Sau đây là một số luận văn về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp: Luận văn thạc sỹ bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng của Trần Phan Quốc Chương 2013 với đề tài “Quản lý thuế thu nhập doanh nghi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LƯƠNG THỊ MINH KIỀU
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN LIÊN CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Bảo Ngọc
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lương Thị Minh Kiều
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 8
1.1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 8
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp 8
1.1.2 Những vấn đề cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp 16
1.2 QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 24
1.2.1 Khái niệm quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 24
1.2.2 Đặc điểm của quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 27
1.2.3 Vai trò của quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 28
1.2.3 Nội dung quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 29
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý thuế TNDN 37
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNDN 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 45
2.1 TỔNG QUAN VỀ CHI CỤC THUẾ QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 45
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Chi cục thuế 45
2.1.2 Mô hình bộ máy tổ chức tại Chi cục thuế 46
Trang 42.1.3 Tình hình hoạt động của Chi cục thuế 47
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TNDN TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 50
2.2.1 Thực trạng công tác quản lý thuế TNDN tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu 50
2.2.2 Kết quả công tác quản lý thuế TNDN tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu 68
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TNDN TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 77
2.3.1 Kết quả đạt được 77
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 79
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 85
3.1 CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 85
3.1.1 Mục tiêu chung 85
3.1.3 Phương hướng hoàn thiện công tác quản lý thuế TNDN 86
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TNDN TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 87
3.2.1 Triển khai thủ tục hành chính thuận tiện cho NNT 88
3.2.2 Xây dựng hệ thống thông tin quản lý thuế 88
3.2.3 Tăng cường quản lý đăng ký, kê khai thuế, nộp thuế của NNT 89
3.2.4 Tăng cường kiểm tra NNT và nội bộ đồng thời nâng cao chất lượng các cuộc kiểm tra 89
3.2.5 Dự đoán khả năng thanh toán nợ để lập kế hoạch quản lý và áp dụng biện pháp thu nợ, cưỡng chế nợ thuế kịp thời, phù hợp với thực tế92
3.2.6 Tăng cường và đổi mới các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ NNT94
Trang 53.2.7 Tổ chức bộ máy quản lý thuế theo mô hình chức năng kết hợp với quản lý thuế theo đối tượng và nâng cao chất lượng cán bộ thuế của Chi
cục .95
3.3 KIẾN NGHỊ 97
3.3.1 Kiến nghị đối với Bộ Tài chính 97
3.3.2 Kiến nghị đối với Tổng cục Thuế 100
3.3.3 Kiến nghị đối với các cơ quan chức năng đóng trên địa bàn 103
KẾT LUẬN 104 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7thuế
57
2.7 Tổng hợp các biện pháp đôn đốc và cưỡng chế nợ thuế qua
các năm tại Chi cục thuế
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quản lý vĩ mô nền kinh tế, quản lý nhà nước về tài chính giữ một
vị trí, vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội Quản lý thu ngân sách, khi nền kinh tế thị trường phát triển, nguồn thu từ nội địa là then chốt trong tổng thu ngân sách quốc gia, đặc biệt nguồn thu từ thuế, trong đó các khoản thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh (CTN-NQD) chiếm tỷ trọng khá lớn, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN), góp phần tích cực trong việc điều tiết cân đối thu chi ngân sách
Ngày nay, vai trò của thuế càng được nâng cao, thuế thực sự là công cụ
có hiệu lực góp phần quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đồng thời phục vụ yêu cầu kiểm soát, hướng dẫn mọi hoạt động kinh tế Chính sách thuế được đặt
ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua đó góp phần thực hiện chức năng kiểm kê, kiểm soát, đảm bảo tính pháp lý cao, thể hiện được tính đơn giản, rõ ràng, công khai, dân chủ, công bằng xã hội, khuyến khích tăng trưởng sản xuất phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo chủ trương, chính sách quản lý kinh tế của Đảng, Nhà nước
Vì vậy, có thể nói thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN Vậy nên, vấn
đề quản lý thuế sao cho thu đúng, thu đủ, thu đúng hạn luôn được đặt ra để tạo nguồn thu cho ngân sách, đảm bảo chi tiêu và sự công bằng trong nghĩa
vụ đóng góp của người dân Trong thời gian qua, công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã có chuyển biến tích cực, nhưng còn gặp không ít khó khăn và bất cập Thêm vào đó, ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của các chủ doanh nghiệp vẫn còn thấp, tình trạng vi phạm pháp luật
Trang 9thuế cụ thể là thuế thu nhập doanh nghiệp vẫn luôn xảy ra ở nhiều hình thức, với mức độ khác nhau, nợ thuế ngày càng tăng Thực trạng quản lý thuế còn sót hộ, doanh thu tính thuế còn chưa tương xứng với doanh thu thực tế kinh doanh của doanh nghiệp, nợ đọng thuế cao, khó thu hồi… Nếu như chúng ta không sớm khắc phục những mặt hạn chế đó thì việc thất thu nguồn thuế này
sẽ vẫn tiếp tục và ngày càng gia tăng Do đó, vấn đề cấp thiết đặt ra là phải đưa ra những giải pháp cũng như công cụ quản lý để nâng cao hiệu lực công tác quản lý thuế thu nhập đối với các DN NQD trên địa bàn quận Liên Chiểu, góp phần nâng cao ý thức cho người dân, hạn chế thất thu thuế, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước với tỷ lệ tăng năm sau cao hơn năm trước
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng” , đề tài này có ý nghĩa thiết thực cả về lý
luận và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp, nội dung quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp để làm cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý này và đề xuất giải pháp
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu, chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế trong công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong thời gian đến
* Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi 1: Công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp là gì, bao gồm những nội dung cơ bản nào?
Trang 10- Câu hỏi 2: Công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu đã được tổ chức khoa học, đầy đủ, hợp lý chưa; có đáp ứng được yêu cầu của Cục thuế trong việc thực hiện dự toán thu và hạn chế tình trạng thất thu ngân sách?
- Câu hỏi 3: Từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn, cần xây dựng và thực hiện các giải pháp nào để hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
· Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lí luận và thực tiễn công tác quản lý
thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu, tp Đà Nẵng
· Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung phân tích, đánh giá công tác
quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
- Về không gian: nghiên cứu được thực hiện tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
- Về thời gian: số liệu thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2009 –
2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở nền tảng lý luận về công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại các cơ quan thuế, thu thập số liệu và phỏng vấn trực tiếp cán bộ làm công tác quản lý thuế tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, tác giả đã lọc chọn và tổng hợp số liệu, các báo cáo hằng năm để phân tích, so sánh nhằm đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp trong quá trình nghiên cứu
Trang 11Luận văn cũng tiếp thu, kế thừa có chọn lọc và phát triển một số nội dung nghiên cứu của một số công trình liên quan đã được công bố tại các cục thuế, chi cục thuế và các thành phố khác Ngoài ra, luận văn còn dựa vào các chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, về quản lý thuế và quản lý thu thuế ở nước
ta trong giai đoạn hiện nay
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp
và công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại các cơ quan thuế
- Đánh giá những kết quả đạt được cũng như nhận diện những hạn chế của công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
- Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp mang tính thiết thực nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong thời gian đến
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Vấn đề quản lý thu thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng được nhiều nhà quản lý cũng như nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Tác giả đã tìm đọc một số nghiên cứu của những luận văn đi
Trang 12trước để rút ra những bài học cũng như kinh nghiệm cho bài viết của mình Sau đây là một số luận văn về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp:
Luận văn thạc sỹ bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng của Trần Phan Quốc Chương (2013) với đề tài “Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Gia Lai” đã cung cấp được những lý luận cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp, nội dung cơ bản liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp và nội dung công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp, sự cần thiết, mục tiêu cũng như nguyên tắc quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp Nghiên cứu cũng
đã đưa ra một số giải pháp hoàn thiện hơn việc quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Gia Lai được an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững Tuy nhiên luận văn chưa đưa ra được nguyên nhân của những mặt tồn tại trong công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại cục thuế tỉnh Gia Lai từ đó để đưa ra phương hướng hoàn thiện quản lý thuế
Luận văn thạc sỹ bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng của Hồ Minh Khiêm (2012) với đề tài “Quản lý thuế thu nhập thu doanh đối với kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Quy Nhơn” đã khái quát được tình hình phát triển kinh tế, đặc điểm và tình hình phát triển kinh tế ngoài quốc doanh thành phố Quy Nhơn một cách khá chi tiết và đầy đủ về số lượng cũng như cơ cấu các loại hình doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn, cơ cấu ngành nghề, quy
mô về vốn, giá trị sản xuất, tỷ lệ đóng góp vào ngân sách của kinh tế ngoài quốc doanh, đồng thời đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế thành phố Quy Nhơn trong giai đoạn 2007 -
2011 Qua việc phân tích thực trạng và dựa vào quan điểm và mục tiêu quản
lý, nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp khá thiết thực và bao quát tất cả các nội dung trong công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp từ lập dự toán thu, quản lý đăng ký, kê khai, căn cứ tính thuế; tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế; thanh tra, kiểm tra thuế; thu nợ, cưỡng chế, xử lý vi phạm pháp luật về
Trang 13thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế cũng như là giải pháp liên quan đến
bộ máy, công tác cán bộ quản lý thuế tại Chi cục thuế thành phố Quy Nhơn Chi cục thuế thành phố Quy Nhơn và Chi cục thuế Quận Liên Chiểu cũng có cùng cơ cấu do Cục thuế quản lý Do vậy, tác giả có thể xem xét nghiên cứu này để kế thừa và phát triển hơn nữa những giải pháp mang tính thiết thực này nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp trong hoạt động quản lý thuế tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng Tuy nhiên luận văn còn chưa đưa ra được những chỉ tiêu để đánh giá kết quả quản
lý thuế trên địa bàn thành phố Quy Nhơn Đây là một nội dung khá cần thiết
mà luận văn này hạn chế
Luận văn thạc sỹ bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng của Trần Tiến Lập (2013) với đề tài “Tăng cường kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Quảng Nam” đã làm rõ nội dung cũng như biện pháp công tác kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp trong quản lý thuế; đánh giá thực trạng và đưa ra các nhóm giải pháp thích hợp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Quảng Nam Đề tài cùng nghiên cứu về thuế thu nhập doanh nghiệp tuy nhiên công tác kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp là một phần quan trọng của quy trình quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp Do vậy, tác giả đã tham khảo để tìm ra những điểm khác nhau giữa công tác kiểm soát thuế thu nhập doanh nghiệp và quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp để có thể nghiên cứu về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp được đầy đủ và hoàn thiện hơn
Luận văn thạc sỹ bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng của Lý Vân Phi (2011) với đề tài “Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Cục thuế thành phố Đà Nẵng” đã trình bày quy trình quản lý thuế, và tập trung vào bốn công tác chủ yếu tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế; quản lý đăng kí kê khai, nộp thuế; quản lý nợ, cưỡng chế nợ thuế; kiểm tra, thanh tra thuế Với đề tài này tác giả
Trang 14đã tham khảo và tập trung nghiên cứu các công tác quản lý thuế TNDN này tuy nhiên ở cấp độ Chi cục thuế thuộc Cục thuế thành phố Đà Nẵng Tuy nhiên luận văn chỉ mới tập trung vào bốn công tác chủ yếu, còn công tác khác như lập dự toán thu thuế, hay công tác miễn thuế, gia hạn thuế đặc biệt trong những năm khó khăn gần đây khá quan trọng giúp DN từng bước thoát gỡ khó khăn, giảm bớt gánh nặng, phục hồi sản xuất kinh doanh thì chưa được phân tích
Trong những năm gần đây đã có khá nhiều luận văn nghiên cứu về vấn
đề này, tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp về quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng Vì vậy, trên cơ sở nghiên cứu lý luận, các văn bản pháp luật, luật thuế thu nhập doanh nghiệp, luật quản lý thuế và kế thừa các nghiên cứu trên đây, tác giả có những cơ sở để đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng và mạnh dạn đề xuất các giải pháp mang tính thực tiễn nhằm giúp hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý thuế thu nhậptrên địa bàn quận Liên Chiểu trong thời gian tới
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP 1.1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp
a Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế ra đời gắn liền với sự hình thành của Nhà nước Để có nguồn lực trang trải cho các hoạt động của bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà xã hội giao phó, Nhà nước phải đánh thuế
Theo đó, thuế là khoản thu có tính chất bắt buộc được thể chế hoá bằng pháp luật do các thể nhân và pháp nhân đóng góp cho Nhà nước nhằm trang trải các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Những lợi ích mà người nộp thuế được hưởng không phải lúc nào cũng được Nhà nước hoàn lại một cách trực tiếp và tương ứng với số thuế đã nộp
Hiện nay có rất nhiều sắc thuế để Nhà nước tạo ra nguồn thu ngân sách đồng thời giúp cho việc quản lý ngày càng chặt chẽ hơn Thuế thu nhập doanh nghiệp là một sắc thuế trong hệ thống thuế của Việt Nam Loại thuế này đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới áp dụng vì nó mang lại hiệu quả cao
và bao quát được nguồn thu
Trước khi đi vào khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp, chúng ta cũng nên nắm rõ thu nhập là gì
Thu nhập của một tổ chức hoặc cá nhân thường được nhận biết qua các đặc điểm sau:
- Thu nhập luôn luôn gắn với một chủ thể nhất định trong nền kinh
tế-xã hội, thể hiện tính sở hữu của thu nhập như: thu nhập của một cá nhân, thu nhập của một doanh nghiệp, thu nhập của một quốc gia…
- Thông thường, việc xác định thu nhập của chủ thể khác nhau trong
Trang 16môt thời gian nhất định được biểu hiện dưới hình thức giá trị - là hình thức thông qua đó có thể biết được tổng số thu nhập từ các nguồn khác nhau của một cá nhân hay một pháp nhân khác
- Thu nhập được hình thành thông qua quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại thu nhập quốc dân
Qua các đặc điểm trên, có thể đưa ra khái niệm chung về thu nhập: Thu nhập là những khoản thu dưới dạng tiền tệ hoặc hiện vật của các tổ chức hoặc cá nhân nhận được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ, từ lao động, từ quyền sở hữu quyền sử dụng về tài sản, tiền vốn mà có hoặc các khoản thu nhập khác mà xã hội dành cho trong một thời kỳ nhất định thường
là một năm
Căn cứ vào tiêu thức khác nhau người ta chia ra các loại thu nhập nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý khác nhau như thu nhập công ty, thu nhập cá nhân, thu nhập thường xuyên, thu nhập không thường xuyên, thu nhập từ lao động và các thu nhập khác
Thuế thu nhập là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập thực tế của các tổ chức và cá nhân Thuế thu nhập gồm có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN) là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh trong kỳ
Tuy nhiên, không phải toàn bộ thu nhập của cơ sở sản xuất kinh doanh đều là đối tượng điều chỉnh của thuế TNDN Thuế TNDN chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế Vì việc đánh thuế vào loại thu nhập nào, đánh nặng hay đánh nhẹ vào từng loại thu nhập là tuỳ thuộc vào quan điểm của mỗi Nhà nước về điều tiết thu nhập qua thuế thu nhập, phụ thuộc vào khả năng quản lý thuế, chi phí quản lý thuế cũng như mục tiêu của thuế thu nhập phải đạt được
để góp phần thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc
Trang 17gia trong từng thời kỳ nhất định
Điều này có nghĩa là, thuế TNDN là loại thuế thu trên thu nhập của các
cơ sở kinh doanh để động viên một phần thu nhập của họ vào ngân sách nhà nước(NSNN) Ngoài ra, Nhà nước cũng có thể sử dụng loại thuế này để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc động viên công bằng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích ưu đãi đầu tư nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển
Mặc dù tên gọi là thuế TNDN nhưng loại thuế này cũng áp dụng đối với thu nhập của các cá nhân, các cơ sở kinh doanh không thành lập theo luật doanh nghiệp và phần thu nhập chịu thuế là phần thu nhập còn lại sau khi đã khấu trừ các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất, kinh doanh
Ở các nước, tên gọi của luật thuế này có thể khác nhau như ở Thái Lan, Indonesia gọi là luật thuế thu nhập công ty; ở Pháp là luật thuế công ty; vv…Nhưng bản chất là tương đối giống nhau Có quốc gia quy định loại thuế này trong một luật riêng, quốc gia khác lại quy định chung một bộ luật với thuế thu nhập cá nhân vì họ cho rằng hai loại thuế đánh trên thu nhập này có quan
hệ mật thiết với nhau nên quy định trong cùng một văn bản thì sẽ dễ tiếp cận hơn
b Tiến trình áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam
Trước năm 1990, Đảng và Nhà nước ta tập trung lãnh đạo chỉ đạo, xóa
bỏ cơ chế quản lý hành chính, tập trung quan liêu, bao cấp, từng bước hình thành và hoàn thiện cơ chế quản lý mới, xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh
tế nhiều thành phần Về chế độ thu ngân sách lúc bấy giờ mang tính chất bao cấp đối với thành phần kinh tế quốc doanh, cải tạo đối với các thành phần kinh tế khác
Luật thuế lợi tức được Quốc hội thông qua năm 1990 và năm 1993
Trang 18được sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế lợi tức (TLT) TLT thuộc loại thuế trực thu, ngoài mục tiêu đảm bảo nguồn thu ổn định ngày càng tăng của NSNN, TLT đóng góp vào việc đảm bảo bình đẳng và công bằng giữa các thành phần kinh tế Thực hiện chính sách hỗ trợ các ngành công nghiệp nặng, khai thác, chính sách TLT đã thực hiện thông qua việc áp dụng thuế suất thấp hơn so với các ngành thương mại, dịch vụ Đối tượng nộp TLT là mọi tổ chức, cá nhân thuộc thành phần kinh tế có lợi tức từ hoạt động sản xuất kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam TLT không áp dụng đối với các hoạt động sản suất nông nghiệp thuộc diện chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp và các hoạt động sản xuất kinh doanh chịu TLT theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
TLT được tính dựa trên tổng lợi tức chịu thuế cả năm (không phân biệt hoạt động chính, phụ, thường xuyên hay không thường xuyên) và thuế suất Ngoài TLT theo thuế suất ổn định, các cá nhân, tổ chức kinh doanh nếu có lợi tức chịu thuế vượt trên mức quy định còn phải nộp TLT bổ sung TLT được miễn đối với những người già yếu, tàn tật, người kinh doanh nhỏ làm kinh tế phụ gia đình, các hoạt động nghiên cứu khoa học, dịch vụ khoa học kỹ thuật, các cơ sở sản xuất mới thành lập và chính thức hoạt động từ năm 1993, các cơ
sở kinh doanh di chuyển đại điểm từ xuôi lên miền núi, hải đảo
Cùng với công cuộc cải cách thuế bước I năm 1990, Luật TLT đã được ban hành như vậy Tuy nhiên qua 8 năm thực hiện, Luật TLT dần dần bộc lộ nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới: giai đoạn mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực
và trên thế giới Đến năm 1997, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức Luật thuế
Trang 19thu nhập doanh nghiệp đã được ban hành nhằm đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới
c Đặc điểm
Thuế TNDN là loại thuế thu nhập nên nó mang đầy đủ đặc điểm của thuế thu nhập thông thường
- Thứ nhất, thuế thu nhập có đối tượng đánh thuế là thu nhập
Trong hệ thống thuế ở các nước, có nhiều loại thuế khác nhau, có đối tượng tính thuế, đối tượng nộp thuế khác nhau, nhưng suy đến cùng thì bất kỳ loại thuế nào cũng đều lấy từ thu nhập của người dân trong xã hội để tập trung vào quỹ NSNN Tuy nhiên, không phải loại thuế nào cũng là thuế thu nhập Thuế thu nhập khác với thuế tiêu dùng, thuế tài sản ở chỗ: thuế thu nhập là loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập của các cơ sở sản xuất kinh doanh khi có thu nhập chịu thuế phát sinh Đối với thuế tiêu dùng là loại thuế gián thu đánh vào việc sử dụng thu nhập của người dân, thông qua việc người dân sử dụng thu nhập để mua hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng, phần thu nhập mà Nhà nước lấy đi của họ được cộng vào trong giá bán của hàng hoá, dịch vụ
Vì thế, người chịu thuế, người nộp thuế là không đồng nhất (người tiêu dùng
là người chịu thuế, người kinh doanh hàng hoá, cung ứng dịch vụ là người nộp thuế) Đối với thuế tài sản là loại thuế đánh vào thu nhập tích luỹ đã được vật hoá dưới dạng tài sản của tổ chức, cá nhân trong xã hội Về bản chất, thuế tài sản cũng là thuế trực thu nhưng có đối tượng đánh thuế là tài sản Mặc dù, tài sản và thu nhập đều là của cải của một chủ thể có được nhờ những nguồn lợi thu được từ các hoạt động kinh tế Tuy nhiên, giữa chúng cũng có sự khác nhau, cụ thể: tài sản là khối lượng của cải của một chủ thể ở một thời điểm nào
đó, còn thu nhập là số của cải thu được của một chủ thể trong khoảng thời gian nhất định Như vậy, thu nhập của một thời kỳ sẽ không bao gồm thu nhập ở thời kỳ trước, còn tài sản lúc cuối kỳ thì bao gồm tất cả các thu nhập của các kỳ
Trang 20trước đó cộng lại Vì vậy, khái niệm “tài sản” phải gắn với yếu tố thời điểm, còn khái niệm “thu nhập” gắn với yếu tố khoảng thời gian nhất định
- Thứ hai, thuế TNDN là thuế trực thu
Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập của các doanh nghiệp Thuế trực thu là loại thuế động viên, điều tiết vào thu nhập của người chịu thuế Đối tượng nộp thuế phải có thu nhập chịu thuế; thu nhập càng cao thì đóng thuế càng nhiều Trong thuế trực thu, người có nghĩa vụ nộp thuế đồng thời là người chịu thuế trên thu nhập mà mình được hưởng Chính vì vậy, thuế trực thu không được tính vào cơ cấu giá thành hàng hoá dịch vụ và không được trừ vào chi phí khi tính lợi tức chịu thuế (thu nhập chịu thuế) của cơ sở sản xuất kinh doanh
Ngoài mục tiêu tạo nguồn thu cho NSNN, nó còn có mục tiêu điều tiết kinh tế, điều hoà thu nhập xã hội nên thường gắn liền với chính sách kinh tế
xã hội của Nhà nước Bởi vậy, pháp luật thuế thu nhập ở các nước thường có những quy định về chế độ ưu đãi, miễn, giảm thuế để đảm bảo chức năng khuyến khích của thuế thu nhập hoặc thực hiện việc áp dụng đánh thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần đối với một số khoản thu nhập chịu thuế để thực hiện các mục tiêu điều tiết
- Thứ ba, thuế TNDN là một loại thuế phức tạp
Thuế TNDN có tính ổn định không cao, việc quản lý thuế, thu thuế tương đối khó khăn, chi phí quản lý thuế thường lớn hơn so với các thuế khác Đối với thuế thu nhập, ngoài việc xác định các khoản thu nhập chịu thuế còn phải xác định nguồn gốc thu nhập, địa điểm phát sinh thu nhập, thời hạn cư trú của chủ sở hữu thu nhập, tính ổn định của thu nhập…Trong phần xác định thu nhập chịu thuế, phải xác định được các khoản khấu trừ hợp lý để tiến hành khấu trừ khi tính thuế nhằm bảo đảm mục tiêu công bằng và khuyến khích đối với đối tượng nộp thuế
Trang 21- Thứ tư, nguồn luật điều chỉnh quan hệ thuế thu nhập bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật thuế quốc gia và văn bản quy phạm pháp luật thuế quốc tế
Bởi thuế thu nhập là thuế trực thu nên nó có thể là đối tượng được điều chỉnh bởi hiệp định tránh đánh thuế hai lần
Tuy nhiên, bên cạnh đó, thuế TNDN cũng mang đặc điểm riêng của loại thu nhập doanh nghiệp dưới góc độ phân biệt với thuế thu nhập cá nhân như về đối tượng nộp thuế là tổ chức sản xuất kinh doanh sản xuất hàng hoá, dịch vụ; về thu nhập bị đánh thuế; về cách tính thuế tính đến yếu tố như doanh thu, chi phí, về ưu đãi thuế…
- Thuế TNDN là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước
Thuế TNDN là một trong những loại thuế trực thu Thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu
Trang 22thu ngân sách Nhà nước Ở các nước phát triển, hai loại thuế chủ yếu này đã làm cho thuế trực thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước
Ví dụ như năm 2012, Mỹ: thuế trực thu chiếm 74,8%, Nhật Bản là 74% Hầu hết các nước có thu nhập quốc dân bình quân đầu người thấp thì thuế gián thu thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thuế ngân sách; ví dụ như: Philipin chiếm 60%; Thái Lan chiếm 66%; Ấn Độ 63%; Kênia: 61%; Gana: 65%
Ở Việt nam, tỷ trọng thuế thu nhập doanh nghiệp trong tổng số thu ngân sách Nhà nước Năm 2009 đạt 52.191 tỷ đồng, chiếm 19,3% trong tổng thu NSNN và bằng 3,15% GDP Năm 2010 là 82.297 tỷ đồng, chiếm 22,5% trong tổng thu NSNN và bằng 4,15% GDP Năm 2011 là 96.600 tỷ đồng, chiếm 22,4% trong tổng thu NSNN và bằng 3,81% GDP
Phạm vi áp dụng của thuế TNDN rất rộng, gồm cá nhân, nhóm kinh doanh, hộ cá thể và các tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có phát sinh lợi nhuận Nền kinh tế thị trường nước ta ngày càng phát triển và ổn định, tăng trưởng kinh tế được giữ vững ngày càng cao, các chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận thì khả năng huy động nguồn tài chính, nguồn thu cho ngân sách Nhà nước thông qua thuế TNDN ngày càng dồi dào
- Thuế TNDN là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết
vĩ mô nền kinh tế
Nhà nước ban hành một hệ thống pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng chung cho các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, tạo sự bình đẳng trong cạnh tranh, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển Như vậy, với các doanh nghiệp cùng sản xuất một mặt hàng như nhau, cùng bán giá bán trên thị trường như nhau, nếu cơ sở sản xuất nào càng
hạ thấp được giá thảnh sản phẩm, càng thu được nhiều lợi nhuận thì càng phát triển mạnh, và ngược lại thì dễ dẫn tới bị phá sản
Trang 23Thông qua việc xác định phạm vi thu thuế và không thu thuế, Nhà nước thể hiện sự ưu đãi của mình đối với một số đối tượng trong xã hội không phải nộp thuế hoặc thể hiện sự khuyến khích của Nhà nước đối với việc phát triển của một lĩnh vực ở một vùng nào đó
Ngoài việc quy định thuế suất chung cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh, Nhà nước cũng đưa ra thuế suất ưu đãi để áp dụng đối với từng ngành nghề, mặt hàng, lĩnh vực thể hiện mức độ khuyến khích hay không khuyến khích của Nhà nước đối với những ngành nghề, mặt hàng, lĩnh vực đó trong nền kinh tế
Không những chỉ khuyến khích đầu tư bằng việc định ra một thuế suất hợp lý, mà thuế thu nhập doanh nghiệp còn được sử dụng là một biện pháp khuyến khích bỏ vốn đầu tư vào các ngành nghề, mặt hàng, các vùng mà Nhà nước cần tập trung khuyến khích đẩy mạnh sản xuất, khai thác tiềm năng về vốn trong dân cư và của các nhà đầu tư nước ngoài, hỗ trợ các doanh nghiệp khắc phục khó khăn, rủi ro để phát triển sản xuất bằng việc sử dụng biện pháp miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức độ khác nhau
Như vậy, Thuế TNDN là loại thuế có vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam, song để phát huy một cách có hiệu quả vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp, chúng ta cần phải xem xét nó dưới nhiều khía cạnh, kể cả những kinh nghiệm xử lý của nước ngoài
1.1.2 Những vấn đề cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp
a Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Người nộp thuế TNDN là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế (sau đây gọi là doanh nghiệp), bao gồm:
- Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật
Trang 24chứng khoán, Luật dầu khí, Luật thương mại và các văn bản pháp luật khác dưới các hình thức: Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp Nhà nước; Văn phòng Luật
sư, Văn phòng công chứng tư; Các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; Các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí, xí nghiệp liên doanh dầu khí, Công ty điều hành chung
- Các đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập trong tất cả các lĩnh vực
- Các tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú tại Việt Nam
Cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài là cơ sở sản xuất, kinh doanh mà thông qua cơ sở này, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mang lại thu nhập, bao gồm:
+ Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu, khí hoặc địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên khác tại Việt Nam
+ Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp
+ Cơ sở cung cấp dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công hay một tổ chức, cá nhân khác
+ Đại lý cho doanh nghiệp nước ngoài
+ Đại diện tại Việt Nam trong trường hợp là đại diện có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc giao hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam
Trường hợp Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà CHXHCN Việt Nam
Trang 25ký kết có quy định khác về cơ sở thường trú thì thực hiện theo quy định của Hiệp định đó
- Tổ chức khác ngoài các tổ chức nêu trên có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá hoặc dịch vụ và có thu nhập chịu thuế
b Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
Thu nhập tính thuế:
Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước theo quy định
Thu nhập tính thuế được xác định theo công thức sau:
Thu nhập
tính thuế =
Thu nhập chịu thuế
- Thu nhập được miễn thuế +
Các khoản lỗ được kết chuyển theo quy định Với thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và thu nhập khác
Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế xác định như sau:
Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản phải hạch toán riêng để kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, không được bù trừ với thu nhập hoặc lỗ từ các hoạt động sản xuất kinh doanh khác
- Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế
+ Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế (gọi tắt là doanh thu tính thuế)
Trang 26là toàn bộ tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ (không có thuế GTGT nếu cơ
sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ; có cả thuế GTGT nếu cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp) sau khi đã trừ chiết khấu giảm giá hàng bán, trị giá hàng bị trả lại, tiền lãi trả chậm, nhưng bao gồm cả các khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng Doanh thu tính thuế còn bao gồm trị giá của hàng hoá, dịch vụ dùng
để trao đổi, biếu tặng (tính theo giá của mặt hàng cùng loại hoặc tương đương trên thị trường tại thời điểm trao đổi, biếu, tặng, trang bị, thưởng cho người
lao động) và sản phẩm tự dùng (tính theo chi phí để sản xuất ra sản phẩm đó)
+ Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế:
Đối với hoạt động bán hàng hoá là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hoá cho người mua
Đối với cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch
vụ cho người mua hoặc thời điểm lập hoá đơn cung ứng dịch vụ Trường hợp thời điểm lập hoá đơn xảy ra trước thời điểm dịch vụ hoàn thành thì thời điểm xác định doanh thu được tính theo thời điểm lập hoá đơn
- Chi phí: bao gồm các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
+ Các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
Các khoản chi được trừ là những khoản chi phí mà DN đã bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh trong kỳ tính thuế có liên quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế mà theo quy định của luật thuế được phép trừ khỏi doanh thu để tính thu nhập chịu thuế
Các khoản chi được trừ gồm nhiều khoản chi phí khác nhau nên công tác quản lý, theo dõi rất phức tạp Bao gồm các chi phí liên quan đến lao động quá khứ như chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí nguyên vật liệu (đặc điểm khoản chi này là có hoá đơn), chi phí liên quan đến lao động sống như chi phí tiền
Trang 27lương, thưởng, chi hoa hồng môi giới (đặc điểm khoản chi này là không có hoá đơn mà chỉ có hợp đồng hoặc bảng kê chi trả) và các chi phí khác
Như vậy, việc quy định cụ thể khoản chi nào được hạch toán vào chi phí khoản chi nào không được hạch toán vào chi phí là cụ thể hoá 4 nguyên tắc khấu trừ chi phí và tạo ra tính minh bạch về thuế TNDN Trên thực tế khoản chi trực tiếp cấu thành sản phẩm (ví dụ: khấu hao TSCĐ, nguyên vât liệu, tiền lương ) dễ xác định, nhưng có những khoản chi mang tính gián tiếp thì khó xác định hơn Ví dụ: chi đi nghỉ mát cho công nhân, chi thưởng cuối năm, chi đào tạo, lợi thế kinh doanh
Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 quy định điều kiện xác định các khoản chi được trừ và liệt kê cụ thể các khoản chi không được trừ Theo cách này, những khoản chi còn lại không kê trong Luật và thoả mãn điều kiện xác định các khoản chi được trừ thì được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
Các điều kiện xác định các khoản chi được trừ:
(1) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN
(2) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật
(3) Khoản chi không thuộc danh mục các khoản chi không được trừ quy định dưới đây
+ Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế:
Một số khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế như: Khoản chi không đáp ứng đủ các điều kiện quy định nêu trên trừ phần giá trị tổn thất do thiên tai, dịch bệnh và trường hợp bất khả kháng khác không được bồi thường; Chi khấu hao tài sản cố định; Chi nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hoá phần vượt mức tiêu hao hợp lý; Chi phí
Trang 28của DN mua hàng hoá, dịch vụ không có hoá đơn, được phép lập Bảng kê thu mua hàng hoá, dịch vụ mua vào (theo mẫu số 01/TNDN kèm theo Thông tư 130/2008/TT-BTC) nhưng không lập Bảng kê kèm theo chứng từ thanh toán cho cơ sở, người bán hàng, cung cấp dịch vụ; Chi trang phục bằng hiện vật cho người lao động không có hoá đơn; Chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động; Chi phụ cấp tàu xe đi nghỉ phép không đúng theo quy định của Bộ Luật Lao động; Phần trích nộp quĩ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn vượt mức quy định; Chi trả tiền điện, tiền nước đối với những hợp đồng điện nước do chủ sở hữu cho thuê địa điểm sản xuất, kinh doanh ký trực tiếp với đơn vị cung cấp điện, nước không có đủ chứng từ…
- Thu nhập khác
Thu nhập khác là các khoản thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế mà khoản thu nhập này không thuộc các ngành, nghề lĩnh vực kinh doanh có trong đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp
Thu nhập khác bao gồm các khoản thu nhập sau: thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bao gồm cả tiền thu về bản quyền dưới mọi hình thức trả cho quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu về quyền sở hữu trí tuệ; thu nhập từ chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật, cho thuê tài sản dưới mọi hình thức; thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, thanh lý tài sản (trừ bất động sản), các loại giấy tờ có giá khác; thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn bao gồm: lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng, lãi cho vay vốn dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật, phí bảo lãnh tín dụng và các khoản phí khác trong hợp đồng cho vay vốn; thu nhập từ kinh doanh ngoại tệ; hoàn nhập các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính, dự phòng nợ khó đòi và hoàn nhập khoản dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công
Trang 29trình xây lắp đã trích nhưng hết thời gian trích lập không sử dụng hoặc sử dụng không hết; khoản nợ khó đòi đã xoá nay đòi được; khoản nợ phải trả không xác định được chủ nợ; chênh lệch giữa thu về tiền phạt, tiền bồi thường
do bên đối tác vi phạm hợp đồng kinh tế sau khi đã trừ khoản bị phạt, bị trả bồi thường do vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật; chênh lệch do đánh giá lại tài sản theo quy định của pháp luật …
· Thuế suất: áp dụng mức thuế suất theo đúng quy định đến năm 2013
- Thuế suất thuế TNDN là 25%, trừ trường hợp quy định dưới đây và các trường hợp được áp dụng thuế suất ưu đãi
- Thuế suất thuế TNDN đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác tại Việt Nam từ 32% đến 50% Căn cứ vào vị trí khai thác, điều kiện khai thác và trữ lượng mỏ DN có dự án đầu tư tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác gửi hồ sơ
dự án đầu tư đến Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định mức thuế suất cụ thể cho từng dự án, từng cơ sở kinh doanh
Tài nguyên quý hiếm khác tại khoản này bao gồm: bạch kim, vàng, bạc, thiếc, wonfram, antimoan, đá quý, đất hiếm
Tuy nhiên hiện nay, Bộ tài chính triển khai áp dụng quy định mới giảm mức thuế suất này xuống Theo đó, từ ngày 1/1/2014 thuế suất thuế TNDN phổ thông là 22% và từ ngày 1/1/2016 là 20% Đối với DN có tổng doanh thu năm trước liền kề dưới 20 tỷ thì thuế suất thuế TNDN áp dụng là 20% Nếu năm trước đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh chưa đủ 12 tháng, tính bình quân doanh thu một tháng ko vượt 1.67 tỷ thì áp dụng thuế suất thuế TNDN 20%
c Phương pháp tính thuế thu nhập doanh nghiệp
- Số thuế TNDN phải nộp trong kỳ tính thuế bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất
Trang 30Thuế TNDN
Thu nhập tính thuế x
Thuế suất thuế TNDN Trường hợp DN nếu có trích quỹ phát triển khoa học và công nghệ thì thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp được xác định như sau:
Thuế TNDN
phải nộp = (
Thu nhập tính thuế -
Phần trích lập quỹ KH&CN ) x
Thuế suất thuế TNDN Trường hợp DN đã nộp thuế TNDN hoặc loại thuế tương tự thuế thu nhập doanh nghiệp ở ngoài Việt Nam thì DN được trừ số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp nhưng tối đa không quá số thuế TNDN phải nộp theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
- Kỳ tính thuế được xác định theo năm dương lịch
Trường hợp DN áp dụng năm tài chính khác với năm dương lịch thì kỳ tính thuế xác định theo năm tài chính áp dụng Kỳ tính thuế đầu tiên đối với
DN mới thành lập và kỳ tính thuế cuối cùng đối với doanh nghiệp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, sáp nhập, chia tách, giải thể, phá sản được xác định phù hợp với kỳ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán Trường hợp kỳ tính thuế năm đầu tiên của doanh nghiệp mới thành lập kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và kỳ tính thuế năm cuối cùng đối với DN chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản có thời gian ngắn hơn 03 tháng thì được cộng với kỳ tính thuế năm tiếp theo (đối với
DN mới thành lập) hoặc kỳ tính thuế năm trước đó (đối với DN chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia tách, giải thể, phá sản) để hình thành một kỳ tính thuế TNDN Kỳ tính thuế TNDN năm đầu tiên hoặc kỳ tính thuế TNDN năm cuối cùng không vượt quá
15 tháng
- Đơn vị sự nghiệp có phát sinh hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch
Trang 31vụ thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (tương ứng với mức thuế suất 25%) sau khi đã thực hiện ưu đãi miễn giảm thuế TNDN (nếu có) mà các đơn vị này hạch toán được doanh thu nhưng không hạch toán và xác định được chi phí, thu nhập của hoạt động kinh doanh thì kê khai nộp thuế TNDN tính theo tỷ lệ % trên doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ, cụ thể như sau:
+ Đối với dịch vụ: 5%
+ Đối với kinh doanh hàng hoá: 1%
+ Đối với hoạt động khác: 2%
- DN có doanh thu, chi phí, thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu, chi phí, thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế bằng ngoại tệ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Đối với loại ngoại tệ không có tỷ giá hối đoái với đồng Việt Nam thì phải quy đổi thông qua một loại ngoại tệ có tỷ giá hối đoái với đồng Việt Nam
1.2 QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
1.2.1 Khái niệm quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
Khái niệm quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành Vì vậy,
để tiếp cận khái niệm quản lý thuế, trước hết, cần tiếp cận khái niệm quản lý
Theo từ điển tiếng Việt, quản lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”
Theo các tác giả Giáo trình Khoa học quản lý của Học viện Chính trị Quốc gia thì “Quản lý là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn”
Theo các tác giả của Giáo trình quản lý hành chính Nhà nước thì “Quản
lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để hướng đến mục đích, đúng với ý
Trang 32chí và phù hợp với quy luật khách quan”
Từ điển Wikipedia định nghĩa quản lý là “hoạt động tập hợp và điều khiển mọi người nhằm đạt được những mục tiêu hoặc mục đích nhất định”
Mary Parker Follett (1868-1933) cho rằng quản lý là “Nghệ thuật đạt được các mục tiêu của tổ chức thông qua con người”
Hery Fayol cho rằng, quản lý có 5 nhiệm vụ là: xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát Trong đó, các nguồn lực có thể được sử dụng cho quản lý bao gồm: nhân lực, tài chính, công nghệ và tài nguyên thiên nhiên
Nhìn chung, các khái niệm về quản lý đều thống nhất rằng, đã nói đến quản lý là nói đến hoạt động của con người nhằm thực hiện những mục tiêu
đã định thông qua các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp, kiểm soát và thúc đẩy hoạt động của những con người trong tổ chức đó
Quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành thuộc quản lý hành chính Nhà nước Quản lý hành chính là sự tác động của cơ quan hành chính Nhà nước và con người hoặc các mối quan hệ xã hội để đạt được các mục tiêu của Chính phủ Tiếp cận dưới góc độ thực thi quyền lực Nhà nước thì quản lý hành chính là thực thi quyền hành pháp của Nhà nước Tiếp cận dưới góc độ công việc cụ thể thì quản lý hành chính là điều chỉnh hành vi con người, hành
vi xã hội và tổ chức thi hành pháp luật đã ban hành
Theo Tổng cục Thuế của Latvia cho rằng “Quản lý thuế là một hệ thống những quá trình có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm mục tiêu đảm bảo thu thuế đúng, đủ và công bằng trên cơ sở quy định của pháp luật thuế, bao gồm các hoạt động thu nhận hồ sơ khai thuế, tính toán số thuế phải nộp, đôn đốc thu nộp thuế và cung cấp dịch vụ tư vấn cho NNT”
Từ những cách hiểu như trên thì quản lý thuế có thể được hiểu là việc
tổ chức thực thi pháp luật thuế của Nhà nước, tức là, quản lý thuế là hoạt động tác động và điều hành hoạt động đóng thuế của người nộp thuế
Trang 33Hoạt động tác động nói trên của Nhà nước được hiểu dưới ba góc độ sau: (i) Là quá trình vận dụng bản chất, chức năng của thuế để hoạch định chính sách, bao gồm cả chính sách điều tiết qua thuế và chính sách quản lý; (ii) Là quá trình xây dựng tổ chức bộ máy ngành Thuế và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu quản lý thuế; (iii) Là việc vận dụng các phương pháp thích hợp tác động đến quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT phù hợp với quy luật khách quan, bao gồm các hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ, thanh tra, kiểm tra Đây chính là cách hiểu về quản lý thuế theo nghĩa rộng Theo đó, quản lý thuế bao gồm cả hoạt động xây dựng chính sách thuế, ban hành pháp luật thuế và hoạt động tổ chức hành thu
Theo đó, cách tiếp cận quản lý thuế nêu trên cho thấy quản lý thuế bao gồm các khía cạnh chủ yếu sau đây:
- Thứ nhất, chủ thể của quản lý thuế là Nhà nước, bao gồm cơ quan lập pháp với vai trò là người nghiên cứu, xây dựng hệ thống pháp luật thuế; cơ quan hành pháp với tư cách là người điều hành trực tiếp công tác thu và nộp thuế; hệ thống các cơ quan chuyên môn giúp cho cơ quan hành pháp (cơ quan thuế, cơ quan hải quan) thay mặt cho Nhà nước tổ chức và thực hiện thu thuế
- Thứ hai, đối tượng quản lý thuế là các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN tức là người nộp thuế
- Thứ ba, mục tiêu của quản lý thuế là huy động nguồn lực tài chính từ các tổ chức và cá nhân trong xã hội cho Nhà nước thông qua việc ban hành và
tổ chức thi hành pháp luật thuế
- Thứ tư, quản lý thuế là một hệ thống nhất giữa các cơ quan quản lý Nhà nước với nhau và giữa xây dựng chính sách thuế với tổ chức hành thu
- Thứ năm, quá trình tác động, điều hành thu thuế gắn với quá trình thực hiện các chức năng quản lý của Nhà nước và quá trình này phải tuân thủ các quy luật khách quan
Trang 34Tóm lại, khái niệm quản lý thuế được định nghĩa: Quản lý thuế là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo NNT chấp hành nghĩa vụ thuế vào NSNN theo quy định của pháp luật Trong đó, thuế TNDN là một trong những sắc thuế mà Nhà nước đang quản lý Như
vậy, quản lý thuế TNDN là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ
quan thuế nhằm đảm bảo các DN chấp hành nghĩa vụ thuế TNDN vào NSNN theo quy định pháp luật
1.2.2 Đặc điểm của quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
So với các hoạt động quản lý khác, quản lý thuế hay quản lý thuế TNDN nói riêng có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Quản lý thuế là quản lý bằng pháp luật đối với hoạt động nộp thuế Hoạt động quản lý của cơ quan thuế cũng như việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các tổ chức, cá nhân đều phải dựa trên cơ sở được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực Nhà nước Việc quản lý thuế bằng pháp luật đảm bảo sự thống nhất, minh bạch, công khai trong hoạt động quản lý của các cơ quan Nhà nước Qua
đó, đảm bảo nguồn thu từ thuế vào NSNN được tập trung đầy đủ, kịp thời nhằm đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước; đồng thời, đảm bảo sự điều tiết qua thuế đối với các tổ chức, cá nhân được công bằng, bình đẳng
- Quản lý thuế được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp hành chính Nội dung của phương pháp hành chính trong quản lý thuế là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh, là sự thiết lập mối quan hệ giữa con người, giữa cơ quan thuế với các tổ chức, cá nhân trong xã hội; giữa cơ quan thuế các cấp với nhau
và với các cơ quan Nhà nước khác, trong các quan hệ đó thì cơ quan Nhà nước cấp dưới phải tuân thủ mệnh lệnh của cấp trên theo thứ bậc hành chính, đối tượng bị quản lý ( người nộp thuế) phải chấp hành mệnh lệnh của các cơ quan Nhà nước trong việc đảm bảo nguồn thu vào NSNN Đồng thời, phương pháp hành chính trong quản lý thuế còn hiện trong quy trình, thủ tục thu, nộp
Trang 35thuế, đó là trình tự các bước công việc phải tiến hành và các giấy tờ, tài liệu cần thiết ghi nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế Do đó, hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế có nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo quy trình quản lý thuế rõ ràng, minh bạch, thủ tục thu, nộp thuế đơn giản
- Quản lý thuế là hoạt động mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ chặt chẽ Đặc điểm này hiện ở chỗ các thủ tục hành chính và các chứng từ kèm theo phục vụ cho quản lý thuế có quan hệ mật thiết với nhau, phụ thuộc nhau do các yêu cầu kỹ thuật của việc xác định số thuế phải nộp
1.2.3 Vai trò của quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
Quản lý thuế là một trong các nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong đó có các cơ quan thuế Thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý thuế không chỉ đảm bảo sự vận hành thông suốt hệ thống cơ quan Nhà nước, mà có tác động tích cực tới quá trình thu, nộp thuế vào NSNN Đó chính là vai trò của quản lý thuế Vai trò của quản lý thuế thể hiện như sau:
- Quản lý thuế có vai trò quyết định trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế được tập trung chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định vào NSNN Thông qua việc lựa chọn áp dụng các biện pháp quản lý thuế có hiệu quả, cũng như xây dựng và áp dụng quy trình, thủ tục về thuế hợp lý, cơ quan thuế đảm bảo thu thuế đúng luật, đầy đủ và kịp thời vào NSNN
- Thông qua hoạt động quản lý thuế góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật cũng như các quy định về quản lý thuế Những điểm còn bất cập trong chính sách thuế và khiếm khuyết trong các luật thuế được phát hiện trong quá trình áp dụng luật vào thực tiễn và qua các hoạt động quản lý thuế Trên cơ sở đó cơ quan điều hành thực hiện pháp luật đề xuất bổ sung, sửa đổi các luật thuế
- Thông qua quản lý thuế, Nhà nước thực hiện kiểm soát và điều tiết các hoạt động kinh tế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội Theo quy định
Trang 36của pháp luật thuế, NNT có trách nhiệm phải kê khai thuế Nội dung kê khai thuế là kê khai các hoạt động kinh tế có liên quan đến việc tính toán nghĩa vụ thuế của NNT, tức là phải kê khai các hoạt dộng kinh tế phát sinh, các giao dịch kinh doanh của NNT Mặt khác, để quản lý thuế, cơ quan thuế phải tổ chức thu thập, nắm bắt, lưu giữ thông tin về hoạt động sản xuất, kinh doanh của NNT, phải tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ Như vậy, có thể thấy, thông qua quản lý thuế, Nhà nước
đã thực hiện kiểm soát các hoạt động kinh tế của các tổ chức, cá nhân trong
xã hội Từ việc kiểm soát các hoạt động kinh tế này, Nhà nước có thể có các chính sách quản lý phù hợp để điều tiết hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế theo định hướng của Nhà nước
1.2.3 Nội dung quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
Nội dung các quy trình quản lý thuế đối với DN tại VN bao gồm: Đăng
ký thuế; Xử lý tờ khai và chứng từ nộp thuế; Quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế; Thanh tra, kiểm tra thuế; Xét hoàn, miễn, giảm thuế thực hiện theo quy định của Tổng Cục thuế (TCT) áp dụng cho tất cả Cục thuế, Chi cục thuế (Xem phụ lục 1)
a Lập và thực hiện dự toán thu thuế
Dự toán thu thuế dựa trên kế hoạch kinh tế- xã hội và các chỉ tiêu phát triển kinh tế của cả nước, từng ngành, địa phương, khu vực kinh tế Tổng cục thuế giao kế hoạch thu thuế cho các Cục Thuế Cục Thuế giao nhiệm vụ thu NSNN cho các Chi Cục Thuế Các Chi cục thuế tổ chức thực hiện dự toán này
b Quản lý đăng kí thuế, kê khai thuế, nộp thuế và ấn định thuế
Bất kì DN nào mới thành lập cũng phải tiến hành đăng kí, kê khai nộp thuế tại các cơ quan thuế Đặc biệt, trong tình hình mới hiện nay khi số lượng người nộp thuế phát triển ngày càng nhanh, vì vậy đây là công tác đầu tiên, hết sức khó khăn trong quy trình quản lý thuế, nếu DN kinh doanh nhưng
Trang 37không tiến hành đăng kí, kê khai nộp thuế sẽ là một thất thu lớn cho NSNN
Đăng ký thuế và cấp mã số thuế cho DN của cơ quan thuế bao gồm việc nhận và xử lý hồ sơ đăng ký thuế, cấp mã số thuế cho các DN mới thành lập
Các DN tiến hành kê khai theo mẫu quy định về tất cả thông tin cũng như số thuế của DN mình Thuế TNDN là loại khai tạm tính theo quý, khai quyết toán năm hoặc khai quyết toán đến thời điểm chấm dứt hoạt động kinh doanh, chấm dứt hợp đồng, chuyển đổi hình thức sở hữu DN, tổ chức lại DN
Khi DN có vi phạm pháp luật về thuế thì cơ quan thuế có quyền ấn định thuế TNDN đối với doanh nghiệp theo quy định của pháp luật
Định kỳ theo thời gian quy định, DN tự kê khai, tính và nộp thuế vào Kho bạc nhà nước hay các ngân hàng được ủy nhiệm thu thuế
Cũng thông qua việc đăng kí, kê khai này, cơ quan thuế có thể quản lý được thông tin về NNT, là cơ sở để thực hiện các công tác quản lý thuế tiếp theo, đồng thời đánh giá mức độ chấp hành pháp luật của người nộp thuế, ngăn ngừa, phát hiện vi phạm pháp luật về thuế
c Quản lý hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, gia hạn thuế
Trong thời kì phát triển nào, việc miễn thuế, giảm thuế, gia hạn thuế TNDN cũng có ý nghĩa quan trọng giúp thúc đẩy sản suất kinh doanh và tạo động lực cho các DN hoạt động Đặc biệt trong những năm gần đây, công tác này càng mang lại ý nghĩa sâu sắc cho DN Để thực hiện được những chủ trương, chính sách miễn thuế, giảm thuế, gia hạn thuế TNDN góp phần tháo
gỡ khó khăn cho DN, cơ quan thuế các cấp sẽ tăng cường phối hợp với sở, ban, ngành, chính quyền địa phương thực hiện tốt công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT để mọi tổ chức, cá nhân thực hiện tốt chính sách thuế; thường xuyên nắm bắt thông tin, tình hình SXKD, tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc cho người nộp thuế; kiểm tra, rà soát các tổ chức, DN đã kê khai gia hạn, giảm các khoản thu NSNN để hướng dẫn NNT thực hiện và xử lý kịp thời các
Trang 38tổ chức, DN lợi dụng chính sách để gia hạn, giảm sai quy định
Cơ quan thuế phải nắm rõ những quy định cũng như thủ tục miễn giảm, gia hạn thuế để hỗ trợ cho các DN được ngày một tốt hơn
d Quản lý nợ, cưỡng chế nợ thuế
Trong hệ thống quản lý thuế thì quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế là một khâu quan trọng, là một chức năng chính của quản lý thuế Công tác này có vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của đối tượng nộp thuế nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế cho NSNN nhằm chống thất thu thuế, đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế
- Quản lý nợ thuế: Là công việc theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế
và các khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý và thực hiện các biện pháp đôn đốc thu hồi số thuế nợ của NNT
Nội dung của quản lý nợ thuế:
+ Thống kê và nắm bắt đầy đủ tình hình nợ thuế của NNT, số thuế phải nộp, số thuế đã nộp của NNT
+ Phân tích và đánh giá thực trạng nợ thuế thông qua việc phân loại nợ thuế, phân tích các nguyên nhân nợ thuế
+ Thực hiện các biện pháp nhắc nhở, đôn đốc nộp tiền thuế và các khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý
- Cưỡng chế nợ thuế: kịp thời phát hiện và xử lý NNT nợ tiền thuế, tiền
phạt đã quá thời gian quy định hoặc NNT có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn thì phải tiến hành cưỡng chế để buộc NNT phải nộp đầy đủ số thuế vào NSNN Nội dung của cưỡng chế thuế:
+ Thông báo cho NNT biết trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ thuế
và những hậu quả có thể phải chịu nếu không thực hiện nghĩa vụ thuế
+ Sử dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật để buộc NNT phải thực hiện nghĩa vụ thuế hoặc cưỡng chế chuyển tài sản do
Trang 39NNT đang nắm giữ hoặc tài sản của NNT do bên thứ ba nắm giữ vào tay Nhà nước để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT
- Mối quan hệ giữa quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế: Quản lý nợ
và cưỡng chế nợ thuế là hai nội dung khác biệt và độc lập với nhau nhưng lại
có mối quan hệ mật thiết, tương hỗ và bổ sung cho nhau Quản lý nợ là cơ sở
để cơ quan thuế lựa chọn và thực hiện các biện pháp cưỡng chế hiệu quả Thông qua các phương pháp phân loại nợ, các tiêu chí đánh giá rủi ro trong quản lý nợ, cơ quan thuế xác định được những khoản nợ cần ưu tiên tập trung
để thu nợ Đồng thời, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp cưỡng chế phù hợp với từng đối tượng nợ thuế Quản lý nợ thuế tốt sẽ dẫn tới việc đôn đốc nợ của
cơ quan thuế đối với người nợ thuế phát huy hiệu quả sẽ làm cho số lượng các khoản nợ khó thu giảm đi và điều này có tác động làm giảm khối lượng công việc cưỡng chế nợ thuế và giúp giảm bớt chi phí cưỡng chế Công tác cưỡng chế nợ thuế có hiệu quả sẽ trực tiếp làm cho số tiền nợ thuế giảm và số lượng các khoản nợ đang được theo dõi tại cơ quan thuế sẽ giảm đi và từ đó khối lượng công việc quản lý nợ cũng giảm theo
e Thanh tra, kiểm tra thuế
Công tác thanh, kiểm tra thuế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời những vi phạm về thuế Khi thực hiện theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế, nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan thuế là tập trung vào việc thanh tra, kiểm tra để phát hiện kịp thời những vi phạm để nhắc nhở, xử phạt hành chính về thuế đối với những trường hợp các đối tượng nộp thuế tính thuế không đủ, không đúng, nợ thuế kéo dài; hoặc cưỡng chế,
xử lý hình sự các trường hợp cố tình lợi dụng cơ chế tự khai, tự nộp để gian lận, trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế Tình trạng gian lận và trốn lậu thuế là khá phổ biến trong thời gian qua, nên việc tăng cường công tác thanh, kiểm tra thuế và xử lý vi phạm pháp luật thuế đối với một số đối tượng nộp thuế và cán
Trang 40bộ viên chức ngành thuế vi phạm trở nên cấp bách hiện nay
Vì vậy, một trong những nội dung quản lý thuế là cơ quan thuế phải thực hiện tốt công thanh, kiểm tra thuế nói chung và thuế TNDN nói riêng để góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách, tạo sự bình đẳng và công bằng xã hội
về nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế
Căn cứ vào kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế, nhóm phân tích phải thực hiện quá trình tập hợp và phân tích rủi ro các thông tin chuyên sâu tại cơ quan thuế, nhằm kiểm tra tính xác thực đối với các hồ sơ khai thuế, báo cáo tài chính thông tin, các nghi vấn cần DN cung cấp thêm thông tin hoặc những nội dung nghi ngờ cần tiếp xúc với DN để làm rõ (thông tin chung về DN, tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức hạch toán, liên doanh liên kết, đối tác kinh doanh, hợp đồng mua bán hàng, tăng giảm tài sản, biên bản xác nhận công nợ nội bộ, công nợ người bán, người mua )
Việc kiểm tra, đối chiếu số liệu tổng hợp tại trụ sở của NNT được thực hiện tùy theo phạm vi, quy mô, nội dung cuộc thanh tra, kiểm tra Các nội dung kiểm tra đối chiếu số liệu tổng hợp gồm:
- Kiểm tra hồ sơ đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, mã số thuế, tình hình đăng ký sử dụng hoá đơn
- Kiểm tra đối chiếu tài liệu, hồ sơ gửi cơ quan thuế với thực tế xuất trình của doanh nghiệp: báo cáo quyết toán tài chính quí, năm; bản xác định
số thuế TNDN tạm nộp theo quí, tờ khai thuế TNDN tự quyết toán năm và các tờ khai quyết toán thuế khác… liên quan đến nội dung ghi tại quyết định thanh tra, kiểm tra
- Kiểm tra việc mở sổ sách và tính hợp pháp: sổ cái, các sổ theo dõi chi tiết theo các chuẩn mực kế toán nhà nước quy định, đối chiếu số liệu tổng hợp giữa sổ chi tiết với bảng cân đối số phát sinh và bảng tổng kết tài sản
- Ngoài ra, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể cần kiểm tra xem xét các tài