Trên cơ sở những nghiên cứu trên tác giả phát triển hệ thống KTTN về cả mặt lý thuyết và thực tiễn đảm bảo việc xây dựng mô hình KTTN được phù hợp và hiệu quả tại một doanh nghiệp hoạt đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
DƯƠNG THỊ NGỌC ANH
KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG
CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 5 (CIENCO5)
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO
ÐẠI HỌC ÐÀ NẴNG
DƯƠNG THỊ NGỌC ANH
\
KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG
CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 5 (CIENCO5)
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG TÙNG
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Dương Thị Ngọc Anh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của luận văn 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 9
1.1 BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 9
1.1.1 Khái niệm về kế toán trách nhiệm 9
1.1.2 Bản chất của kế toán trách nhiệm 11
1.1.3 Vai trò của kế toán trách nhiệm 12
1.2 PHÂN CẤP QUẢN LÝ - CƠ SỞ HÌNH THÀNH CÁC TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM 15
1.2.1 Khái niệm về phân cấp quản lý 15
1.2.2 Các nội dung cơ bản của phân cấp quản lý 15
1.2.3 Tác động của phân cấp quản lý đến kế toán trách nhiệm 16
1.3 TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM 19
1.3.1 Khái niệm về trung tâm trách nhiệm 19
1.3.2 Tổ chức các trung tâm trách nhiệm 19
1.3.3 Phân loại trung tâm trách nhiệm 20
1.4 HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 24
1.4.1 Đặc điểm chung của báo cáo kế toán trách nhiệm 24
1.4.2 Đánh giá trách nhiệm của các trung tâm trách nhiệm 25
Trang 51.4.3 Nội dung tổ chức báo cáo trách nhiệm 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 5 36
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 5 36
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5 36
2.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty 40
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5 42 2.2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 5 51
2.2.1 Phân cấp quản lý tại Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5 51
2.2.2 Thực trạng công tác kế toán phục vụ đánh giá trách nhiệm theo yêu cầu phân cấp quản lý tại Tổng Công ty 56
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 5 81
2.3.1 Những ưu điểm 81
2.3.2 Những mặt hạn chế 82
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 84
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 5 86
3.1 XÂY DỰNG TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM TẠI TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 5 87
3.1.1 Xây dựng các trung tâm trách nhiệm 87
3.1.2 Xây dựng bộ máy kế toán để hoàn thiện việc xử lý thông tin trong các trung tâm trách nhiệm 90
Trang 63.1.3 Xây dựng bổ sung định mức chi phí 91
3.2 HOÀN THIỆN HỆ THỐNG DỮ LIỆU QUẢN LÝ Ở CÁC TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM 95
3.2.1 Xây dựng bộ mã tài khoản phục vụ dữ liệu cho kế toán trách nhiệm 95
3.2.2 Tổ chức phân loại chi phí theo tính chất kiểm soát được 99
3.3 HOÀN THIỆN HỆ THỐNG BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ CÁC TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM .100
3.3.1 Đánh giá thành quả của trung tâm chi phí .100
3.3.2 Đánh giá thành quả của trung tâm doanh thu 101
3.3.3 Đánh giá thành quả trung tâm lợi nhuận .101
3.3.4 Đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư .102
3.4 HOÀN THIỆN HỆ THỐNG BÁO CÁO DỰ TOÁN CÁC TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM Ở TỔNG CÔNG TY 102
3.4.1 Xây dựng báo cáo dự toán .102
3.4.2 Đối với trung tâm doanh thu 109
3.4.3 Xây dựng báo cáo dự toán trung tâm lợi nhuận .110
3.4.4 Xây dựng báo cáo dự toán trung tâm đầu tư .115
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .117
KẾT LUẬN .119 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 7RI Residual income (Thu nhập thặng dư)
ROI Return on investment ( Tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư)
XDCT GT 5 Xây dựng công trình giao thông 5
Trang 8
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
1.2 Báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu Tháng, quý, năm 31 1.3 Báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận Tháng, quý, năm 32
2.1 Báo cáo kế hoạch chi phí sản xuất - công ty 512 năm 2012 57 2.2 Kế hoạch giá trị sản xuất – doanh thu dự kiến – công ty 512
năm 2012
60
2.4 Kế hoạch sản xuất kinh doanh Tổng công ty XDCT GT 5
năm 2012
64
2.6 Tình hình thực hiện kế hoạch sản lượng – công ty 512 năm 2012 67 2.7 Tình hình thực hiện kế hoạch sản lượng toàn tổng công ty - năm
2012
69
2.9 Báo cáo chi phí thực hiện hạng mục rãnh xây dọc 72 2.10 Báo cáo vật tư thi công công trình nam Quảng Nam - công ty 512 73 2.11 Quy trình phục vụ chi phí kiểm soát chi phí nhân công tại công
ty 512
74
2.13 Báo cáo tình hình thực hiện chi phí - năm 2012 76 2.14 Bảng tổng hợp chi phí chung và chi phí QLDN công ty 512 –
năm 2012
78
Trang 92.15 Báo cáo thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh công ty 512 -
năm 2012
79
2.16 Báo cáo kết qủa sản xuất kinh doanh- năm 2012 80 3.1 Bảng định mức hao hụt nguyên vật liệu dùng trong xây lắp cầu 93 3.2 Kết quả thống kê định mức chi phí chung và chi phí quản lý 95
3.7 Bảng phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí 104 3.8 Bảng tổng hợp kinh phí dự toán đường Nam - Quảng Nam 105
3.10 Dự toán chi phí xây lắp công trình đường Nam - Quảng Nam -
công ty 512 năm 2012
107
3.11 Bảng tổng hợp dự toán chi phí công ty 512 năm 2012 108 3.12 Tổng hợp dự toán doanh thu xây lắp công ty 512 - năm 2012 109 3.13 Báo cáo khối lượng nghiệm thu - doanh thu công trình đường
nam Quảng Nam - R4-5
111
3.14 Dự toán báo cáo kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần XDCT 512 113
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế là đặc trưng
và xu hướng phát triển phổ biến của nền kinh tế thế giới, bất luận đó là nền kinh tế có quy mô và trình độ phát triển ra sao và thuộc chế độ chính trị - xã hội thế nào Nền kinh tế Việt Nam hiện đang có những biến đổi lớn trong giai đoạn hòa nhập với nền kinh tế thế giới Các đơn vị quốc doanh đang chuyển
từ nền kinh tế bao cấp sang chế độ tự quản, tự bảo toàn và phát triển vốn, đặc biệt là từng bước cổ phần hóa trên thị trường vốn trong và ngoài nước Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường nhiều cạnh tranh gay gắt, xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu đặt ra cho các doanh nghiệp bài toán về hiệu quả Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trên thương trường tùy thuộc rất nhiều vào các quyết định của nhà quản trị Những quyết định đó thường được xác lập trên cơ sở thông tin kế toán, nhất là kế toán quản trị
Ngoài ra, các hình thức đầu tư ngày càng đa dạng, người chủ sở hữu tách dần khỏi vai trò quản lý kinh doanh như các hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, liên doanh… Vì vậy, các chủ sở hữu, hội đồng quản trị luôn muốn nắm được tình hình kinh doanh của đơn vị, theo dõi các quyền và trách nhiệm của người điều hành quản lý Muốn vậy, doanh nghiệp cần tổ chức hệ thống đo lường, báo cáo đánh giá các hoạt động từ cấp
độ thấp nhất đến cấp độ cao nhất Kế toán trách nhiệm ra đời nhằm mục tiêu đánh giá trách nhiệm, đưa ra các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá thường kỳ kết quả công việc của mỗi cá nhân, mỗi bộ phận trong tổ chức Kế toán trách nhiệm giúp doanh nghiệp đảm bảo mọi sự việc, nghiệp vụ phát sinh đều phải
có người gánh vác trách nhiệm, có được chế độ thưởng phạt phân minh để doanh nghiệp phát triển hơn Áp dụng thành công mô hình kế toán trách nhiệm sẽ giúp các doanh nghiệp có được một hệ thống cung cấp thông tin tin cậy và sự kiểm soát chặt chẽ
Trang 13Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5 là đơn vị có nhiều đơn
vị thành viên hoạt động trong lĩnh vực xây dựng Vì thế, vấn đề cấp thiết đặt
ra đối với Tổng Công ty và các đơn vị thành viên là phải tổ chức điều hành thực thi quyết định của mình một cách có hiệu qủa thông qua việc: quản lý, kiểm soát, đánh giá kết qủa khi doanh nghiệp thực hiện phân cấp quản lý, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý, nâng cao hiệu qủa hoạt động kinh doanh của toàn đơn vị Phạm vi hoạt động của Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5 trải rộng khắp cả nước Cơ chế quản lý tài chính đối với các công ty thành viên cũng khá đa dạng nên việc hoàn thiện công tác kế toán trách nhiệm
để đánh giá đúng thành qủa của từng đơn vị, bộ phận ở các công ty và toàn bộ Tổng Công ty là rất cần thiết Việc hoàn thiện công tác kế toán trách nhiệm nhằm đảm bảo cho các công ty thành viên bên cạnh việc thực hiện các nhiệm
vụ cụ thể của mình còn phải gắn kết, phối hợp với nhau thực hiện mục tiêu chung của Tổng Công ty
Xuất phát từ yêu cầu trên, từ thực trạng kế toán trách nhiệm tại Tổng Công ty và mục đích hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Tổng Công ty, tác giả
đã vận dụng những lý luận về kế toán trách nhiệm vào thực tiễn để thực hiện
đề tài “Kế toán trách nhiệm tại Tổng Công ty xây dựng công trình giao
thông 5 (Cienco5)” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán trách nhiệm đã được nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước, làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng kế toán trách nhiệm tại Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5
Nghiên cứu thực trạng công tác kế toán đáp ứng yêu cầu phân cấp quản
lý tại Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5 Qua đó, rút ra những
ưu nhược điểm và đề xuất hướng giải pháp hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5
* Câu hỏi nghiên cứu
Nội dung phân cấp quản lý tại Tổng Công ty xây dựng công trình giao
Trang 14thông 5 và các chỉ tiêu đo lường kết quả theo yêu cầu phân cấp tại Tổng Công
ty như thế nào?
Thông tin kế toán quản trị đáp ứng nhu cầu quản lý theo phân cấp ở mức
độ nào?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Thông tin kế toán đánh giá trách nhiệm quản lý tại Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5
Phạm vi nghiên cứu: Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5 (Đại diện là văn phòng Tổng Công ty và các Công ty cổ phần trực thuộc Tổng Công ty nắm giữ cổ phần chi phối)
4 Phương pháp nghiên cứu
Về mặt phương pháp luận: Luận văn dựa vào phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp tiếp cận hệ thống
Về mặt phương pháp cụ thể: Luận văn sử dụng phương pháp thu thập thông tin, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu các vấn đề Trên cơ sở đó xem xét yêu cầu về phân cấp quản lý và hệ thống báo cáo kế toán có liên quan
có đáp ứng các yêu cầu phân cấp hiện tại ở Tổng Công ty hay không
Các tài liệu thứ cấp ở Tổng Công ty được sử dụng bao gồm qui chế về phân cấp quản lý tài chính, các báo cáo nội bộ, các số liệu dự toán và thực tế Ngoài ra, ý kiến của kế toán trưởng, các bộ phận qua phỏng vấn cũng được sử dụng để tìm hiểu về nhu cầu sử dụng thông tin trong quản lý trong điều kiện phân cấp quản lý
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tại Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5 Đề tài đưa ra hướng xây dựng mô hình phân cấp quản lý, tổ chức thông tin kế toán phục vụ đánh giá các trung tâm trách nhiệm Đây là cơ sở để nâng cao độ tin cậy của hệ thống thông tin kế toán quản trị, nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu quản trị, phát huy tối đa nguồn lực trong doanh nghiệp
Trang 155 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng kế toán trách nhiệm tại Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5
Chương 3: Hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Kế toán trách nhiệm nói riêng và kế toán quản trị nói chung chỉ mới được đề cập và nghiên cứu tại Việt Nam 25 năm gần đây, khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển đòi hỏi hệ thống kế toán cần được hoàn thiện Trong khi đó kế toán quản trị ở một số nước phát triển đã được sử dụng như một công cụ quản lý từ rất lâu Ở Việt Nam mức độ vận dụng kế toán trách nhiệm vào thực tiễn và điều hành các doanh nghiệp còn hạn chế, chưa được
hệ thống hóa Đó chỉ mới là những thông tin chi tiết, rời rạc, nặng tính ngẫu nhiên, chưa mang tính ổn định, chưa kết tinh thành những báo cáo nhằm đánh giá trách nhiệm quản trị trong nội bộ Công ty Trước sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự gia nhập nhiều tổ chức quốc tế hệ thống kế toán Việt Nam nói chung và kế toán trách nhiệm nói riêng đã được nhiều tác giả nghiên cứu đưa ra các giải pháp và hướng hoàn thiện thông qua luận án, tạp chí và các đề tài nghiên cứu khoa học
Khi thực hiện đề tài tác giả đã tham khảo một số tài liệu lý luận kết hợp tham khảo luận văn Thạc sĩ và bài báo nghiên cứu liên quan đến đề tài kế toán trách nhiệm tại doanh nghiệp
Đề tài “Kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần vật tư tổng hợp và phân bón hóa sinh” của tác giả Lê Thị Thùy Dung (2013) Tác giả đã trình bày đặc điểm, nội dung tổ chức kế toán trách nhiệm tại Công ty như đặc điểm tổ chức,
Trang 16nội dung tổ chức, lập các báo cáo nội bộ,… Từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện công tác kế toán trách nhiệm tại doanh nghiệp này Tuy nhiên đề tài mới chỉ đưa ra hướng giải pháp cho một đơn vị đặc thù riêng [7]
Đề tài “Tổ chức kế toán trách nhiệm tại Tổng Công ty cổ phần Danameco” của tác giả Nguyễn Thị Hông Ân (2012) Luận văn đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản về kế toán trách nhiệm, đánh giá thực trạng kế toán quản trị, đồng thời đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán trách nhiệm Đề tài đưa ra những giải pháp chính như thiết lập hệ thống kế toán trách nhiệm, xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá thành quả các trung tâm này cùng hệ thống báo cáo quản trị tương ứng Tuy nhiên đề tài cũng chỉ đưa ra hướng giải pháp theo đặc thù công ty [1]
Đề tài “Hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Công ty Vận tải Quốc tế I.T.I” của tác giả Dương Thị Cẩm Nhung (2011) đã đưa ra bước xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm gồm: xác định các trung tâm trách nhiệm, xây dựng các chỉ tiêu, thiết lập hệ thống báo cáo và một số nội dung kế toán liên quan
Đề tài cung cấp cho nhà quản trị những thông tin về tổ chức, điều hành, giúp kiểm soát quản lý và tài chính, sử dụng phương pháp bảng cân đối để xác định phương hướng, đưa ra các chỉ tiêu quan trọng trong báo cáo Tại công ty Vận tải Quốc tế I.T.I bộ máy quản lý được phân cấp thành các trung tâm lợi nhuận, trung tâm doanh thu, trung tâm chi phí Đề tài đã đưa vào nghiên cứu phương pháp Bảng cân đối các chỉ tiêu đo lường và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh Tuy nhiên đề tài mới chỉ đưa ra hướng giải pháp cho một đơn vị đặc thù riêng ngành vận tải [9]
Luận văn “Tổ chức kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH một thành viên Cảng Đà Nẵng” trong nghiên cứu này, tác giả Lê Thị Thu Hiền đã đưa ra các đánh giá về thực trạng kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH một thành viên Cảng Đà Nẵng [8]
Ngoài ra, năm 2009 tác giả Phạm Văn Dược có đề tài cấp Bộ “Thiết kế
hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm bộ phận cho các quản trị trong doanh
Trang 17nghiệp sản xuất Việt Nam” trong đề tài này tác giả đã xây dựng chi tiết hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm cho từng trung tâm trách nhiệm với các quy trình lập báo cáo cụ thể và điều kiện để thực hiện được các quy trình đó Đây là một nghiên cứu có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, mở ra một hướng nghiên cứu mới về kế toán trách nhiệm và cho thấy vị trí và vai trò quan trọng của kế toán trách nhiệm trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay [6]
Trong nền kinh tế thị trường với nhiều cạnh tranh đòi hỏi các lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp cần xây dựng cho mình một mô hình kế toán quản trị riêng phù hợp với đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý Trước yêu cầu trên, từ năm 2002 cho đến nay các nghiên cứu đã đi sâu vào cụ thể những nghành như: Tác giả Phạm Thị Kim Vân (2002) nghiên cứu “ Tổ chức
kế toán quản trị chi phí và kết quả kinh doanh ở các doanh nghiệp kinh doanh
du lịch” Tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga (2004) nghiên cứu “ Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị trong các doanh nghiệp dầu khí Việt Nam” Tác giả Dương Thị Mai Hà Trâm (2004) nghiên cứu “ Xây dựng hệ thống kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Dệt Việt Nam” Hầu hết các tác giả nghiên cứu về các nội dung của kế toán quản trị, cụ thể đó là nội dung về chi phí, giá thành, định mức sản xuất còn kế toán trách nhiệm chưa được các tác giả đề cập
và phân tích sâu Nếu có chỉ mới trình bày về phân tích và đánh giá báo cáo bộ phận đây chỉ là một nội dung nhỏ trong kế toán trách nhiệm [10], [12], [14] Nhu cầu về quản lý và kiểm soát thông tin kế toán một cách liên tục là
cơ sở cho kế toán trách nhiệm phát triển Higgins (1952) đã định nghĩa: Kế toán trách nhiệm là sự phát triển của hệ thống kế toán được thiết kế để kiểm soát chi phí phát sinh liên quan trực tiếp cho các cá nhân trong tổ chức và người chịu trách nhiệm kiểm soát [18] Hệ thống kiểm soát này được thiết kế cho tất cả các cấp quản lý tài chính phù hợp, kế toán trách nhiệm là công cụ hữu ích để quản lý Hơn nữa một nhà quản trị không thể thâu tóm và phát huy được năng lực ở tất cả các lĩnh vực, bộ phận trong doanh nghiệp, mà cần phải
có sự phân quyền để quản lý có hiệu quả Tác giả Martin N.Kellogg (1962),
Trang 18đã nghiên cứu sự phát triển của kế toán trách nhiệm với cơ cấu tổ chức, kế toán trách nhiệm với kế toán chi phí, kế toán trách nhiệm với ngân sách, kế toán trách nhiệm với kiểm soát chi phí Kế toán trách nhiệm có mối quan hệ chặt chẽ với phân cấp quản lý và kế toán chi phí Trước hết một tổ chức luôn
có sự phân cấp, phân quyền quản lý, do vậy cơ cấu tổ chức luôn có sự thay đổi Chính vì vậy để thiết lập hệ thống kế toán trách nhiệm cần đảm bảo những nguyên tắc sau: (1) Phân tách tổ chức thành các bộ phận, đơn vị theo từng chức năng cụ thể (2) Phân công trách nhiệm cụ thể cho mỗi bộ phận và đơn vị (3) Mỗi bộ phận đơn vị phải thực hiện báo cáo (4) Thành lập các vị trí giám sát đối với từng cấp quản lý Ngoài ra tác giả cũng đề cập đến hệ thống
kế toán chi phí được sử dụng như công cụ quản lý, trước hết phải gán trách nhiệm cho từng khoản chi phí Điều này đặc biệt đúng trong các hệ thống các chi phí tiêu chuẩn KTTN là cần thiết để kiểm soát ngân sách và đảm bảo nguyên tắc: (1) Ngân sách phải được lập và báo cáo gắn liền với kế toán tài chính không được điều chỉnh hay bổ sung (2) Ngân sách được xác định phù hợp với quyền hạn và trách nhiệm (3) Ngân sách phải được xây dựng đơn giản, trong giới hạn phạm vi sử dụng chính KTTN kiểm soát chi phí với chức năng chính là giám sát ở các cấp từ phân xưởng đến ban quản trị Để kiểm soát được chi phí theo tác giả cần tìm hiểu và xác định nguồn gốc phát sinh chi phí, từ đó kiểm soát chi phí trên cơ sở đó [20]
Đồng thời KTTN cũng được tác giả Joeph P Vogel (1962) đề cập đến phần trách nhiệm trong doanh nghiệp, cụ thể là Công ty Điện, trước hết KTTN được sử dụng để kiểm soát chi phí Theo tác giả nếu không có hệ thống kế toán thống nhất, mỗi công ty xây dựng cho mình một hệ thống kế toán tự do, khi đó chi phí dễ phát sinh Để hạn chế chi phí bằng cách quy trách nhiệm cá nhân, trên cơ sở này xác đinh trách nhiệm cá nhân với mỗi loại chi phí Tác giả đã đề cập đến việc xây dựng và thiết lập hệ thống KTTN trong doanh nghiệp, KTTN được thiết kế phù hợp với cơ cấu tổ chức của từng doanh nghiệp, tùy thuộc vào quy mô hoạt động mà phân cấp quản lý KTTN
Trang 19phải được xây dựng trên cơ sở quản lý nhằm thu thập thông tin cho nhà quản trị có quyết định hiệu quả [21]
Nhìn chung các đề tài đã hệ thống những lý luận cơ bản về kế toán trách nhiệm, những đặc điểm, nội dung tổ chức, lập báo cáo nội bộ Từ đó đánh giá những mặt đạt được, những mặt hạn chế trong công tác tổ chức kế toán trách nhiệm tại các doanh nghiệp nghiên cứu Xây dựng mô hình quản lý và hệ thống các chỉ tiêu đánh giá việc thực hiện các cấp trong công ty, đưa ra phương án tổ chức các trung tâm sao cho hiệu quả Tuy nhiên, các giải pháp đưa ra chưa cụ thể, do việc vận dụng kế toán trách nhiệm là khác nhau trong từng doanh nghiệp có đặc điểm sản xuất, tổ chức sản xuất, quản lý khác nhau nên đề xuất chưa có tính ứng dụng cao Đó là hạn chế chung khi nghiên cứu
kế toán trách nhiệm tại một đơn vị riêng
Tóm lại, thông qua nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến kế toán trách nhiệm trong nước và trên thế giới, tác giả đã nhìn nhận tầm quan trọng cũng như giá trị của kế toán trách nhiệm đối với doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông nói riêng Kế toán trách nhiệm ngày một phát triển và được quan tâm, việc nghiên cứu KTTN sẽ ngày càng được chuyên sâu và cụ thể cho từng nghành, từng lĩnh vực hoạt động Trên cơ sở những nghiên cứu trên tác giả phát triển hệ thống KTTN về cả mặt lý thuyết và thực tiễn đảm bảo việc xây dựng mô hình KTTN được phù hợp và hiệu quả tại một doanh nghiệp hoạt động trong nghành vận tải đó là Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5, tác giả
đã chọn đề tài “Kế toán toán trách nhiệm tại Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5 (CIENCO 5)” làm luận văn nghiên cứu, khái quát hóa những lý luận cơ bản về kế toán trách nhiệm, mối quan hệ giữa phân cấp quản
lý và kế toán trách nhiệm, đến việc mô hình trung tâm trách nhiệm Trên cơ
sở đó, đề tài đánh giá thực trạng công tác kế toán trách nhiệm tại Tổng công
ty, những mặt đạt được, những nhược điểm và đưa ra giải pháp hoàn thiện kế toán trách nhiệm như tổ chức các trung tâm trách nhiệm theo phân cấp quản
lý, tổ chức hệ thống chỉ tiêu báo cáo…
Trang 20CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM
1.1.1 Khái niệm về kế toán trách nhiệm
Mặc dù kế toán trách nhiệm đã được nghiên cứu từ rất lâu, và mỗi nhà nghiên cứu đều đưa ra những quan điểm khác nhau về kế toán trách nhiệm, hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về kế toán trách nhiệm
Theo Charles T Horngreen định nghĩa: “Kế toán trách nhiệm là hệ thống
kế toán được nhìn nhận qua các trung tâm trách nhiệm khác nhau trong toàn
bộ tổ chức và phản ánh các kết quả hoạt động của mỗi trung tâm này bằng các chỉ tiêu về doanh thu và chi phí” [16]
Theo hai tác giả Prof B.Venkat Rathnam và Prof K Raji Reddy: “Kế toán trách nhiệm là một hệ thống kiểm soát của nhà quản lý được dựa trên những nguyên tắc về ủy quyền, phê chuẩn và xác định trách nhiệm Sự ủy quyền được giao đến từng trung tâm trách nhiệm, nhà quản lý phải chịu trách nhiệm theo từng phân khu, các phân khu này có thể là các bộ phận, chi nhánh hay phòng ban… Mục đích chính của KTTN là quá trình kiểm soát của các nhà quản lý đối với bộ của mình” [15]
Theo PGS.TS Đào Văn Tài Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh cho rằng “Kế toán trách nhiệm là một phương pháp kế toán thu thập các báo cáo các thông tin từ dự toán và thực tế về các “đầu vào” và “ đầu ra” của các trung tâm trách nhiệm’’ [11]
Nhóm tác giả Clive R Emmanuel, David T Otley, KennethA Merchant
đã có quan điểm về kế toán trách nhiệm như sau: “Kế toán trách nhiệm là việc thu thập và báo cáo những thông tin tài chính về những trung tâm khác nhau trong một tổ chức” [17] Theo quan điểm này kế toán trách nhiệm được xem
Trang 21xét từ chi phí, thu nhập, lợi nhuận đến những người chịu trách nhiệm về các chỉ tiêu đó Kế toán trách nhiệm phù hợp với các tổ chức mà ở đó nhà quản lý cấp cao thực hiện chuyển giao quyền ra quyết định cho các cấp dưới
Theo James R Martin, “Kế toán trách nhiệm là một khái niệm kế toán cơ bản về hệ thống đo lường hiệu quả của hoạt động Ý nghĩa cơ bản là những tổ chức phân tán rộng lớn thì khó hoặc không thể quản lý như những đơn vị đơn
lẻ, do vậy chúng phải được tách hay chia thành nhiều bộ phận để quản lý Những bộ phận đó được xem như những trung tâm trách nhiệm bao gồm trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu
tư Điều này cho phép phân công trách nhiệm cho từng đơn vị quản lý và những đơn vị này phải quản lý một số yếu tố chủ yếu Các yếu tố đó bao gồm doanh thu đối với trung tâm doanh thu, chi phí đối với trung tâm chi phí, đánh giá lợi nhuận đối với trung tâm lợi nhuận và tỷ lệ hoàn vốn đối với trung tâm
đầu tư” [19]
Mặc dù các nhà nghiên cứu đưa ra những cơ sở khác nhau về kế toán trách nhiệm nhưng hầu hết các ý kiến đều tập trung làm sáng tỏ những nội dung của kế toán trách nhiệm và có thể bổ sung cho nhau Có thể nói kế toán trách nhiệm là một hệ thống thừa nhận mỗi bộ phận trong một tổ chức có quyền chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nghiệp vụ chuyên biệt thuộc phạm vi quản lý của mình Hệ thống ghi nhận, đo lường kết quả hoạt động các bộ phận trong tổ chức, trên cơ sở đó lập các báo cáo thực hiện nhằm phục
vụ cho các nhà quản lý kiểm soát hoạt động và chi phí của họ Nói cách khác,
kế toán trách nhiệm là một phương pháp kế toán thu thập và báo cáo các thông tin dự toán và thực tế về các “đầu vào” và “đầu ra” của các trung tâm trách nhiệm Do đó phải lượng hóa được “đầu vào” và “đầu ra” của các trung tâm trách nhiệm thông qua các chỉ tiêu cụ thể đánh giá kết quả hoạt động từng trung tâm Như vậy, khái niệm về kế toán trách nhiệm có thể được rút
ra như sau:
“Kế toán trách nhiệm là phương pháp thu thập, ghi nhận, báo cáo và đo
Trang 22lường kết quả hoạt động của từng bộ phận để đánh giá thành quả của từng bộ phận nhằm kiểm soát hoạt động và chi phí của các bộ phận trong tổ chức, phối hợp các bộ phận đến việc thực hiện mục tiêu chung toàn công ty” [22]
1.1.2 Bản chất của kế toán trách nhiệm
a Kế toán trách nhiệm là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị
Kế toán trách nhiệm là công cụ để đánh giá và kiểm tra trong công việc phân quyền tại công ty thông qua việc xác định các trung tâm trách nhiệm và nhiệm vụ báo cáo của chúng Đây là hệ thống thừa nhận mỗi bộ phận trong một tổ chức có quyền chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nghiệp vụ riêng biệt thuộc phạm vi quản lý của mình, họ phải xác định, đánh giá và báo cáo lên cấp trên trong tổ chức, thông qua đó nhà quản lý cao hơn sử dụng thông tin này đánh giá thành quả các bộ phận đó
Kế toán trách nhiệm biểu hiện trách nhiệm của nhà quản lý các cấp bên trong doanh nghiệp, xác định ai, ở đâu, bộ phận nào chịu trách nhiệm, bộ phận nào có quyền kiểm soát hoạt động xảy ra Kế toán trách nhiệm bao gồm hai mặt thông tin và trách nhiệm Trong đó, mặt thông tin, kế toán sẽ tập hợp, báo cáo và đánh giá thông tin mang tính nội bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh từ cấp quản lý bên dưới lên cấp quản lý cao hơn Đồng thời quy trách nhiệm về những sự kiện tài chính xảy ra gắn với từng bộ phận quản lý, do đó, trong báo cáo nhà quản trị phải trình bày chi phí, lợi nhuận đơn vị mình đảm nhận, giải trình từng sự kiện và kết quả tài chính mà mình có quyền kiểm soát
Nói tóm lại, kế toán trách nhiệm là một nội dung quan trọng của kế toán
quản trị Kế toán trách nhiệm không chỉ đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ,
rõ ràng về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn xác định đối tượng nào chịu trách nhiệm, bộ phận nào có quyền kiểm soát đối với hoạt động xảy ra
b Kế toán trách nhiệm là một hạt nhân trong hệ thống kiểm soát quản trị
Nói đến kế toán quản trị là nói đến vai trò cung cấp thông tin cho kiểm tra
Trang 23và đánh giá quá trình thực hiện để đưa ra những điều chỉnh kịp thời nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Hệ thống kiểm soát quản trị gồm hai yếu tố hạt nhân: Đầu tiên là quá trình lập kế hoạch ngân sách và kế hoạch dài hạn Quá trình này sử dụng thiết lập các chỉ tiêu kế hoạch để đánh giá kết quả thực hiện
Thứ hai là kế toán trách nhiệm mà chủ yếu là tạo ra các trung tâm trách nhiệm, chịu trách nhiệm về kết quả tài chính và tác động hiệu quả từng cá nhân trong tổ chức Mục tiêu của kế toán trách nhiệm là tích lũy chi phí, doanh thu phát sinh trong từng trung tâm trách nhiệm để tính mức chênh lệch so với kế hoạch thực hiện mà có thể quy trách nhiệm cho từng cá nhân đứng đầu trung tâm trách nhiệm Mỗi trung tâm trách nhiệm đều có tiến trình hoạt động sau:
Hình 1.1 Sơ đồ tiến trình hoạt động một trung tâm trách nhiệm
Tóm lại, kế toán trách nhiệm là công cụ để thu thập và báo cáo các thông tin dự toán và thực tế về các “đầu vào” và “đầu ra” của các trung tâm trách nhiệm, tìm ra các sai lệch giữa thực tế và dự toán để kiểm soát hoạt động và chi phí từng bộ phận
1.1.3 Vai trò của kế toán trách nhiệm
Nói đến kế toán quản trị là nói đến vai trò cung cấp thông tin cho kiểm tra và đánh giá quá trình thực hiện để có thể đưa ra những điều chỉnh kịp thời
Thiết lập mục tiêu
Đo lường kết quả thực hiện
So sánh kết quả thực hiện với mục tiêu và báo cáo
Phân tích sự sai biệt ( độ lệch)
Đưa ra ảnh hưởng khi có sự sai biệt đáng kể giữa thực hiện và kế hoạch
Trang 24nhằm đạt các mục tiêu đề ra Tuy nhận thức được tầm quan trọng của kế toán quản trị đối với công tác quản trị doanh nghiệp, nhưng các nhà quản lý vẫn lúng túng khi xây dựng mô hình kế toán quản trị phù hợp với tình hình, đặc điểm của đơn vị mình Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp có quy mô hoạt động lớn, nhưng bộ máy quản lý cồng kềnh, không hợp lý gây khó khăn và làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung và công tác kế toán tài chính, kế toán quản trị nói riêng Xuất phát từ thực tế đó, vào những năm đầu của thế kỷ XX, các nhà kinh tế đã đưa ra quan điểm về kế toán trách nhiệm
Kế toán trách nhiệm ngoài việc đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ, rõ ràng chính xác về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn xác định phạm vi quản lý của mỗi bộ phận, ai là người chịu trách nhiệm, bộ phận nào có quyền kiểm soát đối với hoạt động xảy ra Trách nhiệm đó được thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình 1.2 Mối quan hệ giữa chức năng quản trị
và quá trình kế toán quản trị
Trang 25Kế toán trách nhiệm là một bộ phận của kế toán quản trị, về cơ bản cũng thực hiện những nội dung của kế toán quản trị Thể hiện trách nhiệm của nhà quản lý ở các bộ phận đối với mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp, đây là chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu quản trị doanh nghiệp, từ khâu lập
dự toán, tổ chức thực hiện cho đến kiểm tra, đánh giá Nhà quản lý ở mọi cấp
độ trong tổ chức đều phải ra quyết định
Kế toán trách nhiệm bao gồm hai mặt: thông tin và trách nhiệm Trong
đó, mặt thông tin có nghĩa là tập hợp, báo cáo, đánh giá các thông tin mang tính nội bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ cấp quản lý thấp đến cấp quản lý cao hơn Mặt trách nhiệm nghĩa là việc quy trách nhiệm
về những sự kiện tài chính xảy ra Nhà quản lý bộ phận phải có nhiệm vụ báo cáo lên cấp quản lý cao hơn về những chi phí và kết quả mà mình đảm nhận
và giải trình từng sự kiện về kết quả thuộc trách nhiệm và quyền kiểm soát của mình
Tùy thuộc vào việc sử dụng hai mặt này mà hiệu quả của hệ thống sẽ khác nhau Nếu hệ thống quá nhấn mạnh đánh giá trách nhiệm của nhà quản
lý, sẽ ảnh hưởng đến thái độ của họ theo chiều hướng tiêu cực, thay vì tìm ra nguyên nhân và khắc phục sai phạm, họ sẽ tìm cách che đậy sai phạm, đối phó và hoài nghi về hệ thống kiểm soát, đánh giá của tổ chức và tìm cách phá
vỡ hệ thống này Lúc này hệ thống kế toán trách nhiệm không hoàn thành mục tiêu đã đặt ra Nhưng khi hệ thống kế toán trách nhiệm nhấn mạnh mặt thông tin thì nhà quản lý sẽ có những phản ứng tích cực Khi phát sinh những chênh lệch bất lợi, họ sẽ giải thích những nguyên nhân dẫn đến sai phạm, tìm cách khắc phục tiêu cực và cố gắng nỗ lực cho thành quả của doanh nghiệp cải thiện hơn Do vậy, có thể thấy trọng tâm của hệ thống kế toán trách nhiệm
là thông tin Khi sử dụng đúng đắn kế toán trách nhiệm, ta sẽ không quá nhấn mạnh đến việc quy trách nhiệm, nên xem việc quy trách nhiệm là một yếu tố góp phần vào hiệu quả thông tin của hệ thống
Trang 261.2 PHÂN CẤP QUẢN LÝ - CƠ SỞ HÌNH THÀNH CÁC TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM
1.2.1 Khái niệm về phân cấp quản lý
Phân cấp quản lý hay còn gọi là phân quyền trong quản lý được hiểu là
sự phân chia quyền lực xuống cấp dưới, quyền ra quyết định không còn của một người hay một nhóm nhỏ mà trải rộng trên toàn tổ chức Qua đó các cấp quản lý khác nhau được quyền ra quyết định liên quan đến phạm vi trách nhiệm của họ
1.2.2 Các nội dung cơ bản của phân cấp quản lý
Mục đích của phân cấp quản lý là giúp cho doanh nghiệp đáp ứng kịp thời nhanh chóng và phù hợp với tình hình thay đổi của môi trường xung quanh Nội dung phân cấp bao gồm:
a Phân cấp về đầu tư
Hoạt động đầu tư bao gồm đầu tư tài sản cố định, đầu tư dài hạn vào công ty liên doanh, liên kết Tùy thuộc vào tính trọng yếu, mức độ của khoản vốn đầu tư mà mỗi công ty có thể có sự tập trung hay giao quyền từng phần trong công tác đầu tư
Thông thường, phân cấp mua sắm tài sản cố định có liên quan đến tiêu chí giá trị tổng mức đầu tư Những khoản đầu tư có giá trị lớn, có tính chiến lược toàn công ty thì không phân quyền mà do công ty thực hiện để định hướng hoạt động chiến lược Các khoản đầu tư tài sản cố định văn phòng, giá trị nhỏ lẻ thì phân quyền cho đơn vị thành viên
b Phân cấp về tình hình huy động vốn
Việc huy động vốn không chỉ liên quan đến chính sách tài trợ mà còn liên quan đến nghĩa vụ thanh toán nợ sau này, uy tín của từng đơn vị thành viên và toàn công ty Phân cấp này có thể dẫn đến các công ty thành viên chủ động huy động vốn, hoặc mọi việc huy động vốn do đơn vị cấp trên thực hiện,
Trang 27các đơn vị thành viên nhận lại nợ từ đơn vị cấp trên Nội dung này bao gồm:
Ø Phân cấp về quyền, mức quy định và hình thức huy động vốn đối với từng cấp trong doanh nghiệp
Ø Phân cấp về trách nhiệm trong việc huy động vốn, đảm bảo vốn huy động sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng và có hiệu quả
c Phân cấp về quản lý doanh thu và chi phí
Cách thức phân cấp này cho phép người đứng đầu mỗi cấp chịu trách nhiệm về các khoản chi phí trong phạm vi mình quản lý, chịu trách nhiệm về thị trường khai thác theo kênh phân phối của công ty
Phân cấp về lập kế hoạch và báo cáo tình hình thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh
Phân cấp về quản lý bán hàng theo từng dòng sản phẩm, từng khu vực, từng thị trường
Phân cấp về phạm vi các khoản chi phí mà mỗi cấp đơn vị được phép chi, các khoản chi phí phải xin ý kiến cấp trên
Công tác lập kế hoạch và báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch tạo điều kiện cho công tác đo lường, so sánh và đánh giá hiệu quả của các bộ phận được thuận lợi, từ đó tạo động lực phấn đấu hạ thấp chi phí ở các cấp quản lý một cách tốt nhất
1.2.3 Tác động của phân cấp quản lý đến kế toán trách nhiệm
a Tác động tích cực
Hệ thống kế toán trách nhiệm chỉ tồn tại và hoạt động hiệu quả nhất
trong các tổ chức có phân quyền Phân cấp quản lý gắn liền với xác định quyền hạn và trách nhiệm từng cấp một cách rõ ràng nên có cơ sở khi đánh giá hiệu quả hoạt động từng bộ phận, tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục các sai phạm
Khi quy mô doanh nghiệp càng lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh càng phức tạp thì đòi hỏi doanh nghiệp phải phân chia thành nhiều bộ phận, nhiều cấp quản lý khác nhau Sự phân chia này đi kèm với sự phân chia quyền hành,
Trang 28quyền ra quyết định cho các nhà quản lý cấp dưới Lúc này, nhà quản trị cấp cao phải xác định được mức độ phức tạp trong quản lý của doanh nghiệp để
có sự phân quyền cho phù hợp Nếu sự phân quyền quá lớn sẽ dẫn đến tình trạng nhà quản lý cấp cao mất quyền kiểm soát đối với các bộ phận, không đảm bảo tính thống nhất của tổ chức Nếu sự phân quyền quá nhỏ hay tập trung tất cả quyền lực vào nhà quản trị cấp cao thì sẽ dẫn đến tình trạng quá tải đối với nhà quản trị cấp cao, từ đó làm giảm hiệu quả quản lý trong toàn
bộ tổ chức Do vậy, nhà quản trị phải xây dựng một hệ thống các mục tiêu sao cho mỗi bộ phận đều đảm bảo thực hiện được, phải có sự tương quan giữa quyền hạn và trách nhiệm Hay nói cách khác nhà quản trị phải lựa chọn cho doanh nghiệp mình một mô hình phân cấp quản lý tối ưu, từ đó hình thành hệ thống kế toán trách nhiệm phục vụ tốt nhất yêu cầu quản lý trong doanh nghiệp
Nhờ có sự trải rộng việc quyết định cho nhiều cấp quản lý mà giúp cho các nhà quản trị cấp cao hơn không phải giải quyết những vấn đề chi tiết hằng ngày mà chỉ tập trung vào các công việc chiến lược như lập kế hoạch dài hạn
và điều phối các hoạt động của các bộ phận trong tổ chức đảm bảo thực hiện mục tiêu chung
Phân cấp quản lý, đặc biệt là phân cấp quản lý tài chính có ảnh hưởng đến công tác kế toán trách nhiệm Vì kế toán trách nhiệm yêu cầu xác định chi phí và thu nhập một cách riêng biệt: ai, bộ phận nào sẽ có trách nhiệm với khoản chi phí và thu nhập này?
Trang 29phận Họ không quan tâm rằng liệu quyết định của họ có ảnh hưởng đến các
bộ phận khác trong tổ chức như thế nào Điều mà họ quan tâm là hiệu quả của
họ hơn là hiệu quả hoạt động chung
Mặt khác do sự tách bạch về quyền lợi và trách nhiệm của các bộ phận nên dẫn đến có sự cạnh tranh thành tích giữa các bộ phận, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của toàn doanh nghiệp Vì vậy, vấn đề đặt ra của hệ thống kế
toán trách nhiệm là hạn chế tối đa bất lợi, đồng thời giúp cho tổ chức gặt hái được những lợi ích của việc phân cấp quản lý thông qua việc xây dựng các
trung tâm trách nhiệm Như vậy, phân cấp quản lý gắn liền với kế toán trách nhiệm Qua phân cấp quản lý sẽ xác định được quyền hạn và trách nhiệm của mỗi cấp rõ ràng, nên có cơ sở cho việc đánh giá trách nhiệm của từng bộ phận, tìm ra nguyên nhân và hướng khắc phục Một doanh nghiệp có phân cấp quản lý tài chính thì mới thực hiện được kế toán trách nhiệm và sự phân cấp càng chặt chẽ và phù hợp thì hiệu quả của kế toán trách nhiệm càng cao Những thuận lợi và thách thức trên đòi hỏi nhà quản trị phải có biện pháp phát huy những thuận lợi và khắc phục những khó khăn Để đạt được mục tiêu chung, các nhà quản lý bộ phận ở các cấp quản lý khác nhau phải hướng đến mục tiêu của bộ phận quản lý cấp cao hơn Các nhà quản trị không những phải có tầm nhìn với các mục tiêu mà còn phải có động cơ tích cực để đạt chúng, và thiết lập một hệ thống các mục tiêu thích hợp với trình đọ và năng lực của từng bộ phận là điều kiện tốt nhất thực hiện phân cấp quản lý Như vậy phân cấp quản lý vừa tạo tiền đề vừa là động lực thúc đẩy hoạt động kế toán trách nhiệm Một doanh nghiệp có phân cấp quản lý thì mới thực hiện được kế toán trách nhiệm, và sự phân cấp quản lý càng chặt chẽ và phù hợp thì hiệu quả của kế toán trách nhiệm càng cao Mọi hoạt động của doanh nghiệp phải nằm trong tầm kiểm soát của nhà quản trị theo sự phân cấp
từ cao đến thấp, nên phân cấp quản lý vừa là tiền đề vừa là động lực thúc đẩy
sự hình thành kế toán trách nhiệm
Trang 301.3 TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM
1.3.1 Khái niệm về trung tâm trách nhiệm
Theo thông tư 53/2006/TT-BTC ngày 12/6/2006 của Bộ Tài chính có định nghĩa “Trung tâm trách nhiệm là một bộ phận trong một tổ chức mà người quản lý của bộ phận đó có quyền điều hành và có trách nhiệm đối với
số chi phí, thu nhập phát sinh hoặc số vốn đầu tư sử dụng vào hoạt động kinh doanh”
Theo quan điểm đó, một doanh nghiệp là tâp hợp nhiều trung tâm trách nhiệm Tùy thuộc vào tính phức tạp của cơ cấu tổ chức và mức độ phân cấp quản lý mà doanh nghiệp thiết lập các trung tâm trách nhiệm phù hợp Các trung tâm trách nhiệm tạo thành một hệ thống thang bậc trách nhiệm từ cấp lãnh đạo cao nhất đến cấp lãnh đạo thấp nhất trong doanh nghiệp Và khi đứng trên phương diện của nhà lãnh đạo cấp cao thì cả doanh nghiệp là một trung tâm trách nhiệm, nhà quản lý cấp cao nhất chính là nhà quản trị trách nhiệm của trung tâm này
1.3.2 Tổ chức các trung tâm trách nhiệm
Dựa trên sự phân cấp quản lý theo cơ cấu tổ chức tại các công ty có thể
tổ chức thành các trung tâm trách nhiệm, mô hình các trung tâm trách nhiệm được tổ chức như sau:
a Cấp thứ nhất
Là cấp cao nhất xét toàn Tổng Công ty, chịu trách nhiệm mọi mặt hoạt động của công ty là Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc Đó là trung tâm đầu tư
b Cấp thứ hai
Là các công ty thành viên, chịu trách nhiệm về hoạt động của các công
ty này là Giám đốc công ty Đây là trung tâm lợi nhuận Ngoài ra nếu có sự phân quyền cho phép đơn vị thành viên có thẩm quyền đầu tư tài sản ở một
góc độ nào đó thì có thể coi đây là trung tâm đầu tư
c Cấp thứ ba
Bao gồm các bộ phận văn phòng quản lý, phân xưởng, cửa hàng, bộ
Trang 31phận tiêu thụ Đó là trung tâm doanh thu và trung tâm chi phí Trung tâm doanh thu chịu trách nhiệm bán hàng, còn trung tâm chi phí chịu trách nhiệm
sử dụng các nguồn lực về lao động, vật tư, thiết bị trong doanh nghiệp
1.3.3 Phân loại trung tâm trách nhiệm
Một trung tâm trách nhiệm có bản chất giống như một hệ thống, mỗi hệ thống được phân định để xử lý một công việc cụ thể Hệ thống này sử dụng các đầu vào là các giá trị vật chất như nguyên vật liệu, số giờ công của các loại lao động và các dịch vụ khác Hệ thống sẽ làm việc với những nguồn này kèm theo các thiết bị sản xuất, vốn và các tài sản khác Qua đó trung tâm trách nhiệm sẽ cho ra đầu ra là các kết quả nhận được phù hợp với mục tiêu chung của tổ chức Tuy nhiên, khó có thể đo lường hoàn toàn đầu ra của tổ chức, doanh thu không chứa đựng tất cả những giá trị công việc mà một tổ chức hay một bộ phận đã làm, chẳng hạn như khó tính được liệu bộ phận kiểm soáthay ban quản trị đã đóng góp vào kết quả hoạt động của công ty là bao nhiêu Còn đối với các tổ chức phi lợi nhuận, đầu ra không thể lượng hóa bằng thước đo tiền tệ vì đầu ra là các sản phẩm dịch vụ và giá trị dịch vụ đối với mỗi người là khác nhau
Có thể mô tả bản chất của một trung tâm trách nhiệm như sau:
Hình 1.3 Sơ đồ mô tả bản chất của một trung tâm trách nhiệm
Căn cứ vào sự khác biệt trong việc lượng hóa giữa “đầu vào” và “đầu ra”
Các kết quả nhận được
Vốn
Đầu vào
Các nguồn lực
sử dụng được
Trung tâm trách nhiệm
Trang 32của trung tâm trách nhiệm, cũng như mức độ trách nhiệm của người quản lý trung tâm, có thể chia thành 4 loại trung tâm trách nhiệm chính:
a Trung tâm chi phí
Trung tâm chi phí là trung tâm trách nhiệm mà nhà quản lý chỉ chịu trách nhiệm và có quyền kiểm soát với chi phí phát sinh ở trung tâm, không có quyền hạn đối với tiêu thụ và đầu tư vốn Trung tâm chi phí gắn liền với cấp quản lý mang tính tác nghiệp, trực tiếp tạo ra sản phẩm, hoặc gián tiếp phục
vụ sản xuất kinh doanh, tại đây phát sinh các chi phí sản xuất và không trực tiếp tạo ra doanh thu Trung tâm chi phí thường được tổ chức gắn liền với các
bộ phận, đơn vị thực hiện chức năng như phân xưởng phục vụ, phân xưởng sản xuất, bộ phận mua hàng, các phòng ban quản lý Trung tâm chi phí chia làm hai dạng:
Trung tâm chi phí định mức ( phân xưởng sản xuất)
Đặc trưng của trung tâm này là sản lượng đầu ra có thể đo lường được và phí tổn đầu vào sản xuất một sản phẩm đòi hỏi phải được định rõ Kiểm soát được thực hiện thông qua việc so sánh chi phí định mức với chi phí thực tế phát sinh, được thể hiện thông qua độ chênh lệch giữa định mức với chi phí thực tế
Vật chất
Trang 33Trung tâm chi phí tùy ý (bộ phận nghiên cứu và phát triển, văn phòng quản lý)
Đặc trưng của trung tâm này là sản lượng đầu ra không thể đo lường được bằng các chỉ tiêu tài chính, không có mối quan hệ giữa việc sử dụng các nguồn lực và các kết quả đạt được, các yếu tố được dự toán và đánh giá căn cứ trên nhiệm vụ được giao tính chung, không thế xác định cụ thể cho từng đơn vị sản phẩm hoặc cho từng công việc của trung tâm Kiểm soát trong trường hợp này nhằm đảm bảo rằng mỗi loại chi phí thực tế đều có liên quan chặt chẽ với chi phí kế hoạch cũng như nhiệm vụ đã được giao cho các trung tâm
Tóm lại mục tiêu của là trung tâm chi phí là quản lý chặt chẽ, giảm thiểu chi phí đặc biệt là trong dài hạn hơn là trong ngắn hạn, bởi vì các chi phí ngắn hạn không đánh giá hết đợc thổng quan tình hình chi phí thực tế của đơn vị, chi phí trong dài hạn có thể tăng trong khi chi phí ngắn hạn có thể giảm Trách nhiệm của nhà quản lý trung tâm chi phí là phải xây dựng được kế hoạch chi phí trong ngắn hạn và dài hạn, nắm được số lượng sản phẩm sản xuất, chi phí sản xuất thực tế, mức chênh lệch giữa kế hoạch và thực tế là bao nhiêu, nguyên nhân gì dẫn đến sai lệch trên và đề ra các giải pháp để tiết kiệm chi phí
b Trung tâm doanh thu
Là trung tâm trách nhiệm mà người quản lý chỉ có trách nhiệm với
Vật chất
Trang 34doanh thu cần tạo ra, không chịu trách nhiệm về lợi nhuận và vốn đầu tư Ở trung tâm này, nhà quản trị điều hành mọi hoạt động của trung tâm sao cho có thể mang lại doanh thu nhiều nhất
Trong một doanh nghiệp, trung tâm doanh thu thường được tổ chức gắn liền với các bộ phận, đơn vị thực hiện chức năng bán sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp như các chi nhánh, cửa hàng, quầy hàng
Trung tâm doanh thu có thể phân biệt với trung tâm lợi nhuận bởi trên thực tế trung tâm doanh thu chỉ chịu trách nhiệm một phần nhỏ trong tổng chi phí sản xuất và chi phí bán hàng, trong khi đó trung tâm lợi nhuận chịu trách nhiệm hết tất cả các chi phí bao gồm cả chi phí sản xuất và các chi phí có liên quan đến hoạt động tạo ra doanh thu của đơn vị
c Trung tâm lợi nhuận
Là trung tâm trách nhiệm mà nhà quản trị phải chịu trách nhiệm với kết quả sản xuất và tiêu thụ của trung tâm mà không có quyền đối với vốn đầu tư
Do lợi nhuận được xác định bằng chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, nên các nhà quản lý trung tâm lợi nhuận có trách nhiệm đối với sự phát sinh của cả doanh thu và chi phí
Trung tâm lợi nhuận thường được hình thành theo dòng sản phẩm, kênh tiêu thụ hay các phân đoạn thị trường Hiệu quả của trung tâm được đánh giá dựa vào mức chênh lệch giữa lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự toán Tuy nhiên, lợi nhuận được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau được dùng để đo lường mức độ hoàn thành Thông thường lợi nhuận được thiết lập theo dạng
số dư đảm phí trên cơ sở đó xác định các nguyên nhân chủ quan và khách quan làm biến động lợi nhuận
Trong doanh nghiệp, trung tâm lợi nhuận thường tổ chức gắn liền với các chi nhánh, các đơn vị hạch toán kinh tế nội bộ hoặc được phân cấp thực hiện mọi hoạt động kinh doanh độc lập có thể diễn ra trong và ngoài nước
d Trung tâm đầu tư
Là trung tâm trách nhiệm mà nhà quản trị chịu trách nhiệm với chi phí, doanh thu, lợi nhuận, vốn đầu tư và khả năng huy động các nguồn tài trợ
Trang 35Trung tâm đầu tư là bộ phận trách nhiệm có quyền lực cao nhất trong tổ chức Đặc trưng của việc đo lường hiệu quả của trung tâm đầu tư là tỉ lệ hoàn vốn đầu tư và giá trị kinh tế tăng thêm Phương pháp đo lường này chịu ảnh hưởng của cả doanh thu, chi phí và tài sản kinh doanh, vì vậy mà phản ánh trách nhiệm của nhà quản lý đối với lợi nhuận tính trên vốn đầu tư
Trung tâm đầu tư phải nắm rõ mối quan hệ giữa lợi nhuận thu được và tài sản được đầu tư, một đồng tài sản bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Giám đốc trung tâm đầu tư có trách nhiệm lập kế hoạch, tổ chức và kiểm soát hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp
1.4 HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM
1.4.1 Đặc điểm chung của báo cáo kế toán trách nhiệm
Báo cáo kế toán trách nhiệm thể hiện kết quả về các chỉ tiêu tài chính chủ yếu ở từng trung tâm trong một khoảng thời gian nhất định Hai khía cạnh chú ý trong báo cáo trách nhiệm là :
Mức độ chi tiết của báo cáo giảm dần khi cấp độ nhà quản trị nhận báo cáo tăng dần Lý do của điều này là báo cáo của nhà quản trị cấp càng cao thì không thể chi tiết tất cả các chỉ tiêu, các khoản mục của từng bộ phận nhỏ trong cấu trúc tổ chức Như là nhà quản trị thường quan tâm đến sự thực hiện các chi phí trực tiếp, doanh thu dưới sự kiểm soát của chính họ Theo thông thường, báo cáo của các nhà quản trị nhà máy sẽ không chi tiết tất cả chi phí của từng phân xưởng sản xuất, nhà quản trị nào cần biết những thông tin chi tiết họ sẽ có nếu họ có sự quan tâm một cách cụ thể
Báo cáo kế toán trách nhiệm thể hiện kết quả của từng bộ phận trong doanh nghiệp
Báo cáo kế toán trách nhiệm có giá trị nội bộ doanh nghiệp
Báo cáo kế toán trách nhiệm có thể thay đổi nội dung tùy theo đặc điểm phân cấp quản lý trong doanh nghiệp
Trang 361.4.2 Đánh giá trách nhiệm của các trung tâm trách nhiệm
a Đánh giá thành quả trung tâm chi phí
Mục tiêu của trung tâm chi phí là tối đa sản lượng sản xuất và tối thiểu chi phí sử dụng Do vậy khi đánh giá kết quả trung tâm chi phí cần phân tích biến động về chi phí và sản lượng theo phân quyền từng trung tâm
Chênh lệch chi phí = Chi phí thực tế - Chi phí dự toán Chênh lệch sản lượng = Sản lượng thực tế - Sản lượng dự toán
Trung tâm chi phí định mức:
Là trung tâm chi phí mà đầu ra có thể và lượng hóa được bằng tiền trên
cơ sở đã biết phí tổn cần thiết để tạo ra một đơn vị đầu ra Vì vậy, trách nhiệm của nhà quản trị là đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh đạt được kế hoạch sản xuất được giao và chi phí thực tế phát sinh không vượt quá chi phí dự toán Đánh giá thành quả của trung tâm này thông qua hai khía cạnh:
Hiệu quả: mức độ hoàn thành kế hoạch sản lượng sản xuất trên cơ sở đúng thời hạn và kỹ thuật quy định
Hiệu năng: so sánh giữa chi phí thực tế và chi phí định mức, từ đó phân tích biến động chi phí, xác định nguyên nhân tác động
Nếu nhà quản trị hoàn thành kế hoạch sản xuất nhưng chi phí thực tế phát sinh vượt quá định mức tiêu chuẩn thì không thể đánh giá là tốt được và cần thiết phải phân tích xác định nguyên nhân để khắc phục
Đối với biến phí, kế toán trách nhiệm xác định biến động về giá và lượng của từng yếu tố chi phí theo công thức sau:
Biến động về giá = Lượng thực tế x (Giá thực tế - Giá định mức)
Biến động về lượng =Giá định mức x (Lượng thực tế – Lượng định mức) Biến động về giá phản ánh giá của một đơn vị nguyên liệu hay của một đơn vị thời gian để sản xuất sản phẩm thay đổi như thế nào?
Biến động về lượng phản ánh mức tiêu hao vật chất và lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một sản phẩm đã thay đổi như thế nào?
Kết quả so sánh biến động giữa thực tế và định mức được đánh giá như sau:
Trang 37Kết quả dương: Thực tế lớn hơn định mức, nói chung là không tốt vì chi
phí thực tế cao hơn định mức Tuy nhiên để đi đến kết luận cuối cùng thì phải phân tích nguyên nhân khách quan hay nguyên nhân chủ quan
Kết quả âm: Thực tế nhỏ hơn định mức, đánh giá tốt
Kết quả = 0: Thực tế bằng định mức, đảm bảo thực hiện đúng định mức
Biến động xảy ra do nhiều yếu tố tác động, vừa chủ quan vừa khách quan Biến động có thể do chính quá trình sản xuất của doanh nghiệp hay do các yếu tố môi trường bên ngoài gây ra Nếu nhà quản trị xác định đúng nguyên nhân và chỉ định đúng yếu tố nào gây ra biến động thì mới có thể có biện pháp đúng đắn và kịp thời để chấn chỉnh hay phát huy các biến động đó theo chiều hướng có lợi cho doanh nghiệp
Trung tâm chi phí tùy ý:
Là trung tâm chi phí mà đầu ra không thể lượng hóa được bằng tiền một
cách chính xác và mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của trung tâm này không chặt chẽ Nhà quản trị có trách nhiệm đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh đạt được kế hoạch sản xuất được giao, chi phí thực tế phát sinh không vượt quá chi phí dự toán
Khi đánh giá thành quả của trung tâm chi phí tự do, trước hết cần đánh giá trung tâm có hoàn thành nhiệm vụ được giao, thể hiện qua khối lượng công việc hoặc các tiêu chuẩn thực hiện các công việc Tiếp đến sẽ đánh giá thành quả của trung tâm dựa vào việc đối chiếu giữa chi phí thực tế phát sinh
và dự toán ngân sách đã được phê duyệt, xem có khả năng kiểm soát chi phí
bộ phận không
b Đánh giá thành quả trung tâm doanh thu
Thành quả trung tâm này thể hiện qua hai chỉ tiêu: tổng doanh thu và số lượng tiêu thụ:
Chênh lệch doanh thu = Doanh thu thực tế - Doanh thu dự toán
Trách nhiệm chính của trung tâm doanh thu là lập dự toán tiêu thụ và đưa
Trang 38ra các phương án tiêu thụ để doanh thu đạt cao nhất Như vậy trách nhiệm của trung tâm doanh thu thể hiện qua:
· Hoàn thành dự toán và tiêu thụ sản phẩm
· Kiểm soát sự gia tăng chi phí trong mối quan hệ với doanh thu, đảm bảo tốc độ tăng của doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí
· Xác định các nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến việc thực hiện dự toán tiêu thụ
Trung tâm doanh thu đuợc xem là đạt được thành quả tài chính trong việc đóng góp vào mục tiêu chung của doanh nghiệp khi đạt được mức chênh lệch doanh thu dương Ngược lại, nếu thành quả của trung tâm doanh thu là các dấu hiệu chênh lệch âm thì đây là điều bất lợi Dấu hiệu này thể hiện một
số biến cố bất thường về tình hình kiểm soát, thực hiện quá trình tiêu thụ sản phẩm, giá cả, chính sách tiêu thụ của trung tâm Thông thường đây là những biến cố phức tạp, nó ảnh hưởng tổng hợp từ những nhân tố khách quan từ tình hình thị trường, chính sách kinh tế của Nhà nước, chính sách tiêu thụ của doanh nghiệp, cho nên nhà quản trị cần phải xem xét một cách tổng quan để tìm nguyên nhân
c Đánh giá thành quả trung tâm lợi nhuận
Trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận là tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh sao cho lợi nhuận đạt cao nhất Nhà quản trị được giao vốn và quyền hạn sử dụng số vốn đó để tạo ra lợi nhuận Vì trung tâm lợi nhuận là tổng hợp các trung tâm doanh thu và chi phí, nên ngoài các chỉ tiêu được sử dụng ở hai trung tâm trên còn sử dụng các chỉ tiêu sau:
Chênh lệch lợi nhuận = Lợi nhuận thực tế - Lợi nhuận dự toán
Lợi nhuận thực tế
Tỷ lệ thực hiện dự toán lợi nhuận =
Lợi nhuận dự toán
Trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận trong doanh nghiệp cần hoàn thành các vấn đề sau:
Trang 39Đảm bảo mức lợi nhuận Lợi nhuận của trung tâm lợi nhuận là lợi nhuận kiểm soát được ở trung tâm đó Như vậy, chi phí để xác định lợi nhuận phải chia thành chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được tại từng trung tâm lợi nhuận
Đảm bảo sự gia tăng tốc độ lợi nhuận cao hơn sự gia tăng tốc độ về vốn Ngoài ra, đối với trung tâm lợi nhuận trách nhiệm còn được thể hiện ở việc hoàn thành trách nhiệm về chi phí, doanh thu như ở trung tâm chi phí và trung tâm doanh thu
Khi thành quả của trung tâm lợi nhuận đạt mức chênh lệch dương thì đó
là dấu hiệu tích cực về lợi nhuận của doanh nghiệp Và ngược lại, nếu thành quả của trung tâm là một dấu hiệu chênh lệch âm, thì đây là bất lợi mà nhà quản lý cần phải tìm ra nguyên nhân và giải thích những bất lợi về chí phí, doanh thu, mức vốn phân cấp cho việc quản lý và sử dụng
d Đánh giá thành quả trung tâm đầu tư
Trung tâm đầu tư là một dạng mở rộng của trung tâm lợi nhuận, trong đó nhà quản trị có quyền hạn và trách nhiệm hơn liên quan những vấn đề về thành quả và hiệu quả vốn đầu tư Đánh giá thành quả trung tâm này thể hiện qua:
· Về hiệu quả: đánh giá tương tự trung tâm lợi nhuận
· Về hiệu năng: được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu sau:
+ Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI): Cho biết một đồng vốn đầu tư bỏ ra thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
+ Lợi nhuận để lại (RI): Đây là chỉ tiêu cho biết lợi nhuận thực tế còn lại của doanh nghiệp sau khi trừ đi chi phí lãi vay
Chỉ tiêu đánh giá:
ROI% =
Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) =
Vốn đầu tư bình quân
Lợi nhuận
*100%
Doanh thu
X Lợi nhuận Doanh thu Vốn đầu tư
Trang 40Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI)=Tỷ suất sinh lời doanh thu x Số vòng quay vốn đầu tư
Thông thường ROI được sử dụng như một chỉ tiêu đánh giá sự hoàn thành của bộ phận Rõ ràng ROI có những lợi ích hơn so với thu nhập trong
đo lường hoàn thành, bởi vì các doanh nghiệp thường có quy mô khác nhau Khi ROI thực tế > ROI mục tiêu được xem là tốt, và khi so sánh giữa các đơn vị thì đơn vị có ROI lớn hơn đuợc xem là tốt hơn Vì ROI là một tỷ số %
có tính đến quy mô vốn sử dụng nên rất thuận lợi so sánh và đánh giá kết quả kinh doanh giữa các đơn vị với nhau
Mặc dù chỉ tiêu ROI được sử dụng rộng rãi để đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư nhưng nó cũng có một số hạn chế như sau:
· Chỉ tiêu ROI thường chú trọng đến việc thực hiện ngắn hạn hơn là quá trình sinh lời lâu dài Do vậy, nếu quá chú trọng vào chỉ tiêu này có thể bỏ qua nhiều cơ hội đầu tư
· Chỉ tiêu ROI không phù hợp với mô hình vận động của tiền tệ trong phân tích vốn đầu tư vì nó bỏ qua thời giá của tiền tệ
· Chỉ tiêu ROI có thể không hoàn toàn chịu sự điều hành của nhà quản trị cấp cơ sở vì sự hiện diện của trung tâm đầu tư có quyền điều tiết chỉ tiêu này
· Sử dụng chỉ tiêu ROI để đánh giá thành quả có thể không khuyến khích các trung tâm mở rộng quy mô đầu tư vì nó bỏ qua yếu tố chi phí sử dụng vốn
Để khắc phục những hạn chế của chỉ tiêu ROI trong việc đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư, người ta sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận để lại (RI) để bổ sung
Lợi nhuận để lại (RI) = Lợi nhuận - Chi phí sử dụng vốn
Trong đó:
Chi phí sử dụng vốn = Vốn đầu tư của trung tâm đầu tư x ROI mục tiêu