Tính cấp thiết của đề tài Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp, nó cung cấp những thông tin về tình hình phân bổ tài sản, tìn
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRẦN NGUYỄN MINH ĐAN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CÔNG NGHỆ HÓA SINH VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Đà Nẵng – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRẦN NGUYỄN MINH ĐAN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CÔNG NGHỆ HÓA SINH VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LE VAN HUY
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Nguyễn Minh Đan
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Những đóng góp của đề tài 3
7 Kết cấu của đề tài 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 7
1.1.NHỮNG VẤNĐỀ CƠ BẢNVỀ CÔNG TÁCPHÂN TÍCH TÀICHÍNH DOANHNGHIỆP 7
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính 7
1.1.2 Mục tiêu của phân tích tài chính 7
1.2 THÔNG TIN VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 8
1.2.1 Tài liệu, thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp 8 1.2.1 Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 11
1.3.NỘIDUNGPHÂNTÍCHTÀICHÍNHDOANHNGHIỆP 15
1.3.1 Phân tích khái quát Bảng cân đối kế toán 15
1.3.2 Phân tích khái quát Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 18
1.3.3 Phân tích các tỷ số tài chính 20
1.3.4 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn 25
1.4.CÔNGTÁCPHÂNTÍCHTÀICHÍNHTRONGDOANHNGHIỆP 26
1.4.1 Cách tổ chức phân tích 26
Trang 51.4.3 Sử dụng kết quả phân tích 28
1.5 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNHTRONGDOANHNGHIỆP 29
1.5.1 Nhân tố chủ quan 29
1.5.2 Nhân tố khách quan 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CÔNG NGHỆ HÓA SINH VIỆT NAM 31
2.1.TỔNGQUANVỀCÔNGTYCÔNGNGHỆHÓASINHVIỆTNAM 31
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 31
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty 31
2.1.3 Các ngành nghề kinh doanh của Công ty 33
2.1.4 Đặc điểm cơ cấu tổ chức tại Công ty 33
2.1.5 Tổ chức bộ máy kế toán và công tác kế toán tại Công ty 37
2.1.6 Tình hình hoạt động của Công ty trong những năm gần đây 40
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNHTẠI CÔNG TY CÔNGNGHỆHÓASINHVIỆTNAM 43
2.2.1 Về mục tiêu phân tích 43
2.2.2 Về thông tin sử dụng 43
2.2.3 Về phương pháp phân tích 44
2.2.4 Về cách tổ chức phân tích 44
2.2.5 Về quy trình phân tích 45
2.2.6 Về nội dung 47
2.2.7 Về sử dụng kết quả phân tích 66
2.3.MỘTSỐĐÁNHGIÁCÔNGTÁCPHÂNTÍCHTÀICHÍNHTẠICÔNG TY 68
2.3.1 Thành tựu đạt được 68
Trang 6CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI
CHÍNH TẠI CÔNG TY CÔNG NGHỆ HÓA SINH VIỆT NAM 71
3.1.ĐỊNHHƯỚNGPHÁTTRIỂNTRONGTHỜIGIANĐẾN 71
3.1.1 Định hướng trong sản xuất kinh doanh 71
3.1.2 Định hướng trong quản lý tài chính 71
3.2.GIẢI PHÁPHOÀNTHIỆN CÔNGTÁC PHÂNTÍCH TÀI CHÍNHTẠI CÔNGTYCÔNGNGHỆHÓASINHVIỆTNAM 72
3.2.1 Hoàn thiện tổ chức và quy trình phân tích tài chính 72
3.2.2 Nâng cao chất lượng nguồn thông tin sử dụng 72
3.2.3 Hoàn thiện phương pháp phân tích 73
3.2.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 74
3.2.5 Nâng cao trình độ công nghệ phục vụ công tác phân tích 75
3.2.6 Hoàn thiện nội dung phân tích 75
3.3.KIẾNNGHỊCHUNG 80
KẾT LUẬN 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7BCĐKT Bảng cân đối kế toán NCVLĐ Nhu cầu vốn lưu động NVTT Nguồn vốn tạm thời
NVTX Nguồn vốn thường xuyên TSCĐ Tài sản cố định
VLĐ Vốn lưu động
Trang 82.9 Khả năng thanh toán của Công ty CP Dƣợc Thú y
Cai Lậy
56
2.11 Hiệu quả hoạt động của Công ty CP Dƣợc Thú y
Cai Lậy
59
2.13 Khả năng sinh lời của Công ty Cổ phần Dƣợc Thú y
Trang 9Số hiệu
sơ đồ và
biểu đồ
Tên sơ đồ và biểu đồ Trang
2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty Công nghệ Hóa sinh
Việt Nam
33
2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán của Công ty
Công nghệ Hóa sinh Việt Nam
37
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp, nó cung cấp những thông tin về tình hình phân bổ tài sản, tình hình huy động và sử dụng vốn, cấu trúc tài chính, hiệu quả kinh doanh, rủi ro kinh doanh, sức mạnh tài chính… của doanh nghiệp Những thông tin này là mối quan tâm của rất nhiều đối tượng như nhà đầu tư, người cho vay, Nhà nước… nhưng nó đặc biệt quan trọng với các nhà quản lý doanh nghiệp vì đây sẽ là cơ sở nền tảng để nhà quản lý doanh nghiệp có thể đưa ra những quyết định về tài trợ tài sản, chính sách huy động và sử dụng vốn, chính sách đầu tư, tín dụng, xác định được những điểm mạnh, điểm yếu trong quá trình hoạt động, trong công tác quản lý doanh nghiệp để giúp cho doanh nghiệp có được một cấu trúc tài chính lành mạnh, tránh được các rủi ro trong tương lai, ngày càng phát triển mạnh mẽ
Công ty Công nghệ Hóa sinh Việt Nam là một trong những Công ty hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất các chế phẩm sinh học, thức ăn chăn nuôi và thuốc thủy sản, Công ty đã đạt được rất nhiều danh hiệu cũng như giải thưởng dành cho những đóng góp của mình trong việc phục vụ nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Từ năm 2010, Công ty bắt đầu thực hiện công tác phân tích tài chính sau khi nhận ra được tầm quan trọng của công tác này đối với quản trị tài chính Tuy nhiên, công tác phân tích tài chính ở Công ty vẫn chưa được nhìn nhận và đánh giá đúng mức, việc phân tích vẫn ở mức sử dụng các phương pháp đơn giản, mà chưa xây dựng được một hệ thống đánh giá hoàn thiện
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi nhận thấy việc hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Công nghệ Hóa sinh Việt Nam là rất cần thiết Việc
Trang 11hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty sẽ giúp hoạch định được chiến lược kinh doanh và phát triển rõ ràng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản trị tài chính, giúp tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh, hiệu quả tài chính, giảm thiểu các rủi ro có thể gặp phải, đồng thời làm tăng giá trị doanh nghiệp
Luận văn: “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Công nghệ Hóa sinh Việt Nam” ra đời nhằm đáp ứng những nhu cầu trên
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng công tác phân tích tài chính của Công ty Công nghệ Hóa sinh Việt Nam trong giai đoạn năm 2012 đến năm 2014
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị mang tính thực tiễn nhằm góp phần hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Công nghệ Hóa sinh Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng công tác phân tích tài chính của Công ty Công nghệ Hóa sinh Việt Nam những năm qua ra sao? Thành tựu đạt được, hạn chế tồn tại và nguyên nhân?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến tổ chức, nội dung và phương pháp phân tích tài chính trong Công ty?
- Những giải pháp và đề xuất nào thích hợp để hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Công nghệ Hóa sinh Việt Nam?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức công tác phân tích tài chính tại Công ty Công nghệ Hóa sinh Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng công tác phân tích tài chính của Công
ty Công nghệ Hóa Sinh Việt Nam trong 3 năm từ năm 2012 đến năm 2014
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, thống kê và xử lý dữ liệu: Thông qua các sách, luận văn có liên quan, kế thừa và phát huy những giá trị mà các công trình nghiên cứu đi trước đã đạt được Thông qua báo cáo tài chính của Công ty,
tổng hợp và cập nhật số liệu làm minh chứng cho vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và đánh giá: Dựa trên những thông tin, số liệu thu thập được, sử dụng kết hợp các phương pháp so sánh, phân tích để tìm ra những nội dung còn thiếu trong công tác phân tích tài chính của
Công ty trong 3 năm 2012 - 2014
- Phương pháp trình bày dữ liệu: Các kết quả của quá trình nghiên cứu
và tìm hiểu về công tác phân tích tài chính của Công ty được trình bày chi tiết, cụ thể, được tổng hợp thông qua hệ thống bảng biểu cũng như mô tả bằng
các sơ đồ, biểu đồ
6 Những đóng góp của đề tài
Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề mang tính lý luận về công tác phân tích tài chính trong doanh nghiệp, phân tích và đánh giá một cách khách quan thực trạng cũng như phát hiện ra những tồn tại hiện hữu trong công tác phân tích tài chính tại Công ty Công nghệ Hóa sinh Việt Nam Đồng thời, đề xuất các giải pháp, kiến nghị mang tính xây dựng nhằm góp phần hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Công nghệ Hóa sinh Việt Nam
7 Kết cấu của đề tài
Kết cấu của đề tài gồm 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác phân tích tài chính doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác phân tích tài chính tại Công ty Công nghệ Hóa sinh Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty
Trang 13Công nghệ Hóa sinh Việt Nam
Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Những nghiên cứu về công tác phân tích tài chính trong các doanh nghiệp nói chung đã được rất nhiều nhà nghiên cứu đề cập thông qua các công trình khoa học, sách chuyên ngành, các bài viết trên tạp chí, luận văn, luận án… Nhìn chung, mỗi công trình đều có những quan điểm khác nhau về những vấn đề tổng quan của công tác phân tích tài chính và nội dung công tác phân tích tài chính Và việc nghiên cứu tổng quan các công trình có liên quan đến đề tài có ý nghĩa quan trọng, giúp tác giả hệ thống hóa được những vấn
đề mang tính lý luận chung về công tác phân tích tài chính doanh nghiệp Bên cạnh đó, làm rõ được những vấn đề đã được nghiên cứu và những khoảng trống để làm định hướng cho nghiên cứu của mình
Nghiên cứu của Trần Thị Phương Thảo (2010) với đề tài: “Hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính tại Tổng Công ty Xây dựng Công trình Giao thông 5” Tác giả đã trình bày những vấn đề cơ bản về phân tích báo cáo tài chính như nội dung, phương pháp phân tích Trình bày khái quát thực trạng công tác phân tích tài chính tại Tổng Công ty Xây dựng công trình giao thông 5 về mục tiêu, tài liệu phục vụ cũng như nội dung, phương pháp phân tích Tác giả đưa ra những đánh giá về công tác phân tích tài chính tại Tổng Công ty, những hạn chế tồn tại và nguyên nhân
Dựa trên lý luận và thực tế đó, tác giả đưa ra phương hướng hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Tổng Công ty công trình giao thông 5 dựa trên việc xác định mục tiêu là phục vụ nhu cầu thông tin cho Ban lãnh đạo trong công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty nói chung
và các đơn vị trực thuộc nói riêng Tác giả đề xuất các biện pháp hoàn thiện nội dung, phương pháp phân tích, tài liệu phục vụ công tác và một số kiến nghị đối với Tổng Công ty để thực hiện tốt các biện pháp đó
Trang 14Nghiên cứu của Lê Thị Kim Anh (2012) với đề tài: “Hoàn thiện phân tích tài chính tại Công Ty TNHH Tâm Châu” Tác giả đã trình bày những lý luận về vị trí và vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp; khái niệm, mục tiêu và các vấn đề xoay quanh công tác phân tích tài chính trong doanh nghiệp Dựa trên cơ sở lý luận đó, tác giả đã phản ánh thực trạng phân tích tài chính tại Công ty TNHH Tâm Châu về mục tiêu, căn cứ, nội dung, quy trình,
tổ chức và đưa ra đánh giá của mình về những thành tựu, hạn chế cũng như nguyên nhân Với mục tiêu là nâng cao hiệu quả quản trị tài chính cho Công
ty TNHH Tâm Châu, tác giả đã đề xuất được tám nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện các nội dung của công tác phân tích tài chính tại Công ty bao gồm cả vấn đề nhân sự và quy chế
Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Cường (2013) với đề tài: “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam” tuy cùng hướng nghiên cứu nhưng doanh nghiệp ở đây là Ngân hàng Thương mại có hoạt động mang tính đặc thù nên nghiên cứu cũng mang một số điểm khác biệt Ngoài những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp, tác giả còn trình bày một số lý luận về đặc điểm phân tích tài chính của Ngân hàng Thương mại, nội dung phân tích tài chính trong Ngân hàng Thương mại cũng có đôi chút khác biệt: trong phân tích cơ cấu tài sản – nguồn vốn, tác giả tập trung phân tích hoạt động tín dụng và hoạt động huy động vốn; trong phân tích khả năng thanh toán, ngoài những chỉ tiêu cơ bản, tác giả còn phân tích các tỷ lệ dư nợ cho vay so với số dư tiền gửi, tỷ lệ vốn ngắn hạn, dư nợ trung dài hạn…
Tác giả cũng phản ánh thực trạng phân tích tài chính của Ngân hàng và đưa ra những nhận xét đánh giá của mình Dựa trên lý luận, thực tế đó và đặc thù của ngành Ngân hàng, tác giả đã đề xuất được một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Trang 15Trong lĩnh vực phân tích báo cáo tài chính khách hàng phục vụ hoạt động cho vay của ngân hàng, đề tài “Hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính khách hàng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bình Định” của Phạm Việt Hòa (2012), đã trình bày cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp để phục vụ cho hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại, đánh giá thực trạng công tác phân tích tài chính doanh nghiệp để phục vụ hoạt động cho vay tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Qua đó, tác giả đã nêu lên những thành tựu và hạn chế, cũng như tìm hiểu nguyên nhân của những hạn chế đó nhằm phục vụ cho hoạt động cho vay tại ngân hàng Cuối cùng, tác giả cũng đưa ra một số giải pháp thiết thực để hoàn thiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp nhằm phục vụ tốt cho quá trình ra quyết định cho vay vốn và cũng đưa ra một số kiến nghị với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, các Bộ, ngành có liên quan nhằm tạo điều kiện hoạt động tốt nhất cho Ngân hàng
Các công trình nghiên cứu liên quan đến phân tích tài chính doanh nghiệp đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn phân tích tài chính ở các doanh nghiệp Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu thường tập trung đi sâu nghiên cứu chung về tất cả các loại hình doanh nghiệp, trong khi đó, trong thực tế, việc hoàn thiện nội dung phân tích phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp, từng ngành nghề, từng lĩnh vực hoạt động cụ thể là rất cần thiết, giúp không ngừng nâng cao vai trò của công cụ phân tích trong quản trị và giám sát tài chính doanh nghiệp Bên cạnh đó, cho tới nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu và hoàn thiện công tác phân tích tài chính đối với Công ty Công nghệ Hóa sinh Việt Nam Việt Nam Từ khoảng trống nghiên cứu này, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu thực trạng phân tích tài chính và phương hướng hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Công nghệ Hóa sinh Việt Nam
Trang 161.1.1 Khái niệm phân tích tài chính
Theo Trần Đình Khôi Nguyên (2001), phân tích tài chính là quá trình sử dụng các kỹ thuật phân tích thích hợp để xử lý tài liệu từ báo cáo tài chính và các tài liệu khác, hình thành hệ thống các chỉ tiêu tài chính nhằm đánh giá thực trạng tài chính và dự đoán tiềm lực tài chính trong tương lai Như vậy, phân tích tài chính trước hết là việc chuyển các dữ liệu tài chính trên báo cáo tài chính thành những thông tin hữu ích Quá trình này có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu của nhà phân tích Phân tích tài chính được sử dụng như là công cụ khảo sát cơ bản trong lựa chọn quyết định đầu tư Nó còn được sử dụng như là công cụ dự đoán các điều kiện và kết quả tài chính trong tương lai, là công cụ đánh giá của các nhà quản trị doanh nghiệp Phân tích tài chính sẽ tạo ra các chứng cứ có tính hệ thống và khoa học đối với nhà quản trị
1.1.2 Mục tiêu của phân tích tài chính
Có nhiều đối tượng quan tâm đến phân tích tài chính doanh nghiệp Mục tiêu phân tích suy cho cùng sẽ phụ thuộc vào quyền lợi kinh tế của cá nhân, tổ chức liên quan đến doanh nghiệp Đứng trên góc độ là nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm của họ khi tiến hành phân tích bao quát tất cả các nội dung của phân tích tài chính, từ cấu trúc tài chính đến các vấn đề hiệu quả và rủi ro của doanh nghiệp Giải quyết các vấn đề trên không chỉ đưa ra những
Trang 17mà còn tiên liệu hoạt động của doanh nghiệp như từ cách nhìn của các đối tượng phân tích khác
Một đối tượng khác liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp, chính là chủ sở hữu doanh nghiệp, tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp mà có sự tách rời giữa vai trò sở hữu với vai trò quản lý Chính sự tách rời này dẫn đến người chủ sở hữu thường không quan tâm các vấn đề như cách nhìn của nhà quản lý doanh nghiệp Thông thường, người chủ sở hữu quan tâm đến khả năng sinh lời vốn đầu tư của họ, phần vốn chủ sở hữu có không ngừng được nâng cao hay không, khả năng nhận tiền lời từ vốn đầu tư ra sao Do vậy, phân tích tài chính từ góc độ người chủ sở hữu mang tính tổng hợp (Trần Đình Khôi Nguyên, 2001)
1.2 THÔNG TIN VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.2.1 Tài liệu, thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
a Tài liệu, thông tin từ bên trong doanh nghiệp
- Bảng cân đối kế toán
Theo Trần Đình Khôi Nguyên (2001), bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp dưới hình thái tiền tệ tại một thời điểm nhất định Thời điểm đó thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm Theo chế độ kế toán hiện hành, kết cấu của bảng cân đối kế toán được chia thành 2 phần: tài sản và nguồn vốn và được thiết kế theo kiểu một bên hoặc hai bên
Bảng cân đối kế toán có ý nghĩa cả về mặt kinh tế và pháp lý Về mặt kinh tế: Số liệu phần Tài sản cho phép nhà phân tích đánh giá một cách tổng quát quy mô và kết cấu tài sản của doanh nghiệp, còn số liệu phần Nguồn vốn phản ánh các nguồn tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp, qua đó đánh giá thực
Trang 18trạng tài chính của doanh nghiệp Về mặt pháp lý: Số liệu phần Tài sản thể hiện giá trị các loại tài sản hiện có mà doanh nghiệp có quyền quản lý và sử dụng lâu dài để sinh lợi, còn phần Nguồn vốn thể hiện phạm vi trách nhiệm và nghĩa
vụ của doanh nghiệp về tổng số vốn kinh doanh với chủ nợ và chủ sở hữu
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ (quý, năm) chi tiết theo các loại hoạt động, tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp với Nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có ý nghĩa rất lớn trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh và công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có thể kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu nhập, chi phí và kết quả từng loại hoạt động cũng như kết quả chung toàn doanh nghiệp Số liệu trên báo cáo còn là cơ sở để đánh giá khuynh hướng hoạt động của doanh nghiệp trong nhiều năm liền, dự báo hoạt động trong tương lai và đánh giá hiệu quả, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp (Trần Đình Khôi Nguyên, 2001)
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh theo các hoạt động khác nhau trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp Đây là cơ sở để dự đoán các dòng tiền của doanh nghiệp, trợ giúp các nhà quản lý trong công tác hoạch định và kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp Thông qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ, người ra quyết định có thể đánh giá thời cơ kinh doanh của doanh nghiệp để
ra các quyết định kịp thời (Trần Đình Khôi Nguyên, 2001)
- Thuyết minh báo cáo tài chính
Theo Trần Đình Khôi Nguyên (2001), khi phân tích tài chính doanh
Trang 19nghiệp, nhà phân tích cần sử dụng thêm các dữ liệu chi tiết từ thuyết minh báo cáo tài chính hoặc các báo cáo kế toán nội bộ để hệ thống chỉ tiêu phân tích được đầy đủ hơn, đồng thời khắc phục tính tổng hợp của số liệu thể hiện trên bảng cân đối kế toán và báo cáo hoạt động kinh doanh
Thuyết minh báo cáo tài chính thường bao gồm các nội dung sau: đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp, chi tiết một số chỉ tiêu trong báo cáo tài chính, giải thích và thuyết minh một
số tình hình và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh…
b Tài liệu, thông tin từ bên ngoài doanh nghiệp
Theo Trần Đình Khôi Nguyên (2001), ngoài thông tin từ các báo cáo kế toán ở doanh nghiệp, phân tích tài chính doanh nghiệp còn sử dụng nhiều nguồn thông tin khác để các kết luận trong phân tích tài chính có tính thuyết phục Các nguồn thông tin khác được chia thành ba nhóm sau:
- Thông tin liên quan đến tình hình kinh tế:
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu tác động bởi nhiều nhân tố thuộc môi trường vĩ mô nên phân tích tài chính cần đặt trong bối cảnh chung của kinh tế trong nước và các nền kinh tế trong khu vực Kết hợp những thông tin này sẽ đánh giá đầy đủ hơn tình hình tài chính và dự báo những nguy cơ, cơ hội đối với hoạt động của doanh nghiệp Những thông tin thường quan tâm bao gồm:
+ Thông tin về tăng trưởng, suy thoái kinh tế
+ Thông tin về lãi suất ngân hàng, trái phiếu kho bạc, tỷ giá ngoại tệ + Thông tin về tỷ lệ lạm phát
Các chính sách kinh tế lớn của Chỉnh phủ, chính sách chính trị, ngoại giao của Nhà nước…
- Thông tin theo ngành:
Ngoài những thông tin về môi trường vĩ mô, những thông tin liên quan
Trang 20đến ngành, lĩnh vực kinh doanh cũng cần được chú trọng Đó là:
+ Mức độ và yêu cầu công nghệ của ngành
+ Mức độ cạnh tranh và quy mô của thị trường
+ Tính chất cạnh tranh của thị trường hay mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp và khách hàng
+ Nguy cơ xuất hiện những đối thủ cạnh tranh tiềm tang
Những thông tin trên sẽ làm rõ hơn nội dung các chỉ tiêu tài chính trong từng ngành, lĩnh vực kinh doanh, đánh giá rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp
- Thông tin đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp:
Do mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm riêng trong tổ chức sản xuất kinh doanh và trong phương hướng hoạt động nên để đánh giá hợp lý tình hình tài chính, nhà phân tích cần nghiên cứu kỹ lưỡng đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp Những vấn đề cần quan tâm bao gồm:
+ Mục tiêu và chiến lược hoạt động của doanh nghiệp, gồm cả chiến lược tài chính và chiến lược kinh doanh
+ Đặc điểm quá trình luân chuyển vốn trong các khâu kinh doanh ở từng loại hình doanh nghiệp
+ Tính thời vụ, tính chu kỳ trong hoạt động kinh doanh
+ Mối liên hệ giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp, khách hàng, ngân hàng và các đối tượng khác
+ Các chính sách hoạt động khác
1.2.1 Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ, biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Trang 21Có nhiều phương pháp phân tích tài chính, nhưng có một số phương pháp phân tích thường gặp như:
a Phương pháp phân tích tỷ số
Phương pháp tỷ số là một trong các phương pháp phân tích được áp dụng phổ biến Một tỷ số là mối quan hệ tỷ lệ giữa hai chỉ tiêu hoặc hai nhóm chỉ tiêu của bảng cân đối tài sản và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Phương pháp phân tích tỷ số dựa trên ý nghĩa chuẩn mực của các đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính, mỗi sự biến đổi các tỷ số chính là sự biến đổi các đại lượng tài chính Về nguyên tắc, phương pháp phân tích tỷ số yêu cầu phải xác định các ngưỡng, các định mức, để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu
Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn, vì:
- Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn là cơ sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một tỷ lệ của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp
- Việc áp dụng tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ
- Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những
số liệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn (Nguyễn Năng Phúc, 2011)
b Phương pháp so sánh
Theo Trần Đình Khôi Nguyên (2001), phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng phổ biến nhất trong phân tích tài chính Để vận dụng phép so sánh trong phân tích tài chính cần quan tâm đến tiêu chuẩn so sánh, điều kiện
so sánh của chỉ tiêu phân tích cũng như kỹ thuật so sánh
Trang 22Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu gốc được chọn làm căn cứ so sánh Khi phân tích tài chính, nhà phân tích thường sử dụng các gốc sau:
- Sử dụng số liệu tài chính ở nhiều kỳ trước để đánh giá và dự báo xu hướng của các chỉ tiêu tài chính Thông thường, số liệu phân tích được tổ chức từ 3 đến 5 năm liền kề
- Sử dụng số liệu trung bình ngành để đánh giá sự tiến bộ về hoạt động tài chính của doanh nghiệp so với mức trung bình tiên tiến của ngành Số liệu trung bình ngành thường được các tổ chức dịch vụ tài chính, các ngân hàng,
cơ quan thống kê cung cấp theo nhóm các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong trường hợp không có số liệu trung bình ngành, nhà phân tích có thể sử dụng số liệu của một doanh nghiệp điển hình trong cùng ngành
để làm căn cứ phân tích
- Sử dụng các số kế hoạch, số dự toán để đánh giá doanh nghiệp có đạt cac mục tiêu tài chính trong năm Thông thường, các nhà quản trị doanh nghiệp chọn gốc so sánh này để xây dựng chiến lược hoạt động cho tổ chức của mình
c Phương pháp loại trừ
Trong một số trường hợp, phương pháp này được sử dụng trong phân tích tài chính nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu tài chính, giả định các nhân tố còn lại không thay đổi Phương pháp phân tích này còn là công cụ hỗ trợ quá trình ra quyết định
Chẳng hạn, chỉ tiêu sinh lời của tài sản (ROA) thường được tính như sau:
Tổng tài sản bình quânNếu dừng lại ở phép so sánh thì chưa thể hiện rõ nhân tố nào tác động đến chỉ tiêu ROA Tuy nhiên, khi xây dựng chỉ tiêu này trong quan hệ với hiệu suất sử dụng tài sản và khả năng sinh lời từ doanh thu thì chỉ tiêu ROA
Trang 23được chi tiết như sau:
ROA = Lợi nhuận trước thuế
Doanh thu Tổng tài sản bình quân
ROA = Tỷ suất lợi nhuận trên
doanh thu (ROS) x
Hiệu suất sử dụng tài
Với phương pháp loại trừ, nhà phân tích sẽ thấy được nhân tố nào ảnh hưởng chủ yếu đến khả năng sinh lời của tài sản, qua đó phát hiện những lợi thế hay bất lợi trong hoạt động của doanh nghiệp và định hướng hoạt động trong kỳ đến (Trần Đình Khôi Nguyên, 2001)
d Phương pháp cân đối liên hệ
Theo Trần Đình Khôi Nguyên (2001), các báo cáo tài chính đều có đặc trưng chung là thể hiện tính cân đối: cân đối giữa tài sản và nguồn vốn; cân đối giữa doanh thu, chi phí và kết quả; cân đối giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra; cân đối giữa tăng và giảm…
Dựa vào các cân đối cơ bản trên, trong phân tích tài chính thường vận dụng phương pháp cân đối liên hệ để xem xét ảnh hưởng của từng nhân tố đến biến động của chỉ tiêu phân tích Chẳng hạn, với biến động của tổng tài sản giữa hai thời điểm, phương pháp này sẽ cho thấy loại tài sản nào biến động ảnh hưởng đến biến động tổng tài sản của doanh nghiệp Như vậy, dựa vào biến động của từng bộ phận mà chỉ tiêu phân tích sẽ được đánh giá đầy
đủ hơn
e Phương pháp phân tích tương quan
Giữa các số liệu tài chính trên báo cáo tài chính thường có mối tương quan với nhau Chẳng hạn mối tương quan giữa doanh thu (trên báo cáo lãi lỗ) với các khoản nợ phải thu khách hàng, với hàng tồn kho (trên BCĐKT) Thông thường, khi doanh thu của đơn vị cần tăng thì số dư các khoản nợ phải
Trang 24thu cũng gia tăng, hoặc doanh thu tăng dẫn đến yêu cầu về dự trữ hàng cho kinh doanh gia tăng Phân tích tương quan sẽ đánh giá hợp lý về biến động giữa các chỉ tiêu tài chính, xây dựng các tỷ số tài chính được phù hợp hơn và phục vụ công tác dự báo tài chính của doanh nghiệp (Trần Đình Khôi Nguyên, 2001)
1.3 NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.3.1 Phân tích khái quát Bảng cân đối kế toán
a Phân tích cấu trúc tài sản
Tỷ trọng tài sản i = Loại tài sản i
Tổng tài sản
Từ công thức chung, có thể tính các chỉ tiêu cụ thể như:
- Tỷ trọng tài sản ngắn hạn: Tỷ trọng tiền và tương đương tiền, tỷ trọng đầu tư ngắn hạn, tỷ trọng phải thu ngắn hạn, tỷ trọng hàng tồn kho…
- Tỷ trọng tài sản dài hạn: Tỷ trọng phải thu dài hạn, tỷ trọng tài sản cố định, tỷ trọng bất động sản đầu tư, tỷ trọng đầu tư dài hạn…
Tổng tài sản là tổng giá trị toàn bộ tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm cuối niên độ kế toán và thường được xác định bằng tổng giá trị phần Tài sản trên bảng cân đối kế toán Tổng giá trị tài sản được xác định theo giá trị thuần, vì vậy, giá trị từng loại tài sản cũng phải được tính theo giá trị tài sản thuần,với giá trị tài sản thuần là giá trị có thể thực hiện được của tài sản ở thời điểm tính trừ đi khoản đánh giá lại (Chẳng hạn: Giá trị thuần hàng tồn kho = Giá trị hàng tồn kho - Dự phòng giảm giá hàng tồn kho)
b Phân tích cấu trúc nguồn vốn
- Tính tự chủ về tài chính
Tính tự chủ về tài chính phản ánh khả năng chủ động về tài chính của doanh nghiệp trong việc tài trợ cho quá trình sản xuất kinh doanh và đầu tư Phân tích tính tự chủ về tài chính nhằm mục đích phân tích năng lực vốn có
Trang 25của chủ sở hữu trong tài trợ hoạt động kinh doanh, đồng thời, nghiên cứu quan hệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu, cho biết bao nhiêu % tài sản của doanh nghiệp được tài trợ từ vốn chủ sở hữu
Tỷ suất tự tài trợ = Nguồn vốn chủ sở hữu
Nguồn vốn thường xuyên = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn
Nguồn vốn tạm thời = Nợ ngắn hạn
Tỷ suất nguồn
vốn thường xuyên =
Nguồn vốn thường xuyên
x 100% Tổng nguồn vốn
- Cân bằng tài chính
Cân bằng tài chính là một nội dung trong quản lý tài chính doanh nghiệp,
là sự cân bằng giữa tài sản và nguồn vốn Cân bằng tài chính phản ánh
Trang 26phương thức và chính sách tài trợ của doanh nghiệp
Phân tích cân bằng tài chính nhằm mục đích xem xét mối quan hệ giữa từng loại nguồn vốn với từng loại tài sản để chỉ ra những sự mất cân bằng trong tài trợ ở doanh nghiệp
Các chỉ tiêu phân tích cân bằng tài chính bao gồm: Phân tích vốn lưu động ròng, phân tích nhu cầu vốn lưu động ròng, phân tích ngân quỹ ròng
* Nhu cầu vốn lưu động ròng:
Nhu cầu vốn
lưu động
ròng
= Hàng tồn kho +
Nợ phải thu
+
Tài sản ngắn hạn khác
-Nợ ngắn hạn (Không kể nợ vay Ngân hàng)Nhu cầu vốn lưu động ròng phản ánh nhu cầu tài trợ trong ngắn hạn của doanh nghiệp
- NCVLĐ ròng < 0: tức là hàng tồn kho và các khoản phải thu nhỏ hơn khoản phải trả Vì vậy, các nguồn vốn ngắn hạn từ bên ngoài là đủ để bù đắp cho các khoản sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp Doanh nghiệp không cần vốn để tài trợ cho chu kỳ sản xuất kinh doanh NCVLĐ ròng âm là một tình
Trang 27trạng rất tốt với doanh nghiệp, với ý nghĩa là doanh nghiệp được các chủ nợ ngắn hạn cung cấp vốn cần thiết cho chu kỳ sản xuất kinh doanh
- NCVLĐ ròng > 0: tức là hàng tồn kho và các khoản phải thu lớn hơn nợ ngắn hạn Trong trường hợp này, các khoản sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp lớn hơn các nguồn vốn ngắn hạn mà doanh nghiệp có từ bên ngoài Vì vậy, doanh nghiệp phải dùng nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho phần chênh lệch
* Ngân quỹ ròng:
Ngân quỹ ròng = Vốn lưu động ròng - Nhu cầu vốn lưu động ròng
Ý nghĩa của việc phân tích ngân quỹ ròng là xem xét mức độ đảm bảo nhu cầu tài trợ ngắn hạn bởi các nguồn vốn dài hạn dôi ra sau khi tài trợ tài sản dài hạn
- Nếu ngân quỹ ròng < 0, doanh nghiệp không cân bằng trong ngắn hạn, doanh nghiệp phải huy động thêm các khoản vay ngắn hạn để bù đắp sự thiếu hụt về nhu cầu vốn lưu động ròng
- Nếu ngân quỹ ròng >= 0 thể hiện một cân bằng tài chính rất an toàn cho doanh nghiệp
Tuy nhiên, trên thực tế, không phải lúc nào doanh nghiệp cũng phải tuân theo nguyên tắc tương ứng về cấu trúc kỳ hạn của các khoản vốn và sử dụng vốn Tức là doanh nghiệp có thể sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ cho tài sản lưu động nếu việc huy động nguồn vốn ngắn hạn là thuận lợi Nhìn chung, muốn đảm bảo nguồn vốn liên tục về chất lượng và số lượng, đảm bảo lành mạnh về tài chính, doanh nghiệp cần thiết phải duy trì đồng thời: VLĐ ròng >
0, nhu cầu VLĐ ròng < 0 và ngân quỹ ròng > 0
1.3.2 Phân tích khái quát Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Phân tích Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh nhằm mục đích:
- Đánh giá một cách chính xác, toàn diện về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ, qua đó đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch kinh
Trang 28doanh của doanh nghiệp, đồng thời, qua phân tích có thể nắm bắt được những yếu kém tồn tại và nguyên nhân ảnh hưởng để tìm ra biện pháp phù hợp thúc đẩy doanh thu
- Kiểm tra, rà soát tình hình quản lý và sử dụng chi phí để đánh giá xem chi phí có được sử dụng một cách hợp lý hay không, có phù hợp với nhu cầu kinh doanh không, ảnh hưởng của nó đến quá trình cũng như kết quả kinh doanh Từ đó, tìm ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất giải pháp nhằm quản lý, sử dụng chi phí hợp lý nhất
- Đánh giá thực chất lợi nhuận của doanh nghiệp là cao hay thấp, tăng hay giảm so với kỳ trước, có hoàn thành kế hoạch đề ra, tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng chủ yếu đến lợi nhuận và từ đó có biện pháp thích hợp để nâng cao lợi nhuận
Phương pháp phân tích Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm phương pháp phân tích theo chiều ngang và phân tích theo chiều dọc
- Phân tích theo chiều ngang:
+ So sánh tuyệt đối:
Mức độ tăng, giảm
chỉ tiêu =
Giá trị chỉ tiêu kỳ phân tích -
Giá trị chỉ tiêu kỳ
gốc + So sánh tương đối:
Tỷ suất tăng,
giảm chỉ tiêu =
Giá trị chỉ tiêu kỳ phân tích - Giá trị
chỉ tiêu kỳ gốc x 100% Giá trị chỉ tiêu kỳ gốc
Phân tích Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo chiều ngang cho biết mức độ biến động của các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lợi nhuận và các bộ phận cấu thành qua từng thời kỳ, từ mức độ biến động của các chỉ tiêu thành phần có thể tìm hiểu được nguyên nhân gây nên sự tăng giảm doanh thu, chi
Trang 29phí và lợi nhuận, từ đó, kết hợp với kết quả phân tích theo chiều dọc để đƣa ra giải pháp gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
- Phân tích theo chiều dọc:
Tỷ trọng chỉ tiêu i so
với doanh thu thuần =
Giá trị chỉ tiêu i
x 100% Doanh thu thuần bán hàng
và cung cấp dịch vụ Phân tích theo chiều dọc cho thấy trong một thời kỳ, các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lợi nhuận chiếm tỷ trọng bao nhiêu so với chỉ tiêu doanh thu thuần bán hàng, từ đó biết đƣợc nguồn thu chủ yếu của doanh nghiệp đến từ hoạt động nào, hoạt động nào tiêu tốn nhiều chi phí nhất, giá vốn hàng bán và lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trong tổng doanh thu… Nhƣ vậy, có thể tìm hiểu đƣợc nguyên nhân làm tăng, giảm lợi nhuận và đƣa ra biện pháp để cắt giảm những hoạt động tiêu tốn chi phí nhiều, cũng nhƣ đẩy mạnh đầu tƣ vào những hoạt động sinh lời nhiều cho doanh nghiệp mình
1.3.3 Phân tích các tỷ số tài chính
a Phân tích tỷ số thanh toán
- Tỷ số thanh toán hiện hành
Tỷ số thanh toán hiện hành = Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạnTài sản ngắn hạn bao gồm các khoản vốn bằng tiền, đầu tƣ tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác
Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải trả trong năm bao gồm: vay ngắn hạn, vay dài hạn đến hạn trả và các khoản phải trả khác
Chỉ tiêu thể hiện khả năng thanh toán trong ngắn hạn của doanh nghiệp, cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt
để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn
Tỷ số thanh toán hiện hành giảm cho thấy khả năng thanh toán cũng
Trang 30giảm và doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn về tài chính
Tỷ số này cao điều đó có nghĩa là doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ, tuy nhiên, nếu tỷ số thanh toán hiện hành quá cao sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động vì chứng tỏ doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn hay nói cách khác việc quản lý tài sản ngắn hạn không hiệu quả
- Tỷ số thanh toán nhanh
Tỷ số này <1 nghĩa là doanh nghiệp không đủ tiền để chi trả cho các khoản nợ khi chúng đến hạn
- Tỷ số thanh toán tức thời
Tỷ số thanh toán tức thời = Tiền và tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
Tỷ số thanh toán tức thời cho thấy khả năng thanh toán nợ bằng các loại tài sản lưu động có thể sử dụng nhanh nhất chính là các khoản vốn bằng tiền Tương tự như tỷ số thanh toán nhanh, khi tỷ số này <1 thì doanh nghiệp hoàn
toàn không có khả năng chi trả
b Phân tích tỷ số hoạt động
Các tỷ số hoạt động đo lường hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp Để nâng cao tỷ số hoạt động, các nhà quản trị cần nắm rõ những tài sản nào tạo ra thu nhập thấp hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp để
Trang 31tìm cách khắc phục hoặc xử lý loại bỏ
- Hiệu suất sử dụng tài sản
Hiệu suất sử dụng tài sản = Doanh thu thuần
Tổng tài sản bình quânDoanh thu thuần ở công thức trên bao gồm toàn bộ doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động khác
Chỉ tiêu này cho biết một đồng đầu tư vào tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu cho doanh nghiệp Giá trị của chỉ tiêu này càng cao thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản càng lớn
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng tài sản
Doanh thu thuầnNguyên giá tài sản cố định bình quânChỉ tiêu này phản ánh một đồng đầu tư vào tài sản cố định đem lại bao nhiêu đồng doanh thu cho doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng cao thể hiện hiệu suất công tác đầu tư càng lớn và hiệu suất sử dụng TSCĐ càng cao Ngoài
ra, chỉ tiêu này cao hay thấp phụ thuộc vào việc doanh nghiệp là doanh nghiệp sản xuất hay thương mại, vì thường các doanh nghiệp sản xuất có tỷ trọng TSCĐ rất lớn dùng cho việc sản xuất hàng hóa, trong khi tỷ trọng TSCĐ của các doanh nghiệp thương mại là rất thấp do đặc tính kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 32- Số vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Giá trị hàng tồn kho bình quânĐây là một chỉ tiêu khá quan trọng đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cao cho thấy khả năng tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp là khả quan, việc kinh doanh có hiệu quả, khả năng thanh toán lớn, nhưng nếu chỉ tiêu này thấp, nghĩa là tốc độ tiêu thụ hàng hoá chậm, giảm khả năng chi trả và lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh thấp Tuy nhiên, khi nghiên cứu chỉ tiêu này, nhà phân tích cần lưu ý đến ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp
- Số vòng quay khoản phải thu khách hàng
Số dư bình quân các khoản phải thu khách hàng
Các khoản phải thu là những hóa đơn bán hàng chưa thu được tiền về do doanh nghiệp thực hiện chính sách bán chịu và các khoản tạm ứng chưa hoàn trả, các khoản trả trước cho người bán…
Trong công thức trên, chỉ tiêu doanh thu thuần bán chịu được xác định từ
sổ chi tiết doanh thu hoặc thuyết minh báo cáo tài chính, trong điều kiện không thu thập được số liệu về doanh thu thuần bán chịu, có thể sử dụng chỉ tiêu doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ để thay thế Số dư bình quân các khoản phải thu khách hàng phải bao gồm cả thuế
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ công tác thu hồi nợ của doanh nghiệp là tốt và lúc này doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn từ các khoản phải thu
Trang 33c Phân tích tỷ số sinh lời
Hệ thống các tỷ số về khả năng sinh lợi luôn được các nhà quản lý, chủ doanh nghiệp, chủ nợ, nhà đầu tư… đặc biệt quan tâm Chúng là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ kế toán và là căn cứ quan trọng để các nhà quản lý đưa ra các quyết định, kế hoạch hoạt động trong tương lai, để các nhà đầu tư đưa ra quyết định
có nên đầu tư hay không, để các chủ nợ quyết định có nên tiếp tục hay ngừng các khoản cho vay đối với doanh nghiệp…
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)
Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu là một tỷ số tài chính dùng để theo dõi tình hình sinh lợi của doanh nghiệp Nó phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận ròng
và doanh thu của Công ty, thể hiện ở công thức:
Tỷ suất lợi nhuận
trên doanh thu =
Lợi nhuận trước thuế
x 100%
Doanh thu thuần
Tỷ suất này phản ánh khả năng sinh lời của doanh thu, trong 100 đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là doanh nghiệp kinh doanh có lãi, tỷ số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn,
tỷ số mang giá trị âm nghĩa là doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ
Trong hoạt động của doanh nghiệp, hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạt động chủ yếu nên doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh là chính,
vì vậy, cần thiết phải tính riêng chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời từ hoạt động sản xuất kinh doanh
- Tỷ suất sinh lời tài sản (ROA)
ROA = Lợi nhuận trước thuế
x 100%
Tổng tài sản bình quânChỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng đầu tư vào tài sản sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu ROA càng lớn phản ánh khả năng sinh lời từ
Trang 34tài sản càng cao
- Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Hiệu quả tài chính phản ánh kết quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp
và được đo lường thông qua chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tư rất quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp So với người cho vay, thì việc bỏ vốn vào hoạt động kinh doanh của chủ sở hữu mang tính mạo hiểm lớn nhưng lại có nhiều cơ hội đem lại lợi nhuận cao hơn Vì vậy, tăng khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu là một trong các mục tiêu trong hoạt động quản lý tài chính và các nhà phân tích thường dùng chỉ tiêu ROE làm thước đo mức doanh lợi đầu tư của chủ sở hữu
x 100%
Nguồn vốn chủ sở hữu bình quânTrong trường hợp có sự thay đổi về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp trong các kỳ kế toán, có thể sử dụng lợi nhuận trước thuế để tính ROE
Chỉ tiêu này thể hiện 100 đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng cao thì tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu càng lớn, doanh nghiệp có nhiều khả năng thu hút được các nguồn vốn mới Ngược lại, tỷ suất này càng thấp dưới mức sinh lời cần thiết của thị trường tài chính thì khả năng thu hút vốn chủ sở hữu, thu hút đầu tư của doanh nghiệp càng khó khăn
1.3.4 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là xem xét và đánh giá sự thay đổi các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên BCĐKT về nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của doanh nghiệp vào công việc cụ thể Sự thay đổi của các tài khoản trên BCĐKT từ kỳ trước tới kỳ này cho ta biết tình hình huy động vốn và sử dụng vốn
Trang 35Để tiến hành phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, trước hết cần lập Bảng kê chi tiết nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn Bảng kê này giúp cho việc xác định rõ nguồn cung ứng vốn và mục đích sử dụng các nguồn vốn Để lập được bảng kê này, trước hết phải liệt kê sự thay đổi của các khoản mục trên BCĐKT từ đầu kỳ đến cuối kỳ Mỗi sự thay đổi ở nguồn vốn
và sử dụng nguồn vốn nhất thiết phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
- Sử dụng vốn: tăng tài sản và giảm nguồn vốn
- Nguồn vốn : tăng nguồn vốn và giảm tài sản
- Nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn phải cân đối với nhau
Việc thiết lập bảng kê nguồn vốn và sử dụng vốn là cơ sở để tiến hành phân tích nguồn vốn và sử dụng vốn nhằm chỉ ra những trọng điểm đầu tư vốn và những nguồn vốn chủ yếu được hình thành để tài trợ cho những đầu tư
đó Quá trình phân tích sẽ cho thấy nguồn vốn của một kỳ kinh doanh tăng, giảm bao nhiêu, tình hình sử dụng vốn ra sao, những chỉ tiêu nào ảnh hưởng đến sự tăng giảm nguồn vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp Có như vậy, nhà quản lý sẽ có giải pháp khai thác các nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
1.4 CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1.4.1 Cách tổ chức phân tích
Quá trình tổ chức công tác phân tích tài chính có thể được tiến hành tuỳ theo loại hình doanh nghiệp nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thông tin cho quá trình lập kế hoạch, công tác kiểm tra hoặc ra quyết định Công tác tổ chức phân tích phải làm sao thoả mãn cao nhất cho nhu cầu thông tin của từng loại hình quản trị khác nhau
Công tác phân tích tài chính có thể nằm ở một bộ phận riêng biệt đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của ban giám đốc và làm tham mưu cho ban giám đốc Theo hình thức này thì quá trình phân tích sẽ thể hiện toàn bộ nội
Trang 36dung của hoạt động kinh doanh và cung cấp kết quả phân tích cho lãnh đạo trong doanh nghiệp
Công tác phân tích tài chính được thực hiện ở nhiều bộ phận riêng biệt theo các chức năng của quản lý nhằm cung cấp thông tin và thoả mãn thông tin cho các bộ phận của quản lý được phân quyền, ví dụ:
Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về chi phí, bộ phận này sẽ tổ chức thực hiện thu nhập thông tin và tiến hành phân tích tình hình biến động chi phí, tìm hiểu nguyên nhân phát sinh và từ đó tìm ra nguyên nhân và đề ra giải pháp
Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về doanh thu, bộ phận này sẽ tiến hành thu nhập thông tin, tiến hành phân tích báo cáo thu nhập, đánh giá mối quan hệ doanh thu – chi phí - lợi nhuận làm cơ sở để đánh giá hoàn vốn trong kinh doanh và phân tích báo cáo nội bộ
Công tác phân tích tài chính cũng có thể do một bộ phận, phòng ban của Công ty kiêm nhiệm thực hiện, bộ phận này thường là phòng Tài chính hoặc
Kế toán của Công ty Theo hình thức này, bộ phận kiêm nhiệm sẽ do ban giám đốc hoặc người có thẩm quyền chỉ định nhân sự, thành lập tạm thời và giải tán sau khi hoàn thành nhiệm vụ được giao
1.4.2 Quy trình phân tích
Quy trình phân tích thường được tiến hành qua các giai đoạn sau:
a Giai đoạn chuẩn bị phân tích:
Là một khâu quan trọng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng, thời hạn và tác dụng của hoạt động phân tích Công tác chuẩn bị bao gồm việc xây dựng
chương trình phân tích và thu thập, xử lý tài liệu phân tích
Kế hoạch phân tích phải xác định rõ nội dung phân tích (toàn bộ hoạt động tài chính hay chỉ một số vấn đề cụ thể), phạm vi phân tích (toàn đơn vị hay một vài bộ phận), thời gian tiến hành phân tích (kể cả thời gian chuẩn bị),
Trang 37phân công trách nhiệm cho các cá nhân, bộ phận và xác định hình thức hội
nghị phân tích (ban giám đốc hay toàn thể người lao động)
Bên cạnh việc lập kế hoạch phân tích, cần phải tiến hành thu thập và kiểm tra tài liệu, bảo đảm đầy đủ theo yêu cầu Tùy theo yêu cầu, nội dung, phạm vi và nhiệm vụ từng đợt phân tích cụ thể để tiến hành thu thập, lựa chọn, xử lý tài liệu Tài liệu phục vụ cho việc phân tích thường bao gồm toàn
bộ hệ thống báo cáo tài chính liên quan, kể cả các báo cáo kế hoạch, dj toán, định mức, các biên bản kiểm tra, xử lý có liên quan Các tài liệu trên cần được kiểm tra tính chính xác, tính hợp pháp và điều kiện có thể so sánh được trước
khi sử dụng để phân tích
b Giai đoạn tiến hành phân tích:
Sau khi thu thập dữ liệu, người phân tích sẽ sử dụng các phương pháp hợp lý để xử lý dữ liệu theo các nội dung phân tích đã xác định Dựa trên những dữ liệu đã qua xử lý, nhận định tổng quát cũng như chi tiết thực trạng vấn đề phân tích, lý giải nguyên nhân cho thực trạng đó và đề xuất giải pháp cho nhà quản trị doanh nghiệp
c Giai đoạn kết thúc phân tích:
Đây là giai đoạn cuối cùng của hoạt động phân tích Trong giai đoạn này, người phân tích cần tiến hành viết báo cáo phân tích, báo cáo trước những đối tượng quan tâm và hoàn chỉnh hồ sơ phân tích
1.4.3 Sử dụng kết quả phân tích
Tùy thuộc vào mục tiêu phân tích đã xác định mà nhà quản trị doanh nghiệp sẽ quyết định sử dụng kết quả phân tích như thế nào Kết quả phân tích sẽ giúp các nhà quản trị nhận biết được tình hình tài chính doanh nghiệp, thấy được điểm mạnh, điểm yếu cũng như nguyên nhân để đưa ra các quyết định tài chính hoặc làm cơ sở dự đoán để lập kế hoạch kinh doanh cho thời
gian tới hoặc để thu hút nhà đầu tư
Trang 381.5 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP
1.5.1 Nhân tố chủ quan
a Sự đầy đủ và chất lượng thông tin sử dụng
Một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng công tác phân tích tài chính là thông tin sử dụng để phân tích Thông tin là nền tảng cốt lõi của việc phân tích tài chính, nếu thông tin sử dụng không đầy đủ, không chính xác, không phù hợp thì kết quả mang lại hoàn toàn chỉ là hình thức, không có chút ý nghĩa thực tiễn nào
Thông tin cần thiết không chỉ bao gồm những thông tin bên trong nội bộ doanh nghiệp mà còn cần cả thông tin nội bộ ngành, thông tin thị trường, thông tin kinh tế trong và ngoài nước để đem lại cái nhìn khái quát nhất về tình hình tài chính doanh nghiệp trong quá khứ và dự đoán được xu hướng phát triển trong tương lai
b Trình độ của cán bộ phân tích
Cho dù có được những thông tin đầy đủ và chính xác nhất nhưng tập hợp thông tin, xử lý và sử dụng chúng như thế nào để đem lại kết quả phân tích có chất lượng tốt đòi hỏi rất nhiều vào trình độ cán bộ phân tích Từ những thông tin có được, cán bộ phân tích sẽ tính toán, xử lý để đưa ra những số liệu, bảng biểu, nhưng chúng sẽ là chỉ những con số rời rạc, không nói lên được những vấn đề gì nếu người phân tích không biết gắn kết chúng lại, tạo lập những mối quan hệ để làm sáng tỏ sự biến động và giải thích được tình hình tài chính của doanh nghiệp Chính sự phức tạp, rối rắm trên yêu cầu cán bộ phân tích phải
có chuyên môn cao, được đào tạo chuyên sâu và không ngừng trau dồi, cập nhật những kiến thức mới mẻ cần thiết
c Phương tiện và công cụ phân tích
Sự khó khăn của công tác phân tích tài chính đòi hỏi lượng dữ liệu lớn,
Trang 39nguồn thông tin nhiều, tính toán phức tạp, dự báo chính xác và lưu trữ thông tin lớn những vấn đề này con người và những phương pháp thủ công không thể làm được, vì vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng được những công
cụ chuyên dụng cho công tác phân tích tài chính để đảm bảo việc phân tích được thực hiện nhanh chóng, chính xác, kịp thời đáp ứng nhu cầu quản lý tài chính của doanh nghiệp
1.5.2 Nhân tố khách quan
a Chủ trương và chính sách của Nhà nước
Hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như hoạt động tài chính của doanh nghiệp như chính sách về thuế, về công tác kế toán, thống kê Các chính sách này là cơ sở cho việc thực hiện công tác kế toán cũng như công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp, bất cứ một chủ trương, chính sách nào thay đổi cũng gây nên
sự biến đổi không nhỏ đối với báo cáo tài chính doanh nghiệp cũng như các chỉ tiêu vĩ mô và vi mô khác, chẳng hạn chỉ một sự thay đổi trong việc tính toán chi phí, lợi nhuận kế toán cũng sẽ tạo ra sự chêch lệch lớn đối với các tỷ
lệ phân tích
b Hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành
Việc phân tích tài chính sẽ trở nên đầy đủ và có ý nghĩa hơn nếu có sự tồn tại của hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành Đây là cơ sở tham chiếu quan trọng khi tiến hành phân tích Người ta chỉ có thể nói các tỷ lệ tài chính của một doanh nghiệp là cao hay thấp, tốt hay xấu khi đem so sánh với các tỷ lệ tương ứng của doanh nghiệp khác có đặc điểm và điều kiện sản xuất kinh doanh tương tự mà đại diện ở đây là chỉ tiêu trung bình ngành Thông qua đối chiếu với hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành, nhà quản trị doanh nghiệp biết được vị thế của doanh nghiệp mình, từ đó, đánh giá được thực trạng tài chính doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình
Trang 40CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI
CÔNG TY CÔNG NGHỆ HÓA SINH VIỆT NAM
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CÔNG NGHỆ HÓA SINH VIỆT NAM
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
CÔNG TY CÔNG NGHỆ HÓA SINH VIỆT NAM (Vietnam Biochemical Technology Company Ltd.) (sau đây gọi tắt là Công ty) do Tiến sĩ Nguyễn Văn Năm; Doanh nhân Văn hoá, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung Ương Hội Nghề cá Việt Nam; làm Tổng giám đốc Công ty thành lập vào ngày 14/10/2005 , trụ sở chính đặt tại Số 9A, Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội, ngoài ra còn có 4 chi nhánh đặt tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Quảng Nam, Cà Mau Từ ngày thành lập đến nay, Công ty đã 6 lần điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và lần điều chỉnh gần nhất vào ngày 11/04/2013 với số Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mới là 0101096844 do Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội cấp Công ty là đơn vị hạch toán độc lập, hoạt động sản xuất kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Điều lệ Công ty và các quy định pháp lý liên quan Lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính của Công ty là chế biến thực phẩm, thuỷ hải sản, kinh doanh các sản phẩm sinh học, hóa học bảo vệ môi trường, kinh doanh các sản phẩm phục vụ nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản: thức
ăn chăn nuôi, thuốc thú y thủy sản, phân bón
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty
a Chức năng
Là một doanh nghiệp đã hoạt động hơn 10 năm trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ hóa sinh và bảo vệ môi trường, Công ty Công nghệ Hóa