersine(1993), Comparing Two Aggregate Planning Models Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

bảng Tên bảng Trang - (luận văn thạc sĩ) lập kế hoạch tổng hợp cho bộ phận sản xuất tại nhà máy bia việt nam (VBL) đà nẵng
b ảng Tên bảng Trang (Trang 7)
hình Tên hình Trang - (luận văn thạc sĩ) lập kế hoạch tổng hợp cho bộ phận sản xuất tại nhà máy bia việt nam (VBL) đà nẵng
h ình Tên hình Trang (Trang 8)
Hình 1.1. Các loại kế hoạch sảnxuất - (luận văn thạc sĩ) lập kế hoạch tổng hợp cho bộ phận sản xuất tại nhà máy bia việt nam (VBL) đà nẵng
Hình 1.1. Các loại kế hoạch sảnxuất (Trang 14)
Hình 1.2. Quá Trình Sảnxuất - (luận văn thạc sĩ) lập kế hoạch tổng hợp cho bộ phận sản xuất tại nhà máy bia việt nam (VBL) đà nẵng
Hình 1.2. Quá Trình Sảnxuất (Trang 20)
Bảng 1.1. Mối quan hệ giữa loại hình sảnxuất và tính chất lặp lại - (luận văn thạc sĩ) lập kế hoạch tổng hợp cho bộ phận sản xuất tại nhà máy bia việt nam (VBL) đà nẵng
Bảng 1.1. Mối quan hệ giữa loại hình sảnxuất và tính chất lặp lại (Trang 21)
Hình 1.3. Hình thức tổ chức sảnxuất hỗn hợp - (luận văn thạc sĩ) lập kế hoạch tổng hợp cho bộ phận sản xuất tại nhà máy bia việt nam (VBL) đà nẵng
Hình 1.3. Hình thức tổ chức sảnxuất hỗn hợp (Trang 28)
Dạng của mơ hình tuyến tính đƣợc biểu diễn theo công thức sau: Y t = a+bt - (luận văn thạc sĩ) lập kế hoạch tổng hợp cho bộ phận sản xuất tại nhà máy bia việt nam (VBL) đà nẵng
ng của mơ hình tuyến tính đƣợc biểu diễn theo công thức sau: Y t = a+bt (Trang 41)
Hình 2.1. Quy trinh sảnxuất của Nhà máy bia VBL - (luận văn thạc sĩ) lập kế hoạch tổng hợp cho bộ phận sản xuất tại nhà máy bia việt nam (VBL) đà nẵng
Hình 2.1. Quy trinh sảnxuất của Nhà máy bia VBL (Trang 59)
Bảng 2.4. Thống kê sử dụng bia theo giới tính - (luận văn thạc sĩ) lập kế hoạch tổng hợp cho bộ phận sản xuất tại nhà máy bia việt nam (VBL) đà nẵng
Bảng 2.4. Thống kê sử dụng bia theo giới tính (Trang 65)
Bảng 2.3. Thống kê độ tuổi dùng bìa - (luận văn thạc sĩ) lập kế hoạch tổng hợp cho bộ phận sản xuất tại nhà máy bia việt nam (VBL) đà nẵng
Bảng 2.3. Thống kê độ tuổi dùng bìa (Trang 65)
Hình 2.3. Sản lượng thức tế năm 2012 - (luận văn thạc sĩ) lập kế hoạch tổng hợp cho bộ phận sản xuất tại nhà máy bia việt nam (VBL) đà nẵng
Hình 2.3. Sản lượng thức tế năm 2012 (Trang 66)
Hình 2.5. Sản lượng thức tế năm 2014 - (luận văn thạc sĩ) lập kế hoạch tổng hợp cho bộ phận sản xuất tại nhà máy bia việt nam (VBL) đà nẵng
Hình 2.5. Sản lượng thức tế năm 2014 (Trang 67)
Bảng 2.5. Bảng thống kê cơng suất máy móc - (luận văn thạc sĩ) lập kế hoạch tổng hợp cho bộ phận sản xuất tại nhà máy bia việt nam (VBL) đà nẵng
Bảng 2.5. Bảng thống kê cơng suất máy móc (Trang 68)
Hình 2.6. Quy trình lập kế hoạch của nhà máy - (luận văn thạc sĩ) lập kế hoạch tổng hợp cho bộ phận sản xuất tại nhà máy bia việt nam (VBL) đà nẵng
Hình 2.6. Quy trình lập kế hoạch của nhà máy (Trang 71)
Bảng 3.1. Mức sản lượng bia (Lít) trong giai đoạn 2012-2014 - (luận văn thạc sĩ) lập kế hoạch tổng hợp cho bộ phận sản xuất tại nhà máy bia việt nam (VBL) đà nẵng
Bảng 3.1. Mức sản lượng bia (Lít) trong giai đoạn 2012-2014 (Trang 78)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w