Với hai chức năng chính vừa là công cụ của Nhà nước để xử lý các vấn đề nợ, tài sản tồn đọng trong quá trình sắp xếp, chuyển đổi DNNN và hệ thống tín dụng vừa kinh doanh như doanh nghiệp
Trang 1TẠI CÔNG TY TNHH MUA BÁN NỢ
VIỆT NAM (DATC)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Trang 2TẠI CÔNG TY TNHH MUA BÁN NỢ
VIỆT NAM (DATC)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60 34 03 01
Ngưởi hướng dẫn KH: PGS TS Đường Nguyễn Hưng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 10
1 Tính cấp thiết của đề tài 10
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH KHÁCH NỢ TRONG QUY TRÌNH MUA NỢ CỦA CÔNG TY MUA BÁN NỢ 9
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ, NỢ XẤU 9
1.1.1 Khái niệm nợ 9
1.1.2 Khái niệm nợ xấu 10
1.1.3 Nguyên nhân nợ xấu 13
1.1.4 Tác động của nợ xấu 15
1.1.5 Chính sách xử lý nợ xấu 17
1.2 MUA BÁN NỢ TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 18
1.2.1 Khái niệm mua bán nợ trên thị trường tài chính 18
1.2.2 Các phương thức mua bán nợ 19
1.2.3 Các chủ thể tham gia mua bán nợ 20
1.2.4 Phạm vi và nguyên tắc hoạt động mua bán nợ 22
1.2.5 Lợi ích của hoạt động mua bán nợ 24
1.3 SỰ HÌNH THÀNH VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TY MUA BÁN NỢ 25
1.3.1 Sự hình thành Công ty Mua bán nợ 25
1.3.2 Vai trò của các Công ty Mua bán nợ 27
1.4 CÔNG TÁC PHÂN TÍCH KHÁCH NỢ TRONG QUY TRÌNH MUA NỢ 29
1.4.1.Tổng quan công tác phân tích khách nợ trong quy trình mua nợ 29
Trang 51.4.2 Quy trình phân tích khách nợ 30
1.4.3 Cơ sở dữ liệu để phục vụ công tác phân tích khách nợ 35
1.4.4 Các chỉ tiêu cần phân tích khi phân tích khách nợ 37
1.5 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH KHÁCH NỢ 40
1.5.1 Các nhân tố bên trong 40
1.5.2 Các nhân tố bên ngoài 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 43
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH KHÁCH NỢ TRONG QUY TRÌNH MUA NỢ CỦA CÔNG TY TNHH MUA BÁN NỢ VIỆT NAM 44 2.1 SỰ HÌNH THÀNH, CƠ CẤU TỔ CHỨC, CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA CÔNG TY TNHH MUA BÁN NỢ VIỆT NAM 44
2.1.1 Sự hình thành DATC 44
2.1.2 Chức năng của DATC 45
2.1.3 Ngành, nghề kinh doanh của DATC 45
2.1.4 Mô hình tổ chức, quản lý 46
2.1.5 Lực lượng lao động 47
2.2 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DATC 48
2.2.1 Kết quả đạt được 48
2.2.2 Những hạn chế 51
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH KHÁCH NỢ TRONG QUY TRÌNH MUA NỢ TẠI DATC 52
2.3.1 Thu thập thông tin về khoản nợ 52
2.3.2 Phân loại khoản nợ 53
2.3.3 Phân tích các yếu tố nội lực của khách nợ 59
2.3.4 Phân tích đánh giá các yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của khách nợ 83
2.3.5 Xác định giá trị và khả năng thu hồi nợ thông qua xử lý tài sản đảm bảo 89
Trang 62.3.6 Phân tích điểm mạnh điểm yếu của khách nợ (SWOT) 91
2.3.7 Vai trò của công tác phân tích khách nợ đến việc xác định giá mua bán nợ 92
2.3.8 Những khó khăn, hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của công tác phân tích khách nợ 94
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 96
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH KHÁCH NỢ TRONG QUY TRÌNH MUA NỢ CỦA CÔNG TY TNHH MUA BÁN NỢ VIỆT NAM 97
3.1 ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH KHÁCH NỢ TRONG QUY TRÌNH MUA NỢ CỦA DATC 97
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH KHÁCH NỢ CỦA CÔNG TY TNHH MUA BÁN NỢ VIỆT NAM 98
3.2.1 Hoàn thiện công tác thu thập thông tin 98
3.2.2 Hoàn thiện phương pháp phân tích 100
3.2.3 Hoàn thiện nội dung phân tích 101
3.2.4 Hoàn thiện công tác đánh giá, kết luận 108
3.2.5 Các giải pháp khác 108
3.3 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC 111
3.3.1 Minh bạch, công khai các nguồn thông tin tài chính 111
3.3.2 Xây dựng các chỉ tiêu trung bình ngành quốc gia 112
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 113
KẾT LUẬN 114 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AEG nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group
AMC Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản, Công ty Mua bán nợ BCBS Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng
CAR Quy định về an toàn vốn
DATC Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng trung ương
Trang 82.6 Bảng phân tích lưu chuyển tiền của Doanh nghiệp 82
3.1 Bảng phân tích cân bằng tài chính của công ty CP Gạch
3.2 Kết quả tính toán các chỉ tiêu của Công ty CP Sứ Cosani 106
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nợ xấu diễn biến phức tạp như hiện nay, đang có chiều hướng gia tăng nhanh, đe dọa an ninh tài chính tiền tệ thì vấn đề xử lý nợ xấu được xem là vấn đề cần được ưu tiên đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng Phát triển thị trường mua bán nợ xấu là một trong những giải pháp vô cùng quan trọng để giải quyết vấn đề này Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam(DATC) được thành lập với vai trò quan trọng trong cả hai đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việc thành lập DATC là để hỗ trợ doanh nghiệp lành mạnh hóa tình hình tài chính trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua hoạt động mua, bán nợ Với hai chức năng chính vừa là công cụ của Nhà nước để xử lý các vấn đề nợ, tài sản tồn đọng trong quá trình sắp xếp, chuyển đổi DNNN và
hệ thống tín dụng vừa kinh doanh như doanh nghiệp với loại hàng hóa tương đối đặc biệt là nợ Tuy nhiên Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam được thực hiện trên cơ chế bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước giao, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận Do đó, ngoại trừ những khoản nợ mua theo chỉ định của cấp có thẩm quyền, DATC không thể mua hết tất cả các khoản nợ tồn đọng khó đòi, không có vật tư, tài sản đảm bảo của các ngân hàng Thương mại, các Doanh nghiệp nhà nước, mà Công ty chỉ mua những khoản nợ trên cơ sở phân tích cụ thể chi tiết về khoản nợ, về khách nợ xem có khả năng tái cơ cấu, phục hồi những khó khăn yếu kém dẫn đến tình trạng thua lỗ trước mắt để phục hồi
và trả nợ cho DATC hay có khả năng bán lại món nợ với giá cao hơn cho nhà đầu tư tiềm năng hoặc thu lại hiệu quả thông qua việc xử lý tài sản đảm bảo của Doanh nghiệp Để mang lại hiệu quả kinh tế cao, tránh rủi ro trong hoạt động giao dịch mua bán nợ, việc phân tích chi tiết khoản nợ, tình hình tài
Trang 11triển vọng phát triển tương lai một cách khoa học, hợp lý và cung cấp được thông tin chính xác đầy đủ khi ra quyết định mua nợ có ý nghĩa và tầm quan trọng hết sức lớn lao
Thông qua việc nghiên cứu hoạt động của DATC, đặc biệt chú trọng vào quy trình mua nợ, bởi việc đầu tư vào một khoản nợ là việc đầu tư vô cùng mạo hiểm và khoản đầu tư này có lãi hay không phụ thuộc rất nhiều vào giá mua bán tại thời điểm mua nợ Do đó, đề tài tập trung phân tích quy trình mua
nợ, đặc biệt là công tác phân tích khách nợ trong quy trình mua nợ, đánh giá những hạn chế và tìm nguyên nhân để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này trong quá trình khảo sát, đánh giá và ra quyết định mua nợ Với mong muốn đó, tác giả đã chọn đề tài:” Hoàn thiện công tác phân tích khách nợ trong quy trình mua nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác phân tích khách nợ trên phương diện tài chính trong quy trình mua nợ tại DATC trong thời gian qua; chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích khách nợ trên phương diện tài chính trong quy trình mua nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề thực tiễn về công tác phân tích
khách nợ trên phương diện tài chính trước khi tiến hành xem xét ra quyết định mua nợ thỏa thuận tại Công ty TNHH mua bán nợ Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung, không gian: Nghiên cứu công tác phân tích khách nợ
trong quy trình mua nợ thuộc hoạt động mua bán nợ, chủ yếu là mua bán nợ xấu được nghiên cứu tại DATC
Trang 12- Thời gian nghiên cứu: Từ khi thành lập năm 2004 đến nay Lý do là vì
hoạt động mua bán nợ không phải là hoạt động kinh doanh thông thường, giá trị khoản nợ mua thường rất lớn nên việc nghiên cứu, phân tích mất khá nhiều thời gian Trong hơn mười năm hoạt động từ khi thành lập DATC đến nay,số lượng khoản nợ mua không lớn, ngoài ra DATC chỉ có một quy trình mua bán
nợ và công tác phân tích khách nợ duy nhất Hơn nữa để có sự phân tích khách nợ tổng quát về các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau nên tác giả chọn khoản thời gian từ khi thành lập đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp
định tính, cụ thể gồm các phương pháp sau: phương pháp phân tích, tổng hợp,
diễn giải và quy nạp, so sánh đối chiếu, thống kê mô tả để đưa ra các nhận xét, đánh giá nhằm làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu Bên cạnh đó, đề tài đã vận dụng kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan để làm sâu sắc hơn cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
- Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu đề tài gồm ba chương chính: Chương 1 Cơ sở lý luận về Phân tích khách nợ trong quy trình mua nợ Chương 2 Thực trạng phân tích khách nợ trong quy trình mua nợ của Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam
Chương 3: Phương hướng, giải pháp và kiến nghị hoàn thiện công tác phân tích khách nợ trong quy trình mua nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam
5 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Tái cơ cấu ngân hàng là một trong ba nhiệm vụ trọng tâm của tái cơ cấu kinh tế - một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Mục tiêu đến năm 2020 đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống các TCTD, nợ xấu đã bán
Trang 13cho Công ty mua bán và xử lý nợ xấu đã thực hiện các biện pháp phân loại nợ xuống dưới 3% Do đó, mua bán nợ và xử lý nợ xấu là một trong những biện pháp cấp thiết để giải quyết nhanh nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính, giảm thiểu rủi ro cho các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lý cho nền kinh tế Việc mua bán nợ làm luân chuyển vốn trên thị trường Ngân hàng có thể huy động vốn từ thị trường thông qua việc bán các khoản nợ của mình Các tổ chức mua nợ thì mua các khoản nợ này và coi đó
là các khoản đầu tư mới của mình Do đó, hoạt động mua bán nợ được rất nhiều chuyên gia và nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu, phân tích trong các
đề tài liên quan, cụ thể:
Theo nghiên cứu của tác giả Claessens, S.; S Djankov và D Klingebiel
(1999) về “Tái cấu trúc tài chính ở Đông Á: Nửa đường?” ("Financial Restructuring in East Asia: Halfway there?”), để tái cấu trúc doanh nghiệp
sau khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á 1997-1998 cũng như phát triển thị trường mua bán nợ thì nhiều quốc gia đã sử dụng công ty mua bán nợ quốc gia như Hàn Quốc, Malaysia Đây cũng là cách thức được một số nhà nghiên cứu đề xuất như nghiên cứu của tác giả Dziobek, C.H và C Pazarbaşioğlu
(1997) về “Bài học từ tái cơ cấu hệ thống ngân hàng” ("Lessons from Systemic Bank Restructuring: A Survey of 24 Countries"), tuy nhiên, không
phải trường hợp nào công ty mua bán nợ (AMC) cũng được sử dụng để tái cơ cấu doanh nghiệp, trong một số trường hợp, AMC chỉ được sử dụng như một công cụ quản lý nợ xấu trong giai đoạn khủng hoảng
Bên cạnh đó, nghiên cứu của tác giả Dziobek, C.H (1998) về “Các công
cụ chính sách thị trường đối với tái cơ cấu hệ thống ngân hàng” Based Policy Instruments for Systemic Bank Restructuring") chỉ ra rằng mô
("Market-hình thị trường mua bán nợ và giải pháp tái cơ cấu hệ thống ngân hàng tài chính phụ thuộc vào từng quốc gia và từng thời kỳ, khó có công thức chung
Trang 14cho tất cả các nước Nghiên cứu của tác giả Ingves, S.; S.A Seelig và D.He (2004) về “Các vấn đề trong thiết lập Công ty quản lý tài sản, Quỹ tiền tệ
quốc tế” (“Issues in the Établishment of Asset Management Companies, International Moneytary Fund”) cho kết quả tương tự Các tác giả còn chỉ ra
rằng để thực hiện thành công việc tái cơ cấu các doanh nghiệp thông qua AMC thì cần có môi trường pháp lý phù hợp, tính sáng tạo, độc lập trong hoạt động của các AMC và hoạt động theo nguyên tắc thị trường
Nghiên cứu của tác giả De Luna - Martinez, J (2000) về “Quản lý và
giải quyết khủng hoảng ngân hàng” (“Management and Resolution of Banking Crises”) có nêu kinh nghiệm của Hàn quốc và Mêhicô cho thấy giải
pháp phát triển thị trường mua bán nợ và các công cụ xử lý nợ xấu lại không giống nhau giữa các quốc gia Tương tự, nghiên cứu của tác giả Klingebiel,
D (2000) về “Việc sử dụng các Công ty Quản lý tài sản trong việc giải quyết
khủng hoảng ngân hàng: Kinh nghiệm qua nhiều quốc gia” (“The Use of Asset Management Companies in the Resolution of Banking Crises: Cross-Country Experience”) tổng kết ưu nhược điểm của từng mô hình AMC, tác giả cho
rằng việc lựa chọn cách thức xử lý nợ phụ thuộc vào bối cảnh từng quốc gia Chuyên đề 24 Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Thị trường mua bán nợ- Thực trạng và triển vọng phát triển ở Việt Nam” của Hoàng Trần Hậu, Vũ
Sỹ Cường(2016) trên cơ sở trình bày lý luận chung về thị trường mua bán nợ Doanh nghiệp, thực trạng thị trường mua bán nợ tại Việt Nam với kết quả đạt được và những tồn tại, tác giả đưa ra định hướng và giải pháp phát triển thị trường mua bán nợ phục vụ tái cơ cấu doanh nghiệp Chuyên đề cũng nêu rõ
sự hình thành và phát triển thị trường mua bán nợ mà cụ thể là nợ xấu của doanh nghiệp là yêu cầu khách quan hiện nay ở Việt Nam Cũng như các thị trường khác, sẽ chịu sự chi phối của các qui luật thị trường, nhất là qui luật cung – cầu, qui luật cạnh tranh và các phạm trù giá cả, chi phí, lợi nhuận , thị
Trang 15trường mua bán nợ gồm có các doanh nghiệp có sẵn sàng bán (cung) - doanh nghiệp có nhu cầu mua (cầu) Ngoài ra, chuyên đề cho thấy ở Việt Nam chưa
có thị trường mua bán nợ theo đúng nội hàm của nó, cái thiếu nhất là hàng hóa nợ mà các doanh nghiệp muốn bán chưa phong phú, lành mạnh, đang chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng thương mại mà trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà nước vẫn chiếm ưu thế, chi phối Cơ chế vận hành, hệ thống luật pháp, cơ cấu tổ chức trên thị trường, các chính sách tạo hành lang, môi trường cho thường trường phát triển chưa đồng bộ, chưa đầy đủ Cần giải quyết các vấn đề chỉ được giải quyết khi chúng ta hình thành được thị trường mua bán
nợ đầy đủ với các bộ phận, cơ chế vận hành và luật pháp quản lý hiệu quả thị trường này với sự tham gia có trách nhiệm của nhà nước các bên trên thị trường
Nghiên cứu của tác giả Đào Duy Huân (2013) về “Hiện trạng thị trường mua bán nợ ở Việt Nam và giải pháp phát triển” cho thấy thị trường mua bán
nợ của Việt Nam, bên cạnh sự giống nhau, thì cũng có những nét khác biệt so với thị trường mua bán nợ ở các nước khác trên thế giới Bởi vì hàng hóa của thị trường này đang hầu hết là của doanh nghiệp nhà nước, chưa có sự tham gia của các thành phần kinh tế khác Vì vậy, các chính sách để phát triển thị trường mua bán nợ cũng có nét riêng biệt ở Việt Nam Tác giả cũng nêu một
số vấn đề cần phải giải quyết nếu hình thành thị trường mua bán nợ chỉ thông qua việc thành lập các công ty quản lý nợ và tài sản(AMC) trực thuộc Ngân hàng Nhà nước nhằm giải quyết các khoản nợ mà doanh nghiệp vay ngân hàng không có khả năng trả Từ đó, tác giả đề xuất một số chính sách nhằm phát triển thị trường này
Bài báo “Mua bán nợ: công cụ tài chính giải quyết khủng hoảng và tái cấu trúc DNNN” của tác giả Th.s Hoàng Nguyên Vũ(2008) đăng trên tạp chí Đầu tư chứng khoán Mở đầu, bài viết trình bày vai trò việc xuất hiện các định
Trang 16chế tài chính trung gian như các AMC là rất cần thiết cho quá trình cải cách lại tình hình tài chính DN khi gặp khủng hoảng hoặc mất ổn định về kinh tế Tiếp theo, bài viết nêu lên thành quả đạt được của Công ty DATC trong kinh doanh nợ và rủi ro trong những năm đầu thành lập Cuối cùng, bài viết trình bày những khó khăn trước mắt và những triển vọng phát triển trong tương lai của DATC
Đề tài cấp Bộ (2014) “Hoàn thiện cơ chế tài chính trong xử lý nợ xấu ngân hàng thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp” của ThS Phạm Mạnh Thường cho thấy: thực trạng về thị trường mua bán nợ kể cả thị trường mua bán nợ trong chuẩn (thị trường trái phiếu doanh nghiệp) và thị trường mua bán nợ xấu đều còn chưa thực sự phát triển ở Việt Nam, công tác xử lý nợ xấu còn nhiều hạn chế, tồn tại Từ đó đề xuất các giải pháp để thúc đẩy xử lý nợ xấu, một số các giải pháp đề xuất đã đề cập một phần đến việc thúc đẩy phát triển thị trường mua bán nợ ở Việt Nam, tuy nhiên mới chỉ là một trong các giải pháp mang tính chất khơi gợi mà chưa đưa ra các bước đi cụ thể
Đề tài nghiên cứu của tác giả Trà Đình Thứ “ Pháp luật hoạt động mua, bán nợ của các TCTD ở Việt Nam” thì xuất phát từ việc nghiên cứu các vấn
đề chung về hoạt động mua bán nợ, pháp luật về hoạt động mua bán nợ của các TCTD ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng, tác giả chủ yếu tập trung vào việc đề xuất cho việc hoàn thiện chính sách pháp luật về hoạt động mua, bán
nợ của các TCTD trong thời gian tới ở Việt Nam
Bài báo “Mua bán nợ xấu, tái cơ cấu doanh nghiệp: Nhìn từ thực trạng thị trường đến vai trò của DATC” của TS Vũ Sỹ Cường lại nhấn mạnh đến vai trò của thị trường mua bán nợ và tái cơ cấu DN trên cơ sở nghiên cứu số
liệu tổng quan về tình hình mua bán nợ xấu phục vụ tái cơ cấu DN Từ đó tác
giả đưa ra những đánh giá về hoạt động mua bán nợ xấu phục vụ tái cơ cấu
DN và đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hoạt động mua bán nợ tái cơ cấu DN
Trang 17trên cơ sở phân tách nhóm giải pháp gián tiếp hỗ trợ DN khách nợ tái cấu trúc
và phát triển SXKD thông qua xử lý nợ với nhóm các giải pháp đối với tổ chức xử lý nợ xấu và tái cấu trúc DN
Đóng góp mới của đề tài
Đề tài này lần đầu tiên được nghiên cứu tại Việt Nam Tuy trước đây có một số đề tài nghiên cứu về mua bán nợ, mua và xử lý nợ xấu, phát triển thị trường mua bán nợ, pháp luật về mua bán nợ tại Việt Nam, xử lý tài sản đảm bảo để đẩy nhanh tốc độ thu hồi nợ …nhưng các đề tài chỉ nghiên cứu chung, tổng quát chứ không đi sâu phân tích chi tiết từng công đoạn, từng khâu trong quy trình mua bán nợ như công tác phân tích khách nợ trong quy trình mua nợ
để từ đó tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của các phương án mua bán nợ Trên cơ sở đó, đề tài này đã đưa ra những giải pháp, kiến nghị xác đáng, hợp lý, đóng góp cho công tác phân tích khách nợ trong quy trình mua nợ khi xây dựng phương án mua nợ để ra quyết định mua nợ đúng đắn mang lại hiệu quả đầu tư cao khi mua một khoản nợ xấu Đây là một khâu vô cùng quan trọng trong quy trình mua bán nợ đối với việc đánh giá để ra quyết định mua nợ, một khâu quan trọng trong phát triển thị trường mua bán nợ xấu, góp phần đẩy nhanh tốc độ mua bán nợ xấu, lành mạnh hóa thị trường tài chính, hạn chế tối đa rủi ro trong hoạt động mua bán nợ và mang lại lợi nhuận
từ hoạt động đầu tư mua bán nợ Hơn nữa mà còn là cơ sở cho việc quyết định phương án xử lý nợ sau khi mua là bán nợ hay tái cơ cấu hay chứng khoán hóa khoản nợ…sau này Nếu xây dựng được một phương thức thực hiện hợp
lý, chính xác ở khâu này sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ xử lý nợ xấu trên thị trường tài chính Việt Nam, tạo ra một cơ chế xử lý nợ xấu bền vững cho nền kinh tế Việt Nam
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH KHÁCH NỢ TRONG QUY TRÌNH MUA NỢ CỦA CÔNG TY MUA BÁN NỢ 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ, NỢ XẤU
1.1.1 Khái niệm nợ
“Nợ là một thuật ngữ thường được sử dụng trong trường hợp phải thực hiện một nghĩa vụ hoàn trả hay đền bù về tài sản, vật chất Tuy nhiên, nợ cũng
có thể được sử dụng để chỉ các nghĩa vụ khác Trong trường hợp nợ tài sản thì
nợ là một cách sử dụng sức mua trước khi kiếm đủ tổng số tiền để trả cho sức mua đó Các công ty cũng có thể sử dụng nợ như là một phần trong chiến lược tài chính tổng thể của mình.”
Nợ, theo cách hiểu thông thường, được hình thành khi một người cho vay đồng ý cho người vay vay một lượng tài sản nhất định Trong xã hội hiện đại, nợ thường được đi kèm với nguyên tắc hoàn trả, sự đảm bảo khả năng thanh toán với một mức lãi suất nhất định tính theo thời điểm
Với các cơ quan Nhà nước thì nợ phát sinh khi doanh nghiệp không trả các khoản bắt buộc theo luật quy định đầy đủ và kịp thời (tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thuế)
Với các Doanh nghiệp thì khoản nợ là một cam kết chưa được trả, thường bằng tiền mặt khi Doanh nghiệp không trả cho một dịch vụ, hàng hóa hay tài sản đã được thỏa thuận trước
Với các tổ chức tín dụng, thì nợ bao gồm: Các khoản cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, các khoản bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng(khi người đi vay kia không trả tiền, ngân hàng sẽ đòi tiền doanh nghiệp) và các hình thức tín dụng khác Như vậy, đối với các TCTD, hoạt động tín dụng là rộng hơn hoạt động cho vay
Trang 19Hàng hóa nợ được hiểu là quyền của chủ nợ, quyền này là kết quả của hoạt động kinh doanh cốt lõi đầu tiên - cho vay nợ Chi tiết của “quyền chủ nợ” được quy định rõ trong hợp đồng tín dụng và các luật có liên quan - được xem như là “mô tả về quy cách chất lượng hàng hóa” khi nợ trở thành hàng hóa trên thị trường thứ cấp - thị trường của những người mua đi bán lại các khoản nợ Đặc biệt hơn, quyền của chủ nợ là một hàng hóa gắn liền và không thể tách rời với một hoặc nhiều tài sản - thường được xem là đảm bảo cho khả năng thực hiện nghĩa vụ của khách nợ (nếu có và có thể vô hình hoặc hữu hình) Như vậy:
Hàng hóa nợ = Quyền chủ nợ + Tài sản bảo đảm cho khoản nợ
Từ những nghiên cứu trên đây, có thể hiểu: Nợ là nghĩa vụ phải trả bằng tiền hoặc tài sản của cá nhân hoặc tổ chức này (gọi là khách nợ) đối với cá nhân hoặc tổ chức khác (chủ nợ) Nợ có thể có tài sản bảo đảm hoặc không
có tài sản bảo đảm
1.1.2 Khái niệm nợ xấu
Nợ xấu hay nợ khó đòi thường được nhắc đến với các thuật ngữ “bad debt”, “non-performing loan” (NPL), “doubtful debt” Thuật ngữ “bad debt”
là một thuật ngữ được dùng khá phổ biến trên báo chí còn trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, các chuyên gia thường sử dụng thuật ngữ “non-performing loans” (NPL), trong khi kế toán quốc tế lại hay dùng thuật ngữ “non-accrual loans” (theo hệ thống chuẩn mực kế toán của Mỹ US GAAP) hay “impaired loans” (theo Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39) Tuy nhiên, hiện nay đang tồn tại khá nhiều khái niệm nợ xấu khác nhau Có thể nhắc tới một số khái niệm nợ xấu như sau:
- Khái niệm nợ xấu của Việt Nam
Định nghĩa nợ xấu của Việt Nam tại Quyết định 493/2005/QĐ-Ngân hàng Nhà nước ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước như sau: “Nợ xấu là những
Trang 20khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm
5 (có khả năng mất vốn).” Cụ thể nhóm 3 trở xuống gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, đồng thời tại Điều 7 của Quyết định nói trên cũng quy định các ngân hàng thương mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách
hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp
- Khái niệm nợ xấu của Ngân hàng Thế giới (CIEM,2014)
Theo khái niệm của Ngân hàng Thế giới thì nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp
- Khái niệm của nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG) (CIEM,2014) Nhóm chuyên gia tư vấn AEG của Liên Hợp Quốc cho rằng
định nghĩa về nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên được sử dụng như hướng dẫn cho các ngân hàng AEG thống nhất định nghĩa như sau:
“Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”
- Khái niệm nợ xấu của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) (CIEM,2014) BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu Tuy nhiên,
trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi
ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động
Trang 21gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản nợ đã quá hạn trên 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ
- Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) (CIEM,2014) Chuẩn mực kế toán
quốc tế về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (impaired) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (non-performing) Chuẩn mực kế toán IAS
39 được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 chỉ
ra rằng cần có bằng chứng khách quan để xếp một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ
bị giảm xuống vì những tổn thất do chất lượng nợ xấu gây ra
- Khái niệm nợ xấu của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) (CIEM,2014) Trong
Hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia, IMF đưa
ra định nghĩa về nợ xấu như sau: “một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản)
Từ những định nghĩa trên có thể thấy được sự tương đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới Theo đó, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi xuất hiện 1 hoặc cả 2 dấu hiệu sau: (1) Quá hạn trả nợ gốc và lãi; (2) Khi khách hàng vay vốn bị tổ chức tín dụng (TCTD) hoặc ngân hàng coi là không có khả năng trả nợ Bản chất của nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xóa
sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ Nhìn chung, một doanh nghiệp luôn phải ước tính trước những khoản nợ xấu trong chu kỳ kinh doanh hiện tại dựa vào những số liệu nợ xấu ở kì trước
Trang 22Tóm lại, có thể hiểu nợ xấu là những khoản nợ quá hạn trả nợ trên 90 ngày và/hoặc được đánh giá là khó có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi
1.1.3 Nguyên nhân nợ xấu
Việc xác định chính xác nguyên nhân gây ra nợ xấu có tính chất quyết định trong việc xây dựng phương án mua bán nợ và xử lý nợ xấu hiệu quả Nguyên nhân phổ biến gây ra nợ xấu thường có thể chia thành 4 nhóm:
- Nhóm nguyên nhân khách quan (Nguyễn Thu Hương, 2016)
+ Các yếu tố về kinh tế - chính trị: Các yếu tố vĩ mô như tốc độ tăng
trưởng GDP, sự mở rộng tín dụng( chính sách tiền tệ nới lỏng để kích thích tăng trưởng), lãi suất thực, lạm phát, cung tiền (M2), tỷ lệ thất nghiệp, đặc biệt là những “cú sốc” bên ngoài về kinh tế như khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính, nợ công hay các yếu tố chính trị - xã hội như nạn tham nhũng, bất ổn định chính trị là những nhân tố có thể gây nên tình trạng nợ xấu của các ngân hàng hay của doanh nghiệp
+ Các yếu tố về tự nhiên: Những biến động bất lợi về thời tiết, thiên tai,
địch họa ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng lớn đến đời sống, sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, cũng làm cho tình trạng
nợ xấu tăng do các khách nợ hay doanh nghiệp không có khả năng trả nợ
- Nhóm nguyên nhân từ phía các tổ chức tín dụng (TCTD)
+ Tình trạng tăng trưởng tín dụng quá mức và tập trung quá nhiều vào một
số ngành, đặc biệt là những ngành phi sản xuất như chứng khoán, bất động sản
+ Chất lượng thẩm định khoản vay yếu kém, giám sát bị buông lỏng Tại
một số nền kinh tế theo đuổi chính sách tự do hóa khu vực tài chính, việc dễ dàng tiếp cận các dòng vốn nước ngoài đã khuyến khích các ngân hàng vay tự
do từ nước ngoài trong khi thiếu các biện pháp giám sát hiệu quả khiến tình trạng nợ xấu tăng cao, góp phần dẫn đến khủng hoảng tiền tệ
Trang 23+ Quản lý ngân hàng và quản trị rủi ro yếu kém Trong đó, có thể kể đến
các nguyên nhân như trình độ yếu kém của đội ngũ cán bộ ngân hàng, nạn tham nhũng, hối lộ trong hoạt động ngân hàng, cơ chế trích lập quỹ dự phòng rủi ro không hợp lý, đặc biệt là khâu định hướng khách hàng mục tiêu, công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ bị buông lỏng cũng ảnh hưởng đến nợ xấu phát sinh
Trong các nguyên nhân nêu trên, tình trạng tăng trưởng tín dụng quá mức
và hạn chế trong công tác thẩm định, giám sát các khoản vay được coi là nguyên nhân trực tiếp gây ra tình trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng Tình trạng này
cộng hưởng với tác động từ các “cú sốc” bên ngoài rất có thể dẫn tới những trục trặc của hệ thống ngân hàng, hoặc thậm chí là nguy cơ đổ vỡ hàng loạt
- Nhóm nguyên nhân từ phía doanh nghiệp
+ Phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay: Có doanh nghiệp tỷ lệ vay lên đến
80 -90% tổng tài sản dẫn đến khi lãi suất cho vay biến động tăng ngoài dự kiến, kinh doanh thua lỗ, không đủ trả lãi vay và vốn vay, dẫn đến tình trạng không trả được nợ ngân hàng
+ Đầu tư dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm dẫn đến phân tán nguồn
lực đặc biệt là vốn dẫn đến thiếu hụt vốn, sản xuất ngưng trệ dẫn đến phá sản, làm tăng nợ xấu của các ngân hàng
+ Năng lực quản trị doanh nghiệp yếu kém: Thiếu phương án kinh
doanh khả thi, khả năng lập kế hoạch và dự báo kém, thiếu công khai, minh bạch, quản lý nội bộ yếu kém, sử dụng vốn không đúng mục đích
- Nhóm nguyên nhân từ tài sản bảo đảm
+ Tài sản bảo đảm bị giảm giá trị quá nhanh trong một thời gian ngắn
như bất động sản (BĐS), hàng tồn kho một số khu vực và một số loại hàng hóa
+ Vướng mắc trong quá trình xử lý tài sản thế chấp, dẫn đến khó khăn
cho các chủ nợ do thời gian xử lý kéo dài,…
Trang 241.1.4 Tác động của nợ xấu
- Đối với doanh nghiệp có nợ tồn đọng (Nguyễn Thu Hương, 2016)
Áp lực của một doanh nghiệp có nợ tồn đọng là vô cùng to lớn do các khoản nợ sẽ tạo ra những chi phí không mong đợi và sẽ ăn mòn dần vốn của doanh nghiệp Trên thực tế lãi suất đối với khoản vay được gia hạn thường gấp 1,5 lần lãi suất cho vay làm cho chi phí đối với khoản vay của doanh nghiệp tăng lên, trong khi doanh nghiệp đã không trả được khoản lãi vay bình thường thì để trả khoản lãi phạt này dường như càng khó khăn hơn
Bên cạnh đó, doanh nghiệp không chỉ vay vốn ở ngân hàng mà còn vay
ở rất nhiều nơi khác, do đó khi một khoản vay được coi là khó trả thì dẫn đến hậu quả là các khoản vay còn lại cũng đều được coi là khó trả và lúc này doanh nghiệp không chỉ bận tâm về chủ nợ là ngân hàng mà phải đối mặt với tất cả các chủ nợ khác, mọi quyết định, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều
bị tác động Các chủ nợ không nhân nhượng trong việc thu hồi nợ, thậm chí
có thể đẩy doanh nghiệp đến phá sản để thu hồi nợ Dưới sức ép của ngân hàng, của các chủ nợ khác, doanh nghiệp buộc bị tuyên bố phá sản vì khi đó, họ được trả nợ trước, đó là biện pháp tốt đối với các chủ nợ để thu hồi nợ Chủ doanh nghiệp phá sản sẽ khó để có thể làm lại từ đầu khi mà các đối tác biết rằng người ấy là chủ một doanh nghiệp bị phá sản, toàn bộ công nhân viên của doanh nghiệp thất nghiệp, tạo gánh nặng cho gia đình và cho cả xã hội Đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), nợ xấu là một trong những cản trở trong tiến trình cổ phần hóa các DNNN, làm ảnh hưởng đến quá trình sắp xếp, cải tổ hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của khu vực này, từ đó làm ảnh hưởng đến quá trình tái cơ cấu nền kinh tế nói chung
- Ảnh hưởng đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng
Nợ xấu là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó có thể thấy được sức khỏe tài chính, kỹ năng quản trị rủi
Trang 25ro của TCTD đó Nợ xấu tăng cao có thể dẫn đến TCTD bị thua lỗ và giảm lòng tin của người gửi tiền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của TCTD Tình trạng này kéo dài sẽ làm TCTD bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng Chính vì vậy, việc nhận diện nợ xấu và xử lý nợ xấu là một trong những vấn đề quan trọng trong tái cấu trúc hệ thống tài chính
Một tác động khác của nợ xấu là nợ xấu gây cản trở cho quá trình cổ phần hóa của các ngân hàng thương mại Nợ xấu gây khó khăn trong quá trình định giá giá trị của ngân hàng, một khâu quan trọng để tham gia cổ phần hóa
và điều này cũng làm giảm sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Thực tế cho thấy đối với các ngân hàng thương mại, tình trạng nợ xấu quá lớn chưa giải quyết được để loại trừ ra khỏi giá trị doanh nghiệp Những ngân hàng này nếu không xử lí được khoản nợ khi cổ phần hoá sẽ làm nhà đầu tư e ngại do khi nắm giữ cổ phần
- Ảnh hưởng đối với nền kinh tế
Mối quan hệ giữa ngân hàng - khách hàng - nền kinh tế là hết sức chặt chẽ Theo đó, nợ xấu ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngân hàng, và ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế bởi khả năng khai thác và đáp ứng vốn, dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế bị hạn chế khi nợ xấu phát sinh và tồn đọng Mặt khác nợ xấu phát sinh do khách hàng, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh (SXKD) kém hiệu quả sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế do vốn ứ đọng, SXKD đình trệ
Sự phá sản của doanh nghiệp, đặc biệt là hệ thống ngân hàng sẽ tạo ra một cú sốc lớn đối với cả nền kinh tế Thất nghiệp, bất ổn về an ninh, mất nguồn thu
từ thuế hay thiếu sản phẩm đều là các yếu tố làm giảm GDP, làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế so với các nước khác Nợ xấu ảnh hưởng đến quá
Trang 26trình tái cơ cấu lại doanh nghiệp, cản trở việc cổ phần hóa, sắp xếp lại các DNNN trong quá trình cải cách kinh tế ở Việt Nam
Ngoài ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, nợ xấu còn gây tác động gián tiếp đến thu ngân sách, làm tăng rủi ro thâm hụt ngân sách Nhà nước và trầm trọng hơn các khoản nợ công
1.1.5 Chính sách xử lý nợ xấu
Khi nợ xấu xảy ra có tính hệ thống thì có ba hình thức giải quyết thông dụng sau: (i) giải pháp thị trường tự do: tự chịu trách nhiệm (self-reliance), (ii) chuyển nợ xấu từ các NHTM sang một công ty quản lý tài sản đặc biệt (AMC), và (ii) xoá nợ (Mitchell, 2001) Gần đây, giải pháp thu hẹp tỷ lệ sở hữu (bail-in) bắt buộc đối với các cổ đông hiện hữu cũng được đưa ra để giải quyết nợ xấu để tránh tình trạng rủi ro đạo đức một khi các ngân hàng trở thành quá lớn để sụp đổ (Zhou et al., 2012)
Giải pháp tự giải quyết (self-reliance): giải pháp này hàm ý các ngân
hàng sẽ phải tự xử lý các khoản nợ xấu của mình để đạt được các chuẩn mực
mà NHTW đưa ra Các NHTM sẽ phải dùng các khoản dự phòng và huy động thêm vốn mới để bù đắp lại lượng vốn bị mất khi nợ xấu được ghi nhận là mất vốn Các NHTM cũng phải tự thỏa thuận trong việc mua bán, xử lý nợ xấu để thu hồi vốn NHTW thường sẽ ấn định một khoảng thời gian nhất định để các NHTM tự xử lý Khi không tự xử lý được, các NHTM có thể bị phá sản
Giải pháp AMC: việc hình thành công ty đặc biệt ở quy mô quốc gia để
mua bán nợ xấu đã được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Thụy Điển, Hàn Quốc, Thái Lan, v.v Mục đích của giải pháp này
là tạo ra công cụ để giải quyết nhanh chóng nợ xấu tại các NHTM AMC sẽ tiến hành mua lại các khoản nợ xấu từ các NHTM với những mức chiết khấu khác nhau tùy vào đánh giá về chất lượng của các khoản nợ đó Khi quá trình này được khởi động, nợ xấu tại các NHTM sẽ giảm đi nhanh chóng Tất
Trang 27nhiên, các NHTM sẽ phải ghi nhận mất vốn một phần vì khi tài sản nợ xấu được chuyển sang cho AMC, các NHTM chỉ thu được tiền về ở mức giá đã bị chiết khấu AMC sau khi nhận các khoản nợ xấu của các NHTM sẽ tiến hành phân loại và thực hiện các hình thức bán nợ xấu cho các đối tác khác nhau trong nền kinh tế
Giải pháp xoá nợ: giải pháp xóa nợ cho doanh nghiệp thường được đề
xuất thực hiện khi các khoản nợ là giữa các NHTM nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước Vì cả hai đối tượng này đều thuộc sở hữu của Nhà nước nên việc xóa nợ sẽ không làm thay đổi giá trị tài sản của Nhà nước Vấn đề chính của giải pháp xóa nợ là nó ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước đối với thị trường và gây ra rủi ro về ngân sách mềm trong tương lai Khi DNNN được xóa nợ thì đương nhiên NHTM nhà nước sẽ bị mất vốn Và để hoạt động thì Nhà nước buộc phải bơm vốn (recapitalization) cho ngân hàng tương đương với lượng vốn đã bị mất đi do xóa nợ
1.2.1 Khái niệm mua bán nợ trên thị trường tài chính
Mua bán nợ là một loại hình dịch vụ thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính để mua bán một loại sản phẩm đặc biệt - nợ, theo đó bên bán nợ chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ và nhận thanh toán từ bên mua nợ Trên thực tế, hoạt động mua bán nợ đã tồn tại trên thế giới từ rất lâu, chẳng hạn tại Mỹ thì mua bán nợ đã xuất hiện từ hơn 100 năm trước và thị trường mua bán nợ của Mỹ phát triển mạnh từ năm 1989 Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay thì mua bán nợ chủ yếu là mua bán nợ xấu khi các doanh nghiệp và ngân hàng chưa có cơ chế để xử lý được các khoản nợ xấu này Việc mua bán nợ xấu được tiến hành với sự tham gia của các đối tượng sau: Trung gian mua bán, chủ nợ, khách nợ (công ty mua bán nợ và tài sản, doanh nghiệp, ngân hàng…) nhằm xử lý các khoản nợ xấu và tài sản tồn đọng, làm cho
Trang 28Nợ xấu sau khi được mua về từ chủ nợ, sẽ được một công ty trách nhiệm hữu hạn tập trung quản lý, thu hồi và thanh lý Tùy vào các chức năng đảm nhận khác nhau mà các công ty này có thể được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau
1.2.2 Các phương thức mua bán nợ
Trong thị trường mua bán nợ của các nước trên thế giới, thường có hai phương thức mua bán nợ:
a Mua bán nợ tham gia (participation)
Mua bán nợ tham gia là việc bên bán nợ bán một phần khoản nợ cho vay cho bên mua nợ, nhưng bên mua nợ bị hạn chế về kiểm soát hợp đồng cho vay và quyền đối với bên vay Đặc điểm của mua bán nợ tham gia là:
- Không có sự chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ từ bên bán nợ cho bên mua nợ, bên bán nợ vẫn duy trì quyền sở hữu đối với khoản nợ
- Bên mua nợ không có quyền trực tiếp thay đổi các điều khoản của hợp đồng tín dụng ban đầu được ký kết giữa bên cho vay và bên vay
- Bên mua nợ không có quyền đòi nợ trực tiếp từ bên vay nợ Khi mua
nợ tham gia, bên mua nợ phải chịu nhiều rủi ro Trong trường hợp bên bán nợ phá sản, khoản nợ mà bên mua nợ đã mua được xem như là nghĩa vụ không bảo đảm của bên bán nợ
b Chuyển nhượng nợ (Assignment)
Chuyển nhượng nợ là việc bên bán nợ bán thực sự một phần hoặc toàn
bộ khoản cho vay cho bên mua nợ và chuyển quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ Chuyển nhượng nợ có các đặc điểm sau đây:
- Toàn bộ quyền sở hữu khoản nợ được chuyển giao cho bên mua nợ
- Bên mua nợ có quyền thỏa thuận trực tiếp với bên vay để thay đổi các điều khoản của hợp đồng tín dụng ban đầu, quyền đòi nợ trực tiếp từ bên vay
Trang 29Như vậy, giữa chuyển nhượng nợ và mua bán nợ tham gia có những điểm khác biệt cơ bản Chuyển nhượng nợ là bán đứt khoản nợ, quyền sở hữu khoản nợ được chuyển giao cho bên mua nợ, bên mua nợ có quyền trực tiếp đối với bên vay Trong khi đó, đối với mua bán nợ tham gia thì bên mua nợ
không được sở hữu khoản nợ và bị hạn chế về quyền đối với bên vay
1.2.3 Các chủ thể tham gia mua bán nợ
a Bên bán nợ
Bên bán nợ trong thị trường mua bán nợ trên thế giới thường là các ngân hàng lớn, ngân hàng nước ngoài, ngân hàng đầu tư, các công ty xử lý nợ
Các ngân hàng lớn (Major money center Banks) Các ngân hàng lớn
thường bán nợ xấu trực tiếp cho các nhà đầu tư, cho “ngân hàng xấu” theo cơ chế cấu trúc “ngân hàng tốt - ngân hàng xấu” (good bank – bad bank) Mục đích của cơ chế này là nhằm loại bỏ danh mục nợ xấu ra khỏi bảng cân đối kế toán của ngân hàng bán nợ Sau khi mua nợ, “ngân hàng xấu” sẽ triển khai các nghiệp vụ xử lý nợ xấu để tối đa hóa giá trị thu hồi Các quốc gia lớn trên thế giới cũng sử dụng mô hình “good bank – bad bank” để xử lý nợ xấu trong giai đoạn khủng hoảng tài chính
Các ngân hàng nước ngoài (Foreign Banks) Ngân hàng nước ngoài
thường bán những khoản nợ do chi nhánh của nó cho vay tại nước ngoài và các khoản nợ cho vay trong nước nhưng được bán ra tại thị trường nước ngoài nhằm mục đích xử lý nợ xấu hoặc tạo lập thị trường mua bán nợ tại nước ngoài
Các ngân hàng đầu tư (Investment Banks) Ngân hàng đầu tư là ngân
hàng chuyên thực hiện các giao dịch tài chính lớn và phức tạp như: bảo lãnh phát hành, tư vấn sáp nhập và tổ chức lại công ty khác, làm môi giới và cố vấn tài chính cho khách hàng là tổ chức Trong hoạt động bán nợ, các ngân hàng đầu tư chủ yếu đóng vai trò tạo thị trường
Trang 30Các tổ chức xử lý nợ xấu Các tổ chức xử lý nợ xấu chủ yếu là các
AMC do các NHTM thành lập, các AMC xấu do tư nhân hoặc chính phủ thành lập Các tổ chức này tham gia bán nợ trên cơ sở những khoản nợ xấu được mua lại từ các NHTM và các tổ chức tài chính
b Bên mua nợ
Bên mua nợ trong thị trường mua bán nợ thường là các ngân hàng đầu
tư, quỹ đầu tư mạo hiểm, ngân hàng trong nước, ngân hàng nước ngoài, các công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí, các quỹ tương hỗ, các tổ chức xử lý nợ xấu
Ngân hàng đầu tư Các khoản cho vay đòn bẩy cao (Highly leveraged
transactions - HLTs) thường mang lại rủi ro lớn cho các ngân hàng cho vay, nó thường được bán lại với giá bán thấp hơn giá trị sổ sách Với lợi thế là tổ chức có
kỹ năng chuyên môn cao về phân tích các khoản cho vay HLTs và nắm kỹ thông tin về khách hàng thông qua việc bảo lãnh các khoản vay HLTs của khách hàng ngay từ đầu, nên các ngân hàng đầu tư thường là các tổ chức chủ yếu mua lại các khoản cho vay HLTs nhằm tìm kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn
Quỹ đầu tư mạo hiểm (Vulture Funds) Hoạt động của quỹ đầu tư mạo
hiểm là mua lại các khoản nợ xấu trên thị trường thứ cấp với giá mua thấp hơn giá trị sổ sách, sau đó gây áp lực buộc con nợ phải trả nợ đầy đủ, bán tài sản bảo đảm của con nợ để thu hồi nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao Quyết định
xử lý nợ của quỹ đầu tư mạo hiểm không dựa trên quan điểm cơ cấu lại nợ, cải thiện tình hình tài chính của con nợ, mà chủ yếu đầu cơ do đó gây bất lợi cho các con nợ Tuy nhiên, việc bán nợ xấu cho các quỹ tư mạo hiểm giúp ngân hàng bán nợ bảo vệ được danh tiếng do không phải kiện tụng con nợ
Ngân hàng trong nước (Domestic Banks) Do năng lực tài chính giới
hạn nên nguồn vốn cho vay của các ngân hàng nhỏ bị hạn chế so với ngân hàng lớn và danh mục cho vay của các ngân hàng nhỏ không đa dạng theo vùng địa lý, khách nợ Để đa dạng hóa danh mục cho vay, các ngân hàng nhỏ
Trang 31có xu hướng mua nợ của các ngân hàng lớn Bên cạnh việc mua nợ, bán nợ cũng là giải pháp để các ngân hàng nhỏ cơ cấu lại danh mục cho vay, có đủ dòng tiền để cho vay các dự án mới nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu an toàn vốn,
dự trữ bắt buộc và tránh cho vay tập trung vào một khách hàng
Ngân hàng nước ngoài (Foreign Banks) Để mở rộng cho vay ra thị
trường nước ngoài, các ngân hàng thường thành lập mạng lưới chi nhánh ở nước ngoài Tuy nhiên, do chi phí mở chi nhánh thường cao và mất thời gian, nên các ngân hàng nước ngoài có xu hướng mua lại những khoản nợ cho vay của ngân hàng khác ở nước ngoài để mở rộng thị trường cho vay và có thêm khách hàng mới Ngoài ra, việc mua lại các khoản cho vay ở nước ngoài còn giúp ngân hàng
đa dạng hóa danh mục cho vay, giảm thiểu rủi ro và tìm kiếm lợi nhuận
Công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí (Pension Funds), quỹ tương hỗ Các
công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí và quỹ tương hỗ là những người mua chủ yếu các khoản nợ dài hạn nhằm hỗ trợ thanh khoản cho ngân hàng, đầu tư dài hạn
để tìm kiếm lợi nhuận Bên cạnh mua nợ, các quỹ tương hỗ (như Merrill Lynch Prime của Mỹ) còn cho vay hợp vốn để thu lãi và phí cho vay
Các tổ chức xử lý nợ xấu
Đây là các tổ chức mua lại nợ xấu của các NHTM và tổ chức tài chính
để xử lý bằng nhiều cách thức khác nhau như thu hồi nợ trực tiếp, tái cơ cấu doanh nghiệp, chứng khoán hóa nợ xấu, bán lại nợ xấu cho các nhà đầu tư trên thị trường nợ thứ cấp
1.2.4 Phạm vi và nguyên tắc hoạt động mua bán nợ
a Phạm vi hoạt động mua bán nợ
Theo quy định tại Điều 4 Quyết định số 59/2006/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế mua bán nợ của các tổ chức tín dụng ngày 21/12/2006 thì ngoài các khoản nợ đã có thỏa thuận không được
Trang 32mua bán, các khoản nợ có thể được mua, bán một phần hay toàn bộ theo thỏa thuận bao gồm:
- Các khoản nợ mà tổ chức tín dụng cho khách hàng vay đang hạch toán nội bảng( kể cả khách hàng là các tổ chức tín dụng khác)
- Các khoản nợ đã được tổ chức tín dụng xử lý bằng dự phòng rủi ro hoặc bằng nguồn khác hiện đang được hạch toán theo dõi ngoại bảng
- Thứ hai, việc mua, bán nợ được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa bên mua nợ và bên bán nợ, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia mua, bán nợ
- Tiếp đến, việc chuyển giao khoản nợ được mua, bán được tiến hành đồng thời với việc chuyển giao các nghĩa vụ của bên nợ và các bên có liên quan đến khoản nợ (kể cả các quyền gắn liền với các bảo đảm cho khoản nợ)
từ bên bán nợ sang bên mua nợ
- Ngoài ra, nếu việc mua, bán nợ có liên quan tới các tổ chức, cá nhân nước ngoài và thanh toán bằng ngoại tệ, các bên mua, bán nợ phải chấp hành các quy định của pháp luật hiện hành về quản lý ngoại hối và các quy định liên quan khác của pháp luật Việt Nam
- Cuối cùng, một khoản nợ có thể được bán một phần hoặc toàn bộ, bán cho nhiều bên mua nợ và có thể được mua, bán nhiều lần
Trang 331.2.5 Lợi ích của hoạt động mua bán nợ
a Lợi ích đối với bên bán nợ
- Bán nợ cho phép ngân hàng có thể tạo ra dòng tiền mặt nhưng không cần huy động tiền gửi, do đó không cần tăng dự trữ bắt buộc
- Để đảm bảo quy định về an toàn vốn (CAR), ngân hàng tìm cách tăng vốn chủ sở hữu hoặc giảm tài sản Tuy nhiên, do chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu cao hơn chi phí sử dụng nợ sau thuế, nên ngân hàng lựa chọn biện pháp giảm tài sản thay vì tăng vốn Thông qua bán nợ, ngân hàng có thể giảm tài sản để tăng CAR và giảm chi phí sử dụng vốn
- Giúp ngân hàng cơ cấu lại danh mục đầu tư bằng cách bán các khoản
nợ có lãi suất cố định có thể gặp rủi ro do lãi suất thị trường tăng và giữ những khoản nợ có thể tái định giá như các khoản cho vay ngắn hạn sắp đáo hạn/gia hạn, các khoản cho vay có lãi suất thả nổi (tài sản nhạy cảm lãi suất) khi lãi suất thị trường tăng, và ngược lại
- Khi bán nợ tham gia, ngân hàng có thể tài trợ cho các dự án lớn vượt quá giới hạn cho vay của mình, chia sẻ rủi ro cho bên mua nợ nhưng vẫn giữ được khách hàng vay, đặc biệt là những khách hàng lớn
- Khi bán nợ xấu theo phương thức chuyển nhượng nợ cho các AMC, ngân hàng có thể loại khoản nợ xấu đó ra khỏi bảng cân đối kế toán của mình, thông qua đó ngân hàng có thể giảm tỷ lệ nợ xấu, cải thiện khả năng thanh khoản, tăng CAR
- Khi thực hiện bán nợ, các tổ chức xử lý nợ xấu có điều kiện thu hồi vốn
nhanh, phân tán rủi ro cho các nhà đầu tư khác, tìm kiếm lợi nhuận
Trang 34b Lợi ích đối với bên mua nợ
- Trong trường hợp dư thừa thanh khoản, bên mua nợ có thể đầu tư tiền nhàn rỗi để mua nợ và tìm kiếm lợi nhuận
- Việc mua nợ giúp ngân hàng cơ cấu lại danh mục cho vay của mình
- Khi mua nợ theo hình thức chuyển nhượng nợ, bên mua nợ (đặc biệt là ngân hàng nước ngoài) sẽ có được khách hàng vay mới, tìm kiếm được chỗ đứng trên thị trường mới
- Thông qua hoạt động mua nợ, các ngân hàng mua nợ có khả năng tận dụng lợi thế về chuyên môn và kinh nghiệm quản lý đối với một số lĩnh vực đầu tư so với ngân hàng bán nợ thiếu chuyên môn và kinh nghiệm hơn
- Việc mua nợ xấu của ngân hàng giúp các AMC có cơ hội khai thác, xử
lý nợ xấu để tìm kiếm lợi nhuận (trừ các AMC hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận)
c Lợi ích đối với khách nợ
Sau khi được AMC áp dụng biện pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ, xóa nợ, giảm lãi suất, khách nợ được lành mạnh tài chính, có điều kiện phục hồi và phát triển SXKD
1.3.1 Sự hình thành Công ty Mua bán nợ
Trong quá trình hoạt động sản xuất - kinh doanh, các doanh nghiệp không thể tránh khỏi việc phát sinh các khoản nợ Doanh nghiệp có thể là chủ thể vay nợ hoặc cũng có thể là chủ thể cho vay (chủ nợ) các đối tượng như Chính phủ, các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp khác, người lao động…
Do cả những yếu tố chủ quan và khách quan, có những khoản nợ không được thanh toán đúng thời điểm Điều đó làm phát sinh những khoản nợ đọng và nó
sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của nền kinh tế Nợ tồn đọng sẽ gây mất khả năng thanh toán của các doanh nghiệp Ngoài ra nợ tồn đọng kéo dài
Trang 35còn làm giảm khả năng cạnh tranh, khả năng hội nhập khu vực và quốc tế của các doanh nghiệp Khi có một sự đổ vỡ của một doanh nghiệp, nhất là đối với
tổ chức tín dụng, sẽ kéo theo sự đổ vỡ có tính dây chuyền Nợ xấu là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tài chính tại nhiều nước trên thế giới Do đó việc tìm ra những giải pháp làm giảm những khoản nợ tồn đọng trong nền kinh tế
là rất quan trọng Một trong những giải pháp đó là việc thành lập AMC
Việc xử lý nợ xấu thông qua các tổ chức xử lý nợ đã được thực hiện thành công tại các nước Châu Á trong bối cảnh khủng hoảng tài chính năm
1997 như Hàn Quốc với Công ty quản lý tài sản Hàn Quốc (Korean Asset Management Corporation: KAMCO), Thái Lan với Cơ quan tái cấu trúc tài chính của Thái Lan (Finance Restructuring Agency: FRA) và Công ty quản lý tài sản Thái Lan (Thai Asset Management Company: TAMC), Malaysia với Danaharta, Indonesia với Cơ 7quan tái cấu trúc ngân hàng Indonesia (Indonesian Bank Restructuring Agency: IBRA) Ngoài ra, Trung Quốc cũng
đã thành lập bốn AMC để xử lý nợ xấu của bốn NHTM nhà nước, một số nước phát triển như Mỹ và các nước châu Mỹ La tinh cũng có các tổ chức chuyên xử lý nợ xấu ngân hàng
Nhiệm vụ chính của các tổ chức xử lý nợ xấu do chính phủ các nước thành lập là giải quyết và ứng phó với khủng hoảng tài chính Thông qua hoạt động mua và xử lý nợ xấu, các tổ chức này đã tạo lập được thị trường mua bán nợ xấu, kéo theo sự hình thành của các AMC tư nhân
- Các mô hình công ty mua bán nợ
Xét theo tính chất sở hữu vốn thì có thể chia các AMC thành hai nhóm là công ty nhà nước và công ty tư nhân Nếu xét trên phương diện chức năng kinh doanh nợ xấu thì có thể chia các tổ chức xử lý nợ xấu thành 2 nhóm:
Trang 36Nhóm 1: các tổ chức xử lý nợ tập trung do chính phủ thành lập chẳng
hạn như KAMCO của Hàn Quốc, IBRA của Indonesia, FRA và TAMC của Thái Lan, Danaharta của Malaysia, VAMC và DATC của Việt Nam
Nhóm 2: các tổ chức xử lý nợ phân tán bao gồm các AMC trực thuộc
NHTM (như các AMC của Việt Nam, Trung Quốc), AMC tư nhân
- Mục tiêu hoạt động
Chính phủ các nước thường đặt mục tiêu cho các AMC là làm giảm nhanh
tỷ lệ nợ xấu và tối đa hóa giá trị thu hồi, đây là mục tiêu phi lợi nhuận được nhiều nước trên thế giới áp dụng, (ii) bảo toàn và phát triển vốn
- Nguồn vốn hoạt động
Nguồn vốn ban đầu của các AMC thuộc mô hình tập trung là do chính phủ cấp, chủ yếu dưới dạng tiền mặt, trái phiếu, bảo lãnh phát hành trái phiếu, trong đó chủ yếu là phát hành trái phiếu Đối với các AMC được tổ chức theo
mô hình phân tán thì nguồn vốn hoạt động chủ yếu là do các ngân hàng mẹ cấp như các AMC trực thuộc NHTM, hoặc vốn góp của các cổ đông đối với các AMC tư nhân
- Địa vị pháp lý
Thông thường, các AMC do chính phủ các nước thành lập nhằm mục tiêu xử lý nợ xấu tập trung và được chính phủ trao một số thẩm quyền pháp lý đặc biệt như phát hành trái phiếu đặc biệt có chính phủ bảo lãnh để mua nợ xấu của các TCTD, được chính phủ ép buộc các TCTD có nợ xấu cao phải bán cho AMC, được quyền tịch thu tài sản thế chấp để xử lý thu hồi nợ Đối với các AMC còn lại thì hầu như không có một địa vị pháp lý đặc biệt nào
1.3.2 Vai trò của các Công ty Mua bán nợ
Đối với hệ thống ngân hàng
- AMC là tổ chức hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực xử lý nợ xấu, thậm chí được chính phủ trao thẩm quyền pháp lý đặc biệt hơn so với ngân hàng như quyền tịch thu tài sản bảo đảm Điều này làm cho quá trình xử lý
Trang 37thu hồi nợ xấu diễn ra nhanh hơn, giá trị thu hồi thường cao hơn so với ngân hàng tự xử lý, góp phần làm giảm tổn thất cho ngân hàng
- Thông qua hoạt động thanh toán tiền mua nợ cho ngân hàng, AMC đã góp phần cải thiện khả năng thanh khoản của ngân hàng
- Ngoài ra, hoạt động mua bán nợ xấu của AMC còn giúp ngân hàng giảm tỷ lệ nợ xấu theo quy định
Đối với doanh nghiệp
Các doanh nghiệp có nợ xấu phải trả ngân hàng đều có chung đặc điểm
là tình hình SXKD và tài chính gặp khó khăn, có nguy cơ phá sản Thông qua biện pháp tái cơ cấu doanh nghiệp, AMC giúp các doanh nghiệp cải thiện tình hình tài chính, phục hồi SXKD, tăng năng lực quản trị và cạnh tranh trên thị trường, có khả năng thiết lập lại quan hệ vay vốn ngân hàng Hoạt động mua bán nợ xấu đang được xem là một lối thoát của các doanh nghiệp (gồm cả DNNN) đang gặp phải nhiều khó khăn về tài chính trong sản xuất kinh doanh hiện nay Nếu không có công ty nào tham gia vào việc mua các khoản nợ xấu
đó thì các công ty sẽ lâm vào sản xuất kinh doanh cầm chừng, hoặc thu hẹp sản xuất kinh doanh, thậm chí chờ phá sản
Đối với nền kinh tế
Hoạt động mua bán nợ xấu tạo ra một cơ chế chuyển các nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, cung cấp phương tiện huy động số vốn nhàn rỗi trong dân
cư cho các doanh nghiệp sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như đầu tư phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất mới Nhờ vậy doanh nghiệp có thể tiếp tục huy động được một số lượng lớn vốn cho hoạt động SXKD thay vì việc tạm dừng sản xuất do thiếu vốn Khi mua lại nợ xấu, số tiền nhàn rỗi của các nhà đầu tư đã được đưa vào hoạt động SXKD và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Trong quá trình này, thị trường mua bán nợ xấu đã có những tác động quan trọng trong việc đẩy mạnh việc phát triển nền kinh tế quốc dân bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư dài hạn của các doanh nghiệp
Trang 38Ngoài ra, việc xử lý nợ xấu của các AMC góp phần cải thiện thanh khoản của các ngân hàng, ngăn chặn sự đổ vỡ dây chuyền lây lan đến toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính quốc gia
1.4 CÔNG TÁC PHÂN TÍCH KHÁCH NỢ TRONG QUY TRÌNH MUA NỢ 1.4.1 Tổng quan công tác phân tích khách nợ trong quy trình mua nợ
a Khái niệm khách nợ
Khách nợ là các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ trả các khoản nợ phải trả được quy định tại các loại hợp đồng kinh tế, hợp đồng tín dụng…theo quy định của pháp luật
b Khái niệm phân tích khách nợ
Phân tích khách nợ trong quy trình mua nợ là việc sử dụng các khái niệm, phương pháp và công cụ cho phép xử lý thông tin kế toán cũng như các thông tin khác về quản lý để phân tích khoản nợ, phân tích khách nợ và phân tích tình hình tài chính hiện tại và dự báo tài chính tương lai của khách nợ, lường trước được khả năng trả nợ của khách nợ, đánh giá chính xác năng lực tài chính của khách nợ
c Mục đích phân tích khách nợ
Một trong những giải pháp quan trọng để giảm thiểu rủi ro hoạt động mua bán nợ là phải phân tích chi tiết khách nợ trong quy trình mua nợ bao gồm cả phân tích khoản nợ, phân tích khách nợ, phân tích BCTC của khách
nợ Tuy nhiên việc phân tích các chỉ tiêu phi tài chính là việc khó khăn và mang tính định tính Do đó để đảo bảo giảm thiểu rủi ro thì cần phân tích các chỉ tiêu tài chính của khách nợ Mục đích của việc làm này là:
- Nhằm giúp AMC có quyết định mua nợ đúng đắn mang hiệu quả cao
- Nhằm giúp AMC nắm bắt được những khó khăn, vướng mắc của khách
nợ hiện tại và khả năng hỗ trợ của AMC có thể hỗ trợ DN xử lý những khó khăn đó hay không Từ đó xây dựng phương án xử lý nợ sơ bộ tối ưu cho khách nợ
Trang 39- Nhằm xác định khả năng thanh toán nợ của khách nợ, trường hợp
khách nợ không có tiềm năng thì cần xem xét những biện pháp xử lý TSĐB khi khách nợ không có khả năng trả nợ đảm bảo AMC không bị mất vốn
d Ý nghĩa của công tác phân tích khách nợ
Hoạt động phân tích khách nợ luôn là cần thiết gắn với mỗi phương án mua nợ nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra Khi tiến hành mua nợ phải xác định trước khả năng thu hồi nợ thông qua phân tích hoạt động tài chính DN để xác định giá trị kinh tế, để đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của DN, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp cho việc đưa
ra được những quyết định phù hợp với mục đích kinh doanh có lãi của hoạt động mua bán nợ Công tác phân tích khách nợ trong quy trình mua nợ dự báo được phần nào hiệu quả tài chính và tính khả thi của từng phương án mua nợ
để có thể chọn lọc được các cơ hội đầu tư tốt, có hiệu quả, có khả năng thu hồi vốn và do đó hạn chế được các rủi ro phát sinh Trái lại, nếu công tác phân tích khách nợ kém có thể dẫn đến một quyết định sai lầm, mua một khoản nợ xấu không có khả năng thu hồi sẽ gây thiệt hại cho Công ty Do vậy, công tác phân tích khách nợ là một hoạt động vô cùng cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng trong quy trình mua nợ của AMC
Công tác phân tích khách nợ tốt không những đảm bảo mang lại lợi nhuận cho DATC mà còn là cơ sở quan trọng trong việc hỗ trợ DN khách nợ
xử lý các vấn đề khó khăn đang gặp phải, lành mạnh hóa toàn bộ nền kinh tế trong thị trường tài chính
1.4.2 Quy trình phân tích khách nợ
a Khái niệm quy trình phân tích khách nợ
Quy trình phân tích khách nợ là trình tự các bước đi cụ thể từ khi tiếp nhận đề nghị bán nợ của khách hàng đến khi DATC ra quyết định mua nợ hay không mua khoản nợ đó Quy trình này quy định việc thực hiện các bước thu
Trang 40thập, kiểm tra hồ sơ liên quan đến khoản nợ; Xây dựng phương án mua, xử lý nợ; Tổ chức thực hiện phương án mua nợ, xử lý nợ hoặc tài sản theo thỏa thuận của Công ty Mua bán nợ Việt Nam DATC Quy trình phân tích khách
nợ này giúp cho quá trình mua nợ được thực hiện một cách khoa học, hợp lý
và thống nhất, hạn chế và phòng ngừa được rủi ro mất vốn khi thực hiện mua
nợ
b Nội dung quy trình phân tích khách nợ
Bước 1 : Thu thập, kiểm tra hồ sơ khoản nợ
Đây là giai đoạn đầu tiên trong quy trình phân tích khách nợ Mục tiêu của giai đoạn này là tìm kiếm, tiếp cận khách hàng, thu thập thông tin ban đầu
và xác định các khoản nợ có tiềm năng để xử lý AMC cần thu thập thông tin, phân loại, ưu tiên xử lý Nợ bao gồm nhận dạng Chủ nợ, Khách nợ, giá trị sổ sách của khoản nợ, khoản thế chấp, tình trạng khoản nợ.v.v
Không phải tất cả khoản nợ đều có thể xử lý và mang lại hiệu quả kinh
tế Vì thế, cán bộ xử lý nợ cần xem xét sơ bộ liệu khoản nợ có tiềm năng hay không Nếu thông tin sơ bộ cho thấy khoản nợ không có tiềm năng, cán bộ xử
lý nợ cần tạm dừng việc thu thập thông tin để tiết kiệm thời gian và chi phí Nếu thông tin sơ bộ cho thấy có tiềm năng, cán bộ xử lý sẽ tiếp tục thu thập thêm thông tin để hoàn thiện hồ sơ, đề xuất hướng xử lý với lãnh đạo cấp trên Bước này do Chuyên viên Ban Mua bán nợ thực hiện ngay khi nhận được đề nghị chào bán nợ từ khách hàng Nhìn chung một bộ hồ sơ đầy đủ bao gồm:
a Văn bản đề nghị bán nợ ( bản chính)
b Các tài liệu chứng minh quyền sở hữu khoản nợ: Hồ sơ tín dụng và các hồ sơ khác có liên quan đến khoản nợ; Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ trong thời gian gần nhất nhưng không quá 03 tháng kể từ ngày nhận
hồ sơ khoản nợ;