Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong bối cảnh mức độ rủi ro trong hệ thống ngân hàng được đánh giá là khá cao, khó lường trước được các hậu quả xảy ra trong giai đoạn hiện nay, thì công
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ KIỀU NHÂN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Ðà Nẵng – Năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ KIỀU NHÂN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN HÒA NHÂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Kiều Nhân
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục của đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 7
1.1.1 Các khái niệm về kiểm soát nội bộ 7
1.1.2 Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ 8
1.1.3 Nguyên tắc hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ 9
1.2 CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 13
1.2.1 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại 13
1.2.2 Mục tiêu kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng trong Ngân hàng thương mại 20
1.2.3 Các thành phần cơ bản của hệ thống KSNB tín dụng 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN 30
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN 30
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 30
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 32
Trang 52.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh và một số chỉ tiêu tài chính chủ
yếu 34
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI SCB 38
2.2.1 Môi trường kiểm soát 38
2.2.2 Đánh giá rủi ro 45
2.2.3 Hoạt động kiểm soát 52
2.2.4 Thông tin truyền thông 67
2.2.5 Hoạt động giám sát 67
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI SCB 69
2.3.1 Những kết quả đạt được 69
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN 74
3.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 74
3.1.1 Vấn đề đặt ra từ thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại SCB 74
3.1.2 Định hướng hoàn thiện công tác KSNB hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn 75
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KSNB HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI SCB 76
3.2.1 Hoàn thiện môi trường quản lý của SCB 76
3.2.2 Nghiên cứu và từng bước triển khai các mô hình dự báo định lượng và hệ thống báo cáo cảnh báo sớm đối với rủi ro tín dụng 80
Trang 63.2.3 Tăng cường hoạt động kiểm soát sau khi cho vay và giám sát
chặt chẽ các khoản vay 86
3.2.4 Nâng cao chất lượng công tác của bộ phận KSNB chuyên trách 88
3.2.5 Kiện toàn bộ máy kiểm toán nội bộ 94
3.2.6 Một số giải pháp khác 98
3.3 KIẾN NGHỊ 99
3.3.1 Đối với NHNN Việt Nam 99
3.3.2 Đối với NH TMCP Sài Gòn 99
KẾT LUẬN 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẲT
BPTTĐKV: Bộ phận tái thẩm định khu vực CBKD: Cán bộ kinh doanh
KSNB: Kiểm soát nội bộ
KTNB: Kiểm toán nội bộ
NHNN: Ngân hàng nhà nước
NHTM: Ngân hàng thương mại
NVHTKD: Nhân viên hỗ trợ kinh doanh
TPHTKD: Trưởng phòng hỗ trợ kinh doanh P.HTKD: Phòng hỗ trợ kinh doanh
Trang 82.5 Nhiệm vụ của phòng quản lý rủi ro tín dụng tại SCB 43
2.8 Lưu đồ quy trình cấp tín dụng tại SCB 532.9 Kết quả khảo sát đối với hoạt động giám sát tại SCB 68
3.3 Báo cáo kết quả thực hiện hành động khắc phục 93
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
2.2 Mô hình KSNB theo 03 vòng bảo vệ tại SCB 41
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh rủi ro và có tác động lớn đến tình hình kinh tế và an ninh trật tự Cùng với quá trình hội nhập quốc tế,
tự do hóa tài chính, loại bỏ các rào cản thương mại, tài chính và ranh giới toàn cầu đã dẫn đến sự tăng trưởng nhanh chóng, đa dạng, phức tạp trong hoạt động ngân hàng Hoạt động ngân hàng đang phải đối mặt ngày càng nhiều rủi
ro gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động
và các rủi ro khác với nhiều mức độ khác nhau, nhưng có ảnh hưởng sâu rộng và trầm trọng nhất vẫn là rủi ro tín dụng bởi hoạt động tín dụng là hoạt động căn bản và chủ yếu tạo ra khối lượng lợi nhuận lớn nhất cũng như tổn thất lớn nhất cho ngân hàng
Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu ngày càng tác động mạnh
mẽ đến mọi lĩnh vực và ngành ngân hàng - tài chính là ngành chịu tác động đầu tiên Điển hình cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khởi đầu từ Mỹ những năm gần đây đã và đang cho thấy ngày càng nhiều ngân hàng trên thế giới công bố các khoản nợ xấu và thua lỗ lớn kỷ lục, trong đó có rất nhiều ngân hàng trong khu vực và trên thế giới bị phá sản, kể cả những ngân hàng lớn tầm cỡ thế giới với bề dày hoạt động hàng trăm năm Vì vậy vấn đề nâng cao khả năng quản lý rủi ro tín dụng, hạn chế đến mức thấp nhất những nguy
cơ tiềm ẩn gây nên rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại đang và ngày càng trở nên cấp thiết Để hạn chế và ngăn ngừa rủi ro tín dụng, ngoài các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ tín dụng thì việc thiết kế một hệ thống KSNB hiệu quả dành cho hoạt động tín dụng sẽ góp phần quan trọng trong việc kiểm soát, giám sát rủi ro tín dụng, đưa hoạt động này phát triển bền vững trong tương lai
Trang 11Công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại SCB thời gian qua bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn những mặt hạn chế, chưa thực sự phát huy được hiệu quả, nợ xấu gia tăng, mất thanh khoản dẫn đến SCB phải tiến hành hợp nhất Đặc biệt trong thời gian đến, sau khi đã ổn định qua giai đạon hợp nhất, hoạt động tín dụng tại SCB sẽ phát triển và mở rộng Điều đó đòi hỏi cần phải có những biện pháp quản lý rủi ro tín dụng chặt chẽ và bài bản hơn
Xuất phát từ thực tiễn trên tôi lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn” để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ nói chung và kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại
- Phân tích thực trạng của công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn, từ đó đánh giá các ưu điểm và tồn tại của công tác này
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn
Trang 12+ Về thời gian: Căn cứ vào các dữ liệu từ khi Ngân hàng TMCP hợp nhất (từ 2012 đến nay)
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng trong luận văn này bao gồm: phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, phương pháp thống kê, điều tra khảo sát
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trong bối cảnh mức độ rủi ro trong hệ thống ngân hàng được đánh giá
là khá cao, khó lường trước được các hậu quả xảy ra trong giai đoạn hiện nay, thì công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng trở nên hết sức cần thiết do
đó có nhiều tác giả có công trình nghiên cứu về vấn đề này Qua khảo sát về nội dung các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài “Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn” tác giả đã tham khảo một số tài liệu về cơ sở lý luận kiểm soát nội
bộ đã được bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng và trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh như:
1 Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Ngoại thương – CN Đà
Trang 13Nẵng” của tác giả Phạm Thị Thu Hương bảo vệ năm 2013 do PGS TS Lâm Chí Dũng hướng dẫn
- Những đóng góp của đề tài: Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng trong Ngân hàng thương mại Phân tích, đánh giá về thực trạng công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương
CN Đà Nẵng, những kết quả đạt được và một số hạn chế trong công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra kiểm soát đối với hoạt động tín dụng tại
NH TMCP Ngoại thương- CN Đà Nẵng
- Hạn chế của luận văn: Chỉ nhìn nhận hoạt động kiểm soát nội bộ dưới góc độ là một bộ phận chuyên trách của Ngân hàng, chưa đi sâu phân tích toàn diện hoạt động kiểm soát nội bộ tín dụng của VCB như phần cơ sở lý luận nêu ra Do đó phần biện pháp chỉ cũng giới hạn trong phạm vi hoàn thiện
bộ phận KSNB chuyên trách tại VCB Đà Nẵng
2 Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện Hệ thống KSNB trong hoạt động tín dụng đối với khách hàng tổ chức tại Ngân hàng Thương mại Kỹ thương Việt Nam ( Techcombank)” của tác giả Bùi Thị Diệu Linh bảo vệ năm 2012 do PGS.TS Lê Thế Giới hướng dẫn
Luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan đến công tác KSNB hoạt động tín dụng đối với khách hàng tổ chức tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam, đánh giá và và đưa ra phương hướng hoàn thiện công tác này tại Ngân hàng Trong phần cơ sở lý luận, tác giả nghiên cứu sơ lược về KSNB nhưng lại quan tâm sâu về tín dụng, đặc điểm tín dụng của khách hàng tổ chức nhưng khi mô tả thực trạng cũng như đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác này thì ko ăn nhập với phần cơ sở lý luận tác giả nêu ra Tuy nhiên cách tiếp cận về KSNB hoạt động tín dụng và giải pháp hoàn thiện cho công
Trang 14tác này của tác giả Bùi Thị Diệu Linh khá tương đồng với cách tiếp cận của tác giả nên đã tham khảo phần giải pháp để viết chương 3 cho đề tài của mình
3 Luận văn thạc sĩ “ Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc bảo vệ năm 2011 do TS Đoàn Thị Ngọc Trai hướng dẫn
Đây là đề tài có phần cơ sở lý luận khá hoàn chỉnh và cách tiếp cận về KSNB hầu như tương đồng với cách tiếp cận của tác giả do đó tác giả đã tham khảo phần cơ sở luận của luận văn này cộng với sách “ Kiểm soát nội bộ” của trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh để viết phần 1 “ Cơ sở lý luận” cho
đề tài của mình Tuy nhiên tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc chỉ nghiên cứu trong phạm vi Chi nhánh nên thực trạng của công tác KSNB tín dụng không phản ánh đầy đủ nội dung của công tác như phần cơ sở lý luận đã đưa ra và từ
đó các giải pháp đặt ra bị giới hạn trong phạm vi Chi nhánh
4 Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện hệ thống KSNB hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư & Phát triển Việt Nam” của tác giả Đặng Trần Vân Anh năm 2013 do PGS.TS Nguyễn Xuân Hưng trường Đại học Kinh tế
TP Hồ Chí Minh hướng dẫn
Luận văn là một trong những bài khoa học nghiên cứu về hệ thống KSNB hoạt động tín dụng trong Ngân hàng một cách đầy đủ Luận văn đã hệ thống hoá được sơ sở lý luận về KSNB hoạt động tín dụng theo COSO 2004
và Basel Phạm vi nghiên cứu toàn hàng trên cơ sở nghiên cứu và phân tích thực trạng các yếu tố cơ bản của hệ thống KSNB để từ đó và đề xuất những giải pháp cụ thể cho BIDV Đây là đề tài khá hoàn thiện và có tính tướng đồng cao với đề tài mà tác giả đang nghiên cứu nhưng cách tiếp cận của tác giả bài viết thiên về hoàn thiện KSNB theo hướng quản lý rủi ro nên sử dụng
Trang 15nghiên cứu COSO 2004 Tác giả đã tham khảo phần cơ sở lý luận, phần giải pháp hoàn thiện của đề tài này để viết phần cơ sở lý luận và giải pháp cho đề tài của mình
Trên cơ sở những ưu và nhược điểm của các đề tài đã tham khảo, tác giả viết đề tài “Hoàn thiện công tác KSNB hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn” theo nguyên tắc kế thừa những ưu điểm và khắc phục những hạn chế của các đề tài trên, cộng với việc tham khảo cuốn sách “ Kiểm soát nội bộ” của trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh cũng như hệ thống hóa các văn bản quy định của SCB liên quan đến hoạt động tín dụng để hoàn thiện bài viết của mình Bên cạnh đó tiến hành lựa chọn đối tượng khảo sát là những cán bộ, nhân viên có liên quan đến hoạt động tín dụng tại các chi nhánh của SCB cộng với kinh nghiệm từng công tác trong bộ phận KSNB, QLRR khu vực tại Ngân hàng SCB tác giả đã đưa ra những giải pháp hoàn thiện cho đề tài này Đề tài mà mang tính chất ứng dụng cho SCB gồm tất cả các thành phần của HTKSNB theo COSO 1992, 2004 và Basel
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.1.1 Các khái niệm về kiểm soát nội bộ
Dưới góc độ quản lý, quá trình nhận thức và nghiên cứu kiểm soát nội
bộ đã dẫn đến sự hình thành nhiều định nghĩa khác nhau Hiện nay định nghĩa được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của COSO
COSO đã định nghĩa Kiểm soát nội bộ như sau:
“Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập nhằm cung cấp
sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau”
- Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động
- Sự tin cậy của báo cáo tài chính
- Sự tuân thủ pháp luật và các quy định” [1, tr.2]
Theo quy định tại Thông tư số 44/2011/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước ngày 29/12/2011 quy định về Hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì :
Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xây dựng phù hợp theo quy định tại Thông tư này và được tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra
Từ các định nghĩa trên, kiểm soát nội bộ được hiểu như sau: “Kiểm soát nội bộ là một chuỗi hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận, mọi hoạt động của tổ chức” [1, tr.6] Đó là quá trình giám sát thường xuyên, là
Trang 17phương tiện để các cấp quản lý trong tổ chức kiểm soát hoạt động của đơn vị mình nhằm đảm bảo hiệu quả, an toàn cho hoạt động, tuân thủ các quy định của pháp luật và đảm bảo sự tin cậy của những thông tin tài chính KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không đảm bảo tuyệt đối các mục tiêu được thực hiện Trong quá trình vận hành, hệ thống kiểm soát có thể tồn tại yếu kém, những sai lầm của con người dẫn đến mục tiêu không được thực hiện KSNB chỉ có thể ngăn ngừa và phát hiện những sai sót nhưng không thể đảm bảo là chúng không xẩy ra Hơn nữa, một trong những nguyên tắc cơ bản
để quyết định trong quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không được vượt quá lợi ích mong đợi từ quá trình kiểm soát đó Do vậy, người quản lý có thể nhận thức được mọi rủi ro nhưng nếu chi phí cho quá trình kiểm soát quá lớn thì không thể áp dụng các thủ tục kiểm soát
Có thể nhận thấy rằng, kiểm soát nội bộ không chỉ dừng ở việc ban hành những quy trình, quy định, ban hành những chính sách mà còn thể hiện
ở những cá thể trong tổ chức bao gồm Hội đồng quản trị, ban điều hành, nhân viên trong tổ chức Kiểm soát nội bộ hình thành và hoạt động bởi con người
Chất lượng hoạt động của kiểm soát nội bộ được đánh giá bởi các cơ quan kiểm toán độc lập, các cơ quan nhà nước Hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động hiệu quả sẽ là cánh tay phải đắc lực của nhà quản trị trong quản lý
và điều hành hoạt động của tổ chức Hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu đảm bảo cung cấp các thông tin đáng tin cậy báo cáo tài chính, tính tuân thủ pháp luật trong các hoạt động của tổ chức
1.1.2 Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Mỗi đơn vị thường có các mục tiêu kiểm soát cần đạt được để từ đó xác định các chiến lược cần thực hiện Đó có thể là mục tiêu chung cho toàn đơn
vị, hay mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ phận trong đơn vị Mục tiêu mà của Hệ thống kiểm soát nội bộ của các TCTD thiết lập được chi thành
Trang 18- Mục tiêu thông tin: Bảo đảm hệ thống thông tin tài chính và thông tin quản lý trung thực, hợp lý, đầy đủ và kịp thời Ngân hàng phải có được một
hệ thống sổ sách, hồ sơ, báo cáo tài chính và báo cáo hoạt động đầy đủ, chính xác và kịp thời để cung cấp cho các cấp điều hành của ngân hàng, các cơ quan chức năng giám sát ngân hàng và các đối tác bên ngoài khi cần thiết Thông tin gửi tới HĐQT, ban điều hành và các đối tượng khác phải đáng tin cậy, đầy
đủ và trung thực để họ có thể dựa vào thông tin này để ra các quyết định quản
lý, điều hành hoặc tác nghiệp đúng đắn
- Mục tiêu tuân thủ: Bảo đảm tuân thủ pháp luật và các quy chế, quy trình, quy định nội bộ Mọi nghiệp vụ và hoạt động trong ngân hàng phải tuân thủ theo các quy định, các cơ chế chính sách, pháp luật hiện hành, các chiến lược, các chính sách kinh doanh và quy trình nghiệp vụ mà các cấp lãnh đạo quản lý và điều hành của ngân hàng đã quy định trong các văn bản quy phạm hoặc có tính quy phạm
1.1.3 Nguyên tắc hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ
Năm yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát được Uỷ ban Basel về giám sát hoạt động ngân hàng cụ thể hoá thành 13 nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc 1:
Hội đồng quản trị có trách nhiệm phê duyệt và kiểm tra định kỳ toàn bộ chiến lược kinh doanh và những chính sách quan trọng của ngân hàng; hiểu rõ những rủi ro trọng yếu của ngân hàng, xây dựng những mức độ có thể chấp
Trang 19nhận đối với các rủi ro này và đảm bảo rằng Ban điều hành đã thực hiện các bước cần thiết để xác định, đo lường, giám sát và kiểm tra những rủi ro này; phê duyệt cơ cấu tổ chức; và đảm bảo rằng Ban điều hành đang giám sát sự hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm sau cùng về việc thiết lập và duy trì một hệ thống kiểm soát nội bộ đầy đủ và hiệu quả
- Nguyên tắc 2:
Ban điều hành chịu trách nhiệm thi hành những chiến lược và chính sách đã được phê duyệt bởi Hội đồng quản trị; nâng cao việc xác định, đo lường, giám sát và kiểm tra những rủi ro mắc phải của ngân hàng; duy trì một
cơ cấu tổ chức trong đó có sự phân công rõ ràng về trách nhiệm, quyền hạn và các mối quan hệ giữa các bộ phận; đảm bảo rằng đã thực hiện nhiệm vụ được giao phó một cách có hiệu quả; thiết lập những chính sách kiểm soát nội bộ thích hợp; kiểm tra sự đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ
- Nguyên tắc 3:
Hội đồng quản trị và Ban điều hành có trách nhiệm nâng cao đạo đức
và tính chính trực, thiết lập văn hoá trong đó nhấn mạnh và làm cho tất cả nhân viên thấy rõ tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ Tất cả nhân viên ngân hàng cần phải hiểu vai trò của mình trong quá trình kiểm soát nội bộ và thực
sự tham gia và quá trình đó
Nhận biết và đánh giá rủi ro
- Nguyên tắc 4:
Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi rằng những rủi ro trọng yếu ảnh hưởng có hại đến việc hoàn thành mục tiêu của ngân hàng phải được nhận biết và đánh giá liên tục Sự đánh giá này phải bao trùm tất cả các rủi ro trong hoạt động của ngân hàng (đó là, rủi ro tín dụng, rủi ro chính sách quốc gia, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro vận hành, rủi ro
Trang 20pháp lý và rủi ro thương hiệu) Kiểm soát nội bộ cần xem lại những rủi ro chưa được kiểm soát trước đây cũng như mới phát sinh
Hoạt động kiểm soát và sự phân công, phân nhiệm
- Nguyên tắc 5:
Hoạt động kiểm soát phải là một công việc quan trọng trong các hoạt động hàng ngày của ngân hàng Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi phải thiết lập một cơ cấu kiểm soát thích hợp, trong đó sự kiểm soát được xác định ở mỗi mức hoạt động Những điều này bao gồm kiểm tra ở mức độ cao nhất; kiểm tra hoạt động đối với các bộ phận, các phòng ban khác nhau; kiểm kê; kiểm tra sự tuân thủ những quy định ban hành và theo dõi sự không tuân thủ; một hệ thống đã được phê duyệt và uỷ quyền; và, một hệ thống kiểm tra và đối chiếu
- Nguyên tắc 6:
Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi rằng có sự phân công nhiệm vụ hợp lý và các nhân viên đó không được phân công mâu thuẫn với trách nhiệm Những xung đột về quyền lợi phải được nhận biết, giảm thiểu tối
đa và tuỳ thuộc vào sự kiểm soát độc lập, thận trọng
- Nguyên tắc 7:
Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi có dữ liệu đầy đủ và tổng thể về sự tuân thủ, về tình hình hoạt động và tình hình tài chính, cũng như là những thông tin thị trường bên ngoài về những sự kiện và điều kiện mà
nó xác đáng đến việc đưa ra quyết định Thông tin phải đáng tin cậy, kịp thời,
có thể sử dụng được và được trình bày theo biểu mẫu
- Nguyên tắc 8:
Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi một hệ thống thông tin đáng tin cậy, có thể đáp ứng cho hầu hết các hoạt động chủ yếu của ngân hàng Hệ thống này phải được lưu trữ và sử dụng dữ liệu bằng máy tính, an
Trang 21toàn, được theo dõi độc lập và được kiểm tra đột xuất, đầy đủ
- Nguyên tắc 9:
Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi kênh trao đổi thông tin hiệu quả để đảm bảo rằng tất cả nhân viên đã hiểu đầy đủ và tuân thủ triệt để các chính sách và các thủ tục có liên quan đến trách nhiệm và nhiệm vụ của
họ và đảm bảo rằng những thông tin cần thiết khác cũng đã được phổ biến đến các nhân viên có liên quan
Giám sát và sửa chữa những sai sót
- Nguyên tắc 10:
Hiệu quả toàn diện của hệ thống kiểm soát nội bộ là việc theo dõi, kiểm tra phải liên tục Việc theo dõi những rủi ro trọng yếu phải là công việc hàng ngày của ngân hàng, cũng như là việc đánh giá định kỳ của bộ phận kinh doanh và kiểm toán nội bộ
- Nguyên tắc 11:
Phải có kiểm toán nội bộ toàn diện, hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi những người có đủ khả năng, được đào tạo thích hợp và có thể làm việc độc lập Chức năng kiểm toán nội bộ, cũng là việc theo dõi hệ thống kiểm soát nội bộ, phải được báo cáo trực tiếp cho Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát, và Ban điều hành
- Nguyên tắc 12:
Những sai sót của hệ thống kiểm soát được phát hiện bởi bộ phận kinh doanh, kiểm toán nội bộ, hoặc các nhân viên khác, thì phải được báo cáo kịp thời cho cấp quản lý thích hợp và ghi nhận ngay lập tức Những sai sót trọng yếu của kiểm soát nội bộ phải được báo cáo cho Ban điều hành và Hội đồng quản trị
Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ thông qua cơ quan thanh tra ngân hàng
Trang 22- Nguyên tắc 13:
Cán bộ thanh tra đòi hỏi rằng tất cả các ngân hàng, không kể độ lớn, cần có hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả, phù hợp với bản chất, sự phức tạp, rủi ro vốn có của hoạt động nội và ngoại bảng tổng kết và thích nghi được với
sự thay đổi môi trường, điều kiện của ngân hàng Các thanh tra sẽ xác định hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng có hiệu quả và đầy đủ cho danh mục rủi ro riêng biệt của ngân hàng đó hay không (ví dụ, không bao gồm tất cả những nguyên tắc chứa đựng trong tài liệu này), khi đó họ sẽ đưa ra hành động thích hợp
1.2 CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại
a Khái niệm về tín dụng Ngân hàng
Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng, tín dụng được hiểu là một giao dịch về tài sàn (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay
và bên đi vay, trong đó, bên cho vay chuyển dịch tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
Theo luật các TCTD đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 thì Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác“
b Vai trò của tín dụng ngân hàng
- Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá phát triển Ngân hàng với chức năng huy động vốn, tập trung mọi nguồn vốn
Trang 23trong và ngoài nước đã tài trợ cho các cá nhân hạn chế về vốn để đầu tư phát triển sản xuất, đặc biệt là các thành phần kinh tế kém phát triển tạo ra sự cân đối giữa các ngành nghề trong nền kinh tế Là đòn bẩy kinh tế giúp các nhà sản xuất, kinh doanh thực hiện tái sản xuất mở rộng và ứng dụng công nghệ để phát triển hoạt động kinh doanh, tăng tốc độ lưu thông hàng hoá trên thị trường
- Tín dụng ngân hàng góp phần thay đổi cơ cấu sản xuất, phát triển nền kinh tế theo các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra Tín dụng ngân hàng là công cụ vĩ
mô của Nhà nước để tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn và hỗ trợ các thành phần kinh tế kém phát triển, phát huy tối đa lợi thế so sánh của đất nước, tạo sự phát triển đồng đều giữa các ngành, lĩnh vực kinh tế
- Tín dụng ngân hàng làm giảm chi phí lưu thông tiền mặt và tạo điều kiện cho việc điều hòa lưu thông tiền mặt, góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả
- Tín dụng ngân hàng góp phần làm tăng cường các mối quan hệ kinh tế đối ngoại Hiện nay trong điều kiện kinh tế mở, các doanh nghiệp Việt Nam
sẽ đứng trước một thách thức đó là phải đối đầu với các doanh nghiệp nước ngoài có tiềm lực kinh tế mạnh, công nghệ tiên tiến và cơ chế quản lý hiện đại Tín dụng Ngân hàng trở thành công cụ hữu hiệu tài trợ về vốn giúp cho các doanh nghiệp trong nước có đủ năng lực để tham gia vào thị trường thế giới như: tài trợ mua bán hàng hoá, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm
- Ngoài ra tín dụng là một trong những hoạt động kinh doanh tạo ra lợi nhuận lớn nhất cho Ngân hàng Hoạt động tín dụng phát triển còn tạo điều kiện mở rộng và gia tăng các dịch vụ khác của Ngân hàng
c Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng
- Nguyên tắc 1: Vốn vay phải có bảo đảm tiền vay
+ Nguyên tắc này được đưa ra nhằm để đảm bảo quan hệ cân đối tiền
Trang 24hàng, tôn trọng quy luật lưu thông tiền tệ Có như vậy mới tạo điều kiện cho
sự vận động tín dụng nói riêng và của đồng vốn nói chung gắn liền với quá trình vận động của nền kinh tế, tránh được lạm phát tín dụng, mất ổn định trong nền kinh tế
+ Giảm bớt rủi ro cho ngân hàng Khi khách hàng không có khả năng trả nợ, bảo đảm tiền vay sẽ là nguồn thu hồi nợ thứ hai của ngân hàng
Các tài sản làm đảm bảo tín dụng phải là sở hữu hợp pháp của bên vay, phải có giá trị và giá trị sử dụng, được thị tnrờng chấp nhận
- Nguyên tắc 2: Vốn vay phải có mục đích sử dụng hợp pháp, sử dụng vốn vay đúng mục đích và hiệu quả
Mục đích của tín dụng ngân hàng là thông qua hoạt động cho vay để thúc đẩy đời sống kinh tế xã hội phát triển Ngân hàng không cho vay để thực hiện những hoạt động kinh doanh trái phép, trái chức năng Do đó, để ngân hàng có thể tập trung, kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng thì khách hàng phải nêu rõ mục đích sử dụng vốn vay trong đơn xin vay, hợp đồng tín dụng và buộc phải sử dụng vốn vay đúng mục đích đó Ngân hàng có quyền đình chỉ và thu hồi nợ nếu phát hiện bên vay không tôn trọng nguyên tắc cho vay
Mặt khác, việc kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng giúp cho ngân hàng giảm thiểu được rủi ro cho vay
- Nguyên tắc 3: Vốn cho vay phải được hoàn trả cả gốc lẫn lãi
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, do đó vốn cho vay phải quay về ngân hàng với giá trị lớn hơn Người đi vay phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi thì ngân hàng mới đảm bảo khả năng thanh toán và hoạt động có lãi
d Các hình thức cấp tín dụng ngân hàng
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn
Trang 25trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác
- Cho vay: là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả
cả gốc và lãi
- Chiết khấu: là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán
- Cho thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiên vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa Bên cho thuê là các tổ chức tín dụng phi ngân hàng và Bên thuê là khách hàng
- Bao thanh toán: là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ
- Bảo lãnh ngân hàng: là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận
e Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu khi người vay không trả nợ đúng hạn, không trả hoặc trả không đầy
đủ gốc và lãi theo cam kết Đối với ngân hàng, rủi ro tín dụng vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan Sự khách quan trong rủi ro tín dụng làm
Trang 26cho nó không thể loại trừ, mặt khác bởi lợi nhuận phần nào cũng là phần thưởng của rủi ro nên người ta chỉ tìm cách hạn chế rủi ro tới mức thấp nhất
có thể có mà thôi
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Thông thường, người ta phân rủi ro tín dụng thành ba nhóm: nguyên nhân thuộc về ngân hàng, nguyên nhân thuộc về người vay, nguyên nhân khác
- Nguyên nhân thuộc về ngân hàng:
Thứ nhất là, sự yếu kém của đội ngũ cán bộ Sự yếu kém ở đây bao
gồm cả về năng lực và phẩm chất đạo đức Điều này dẫn đến việc thẩm định
và xử lý thông tin, đánh giá khách hàng thiếu chính xác, mức vay,lãi suất vay
và kỳ hạn không phù hợp; dẫn đến chất lượng tín dụng thấp, rủi ro cao Ngoài
ra, nếu cán bộ tín dụng không tuân thủ theo đúng quy trình tín dụng, không có tinh thần trách nhiệm, dễ bị cám dỗ thì sẽ gây thiệt hại rất lớn cho ngân hàng bằng cách cho vay chỉ dựa trên mối quan hệ với khách hàng, dựa trên lợi ích
cá nhân mà bỏ qua những điều kiện và thủ tục cần thiết
Thứ hai là, sự giám sát của các cấp quản lý trong ngân hàng là thiếu sát
sao Cán bộ tín dụng cần có sự phê duyệt của lãnh đạo trước khi giải ngân Vậy nên nếu cấp trên không có sự kiểm tra, đánh giá xem quyết định của cán
bộ đã thực sự chính xác chưa thì nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ là rất cao Hơn nữa, sau khi giải ngân rồi, cán bộ tín dụng vẫn phải tiếp tục theo dõi khách hàng để sớm phát hiện ra dấu hiệu của những khoản nợ có vấn đề Tuy nhiên, việc theo dõi này đối với nhiều cán bộ chỉ mang tính hình thức Do vậy, nếu các cấp quản lý không có sự giám sát đối với cán bộ tín dụng, hoạt động của các cán bộ tín dụng sẽ không hiệu quả, thậm chí dẫn đến những sai phạm đạo đức trong cho vay và thu nợ
Thứ ba là, ngân hàng chưa đa dạng hoá các danh mục đầu tư Một công
Trang 27cụ luôn được nhắc đến trong quản trị tín dụng ở tất cả các ngân hàng trên thế giới là quản trị danh mục đầu tư Quản trị danh mục làm cân đối và kiềm chế rủi ro bằng cách nhận dạng, dự báo và kiểm soát mức độ rủi ro với từng thị trường, khách hàng, loại sản phẩm tín dụng và điều kiện hoạt động khác nhau Một danh mục đầu tư phụ thuộc chủ yếu vào một ngành hay một loại mặt hàng là rất nguy hiểm vì không ngành nào là không có rủi ro
Thứ tư là, định giá khoản vay không theo mức độ rủi ro của khách
hàng Về cơ cấu, lãi suất cho một khoản vay phải được xác định ở mức đảm bảo bù đắp được chi phí vốn đầu vào, chi phí quản lý, phần lợi nhuận mong muốn và phần bù đắp rủi ro của khoản vay Khách hàng được đánh giá có mức độ rủi ro càng cao, phần bù rủi ro càng lớn Nhưng vì cạnh tranh nên một
số ngân hàng có thể chấp nhận mức giá cho vay thấp, thậm chí chỉ đủ chi phí vốn đầu vào và chi phí quản lý, không tính đến phần bù rủi ro Việc làm đó trong dài hạn không những làm giảm lợi nhuận mà còn làm tăng tính rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
- Nguyên nhân thuộc về người vay:
Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng, có thể chia nhóm này thành hai loại chính:
Thứ nhất là, do khách hàng kinh doanh thua lỗ nên mất khả năng trả
nợ Trường hợp này rất phổ biến do khách hàng có trình độ yếu kém trong dự đoán các vấn đề kinh tế, yếu kém trong năng lực quản lý, sử dụng vốn sai mục đích, sản phẩm chất lượng thấp không bán được…
Thứ hai là, do khách hàng cố tình chiếm dụng vốn của ngân hàng Để
đạt được mục đích thu được lợi nhuận, nhiều khách hàng sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn để ứng phó với ngân hàng như mua chuộc hoặc cung cấp các báo cáo tài chính sai lệch Trong trường hợp này, nếu không phát hiện ra, ngân hàng sẽ đánh giá sai về khả năng tài chính của khách và cho vay vốn với khối
Trang 28lượng và thời hạn không hợp lý, dẫn đến rủi ro tiềm ẩn là rất cao Ngoài ra, cũng có những trường hợp người kinh doanh có lãi song vẫn không trả nợ cho ngân hàng đúng hạn mà cố tình kéo dài với ý định không trả nợ hoặc tiếp tục
sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt
- Nguyên nhân khác:
Những nguyên nhân này phần lớn xuất hiện từ môi trường xung quanh như chất lượng thông tin, biến động kinh tế, chính sách pháp luật…
Thứ nhất là, chất lượng thông tin chưa cao Các thông tin mà ngân
hàng thu thập thường liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính của khách hàng, tình hình kinh tế xã hội, cạnh tranh trên thị trường; sau đó dựa vào các thông tin thu thập được để ra quyết định cho vay Tuy nhiên, trên thực tế thì không phải lúc nào các thông tin ngân hàng thu thập được đều có tính chính xác, đầy đủ và kịp thời Do vậy, nếu hệ thống thông tin tín dụng của ngân hàng không hoạt động có hiệu quả, cập nhật được những thông tin đáng tin cậy thì tất yếu dẫn đến việc ngân hàng thất thoát vốn khi cho vay
Thứ hai là, những biến động kinh tế không dự báo được Khi nền kinh
tế ổn định, tăng trưởng lành mạnh thì nhu cầu đầu tư trong xã hội có xu hướng gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng Tuy nhiên, khi xuất hiện những biến động kinh tế như lạm phát, giá tăng ở một số mặt hàng nào đó ảnh hưởng đến một nhóm ngành thì rủi ro tín dụng với ngân hàng là rất lớn
Thứ ba là, sự thay đổi trong các chính sách kinh tế, pháp luật Sự thiếu
nhất quán trong các chính sách kinh tế pháp luật cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới ngân hàng cũng như như các doanh nghiệp có sử dụng vốn vay ngân hàng Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không ổn định khi có những thay đổi trong quy định về thuế, vốn ,cũng như hoạt động tín dụng của ngân
Trang 29hàng cũng bị tác động nhiều bởi những văn bản luật về tài sản đảm bảo, dự trữ, trích lập…
1.2.2 Mục tiêu kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng trong Ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, các NHTM phải hoạt động trong một môi trường kinh doanh hết sức gay gắt đó là áp lực cạnh tranh Và để phát triển thì NHTM phải đứng vững trong các môi trường cạnh tranh gay gắt đó Mặt khác đối tượng kinh doanh của NHTM có tính nhạy cảm rất cao, những biến động của thị trường theo hướng nào cũng dẫn đến sự thay đổi nhất định của Ngân hàng
Cấp tín dụng là một hoạt động quan trọng, một chức năng cơ bản của hoạt động kinh doanh ngân hàng, là hoạt động thu lợi cao nhất và đem lại rủi
ro cao nhất Một vấn đề đặt ra là làm thế nào để đảm bảo hoạt động kinh doanh của Ngân hàng có hiệu quả và bảo toàn vốn của mình Xuất phát từ nhu cầu phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong kinh doanh tín dụng, đảm bảo an toàn cho mọi hoạt động của Ngân hàng thì công tác kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng hết sức quan trọng Bằng chức năng, nhiệm vụ và hoạt động cụ thể của mình, kiểm soát nội bộ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của Ngân hàng Vì vậy, việc thiết lập một hệ thống KSNB đối với hoạt động tín dụng nhằm những mục tiêu sau:
- KSNB đối với hoạt động tín dụng của NHTM nhằm đánh giá tính nghiêm túc, đúng đắn trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghiệp vụ tín dụng như: chiến lược, chính sách, các điều kiện trong kinh doanh tín dụng, phân chia về chức năng hoạt động, ủy quyền…
- KSNB nhằm phát hiện những sơ hở trong hoạt ododjng tín dụng, những rủi ro tiềm ẩn, rủi ro có thể xảy ra để từ đó đề xuất với Hội đồng quản trị, ban lãnh đạo các biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín
Trang 30dụng của Ngân hàng
- Xác định tính phù hợp của các khoản vay, tính chính xác, đáng tín cậy
và kịp thời trong hệ thống thông tin, sổ sách, báo cáo hoạt động tín dụng, báo cáo tài chính: dư nợ, dư nợ quá hạn, mức trích lập dự phòng…
- Đảm bảo hoạt động tín dụng trong ngân hàng phải tuân thủ theo các quy định, các cơ chế chính sách, pháp luật hiện hành, các chiến lược, các chính sách kinh doanh và quy trình nghiệp vụ mà các cấp lãnh đạo quản lý và điều hành của ngân hàng đã quy định
1.2.3 Các thành phần cơ bản của hệ thống KSNB tín dụng
Theo báo cáo của COSO 1992, hệ thống KSNB bao gồm 05 yếu tố cơ bản có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Theo mô hình này, kết quả kiểm soát nội bộ tốt hay xấu phụ thuộc năm yếu tố sau: môi trường kiểm soát, cách thức đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát của đơn vị, hệ thống thông tin và truyền thông, và vấn đề giám sát
a Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát là nền tảng ý thức, là văn hoá của tổ chức tác động đến ý thức kiểm soát của toàn bộ thành viên trong Ngân hàng Môi trường kiểm soát là nền tảng cho bốn thành phần còn lại của hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm xây dựng những nguyên tắc và cơ cấu hoạt động phù hợp
Nó được thể hiện thông qua: tính trung thực và các giá trị đạo đức; cam kết về năng lực; triết lý và phong cách điều hành của nhà quản lý về rủi ro tín dụng;, cách thức phân định quyền hạn và trách nhiệm; chính sách nhân sự; và sự quan tâm chỉ đạo của Hội đồng quản trị
Như vậy, môi trường kiểm soát ảnh hưởng đến cách thức kinh doanh của Ngân hàng, đến các mục tiêu tín dụng được thiết lập, đến các bộ phận còn lại của hệ thống KSNB hoạt động tín dụng Các nhân tố trong môi trường kiểm soát rất quan trọng, nhưng mức độ quan trọng của mỗi nhân tố tuỳ thuộc
Trang 31vào từng Ngân hàng Cụ thể như sau:
- Tính trung trực và giá trị đạo đức: các nhà quản lý cao cấp phải xây dựng những chuẩn mực về đạo đức, phản ánh sự trung thực của người quản lý
và cư xử đúng đắn để có thể ngăn cản không cho các thành viên trong Ngân hàng có các hành vi thiếu đạo đức hoặc phạm pháp
- Cam kết về năng lực: đảm bảo cho nhân viên có được những kỹ năng
và hiểu biết cần thiết để thực hiện được nhiệm vụ của mình, Nhà quản lý cần xác định rõ yêu cầu về năng lực cho một công việc nhất định ví dụ như công tác tín dụng trong ngân hàng đòi hỏi kỹ năng và năng lực gì, nếu không chắc chắn họ sẽ thực hiện nhiệm vụ được giao không hữu hiệu và hiệu quả
- Hội đồng Quản trị và Ủy ban Kiểm toán: các nhân tố được xem xét để đánh giá sự hữu hiệu của Hội đồng Quản trị hoặc Ủy ban Kiểm toán gồm mức
độ độc lập, kinh nghiệm và uy tín của các thành viên, mức độ tham gia, mức
độ giám sát và các hành động của HĐQT đối với Ngân hàng Một Ngân hàng
có HĐQT tận tâm, năng động, giám sát việc thực hiện của người quản lý là nhân tố thiết yếu để kiểm soát nội bộ hữu hiệu
- Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý: Sự khác biệt về triết lý quản lý và phong cách điều hành có thể ảnh hưởng lớn đến môi trường kiểm soát và tác động đến việc thực hiện các mục tiêu của Ngân hàng
ví dụ như mức độ rủi ro kinh doanh được chấp nhận
- Cơ cấu tổ chức: đây là sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn giữa các bộ phận trong đơn vị, góp phần rất lớn trong việc đạt được các mục tiêu của Ngân hàng đề ra
- Cách thức phân định quyền hạn và trách nhiệm: là phần mở rộng của
cơ cấu tổ chức Nó cụ thể hóa về quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên trong các hoạt động của đơn vị
- Chính sách nhân sự: có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của môi
Trang 32trường kiểm soát thông qua việc tác động đến các nhân tố khác trong môi trường kiểm soát như đảm bảo về năng lực, tính chính trực và các giá trị đạo đức… Chính sách này biểu hiện trong thực tế thông qua việc tuyển dụng, hướng nghiệp, đào tạo, động viên, khen thưởng và kỷ luật
b Đánh giá rủi ro
Đối với mọi hoạt động của Ngân hàng đều có thể phát sinh những rủi
ro và khó có thể kiểm soát tất cả, đặc biệt là hoạt động tín dụng Vì vậy, các nhà quản lý phải đánh giá và phân tích những nhân tố ảnh hưởng tạo nên rủi
ro làm cho những mục tiêu của đơn vị có thể không đạt được và phải cố gắng kiểm soát để tối thiểu hóa những tổn thất do các rủi ro này gây nên
Theo COSO đánh giá rủi ro được hiểu là: là việc nhận dạng, phân tích
và quản lý các rủi ro có thể đe doạ đối với việc hoàn thành các mục tiêu của Ngân hàng như mục tiêu tăng trưởng hay kiềm chế tín dụng, ưu tiên cấp tín dụng cho những lĩnh vực nào, nhóm khách hàng nào, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đạt được…sao cho Ngân hàng đạt được mục tiêu chung và mục tiêu
cụ thể cho từng hoạt động
Các nội dung của đánh giá rủi ro gồm:
- Xác định mục tiêu của đơn vị: Một sự kiện có trở thành một rủi ro quan trọng đối với tổ chức hay không sẽ phụ thuộc vào mức độ tác động tiêu cực của nó đến mục tiêu của đơn vị Việc xác định mục tiêu bao gồm việc đưa
ra sứ mệnh, hoạch định các mục tiêu chiến lược cũng như những chỉ tiêu phải đạt được trong ngắn hạn, trung và dài hạn Đối với hoạt động tín dụng chính
là các chính sách, kế hoạch trong ngắn hạn hay dài hạn, ở Hội sở chính hay ở các đơn vị trực thuộc mà Ngân hàng đề ra
- Nhận dạng rủi ro: Rủi ro có thể tác động đến tổ chức ở mức độ toàn đơn vị hay chỉ ảnh hưởng đến từng hoạt động cụ thể Để nhận dạng rủi ro, người quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, từ việc sử dụng
Trang 33các phương tiện dự báo, phân tích các dữ liệu quá khứ, cho đến việc rà soát thường xuyên các hoạt động
- Phân tích và đánh giá rủi ro: Rủi ro rất khó định lượng, nên đây là công việc phức tạp và có nhiều phương pháp khác nhau Tuy nhiên, một quy trình phân tích và đánh giá rủi ro thường bao gồm những bước sau đây: Ước lược tầm cỡ của rủi ro qua ảnh hưởng có thể có của nó đến mục tiêu của đơn
vị, xem xét khả năng xảy ra rủi ro và những biện pháp có thể sử dụng để đối phó với rủi ro
c Hoạt động kiểm soát
Là tập hợp những chính sách và thủ tục kiểm soát đảm bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện, là các hành động cần thiết thực hiện để đối phó với rủi ro đe doạ nhằm đạt được các mục tiêu Đối với ngân hàng, hoạt động kiểm soát tín dụng diễn ra toàn bộ ở mọi cấp độ và mọi bộ phận Hoạt động kiểm soát bao gồm chính sách kiểm soát và thủ tục kiểm soát Chính sách kiểm soát là những nguyên tắc cần làm, là cơ sở cho việc thực hiện các thủ tục kiểm soát Còn thủ tục kiểm soát là những quy định cụ thể để thực thi chính sách kiểm soát
Xét về mục đích người ta có thể chia hoạt động kiểm soát thành 03 loại, đó là: kiếm soát phòng ngừa, kiểm soát phát hiện và kiểm soát bù đắp Kiểm soát phòng ngừa là hoạt động kiểm soát nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu khả năng xảy ra sai sót và gian lận, ảnh hưởng dến việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp Trong khi đó kiểm soát phát hiện là hoạt động kiểm soát nhằm phát hiện kịp thời ra hành vi sai sót hoặc gian lận nào đó đã được thực hiện Thông thường, người ta có thể kết hợp giữa kiểm soát phòng ngừa
và kiểm soát phát hiện nhằm nâng cao tính hiệu quả của kiểm soát Cuối cùng, sau khi phát hiện sai sót, gian lận, doanh ngiệp phải thay thế những hoạt động kiểm soát đã bị qua mặt bằng những hoạt động kiểm soát khác
Trang 34hữu hiệu hơn hay phải tăng cường thêm các hoạt động kiểm soát Việc tăng cường thêm thủ tục kiểm soát nhằm bổ sung cho một thủ tục kiểm soát khác chính là kiểm soát bù đắp
Trong ngân hàng, hoạt động kiểm soát tín dụng bao gồm quá trình cơ bản như sau:
c1 Kiểm soát quy trình xét duyệt cho vay:
Việc kiểm soát hồ sơ vay vốn của khách hàng phải căn cứ vào những quy định hiện hành của pháp luật, của các bộ, các ngành, NHNN về công tác tín dụng trong từng thời kỳ Cụ thể như sau:
- Kiểm tra, kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ vay vốn
Bộ hồ sơ vay vốn của khách hàng phải được lập đúng và đủ theo mẫu quy định của ngân hàng Việc ghi chép các yếu tố trên hồ sơ, đặc biệt là hồ sơ cho vay, hồ sơ bảo đảm tiền vay phải chặt chẽ, rõ ràng, bảo đảm được quyền lợi hợp pháp của ngân hàng cho vay
- Kiểm soát thực hiện tiêu chuẩn cho vay nhằm đảm bảo rằng việc đề xuất cho vay tuân theo đúng tiêu chuẩn và các điều kiện cấp tín dụng
- Kiểm soát thực hiện phân tích thông tin tín dụng nhằm đảm bảo thông tín tín dụng được trình bày trung thực, chính xác, khách quan để làm cơ sở xét duyệt quyết định cho vay Đánh giá hồ sơ pháp lý của khách hàng vay có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng không; tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng, lịch sử trả nợ của khách hàng trước đây nếu có; phân tích báo cáo tài chính để đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp và khả năng trả nợ vay của khách hàng
- Kiểm soát tài sản đảm bảo: kiểm tra xem xét tính hợp lệ, hợp pháp của
hồ sơ đảm bảo, kiểm soát kết quả định giá tài sản đảm bảo nhằm đảm bảo rằng việc định giá đã được tiến hành trên cơ sở các căn cứ định giá do Ngân hàng
đề ra và tài sản đảm bảo đủ tiêu chuẩn nhận thế chấp, cầm cố và bảo lãnh
Trang 35- Kiểm soát thẩm quyền phán quyết tín dụng nhằm đảm bảo việc xét cấp tín dụng là đúng thẩm quyền và nằm trong hạn mức xét duyệt đã được phê chuẩn bởi cấp điều hành cao nhất của ngân hàng
- Kiểm soát thực hiện các thủ tục pháp lý đối với tài sản đảm bảo và hợp đồng tín dụng nhằm đảm bảo rằng các thủ tục pháp lý đã được tiến hành đầy đủ và không có sự sơ hở nào về mặt pháp lý có thể ảnh hưởng đến rủi
ro tín dụng cho ngân hàng
- Kiểm tra, kiểm soát hợp đồng tín dụng: Kiểm tra tính khớp đúng của từng hợp đồng tín dụng so với sổ sách kế toán về ngày tháng nhận tiền vay, thời hạn trả nợ, số tiền vay, dư nợ còn lại, số lãi đọng, tình hình xử lý các khoản nợ…
c2 Kiểm soát quy trình giải ngân
Nguyên tắc là chỉ thực hiện phát tiền vay khi khách hàng đáp ứng đầy
đủ các điều kiện quy định tại hợp đồng tín dụng Thực hiện phát tiền vay theo tiến độ sử dụng tiền vay của khách hàng, có căn cứ chứng minh việc sử dụng vốn vay phù hợp với các thoả thuận ghi tại hợp đồng tín dụng
- Kiểm tra các chứng từ chứng minh mục đích sử dụng vốn vay cả về
số lượng và nội dung, tính hợp pháp hợp lệ của chứng từ Kiểm tra sự phù hợp tính hợp lệ giữa yêu cầu rút vốn và các chứng từ kèm theo
- Kiểm soát việc nhập liệu trên sổ sách khớp đúng với hồ sơ vay: KSNB khâu này cần lưu ý nguyên tắc bất kiêm nhiệm giũa người phê duyệt khế ước với bộ phận theo dõi hợp đồng tín dụng trên sổ sách và người chuyển tiền cho khách hàng để đảm bảo các hợp đồng tín dụng đã phát sinh được tính toán, ghi chép đầy đủ và đúng đắn
- Kiểm tra, kiểm soát việc lưu trữ hồ sơ, chứng từ theo đúng quy định
c3 Kiểm soát quá trình giám sát vốn sau khi giải ngân
- Kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay: Yêu cầu tất cả các món vay đều
Trang 36phải được kiểm tra để xem thực tế khách hàng đã sử dụng tiền vay để làm gì,
có đúng mục đích không và có bằng chứng chứng minh cho mục đích này
- Đánh giá sơ bộ hiệu quả vay vốn và khả năng sinh lời của dự án
- Kiểm tra thực trạng TSĐB nợ vay, đánh giá độ an toàn của tài sản đảm bảo nhằm bảo đảm mức cho vay hiện hành trên tài sản đảm bảo luôn hợp
lý và an toàn
- Kiểm soát quá trình thẩm tra, cập nhật thường xuyên tình hình tài chính, kinh doanh của người vay vốn và việc ghi nhận kết quả thẩm tra trong các biên bản kiểm tra nhằm đảm bảo rằng thủ tục kiểm tra, giám sát sau cho vay đã được thực hiện đầy đủ và nghiêm túc
- Kiểm soát quá trình giám sát việc tuân thủ cam kết trả vốn lãi vay nhằm đảm bảo rằng việc theo dõi tình hình trả nợ của khách hàng vay vốn diễn ra thường xuyên và đầy đủ
c4 Kiểm soát thu hồi nợ vay
- Kiểm soát chặt chẽ mọi nguồn thu của khách hàng, tích cực xử lý sớm
mọi khoản vay có dấu hiệu trả nợ không đúng hạn
- Kiểm soát việc thu hồi nợ đến hạn như đôn đốc khách hàng trả nợ gốc, lãi đúng hạn, lập các công văn giấy tờ nhắc nợ, thông báo nợ chủ động
đề xuất các biện pháp thu hồi nợ Thực hiện giám sát thường xuyên ngay cả đối với những khoản vay trả nợ đúng hạn
- Kiểm tra các thủ tục liên quan đến khoản nợ: các yêu cầu điều chỉnh
kỳ hạn nợ, gia hạn nợ, miễn giảm lãi vay do khách hàng gửi đến Kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc chuyển nợ quá hạn, trích lập dự phòng, xử lý tài sản đảm bảo theo các quy định hiện hành
- Kiểm soát việc tập hợp báo cáo về vốn và lãi vay quá hạn nhằm đảm bảo rằng các báo cáo về vốn và lãi vay quá hạn, trễ kỳ được cung cấp đầy đủ, kịp thời cho các cấp có thẩm quyền và nhà quản trị cao cấp nhất để có những
Trang 37biện pháp ứng phó thích hợp Đây là yếu tố thuộc về thông tin truyền thông trong hệ thống KSNB Để đạt được điều này, ngân hàng phải có hệ thống thông tin kế toán hiệu quả, kịp thời và hệ thống kiểm soát trong môi trường
xử lý thông tin máy tính hữu hiệu
- Kiểm soát và quản lý rủi ro tín dụng trong ngân hàng được áp dụng như thế nào?
d Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông là hệ thống hỗ trợ việc xác định, nắm bắt và trao đổi các thông tin theo một hình thức và khuôn khổ thời gian tạo điều kiện cho các thành viên thực hiện các nhiệm vụ của mình Hệ thống thông tin và báo cáo, bao gồm cả hệ thống công nghệ thông tin, các cơ chế giao tiếp và các kênh thông tin giữa các cấp và các bộ phận trong ngân hàng Hệ thống này có
sự phân cấp và bao hàm cả hệ thống cảnh báo rủi ro, hệ thống bảo mật và chống xâm phạm trái phép Sự tương tác giữa các yếu tố cấu thành hệ thống này sẽ quyết định tính hữu hiệu, tính đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ
e Cơ chế giám sát hoạt động kiểm soát
Giám sát là quá trình đánh giá chất lượng của hệ thống KSNB theo thời gian Quá trình giám sát giúp phát hiện ra những khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát nội bộ, phát hiện những yếu kém để có biện pháp khắc phục sớm, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kiểm soát nội bộ
Có hai dạng giám sát:
Giám sát thường xuyên đạt được thông qua việc tiếp nhận các ý kiến góp ý của khách hàng, nhà cung cấp…hoặc xem xét các báo cáo hoạt động
và phát hiện các biến động bất thường
Giám sát định kỳ do Bộ phận kiểm toán nội bộ của Ngân hàng
và/hoặc tổ chức kiểm toán độc lập bên ngoài thực hiện
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong Chương 1, luận văn đã trình bày những vấn đề chung về KSNB hoạt động tín dụng gồm các khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc của hệ thống kiểm soát nội bộ trong NHTM Trong đó, luận văn đã tập trung làm rõ nội dung KSNB hoạt động tín dụng, các yếu tố cơ bản của hệ thống KSNB hoạt động tín dụng Đây là cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác KSNB hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn
Chương 2 tiếp theo sẽ phân tích và đánh giá thực trạng công tác KSNB hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn thông qua việc sử dụng các công cụ phân tích kiểm soát nội bộ đã nêu tại Chương 1 đặc biệt là tập trung vào phân tích thực trạng 05 thành phần cơ bản của KSNB hoạt động tín dụng bằng các tài liệu, báo cáo thu thập được và tổng hợp từ kết quả khảo sát ở một
số đơn vị tại SCB
Trang 39Đây là bước ngoặt trong lịch sử phát triển của cả ba ngân hàng, đánh dấu sự thay đổi về quy mô tổng tài sản lớn hơn, phát triển vượt bậc về công nghệ, mạng lưới chi nhánh phát triển rộng khắp cả nước và trình độ chuyên môn vượt bậc của tập thể CB-CNV
Trên cơ sở thừa kế những thế mạnh vốn có của 3 ngân hàng, Ngân hàng hợp nhất đã có ngay lợi thế mạnh trong lĩnh vực ngân hàng và nằm trong nhóm 5 ngân hàng cổ phần lớn nhất tại Việt Nam Cụ thể: Vốn điều lệ đạt 12.294 tỷ đồng, tổng tài sản ngân hàng đã đạt khoảng 154.000 tỷ đồng, Nguồn vốn huy động từ tổ chức tín dụng, kinh tế và dân cư của ngân hàng đạt hơn 110.000 tỷ đồng Lợi nhuận trước thuế lũy kế đạt trên 1.300 tỷ đồng Hiện hệ thống của ngân hàng tính trên tổng số lượng trụ sở chính, sở giao dịch, chi nhánh, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, và điểm giao dịch ước khoảng 230 đơn vị trên cả nước sẽ giúp khách hàng giao dịch một cách thuận lợi và tiết kiệm nhất
Trang 40* Một số thành tựu đạt được sau 02 năm hợp nhất:
- Chính thức tăng vốn điều lệ từ 10.584 tỷ lên 12.295 tỷ đồng tỷ đồng vào ngày 30/09/2013 đưa SCB trở thành Ngân hàng có quy mô vốn điều lệ thuộc top 08 hệ thống NHTM
- Là tổ chức tín dụng bán nợ xấu nhiều nhất cho VAMC với hơn 7.000
tỷ đồng trong năm 2013, góp phần tiến hành đẩy nhanh tốc độ xử lý nợ xấu, giúp SCB nâng cao tỷ lệ an toàn hoạt động
- Thanh toán trước hạn hoàn toàn khoản vay tái cấp vốn của NHNN với tổng giá trị thanh toán là 21.803, 9 tỷ đồng Đây là bước ngoặt quan trọng trong quá trình tái cơ cấu giúp SCB bình thường hoá các hoạt động kinh doanh
- Hoàn thành việc đóng toàn bộ trạng thái vàng theo chủ trương của NHNN Sự kiện này mở ra cho hoạt động kinh doanh ngoại hối nói riêng và hoạt động kinh doanh của SCB nói chung một chặng đường mới, loại bỏ rủi
ro do kinh doanh vàng, phù hợp với chủ trương quản lý vàng của NHNN
- Chính thức triển khai phát hành thẻ tín dụng quốc tế Mastercard cho khách hàng, đánh dấu sự hội nhập sâu rộng của SCB vào hoạt động thẻ thanh toán quốc tế
- Chính thức triển khai sản phẩm liên kết ngân hàng – bảo hiểm (Banccasurrance), bước đầu là sự hợp tác với Công ty Bảo hiểm nhân thọ Vietcombank- Cardif (VCLI) Sự hợp tác này mở ra cơ hội bán chéo sản phẩm ngân hàng/bảo hiểm cho khách hàng của SCB thông qua “dịch vụ một cửa”
- Chính thức triển khai dịch vụ thanh toán hoá đơn và dịch vụ nạp tiền điện thoại cho khách hàng với các đối tác thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: điện lực, viễn thông, hàng không, truyền hình cáp…
- Vinh dự đón nhận cúp vàng giải thưởng “thương hiệu nổi tiếng Asean” và giải thưởng “nhãn hiệu nổi tiếng Việt Nam năm 2013”, ghi nhận và