1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) kế toán trách nhiệm tại tại tổng công ty 789 bộ quốc phòng

117 80 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trách nhiệm: Kế toán quản trị Doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế, tài chính và có vai trò quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trương Bá Thanh

Đà Nẵng – Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Tươi

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 3

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 11

1.1 KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 11

1.1.1 Khái niệm về kế toán trách nhiệm 11

1.1.2 Bản chất của kế toán trách nhiệm 13

1.1.3 Mục đích của kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp 17

1.2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 18

1.2.1 Sự phân cấp quản lý tại các doanh nghiệp 18

1.2.2 Mối quan hệ của phân cấp quản lý với kế toán trách nhiệm 21

1.3 NỘI DUNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 23 1.3.1 Tổ chức các trung tâm trách nhiệm trong doanh nghiệp 23

1.3.2 Hệ thống báo cáo thực hiện trong kế toán trách nhiệm 29

1.3.3 Chỉ tiêu đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI TỔNG CÔNG TY 789 BỘ QUỐC PHÒNG 39

2.1 TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY 789/BỘ QUỐC PHÒNG 39

2.1.1 Giới thiệu về Tổng Công ty 789/Bộ Quốc phòng 39

Trang 5

2.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý tại Tổng Công ty 789/Bộ Quốc phòng 42

2.1.3 Tổ chức bộ máy kế toán tại Tổng Công ty 789/Bộ Quốc phòng 48 2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI TỔNG CÔNG TY 789/BỘ QUỐC PHÒNG 51

2.2.1 Phân cấp quản lý tại Tổng Công ty 789/Bộ Quốc phòng 51

2.2.2 Công tác lập dự toán tại Tổng Công ty 789/Bộ Quốc phòng 59

2.2.3 Các công cụ đánh giá thành quả quản lý tại Tổng Công ty 61

2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI TỔNG CÔNG TY 789/BỘ QUỐC PHÒNG 68

2.3.1 Ưu điểm của kế toán trách nhiệm 68

2.3.2 Nhược điểm của kế toán trách nhiệm 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72

CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI TỔNG CÔNG TY 789 BỘ QUỐC PHÒNG 73

3.1 QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 73

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI TỔNG CÔNG TY 789/BỘ QUỐC PHÒNG 74

3.2.1 Xác định các trung tâm trách nhiệm 74

3.2.2 Xác định mục tiêu, nhiệm vụ các trung tâm trách nhiệm 76

3.2.3 Xây dựng bộ máy kế toán để hoàn thiện việc xử lý thông tin trong các trung tâm trách nhiệm 77

3.3 HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN GẮN VỚI CÁC TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM 79

3.3.1 Đối với trung tâm chi phí 79

3.3.2 Đối với trung tâm lợi nhuận 83

3.3.3 Đối với trung tâm đầu tư 87

3.4 ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ CÁC TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM 88

Trang 6

3.4.1 Đối với trung tâm chi phí 88

3.4.2 Đối với trung tâm lợi nhuận 90

3.4.3 Đối với trung tâm đầu tư 93

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 95

KẾT LUẬN 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 7

ROI : Return on Investment (Tỷ lệ hoàn vốn đầu tƣ)

RI : Residual Income (Thu nhập còn lại)

SXKD : Sản xuất kinh doanh

TTCP : Trung tâm chi phí

TTDT : Trung tâm doanh thu

TTĐT : Trung tâm đầu tƣ

TTLN : Trung tâm lợi nhuận

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.4 Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại

Tổng Công ty 789/Bộ Quốc phòng Năm 2014 62

2.6 Bảng tổng hợp chi phí sản xuất kinh doanh tại Chi

nhánh Tây Nguyên - Tổng Công ty 789 Năm 2014 68

3.1 Báo cáo dự toán kế hoạch chi phí - phần khoán

3.2 Báo cáo khối lƣợng nghiệm thu - thanh toán Công

3.3 Báo cáo kế hoạch chi phí - phần ngoài khoán Công

3.4 Dự toán báo cáo kết quả kinh doanh tại Chi nhánh

Trang 9

3.5 Dự toán trung tâm đầu tƣ tại Chi nhánh Tây Nguyên

- Tổng Công ty 789

88

3.6 Báo cáo thực hiện trung tâm chi phí tại Chi nhánh

Tây Nguyên - Tổng Công ty 789 Năm 2014

90

3.7 Báo cáo thực hiện trung tâm lợi nhuận tại Chi

nhánh Tây Nguyên - Tổng Công ty 789 Năm 2014

92

3.8 Báo cáo thực hiện trung tâm đầu tƣ tại Chi nhánh

Tây Nguyên - Tổng Công ty 789 Năm 2014

94

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Số hiệu

1.1 Quy trình hoạt động của kế toán trách nhiệm 15

1.2 Mối quan hệ giữa hệ thống kế toán trách nhiệm

với phân cấp quản lý

1.8 Mối quan hệ đầu vào và đầu ra của trung tâm đầu tƣ 28

2.1 Quy trình công nghệ sản xuất tại Tổng Công ty 789 41

2.2 Tổ chức quản lý điều hành Tổng Công ty 789/Bộ

Quốc phòng

42

2.3 Tổ chức quản lý điều hành của đơn vị hạch toán

phụ thuộc tại Tổng Công ty 789/Bộ Quốc phòng

Trang 11

2.6 Mô hình các trung tâm trách nhiệm tại Tổng Công

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khi quy mô hoạt động của các Công ty ngày càng mở rộng và phát triển, để quản lý hiệu quả hoạt động, các nhà quản trị cấp cao thường tiến hành phân quyền phù hợp với cấu trúc tổ chức đơn vị mình Nhằm phục vụ cho việc kiểm soát và đánh giá kết quả hoạt động của các bộ phận theo sự phân quyền này, kế toán quản trị đã sử dụng phương pháp thích ứng - đó là hệ thống kế toán theo các trung tâm trách nhiệm

Kế toán trách nhiệm ra đời giúp cho các nhà quản trị đánh giá trách nhiệm, đưa ra các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá thường kỳ kết quả công việc của từng cấp quản lý Từ đó phát hiện ra được những yếu kém, thiếu xót của từng bộ phận, giúp cho mọi sự việc, nghiệp vụ phát sinh đều có người chịu trách nhiệm Thông qua hệ thống đo lường, báo cáo đánh giá các hoạt động các nhà quản trị sẽ nắm được tình hình kinh doanh của đơn vị, theo dõi các quyền và trách nhiệm của người điều hành quản lý ở cấp thấp hơn để đưa ra những quyết định hiệu quả

Đối với các đơn vị xây lắp, sản phẩm và tổ chức sản xuất có đặc điểm

là sản phẩm đơn chiếc, giá trị lớn, địa điểm thi công các công trình rải rác ở nhiều nơi, thời gian thi công kéo dài Vì thế, yêu cầu khắt khe đặt ra cho các đơn vị này là phải kiểm soát được chi phí, đảm bảo chất lượng công trình theo các tiêu chuẩn, hoàn thành các mục tiêu đơn vị đặt ra Để đạt được điều này,

cơ cấu tổ chức trong đơn vị phải được phân cấp quản lý một cách rõ ràng, tổ chức thành nhiều bộ phận có chức năng và nhiệm vụ cụ thể, nhà quản lý ở mỗi bộ phận có sự độc lập tương đối trong việc điều hành công việc của mình

và phải hoàn thành những nhiệm vụ được đặt ra từ bộ phận quản lý cấp cao hơn Tuy nhiên, từ các nghiên cứu trước đây về công tác kế toán trách nhiệm trong các đơn vị xây lắp hiện nay vẫn chưa hoàn thiện Đó là việc phân cấp

Trang 13

quản lý tài chính trong các đơn vị xây lắp vẫn chưa rõ ràng Bên cạnh đó, hệ thống báo cáo kế toán nội bộ - biểu hiện của kế toán trách nhiệm chưa được tổ chức đầy đủ cũng như chưa cung cấp chính xác các thông tin phục vụ đánh giá trách nhiệm và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các cấp quản lý Những hạn chế này gây nên khó khăn trong việc đo lường và đánh giá trách nhiệm của mỗi bộ phận Do đó việc tiếp tục và hoàn thiện nghiên cứu về công tác kế toán trách nhiệm trong các đơn vị xây lắp là cần thiết

Tổng Công ty 789/Bộ Quốc phòng tiền thân là Xí nghiệp xây dựng và sửa chữa, gọi tắt là Xí nghiệp 789, được thành lập theo quyết định số 526/69-

QĐ ngày 17/09/1989 Cơ cấu của Tổng Công ty hiện nay được tổ chức thành nhiều Chi nhánh với quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, cơ cấu tổ chức gắn với trách nhiệm của nhiều đơn vị, cá nhân Yêu cầu đối với Tổng Công ty hiện nay là phải tổ chức thực thiện các quyết định một cách hiệu quả thông qua việc quản lý, kiểm soát, đánh giá kết quả theo sự phân cấp quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổng Công ty Để có thể đánh giá hiệu quả của mỗi đơn vị và đảm bảo cho các bộ phận bên cạnh thực hiện nhiệm vụ cụ thể cũng như phải gắn kết, phối hợp với nhau thực hiện mục tiêu chung của Tổng Công ty thì việc vận dụng kế toán trách nhiệm là một yêu cầu cấp thiết Xuất phát từ những yêu cầu khách quan trên về cả lý luận và thực tiễn, tôi đã chọn

đề tài: “Kế toán trách nhiệm tại Tổng Công ty 789 Bộ Quốc phòng” làm đề

tài nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Về lý luận: Đề tài hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề liên quan đến

kế toán trách nhiệm

Về thực tiễn: Nghiên cứu và đánh giá thực trạng kế toán trách nhiệm tại

Tổng Công ty 789/Bộ Quốc phòng, giúp nhà quản lý đánh giá một cách đúng đắn kết quả của các bộ phận trong việc hướng tới mục tiêu chung của Tổng

Trang 14

Công ty, nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn Tổng Công ty

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những nội dung cơ bản về kế toán

trách nhiệm, nghiên cứu thực trạng tổ chức kế toán trách nhiệm tại Tổng Công ty 789/Bộ Quốc phòng như việc tổ chức phân cấp quản lý tài chính, công tác lập kế hoạch, báo cáo nội bộ theo từng phân cấp quản lý phục vụ cho việc đánh giá trách nhiệm của Tổng Công ty

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu kế toán trách nhiệm

tại một đơn vị cụ thể là Tổng Công ty 789/Bộ Quốc phòng

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp tổng hợp, đối chiếu để xem xét yêu cầu về phân cấp quản lý và hệ thống báo cáo kế toán có liên quan, có đáp ứng các yêu cầu phân cấp hiện tại ở Tổng Công ty hay không?

Các tài liệu thứ cấp ở Tổng Công ty được sử dụng bao gồm: quy chế về phân cấp quản lý tài chính, các báo cáo nội bộ, các số liệu dự toán và thực tế Ngoài ra, ý kiến của kế toán trưởng, các bộ phận qua phỏng vấn cũng được sử dụng để tìm hiểu về nhu cầu sử dụng thông tin trong quản lý trong điều kiện phân cấp quản lý

Chương 3: Hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Tổng Công ty 789/ Bộ Quốc phòng

Trang 15

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Có rất nhiều quan điểm về kế toán trách nhiệm:

Trên thế giới có khá nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp Higgins (1952) định nghĩa: Kế toán trách nhiệm là sự phát triển của hệ thống kế toán thiết kế để kiểm soát chi phí phát sinh liên quan trực tiếp cho các cá nhân trong tổ chức và người chịu trách nhiệm kiểm soát Hệ thống kiểm soát này được thiết kế cho tất cả các cấp quản lý Kế toán trách nhiệm như một công cụ để kiểm soát hoạt động và chi phí

Tác giả Martin N.Kellogg (1962) đã nghiên cứu sự phát triển của kế toán trách nhiệm trong mối quan hệ giữa kế toán trách nhiệm với cơ cấu tổ chức, kế toán trách nhiệm với kế toán chi phí, kế toán trách nhiệm với ngân sách, kế toán trách nhiệm với kiểm soát chi phí Kế toán trách nhiệm có mối quan hệ chặt chẽ với phân cấp quản lý và kế toán chi phí Trước hết một tổ chức luôn có sự phân cấp, phân quyền quản lý, do vậy cơ cấu tổ chức luôn có

sự thay đổi Chính vì vậy, để thiết lập hệ thống kế toán trách nhiệm cẩn đảm bảo một số nguyên tắc sau: (1) Phân tách tổ chức thành các bộ phận, đơn vị theo từng chức năng cụ thể (2) Phân công trách nhiệm cụ thể cho mỗi bộ phận và đơn vị (3) Mỗi bộ phận, đơn vị phải thực hiện báo cáo (4) Thành lập các vị trí giám sát đối với từng cấp quản lý

Nhóm tác giả Anthony A.Atkinson, Rajiv D.Banker, Robert S.Kaplan and S.mark Young khẳng định: Kế toán trách nhiệm là một hệ thống kế toán

có chức năng thu thập, tổng hợp và báo cáo các dữ liệu kế toán có liên quan đến trách nhiệm của từng nhà quản lý, cung cấp thông tin nhằm đánh giá trách nhiệm và thành quả mỗi nhà quản lý tạo ra các báo cáo chứa cả những đối tượng có thể kiểm soát và không thể kiểm soát đối với một cấp quản lý

Kế toán trách nhiệm là một “công cụ” để đo lường về kết quả hoạt động

Trang 16

của một khu vực nào đó trong tổ chức, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp quản trị khác nhau Kế toán trách nhiệm được sử dụng để đo lường kết quả hoạt động của các nhà quản lý và do

đó, nó ảnh hưởng đến cách thức thực hiện hành vi của các nhà quản lý này, thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều hành bộ phận của mình theo phương hướng phù hợp với những mục tiêu cơ bản của toàn bộ tổ chức

Kiểm soát tài chính là công cụ quản lý cực kỳ quan trọng đối với bất kỳ doanh nghiệp nào Theo tác giả Freeman, L Neal (2004), cơ chế kiểm soát tài chính đảm bảo rằng các tổ chức vẫn tiếp tục tiến tới để đạt được các mục tiêu tài chính của mình Kiểm soát tài chính hiệu quả cho phép các tổ chức phát hiện các vấn đề ở giai đoạn sớm nhất có thể Sử dụng các trung tâm trách nhiệm là một trong những kỹ thuật được thành lập và sử dụng rộng rãi trong kiểm soát tài chính Kế toán trách nhiệm chia tách một tổ chức lớn thành những đơn vị, bộ phận nhỏ hơn, tạo điều kiện cho việc quản lý được dễ dàng, các bộ phận đơn vị nhỏ đó được gọi là các trung tâm trách nhiệm Mỗi đơn vị được coi như một doanh nghiệp nhỏ, người quản lý đứng đầu phải chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động tại các trung tâm tương ứng của họ Các nguyên tắc của chức năng kiểm soát áp dụng cho kế toán trách nhiệm, chức năng kiểm soát giả định cơ bản là mỗi đô la thu được hoặc đồng đô la chi tiêu đều đặt dưới sự kiểm soát của một nhà quản lý trực tiếp Kế toán trách nhiệm đại diện cho sự phân cấp của một doanh nghiệp kinh doanh Các trung tâm trách nhiệm được xây dựng hợp lý sẽ mang lại hiệu quả cao, có lợi cho tất cả các thành viên trong công ty

Ở Việt Nam, với chủ đề Kế toán trách nhiệm, cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu và sách được xuất bản như:

PGS.TS Phạm Văn Đăng (2011) - “Một số vấn đề về kế toán trách nhiệm ở các Doanh nghiệp niêm yết” đã trình bày một số vấn đề về kế toán

Trang 17

trách nhiệm: Kế toán quản trị Doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành quan

trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế, tài chính và có vai trò quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế, tài chính trong doanh nghiệp, cung cấp thông tin để thực hiện mục tiêu quản trị nhằm đạt hiệu quả cao nhất,

kế toán quản trị sử dụng hệ thống kế toán trách nhiệm để phân loại cấu trúc tổ chức thành các trung tâm trách nhiệm, trên cơ sở đó đánh giá kết quả của từng

bộ phận dựa trên trách nhiệm đƣợc giao cho bộ phận đó

PGS.TS Ngô Hà Tấn, TS Đường Nguyễn Hưng (2013) - Bài viết trong tạp chí Kế toán “Quan hệ giữa phân cấp quản lý và kế toán trách nhiệm”, trình bày nội dung mối quan hệ giữa phân cấp quản lý và kế toán trách nhiệm: Trong quá trình tổ chức quản lý của doanh nghiệp có một nội dung

quan trọng là sự phân quyền cho các đơn vị, bộ phận trong doanh nghiệp Mỗi đơn vị, bộ phận đƣợc phân quyền gắn với trách nhiệm và quyền hạn nhất định, từ đó hình thành nên các cấp quản lý trong doanh nghiệp và gọi là phân cấp quản lý Tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể của Doanh nghiệp (quy

mô của Doanh nghiệp, địa bàn bố trí các đơn vị và trình độ quản lý ở các đơn

vị thuộc Doanh nghiệp…) mà mức độ phân cấp quản lý đƣợc xác định khác nhau trong mỗi Doanh nghiệp

Tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa phân cấp quản lý và kế toán trách nhiệm: Việc đầu tiên trong quá trình thực hiện kế toán trách nhiệm là phải hình thành các trung tâm trách nhiệm Để trở thành một trung tâm trách nhiệm thì đơn vị, bộ phận đó phải đƣợc phân cấp quản lý ở mức độ nhất định Qua phân cấp quản lý sẽ xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của đơn vị, bộ phận đối với các hoạt động thực hiện ở đơn vị, bộ phận và đây chính là cơ sở cho việc hình thành trung tâm trách nhiệm Còn đối với một trung tâm trách nhiệm cụ thể, phải dựa trên phân cấp quản lý để có cơ sở xác định các chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm đƣợc đúng đắn, phạm vi đánh giá trách nhiệm của

Trang 18

một trung tâm phải trên cơ sở nội dung phân cấp được xác định một cách rõ ràng cho trung tâm đó Việc thực hiện đầy đủ kế toán trách nhiệm đảm bảo cho phân cấp quản lý phát huy được tốt hơn Kế toán trách nhiệm được xem như là một công cụ của phân cấp quản lý để thực hiện kiểm soát hoạt động của các đơn vị được phân cấp quản lý

PGS.TS Phạm Văn Dược, TS Trần Văn Tùng (2011), trong cuốn Kế toán quản trị, nhà xuất bản Lao Động, đã trình bày về hệ thống báo cáo của

các trung tâm trách nhiệm: Sản phẩm cuối cùng của hệ thống kế toán trách nhiệm là những báo cáo, đó là những báo cáo kế toán trách nhiệm

Các báo cáo kế toán trách nhiệm phản ánh kết quả hoạt động của từng trung tâm trách nhiệm được phân quyền trong một khoảng thời gian nhất định Hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm ghi nhận kết quả thực hiện và so sánh với dự toán theo từng chỉ tiêu được chuyển tải trong báo cáo phù hợp với quyền hạn và trách nhiệm của mỗi trung tâm Qua đó, xem xét mức độ đóng góp của từng bộ phận vào thành quả chung của toàn đơn vị Mức độ chi tiết của thông tin trên các báo cáo sẽ khác nhau đối với những cấp độ quản lý khác nhau Theo đó, cấp quản lý càng thấp thì các mức độ chi tiết của các chỉ tiêu báo cáo càng nhiều, những kết quả tổng cộng từ báo cáo của một cấp quản lý sẽ được báo cáo lên cấp quản lý cao hơn kế tiếp

Báo cáo trách nhiệm được thiết kế chứa đựng những thông tin về các

dữ liệu tài chính theo các trung tâm trách nhiệm trong một tổ chức, và cho các cấp quản lý khác nhau, thông qua việc tính những khoản doanh thu, chi phí

mà một nhà quản trị nào đó có thể kiểm soát được với bộ phận mình Tùy theo trách nhiệm báo cáo của mỗi trung tâm mà hệ thống báo cáo trách nhiệm được chia thành 4 nhóm tương ứng với bốn loại trung tâm trách nhiệm: báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí; báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu; báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận; báo cáo trách nhiệm

Trang 19

của trung tâm đầu tư

Luận văn “Tổ chức kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần Vinaconex

25” của tác giả Nguyễn Thị Kim Đính năm 2012 đã nghiên cứu công tác kế

toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần Vinaconex 25 hoạt động ở nhiều lĩnh vực, nhưng chủ yếu là lĩnh vực xây dựng được tổ chức thành nhiều xí nghiệp trực thuộc Về phương pháp luận tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp nghiên cứu cụ thể sử dụng phương pháp thu thập thông tin, tổng hợp số liệu, phân tích số liệu thực tế, so sánh đối chiếu Luận văn đã phản ánh được thực trạng công tác kế toán phục vụ đánh giá trách nhiệm tại công ty như tình hình phân cấp quản lý, công tác lập dự toán, lập các báo cáo nội bộ, từ đó đánh giá mức độ vận dụng kế toán trách nhiệm tại công ty với mỗi đơn vị hoạt động lĩnh vực khác nhau

Luận văn đã xây dựng các giải pháp tổ chức kế toán trách nhiệm tại Công ty: xác định các trung tâm trách nhiệm với các mục tiêu cụ thể phù hợp với sự phân cấp quản lý của Công ty, tổ chức thông tin kế toán phục vụ đánh giá các trung tâm trách nhiệm, phân tích đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm Luận văn đã phản ánh được thực trạng kế toán trách nhiệm theo mỗi đơn vị hoạt động mỗi lĩnh vực khác nhau nhưng giải pháp tổ chức hệ thống báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí thì chưa cụ thể cho mỗi đơn

vị khác nhau

Luận văn “Hoàn thiện công tác kế toán trách nhiệm tại Tổng Công ty

Xây dựng công trình giao thông 5(Cienco 5” của tác giả Nguyễn Tấn Đạt

năm 2012 Luận văn đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm và đặc điểm tổ chức báo cáo kế toán trách nhiệm trong các Công ty xây dựng Tác giả đã phản ánh được thực trạng kế toán trách nhiệm tại Công ty như đặc điểm tổ chức, nội dung tổ chức, lập báo cáo nội bộ Qua tìm hiểu và phân tích hệ thống công tác kế toán trách nhiệm tìm ra những ưu điểm và hạn

Trang 20

chế của thông tin nhận từ hệ thống kế toán trách nhiệm: cơ cấu tổ chức còn tập trung cao độ tại trung tâm đầu tư, trung tâm lợi nhuận chưa phát huy được khả năng hiệu quả công việc; Các chỉ tiêu phân loại chi phí xây lắp chưa đầy

đủ, thích hợp cho việc tập hợp, phân tích theo các tiêu thức phục vụ đấu thầu

và giao khoán; Các báo cáo kế hoạch sử dụng cho việc đánh giá kết quả mà chưa chú trọng vào hiệu quả công tác xây lắp

Với thực trạng kế toán trách nhiệm tại Công ty, tác giả đã đưa ra các giải pháp xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại đơn vị phù hợp với mô hình tổ chức, mục tiêu, chiến lược phát triển của Công ty Xây dựng được hệ thống báo cáo dự toán ứng với các trung tâm trách nhiệm trong đơn vị Đưa ra quy trình lập báo cáo từ trung tâm chi phí đến trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư tại Công ty Hoàn chỉnh hệ thống thông tin phục vụ xây dựng các chỉ tiêu báo cáo bộ phận

Luận văn “Tổ chức kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH một thành

viên Cảng Đà Nẵng” của tác giả Lê Thị Thu Hiền năm 2010 Luận văn đã

cho thấy thực trạng kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH một thành viên Cảng Đà Nẵng như sau:

Thứ nhất, phân cấp quản lý tài chính: trên cơ sở quyền hạn và trách nhiệm được nhận, Ban Giám đốc Xí nghiệp Cảng Đà Nẵng vẫn chưa có

sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn cụ thể cho các bộ phận tại Xí nghiệp

để lập kế hoạch chi phí và chịu trách nhiệm với kế hoạch trên

Thứ hai, tỷ lệ giao khoán cho các xí nghiệp: Thực hiện chủ trương tiết kiệm chi phí, Công ty đã ban hành quy chế khoán cho phép xí nghiệp được quyền tự quyết trong việc trang trải một số khoản chi phí Tỷ lệ giao khoán cho các xí nghiệp lại khác nhau do đặc thù khai thác tại mỗi xí nghiệp là khác nhau

Thứ ba, công tác lập kế hoạch: Luận văn chỉ ra công tác lập kế hoạch

Trang 21

còn sơ sài chỉ mới quan tâm và dừng lại ở dự báo về sản lượng

Thứ tư, hệ thống báo cáo kế toán: Do hạn chế về thông tin, các báo cáo được lập ra chủ yếu phục vụ cho kế toán tài chính làm cho các nhà quản trị cấp cao trong công ty rất khó đưa ra các quyết định và đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận Các báo cáo vẫn chưa thể hiện rõ luồng di chuyển thông tin và trách nhiệm của nhà quản lý tương ứng với luồng thông tin đó để nhà quản lý có chính sách khen thưởng kịp thời cho những bộ phận đã hoàn thành kế hoạch trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình

Tóm lại, thông qua nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến kế toán trách nhiệm trong nước và trên thế giới, tác giả đã nhìn nhận tầm quan trọng cũng như giá trị của kế toán trách nhiệm đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp xây lắp nói riêng Kế toán trách nhiệm ngày một phát triển và được quan tâm, việc nghiên cứu kế toán trách nhiệm sẽ ngày càng chuyên sâu và cụ thể cho từng ngành, từng lĩnh vực hoạt động

Trang 22

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG

DOANH NGHIỆP

1.1 KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM

1.1.1 Khái niệm về kế toán trách nhiệm

Để quản lý một tổ chức kinh doanh có quy mô lớn, các nhà quản trị cấp cao thường tiến hành việc phân quyền phù hợp với cấu trúc tổ chức của đơn

vị mình Để phục vụ cho việc kiểm soát kết quả hoạt động của từng bộ phận theo sự phân quyền này, kế toán quản trị đã sử dụng một phương pháp thích ứng - đó là hệ thống kế toán theo các trung tâm trách nhiệm

Ngoại trừ các tổ chức có quy mô rất nhỏ mà có thể được quản lý như một đơn vị riêng biệt, còn các tổ chức khác đều phải phân chia thành các phòng ban hay các đơn vị, bộ phận Sự phân chia tổ chức thành các đơn vị, bộ phận giúp cho việc quản lý dễ dàng và hiệu quả hơn Việc phân quyền trong

tổ chức tạo nên cơ cấu phức tạp và đòi hỏi cấp trên phải nắm được kết quả thực hiện của cấp dưới Chính điều này làm nẩy sinh vấn đề: làm sao để đánh giá tốt nhất kết quả của các đơn vị, bộ phận trong doanh nghiệp? Vì thế, kế toán trách nhiệm được xây dựng để theo dõi kết quả, hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong doanh nghiệp

Kế toán trách nhiệm được hiểu là hệ thống thu thập và báo cáo các thông tin về hoạt động của từng nhóm trách nhiệm Các cấp quản lý sẽ phải chịu trách nhiệm về lĩnh vực hoạt động của mình, của thuộc cấp và tất cả các hoạt động khác thuộc trách nhiệm của họ Theo đó:

- Hệ thống kế toán trách nhiệm sẽ thiết lập mạng lưới thông tin trong doanh nghiệp mà ý tưởng là tập hợp thông tin về các hoạt động bộ phận từ cấp thấp lên cấp cao

Trang 23

tích và tổ chức báo cáo theo phạm vi trách nhiệm của nhà quản trị Nghĩa là, thông tin kế toán trách nhiệm được phân loại và báo cáo bởi bộ phận có trách nhiệm

- Kế toán trách nhiệm sẽ cung cấp các công cụ về phân tích và đo lường nhằm đánh giá trách nhiệm quản lý và kiểm soát sự hoàn thành của từng bộ phận

Ngay từ những năm 70 của thế kỷ 20 các nhà khoa học trên thế giới đã bắt đầu nghiên cứu về kế toán trách nhiệm và đặc biệt phát triển mạnh trong những năm 90 Mỗi nhà nghiên cứu đưa ra những khái niệm riêng, mỗi khái niệm là một quan điểm về kế toán trách nhiệm

Theo nhóm tác giả Anthony A.Atkinson, Rajiv.D.Banker, Robert

S.Kaplan and S.mark Young ( năm 2011), khẳng định: “Kế toán trách nhiệm

là một hệ thống kế toán có chức năng thu thập, tổng hợp và báo cáo các dữ liệu kế toán có liên quan đến trách nhiệm của từng nhà quản lý riêng biệt trong một tổ chức, cung cấp thông tin nhằm đánh giá trách nhiệm và thành quả mỗi nhà quản lý tạo ra các báo cáo chứa cả những đối tượng có thể kiểm soát và không thể kiểm soát đối với một cấp quản lý.” [11]

Theo TS Huỳnh Lợi (năm 2009), cho rằng: “Kế toán trách nhiệm

trong một tổ chức chính là thiết lập những quyền hạn, trách nhiệm của mỗi bộ phận, thành viên và một hệ thống chỉ tiêu, báo cáo thành quả của mỗi bộ phận thành viên.” [5, trang 213]

Như vậy, kế toán trách nhiệm là một hệ thống kế toán có chức năng thu thập, tổng hợp và báo cáo các dữ liệu kế toán có liên quan đến trách nhiệm của từng nhà quản lý riêng biệt trong một tổ chức, cung cấp thông tin nhằm đánh giá trách nhiệm và thành quả mỗi nhà quản lý tạo ra các báo cáo chứa cả những đối tượng có thể kiểm soát và không thể kiểm soát đối với một cấp quản lý

Trang 24

1.1.2 Bản chất của kế toán trách nhiệm

a Kế toán trách nhiệm là nội dung cơ bản của kế toán quản trị

Ngày nay, kế toán quản trị là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống kế toán doanh nghiệp Ngoài thông tin kế toán tài chính cung cấp, các nhà quản lý vẫn đòi hỏi có thêm thông tin mang tính kiểm soát và dự báo, chẳng hạn như thu nhập và chi phí phân chia theo bộ phận Như vậy, kế toán quản trị biểu hiện trách nhiệm của các nhà quản lý các cấp bên trong doanh nghiệp thông qua kế toán trách nhiệm, trong khi kế toán tài chính biểu hiện trách nhiệm của nhà quản trị cấp cao

Kế toán theo các trung tâm trách nhiệm là một công cụ để đánh giá và kiểm soát trong các tổ chức phân quyền, thông qua việc xác định các trung tâm trách nhiệm và nhiệm vụ báo cáo của chúng Kế toán trách nhiệm là cơ sở

để thực hiện quá trình kiểm soát của KTQT vì doanh thu và chi phí được tập hợp và trình bày theo từng trung tâm trách nhiệm, qua đó nhà quản trị dễ dàng nhận biết được nguyên nhân gây nên những hậu quả bất lợi về tăng chi phí và giảm doanh thu so với dự toán là thuộc trách nhiệm của bộ phận nào

Kế toán trách nhiệm là một bộ phận trong một tổ chức hoạt động mà nhà quản trị bộ phận chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của bộ phận mình đối với nhà quản trị cấp cao Kế toán trách nhiệm không chỉ đảm bảo cung cấp các thông tin tài chính và phi tài chính đầy đủ, rõ ràng về hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp mà còn xác định đối tượng nào là người chịu trách nhiệm, bộ phận nào có quyền kiểm soát với hoạt động xảy ra Như vậy, kế toán trách nhiệm là một bộ phận của KTQT, về cơ bản cũng có đầy đủ nội dung của KTQT, thực hiện đầy đủ chức năng của KTQT, thể hiện trách nhiệm của nhà quản trị ở các bộ phận đối với mục tiêu cuối cùng của tổ chức

b Kế toán trách nhiệm - một nhân tố trong hệ thống kiểm soát nội bộ

Một hệ thống kiểm soát quản lý là sự hợp thành các phương pháp nhằm

Trang 25

thu thập và sử dụng thông tin để ra các quyết định về hoạch định và kiểm soát, thúc đẩy hành vi của người lao động, đánh giá việc thực hiện

Để xây dựng một hệ thống kiểm soát quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức, trước hết nhà quản lý phải xây dựng chiến lược lâu dài cho đơn

vị Dựa trên chiến lược của đơn vị và của từng bộ phận kinh doanh, đơn vị đề

ra mục tiêu cụ thể, và các mục tiêu này phải có mối liên quan chặt chẽ với nhau cùng hỗ trợ nhau hướng đến mục đích chung của đơn vị

Nhà quản trị phải phân tích các hoạt động của đơn vị để từ đó xác định các bộ phận có nhiệm vụ cụ thể gì, chịu trách nhiệm chính về công việc gì, công việc đó có các khoản doanh thu, chi phí cụ thể nào, bộ phận nào là trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu hay trung tâm lợi nhuận… Từ việc phân tích

rõ ràng như vậy, hệ thống kế toán cũng sẽ được thiết kế sao cho có thể đảm bảo việc ghi chép phản ánh một cách đầy đủ, rõ ràng, riêng biệt các chỉ tiêu của từng trung tâm

Như vậy, hệ thống kế toán trách nhiệm được áp dụng để nhận rõ bộ phận nào của tổ chức có trách nhiệm với từng mục tiêu, các đo lường việc thực hiện, các chỉ tiêu cần đạt được và thiết kế các báo cáo về các đo lường này ở từng bộ phận trong tổ chức hoặc từng trung tâm trách nhiệm Hầu hết các trung tâm trách nhiệm có đa mục tiêu, nhưng chỉ có vài mục tiêu là thể hiện nội dung tài chính, như dự toán hoạt động, mục tiêu lợi nhuận hoặc danh lợi đầu tư, phụ thuộc vào việc phân loại tài chính của trung tâm

Giám sát và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một bộ phận quan trọng trong hệ thống kiểm soát quản lý Các nhà quản trị xác định các công việc và đo lường việc thực hiện chúng có liên quan tới mục tiêu của tổ chức, điều này được làm thông qua hệ thống báo cáo thực hiện Báo cáo thực hiện phải theo đúng với mục tiêu của các nhà quản trị, cung cấp các hướng dẫn cho nhà quản trị, thông đạt mục tiêu và mức độ đạt được của họ trong toàn bộ tổ

Trang 26

chức và cho phép tổ chức có thể tiên liệu và đáp ứng được sự thay đổi theo thời gian

Hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện thông qua việc phân công, phân cấp dựa trên cơ chế quản lý tài chính và trách nhiệm của từng cá nhân,

bộ phận trong một tổ chức hoạt động cụ thể

Sơ đồ 1.1 Quy trình hoạt động của kế toán trách nhiệm

c Tính hai mặt của kế toán trách nhiệm

Hệ thống kế toán trách nhiệm được thiết lập nhằm khuyến khích các nhà quản trị trong tổ chức phân quyền hướng tới mục tiêu chung Hệ thống này cung cấp các chỉ tiêu, các công cụ, báo cáo làm cơ sở để đánh giá thành quả của các đơn vị, bộ phận Do đó, kế toán trách nhiệm ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ của nhà quản trị các bộ phận

Hệ thống kế toán trách nhiệm gồm hai mặt là “thông tin” và “trách nhiệm”

Kế toán trách nhiệm Nhà quản trị các cấp

Thông tin

Trách nhiệm

Hoạt động (dự toán ngân sách)

Kiểm soát

Tiếp tục đối chiếu số liệu, ra

quyết định vào thời

điểm thích hợp

Ra quyết định quản trị điều tiết các chênh lệch lớn

Phân tích định kỳ chênh lệch giữa kế hoạch và thực tế

Thu thập các thông tin liên quan đến

kế hoạch

Trang 27

Trong đó, mặt “thông tin” có nghĩa là sự tập hợp, báo cáo, đánh giá các thông tin mang tính nội bộ về hoạt động SXKD của doanh nghiệp từ cấp quản

lý thấp đến cấp quản lý cao hơn Mặt “trách nhiệm” nghĩa là việc quy trách nhiệm về những sự kiện tài chính xảy ra Nhà quản lý bộ phận phải có nhiệm

vụ báo cáo lên cấp quản lý cao hơn về những chi phí, lợi nhuận mà mình đảm nhận và giải trình từng sự kiện và kết quả tài chính mà mình có quyền kiểm soát

Do hệ thống kế toán trách nhiệm có hai mặt là “thông tin” và “trách nhiệm” nên nó ảnh hưởng rất lớn đến hành vi thái độ của nhà quản lý Ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tùy thuộc vào cách sử dụng hệ thống kế toán trách nhiệm Thông tin kế toán trách nhiệm là một bộ phận thông tin quan trọng của KTQT, và do vậy đối tượng sử dụng thông tin kế toán trách nhiệm cũng gồm các nhà quản trị cấp thấp, cấp trung và cấp cao, cụ thể:

- Đối với nhà quản trị cấp cao: KTTN cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng tổ chức và điều hành của doanh nghiệp KTTN xác định các trung tâm trách nhiệm, qua đó nhà quản lý có thể hệ thống hóa các công việc của từng trung tâm mà thiết lập các chỉ tiêu đánh giá KTTN giúp nhà quản trị đánh giá và điều chỉnh các bộ phận cho thích hợp

- Đối với nhà quản trị cấp trung: KTTN cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng kiểm soát tài chính và kiểm soát quản lý Thông qua KTTN, nhà quản trị có thể phân tích, đánh giá chi phí, doanh thu và lợi nhuận thực hiện của từng bộ phận Báo cáo kế toán trách nhiệm phản hồi cho người quản lý biết thực hiện kế hoạch của các bộ phận ra sao, nhận diện các vấn đề hạn chế để có sự điều chỉnh các chiến lược mục tiêu ra sao cho kết quả kinh doanh là tốt nhất Đây có thể xem là nguồn thông tin quan trọng để nhà quản

lý nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng doanh thu, giảm chi phí một cách hợp

lý, và cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận

Trang 28

- Đối với nhà quản trị cấp thấp: KTTN khuyến khích nhà quản lý hướng đến mục tiêu chung của tổ chức Mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp được gắn với các trung tâm trách nhiệm Khi KTTN có thể kiểm soát được công tác tài chính và công tác quản lý, sẽ điều chỉnh hoạt động hướng đến các mục tiêu chung của doanh nghiệp Đồng thời, bản thân các giám đốc trung tâm trách nhiệm được khích lệ hoạt động sao cho phù hợp với các mục tiêu cơ bản của toàn doanh nghiệp

1.1.3 Mục đích của kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp

Mục đích của kế toán trách nhiệm được thiết lập để ghi nhận, đo lường kết quả hoạt động của từng bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu chung của toàn Doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu chung, mỗi bộ phận phải nỗ lực thực hiện các mục tiêu riêng rẽ do nhà quản trị cấp cao đã phân quyền cho bộ phận mình Việc đánh giá thường dựa trên hai tiêu chí đó là tính hiệu quả và tính hiệu năng:

Tính hiệu quả (effectiveness): có được khi đạt được mục tiêu đề ra mà chưa kể đến việc sử dụng nguồn lực như thế nào Hiệu quả được tính toán bằng việc so sánh giữa kết quả đạt được với mục tiêu đề ra cho trung tâm trách nhiệm đó Nói cách khác, đánh giá hiệu quả chính là đo lường mức độ hoàn thành mục tiêu của trung tâm trách nhiệm

Tính hiệu năng (efficiency): là tỷ lệ giữa đầu ra so với đầu vào của trung tâm trách nhiệm, hay có thể nói hiệu năng là tỷ lệ giữa kết quả thực tế đạt được so với nguồn lực thực tế mà trung tâm trách nhiệm đã sử dụng để tạo

Trang 29

tạo điều kiện cho việc đánh giá chất lượng hoạt động của nhà quản trị các trung tâm, cung cấp các động cơ tích cực cho các nhà quản trị bộ phận hướng tới mục tiêu chung

1.2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP

1.2.1 Sự phân cấp quản lý tại các doanh nghiệp

a Khái niệm về sự phân cấp quản lý

Theo PGS.TS Ngô Hà Tấn, TS Đường Nguyễn Hưng (năm 2013) cho

rằng: “Mỗi đơn vị, bộ phận được phân quyền gắn với trách nhiệm và quyền

hạn nhất định, từ đó hình thành nên các cấp quản lý trong Doanh nghiệp được gọi là phân cấp quản lý.” [9, trang 10]

Như vậy, phân cấp quản lý hay còn gọi là phân quyền trong quản lý được hiểu là sự phân chia quyền lực xuống cấp dưới, quyền ra quyết định không còn của một người hay một nhóm người mà trải rộng trên toàn tổ chức Qua đó các cấp quản lý khác nhau được quyền ra quyết định liên quan đến phạm vi trách nhiệm của họ

Mỗi cấp độ sẽ có người quản lý riêng và có thể thuộc về một trong các trung tâm từ thấp lên cao như sau: trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư Người quản lý sẽ điều phối các nguồn lực và hoạt động trong trung tâm mình để thực hiện các chỉ tiêu do cấp trên đã giao

Có nhiều cách phân quyền quản lý mà chủ yếu là phân chia theo chức năng kinh doanh, theo sản phẩm sản xuất kinh doanh, và theo khu vực địa lý Đối với doanh nghiệp phân chia theo chức năng kinh doanh ta có các phòng ban như tiếp thị, sản xuất, nghiên cứu và phát triển, Đối với cách phân chia theo sản phẩm hay khu vực địa lý, các phòng ban được chia theo các loại sản phẩm kinh doanh, khu vực địa lý, và thường mỗi sản phẩm kinh doanh và khu

Trang 30

vực đó gắn với các đầu vào và đầu ra riêng để xác định hiệu quả kinh doanh của nó

Nội dung phân cấp quản lý trong một DN thường được tập trung ở các mặt chủ yếu sau:

- Phân cấp về quản lý, sử dụng các loại tài sản trong hoạt động kinh doanh

- Phân cấp về huy động các nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh

- Phân cấp về quản lý chi phí, doanh thu, thu nhập trong hoạt động kinh doanh

- Phân cấp về phân phối kết quả hoạt động kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ tài chính với ngân sách, với cấp trên

b Tác động của phân cấp quản lý

Hệ thống KTTN chỉ tồn tại, hoạt động có hiệu quả nhất trong các tổ chức phân quyền, ở đó quyền ra quyết định và trách nhiệm được trải rộng trong toàn tổ chức Các cấp quản lý khác nhau được quyền ra quyết định và chịu trách nhiệm với phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của họ Hoạt động của tổ chức gắn liền với hệ thống quyền hạn, trách nhiệm của tất cả các bộ phận, thành viên Khi quy mô, phạm vi, trình độ của các tổ chức ngày càng phát triển thì sự phân cấp quản lý có những mặt tác động tích cực và tiêu cực sau:

* Tác động tích cực:

- Sự phân cấp quản lý trải rộng việc quyết định cho nhiều cấp quản lý Ban quản lý cấp cao hơn không phải giải quyết các vấn đề vụ việc xảy ra hàng ngày, họ tập trung vào những việc hoạch định các chiến lược trung và dài hạn, điều phối các hoạt động của các bộ phận trong tổ chức, đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu chung

- Sự phân cấp quản lý còn giúp cho các nhà quản lý ở các cấp có sự

Trang 31

tương đối trong điều hành công việc của mình, nâng cao kiến thức chuyên môn, tăng khả năng ứng xử các tình huống để tăng tốc độ hoạt động của mỗi

bộ phận, toàn tổ chức Nhà quản lý ở các cấp đều có quyền ra quyết định ở các mức độ khác nhau và chịu trách nhiệm về công việc của mình nên thúc đẩy họ phát huy khả năng quản lý

- Việc ra quyết định được giao cho nhà quản lý tại nơi xảy ra công việc nên tính đúng đắn và khả thi của các quyết định là rất cao Phân cấp quản lý gắn liền với việc xác định quyền hạn và trách nhiệm ở từng cấp một cách rõ ràng nên có cơ sở đánh giá kết quả hoạt động của mỗi bộ phận, dễ tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục

- Phân cấp quản lý gắn liền với xác định quyền hạn và trách nhiệm ở từng cấp một cách rõ ràng nên có cơ sở khi đánh giá kết quả hoạt động của từng bộ phận Khi trung tâm trách nhiệm được xác định kết quả, hiệu quả làm việc của mỗi con người được ghi nhận sẽ khuyến khích họ làm việc tốt hơn Bên cạnh đó, tạo ra môi trường thi đua lành mạnh giữa các cá nhân, các đơn

vị trong việc hoàn thành mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp

* Tác động tiêu cực:

- Hạn chế lớn nhất của sự phân cấp quản lý là việc phân cấp càng nhiều thì càng khó có thể kiểm soát được Điều tất nhiên là việc ủy quyền đi chung với việc ít kiểm soát hơn đối với các quyết định của các bộ phận Quyết định của các trung tâm có ảnh hưởng lẫn nhau hay đến cả công ty nói chung Nhà quản lý có thể khó điều hành và phối hợp giữa các trung tâm Thậm chí nếu kiểm soát không tốt, phân cấp trách nhiệm có thể dẫn đến tuân thủ sai lệch các mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp Do giám đốc các trung tâm trách nhiệm chỉ tập trung vào lợi ích của đơn vị, không xem xét quyết định đó có ảnh hưởng đến doanh nghiệp như thế nào, làm lệch mục tiêu chung của doanh nghiệp

Trang 32

- Do sự tách biệt về quyền lợi và trách nhiệm giữa các bộ phận nên dẫn đến sự cạnh tranh thành tích giữa các bộ phận, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của toàn tổ chức

Chính từ những mặt tích cực và tiêu cực trên nhà quản lý cần phải xác định đúng đắn mức độ phức tạp của tổ chức để từ đó thực hiện phân quyền cho phù hợp Nếu quyền lực được phân tán quá rộng thì nhà quản trị sẽ khó kiểm soát hoạt động của các bộ phận Ngược lại, nếu nhà quản lý áp dụng mô hình tập trung quyền lực thì sẽ không có thời gian tập trung cho các kế hoạch chiến lược Do vậy, mục đích nhà quản lý cấp cao là thiết kế mạng lưới các TTTN của tổ chức sao cho nhà quản lý các bộ phận có trách nhiệm đối với các hoạt động mà họ có quyền kiểm soát

1.2.2 Mối quan hệ của phân cấp quản lý với kế toán trách nhiệm

Việc đầu tiên trong quá trình thực hiện KTTN là phải hình thành các trung tâm trách nhiệm Để trở thành một trung tâm trách nhiệm thì đơn vị, bộ phận đó phải được phân cấp quản lý ở mức độ nhất định Qua phân cấp quản

lý sẽ xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của đơn vị, bộ phận đối với các hoạt động thực hiện ở đơn vị, bộ phận và đây chính là cơ sở cho việc hình thành trung tâm trách nhiệm Còn đối với một TTTN cụ thể, phải dựa trên phân cấp quản lý để có cơ sở xác định các chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm được đúng đắn, phạm vi đánh giá trách nhiệm của một trung tâm phải trên cơ sở nội dung phân cấp được xác định một cách rõ ràng cho trung tâm đó

Việc thực hiện đầy đủ KTTN đảm bảo cho phân cấp quản lý phát huy được tốt hơn KTTN được xem như là một công cụ của phân cấp quản lý để thực hiện kiểm soát hoạt động của các đơn vị được phân cấp quản lý Kiểm soát thông qua quá trình giao trách nhiệm và đánh giá mức độ hoàn thiện trách nhiệm được giao để kiểm soát hoạt động của các đơn vị và định hướng hành vi của người quản lý các đơn vị theo mục tiêu chung của Doanh nghiệp

Trang 33

Đây chính là việc áp dụng KTTN để phát huy tính tích cực của phân cấp quản

lý, bảo đảm hướng đến mục tiêu chung của Doanh nghiệp

Mặt khác, thông qua KTTN với việc đánh giá trách nhiệm của các đơn

vị trong nhiều kỳ, Doanh nghiệp có thể kiểm nghiệm lại phân cấp quản lý đã

triển khai, có cơ sở đánh giá việc phân cấp quản lý đó có phù hợp với thực tế

đặt ra ở đơn vị không để có sự điều chỉnh phù hợp

Thành quả của một TTTN thể hiện qua thực trạng tài chính của trung

tâm trên hệ thống báo cáo về chi phí, doanh thu, lợi nhuận, vốn đầu tư gắn

liền với trách nhiệm và quyền điều hành, quản lý của nhà quản trị trung tâm

Hệ thống KTTN trong mối quan hệ với phân cấp quản lý thể hiện thông qua

sơ đồ:

Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa hệ thống kế toán trách nhiệm

với phân cấp quản lý

Cơ cấu tổ chức quản lý Hệ thống kế toán trách

nhiệm

Các chỉ tiêu đánh giá

Đại diện chủ sở hữu vốn

hội đồng quản trị Trung tâm đầu tư -RI; ROI

Trung tâm lợi nhuận

Trung tâm doanh thu

Trung tâm chi phí

Chênh lệch lợi nhuận tỷ

lệ lợi nhuận trên vốn

Chênh lệch doanh thu tỷ

lệ lợi nhuận trên DT

Chênh lệch chi phí tỷ

lệ chi phí trên DT thu

Trang 34

1.3 NỘI DUNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP

1.3.1 Tổ chức các trung tâm trách nhiệm trong doanh nghiệp

a Khái niệm trung tâm trách nhiệm

Hệ thống kế toán trách nhiệm được xây dựng trên cơ sở xác định trách nhiệm của mỗi đơn vị, bộ phận trong tổ chức Mỗi đơn vị hoặc bộ phận của tổ chức có một nhà quản lý chịu trách nhiệm về những kết quả tài chính của đơn

vị hoặc bộ phận Một đơn vị hoặc bộ phận như vậy gọi là một trung tâm trách nhiệm

Theo TS Huỳnh Lợi ( năm 2009), cho rằng: “Trung tâm trách nhiệm

là một bộ phận trong cơ cấu tổ chức quản lý của một tổ chức mà người quản

lý ở cấp đó có quyền và chịu trách nhiệm đối với kết quả của các hoạt động thuộc phạm vi quản lý của mình.” [5, trang 215]

Tùy thuộc vào tính phức tạp của cơ cấu tổ chức và mức độ phân cấp quản lý mà doanh nghiệp thiết lập các trung tâm trách nhiệm phù hợp Các TTTN này tạo thành một hệ thống cấp bậc: ở cấp thấp nhất của tổ chức là các trung tâm trách nhiệm của từng bộ phận, từng khu vực, mỗi công việc hay nhóm nhỏ các công việc như cấp phân xưởng sản xuất, cửa hàng Nhà quản

lý ở cấp này là các quản đốc phân xưởng, cửa hàng trưởng Ở cấp cao hơn là các bộ phận hoặc các thành phần bao gồm nhiều đơn vị nhỏ hơn như khu vực kinh doanh theo vùng, miền hay các nhà máy phân bổ ở các tỉnh Và xét theo quan điểm của các nhà lãnh đạo cấp cao thì cả công ty là một trung tâm trách nhiệm, nhà quản lý cấp cao nhất chính là nhà quản trị trách nhiệm của trung tâm này

b Bản chất của trung tâm trách nhiệm

Một TTTN có bản chất như một hệ thống, mỗi hệ thống được xác định

để xử lý một công việc cụ thể Hệ thống này sử dụng các đầu vào là các giá trị vật chất như nguyên vật liệu, số giờ công của các loại lao động và các dịch vụ

Trang 35

khác Kết quả là các trung tâm trách nhiệm sẽ cho ra các đầu ra là các loại hàng hóa nếu nó là sản phẩm hữu hình, là dịch vụ nếu đó là sản phẩm vô hình

Bản chất của trung tâm trách nhiệm được mô tả như sau:

Hàng hoá và dịch vụ tạo ra bởi một trung tâm trách nhiệm này có thể là đầu vào của một trung tâm trách nhiệm khác trong cùng một tổ chức và cũng

có thể được bán ra bên ngoài Vì vậy, đôi khi nó là đầu vào của một trung tâm trách nhiệm và đôi khi nó là đầu ra của cả tổ chức

Để đo lường mức độ hoàn thành của một trung tâm trách nhiệm thường dựa vào hai tiêu chí: hiệu quả và hiệu năng

Hiệu quả: là mối quan hệ giữa đầu ra của một trung tâm trách nhiệm và mục tiêu của trung tâm trách nhiệm đó Đó chính là mức độ hoàn thành mục tiêu của một trung tâm trách nhiệm

Hiệu năng: là tỉ lệ giữa đầu ra so với đầu vào của trung tâm trách nhiệm, hay có thể nói đó là tỉ lệ giữa kết quả thực tế đạt được với nguồn lực thực tế mà trung tâm trách nhiệm đã sử dụng để tạo ra kết quả đó

Như vậy, để có thể xác định được hiệu quả và hiệu năng của các trung tâm trách nhiệm, vấn đề đặt ra là phải lượng hoá được đầu vào và đầu ra của các trung tâm trách nhiệm Trên cơ sở đó sẽ xác định được các chỉ tiêu cụ thể

để đánh giá kết quả hoạt động của trung tâm cụ thể Việc đo lường thành quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm sẽ tạo điều kiện cho việc đánh giá chất lượng hoạt động của các giám đốc trung tâm, đồng thời khích lệ họ điều

Công việc

Trung tâm trách nhiệm

dịch vụ Vốn

Sơ đồ 1.3 Mối quan hệ đầu vào và đầu ra của

trung tâm trách nhiệm

Trang 36

khiển hoạt động trung tâm của mình phù hợp với mục tiêu cơ bản toàn công ty

c Phân loại các trung tâm trách nhiệm

Căn cứ vào sự khác biệt trong việc lượng hóa giữa “đầu vào” và “đầu ra” của các TTTN cũng như mức độ trách nhiệm của người quản trị trung tâm, có thể chia thành 4 loại trung tâm trách nhiệm:

* Trung tâm chi phí:

Trung tâm chi phí là một TTTN thể hiện phạm vi cơ bản của hệ thống xác định chi phí, là điểm xuất phát của các hoạt động như: lập dự toán chi phí, phân loại chi phí thực tế phát sinh, so sánh chi phí thực tế với định mức chi phí Nhà quản lý có quyền ra quyết định và chỉ chịu trách nhiệm đối với các

chi phí phát sinh thuộc phạm vi quản lý của mình Có 2 dạng trung tâm chi

độ về chất lượng và thời gian đã định

Công việc

Mối quan hệ tối ưu có thể được thiết lập rõ

ràng

Sơ đồ 1.4 Mối quan hệ đầu vào và đầu ra của

trung tâm chi phí định mức

Trang 37

- Trung tâm chi phí linh hoạt: là TTCP mà các yếu tố được dự toán và đánh giá căn cứ trên nhiệm vụ được giao tính chung, không thể xác định cụ thể cho từng đơn vị sản phẩm hoặc cho từng công việc của trung tâm Nhà quản trị TTCP này có trách nhiệm kiểm soát chi phí thực tế phát sinh sao cho phù hợp với chi phí dự toán, đồng thời đảm bảo thực hiện nhiệm vụ được giao Đặc điểm của trung tâm chi phí linh hoạt là các đầu ra không thể đo lường bằng các chỉ tiêu tài chính, hoặc không có sự liên hệ rõ ràng giữa các chi phí đã được sử dụng để tạo ra các kết quả đầu ra tương ứng Đánh giá hiệu quả của trung tâm này thường bằng cách so sánh chi phí giữa dự toán ngân sách đã định và thực tế thực hiện Tuy nhiên, cách so sánh này chỉ cho kết quả tương đối, nên cần phải kết hợp một số chỉ tiêu phi tài chính về mức độ và chất lượng của các dịch vụ mà trung tâm này cung cấp

* Trung tâm doanh thu:

Trung tâm doanh thu là TTTN mà đầu ra được lượng hóa bằng tiền còn đầu vào thì không Nhà quản lý có quyền ra quyết định và chịu trách nhiệm đối với việc tạo ra doanh thu, không chịu trách nhiệm với lợi nhuận và vốn đầu tư

Trung tâm này thường gắn với bậc quản lý cấp trung hoặc cấp cơ sở, đó

là các bộ phận kinh doanh trong đơn vị như các chi nhánh tiêu thụ, khu vực tiêu thụ, cửa hàng tiêu thụ,… Trên thực tế khi xác định chỉ tiêu đánh giá trung tâm doanh thu, cần xem xét giá thành sản phẩm để khuyến khích trung tâm

Công việc

Mối quan hệ tối ưu không thể được thiết lập rõ ràng

Sơ đồ 1.5 Mối quan hệ đầu vào và đầu ra của

trung tâm chi phí linh hoạt

Trang 38

này tạo ra lợi nhuận chứ không đơn thuần là tạo ra doanh thu Các quản lý bán hàng thường chiết khấu giảm giá hàng bán khi bán hàng số lượng lớn, hay thực hiện các chiến dịch quảng cáo, khuyến mại Các hoạt động này sẽ làm tăng doanh thu nhưng đều làm giảm lợi nhuận mà Doanh nghiệp chỉ chấp nhận trong một thời gian kinh doanh có hạn Như vậy, trung tâm này phải có chính sách bán hàng, không chỉ dựa trên tình hình thị trường mà còn dựa trên giá thành, chi phí và các mục tiêu lâu dài của Công ty

* Trung tâm lợi nhuận:

Trung tâm lợi nhuận là TTTN mà nhà quản lý có trách nhiệm đối với lợi nhuận đạt được trong phạm vi mình quản lý Nhà quản lý trung tâm phải kiểm soát được chi phí và doanh thu tạo ra Đặc điểm của TTLN là đầu ra và đầu vào có thể lượng hóa được bằng tiền

Loại trung tâm trách nhiệm này thường được gắn với bậc quản lý cấp trung, đó là Giám đốc điều hành trong Công ty, các đơn vị kinh doanh trong Tổng Công ty như các Công ty phụ thuộc, chi nhánh… Nhà quản lý chịu trách nhiệm với kết quả sản xuất và tiêu thụ của trung tâm Trong trường hợp này nhà quản lý có thể ra quyết định loại sản phẩm nào cần sản xuất, sản xuất như thế nào, mức độ chất lượng, giá cả, hệ thống phân phối và bán hàng Nhà quản lý phải quyết định các nguồn lực sản xuất được phân bổ như thế nào giữa các sản phẩm, điều đó cũng có nghĩa là họ phải đạt được sự cân bằng

Công việc

Đầu vào không liên quan đến đầu ra

Trang 39

trong việc phối hợp giữa các yếu tố giá cả, sản lượng, chất lượng và chi phí Nếu nhà quản lý không có quyền quyết định mức độ đầu tư tại trung tâm của

họ, thì tiêu chí lợi nhuận được xem là tiêu chí thích hợp để đánh giá kết quả thực hiện của trung tâm này

* Trung tâm đầu tư:

* Trung tâm đầu tư:

Trung tâm đầu tư là TTTN mà nhà quản lý không chỉ chịu trách nhiệm

về chi phí, doanh thu, lợi nhuận của trung tâm mà còn phải chịu trách nhiệm với vốn đầu tư và khả năng huy động nguồn tài trợ Do vậy, nhà quản lý trung tâm có quyền ra các quyết định về vốn đầu tư và sử dụng vốn lưu động Trung tâm đầu tư không những lượng hóa được bằng tiền đầu vào và đầu ra mà cả lượng tài sản đầu tư vào trung tâm

Đây là loại trung tâm trách nhiệm gắn với bậc quản lý cấp cao như Hội đồng quản trị, các Công ty con độc lập… Đó là sự tổng quát hóa của các trung tâm lợi nhuận, trong đó khả năng sinh lời được gắn với các tài sản được sử dụng để tạo ra lợi nhuận đó

Tóm lại bước đầu tiên và cơ bản của việc thực hiện kế toán trách nhiệm

Công việc

Đầu vào có liên quan với

đầu ra

Sơ đồ 1.7 Mối quan hệ đầu vào và đầu ra của trung tâm lợi nhuận

Vốn đầu tư

Lợi nhuận có liên quan vốn được sử dụng

Sơ đồ 1.8 Mối quan hệ đầu vào và đầu ra của trung tâm đầu tư

Trang 40

là xây dựng các trung tâm trách nhiệm Doanh nghiệp nên tổ chức thành các trung tâm lợi nhuận và đầu tư hay nên hình thành các trung tâm chi phí? Điều này phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức doanh nghiệp, mức độ phân quyền cũng như thái độ và quan điểm của nhà quản trị cấp cao Vì vậy, vấn đề tổ chức kế toán trách nhiệm mang tính linh hoạt hơn mặc dù nó phải đảm bảo tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của kế toán trách nhiệm

1.3.2 Hệ thống báo cáo thực hiện trong kế toán trách nhiệm

a Đặc điểm báo cáo kế toán trách nhiệm

Các báo cáo kế toán trách nhiệm phản ánh kết quả hoạt động của từng trung tâm trách nhiệm được phân quyền trong một khoảng thời gian nhất định Hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm ghi nhận kết quả thực hiện và so sánh với dự toán theo từng chỉ tiêu được chuyển tải trong báo cáo phù hợp với quyền hạn và trách nhiệm của mỗi trung tâm Qua đó, xem xét mức độ đóng góp của từng bộ phận vào thành quả chung của toàn đơn vị Mức độ chi tiết của thông tin trên các báo cáo sẽ khác nhau đối với những cấp độ quản lý khác nhau

Báo cáo thực hiện trong kế toán trách nhiệm có đặc điểm chung là: Mức độ chi tiết của báo cáo giảm dần khi cấp độ nhà quản trị nhận báo cáo tăng dần Lý do của điều này là báo cáo của nhà quản trị cấp càng cao thì không thể chi tiết tất cả các chi phí của từng bộ phận nhỏ trong cấu trúc tổ chức Nhà quản trị thường quan tâm đến sự thực hiện các chi phí trực tiếp, doanh thu thuộc quyền kiểm soát của chính họ Thông thường, các nhà quản trị cấp cao quan tâm đến những thông tin chi tiết tại một bộ phận nào đó, nhà quản trị cấp dưới phụ trách bộ phận đó có trách nhiệm cung cấp

b Nội dung báo cáo kế toán trách nhiệm

Mỗi loại hình trung tâm trách nhiệm sẽ có hệ thống báo cáo thực hiện trách nhiệm tương ứng

Ngày đăng: 04/04/2022, 22:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] PGS. TS. Phạm Văn Dƣợc, TS. Trần Văn Tùng (2011), Kế toán quản trị, Nhà xuất bản Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán quản trị
Tác giả: PGS. TS. Phạm Văn Dƣợc, TS. Trần Văn Tùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2011
[2] Nguyễn Tấn Đạt (2012), Hoàn thiện công tác kế toán trách nhiệm tại Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5 (Cienco 5), Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện công tác kế toán trách nhiệm tại Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5 (Cienco 5)
Tác giả: Nguyễn Tấn Đạt
Năm: 2012
[4] Nguyễn Thị Kim Đính (2012), Tổ chức kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần Vinaconex 25, Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần Vinaconex 25
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Đính
Năm: 2012
[5] TS. Huỳnh Lợi (2009), Kế toán quản trị, Nhà xuất bản Giao Thông Vận Tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán quản trị
Tác giả: TS. Huỳnh Lợi
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao Thông Vận Tải
Năm: 2009
[7] PGS. TS. Võ Văn Nhị (2008), Kế toán doanh nghiệp xây lắp, Nhà xuất bản giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán doanh nghiệp xây lắp
Tác giả: PGS. TS. Võ Văn Nhị
Nhà XB: Nhà xuất bản giao thông vận tải
Năm: 2008
[9] PGS. TS. Ngô Hà Tấn, TS. Đường Nguyễn Hưng (2013), “Quan hệ giữa phân cấp quản lý và kế toán trách nhiệm”, Tạp chí Kế toán và Kiểm toán, (số 118), trang 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa phân cấp quản lý và kế toán trách nhiệm”, "Tạp chí Kế toán và Kiểm toán
Tác giả: PGS. TS. Ngô Hà Tấn, TS. Đường Nguyễn Hưng
Năm: 2013
[10] PGS. TS. Trương Bá Thanh (2008), Giáo trình Kế toán quản trị, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kế toán quản trị
Tác giả: PGS. TS. Trương Bá Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
[11] Anthony A. Atkinson, Rajiv D. Banker, Robert S. Kaplan & Mark young (2001), Management Accouting, 3 rd Edition, Prentice Hall International Inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management Accouting
Tác giả: Anthony A. Atkinson, Rajiv D. Banker, Robert S. Kaplan & Mark young
Năm: 2001
[12] John A Higgins (1952), “Responsibility Accounting”, The Arthur Andersen chronicle, Vol. 12, April 1952 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Responsibility Accounting”, "The Arthur Andersen chronicle
Tác giả: John A Higgins
Năm: 1952
[13] Martin N. Kellogg (1962), “Fundamentals of R Responsibility Accounting”, National Association of Accountants.Trang Web tham khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fundamentals of R Responsibility Accounting”, "National Association of Accountants
Tác giả: Martin N. Kellogg
Năm: 1962
[3] PGS. TS. Phạm Văn Đăng (2011), Một số vấn đề về kế toán trách nhiệm ở các doanh nghiệp niêm yết Khác
[6] Lê Thị Thu Hiền (2010), Tổ chức kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH một thành viên Cảng Đà Nẵng, Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, Đà Nẵng Khác
[8] PGS. TS. Trần Đình Khôi Nguyên (2013), Bài giảng Kế toán trách nhiệm Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.6. Mơ hình các trung tâm trách nhiệm tại Tổng Cơng ty 789/Bộ Quốc phịng - (luận văn thạc sĩ) kế toán trách nhiệm tại tại tổng công ty 789 bộ quốc phòng
2.6. Mơ hình các trung tâm trách nhiệm tại Tổng Cơng ty 789/Bộ Quốc phịng (Trang 11)
Sau hơn 1 năm thực hiện, đến nay mơ hình đã mang lại những kết quả khả quan và đã cĩ hơn 170  con trâu được thực hiện sinh sản theo phương pháp  thụ tinh nhân tạo, trong đĩ cĩ gần 100 con thụ thai  và sinh sản thành cơng 70 nghé con. - (luận văn thạc sĩ) kế toán trách nhiệm tại tại tổng công ty 789 bộ quốc phòng
au hơn 1 năm thực hiện, đến nay mơ hình đã mang lại những kết quả khả quan và đã cĩ hơn 170 con trâu được thực hiện sinh sản theo phương pháp thụ tinh nhân tạo, trong đĩ cĩ gần 100 con thụ thai và sinh sản thành cơng 70 nghé con (Trang 40)
hạch toán theo từng khâu, kiểm tra độ chính xác để lập bảng cân đối số phát sinh  các  tài  khoản,  lập  các  báo  cáo  tài  chính  giữa  và  cuối  niên  độ  kế  toán - (luận văn thạc sĩ) kế toán trách nhiệm tại tại tổng công ty 789 bộ quốc phòng
h ạch toán theo từng khâu, kiểm tra độ chính xác để lập bảng cân đối số phát sinh các tài khoản, lập các báo cáo tài chính giữa và cuối niên độ kế toán (Trang 61)
Sơ đồ 2.6. Mơ hình các trung tâm trách nhiệm tại Tổng Cơng ty 789/Bộ Quốc phịng - (luận văn thạc sĩ) kế toán trách nhiệm tại tại tổng công ty 789 bộ quốc phòng
Sơ đồ 2.6. Mơ hình các trung tâm trách nhiệm tại Tổng Cơng ty 789/Bộ Quốc phịng (Trang 63)
Bảng 2.1. Dự toán doanh thu của Tổng Cơng ty 789/Bộ Quốc phịng Năm 2014 - (luận văn thạc sĩ) kế toán trách nhiệm tại tại tổng công ty 789 bộ quốc phòng
Bảng 2.1. Dự toán doanh thu của Tổng Cơng ty 789/Bộ Quốc phịng Năm 2014 (Trang 70)
Bảng 2.3. Dự toán lợi nhuận của Tổng Cơng ty 789/Bộ Quốc phịng Năm 2014 - (luận văn thạc sĩ) kế toán trách nhiệm tại tại tổng công ty 789 bộ quốc phòng
Bảng 2.3. Dự toán lợi nhuận của Tổng Cơng ty 789/Bộ Quốc phịng Năm 2014 (Trang 71)
Bảng 2.2. Dự tốn giá vốn của Tổng Cơng ty 789/Bộ Quốc phòng Năm 2014 - (luận văn thạc sĩ) kế toán trách nhiệm tại tại tổng công ty 789 bộ quốc phòng
Bảng 2.2. Dự tốn giá vốn của Tổng Cơng ty 789/Bộ Quốc phòng Năm 2014 (Trang 71)
Bảng 2.4. Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Tổng Công ty 789/Bộ Quốc phòng Năm 2014 - (luận văn thạc sĩ) kế toán trách nhiệm tại tại tổng công ty 789 bộ quốc phòng
Bảng 2.4. Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Tổng Công ty 789/Bộ Quốc phòng Năm 2014 (Trang 73)
Bảng 2.5. Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Chi nhánh Tây Nguyên - Tổng Công ty 789 Năm 2014 - (luận văn thạc sĩ) kế toán trách nhiệm tại tại tổng công ty 789 bộ quốc phòng
Bảng 2.5. Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Chi nhánh Tây Nguyên - Tổng Công ty 789 Năm 2014 (Trang 76)
Bảng 2.6. Bảng tổng hợp chi phí sản xuất kinh doanh tại Chi nhánh Tây Nguyên - Tổng Công ty 789 Năm 2014 - (luận văn thạc sĩ) kế toán trách nhiệm tại tại tổng công ty 789 bộ quốc phòng
Bảng 2.6. Bảng tổng hợp chi phí sản xuất kinh doanh tại Chi nhánh Tây Nguyên - Tổng Công ty 789 Năm 2014 (Trang 79)
Sơ đồ 3.1. Mơ hình các trung tâm trách nhiệm - (luận văn thạc sĩ) kế toán trách nhiệm tại tại tổng công ty 789 bộ quốc phòng
Sơ đồ 3.1. Mơ hình các trung tâm trách nhiệm (Trang 86)
I Vật liệu trực - (luận văn thạc sĩ) kế toán trách nhiệm tại tại tổng công ty 789 bộ quốc phòng
t liệu trực (Trang 92)
Bảng 3.1. Báo cáo dự tốn kế hoạch chi phí - phần khốn Cơng trình: Kho K864/Cục Qn khí - (luận văn thạc sĩ) kế toán trách nhiệm tại tại tổng công ty 789 bộ quốc phòng
Bảng 3.1. Báo cáo dự tốn kế hoạch chi phí - phần khốn Cơng trình: Kho K864/Cục Qn khí (Trang 92)
Bảng 3.2. Báo cáo khối lượng nghiệm thu - thanh tốn Cơng trình: Kho K864/Cục Quân khí - (luận văn thạc sĩ) kế toán trách nhiệm tại tại tổng công ty 789 bộ quốc phòng
Bảng 3.2. Báo cáo khối lượng nghiệm thu - thanh tốn Cơng trình: Kho K864/Cục Quân khí (Trang 95)
Bảng 3.4. Dự toán báo cáo kết quả kinh doanh tại Chi nhánh Tây Nguyên - Tổng Công ty 789 - (luận văn thạc sĩ) kế toán trách nhiệm tại tại tổng công ty 789 bộ quốc phòng
Bảng 3.4. Dự toán báo cáo kết quả kinh doanh tại Chi nhánh Tây Nguyên - Tổng Công ty 789 (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w