Việc áp dụng thành công mô hình kế toán trách nhiệm sẽ giúp doanh nghiệp có được một hệ thống cung cấp thông tin tin cậy, đưa ra các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá thường kỳ kết quả công
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THÀNH LÝ
KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ
& VẬN TẢI Ô TÔ SỐ 6
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THÀNH LÝ
KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ
& VẬN TẢI Ô TÔ SỐ 6
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM HOÀI HƯƠNG
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Lý
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Kết cấu đề tài 3
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆMTRONG CÁC DOANH NGHIỆP 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 7
1.1.1 Khái niệm kế toán trách nhiệm 7
1.1.2 Mục tiêu của kế toán trách nhiệm 9
1.1.3 Chức năng của kế toán trách nhiệm 10
1.1.4 Vai trò của kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp 10
1.2 NỘI DUNG CỦA KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 11
1.2.1 Khái niệm và sự hình thành các trung tâm trách nhiệm 12
1.2.2 Phân loại các trung tâm trách nhiệm 13
1.2.3 Báo cáo thành quả của các trung tâm trách nhiệm 16
1.2.4 Đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ & VẬN TẢI Ô TÔ SỐ 6 26
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ & VẬN
Trang 52.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần dịch vụ &
vận tải ô tô số 6 26
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty cổ phần dịch vụ & vận tải ô tô 6 28 2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý tại Công ty cổ phần dịch vụ & vận tải ô tô số 6 29
2.1.4 Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty cổ phần dịch vụ & vận tải ô tô số 6 34
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ & VẬN TẢI Ô TÔ SỐ 6 36
2.2.1 Tình hình phân cấp quản lý tài chính tại công ty cổ phần dịch vụ & vận tải ô tô số 6 36
2.2.2 Công tác lập kế hoạch tại Công ty Cổ phần dịch vụ & vận tải ô tô số 6 37
2.2.3 Hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm tại công ty 47
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ & VẬN TẢI Ô TÔ SỐ 6 60
2.3.1 Những mặt mạnh 60
2.3.2 Những mặt hạn chế 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆMTẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ & VẬN TẢI Ô TÔ SỐ 6 62
3.1 TỔ CHỨC CÁC TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ VÀ VẬN TẢI Ô TÔ SỐ 6 62
3.2 HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ & VẬN TẢI Ô TÔ SỐ 6 65
3.2.1 Hoàn thiện công tác lập kế hoạch ở cấp các xí nghiệp thành viên 66
3.2.2 Hoàn thiện công tác lập kế hoạch ở cấp công ty 75
Trang 63.3 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÁO CÁO Ở CÁC TRUNG TÂM TRÁCH
NHIỆM 77
3.3.1 Các báo cáo của trung tâm chi phí 77
3.3.2 Các báo cáo của trung tâm lợi nhuận 81
3.3.3 Báo cáo của trung tâm đầu tư 82
3.4 ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ CỦA CÁC TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ & VẬN TẢI Ô TÔ SỐ 6 82
3.4.1 Đánh giá thành quả của các trung tâm chi phí 82
3.4.2 Đánh giá thành quả của các trung tâm lợi nhuận 86
3.4.3 Đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 89
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 72.2 Kế hoạch doanh thu tại Trung tâm đào tạo lái xe ô tô & mô
tô Liên Chiểu năm 2013
39
2.3 Kế hoạch chi phí tại Xí nghiệp vận tải và dịch vụ tổng hợp
năm 2013
42
2.4 Kế hoạch chi phí tại Trung tâm đào tạo lái xe ô tô & mô tô
Liên Chiểu năm 2013
43
2.5 Kế hoạch lợi nhuận tại Xí nghiệp vận tải và dịch vụ tổng
hợp năm 2013
44
2.6 Kế hoạch lợi nhuận tại Trung tâm đào tạo lái xe ô tô & mô
tô Liên Chiểu hợp năm 2013
2.9 Báo cáo doanh thu thực hiện tại Trung tâm đào tạo lái xe ô
tô & mô tô Liên Chiểu quý 4 năm 2013
48
2.10 Báo cáo chi phí thực hiện tại Xí nghiệp vận tải và dịch vụ
tổng hợp quý 4 năm 2013
50
2.11 Báo cáo chi phí thực hiện tại Trung tâm đào tạo lái xe ô tô
& mô tô Liên Chiểu quý 4 năm 2013
51
2.12 Báo cáo lợi nhuận thực hiện tại Xí nghiệp vận tải và dịch
vụ tổng hợp quý 4 năm 2013
52
Trang 82.13 Báo cáo lợi nhuận thực hiện tại Trung tâm đào tạo lái xe ô
tô & mô tô Liên Chiểu quý 4 năm 2013
53
2.14 Báo cáo chi phí tại văn phòng công ty năm 2013 54 2.15 Báo cáo tổng hợp doanh thu tại công ty năm 2013 55 2.16 Báo cáo tổng hợp chi phí tại công ty năm 2013 57 2.17 Báo cáo tổng hợp lợi nhuận tại công ty năm 2013 58 3.1 Kế hoạch doanh thu tại Xí nghiệp vận tải và dịch vụ tổng hợp 67 3.2 Kế hoạch chi phí tại Bộ phận nhà hàng thuộc Xí nghiệp vận
tải và dịch vụ tổng hợp
71
3.3 Kế hoạch chi phí tại Xí nghiệp vận tải và dịch vụ tổng hợp 72 3.4 Kế hoạch lợi nhuận tại Xí nghiệp vận tải và dịch vụ tổng hợp 74
3.6 Kế hoạch chi phí tại văn phòng công ty năm 2013 76 3.7 Báo cáo chi phí tại bộ phận nhà hàng năm 2013 77 3.8 Báo cáo chi phí tại Xí nghiệp vận tải và dịch vụ tổng hợp
3.10 Báo cáo chi phí khối văn phòng tại Công ty Cổ phần dịch
vụ & vận tải ô tô số 6 năm 2013
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty 30 2.2 Sơ đồ bộ máy kế toán tại văn phòng công ty 34 2.3 Sơ đồ bộ máy kế toán tại các xí nghiệp thành viên 35 3.1 Mô hình tổ chức các trung tâm trách nhiệm 63
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam hiện đang có những biến đổi lớn trong giai đoạn hòa nhập để cùng phát triển với nền kinh tế của Thế giới Việc nâng cao nội lực, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường là vấn đề sống còn của các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay Có thể ví hoạt động của doanh nghiệp như một cỗ máy, trong đó mỗi bộ phận là một chi tiết máy, chỉ cần một bộ phận hoạt động không hiệu quả sẽ ảnh hưởng đến kết quả chung của toàn doanh nghiệp Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống công cụ quản lý kinh tế, có vai trò điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế, tài chính trong doanh nghiệp, đồng thời cung cấp thông tin để thực hiện mục tiêu quản trị doanh nghiệp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất Kế toán trách nhiệm là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị, là một trong những công cụ
có thể giúp doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu quản lý của mình
Việc áp dụng thành công mô hình kế toán trách nhiệm sẽ giúp doanh nghiệp có được một hệ thống cung cấp thông tin tin cậy, đưa ra các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá thường kỳ kết quả công việc của mỗi con người, mỗi bộ phận trong tổ chức Kế toán trách nhiệm đánh giá trách nhiệm nhiều cấp bậc khác nhau như: trưởng các bộ phận, người điều hành kinh doanh Nó giúp doanh nghiệp đảm bảo mọi sự việc, nghiệp vụ phát sinh đều phải có người gánh vác trách nhiệm, có được chế độ thưởng phạt phân minh để doanh nghiệp ngày càng phát triển
Công ty cổ phần dịch vụ và vận tải ô tô số 6 (sau đây gọi tắt là Công ty ô
tô 6) trước đây là doanh nghiệp nhà nước, hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ vận tải Năm 2006, công ty thực hiện cổ phần hóa trở thành công ty cổ phần Phạm vi hoạt động của công ty ô tô 6 tương đối rộng lớn, công ty có nhiều xí
Trang 11nghiệp thành viên, cơ chế quản lý tài chính đối với các xí nghiệp thành viên cũng khá đa dạng nên việc tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm để đánh giá hiệu quả hoạt động của từng đơn vị, bộ phận ở các xí nghiệp và toàn bộ công
ty là rất cần thiết Việc tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm ngoài việc nhằm đảm bảo cho các xí nghiệp thành viên thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của mình thì còn phải đảm bảo gắn kết, phối hợp với nhau cùng thực hiện mục tiêu chung của công ty
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên, tác giả đã chọn đề tài “Kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần dịch vụ& vận tải ô tô số 6” để làm đề
tài nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu những vấn đề lý luận về kế toán trách nhiệm cũng như các nguyên tắc kiểm soát của kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp, mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm:
- Tìm hiểu thực trạng và chỉ ra những hạn chế còn tồn tại trong công tác
kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần dịch vụ và vận tải ô tô số 6
- Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm theo đặc thù của công ty, giúp nhà quản trị đánh giá được một cách đúng đắn thành quả của các đơn vị, bộ phận trong việc hướng tới mục tiêu chung của công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản về kế toán trách nhiệm như công tác lập kế hoạch, các báo cáo kế toán nội
bộ theo từng cấp quản lý phục vụ cho việc đánh giá trách nhiệm ở công ty
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu công tác kế toán trách nhiệm tại công
ty cổ phần dịch vụ và vận tải ô tô số 6, bao gồm văn phòng công ty và các xí nghiệp thành viên trực thuộc
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, so sánh để phân tích một tình huống cụ thể tại công ty nhằm tìm hiểu và đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong công tác kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần dịch vụ và vận tải ô tô
số 6 Từ đó, xác lập các quan điểm, phương hướng nội dung hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại công ty
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần dịch vụ & vận tải ô tô số 6:
- Bổ sung và hoàn thiện tổ chức kế toán trách nhiệm, cụ thể là công tác lập kế hoạch, báo cáo và đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm tại Công ty ô tô 6
- Trên cơ sở xác lập mô hình tổ chức kế toán trách nhiệm phù hợp, hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm hợp lý, đơn vị sẽ xác định trách nhiệm và đánh giá thành quả của từng bộ phận tốt hơn, mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp
6 Kết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm trong các doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng hệ thống kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần dịch vụ và vận tải ô tô số 6
Chương 3: Hoàn thiện tổ chức kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần dịch vụ và vận tải ô tô số 6
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Do yêu cầu của thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm đến việc tổ chức kế toán quản trị, đặc biệt là kế toán trách nhiệm nhằm cung cấp thông tin một cách hữu hiệu nhất cho quản trị doanh nghiệp Có thể nói kế
Trang 13toán trách nhiệm là công cụ để đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm trong doanh nghiệp
Nội dung kế toán trách nhiệm là đề tài được nhiều tác giả nghiên cứu với những góc độ khác nhau, trong quá trình nghiên cứu tìm hiểu về đề tài tác giả
đã tham khảo một số bài viết, cụ thể như sau:
Đề tài thạc sĩ “Kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH một thành viên Cảng Quy Nhơn” của tác giả Nguyễn Văn Đông (2012) Đề tài đã khái quát những nét cơ bản về kế toán trách nhiệm, nêu rõ được khái niệm, bản chất và nội dung cơ bản của kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp, mối quan hệ giữa kế toán trách nhiệm với sự phân cấp quản lý tài chính Trên cơ sở đó, đề tài đã tiến hành xây dựng các trung tâm trách nhiệm, xác định các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể cho từng trung tâm trách nhiệm, tổ chức và xây dựng các báo cáo thành quả và đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá thành quả của các bộ phận Mục đích là hướng các bộ phận vào việc hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức, đồng thời sẽ giúp cho nhà quản trị có cơ sở để đưa ra các chính sách khen thưởng, xử phạt kịp thời, qua đó để động viên, khích lệ các bộ phận trong công ty
Đề tài thạc sĩ “Xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm quản lý tại Công
ty điện tử Samsung Vina” của tác giả Nguyễn Nam Hoàng (2006) Trong luận văn tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, logich… để hệ thống hóa lý luận, tìm hiểu thực tiễn và đề ra một số giải pháp nhằm xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm quản lý theo đặc thù của công
ty Bằng lối phân tích chặt chẽ, tác giả đã thành công trong việc nhìn nhận những ưu điểm và nhược điểm còn tồn tại trong công tác đánh giá trách nhiệm quản lý tại công ty Tuy nhiên, với các phương pháp nghiên cứu không mới, các giải pháp còn mang tính lý thuyết, đề tài nghiên cứu của tác giả cũng chỉ dừng lại ở mức độ lý thuyết, chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể, phù
Trang 14Đề tài thạc sĩ “Hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tại Tổng công ty xây dựng Thăng Long” của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Diệu (2007) Luận văn
đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: điều tra điển hình, phân tích tổng hợp, thực chứng …, qua đó tác giả đã hệ thống hóa và làm rõ những vấn
đề liên quan đến kế toán trách nhiệm tại tổng công ty xây dựng Thăng Long Trên cơ sở nghiên cứu đã rút ra được những ưu, nhược điểm và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện cơ sở thu thập thông tin cho việc xây dựng các báo cáo kế toán trách nhiệm để đánh giá thành quả quản lý và cung cấp thông tin hữu ích trong việc lựa chọn quyết định đấu thầu, giao khoán tại công ty Tuy nhiên đề tài đã vấp phải nhược điểm là việc nghiên cứu, phân tích của tác giả còn mang tính lý thuyết, chưa gắn với kết quả kinh doanh thực tế tại đơn
vị Do đó mặc dù đã nhìn nhận được thực trạng, phân tích, đánh giá ưu nhược điểm của việc tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty nhưng các giải pháp mà tác giả đề xuất cũng chỉ mang tính lý thuyết đơn thuần, phổ biến, nên chưa mang lại hiệu quả ứng dụng thực tiễn cao
Bài báo “Kinh nghiệm tổ chức kế toán trách nhiệm trong công ty cổ phần ở một số nước trên thế giới” của Ths Lê Văn Tân (Tạp chí kế toán và kiểm toán số 118 tháng 7/2013) Bài báo đã nêu bật được quy trình chung để lập hệ thống báo cáo trách nhiệm của đa số các công ty cổ phần, nêu được thước đo đánh giá các trung tâm trách nhiệm, chỉ rõ nhiệm vụ của từng trung tâm trách nhiệm và rút ra được các bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, về cơ bản bài báo vẫn còn mang tính chất chung chung, không cụ thể và chỉ tập trung vào ba trung tâm trách nhiệm là: chi phí, lợi nhuận và đầu tư, không hề nhắc đến trung tâm doanh thu
Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã trình bày những lý luận cơ bản về kế toán trách nhiệm,tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm, đánh giá, phân tích thực trạng tổ chức kế toán trách nhiệm ở các đơn vị, từ đó
Trang 15đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức kế toán trách nhiệm tại các đơn vị đó
Hiện chưa có một đề tài về kế toán trách nhiệm được nghiên cứu tại công
ty Cổ phần dịch vụ và vận tải ô tô số 6 Vì vậy, dựa trên cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm, tham khảo những đề tài, bài báo có liên quan, tác giả đã
chọn đề tài “Kế toán trách nhiệm tại công ty Cổ phần dịch vụ và vận tải ô tô
số 6” nhằm mong muốn sẽ khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán
trách nhiệm, từ bản chất, mối quan hệ giữa phân cấp quản lý với kế toán trách nhiệm đến việc tổ chức các trung tâm trách nhiệm và đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm Trên cơ sở đó, đề tài sẽ đánh giá thực trạng công tác kế toán nói chung và công tác kế toán trách nhiệm tại công ty nói riêng, đồng thời đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại công ty như
tổ chức các trung tâm trách nhiệm, tổ chức hệ thống báo cáo, các chỉ tiêu đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm…
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM
Để quản lý một tổ chức kinh doanh có quy mô lớn, các nhà quản trị cấp cao thường tiến hành việc phân quyền phù hợp với cấu trúc tổ chức của đơn
vị mình Để phục vụ cho việc kiểm soát kết quả hoạt động của từng bộ phận theo sự phân quyền này, kế toán quản trị sử dụng một phương pháp thích ứng – đó là kế toán theo các trung tâm trách nhiệm
Ngoại trừ các tổ chức có quy mô rất nhỏ mà có thể được quản lý như một đơn vị riêng biệt, còn các tổ chức khác đều phải phân chia thành các phòng ban hay các đơn vị, bộ phận Sự phân chia tổ chức thành các đơn vị, bộ phận giúp cho việc quản lý dễ dàng và hiệu quả hơn Dù là nhà quản lý bộ phận hay quản lý cấp cao, nói chung, đều quan tâm đến kết quả của bộ phận
do mình quản lý Chính điều này làm nảy sinh vấn đề: làm sao để đánh giá tốt nhất kết quả của các đơn vị, bộ phận?
Để hỗ trợ cho quản lý đo lường và kiểm soát kết quả các đơn vị, bộ phận, kế toán quản trị vận dụng hệ thống kế toán trách nhiệm để phân loại cấu trúc tổ chức thành các trung tâm trách nhiệm, trên cơ sở đó đánh giá kết quả của từng đơn vị, bộ phận
1.1.1 Khái niệm kế toán trách nhiệm
Trong quá trình quản lý, các cá nhân được giao quyền ra quyết định và chịu trách nhiệm thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nào đó của tổ chức Với xu hướng quy mô ngày càng phát triển của tổ chức thì việc phân quyền là điều tất yếu Phân quyền trong tổ chức tạo nên cơ cấu phức tạp, đòi hỏi cấp trên phải theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện được của cấp dưới,
Trang 17đồng thời cấp dưới phải biết được mục tiêu, vị trí hoạt động của họ trong tổ chức Do vậy, đối với một tổ chức có sự phân quyền cần thiết phải xây dựng công cụ để đánh giáthành quảcủa từng cá nhân, bộ phận và hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong doanh nghiệp Công cụ đó chính là kế toán trách nhiệm Gắn với kế toán trách nhiệm là các trung tâm trách nhiệm Trung tâm trách nhiệm là một bộ phận hay một phòng ban chức năng mà kết quả của nó được gắn trách nhiệm trực tiếp với một nhà quản lý cụ thể Trung tâm trách nhiệm bao gồm trung tâm đầu tư, trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu và trung tâm lợi nhuận
Tùy theo quan điểm của mỗi người mà có rất nhiều những khái niệm về
kế toán trách nhiệm như sau:
- Theo PGS TS Phạm Văn Dược: “Kế toán trách nhiệm là một hệ thống
kế toán tập hợp kết quả theo từng lính vực thuộc trách nhiệm cá nhân nhằm giám sát và đánh giá kết quả của từng bộ phận trong tổ chức” [3]
- PGS TS Đào Văn Tài cho rằng: “Kế toán trách nhiệm là một phương pháp kế toán thu thập và báo cáo các thông tin dự toán và thực tế về các “đầu vào” và “đầu ra” của các trung tâm trách nhiệm” [6]
- TS Huỳnh Lợi đã đưa ra khái niệm về kế toán trách nhiệm như sau:
“Kế toán trách nhiệm là một hệ thống thừa nhận mỗi bộ phận (thành viên, con người) trong một tổ chức có quyền chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nghiệp vụ riêng biệt thuộc về phạm vi quản lý của mình, họ phải xác định, đánh giá và báo cáo cho tổ chức, thông qua đó cấp quản lý cao hơn sử dụng các thông tin này để đánh giá thành quả của các bộ phận trong tổ chức” [5] Như vậy, khái niệm kế toán trách nhiệm được rút ra như sau: Kế toán trách nhiệm là hệ thống kế toán thu thập, ghi nhận, báo cáo và đo lường kết quả hoạt động của từng bộ phận để đánh giá thành quả của từng bộ phận nhằm kiểm soát hoạt động và chi phí của các bộ phận trong tổ chức, phối hợp
Trang 181.1.2 Mục tiêu của kế toán trách nhiệm
- Kế toán trách nhiệm cung cấp thông tin đánh giá trách nhiệm các cấp bậc quản lý trong doanh nghiệp
Kế toán trách nhiệm ra đời nhằm hướng đến phục vụ công tác đánh giá trách nhiệm các cấp bậc quản lý trong doanh nghiệp, đưa ra các chỉ tiêu đo lường và đánh giá thường kỳ thành quả hoạt động của mỗi cá nhân được phân cấp quản lý trong doanh nghiệp như: giám đốc, trưởng phòng kinh doanh, quản đốc… Từ đó sẽ tạo nên một hệ thống trách nhiệm rõ ràng thúc đẩy doanh nghiệp phát triển ổn định, bền vững
- Kế toán trách nhiệm cung cấp cơ sở để đánh giá mức độ phù hợp giữa các quyết định bộ phận với mục tiêu chung của doanh nghiệp
Ra quyết định là một trong số những chức năng cơ bản của nhà quản trị Những thông tin cung cấp cho nhà quản trị ra quyết định là sự kết hợp giữa thông tin quá khứ với thông tin tương lai dựa trên cơ sở những dự báo, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra để đảm bảo tính phù hợp của các quyết định với mục tiêu chung của doanh nghiệp, nhà quản trị cần có những thông tin, kết hợp với những thông tin của chính từng bộ phận trong tổ chức quản lý mỗi doanh nghiệp Kế toán trách nhiệm ra đời nhằm đáp ứng các mục tiêu này và chính thông tin của kế toán trách nhiệm là thước đo mức độ phù hợp giữa các quyết định bộ phận với mục tiêu chung của doanh nghiệp Thông tin kế toán trách nhiệm càng chính xác tức là mức độ phù hợp càng cao, điều đó thể hiện được sự gắn kết giữa các quyết định của bộ phận với mục tiêu chung của doanh nghiệp
- Kế toán trách nhiệm đảm bảo sử dụng hữu hiệu và hiệu quả các nguồn lực của tổ chức
Tính hữu hiệu thể hiện tình hình thực thi của các chính sách kinh doanh trong doanh nghiệp Trong khi đó, tính hiệu quả thể hiện hiệu suất hoạt động của mỗi cá nhân, bộ phận trong doanh nghiệp Thông qua kế toán trách nhiệm
Trang 19sẽ giúp nhà quản trị xác định được tình hình thực thi của các chính sách kinh doanh và hiệu quả sử dụng các nguồn lực kinh tế của mỗi cá nhân, bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp
1.1.3 Chức năng của kế toán trách nhiệm
Kế toán trách nhiệm là một phương pháp phân chia cấu trúc của một tổ chức thành những trung tâm trách nhiệm khác nhau để đo lường biểu hiện của chúng Nói cách khác, kế toán trách nhiệm là một “công cụ” để đo lường về kết quả hoạt động của một khu vực nào đó trong tổ chức, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp quản trị khác nhau Chức năng của kế toán trách nhiệm được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
- Kế toán trách nhiệm giúp xác định sự đóng góp của từng đơn vị, bộ phận vào lợi ích của toàn bộ tổ chức
- Kế toán trách nhiệm cung cấp một cơ sở cho việc đánh giá chất lượng
về kết quả hoạt động của những nhà quản lý bộ phận
- Kế toán trách nhiệm được sử dụng để đo lường kết quả hoạt động của các nhà quản lý và do đó, nó ảnh hưởng đến cách thức thực hiện hành vi của các nhà quản lý này
- Kế toán trách nhiệm thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều hành bộ phận của mình theo phương cách phù hợp với những mục tiêu cơ bản của toàn tổ chức
1.1.4 Vai trò của kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp
Kế toán trách nhiệm là một bộ phận của kế toán quản trị, nó cung cấp thông tin liên quan đến các chức năng của quản lý Kế toán trách nhiệm thể hiện các vai trò sau:
a Kế toán trách nhiệm cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng tổ chức và điều hành của doanh nghiệp
Kế toán trách nhiệm xác định các trung tâm trách nhiệm, qua đó nhà
Trang 20quản trị có thể hệ thống hóa các công việc, trách nhiệm của từng trung tâm để thiết lập các chỉ tiêu đo lường, đánh giá Từ đó giúp nhà quản trị có thể đánh giá và điều chỉnh các bộ phận trong doanh nghiệp cho thích hợp với mục tiêu, tình hình hoạt động của doanh nghiệp
b Kế toán trách nhiệm cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng kiểm soát tài chính và kiểm soát quản lý
Thông qua kế toán trách nhiệm, nhà quản trị cấp cao có thể phân tích đánh giá hoạt động của các nhà quản trị bộ phận, phân tích đánh giá chi phí, doanh thu và lợi nhuận thực hiện của từng bộ phận Bên cạnh việc thực hiện chức năng quản lý, các báo cáo trách nhiệm sẽ cung cấp thông tin cho nhà quản trị nhận diện cụ thể các vấn đề tài chính của từng hoạt động tại doanh nghiệp
c Kế toán trách nhiệm khuyến khích nhà quản lý hướng đến mục tiêu chung của tổ chức
Mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp được gắn với các trung tâm trách nhiệm Khi kế toán trách nhiệm có thể kiểm soát được quản lý và tài chính, nhà quản trị sẽ điều chỉnh hoạt động hướng đến các mục tiêu chung Đồng thời bản thân nhà quản trị các trung tâm trách nhiệm được khích lệ hướng các hoạt động của bộ phận phù hợp với mục tiêu cơ bản của toàn doanh nghiệp
Kế toán trách nhiệm là một công cụ quản lý phát sinh tất yếu từ phân cấp quản lý và chính phân cấp quản lý sẽ giúp hệ thống kế toán trách nhiệm định
vị mục tiêu, phát huy chức năng, giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống kế toán quản trị Để kế toán trách nhiệm phát huy được vai trò của nó, khi xây dựng hoàn thiện kế toán trách nhiệm cần phải xác lập nội dung phù hợp
1.2 NỘI DUNG CỦA KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM
Nội dung cơ bản để thực hiện hệ thống kế toán trách nhiệm bao gồm những vấn đề cụ thể như sau:
Trang 21- Khái niệm và sự hình thành các trung tâm trách nhiệm
- Phân loại các trung tâm trách nhiệm
- Xác định báo cáo thành quả của từng trung tâm trách nhiệm
- Đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm
1.2.1 Khái niệm và sự hình thành các trung tâm trách nhiệm
a Khái niệm trung tâm trách nhiệm
Để thực hiện kế toán trách nhiệm thì trước tiên doanh nghiệp phải xây dựng được các trung tâm trách nhiệm trong đơn vị mình Hệ thống kế toán trách nhiệm được xây dựng trên cơ sở xác định trách nhiệm của mỗi đơn vị,
bộ phận trong tổ chức Mỗi đơn vị hoặc bộ phận trong tổ chức có một nhà quản lý chịu trách nhiệm trực tiếp về những kết quả cụ thể của đơn vị hoặc bộ phận đó Một đơn vị hoặc bộ phận như vậy gọi là một trung tâm trách nhiệm Tùy vào tính phức tạp của cơ cấu tổ chức và mức độ phân cấp quản lý
mà doanh nghiệp thiết lập các trung tâm phù hợp Các trung tâm trách nhiệm này tạo thành hệ thống cấp bậc: ở cấp thấp nhất của tổ chức là các trung tâm trách nhiệm cho từng bộ phận, từng khu vực, mỗi công việc hay một nhóm nhỏ các công việc như cấp phân xưởng sản xuất, cửa hàng… Nhà quản lý ở cấp này là các quản đốc phân xưởng, cửa hàng trưởng… Ở cấp cao hơn là các
bộ phận hoặc các thành phần bao gồm nhiều đơn vị nhỏ hơn như khu vực kinh doanh theo vùng, miền hay các nhà máy phân bố ở các tỉnh… Khi xét theo quan điểm của nhà lãnh đạo cấp cao thì cả công ty là một trung tâm trách nhiệm, nhà quản lý cấp cao nhất chính là nhà quản trị trách nhiệm của trung tâm này
b Sự hình thành các trung tâm trách nhiệm
Kế toán trách nhiệm là công việc được thực hiện không thể tách rời các trung tâm trách nhiệm Các trung tâm này được hình thành thông qua việc phân cấp quản lý Theo đó, để thực hiện các chức năng quản lý của mình,
Trang 22người quản lý cấp cao phải thể hiện được đúng đắn quyền lực của mình, phải gây được ảnh hưởng và sức thuyết phục đối với nhân viên, đồng thời phải tiến hành phân cấp, ủy quyền cho cấp dưới nhằm giúp cấp dưới có thể điều hành các công việc thường xuyên tại bộ phận mà họ quản lý
Như vậy sự phân quyền và trách nhiệm chia doanh nghiệp thành các trung tâm trách nhiệm với các đặc điểm:
Ø Về mặt kết cấu
Các trung tâm trách nhiệm là những hệ thống con vừa khác nhau vừa liên hệ với nhau hợp thành một chỉnh thể thống nhất là hệ thống kế toán trách nhiệm Các hệ thống con này mặc dù khác nhau, độc lập với nhau nhưng chúng không tồn tại một cách cô lập trong hệ thống mà có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình hoạt động Như vậy:
- Nhìn theo chiều dọc của doanh nghiệp ta sẽ thấy được nấc bậc trong bộ máy quản lý doanh nghiệp, đó là thứ bậc về quyền hạn của các trung tâm trách nhiệm
- Nhìn theo chiều ngang ta sẽ thấy được cơ cấu các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, đó là các trung tâm trách nhiệm được phân chia theo đặc điểm ngành nghề kinh doanh
Ø Về mặt chức năng
Chức năng của các trung tâm trách nhiệm là một phần nhỏ chức năng của toàn bộ doanh nghiệp Tuy nhiên, chức năng của doanh nghiệp không phải là phép cộng đơn giản chức năng của các trung tâm trách nhiệm Hiệu ích của toàn hệ thống phải vượt lên tổng số hiệu ích đơn giản của các bộ phận cấu thành Tổ chức các trung tâm trách nhiệm là khâu quan trọng sau khi đã
có một cơ cấu tổ chức được phân cấp quản lý phù hợp và đúng đắn
1.2.2 Phân loại các trung tâm trách nhiệm
Trong kế toán trách nhiệm, các trung tâm trách nhiệm chủ yếu được
Trang 23phân chia theo chức năng tài chính Trung tâm trách nhiệm là một chức năng hay một bộ phận trong tổ chức, đặt dưới sự lãnh đạo của một nhà quản trị hoặc một cấp quản lý, chịu trách nhiệm trực tiếp với kết quả của chức năng hay bộ phận đó Trong một tổ chức có thể được xác lập bởi bốn loại trung tâm trách nhiệm cơ bản sau: trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư
a Trung tâm chi phí
Trung tâm chi phí là trung tâm trách nhiệm thể hiện phạm vi cơ bản của
hệ thống xác định chi phí Theo đó, người quản lý chỉ chịu trách nhiệm hoặc chỉ có quyền kiểm soát đối với chi phí phát sinh ở bộ phận mình, không có quyền hạn đối với việc tiêu thụ và đầu tư vốn Các trung tâm chi phí thường gắn với cấp quản trị cơ sở
Trung tâm chi phí được chia thành hai loại: trung tâm chi phí định mức
và trung tâm chi phí linh hoạt
Trung tâm chi phí định mức: là trung tâm chi phí mà các yếu tố chi phí
và các mức hao phí về các nguồn lực sử dụng để sản xuất một đơn vị sản phẩm, dịch vụ đều được xây dựng định mức cụ thể Nhà quản trị trung tâm chi phí định mức có trách nhiệm kiểm soát chi phí thực tế phát sinh, để vẫn đảm bảo kế hoạch sản xuất cũng như đảm bảo kế hoạch chi phí cho từng đơn
vị sản phẩm, dịch vụ và tính cho toàn bộ Trung tâm chi phí định mức được nhận biết trên cơ sở chúng ta có thể xác định, đo lường một cách chính xác đầu ra, và có thể xác định được định mức các đầu vào cần thiết để sản xuất ra một đơn vị đầu ra đó Theo đó, nhà quản lý không chịu trách nhiệm về những biến động gây ra bởi các mức độ hoạt động cao hơn định mức của trung tâm, mà chỉ chịu trách nhiệm về tính hiệu quả trong phạm vi hoạt động của trung tâm Trung tâm chi phí linh hoạt: là trung tâm chi phí mà các yếu tố được dự toán và đánh giá căn cứ trên nhiệm vụ được giao tính chung, không thể xác
Trang 24định cụ thể cho từng đơn vị sản phẩm hay cho từng công việc của trung tâm Nhà quản trị trung tâm chi phí này có trách nhiệm kiểm soát chi phí thực tế phát sinh sao cho phù hợp với chi phí dự toán, đồng thời đảm bảo thực hiện nhiệm vụ được giao Đặc điểm của trung tâm chi phí này là không có sự liên
hệ rõ ràng giữa các chi phí đã được sử dụng để tạo ra các kết quả đầu ra tương ứng Các trung tâm này bao gồm: phòng kế toán, phòng quản trị nhân sự - hành chính, phòng nghiên cứu và phát triển… Đánh giá hiệu quả của trung tâm này thường bằng cách so sánh chi phí giữa dự toán ngân sách đã định và thực tế thực hiện
b Trung tâm doanh thu
Trung tâm doanh thu là trung tâm trách nhiệm mà ở đó nhà quản lý chỉ chịu trách nhiệm về kết quả đầu ra là doanh thu thực hiện được Trung tâm doanh thu có quyền quyết định công việc bán hàng trong khung giá cả cho phép để tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp
Trung tâm này thường được gắn với bậc quản lý cấp trung hoặc cấp cơ
sở, đó là các bộ phận kinh doanh trong đơn vị như các chi nhánh tiêu thụ, khu vực tiêu thụ, cửa hàng tiêu thụ, nhóm sản phẩm,…
c Trung tâm lợi nhuận
Trung tâm lợi nhuận là trung tâm trách nhiệm mà nhà quản trị có quyền điều hành và chịu trách nhiệm về lợi nhuận cũng như những yếu tố liên quan đến lợi nhuận như doanh thu, chi phí phát sinh tại trung tâm Trong trường hợp này nhà quản lý có thể ra quyết định loại sản phẩm nào cần sản xuất, sản xuất như thế nào, mức độ chất lượng, giá cả, hệ thống phân phối và bán hàng Nhà quản lý phải quyết định các nguồn lực sản xuất được phân bổ như thế nào giữa các sản phẩm, điều đó cũng có nghĩa là họ phải đạt được sự cân bằng trong việc phối hợp giữa các yếu tố giá cả, sản lượng, chất lượng và chi phí Loại trung tâm trách nhiệm này thường được gắn với bậc quản lý cấp
Trang 25trung, đó là giám đốc điều hành trong công ty, các đơn vị kinh doanh trong tổng công ty như các công ty phụ thuộc, các chi nhành… Nếu nhà quản lý không có quyền quyết định mức độ đầu tư tại trung tâm của họ, thì tiêu chí lợi nhuận được xem là tiêu chí thích hợp nhất để đánh giá kết quả thực hiện của trung tâm này
d Trung tâm đầu tư
Trung tâm đầu tư là loại trung tâm trách nhiệm gắn với bậc quản lý cấp cao như Hội đồng quản trị công ty Đây là trung tâm trách nhiệm mà nhà quản trị phải chịu trách nhiệm trực tiếp với vốn đầu tư và khả năng huy động của các nguồn tài trợ
Như vậy, các loại trung tâm trách nhiệm gắn liền với từng cấp quản trị trong một tổ chức Mỗi loại trung tâm trách nhiệm sẽ xác định trách nhiệm hoặc quyền kiểm soát đối với từng đối tượng cụ thể của nhà quản trị các cấp Trong thực tế, việc lựa chọn một trung tâm thích hợp nhất cho một đơn vị trong tổ chức là điều không dễ dàng Cơ sở để xác định một bộ phận trong tổ chức là trung tâm loại gì được căn cứ trên loại nguồn lực hoặc trách nhiệm mà nhà quản lý trung tâm trách nhiệm đó được giao Trong thực tế, để có thể phân loại các bộ phận, đơn vị trong tổ chức vào các trung tâm trách nhiệm hợp lý thì nên căn cứ vào nhiệm vụ chính của bộ phận, đơn vị đó
1.2.3 Báo cáo thành quả của các trung tâm trách nhiệm
Thành quả của mỗi trung tâm trách nhiệm được tổng hợp định kỳ trên một báo cáo kế toán trách nhiệm (gọi tắt là báo cáo trách nhiệm) Báo cáo trách nhiệm của từng trung tâm sẽ phản ánh kết quả tài chính chủ yếu theo thực tế và theo dự toán, đồng thời chỉ ra các chênh lệch giữa kết quả thực tế
so với dự toán, theo từng chỉ tiêu được chuyển tải trong báo cáo phù hợp với từng loại trung tâm trách nhiệm
Căn cứ vào trách nhiệm báo cáo thì hệ thống báo cáo trách nhiệm được
Trang 26chia thành bốn nhóm báo cáo, ứng với bốn loại trung tâm trách nhiệm sau:
- Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí
- Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu
- Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận
- Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm đầu tư
Báo cáo trách nhiệm được thiết kế chứa đựng những thông tin về các dữ liệu tài chính, theo các trung tâm trách nhiệm trong một tổ chức và cho các cấp quản lý khác nhau, thông qua việc tính những khoản doanh thu, chi phí
mà một nhà quản lý nào đó có thể kiểm soát được đối với bộ phận mình Đồng thời, số lượng các cấp quản lý trong một trung tâm trách nhiệm tùy thuộc vào cấu trúc tổ chức của doanh nghiệp
Trong thực tế không có mẫu biểu chính xác và chi tiết của một bảng báo cáo kết quả hoạt động của từng bộ phận trong các doanh nghiệp, mà vấn đề này phụ thuộc vào đặc thù của từng tổ chức kinh tế, từng doanh nghiệp cụ thể
và bản chất của trung tâm trách nhiệm.Những báo cáo kết quả hoạt động này thường phải tương thích với cấu trúc tổ chức của doanh nghiệp Tại những bộ phận quản lý cấp cao, những báo cáo có khuynh hướng trình bày tổng hợp, ít các sự kiện, ít chi tiết và nhiều sự tổng hợp của các đơn vị sản xuất kinh doanh bộ phận
Tùy theo mỗi loại trung tâm trách nhiệm mà nội dung báo cáo sẽ khác nhau và mang đặc trưng riêng, cụ thể như sau:
a Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí
Báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí là bảng so sánh chi phí thực hiện và dự toán, và xác định mức chênh lệch giữa chi phí thực hiện so với dự toán Ngoài ra các chênh lệch này còn có thể được phân tích chi tiết tùy theo yêu cầu quản lý thành các biến động theo các nhân tố cấu thành chi phí đó Các báo cáo của các trung tâm chi phí được trình bày theo các cấp quản
Trang 27lý tương ứng với các bộ phận thuộc trung tâm Báo cáo sẽ được thực hiện theo luồng thông tin từ dưới lên trên và trách nhiệm chi tiết đến từng bộ phận
sẽ tùy thuộc vào cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý của công ty
b Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu
Báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu là báo cáo nhằm đánh giá trách nhiệm và thành quả hoạt động, dựa trên báo cáo thực hiện doanh thu thực tế so với doanh thu kế hoạch ban đầu, đồng thời kèm theo phân tích ảnh hưởng của các nhân tố như giá bán, sản lượng tiêu thụ, cơ cấu sản phẩm tiêu thụ đến sự biến động doanh thu của trung tâm.Báo cáo của trung tâm doanh thu có thể phân thành những bộ phận khác nhau như theo chi nhánh, khu vực địa lý, theo cửa hàng, theo nhóm sản phẩm tiêu thụ… phù hợp với yêu cầu quản lý doanh thu của nhà quản trị Và cũng tương tự như trung tâm chi phí, mức độ chi tiết theo các cấp độ quản lý sẽ tùy thuộc vào cơ cấu tổ chức của công ty
c Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận
Báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận là các báo cáo nhằm đánh giá trách nhiệm của trung tâm này dựa trên Báo cáo kết quả kinh doanh và thường được trình bày theo dạng số dư đảm phí, nhằm xác định số dư của từng bộ phận trong phạm vi được phân cấp và kiểm soát về chi phí, doanh thu của họ, đồng thời qua đó cũng đánh giá được phần đóng góp của từng bộ phận vào lợi nhuận chung của công ty Để đánh giá trách nhiệm của từng trung tâm lợi nhuận, người ta có thể hoặc so sánh kết quả thực hiện với dự toán, hoặc so sánh tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu với tỷ lệ chung của toàn đơn vị hoặc của Ngành
d Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm đầu tư
Báo cáo trách nhiệm của trung tâm đầu tư là báo cáo để đánh giá việc phân phối, huy động và sử dụng vốn của nhà quản lý Để đánh giá trách
Trang 28nhiệm của trung tâm đầu tư, nhà quản trị thường sử dụng báo cáo thông qua các chỉ tiêu cơ bản như: Tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI), Lãi thặng dư (RI) Tóm lại, Báo cáo trách nhiệm là sản phẩm cuối cùng của hệ thống trách nhiệm, là một bộ phận quan trọng trong hệ thống báo cáo kế toán quản trị doanh nghiệp Mỗi trung tâm trách nhiệm, mỗi bộ phận sẽ có báo cáo riêng mang tính chất đặc thù, trong đó nội dung báo cáo gắn liền với các chỉ tiêu nhằm đánh giá hoạt động của các trung tâm trách nhiệm hay bộ phận đó Trong thực tế không có mẫu biểu chính xác và chi tiết của một bảng báo cáo kết quả hoạt động của từng bộ phận trong các doanh nghiệp, mà vấn đề này phụ thuộc vào từng tổ chức kinh tế, từng doanh nghiệp cụ thể và bản chất của trung tâm trách nhiệm [4]
1.2.4 Đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm
a Đánh giá thành quả của trung tâm chi phí
Cần phân biệt làm hai dạng là trung tâm chi phí định mức và trung tâm chi phí linh hoạt Thông tin chủ yếu sử dụng để đánh giá thành quả của các nhà quản trị ở trung tâm chi phí là chi phí có thể kiểm soát bởi từng nhà quản trị đối với bộ phận do mình phụ trách
Nhà quản trị trung tâm chi phí có trách nhiệm điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh ở trung tâm sao cho đạt được kế hoạch được giao, đồng thời đảm bảo chi phí thực tế phát sinh không được vượt quá chi phí định mức Do
đó, khi đánh giá trách nhiệm quản trị cũng như đo lường kết quả hoạt động của loại trung tâm này, ta cần đánh giá hai nội dung cơ bản sau:
Chỉ tiêu đo lường được sử dụng để đánh giá:
Chênh lệch chi phí = Chi phí thực tế - Chi phí dự toán Ngoài ra, ta còn phải phân tích biến động để xác định nhân tố nào ảnh hưởng đến chi phí:
Biến động về lượng = Giá dự toán x (Lượng thực tế - Lượng dự toán)
Trang 29Biến động về giá = (Giá thực tế - Giá dự toán) x Lượng thực tế
Trung tâm chi phí được xem là kiểm soát và đáp ứng được mục tiêu của
tổ chức khi chênh lệch về chi phí nhỏ hơn hoặc bằng không (0) Ngược lại, nếu xuất hiện một chênh lệch dương là dấu hiệu bất lợi, dấu hiệu này có thể bắt nguồn từ những tác động bất lợi từ tình hình sản xuất, tình hình cung ứng vật tư, lao động, dịch vụ, tình hình điều hành của nhà quản lý trung tâm chi phí và đôi khi là những sai sót bất cẩn Khi đánh giá trách nhiệm của trung tâm chi phí, điều mà người quản lý cần quan tâm là việc giải thích nguyên nhân nhằm tìm ra những khó khăn để khắc phục khi hoàn thành trách nhiệm
và mục tiêu chung của tổ chức
b Đánh giá thành quả của trung tâm doanh thu
Trách nhiệm của nhà quản trị ở trung tâm doanh thu là tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ sao cho đạt được doanh thu trong kỳ nhiều nhất của bộ phận do mình kiểm soát
Chỉ tiêu cơ bản được sử dụng để đánh giá:
Chênh lệch doanh thu = Doanh thu thực tế - Doanh thu dự toán Theo đó, ta sẽ đối chiếu doanh thu thực tế đạt được so với dự toán của bộ phận, xem xét tình hình thực hiện dự toán doanh thu, trên cơ sở đó phân tích chênh lệch doanh thu do ảnh hưởng của các nhân tố liên quan như đơn giá bán, khối lượng tiêu thụ và cơ cấu sản phẩm tiêu thụ
Trung tâm doanh thu được xem là đạt được thành quả tài chính trong việc đóng góp vào mục tiêu chung của tổ chức khi đạt được mức chênh lệch doanh thu lớn hơn hoặc bằng không (0), ngược lại nếu là các dấu hiệu âm thì đây là điều bất lợi Dấu hiệu này thể hiện một số biến cố bất thường về tình hình kiểm soát, thực hiện quá trình tiêu thụ về mặt số lượng sản phẩm, giá cả, chính sách tiêu thụ tại trung tâm Thông thường đây là những biến cố phức tạp ảnh hưởng tổng hợp từ những nhân tố khách quan như tình hình thị
Trang 30trường, chính sách kinh tế của nhà nước, chính sách tiêu thụ của công ty… do đó cần phải xem xét cụ thể nguyên nhân từ đâu để từ đó tìm ra giải pháp khắc phục
c Đánh giá thành quả của trung tâm lợi nhuận
Trách nhiệm của nhà quản trị ở trung tâm lợi nhuận là tổ chức hoạt động kinh doanh sao cho lợi nhuận đạt được là cao nhất Do lợi nhuận tạo ra trong
kỳ của doanh nghiệp là phần còn lại của doanh thu sau khi trừ đi chi phí phát sinh tương ứng với doanh thu đó, nên doanh thu và chi phí là hai nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận
Đối với chỉ tiêu lợi nhuận, cần xác định chênh lệch giữa lợi nhuận thực hiện so với kế hoạch được giao Chỉ tiêu đánh giá như sau:
Chênh lệch lợi nhuận = Lợi nhuận thực tế - Lợi nhuận dự toán Khi đánh giá chênh lệch giữa lợi nhuận thực hiện so với lợi nhuận dự toán ta cần tiến hành phân tích xác định các nhân tố ảnh hưởng, trên cơ sở đó xác định các nguyên nhân chủ quan và khách quan làm biến động lợi nhuận, các nhân tố đó có thể là khối lượng sản phẩm tiêu thụ, giá thành sản xuất của sản phẩm, giá bán sản phẩm, kết cấu mặt hàng tiêu thụ, thuế suất…
Nếu thành quả của trung tâm lợi nhuận đạt dấu dương thì đây là một dấu hiệu tích cực, và ngược lại khi chênh lệch lợi nhuận mang dấu âm thì đó là dấu hiệu bất lợi mà nhà quản lý cần phải giải thích
d Đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư
Trung tâm đầu tư với cương vị là cấp quản lý cao nhất, có đầy đủ quyền hạn để ra quyết định đầu tư trên phạm vi toàn doanh nghiệp Những quyết định đầu tư của trung tâm sẽ có ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Việc đánh giá kết quả của trung tâm đầu tư được thể hiện qua các chỉ tiêu cơ bản như: tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI), lãi thặng dư (RI)
v Tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI)
Mục tiêu của việc sử dụng ROI là việc đánh giá hiệu quả đầu tư của các
Trang 31trung tâm đầu tư và các doanh nghiệp với quy mô vốn khác nhau, để phân tích xem nơi nào đạt hiệu quả cao nhất, từ đó làm cơ sở đánh giá thành quả quản lý Bên cạnh đó còn sử dụng ROI để tìm ra nhân tố tác động đến hiệu quả quản lý, nhằm tìm ra các giải pháp để làm cho kết quả hoạt động được tốt hơn Đó là các biện pháp cải thiện doanh thu, kiểm soát chi phí hay tính lại cơ cấu vốn đầu tư
Tỷ suất hoàn vốn đầu tư có thể chi tiết qua hệ thống các chỉ tiêu sau:
Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu phản ánh khả năng sinh lợi của doanh thu Nếu tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu tăng và các yếu tố khác không đổi thì tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư sẽ tăng
Số vòng quay vốn phản ảnh hiệu quả của việc sử dụng vốn, thể hiện một đồng vốn đầu tư thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận và lợi nhuận càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao Số vòng quay vốn tăng mà những yếu tố khác không đổi thì tỷ lệ hoàn vốn đầu tư sẽ tăng
Tỷ lệ hoàn
vốn ROI
Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu
Tỷ lệdoanh thu trên vốn
Lợi nhuận
Doanh thu Doanh thu
Vốn đầu tư
Doanh thu
Chi phí hoạt động
Vốn ngắn hạn
Vốn dài hạn
Trang 32Như vậy, công thức tính ROI đã kết hợp nhiều lĩnh vực trách nhiệm của người quản lý thành một chỉ tiêu Chỉ tiêu ROI được dùng để so sánh quá trình hoàn vốn giữa các trung tâm đầu tư khác nhau, cũng như giữa các bộ phận khác nhau trong công ty
v Lãi thặng dư (RI)
Lãi thặng dư (hay lợi tức còn lại) là khoản thu nhập của bộ phận hay toàn doanh nghiệp, được trừ đi chi phí sử dụng vốn mong đợi đã đầu tư vào
bộ phận đó Chỉ số này nhấn mạnh thêm khả năng sinh lời vượt trên chi phí sử dụng vốn đã đầu tư vào một bộ phận hay doanh nghiệp
Mục tiêu của việc sử dụng chỉ số RI là cho biết lợi nhuận thực tế đã mang lại là bao nhiêu sau khi trừ đi các khoản chi phí sử dụng vốn để có được lợi nhuận trên Ngoài ra, việc sử dụng chỉ số RI còn cho biết có nên đầu tư gia tăng hay không, mà khi sử dụng chỉ số ROI không đủ cơ sở để quyết định Công thức tính lãi thặng dư:
Lãi thặng dư RI = Lợi nhuận trung tâm đầu tư – Chi phí vốn sử dụng Chi phí vốn sử dụng = Vốn đầu tư của trung tâm đầu tư x Tỷ lệ lãi suất Chi phí sử dụng vốn là những chi phí mà trung tâm đầu tư phải bỏ ra để
có được vốn đầu tư Tỷ lệ lãi suất do doanh nghiệp quy định trong từng thời
kỳ nhưng ít nhất phải lớn hơn lãi suất nợ vay Tỷ lệ lãi suất này còn được gọi
là tỷ lệ hoàn vốn tối thiểu
Ký hiệu : ROIhh : Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư hiện hành
ROItt : Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư tối thiểu
Trang 33RI = ( ROIhh - ROItt ) x Vốn đầu tư của trung tâm đầu tư
Chi phí sử dụng vốn (R) = Vốn sử dụng x Lãi suất sử dụng vốn
Chỉ tiêu RI là con số tuyệt đối, nó sẽ cho biết lợi nhuận thực tế đã mang
về là bao nhiêu sau khi trừ đi các khoản chi phí sử dụng vốn đã đầu tư để có được lợi nhuận trên
Tóm lại, cả ROI và RI đều có những hạn chế nhất định trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các trung tâm đầu tư ROI có thể không đảm bảo tính thống nhất mục tiêu hoạt động của tổ chức Sử dụng RI thì không đảm bảo tính hợp lý trong việc so sánh hiệu quả của các trung tâm đầu tư có quy
mô khác nhau Vì vậy, các doanh nghiệp nên sử dụng phối hợp hai phương pháp đánh giá này Ngoài ra những chỉ tiêu đánh giá khác, bao gồm cả những chỉ tiêu tài chính và phi tài chính (như mức tăng trưởng doanh thu, thị phần…) cũng được kết hợp để sử dụng đánh giá [5]
Trang 34KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Kế toán trách nhiệm là một bộ phận quan trọng của kế toán quản trị, đó
là một công cụ để đánh giá thành quả quản lý của các cấp quản trị một cách đúng đắn và đầy đủ Qua đó giúp doanh nghiệp kiểm soát chi phí, doanh thu, lợi nhuận và vốn đầu tư một cách hiệu quả Trước những yêu cầu phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp buộc phải chủ động sáng tạo mở rộng thị trường, tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận nhằm phát huy sức mạnh để cạnh tranh trong tình hình mới Tất cả những vấn đề trên đòi hỏi các doanh nghiệp phải thay đổi tổ chức công tác kế toán cho phù hợp theo hướng đáp ứng ngày càng tốt hơn cho quản trị doanh nghiệp
Chương 1 giới thiệu tổng quát một số kiến thức cơ bản về kế toán trách nhiệm làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu các chương tiếp theo Trong một
tổ chức phân quyền có thể chia thành 4 trung tâm trách nhiệm là trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư Mỗi trung tâm sẽ tương ứng với một cấp quản trị thích hợp, phụ thuộc vào quyền kiểm soát của nhà quản trị đối với trung tâm đó Tùy theo từng trung tâm, kế toán trách nhiệm sẽ có những công cụ, chỉ tiêu thích hợp để đánh giá thành quả của
nó, nhưng về cơ bản những công cụ, chỉ tiêu này được hướng đến đánh giá về mặt lượng nhằm đo lường vai trò, vị trí, quy mô đóng góp của mỗi trung tâm với mục tiêu chung của tổ chức và đánh giá về mặt chất, mặt hiệu suất nhằm
đo lường trình độ của các trung tâm trong mục tiêu chung của tổ chức
Việc đánh giá đầy đủ, chính xác thành quả quản lý của các cấp quản trị
sẽ giúp doanh nghiệp có được các thông tin quan trọng trong việc đưa ra các phương thức hiệu quả nhất hướng đến mục tiêu chung của tổ chức Đây chính
là tiền đề để tìm hiểu về thực trạng kế toán trách nhiệm và phương hướng hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần dịch vụ & vận tải ô tô 6
Trang 35Công ty cổ phần dịch vụ& vận tải ô tô 6 là công ty cổ phần làm nhiệm
vụ kinh doanh vận tải hàng hóa đường bộ và tổ chức dịch vụ đại lý vận tải Tên công ty viết bằng tiếng Việt: Công ty cổ phần dịch vụ& vận tải ô tô
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần dịch
vụ & vận tải ô tô số 6
Công ty cổ phần dịch vụ & vận tải ô tô số 6 là công ty cổ phần chủ yếu làm nhiệm vụ kinh doanh vận tải hàng hóa đường bộ và tổ chức dịch vụ đại lý vận tải tại mọi miền trên cả nước
Tiền thân của công ty cổ phần dịch vụ & vận tải ô tô 6 hôm nay là xí nghiệp hàng quá cảnh C5 và C15 thuộc vận tải “C” cục đường bộ Việt Nam, chuyên làm nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa của cộng đồng quốc tế quá cảnh sang Việt Nam, giúp đỡ nhân dân các bộ tộc Lào, Campuchia Hoạt động phục vụ nhiệm vụ chính trị không vì mục đích kinh tế, không vì mục đích lợi nhuận
Năm 1983 để phù hợp với điều kiện trong nước và khu vực, Bộ giao thông vận tải có quyết định số 773/QĐ-TCCB ngày 11/4/1983 cho phép đổi
Trang 36tên xí nghiệp hàng quá cảnh C15 thành công ty vận tải ô tô 6 là đơn vị hạch toán nội bộ thuộc tổng công ty vận tải hàng quá cảnh Việt Nam
Đầu năm 1986, năm đầu tiên thực hiện công cuộc đổi mới với việc sáp nhập tổng công ty vận tải hàng quá cảnh Việt Nam và tổng công ty vận tải Việt Nam, đổi tên thành hội liên hiệp các xí nghiệp vận tải ô tô số 6 Bộ qiao thông vận tải có quyết định số 531- QĐ/TCCB ngày 10/3/1986 đổi tên công
ty vận tải ô tô 6 thành xí nghiệp vận tải ô tô 6, đồng thời sát nhập thêm xí nghiệp vận tải hàng quá cảnh C5 (lúc bấy giờ thuộc công ty vận tải ô tô số 5) vừa được chuyển từ Vinh về thị xã Đông Hà- Quảng Trị nhằm tăng cường lực lượng vận chuyển hàng quốc lộ 9 kéo dài tuyến hoạt động đến Viêng Chăn- Lào
Trong những năm đầu thập niên 90, với sự ra đời của nghị định số 383 ngày 20/11/1991 về định hướng phát triển kinh tế đất nước Nền kinh tế nước
ta có những chuyển biến sâu sắc theo cơ chế thị trường, sự cạnh tranh từ nhiều thành phần kinh tế bắt đầu gay gắt Trong thời gian đó liên hiệp các xí nghiệp vận tải ô tô Việt Nam giải thể, cũng như các xí nghiệp vận tải khác –
xí nghiệp vận tải ô tố số 6 đã làm đơn xin thành lập doanh nghiệp nhà nước Ngày 8/3/1993 bộ giao thông vận tải có quyết định số 343/ QĐ – TCCB-
LĐ cho phép đổi tên xí nghiệp vận tải ô tô số 6 thành công ty vận tải ô tô số 6 thuộc quản lý của cục đường bộ Việt Nam- là doanh nghiệp nhà nước, hạch toán độc lập và được trọng tài kinh tế Quảng Nam- Đà Nẵng cấp giấy phép kinh doanh số 104001 ngày 24/3/1993
Đến nay, công ty cổ phần dịch vụ & vận tải ô tô số 6 được thành lập theo quyết định số 3804/ QĐ- BGTVT , ngày 9/12/2004 của bộ trưởng bộ giao thông vận tải, phê duyệt phương án chuyển công ty vận tải ô tô số 6 thuộc cục đường bộ Việt Nam thành công ty cổ phần, là đơn vị có tư cách pháp nhân, theo pháp luật Việt Nam, thực hiện chế độ hạch toán độc lập, có con dấu riêng
Trang 37và được mở tài khoản riêng tại ngân hàng theo quy định của pháp luật và được sở kế hoạch và đầu tư thành phố Đà Nẵng cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh vận tải số 32030000869 ngày 01/02/2006
Do đặc thù của ngành vận tải nên địa bàn hoạt động rất rộng, công ty liên tục phát triển, đổi mới về mặt cơ cấu và tổ chức, để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa trên mọi đường trong cả nước
Trong thời gian hoạt động công ty cổ phần dịch vụ và vận tải ô tô 6 đã không ngừng nâng cao năng lực quản lý tăng cường khai thác mạng lưới vận tải trên toàn quốc, mở rộng các ngành nghề kinh doanh như: san lấp mặt bằng, sửa chữa, gia công cơ khí, hoán tải phương tiện vận tải, kinh doanh thiết bị phụ tùng vật tư, ô tô, dịch vụ cho thuê bên bãi, kho hàng
Hiện nay, công ty cổ phần dịch vụ và vận tải ô tô 6 là 1 trong những DN vận tải đường bộ lớn tại Việt Nam
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty cổ phần dịch vụ & vận tải ô
tô 6
a Chức năng
Công ty cổ phần dịch vụ và vận tải ô tô 6 là công ty cổ phần chịu sự quản lý của nhà nước Tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tự chủ trong việc kí kết hợp đồng kinh tế, liên doanh liên kết trong nước và nước ngoài, tự bổ sung đổi mới phương tiện đầu tư trang thiết bị cho công ty Là công ty thực hiện chế độ hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước bảo đảm việc làm, nâng cao đời sống cho người lao động
b Nhiệm vụ
- Thực hiện vận tải hàng hóa đường bộ
- Sữa chữa, cải tạo phương tiện vận tải đường bộ
Trang 38- Kinh doanh vật tư, phụ tùng, xăng dầu, phương tiện vận tải đường bộ
- Kinh doanh kho bãi, san lấp mặt bằng thi công
- Chấp hành chính sách chế độ và pháp luật nhà nước
- Đảm bảo vệ sinh môi trường, an toàn lao động, bảo vệ tài sản, phòng cháy chữa cháy, an ninh kinh tế, chính trị xã hội và nội bộ
- Thúc đẩy nền kinh tế nhiều thành phần ngày càng phát triển
2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý tại Công ty cổ phần dịch vụ & vận tải ô
tô số 6
a Mô hình tổ chức quản lý của công ty
Trang 39Ghi chú: Quan hệ trực tuyến
Trang 40b Chức năng, nhiệm vụ từng đơn vị, bộ phận
Các bộ phận quản lý:
- Đại hội đồng cổ đông: bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết,
là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của công ty, quyết định những vấn đề được luật pháp và điều lệ công ty quy định Tổ chức đại hội thường niên hoặc bất thường ít nhất mỗi năm một lần do chủ tịch hội đồng triệu tập Các cổ đông sẽ thông qua các Báo cáo tài chính hàng năm của công ty và ngân sách tài chính cho năm tiếp theo
- Hội đồng quản trị: Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông bầu ra,
là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị xây dựng định hướng, chính sách tồn tại và phát triển để thực hiện các quyết định của Đại hội đồng
cổ đông thông qua việc hoạch định chính sách, ra nghị quyết hành động cho từng thời điểm phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của công ty Hiện tại Hội đồng quản trị công ty có 5 thành viên
- Ban kiểm soát: do Đại hội đồng cổ đông bầu ra Hiện tại ban kiểm soát công ty gồm 3 thành viên, có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong điều hành hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính của công ty Ban kiểm soát hoạt động độc lập với Hội đồng quản trị và Ban Tổng giám đốc Ban kiểm soát chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông và pháp luật về những công việc thực hiện của mình
- Tổng giám đốc: là người đứng đầu bộ máy điều hành công ty Tổng giám đốc là người điều hành mọi hoạt động kinh doanh hàng ngày của công
ty, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về tổ chức quản lý, điều hành theo đúng pháp luật, điều lệ công ty, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông và