Việc tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty đã bước đầu triển khai thực hiện nhưng chưa thực sự đầy đủ, việc đánh giá kết quả hoạt động của các phòng ban chưa được đặt ra một
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đề tài “Hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần dược Danapha” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Diệp Lệ Trúc Xuyên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng, phương pháp và phạm vi nghiên cứu 2
5 Bố cục của đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 7
1.1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò của kế toán trách nhiệm 7
1.1.2 Chức năng của kế toán trách nhiệm 10
1.1.3 Đối tượng sử dụng thông tin của kế toán trách nhiệm 11
1.2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 12
1.2.1 Lý thuyết đại diện 12
1.2.2 Sự phân cấp quản lý 14
1.3 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP Error! Bookmark not defined 1.3.1 Xác định các trung tâm trách nhiệm trong doanh nghiệp Error! Bookmark not defined 1.3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá thành quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm 20
1.3.3 Hệ thống báo cáo trách nhiệm của các trung tâm trách nhiệm 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
Trang 5CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC DANAPHA 29
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC DANAPHA 29 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 29
2.1.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty 31
2.2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC DANAPHA 42
2.2.1 Hệ thống các trung tâm trách nhiệm tại Công ty cổ phần dược Danapha 42
2.2.2 Trách nhiệm báo cáo và các chỉ tiêu đánh giá các trung tâm trách nhiệm 45
2.2.3 Tổ chức thông tin dự toán – cơ sở đánh giá thành quả các trung tâm trách nhiệm tại Công ty cổ phần dược Danapha 60
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC DANAPHA 67
2.3.1 Những ưu điểm của kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần dược Danapha 67
2.3.2 Những hạn chế của kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần dược Danapha 68
CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC DANAPHA 71
3.1 CÁC QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC DANAPHA 71
3.1.1 Phù hợp với mô hình tổ chức quản lý tại Công ty 71
3.1.2 Phù hợp với yêu cầu và năng lực quản lý ở Công ty 72
3.1.3 Đảm bảo tính hài hòa giữa chi phí và lợi ích 72
Trang 63.1.4 Phù hợp với cơ chế quản lý của nền kinh tế Việt Nam và xu hướng toàn cầu hóa 73 3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC DANAPHA 73
3.2.1 Hoàn thiện việc xây dựng các trung tâm trách nhiệm 73 3.2.2 Hoàn thiện các chỉ tiêu đánh giá các trung tâm trách nhiệm 77 3.2.3 Hoàn thiện hệ thống báo cáo trách nhiệm tại công ty cổ phần dược Danapha 83
3.2.4 Hoàn thiện công tác lập dự toán – tạo cơ sở đánh giá chất lượng cho các trung tâm trách nhiệm 95
3.2.5 Triển khai phân loại chi phí tạo cơ sở cho việc đánh giá nổ lực kiểm soát chi phí tại các trung tâm 92
3.2.6 Hoàn thiện nhân lực và công nghệ 96
KẾT LUẬN 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
QA : Phòng đảm bảo chất lƣợng
QC : Phòng kiểm tra chất lƣợng
TTRD : Trung tâm nghiên cứu và phát triển
ETC : Kênh bán hàng gián tiếp ETC
OTC : Kênh bán hàng trực tiếp OTC
Trang 83.2 Báo cáo tình hình nguyên vật liệu trả lại nhà cung cấp 84
3.6 Chi phí sản xuất mặt hàng Danapha – Telfadin 180 88
3.7 Báo cáo kiểm soát kết quả kinh doanh theo số dƣ đảm
3.10 Bảng phân loại chi phí theo khả năng kiểm soát 95
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Trang
2.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy Kế toán – Tài chính của Công ty 40
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kế toán trách nhiệm là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị Kế toán trách nhiệm xuất phát từ sự phân quyền trách nhiệm của nhà quản trị Cơ
sở của sự phân quyền phụ thuộc vào quyết định của nhà quản trị, thái độ, quy
mô, đặc điểm sản xuất kinh doanh và một số yếu tố khác Đối với các tập đoàn kinh tế lớn, sự phân quyền hết sức rõ ràng và triệt để song song với sự phát triển thị trường rộng rãi, thậm chí vượt biên giới của tập đoàn Tuy nhiên, sự phân quyền mạnh mẽ này đã gây ra không ít khó khăn với nhà quản
lý trong việc quản trị để đạt mục tiêu chung Để giải quyết khó khăn đó, kế toán trách nhiệm ra đời nhằm tổ chức và phối hợp các hoạt động của các bộ phận trong tổ chức của mình một cách tốt nhất, sao cho các bộ phận, các thành viên hoạt động nhịp nhàng và hiệu quả nhất để đạt mục tiêu chung của
tổ chức Từ khi hình thành đến nay, kế toán trách nhiệm ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong quản lý của các doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn lớn
Công ty cổ phần Dược Danapha có năm chi nhánh đặt ở năm thành phố lớn và địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước Tuy nhiên trong quản lý, công ty vẫn chưa có sự rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn được giao cho các cấp, vì vậy nâng cao năng lực quản lý và đánh giá được thành quả của các bộ phận là
một trong những vấn đề cấp thiết trong quản lý của công ty Việc tổ chức hệ
thống kế toán trách nhiệm tại công ty đã bước đầu triển khai thực hiện nhưng chưa thực sự đầy đủ, việc đánh giá kết quả hoạt động của các phòng ban chưa được đặt ra một cách cụ thể và không hệ thống
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy đề tài nghiên cứu về hệ thống kế toán trách nhiệm trước đây chỉ mới vận dụng trên cơ sở lý thuyết để đưa ra
Trang 11các điểm còn thiếu sót của hệ thống kế toán trách nhiệm tại doanh nghiệp chứ chưa nhìn nhận xem hệ thống kế toán trách nhiệm đó đã thực sự phát huy hết vai trò của mình chưa, nếu chưa thì lý do vì sao kế toán trách nhiệm lại chưa phát huy hết vai trò trong môi trường như vậy Xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm là một vấn đề cấp bách trong xu hướng phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, nhưng xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm hiệu quả lại là vấn
đề tiên quyết trong sự phát triển của các doanh nghiệp ngày nay
Xuất phát từ các yêu cầu thực tiễn tại công ty cũng như các khoảng trống nghiên cứu về kế toán trách nhiệm trong thực tiễn, tác giả đã quyết định
chọn đề tài “Hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần Dược
Danapha” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Dựa trên nền tảng kiến thức về kế toán trách nhiệm, luận văn hướng đến phân tích, đánh giá thực trạng kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần dược Danapha, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng kế toán trách nhiệm hữu hiệu tại Công ty cổ phần Dược Danapha
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn cần trả lời câu hỏi sau:
Việc tổ chức kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần Dược Danapha trong thời gian qua đã đáp ứng yêu cầu phân cấp quản lý ở mức độ nào?
Những yêu cầu quản trị nào cần đặt ra trong tương lai và sự đáp ứng
hệ thống kế toán trách nhiệm tại đơn vị trong thời gian tới?
4 Đối tượng, phương pháp và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của đề tài là những
nội dung cơ bản về kế toán trách nhiệm và tổ chức công tác kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần Dược Danapha
Về phạm vi nghiên cứu: Công ty cổ phần dược Danapha, bao gồm
Trang 12tất cả các phòng ban tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Danapha
Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài thực hiện dựa trên phương pháp phỏng vấn trực tiếp các cán bộ
quản lý cấp cao và cấp trung của Công ty nhằm nhận diện việc triển khai hệ thống kế toán trách nhiệm tại Công ty
- Ngoài phương pháp phỏng vấn trực tiếp, phương pháp quan sát còn
được tiến hành để quan sát việc tổ chức quản lý, điều hành của ban lãnh đạo Công ty, các phòng ban, quan sát việc triển khai công việc hằng ngày và cách nhắc nhở, khen thưởng tại các phòng ban
- Tất cả thông tin thu thập được sẽ được tác giả phân tích, tổng hợp, hệ
thống lại để đánh giá công tác tổ chức quản lý, kết quả hoạt động tại Công ty
cổ phần dược Danapha và đưa ra một số ý kiến
5 Bố cục của đề tài
Luận văn được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng về kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần Dược Danapha
Chương 3: Hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần Dược Danapha
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Có thể nói kế toán quản trị nói chung và kế toán trách nhiệm nói riêng còn khá mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên với xu hướng phát triển hội nhập như ngày nay, nhu cầu về thông tin để hoạch định và kiểm soát tài chính hoạt động sản xuất kinh doanh đã thúc đẩy sự hình thành kế toán trách nhiệm Có khá nhiều các Công ty, tập đoàn đã sử dụng kế toán trách nhiệm như một thứ vũ khí hữu hiệu trong quản trị doanh nghiệp Song
Trang 13song với đó là các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị và kế toán trách nhiệm được nghiên cứu và trình bày bởi các chuyên gia, nhà khoa học
Martin N Kellogg (1962) thông qua công trình “Fundamentals of
Responsibility Accounting” đăng trên tạp chí “National Association of Accountants” đã trình bày những nghiên cứu về sự phát triển của kế toán
trách nhiệm trong mối quan hệ giữa kế toán trách nhiệm với cơ cấu tổ chức,
kế toán trách nhiệm với kế toán chi phí, kế toán trách nhiệm với kiểm soát chi phí Kế toán trách nhiệm có mối quan hệ chặt chẽ với phân cấp quản lý và với
kế toán chi phí Nguyên tắc để thiết lập một hệ thống kế toán trách nhiệm là phải phân chia tổ chức thành các bộ phận, đơn vị theo từng chức năng cụ thể, phân công trách nhiệm cho các bộ phận đã được phân chia, yêu cầu các bộ phận này phải lập các báo cáo và thực hiện giám sát từng cấp quản lý
Tác giả Joseph P Vogel (1962) cũng đã bàn về kế toán trách nhiệm
thông qua công trình “Rudiments of Responsibility Accounting in Public
Utilities” đăng trên tạp chí “National Association of Accountants” Kế toán
trách nhiệm trước hết được sử dụng để kiểm soát chi phí Tác giả đã đề cập đến việc xây dựng và thiết lập hệ thống kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp Kế toán trách nhiệm được thiết kế phù hợp với cơ cấu tổ chức của từng doanh nghiệp, tùy thuộc vào quy mô hoạt động mà phân cấp quản lý Kế toán trách nhiệm phải được xây dựng trên cơ sở phân cấp quản lý nhằm thu thập thông tin cũng như kiểm soát thông tin tại các bộ phận, từ đó cung cấp thông tin cho nhà quản trị ra quyết định một cách có hiệu quả
Năm 2010 Tác giả Phạm Văn Dược đã thực hiện đề tài nghiên cứu
khoa học “Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán đánh giá trách nhiệm bộ phận
trong doanh nghiệp thương mại tại Việt Nam” tại Trường Đại học kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh Tài liệu này đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về
kế toán trách nhiệm, kinh nghiệm nước ngoài rất cụ thể và đầy đủ Tài liệu đã
Trang 14trình bày được một hệ thống báo cáo đánh giá trách nhiệm quản trị được thiết lập phù hợp với cơ cấu tổ chức trong doanh nghiệp thương mại, xác lập các trung tâm trách nhiệm nhằm cung cấp thông tin phục vụ kiểm soát, và đánh giá trách nhiệm quản trị của các cấp quản lý khác nhau
Hay luận án của Tiến sĩ Trần Văn Tùng (2010) “Xây dựng hệ thống báo
cáo đánh giá trách nhiệm quản trị trong công ty niêm yết ở Việt Nam” đã
trình bày những nghiên cứu về mặt lý luận của hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm nói chung, đặc thù kế toán trách nhiệm trong các công ty cổ phần và
mô hình tổ chức kế toán trách nhiệm trong công ty cổ phần của một số quốc gia phát triển trên thế giới Các nghiên cứu trên mang tính định hướng, lý luận chung không phân biệt lĩnh vực, không tính đến những đặc thù riêng của từng ngành Trên thực tế, cũng có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu về công tác
tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm của từng ngành, loại hình đơn vị cụ thể
như: “Hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tại Công ty vận tải Quốc tế
I.T.I”- Luận văn Thạc sỹ kinh tế của Dương Thị Cẩm Nhung, “ Kế toán trách nhiệm tại công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Trung Nam” – luận văn thạc
sỹ quản trị kinh doanh của Nguyễn Thị Hương Quế…
“Kế toán trách nhiệm tại công ty TNHH một thành viên dược TW3”-
Luận văn Thạc sỹ quản trị kinh doanh của Trần Thị Ngọc Hòa tại Đại học Đà Nẵng năm 2013 Luận văn đã đi sâu tìm hiểu các đặc điểm cơ bản nhất của ngành dược phẩm, bài viết cũng khái quát được thực trạng tổ chức phân cấp quản lý, phân cấp lập kế hoạch tại Công ty dược TW3 và các chi nhánh của Công ty Tác giả nêu ra hệ thống báo cáo trách nhiệm của Công ty và từ đó đưa các ý kiến đề xuất hoàn thiện như hoàn thiện hệ thống lập dự toán, đưa ra các chỉ tiêu đánh giá đối với từng trung tâm trách nhiệm Tuy nhiên các chỉ tiêu chỉ mới dừng ở mức độ so sánh giữa thực tế thực hiện và dự toán tương ứng
Trang 15Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh của Tôn Nữ Xuân Hương “Tổ
chức công tác kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần dược Danapha” – Đại
học Đà Nẵng năm 2012 Thông qua luận văn tác giả đã nêu ra các đặc điểm
cơ bản của Kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp như phân cấp quản lý, phân cấp lập kế hoạch và hệ thống các báo cáo nội bộ phục vụ cho công tác đánh giá các phòng ban Luận văn đi sâu phân tích các phần hành kế toán cụ thể phục vụ cho công tác kế toán trách nhiệm Tác giả cũng đã đề ra một số giải pháp tổ chức kế toán trách nhiệm tại Công ty như xây dựng các trung tâm trách nhiệm và các chỉ tiêu đánh giá các trung tâm trách nhiệm Luận văn được viết trong giai đoạn mà Công ty còn sử dụng các phần mềm riêng biệt để quản lý công việc hàng ngày nên việc lấy số liệu và báo cáo của các phòng ban còn trì trệ, do đó ít nhiều gây ảnh hưởng đến công tác đánh giá chất lượng hoạt động của các phòng ban Cũng như các luận văn trước đó, luận văn chỉ mới dùng lại ở bước so sánh giữa thực tế với kế hoạch làm cơ sở đánh giá chủ yếu thành quả hoạt động cho các phòng ban
Tuy có nhiều nghiên cứu về kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp cụ thể, nhưng vẫn còn một hạn chế cơ bản là các chỉ tiêu đánh giá thành quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm chỉ mới dừng lại ở việc so sánh tương đối
và tuyệt đối giữa kế hoạch đề ra và thực tế thực hiện tương ứng
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG
DOANH NGHIỆP 1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM
1.1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò của kế toán trách nhiệm
a Khái niệm và bản chất kế toán trách nhiệm
Trong quá trình quản lý, các cá nhân, bộ phận được giao quyền ra quyết định và trách nhiệm để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc đó Việc phân quyền trong tổ chức tạo nên cơ cấu phức tạp và đòi hỏi cấp trên phải nắm được kết quả thực hiện của cấp dưới, thúc đẩy và tạo động lực cho các cấp hoàn thành nhiệm vụ vì mục tiêu chung Vì thế, kế toán trách nhiệm được xây dựng để theo dõi kết quả, hiệu quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp
Kế toán trách nhiệm là hệ thống kế toán cung cấp thông tin về kết quả, hiệu quả hoạt động của các bộ phận, đơn vị trong một doanh nghiệp Đó là công cụ đo lường, đánh giá hoạt động của các bộ phận liên quan đến đầu tư, lợi nhuận, doanh thu, chi phí mà bộ phận đó có quyền kiểm soát và có trách nhiệm tương ứng
Kế toán trách nhiệm là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị, do vậy quá trình hình thành và phát triển của kế toán trách nhiệm gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của kế toán quản trị Kế toán trách nhiệm được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào năm 1950 trong tác phẩm "Basic organizational planning to tie in with responsibility accounting" của Ailman, H.B.1950 Từ đó đến nay, vấn đề kế toán quản trị được quan tâm nhiều với những quan điểm khác nhau bởi những tác giả khác nhau ở nhiều quốc gia trên thế giới Nhóm tác giả Anthony A.Atkinson, Rajiv D.Banker, Robert
Trang 17S.Kaplan and S.mark Young (năm 1997) khẳng định: Kế toán trách nhiệm là một hệ thống kế toán có chức năng thu thập, tổng hợp và báo cáo các dữ liệu
kế toán có liên quan đến trách nhiệm của từng nhà quản lý riêng biệt trong một tổ chức, cung cấp thông tin nhằm đánh giá trách nhiệm và thành quả mỗi nhà quản lý tạo ra các báo cáo chứa cả những đối tƣợng có thể kiểm soát và không thể kiểm soát đối với một cấp quản lý Nhóm tác giả Jerry J Weygandt, Paul D, Kimmel, Donald E Kieso (năm 2008) cho rằng kế toán trách nhiệm là một bộ phận của kế toán quản trị mà liên quan đến việc tích lũy, báo cáo về thu nhập và chi phí trên cơ sở nhà quản lý có quyền đƣa ra những quyết định trong hoạt động hằng ngày về các vấn đề đó
Nhóm tác giả Clive Emmanuel, David Otley and Kenneth Mar-chant (năm 1990) lại xác định kế toán trách nhiệm là sự thu thập tổng hợp và báo cáo những thông tin tài chính về những trung tâm khác nhau trong một tổ chức (những trung tâm trách nhiệm), cũng còn đƣợc gọi là kế toán hoạt động hay kế toán khả năng sinh lợi Có quan điểm kế toán trách nhiệm là một hệ thống tạo ra những thông tin tài chính và phi tài chính có liên quan về những hoạt động thực tế và đƣợc lập kế hoạch của những trung tâm trách nhiệm trong một công ty - những đơn vị trong tổ chức đƣợc đứng đầu bởi những nhà quản lý có trách nhiệm cho kết quả hoạt động của đơn vị họ quản lý Những
bộ phận chủ yếu bao gồm: hệ thống dự toán ngân sách, các báo cáo kết quả hoạt động, các báo cáo về sự biến động và những mức giá chuyển nhƣợng sản phẩm, dịch vụ nội bộ giữa các bộ phận trong công ty
Tóm lại, hiện có nhiều quan điểm khác về kế toán trách nhiệm, tuy
nhiên chúng ta thấy rằng sự khác nhau của các quan điểm trên đƣợc thể hiện ở cách thức nhìn nhận của mỗi tác giả về đặc điểm, ý nghĩa và cơ chế tổ chức
kế toán trách nhiệm ở doanh nghiệp, sự khác nhau đó không mang tính đối nghịch mà chúng cùng bổ sung cho nhau nhằm giúp chúng ta có cái nhìn toàn
Trang 18diện hơn về kế toán trách nhiệm Từ đó có thể rút ra những vấn đề thuộc bản chất của kế toán trách nhiệm như sau:
Thứ nhất, Kế toán trách nhiệm là một nội dung cơ bản kế toán quản trị
và là một quá trình tập hợp và báo cáo các thông tin được dùng để kiểm tra các quá trình hoạt động và đánh giá thực hiện nhiệm vụ ở từng bộ phận trong một tổ chức Hệ thống kế toán trách nhiệm là một hệ thống thông tin chính thức về mặt tài chính Các hệ thống này sử dụng cả các thông tin tài chính và
cả thông tin phi tài chính
Thứ hai, Kế toán trách nhiệm chỉ có thể được thực hiện trong đơn vị có
cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phải có sự phân quyền rõ ràng Hệ thống kế toán trách nhiệm ở các tổ chức khác nhau là rất đa dạng, bao gồm các thủ tục được thể chế hóa cao với cách hoạt động theo lịch trình đều đặn, có những nhà quản lý bộ phận được giao quyền hạn quyết định, song cũng có những nhà quản lý bộ phận hầu như không có quyền hạn về sử dụng các nguồn lực thuộc bộ phận họ quản lý
Thứ ba, một hệ thống kế toán trách nhiệm hữu ích phải thỏa mãn lý
thuyết phù hợp, nghĩa là có một cấu trúc tổ chức thích hợp nhất với môi trường tổ chức hoạt động, với chiến lược tổng hợp của tổ chức, và với các giá trị và sự khích lệ của quản trị cấp cao
b Vai trò của kế toán trách nhiệm
Kế toán trách nhiệm cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng tổ chức và điều hành của doanh nghiệp Kế toán trách nhiệm xác định các trung tâm trách nhiệm, qua đó nhà quản lý có thể hệ thống hóa các công việc của từng trung tâm và thiết lập các chỉ tiêu đánh giá Kế toán trách nhiệm giúp nhà quản trị đánh giá và điều chỉnh các bộ phận cho thích hợp
Kế toán trách nhiệm cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng kiểm soát tài chính và kiểm soát quản lý Thông qua kế toán trách nhiệm, nhà
Trang 19quản lý có thể phân tích đánh giá chi phí đã chi, doanh thu và lợi nhuận thực hiện của bộ phận Báo cáo trách nhiệm phản hồi cho người quản lý biết kế hoạch thực hiện ra sao, nhận diện các vấn đề hạn chế để có sự điều chỉnh các chiến lược mục tiêu sao cho kết quả kinh doanh là tốt nhất Đây là nguồn thông tin để nhà quản lý nâng cao hiệu suất sử dụng vốn, tăng doanh thu, giảm chi phí một cách hợp lý, tối đa hóa lợi nhuận
Kế toán trách nhiệm khuyến khích nhà quản lý hướng đến mục tiêu chung của tổ chức Mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp được gắn với các trung tâm trách nhiệm Khi kế toán trách nhiệm có thể kiểm soát được tài chính và quản lý thì nhà quản lý sẽ điều chỉnh hoạt động hướng đến các mục tiêu chung Đồng thời, bản thân các giám đốc trung tâm trách nhiệm được khích lệ hoạt động sao cho phù hợp với các mục tiêu cơ bản của toàn Công ty
1.1.2 Chức năng của kế toán trách nhiệm
Kế toán trách nhiệm là một phương pháp phân chia cấu trúc của một tổ chức thành những trung tâm trách nhiệm khác nhau để đo lường biểu hiện của chúng Nói cách khác, Kế toán trách nhiệm là một "công cụ" để đo lường về kết quả hoạt động của một khu vực nào đó trong tổ chức, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp quản trị khác nhau Chức năng của kế toán trách nhiệm được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, kế toán trách nhiệm giúp xác định sự đóng góp của từng đơn
vị, bộ phận vào lợi ích của toàn bộ tổ chức
Thứ hai, kế toán trách nhiệm cung cấp cơ sở cho việc đánh giá chất
lượng về kết quả hoạt động của những nhà quản lý bộ phận
Thứ ba, kế toán trách nhiệm được sử dụng để đo lường kết quả hoạt
động của các nhà quản lý và do đó, nó ảnh hưởng đến cách thức thực hiện hành vi của các nhà quản lý này
Trang 20Thứ tư, kế toán trách nhiệm thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều
hành bộ phận của mình theo phương cách phù hợp với những mục tiêu cơ bản của toàn bộ tổ chức
1.1.3 Đối tượng sử dụng thông tin của kế toán trách nhiệm
Thông tin kế toán trách nhiệm là một bộ phận thông tin quan trọng của
kế toán quản trị và do vậy đối tượng sử dụng thông tin kế toán trách nhiệm cũng gồm các nhà quản trị cấp thấp, cấp trung và cấp cao nhằm đánh giá trách nhiệm quản trị của từng bộ phận cấu thành từng cấp quản lý cụ thể:
Đối với nhà quản trị cấp cao: Kế toán trách nhiệm cung cấp thông
tin cho việc thực hiện chức năng tổ chức và điều hành của doanh nghiệp Kế toán trách nhiệm xác định các trung tâm trách nhiệm, qua đó nhà quản lý có thể hệ thống hóa các công việc của từng trung tâm mà thiết lập các chỉ tiêu đánh giá Kế toán trách nhiệm giúp nhà quản trị đánh giá và điều chỉnh các bộ phận cho thích hợp
Đối với nhà quản trị cấp trung: Kế toán trách nhiệm cung cấp thông
tin cho việc thực hiện chức năng kiểm soát tài chính và kiểm soát quản lý Thông qua kế toán trách nhiệm, nhà quản trị có thể phân tích, đánh giá chi phí, doanh thu và lợi nhuận thực hiện của từng bộ phận Báo cáo trách nhiệm phản hồi cho người quản lý biết thực hiện kế hoạch của các bộ phận ra sao, nhận diện các vấn đề hạn chế để có sự điều chỉnh các chiến lược mục tiêu sao cho kết quả kinh doanh là tốt nhất Đây có thể xem là nguồn thông tin quan trọng để nhà quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng doanh thu, giảm chi phí một cách hợp lý, và cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận
Đối với nhà quản trị cấp thấp: Kế toán trách nhiệm khuyến khích
nhà quản lý hướng đến mục tiêu chung của tổ chức Mục tiêu chiến lược doanh nghiệp được gắn với các trung tâm trách nhiệm Khi kế toán trách nhiệm có thể kiểm soát được công tác tài chính và công tác quản lý sẽ điều
Trang 21chỉnh hoạt động hướng đến các mục tiêu chung của doanh nghiệp Đồng thời, bản thân các giám đốc trung tâm trách nhiệm được khích lệ hoạt động sao cho phù hợp với các mục tiêu cơ bản của toàn doanh nghiệp
1.2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP
1.2.1 Lý thuyết đại diện
Lý thuyết đại diện được phát triển bởi Jensen và Meckling trong một công bố năm 1976 Lý thuyết đại diện đề cập đến mối quan hệ hợp đồng giữa một bên là người chủ quyết định công việc và một bên khác là người đại diện thực hiện các công việc đó
Lý thuyết đại diện cho rằng xung đột sẽ phát sinh khi có thông tin không đầy đủ và bất cân xứng giữa chủ thể và đại diện trong công ty Cả hai bên có lợi ích khác nhau và vấn đề này được giảm thiểu bằng cách sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty, thông qua thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản trị, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành
vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty
Lý thuyết đại diện giải thích vì sao phải áp dụng hệ thống kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp và đối với các công ty cổ phần, công ty niêm yết hệ thống kế toán quản trị cần cung cấp những thông tin gì để đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư và các cổ đông Đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam khi mà chưa có một thị trường chứng khoán phát triển hoàn chỉnh thì các thông tin kế toán quản trị doanh nghiệp cung cấp chính xác và đầy đủ thực sự có ý nghĩa đối với các nhà đầu tư
Lý thuyết đại diện cũng là cơ sở để xây dựng các báo cáo nội bộ trong doanh nghiệp, các báo cáo đánh giá trách nhiệm phù hợp với hệ thống phân quyền trong các doanh nghiệp Việt Nam
Trang 22Nội dung chính của Lý thuyết đại diện:
a Lý thuyết người ủy quyền (ông chủ) - người đại diện
Lý thuyết đại diện nêu ra vấn đề chính là làm thế nào để người đại diện làm việc vì lợi ích cao nhất cho người ủy quyền khi họ có lợi thế về thông tin hơn người ủy quyền và có những lợi ích khác với lợi ích của những ông chủ này Lý thuyết này kết luận rằng dưới những điều kiện thông tin không hoàn hảo, hai vấn đề về đại diện sẽ xuất hiện là: lựa chọn bất lợi và mối nguy đạo đức
Lựa chọn bất lợi: là trường hợp người chủ không thể biết chắc liệu người đại diện cho mình có đủ khả năng thực hiện công việc mà họ được trả tiền để làm hay không, hay liệu khả năng làm việc của người đại diện có tương xứng với số tiền họ trả hay không
Mối nguy đạo đức: là trường hợp người chủ không chắc chắn liệu người đại diện có nỗ lực tối đa cho công việc được giao hay không, hay liệu
họ có trục lợi cá nhân khi họ là người biết rõ những thông tin mà không phải
cổ đông – ông chủ nào cũng biết
b Nguyên nhân phát sinh vấn đề đại diện
Mâu thuẫn giữa các cổ đông và người đại diện
- Người ủy quyền mong muốn tối đa hóa lợi ích, mong muốn kiểm soát nhưng lại không tham gia trực tiếp điều hành
- Người đại diện có thể trục lợi cá nhân nhờ quyền hạn của mình, có thể
có những quyết định gây rủi ro, thiệt hại cho người ủy quyền
Mâu thuẫn đại diện thứ hai: các cổ đông và chủ nợ
- Các chủ nợ chỉ nhận được phần lợi ích theo tỷ lệ phần trăm khi doanh nghiệp làm ăn tốt nhưng sẽ phải chia sẻ rủi ro khi doanh nghiệp phá sản
- Các cổ đông thông qua người đại diện sẽ hưởng tất cả lợi ích khi công
ty làm ăn tốt
Trang 23Mâu thuẫn xảy ra khi các cổ đông lựa chọn dự án rủi ro cao với mức sinh lời lớn còn chủ nợ thì chọn dự án có mức rủi ro cho phép
Sự tư lợi: Chính sự tư lợi là nguyên nhân của tình trạng những mục tiêu cá nhân của các nhà điều hành của một công ty mâu thuẫn với mục tiêu tối đa hóa tài sản cổ đông của các ông chủ Khi các cổ đông uỷ quyền cho các nhà điều hành quản trị tài sản của công ty, lợi ích cá nhân hay sự tư lợi sẽ khiến cho mâu thuẫn về lợi ích luôn tồn tại giữa hai nhóm này
c Chi phí đại diện
Chi phí đại diện là chi phí để duy trì một mối quan hệ đại diện hiệu quả, là loại chi phí phát sinh khi một tổ chức gặp phải vấn đề về sự thiếu đồng thuận giữa mục đích của người quản trị và người sở hữu và vấn đề thông tin bất cân xứng
Chi phí giám sát: là những chi phí do người chủ trả để đo lường, giám sát và kiểm tra hoạt động của người đại diện
Chi phí ràng buộc: Giả sử rằng người đại diện là người cuối cùng gánh chịu chi phí giám sát, rằng họ có thể xây dựng hệ thống hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận tối đa cho cổ đông, hoặc họ sẽ chịu bồi thường nếu họ vi phạm các điều khoản của hợp đồng đại diện, khi đó chi phí thiết lập và giữ vững hệ thống hoạt động này được gọi là chi phí ràng buộc
Mất mát phụ trội: Bất chấp việc giám sát và sự ràng buộc, lợi ích của người đại diện và cổ đông vẫn không chắc chắn hoàn toàn đồng nhất Vì vậy, vẫn có thiệt hại do vấn đề người đại diện phát sinh từ những mâu thuẫn lợi ích Những thiệt hại đó được gọi là mất mát phụ trội
1.2.2 Sự phân cấp quản lý
Phân cấp quản lý là sự ủy nhiệm quyền được ra quyết định trong một tổ chức bằng cách cho phép các nhà quản lý ở các cấp hoạt động khác được ra những quyết định trong phạm vi cấp mà nh có trách nhiệm Mục đích của sự phân cấp quản lý là giúp các doanh nghiệp đáp ứng kịp thời, nhanh chóng,
Trang 24phù hợp với tình hình thay đổi của môi trường xung quanh Trong đơn vị, mức độ phân cấp quản lý cao hay thấp sẽ quyết định bộ máy kế toán được tổ chức như thế nào: tập trung hay phân tán hay vừa tập trung vừa phân tán Sự phân cấp quản lý không chỉ ảnh hưởng đến hệ thống thông tin của đơn vị mà còn đặt ra nhu cầu cần phải kiểm tra việc thực hiện mục tiêu chung của từng
bộ phận Theo đó, để thực hiện các chức năng quản lý của mình, người quản
lý cấp cao phải thể hiện được đúng đắn quyền lực của mình, phải gây được ảnh hưởng và sức thuyết phục đối với nhân viên, đồng thời phải tiến hành phân cấp, ủy quyền cho cấp dưới nhằm giúp cấp dưới có thể điều hành các công việc thường xuyên tại bộ phận mà họ quản lý
Phân cấp quản lý gắn liền với nội dung kế toán trách nhiệm Qua phân cấp quản lý sẽ xác định được quyền hạn và trách nhiệm ở mỗi cấp rất rõ ràng, nên có cơ sở cho việc đánh giá kết quả hoạt động của từng bộ phận, tìm ra nguyên nhân và hướng khắc phục Phân cấp quản lý vừa là tiền đề vừa là động lực thúc đẩy sự hình thành kế toán trách nhiệm
Một trong những nội dung khá quan trọng của phân cấp quản lý là phân quyền Khi phân quyền phải xác định mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, quyền hạn của mỗi cấp Về lý thuyết có hai quan điểm về phân quyền:
Phân quyền triệt để: là chủ trương phân quyền có nhiều người cùng
được tham gia quản lý để có thể ra các quyết định
- Ưu điểm của cách phân quyền này là người quản lý cấp trên sẽ giảm bớt việc giải quyết vấn đề phát sinh hàng ngày, họ có thể dành nhiều thời gian cho các kế hoạch dài hạn và cho việc phối hợp các bộ phận để đạt mục tiêu chung của đơn vị Cách phân quyền này khuyến khích người quản lý các cấp
nổ lực quan tâm đến công việc được giao và giải quyết tốt nhất các công việc phát sinh hàng ngày vì các nhà quản lý cấp dưới thường có điều kiện tiếp xúc sát với công việc hàng ngày hơn
- Tồn tại của cách phân quyền này là việc mất kiểm soát của nhà quản
Trang 25trị cấp cao đối đối với các cấp còn lại, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu chung của đơn vị
Phân quyền không triệt để là chủ trương phân quyền có giới hạn, nhà
quản lý tập trung phân quyền lực ở cấp dưới kế cận mình, còn đối với các công việc phát sinh hàng ngày sẽ do các cấp này quản lý
- Ưu điểm của cách phân quyền này là nhà lãnh đạo dễ dàng kiểm soát các công việc của các cấp dưới và công việc phát sinh hàng ngày
- Tồn tại của cách phân quyền này dễ dẫn đến hiện tượng có nhiều vấn
đề có tính chất quan trọng thì nhà quản lý không có thời gian để nghiên cứu
để đưa ra các quyết định đúng đắn
Hai cách phân quyền trên đều có những mặt ưu nhược điểm nhất định
Vì vậy, người quản lý cấp cao cần xem xét phạm vi hoạt động, quy mô và năng lực của nhân viên đơn vị mà lựa chọn mô hình nào để đạt được mức độ phân quyền là tốt nhất, vừa đảm bảo vẫn kiểm soát được mọi hoạt động của đơn vị
1.3 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP
1.3.1 Xác định các trung tâm trách nhiệm trong doanh nghiệp
Trung tâm trách nhiệm là một bộ phận của tổ chức, nơi mà nhà quản trị
bộ phận chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của bộ phận mình Theo đó căn cứ vào mức độ phân cấp quản lý và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp mà
hệ thống các trung tâm trách nhiệm được hình thành Cụ thể, căn cứ vào sự khác biệt trong việc lượng hóa giữa yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của trung tâm trách nhiệm cũng như mức độ chịu trách nhiệm của nhà quản trị trung tâm, có thể chia thành 4 loại trung tâm trách nhiệm như sau: Trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận, trung tâm đầu tư
a Trung tâm chi phí
Trung tâm chi phí là trung tâm trách nhiệm mà người quản lý chỉ chịu
Trang 26trách nhiệm hoặc chỉ có quyền kiểm soát đối với chi phí phát sinh ở trung tâm mình Trung tâm chi phí là một loại trung tâm trách nhiệm thể hiện phạm vi
cơ bản của hệ thống xác định chi phí, là điểm xuất phát của các hoạt động như: (1) Lập dự toán chi phí, (2) Phân loại chi phí thực tế phát sinh, (3) So sánh chi phí thực tế với định mức chi phí tiêu chuẩn Trung tâm chi phí gắn liền với cấp quản lý mang tính chất tác nghiệp, trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch
vụ, hoặc gián tiếp phục vụ kinh doanh (như phân xưởng sản xuất, các phòng ban chức năng) Theo đó, người quản lý chỉ chịu trách nhiệm hoặc chỉ có quyền kiểm soát đối với chi phí phát sinh ở bộ phận mình, không có quyền hạn đối với việc tiêu thụ và đầu tư vốn Trung tâm chi phí được chia thành 2 dạng: Trung tâm chi phí định mức và Trung tâm chi phí linh hoạt
Trung tâm chi phí định mức: Là trung tâm chi phí mà các yếu tố chi
phí có thể kiểm soát và các mức hao phí có thể kiểm soát về các nguồn lực sử dụng để sản xuất một đơn vị sản phẩm, dịch vụ đều được xây dựng định mức
cụ thể Nhà quản trị trung tâm chi phí định mức có trách nhiệm kiểm soát chi phí thực tế phát sinh, để vẫn đảm bảo kế hoạch sản xuất cũng như đảm bảo kế hoạch chi phí cho từng đơn vị sản phẩm, dịch vụ và tính cho toàn bộ Trung tâm chi phí đinh mức được nhận biết trên cơ sở chúng ta có thể xác định, đo lường một cách chắn chắn đầu ra, và có thể xác định được định mức các đầu vào cần thiết để sản xuất ra một đơn vị đầu ra đó Theo đó, nhà quản lý không chịu trách nhiệm về những biến động gây ra bởi các mức độ hoạt động cao hơn tiêu chuẩn của trung tâm Đối với trung tâm này thì hiệu suất được đo lường bởi mối liên hệ giữa đầu vào và đầu ra, còn tính hiệu quả được đo lường bằng mức độ trung tâm đạt được sản lượng mong muốn tại những mức
độ về chất lượng và thời gian đã định Các trung tâm chi phí thường gắn với cấp quản trị cơ sở và có thể là các nhà máy sản xuất, các phân xưởng sản xuất, các tổ sản xuất …
Trang 27Như vậy, đặc trưng của trung tâm này là sản lượng “đầu ra” có thể đo lường được và phí tổn “đầu vào” sản xuất một sản phẩm đòi hỏi phải được định rõ Kiểm soát được thực hiện thông qua việc so sánh chi phí định mức với chi phí thực tế Sự khác nhau giữa chi phí định mức và chi phí thực tế được thể hiện thông qua độ lệch
Trung tâm chi phí linh hoạt: Là trung tâm chi phí mà ở đó kết quả
“đầu ra” không thể đo lường bằng các chỉ tiêu tài chính, và không có mối quan hệ rõ ràng giữa “đầu vào” (các nguồn lực sử dụng) và “đầu ra” (kết quả đạt được) Kiểm soát trong trường hợp này nhằm đảm bảo rằng mỗi một loại chi phí thực tế đều liên quan chặt chẽ với chi phí kế hoạch cũng như nhiệm vụ
đã giao cho trung tâm Một trong những vấn đề chính của trung tâm chi phí
dự toán là hiệu quả của phí tổn
Tóm lại, mục tiêu của trung tâm chi phí là quản lý chặt chẽ, giảm thiểu chi phí Trách nhiệm của nhà quản lý trung tâm chi phí là phải xây dựng được
kế hoạch chi phí trong ngắn hạn và dài hạn, nắm được số lượng sản phẩm sản xuất, chi phí sản xuất thực tế, mức chênh lệch giữa thực tế và kế hoạch, nguyên nhân dẫn đến sai lệch …
b Trung tâm doanh thu
Trung tâm doanh thu là trung tâm trách nhiệm mà người quản lý chỉ có trách nhiệm với doanh thu cần tạo ra, không chịu trách nhiệm với lợi nhuận
và vốn đầu tư Trung tâm doanh thu có quyền quyết định công việc bán hàng trong khung giá cả cho phép để tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp
Trung tâm này thường được gắn với bậc quản lý cấp trung hoặc cấp cơ
sở, đó là các bộ phận kinh doanh trong đơn vị như các chi nhánh tiêu thụ, khu vực tiêu thụ, cửa hàng tiêu thụ, nhóm sản phẩm
Trung tâm này phải có chính sách bán hàng, không chỉ dựa trên tình hình thị trường mà còn dựa vào chi phí và các mục tiêu lâu dài của công ty
Trang 28c Trung tâm lợi nhuận
Trung tâm lợi nhuận là loại trung tâm trách nhiệm mà nhà quản trị phải chịu trách nhiệm với kết quả sản xuất và tiêu thụ của trung tâm Trong trường hợp này nhà quản lý có thể ra quyết định loại sản phẩm nào cần sản xuất, sản xuất như thế nào, mức độ chất lượng, giá cả, hệ thống phân phối và bán hàng Nhà quản lý phải quyết định các nguồn lực sản xuất được phân bổ như thế nào giữa các sản phẩm, điều đó cũng có nghĩa là họ phải đạt được sự cân bằng trong việc phối hợp giữa các yếu tố giá cả, sản lượng, chất lượng và chi phí
Loại trung tâm trách nhiệm này thường được gắn ở bậc quản lý cấp trung, đó là giám đốc điều hành trong công ty, các đơn vị kinh doanh trong tổng công ty như các công ty phụ thuộc, các chi nhánh, Nếu nhà quản lý không có quyền quyết định mức độ đầu tư tại trung tâm của họ thì tiêu chí lợi nhuận được xem là tiêu chí thích hợp nhất để đánh giá kết quả thực hiện của trung tâm này
d Trung tâm đầu tư
Đây là loại trung tâm trách nhiệm gắn với bậc quản lý cấp cao như Hội đồng quản trị công ty, các công ty con độc lập, Đó là sự tổng quát hóa của các trung tâm lợi nhuận trong đó khả năng sinh lời được gắn với các tài sản được sử dụng để tạo ra lợi nhuận đó Một trung tâm trách nhiệm được xem là một trung tâm đầu tư khi nhà quản trị của trung tâm đó không những quản lý chi phí và doanh thu mà còn quyết định lượng vốn sử dụng để tiến hành quá trình đó
Bằng cách tạo mối liên hệ giữa lợi nhuận và tài sản sử dụng để tạo ra lợi nhuận đó, chúng ta có thể đánh giá lợi nhuận tạo ra có tương xứng với đồng vốn đã bỏ ra hay không Thông qua đó cũng hướng sự chú ý của nhà quản lý đến mức độ sử dụng hiệu quả vốn lưu động đặc biệt là các khoản phải thu và hàng tồn kho được sử dụng tại trung tâm
Trang 291.3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá thành quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm
Một trung tâm trách nhiệm có bản chất như một hệ thống, mỗi hệ thống được xác định để xử lý một công việc cụ thể Hệ thống này sử dụng các đầu vào là các giá trị vật chất như nguyên vật liệu, số giờ công của các loại lao động và các dịch vụ khác kèm theo…để có được đầu ra là các hàng hóa, dịch vụ… Hàng hóa và dịch vụ được tạo ra bởi trung tâm trách nhiệm này có thể là đầu vào của một trung tâm khác trong cùng tổ chức và cũng có thể được bán
ra bên ngoài
Hình 1.1 Trung tâm trách nhiệm
Để đo lường kết quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm có hai loại chỉ tiêu cơ bản thường được sử dụng là chỉ tiêu hiệu quả và chỉ tiêu hiệu năng
Chỉ tiêu hiệu quả là mức độ các trung tâm trách nhiệm thực hiện các
nhiệm vụ đề ra, có thể là số tương đối hoặc tuyệt đối Ví dụ như nhà quản lý đặt ra doanh thu kế hoạch cho trung tâm doanh thu, mức tỷ lệ hòa vốn của trung tâm lợi nhuận, mức thực hiện thực tế so với kế hoạch của mỗi trung tâm trách nhiệm
Để có thể sử dụng chỉ tiêu hiệu quả trong đánh giá thành quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm thì tại các doanh nghiệp nhà quản trị cấp cao phải quan tâm đến việc tổ chức công tác lập dự toán một cách toàn diện Dự toán là sự tiên liệu tương lai có hệ thống nhằm cung cấp cho nhà quản lý các mục tiêu hoạt động thực tiễn, trên cơ sở đó kết quả thực tế sẽ được so sánh và
Công việc Đầu vào
Các nguồn lực sử dụng
được đo lường bởi chi
phí
Đầu ra Hàng hoá hoặc dịch
vụ
Trang 30đánh giá Biện pháp này nâng cao vai trò kế toán trách nhiệm trong kế toán quản trị
Dự toán là cơ sở để nhà quản lý tổ chức thực hiện nhiệm vụ của doanh nghiệp, là phương tiện để phối hợp các bộ phận trong doanh nghiệp và giúp các nhà quản lý biết rõ cách thức các hoạt động trong doanh nghiệp đan kết với nhau
Dự toán là phương thức truyền thông để các nhà quản lý trao đổi các vấn đề liên quan đến mục tiêu, quan điểm và kết quả đạt được Lập dự toán cho phép các nhà quản lý xây dựng và phát triển nhận thức về sự đóng góp của mỗi hoạt động đến hoạt động chung của toàn doanh nghiệp
Chỉ tiêu hiệu năng là tỷ lệ so sánh giữa tổng đầu ra và đầu vào tương
ứng của một trung tâm trách nhiệm Chỉ tiêu này cho thấy kết quả thực tế đạt được so với các nguồn lực được sử dụng để tạo ra kết quả đó, có nghĩa là xác định mức trung bình kết quả mang lại trên mỗi đơn vị đầu vào Ví dụ như chỉ tiêu lợi nhuận trên tổng tài sản để biết được một đồng tài sản bỏ ra đạt được bao nhiêu đồng lợi nhuận
a Đánh giá thành quả ở trung tâm chi phí
Đối với các trung tâm chi phí cần phân biệt làm hai loại đó là trung tâm chi phí định mức và trung tâm chi phí linh hoạt Thông tin chủ yếu sử dụng để đánh giá thành quả của các nhà quản trị ở loại trung tâm này là khả năng kiểm soát chi phí mà bộ phận mình phụ trách Bằng phương pháp so sánh giữa chi phí thực tế với chi phí dự toán nhà quản trị có thể biết được chênh lệch nào là tốt, chênh lệch nào là bất lợi, chênh lệch nào do biến động của khối lượng hoạt động, chênh lệch nào do thành quả kiểm soát chi phí mang lại Một số chỉ tiêu như:
- Có hoàn thành số lượng sản xuất được giao hay không?
- Chi phí thực tế có thấp hơn chi phí định mức hay không?
Trang 31- Có nỗ lực kiểm soát chi phí hay không?
b Đánh giá thành quả ở trung tâm doanh thu
Trách nhiệm của nhà quản trị ở trung tâm doanh thu là tổ chức tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ sao cho đạt được doanh thu trong kỳ nhiều nhất Theo đó, thành quả của các trung tâm doanh thu thường được đánh giá bằng việc so sánh doanh thu thực tế với doanh thu kế hoạch, trên cơ sở đó phân tích sai biệt doanh thu là do ảnh hưởng của nhân tố liên quan nào: đơn giá bán, khối lượng tiêu thụ hay cơ cấu sản phẩm tiêu thụ
Do đầu ra của trung tâm doanh thu được lượng hóa bằng tiền nhưng đầu vào thì trung tâm này không chịu trách nhiệm về giá thành sản phẩm Trong khi chi phí hoạt động phát sinh tại trung tâm thì không thể so sánh được với doanh thu của trung tâm, vì vậy khi đánh giá thành quả hoạt động của loại trung tâm này cần so sánh giữa chi phí hoạt động thực tế phát sinh với chi phí hoạt động kế hoạch tại bộ phận Ngoài ra, chỉ tiêu này còn góp phần thúc đẩy các nhà quản trị ở trung tâm doanh thu lưu ý đến việc tối đa hóa lợi nhuận của toàn công ty chứ không phải chỉ là doanh thu Một số chỉ tiêu như:
- Có đạt doanh thu kế hoạch không?
- Có vượt chi phí kế hoạch ở trung tâm doanh thu không?
- Mức độ hài lòng của khách hàng về cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại nơi bán hàng
c Đánh giá thành quả của trung tâm lợi nhuận
Trách nhiệm của nhà quản trị ở trung tâm lợi nhuận là tổ chức hoạt động kinh doanh sao cho lợi nhuận đạt được là cao nhất Nhà quản trị trung tâm lợi nhuận được giao vốn và quyền quyết định trong việc sử dụng vốn đó
để tạo ra lợi nhuận Do vậy, bên cạnh trách nhiệm phải tạo ra lợi nhuận cao, trung tâm lợi nhuận còn có trách nhiệm kiểm soát chi phí phát sinh Chính vì
Trang 32vậy, để đánh giá kết quả của trung tâm lợi nhuận, chúng ta cần đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu lợi nhuận, giá bán, lượng bán và chi phí hoạt động tại trung tâm
Cần xác định chênh lệch giữa doanh thu thực tế, lợi nhuận thực tế với doanh thu kế hoạch và lợi nhuận kế hoạch Khi đánh giá các khoản chênh lệch này ta tiến hành phân tích để xác định các nhân tố ảnh hưởng, trên cơ sở đó xác định các nguyên nhân chủ quan và khách quan làm biến động doanh thu
Lợi nhuận kiểm soát = Doanh thu – Chi phí kiểm soát của trung tâm
Ngoài ra, còn có thể sử dụng các chỉ tiêu như số dư đảm phí, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất doanh thu trên chi phí… để đánh giá thành quả hoạt động của trung tâm lợi nhuận
d Đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư
Về bản chất có thể xem trung tâm đầu tư là một dạng mở rộng của trung tâm lợi nhuận, trong đó nhà quản trị có nhiều quyền hạn và trách nhiệm hơn, vì ngoài việc đưa ra các quyết định ngắn hạn như xác định cơ cấu sản phẩm, giá bán, chi phí sản phẩm…họ còn có quyền kiểm soát và đưa ra các quyết định về vốn đầu tư trong dài hạn của doanh nghiệp Vì vậy về mặt hiệu quả hoạt động của trung tâm đầu tư có thể được đo lường giống như của trung tâm lợi nhuận, nhưng về hiệu năng hoạt động thì cần có sự so sánh giữa lợi nhuận đạt được với tài sản hay giá trị đã đầu tư vào trung tâm Các chỉ tiêu cơ bản có thể sử dụng để đánh giá hiệu năng hoạt động của trung tâm đầu tư như:
Tỷ suất hoàn vốn đầu tư ROI, lãi thặng dư RI, giá thị trường của tài sản của doanh nghiệp
Tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI): là tỷ số giữa lợi nhuận thuần trên vốn
đầu tư đã bỏ ra hay theo Du Pont thì ROI còn được phân tích là tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu nhân với vòng quay vốn đầu tư
Mục tiêu đầu tiên của việc sử dụng ROI là việc đánh giá hiệu quả đầu
Trang 33tư của các trung tâm đầu tư và các doanh nghiệp với quy mô khác nhau, để phân tích xem nơi nào là đạt hiệu quả sử dụng vốn cao nhất, từ đó đánh giá thành quả quản lý Đồng thời sử dụng ROI để tìm ra nhân tố tác động đến hiệu quả quản lý, từ đó đề ra các giải pháp để đạt kết quả hoạt động tốt nhất
Đó là biện pháp cải thiện doanh thu, kiểm soát chi phí hay tính lại cơ cấu vốn đầu tư
Lợi nhuận Lợi nhuận Doanh thu
Vốn đầu tư Doanh thu Vốn đầu tư
Hay: ROI = Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu X Số vòng quay của vốn đầu tư
Lợi nhuận sử dụng trong công thức là lợi nhuận thuần trước thuế thu nhập doanh nghiệp Lý do sử dụng lợi nhuận thuần là để phù hợp với doanh thu và vốn hoạt động đã tạo ra nó và để xác định vòng quay vốn Vốn hoạt động được sử dụng trong ROI ở điều kiện bình thường là vốn bình quân giữa đầu năm và cuối năm Nếu vốn trong năm biến động liên tục thì phải tính bình quân từng tháng
Lãi thặng dư (RI): là khoản thu nhập của bộ phận hay toàn doanh
nghiệp trừ đi chi phí sử dụng vốn mong đợi đã đầu tư vào bộ phận đó Chỉ số này nhấn mạnh thêm khả năng sinh lời vượt trên chi phí vốn đã đầu tư vào một bộ phận hay doanh nghiệp
Việc sử dụng RI sẽ cho biết lợi nhuận thực tế đã mang lại là bao nhiêu sau khi trừ đi chi phí sử dụng vốn để có được khoản lợi nhuận trên Đồng thời việc sử dụng chỉ tiêu trên còn cho biết nhà đầu tư có nên gia tăng đầu tư hay không mà khi sử dụng chỉ tiêu ROI chưa đủ cơ sở để ra quyết định
Công thức: RI = P – R
Trong đó: RI là lãi thặng dư
Trang 34P là lợi tức của trung tâm đầu tư
R là chi phí sử dụng vốn bình quân
Sử dụng chỉ tiêu RI để đánh giá thành quả hoạt động của trung tâm đầu
tư có ưu điểm là đánh giá đúng thành quả của trung tâm này vì chỉ tiêu này đặt các trung tâm lên cùng một mặt bằng so sánh Ngoài ra, lãi thặng dư còn khuyến khích các nhà quản lý tính toán cơ hội kinh doanh nào là mang lại ROI cao hơn ROI bình quân
Tuy nhiên sử dụng chỉ tiêu RI cũng có một số nhược điểm là do RI thể hiện bằng số tuyệt đối nên không thể dùng chỉ tiêu RI để so sánh thành quả hoạt động của các nhà quản trị ở các trung tâm đầu tư có tài sản được đầu tư khác nhau
Như vậy, trong thực tế để đánh giá thành quả hoạt động của các trung tâm đầu tư, nhà quản trị cấp cao cần kết hợp các chỉ tiêu cơ bản như ROI, RI với việc xem xét mức chênh lệch trong việc thực hiện kế hoạch đề ra
1.3.3 Hệ thống báo cáo trách nhiệm của các trung tâm trách nhiệm
Báo cáo kế toán trách nhiệm là báo cáo phản ánh kết quả về các chỉ tiêu tài chính, phi tài chính có thể kiểm soát chủ yếu đạt được ở từng trung tâm trách nhiệm trong một khoảng thời gian nhất định theo kết quả thực tế và theo
dự toán Báo cáo kế toán trách nhiệm là phương tiện quan trọng để cung cấp thông tin xác định trách nhiệm cụ thể của các nhà quản trị đối với từng bộ phận mà mình quản lý Để quản trị cấp cao trong một tổ chức có thể nắm được toàn bộ tình hình hoạt động của các bộ phận
Các trung tâm trách nhiệm, từ cấp quản lý thấp nhất đều phải lập báo cáo trách nhiệm đệ trình lên cấp quản lý cao hơn trong tổ chức để quản lý cấp trên nắm được hoạt động các bộ phận thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của mình Kế toán trách nhiệm cung cấp hệ thống báo cáo ở các cấp khác nhau của tổ chức Mỗi báo cáo kế toán trách nhiệm được kiểm soát bởi một nhà
Trang 35quản trị trung tâm trách nhiệm đó, mức độ chi tiết phụ thuộc vào cấp độ của nhà quản lý trong tổ chức Mỗi loại hình trung tâm trách nhiệm có hệ thống báo cáo trách nhiệm tương ứng
Căn cứ vào trách nhiệm báo cáo thì hệ thống báo cáo trách nhiệm được chia thành bốn nhóm báo cáo, ứng với bốn loại trung tâm trách nhiệm
Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí: Báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí là bảng so sánh chi phí có thể kiểm soát giữa thực hiện với dự toán linh hoạt, và xác định mức chênh lệch giữa chi phí thực hiện so với dự toán
Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu: Báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu là báo cáo nhằm đánh giá trách nhiệm quản lý dựa trên báo cáo thực hiện doanh thu có thể kiểm soát thực tế so với doanh thu dự toán hoặc dự toán linh hoạt; đồng thời kèm theo phân tích ảnh hưởng của các nhân tố như giá bán, sản lượng tiêu thụ, cơ cấu sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ,… đến sự biến động của doanh thu Bên cạnh đó còn có báo cáo về việc
sử dụng chi phí tại trung tâm để xem xét việc tối ưu giữa đầu vào và đầu ra
Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận: Báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu là báo cáo nhằm đánh giá trách nhiệm quản lý dựa trên báo cáo thực hiện doanh thu có thể kiểm soát thực tế so với doanh thu dự toán hoặc dự toán linh hoạt; đồng thời kèm theo phân tích ảnh hưởng của các nhân tố như giá bán, sản lượng tiêu thụ, cơ cấu sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ,… đến sự biến động của doanh thu
Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm đầu tư
Như vậy, báo cáo bộ phận rất cần thiết cho các nhà quản lý trong việc phân tích hoạt động của các bộ phận trong tổ chức, đánh giá thành quả của bộ phận và người quản lý của từng bộ phận, cũng như trên phạm vi hoạt động toàn doanh nghiệp Thông qua phân tích báo cáo bộ phận có thể xác định
Trang 36được mặt tồn tại và các khả năng còn tiềm ẩn ở từng bộ phận trong tổ chức, từ
đó đề ra các biện pháp khắc phục, các phương án hoạt động cũng như các quyết định kinh tế thích hợp
Trang 37KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Kế toán quản trị nói chung, kế toán trách nhiệm nói riêng là một công
cụ khoa học cung cấp thông tin hữu hiệu cho việc ra quyết định của các cấp quản lý doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, đồng thời kế toán trách nhiệm còn giúp đánh giá thành quả hoạt động của các phòng ban, các trung tâm trách nhiệm trong một tổ chức Kế toán trách nhiệm là một mô hình gắn kết trách nhiệm các bộ phận liên quan để hoàn thành mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp Trong chương này, tác giả đã tập trung khái quát bản chất kế toán trách nhiệm, xác định các cơ sở hình thành kế toán trách nhiệm như phân cấp quản lý Tác giả tìm hiểu các nội dung cơ bản của kế toán trách nhiệm như xây dựng các trung tâm trách nhiệm, lượng hóa các chỉ tiêu đo lường hoạt động của các trung tâm trách nhiệm, xác lập các báo cáo trách nhiệm có liên quan Có bốn loại trung tâm trách nhiệm cơ bản như trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư Mỗi loại trung tâm trách nhiệm sẽ có các nhiệm vụ khác nhau gắn với đó là các chỉ tiêu đo lường
và các loại báo cáo khác nhau
Nghiên cứu về những lý luận cơ bản của kế toán trách nhiệm là cơ sở
để nhìn nhận và đánh giá thực trạng kế toán trách nhiệm cũng như có hướng hoàn thiện phù hợp đối với kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần dược Danapha
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC DANAPHA 2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC DANAPHA
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Tên doanh nghiệp: Công ty Cổ Phần Dược DANAPHA, là doanh nghiệp cổ phần, trong đó vốn nhà nước chiếm 29,86 %
Tên giao dịch: DANAPHA Pharmaceutical Joint Stock Company
Trụ sở chính: 253 Dũng Sĩ Thanh Khê, Phường Thanh khê Tây, Quận Thanh Khê, Thành phố Đà Nẵng
Vốn điều lệ: 97.650.000.000 đồng
Lĩnh vực kinh doanh: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu
Chi nhánh: 5 chi nhánh đặt ở các tỉnh thành như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Thanh Hóa, Khánh Hòa, Đà Nẵng
Địa bàn hoạt động: trên cả nước với hệ thống các trình dược viên kênh bán đấu thầu vào các bệnh viện, trung tâm y tế… và kênh bán lẻ đến các hiệu thuốc, phòng khám…
Công ty Cổ phần dược Danapha (DANAPHA), tiền thân là Xưởng dược Trung Trung bộ được thành lập năm 1965 Do hoàn cảnh lịch sử, công
ty trải qua nhiều lần tách nhập vào các năm 1976, 1982, 1992, 1997 Năm
1997 Công ty chính thức đổi tên thành Xí nghiệp dược phẩm Trung Ương 5 –
Đà Nẵng và trở thành thành viên của Tổng Công ty Dược Việt Nam Giai đoạn 1997 – 2006, công ty đầu tư mạnh về cơ sở vật chất, về máy móc thiết
bị, nghiên cứu sản phẩm, thị trường, xuất khẩu Năm 2000, công ty xây dựng nhà máy mới đạt tiêu chuẩn GMP trên cả 3 chuyền sản xuất với tổng vốn đầu
Trang 39tư 40 tỉ đồng gồm:
+ Chuyền sản xuất thuốc viên
+ Chuyền sản xuất thuốc tiêm - Nhỏ mắt
+ Chuyền sản xuất Cao - Dầu - Mỡ - Nước
Tháng 11/2005, DANAPHA được Cục quản lý dược Bộ Y tế công nhận đạt GSP, WHO Tháng 7/2006, được sự đồng ý của Bộ Y tế và Tổng công ty Dược Việt Nam, Xí nghiệp dược phẩm Trung Ương 5 – Đà Nẵng đã tiến hành cổ phần hoá trở thành Công ty cổ phần dược DANAPHA, chính thức hoạt động từ ngày 01/01/2007
Với nổ lực không ngừng của mình, DANAPHA đã được các cấp các ngành và người tiêu dùng tin tưởng, đánh giá cao DANAPHA đã nhận những phần thưởng uy tín: Hàng Việt Nam Chất lượng cao 9 năm liền (1999 - 2007) do người tiêu dùng bình chọn; Giải thưởng Sao Vàng Đất Việt hai năm
2005 - 2006; Cúp Vàng Sản phẩm Uy Tín - Chất lượng Thương Hiệu Việt
2006
Về đóng góp của công ty với địa phương, ngành y tế nói riêng và đất nước nói chung DANAPHA đã nhận được nhiều bằng khen, huân chương của Thành phố Đà Nẵng, Bộ Y tế, Chính phủ như giải thưởng Ngôi sao thuốc Việt, tháng 2/2006, DANAPHA vinh dự được Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất, Huân chương độc lập hạng III (2012) do những thành tích xuất sắc trong công tác góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc
Ba năm liên tiếp DANAPHA liên tục lọt vào top Fast 500 (500 doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam) Đặc biệt, ngày 24 tháng 11 năm
2015 DANAPHA vinh dự được Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng trao chứng nhận là Doanh nghiệp Khoa học công nghệ, đây là thành tựu bước đầu trên con đường phát triển hội nhập và rút ngắn khoảng cách giữa DANAPHA
Trang 40với các công ty dược trên thế giới
2.1.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty
a Đặc điểm ngành nghề kinh doanh và sản phẩm của Công ty
Công ty cổ phần dược Danapha chuyên sản xuất và kinh doanh các mặt hàng dược phẩm, mỹ phẩm và thực phẩm chức năng với địa bàn kinh doanh trên cả nước và xuất khẩu ra thế giới Cùng với sự phát triển lớn mạnh của Công ty là sự đa dạng hóa các mặt hàng sản phẩm, Công ty không ngừng nghiên cứu cho ra đời những sản phẩm có giá trị với phương châm
“DANAPHA nổ lực cống hiến vì sức khỏe cộng đồng với những giá trị nhân văn cao đẹp” nhằm cung cấp cho thị trường những sản phẩm tốt nhất bảo vệ
và cải thiện sức khỏe cho bệnh nhân…
Kinh doanh trong lĩnh vực dược phẩm (một loại hàng hóa đặc biệt mang tính xã hội cao và đòi hỏi trình độ khoa học công nghệ cao, nhiều chất xám) trong quá trình hội nhập phát triển nói chung của Đất nước và ngành dược nói riêng, DANAPHA đang có rất nhiều cơ hội để phát triển đồng thời cũng đứng trước không ít thách thức
Cơ hội của DANAPHA:
- DANAPHA đang hoàn tất nghiên cứu, chuẩn bị thương mại hoá thuốc tiêm Liposome Paclitaxel điều trị ung thư dựa trên công nghệ Nano Đây là đề
án nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước được Chính phủ giao cho Danapha vào năm 2013 Dự kiến đây sẽ là bước ngoặt đột phá trong sản xuất thuốc chữa bệnh ung thư, mang lại hiệu quả điều trị cao với chi phí thấp cho bệnh nhân Việt Nam Tiềm năng của dòng sản phẩm điều trị ung thư dạng tiêm mà DANAPHA đang theo đuổi là rất lớn trong bối cảnh tỷ lệ mắc các bệnh ung thư tại Việt Nam ngày càng cao
- DANAPHA đang chuyển dịch sang các dược phẩm có nguồn gốc thiên nhiên, thân thiện với sức khỏe con người, đây đang là xu hướng phổ