Tớnh cấp thiết của ủề tài
Chi tiêu ngân sách nhà nước (NSNN) đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì chức năng và phát huy vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường Quản lý hiệu quả chi tiêu ngân sách từ Trung ương đến địa phương là yếu tố quyết định cho sự ổn định và phát triển kinh tế Hoạt động quản lý thu, chi ngân sách giúp phát huy thế mạnh địa phương, thúc đẩy sản xuất, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội và giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Tuy nhiên, công tác kế toán vẫn còn một số hạn chế, như việc kiểm tra chữ ký trong quy trình luân chuyển chứng từ chưa được chú trọng, tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản chưa đầy đủ, lập dự toán còn sơ sài, và chất lượng báo cáo tài chính chưa cao Thông tin báo cáo chủ yếu mang tính chất tài chính, ít phục vụ cho phân tích tình hình tài chính và hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí Trong bối cảnh mới, đơn vị vẫn còn bỡ ngỡ khi chuyển sang cơ chế tài chính mới, với quy chế chi tiêu nội bộ chưa hợp lý và đội ngũ kế toán chưa đáp ứng yêu cầu mới, cũng như chưa ứng dụng tốt công nghệ thông tin vào công việc.
Trong bối cảnh ngày càng nhiều thách thức đối với sự phát triển và hội nhập, việc cải cách quản lý ngân sách nhà nước (NSNN) là cần thiết Một trong những yếu tố quan trọng để quản lý NSNN hiệu quả là kiểm soát công tác lập và chấp hành dự toán chi, nhằm huy động tối đa nguồn lực của đất nước và sử dụng chúng một cách hiệu quả Cơ quan hành chính nhà nước đóng vai trò chủ chốt trong việc này, đảm bảo 100% kinh phí hoạt động từ NSNN Chi hành chính từ NSNN là khoản chi thiết yếu để duy trì hoạt động liên tục của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp từ trung ương đến địa phương Đặc biệt, các cơ quan hành chính thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông giúp thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong các lĩnh vực như Công thương, Tài chính, Kế hoạch đầu tư, Tài nguyên và môi trường, Y tế, Giáo dục, Văn hóa, và Thông tin Quá trình sử dụng kinh phí được thể hiện qua ba chu trình chính.
+ Lập dự toán thu, chi NSNN;
+ Chấp hành dự toán thu, chi NSNN;
+ Quyết toán ngân sách Nhà nước
Dự toán chi ngân sách hàng năm của một số cơ quan hành chính thường phát sinh các khoản chi bổ sung ngoài dự toán, trong khi một số khác lại không sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách được phê duyệt và phải thu hồi nộp lại Tình trạng này gây ra sự chậm trễ trong quá trình điều hành ngân sách của tỉnh và làm phá vỡ kế hoạch giao dự toán đầu năm Do đó, việc tăng cường kiểm soát lập dự toán thu, chi ngân sách tại các cơ quan hành chính là cần thiết để đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị và duy trì cân đối ngân sách, giúp lãnh đạo tỉnh chủ động hơn trong công tác điều hành ngân sách.
Ngành kế toán tại Sở Công Thương tỉnh Đắk Nông cần được hoàn thiện để đảm bảo việc sử dụng kinh phí đúng mục đích và phù hợp với dự toán đã phê duyệt Việc kiểm soát chi tiêu là cần thiết nhằm ngăn chặn lãng phí và tổn thất trong quản lý ngân sách nhà nước Do đó, việc đánh giá thực trạng và nghiên cứu đề xuất giải pháp cho công tác kế toán là yêu cầu cấp bách, góp phần vào chiến lược phát triển của tỉnh Đắk Nông.
Tác giả quyết định chọn đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán tại Sở Công Thương tỉnh Đắk Nông” làm nội dung nghiên cứu cho Luận văn Thạc sĩ của mình.
Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận cơ bản của công tác kế toán ở các cơ quan hành chính Nhà nước;
- Phõn tớch và ủỏnh giỏ thực trạng cụng tỏc kế toỏn tại Sở Cụng Thương tỉnh ðắk Nông;
Nghiên cứu đã đưa ra quan điểm, định hướng và những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tại Sở Công Thương tỉnh Đắk Nông, đáp ứng yêu cầu đổi mới về kinh tế xã hội của đất nước.
ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận liên quan đến công tác kế toán và thực trạng công tác kế toán tại Sở Công Thương tỉnh Đắk Nông.
Phạm vi nghiờn cứu của ủề tài là cụng tỏc kế toỏn tại Sở Cụng Thương tỉnh ðắk Nụng từ năm 2014 ủến năm 2016.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này áp dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, bao gồm phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp thu thập thông tin, phân tích, so sánh đối chiếu, khảo sát thực tế và khái quát hóa, cùng với các phương pháp khoa học khác để đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy của kết quả nghiên cứu.
Bố cục ủề tài
Ngoài phần mở ủầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chớnh của ủề tài ủược chia làm 3 Chương:
Chương 1: Những vấn ủề lý luận cơ bản về cụng tỏc kế toỏn tại cỏc cơ quan hành chính Nhà nước
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán tại Sở Công Thương tỉnh ðắk Nông
Chương 3: Hoàn thiện công tác kế toán tại Sở Công Thương tỉnh ðắk Nông.
NHỮNG VẤN ðỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
ðẶC ðIỂM CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Bộ máy nhà nước Việt Nam là một chỉnh thể thống nhất, bao gồm các cơ quan Nhà nước Nó được cấu thành từ bốn hệ thống cơ quan chính: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tòa án và cơ quan kiểm sát Theo Hiến pháp 1992, bộ máy Nhà nước được phác thảo rõ ràng, thể hiện vai trò và chức năng của từng cơ quan trong việc thực hiện quyền lực Nhà nước.
Trật tự thiết lập mối quan hệ trong xã hội được quy định rõ ràng qua bản phác thảo, trong đó luật Việt Nam xác định vai trò quan trọng của cơ quan lập pháp Cơ quan này không chỉ thiết lập các hệ thống cơ quan khác mà còn đóng vai trò chủ chốt trong việc xây dựng và duy trì trật tự xã hội.
Viện kiểm soát ND tỉnh
Viện kiểm soát ND tối cao
Viện kiểm sát nhân dân huyện đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát chung, nhưng Chính phủ, là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cũng có vai trò thiết yếu trong quản lý nhà nước và thực thi các văn bản do Quốc hội ban hành Hệ thống cơ quan hành pháp, với Chính phủ là trung tâm, thực hiện chức năng hành chính của Nhà nước.
Cơ quan hành chính Nhà nước là tổ chức được thành lập theo hiến pháp và pháp luật nhằm thực hiện quyền lực nhà nước Chức năng chính của các cơ quan này là quản lý hành chính trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
1.1.2 ðặc ủiểm hoạt ủộng của cơ quan quản lý Nhà nước
Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thể hiện quyền lực của nhà nước trong việc tổ chức và điều hành các hoạt động của xã hội Hoạt động này được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền pháp lý nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật, pháp lệnh và nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước Mục tiêu chính của quản lý hành chính nhà nước là tổ chức và chỉ đạo các hoạt động xây dựng kinh tế, văn hóa – xã hội và chính trị của Nhà nước Quản lý hành chính nhà nước có năm đặc điểm nổi bật.
- Thứ nhất, quản lý hành chớnh nhà nước là hoạt ủộng mang tớnh quyền lực nhà nước
Quyền lực nhà nước trong quản lý hành chính thể hiện qua việc các chủ thể có thẩm quyền truyền đạt ý chí nhà nước thông qua các văn bản quản lý hành chính Những văn bản này bao gồm các chủ trương, chính sách pháp luật để hướng dẫn hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật, quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy định của cơ quan quyền lực nhà nước, mệnh lệnh cá biệt để áp dụng pháp luật vào thực tiễn, và các chỉ đạo cấp dưới nhằm tổ chức thực hiện pháp luật Đồng thời, thông tin hướng dẫn cũng được cung cấp để đảm bảo sự thống nhất và hệ thống trong bộ máy hành chính nhà nước.
- Thứ hai, quản lý hành chớnh Nhà nước là hoạt ủộng ủược tiến hành bởi những chủ thể có quyền năng hành pháp
Nhà nước hiện nay có ba quyền năng chính: lập pháp, hành pháp và tư pháp Quyền năng hành pháp chủ yếu thuộc về các cơ quan hành chính nhà nước, nhưng cũng xuất hiện trong nhiều hoạt động khác như tổ chức nội bộ và quản lý của các bộ Điều này cho thấy quyền năng hành pháp không chỉ giới hạn ở các cơ quan hành chính mà còn thể hiện qua các hoạt động khác Do đó, các chủ thể quản lý hành chính nhà nước bao gồm cơ quan hành chính, công chức, thủ trưởng các cơ quan và những cá nhân hoặc tổ chức được nhà nước ủy quyền thực hiện quản lý hành chính trong một số lĩnh vực nhất định.
Quản lý hành chính Nhà nước cần được tổ chức thống nhất và chặt chẽ để đảm bảo tính pháp chế trong hoạt động hành pháp Bộ máy các cơ quan hành pháp phải hoạt động như một khối thống nhất từ Trung ương đến địa phương, với Chính phủ là đầu mối, nhằm bảo đảm lợi ích chung của cả nước và tạo sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương Điều này giúp tránh tình trạng cục bộ, phân hóa giữa các vùng miền khác nhau Tuy nhiên, mỗi địa phương đều có những đặc thù riêng về điều kiện kinh tế - xã hội, vì vậy cần phát huy tối đa các yếu tố địa phương để tạo sự năng động trong quản lý hành chính Bộ máy hành chính cũng cần được tổ chức theo hướng phân cấp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động cho chính quyền địa phương.
- Th ứ t ư , ho ạ t ủộ ng qu ả n lý hành chớnh Nhà n ướ c cú tớnh ch ấ p hành và ủ i ề u hành
Tính chấp hành và điều hành của hoạt động quản lý nhà nước được thể hiện qua việc các hoạt động này được thực hiện dựa trên cơ sở pháp luật, nhằm mục đích thực hiện pháp luật Hoạt động chủ động của chủ thể quản lý không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, bao gồm việc điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật, hoặc tổ chức các hoạt động thực tiễn dựa trên quy định pháp luật để hiện thực hóa pháp luật.
- Th ứ n ă m, qu ả n lý hành chớnh Nhà n ướ c là ho ạ t ủộ ng mang tớnh liên t ụ c
Quản lý hành chính nhà nước cần có tính liên tục, kịp thời và linh hoạt để đáp ứng sự biến đổi không ngừng của xã hội Chính sự linh hoạt này được coi là cơ sở quan trọng trong việc xác lập quy định về tổ chức, hoạt động và quy chế công chức của bộ máy hành chính nhà nước Điều này giúp tạo ra một bộ máy hành chính gọn nhẹ, có khả năng thích ứng nhanh chóng và đội ngũ công chức năng động, sáng tạo, quyết đoán và chịu trách nhiệm đối với các hoạt động của mình.
1.1.3 Vai trò của cơ quan quản lý hành chính Nhà nước
Cơ quan quản lý hành chính Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia Vai trò này được thể hiện qua việc duy trì trật tự xã hội, đảm bảo thực thi pháp luật, và thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa Họ cũng có nhiệm vụ quản lý các nguồn lực quốc gia, tạo điều kiện cho các chính sách phát triển bền vững, và nâng cao chất lượng đời sống người dân.
Cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện các mục tiêu và ý tưởng của các nhà chính trị, những người đại diện cho nhân dân Vai trò này xuất phát từ chức năng chấp hành của hành chính nhà nước, đảm bảo sự kết nối giữa chính sách và thực tiễn.
Cơ quan quản lý Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm đạt được mục tiêu tối ưu và hiệu quả cao nhất Vai trò này xuất phát từ chức năng của quản lý hành chính nhà nước, bao gồm việc định hướng thông qua quy hoạch và kế hoạch, điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng cách ban hành văn bản lập quy, hướng dẫn và tổ chức thực hiện Hiến pháp, luật và chính sách, cũng như kiểm tra, thanh tra và xử lý các vi phạm pháp luật.
Cơ quan quản lý nhà nước có vai trò quan trọng trong việc duy trì và thúc đẩy sự phát triển xã hội theo định hướng Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này, hành chính cần tạo ra các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các yếu tố cấu thành xã hội, bao gồm duy trì và phát triển tài nguyên, kiến tạo nguồn lực vật chất, sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính, phát triển nguồn lực con người, cũng như khắc phục những thất bại của thị trường và hậu quả từ sai sót của hành chính nhà nước.
Cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm cung cấp dịch vụ công cho xã hội, và vai trò này ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh phát triển xã hội và quá trình dân chủ hóa đời sống Hành chính nhà nước được thiết lập nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân, với nhân dân là chủ thể của xã hội và quyền lực nhà nước.
1.1.4 Quản lý tài chính tại cơ quan quản lý Nhà nước
VAI TRÒ, NGUYÊN TẮC VÀ YÊU CẦU CỦA KẾ TOÁN TẠI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH
1.2.1 Vai trò của kế toán trong việc quản lý tài chính của các cơ quan hành chính
Trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát triển mạnh mẽ, việc các hoạt động sự nghiệp hoạt động hiệu quả theo cơ chế thị trường đòi hỏi phải có phương hướng và giải pháp phát triển thích hợp Một trong những biện pháp quan trọng là hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan hành chính Nhà nước.
Tổ chức công tác kế toán trong nước thiết lập mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố cốt lõi của hạch toán kế toán.
Công tác kế toán hành chính Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế, giúp các đơn vị hành chính sự nghiệp ngày càng hoàn thiện và góp phần vào công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội Để nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, cần phải đổi mới và phát triển từng bộ phận trong nền kinh tế, đặc biệt là các đơn vị hành chính sự nghiệp Vậy, cơ quan hành chính Nhà nước là gì?
Các đơn vị quản lý hành chính bao gồm các cơ quan nhà nước điều hành trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng Hệ thống tổ chức này hoạt động từ Trung ương đến địa phương, với các cơ quan như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp.
Các bộ, sở, ban ngành thuộc trung ương và địa phương, cùng với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp, cũng như các cơ quan đảng và tổ chức chính trị - xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và điều hành đất nước.
Các đơn vị sự nghiệp kinh tế là những tổ chức hoạt động nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất và kinh doanh của các ngành kinh tế Chúng bao gồm các lĩnh vực như nghiên cứu thí nghiệm, tuyên truyền và phổ biến khoa học kỹ thuật, cũng như thăm dò, khảo sát và thiết kế.
Trong quá trình hoạt động, các đơn vị phải tuân thủ quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các tiêu chuẩn định mức liên quan Điều này bao gồm việc đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế - tài chính, kiểm soát chi quỹ ngân sách, quản lý tài sản công, và nâng cao chất lượng kế toán Công tác kế toán trong cơ quan hành chính Nhà nước cần đảm bảo sự thống nhất giữa kế toán và yêu cầu quản lý của Nhà nước, đồng thời phù hợp với các chế độ kế toán hiện hành và đặc thù của từng đơn vị.
Công tác kế toán hành chính Nhà nước có nhiệm vụ quản lý tài chính trong các cơ quan, đơn vị thông qua ba bước chính: đầu tiên là lập dự toán thu chi tài chính, tiếp theo là quản lý việc chấp hành dự toán, và cuối cùng là quyết toán thu chi tài chính.
Lập dự toán thu chi tài chính là bước quan trọng quyết định toàn bộ quá trình quản lý tài chính trong các cơ quan, đơn vị Dự toán này không chỉ là cơ sở thực hiện mà còn dẫn dắt toàn bộ quá trình quản lý tài chính sau này Hàng năm, các cơ quan căn cứ vào hướng dẫn lập dự toán của Bộ Tài chính, chức năng nhiệm vụ được giao, tình hình thực hiện năm trước và dự kiến cho năm kế hoạch, cùng với các quy định hiện hành của nhà nước để lập dự toán thu và chi tài chính một cách hợp lệ.
Trong quá trình thực hiện dự toán, các cơ quan, đơn vị cần tuân thủ nghiêm ngặt dự toán thu chi tài chính năm đã được phê duyệt theo chính sách của Nhà nước Tất cả các khoản thu chi thực tế phải dựa trên các văn bản quy định pháp luật liên quan và phải căn cứ vào cân đối giữa thu và chi Các cơ quan, đơn vị phải mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện chi từ ngân sách nhà nước và có thể mở tài khoản tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoản thu từ hoạt động khác như sản xuất và cung ứng dịch vụ.
Quyết toán là bước cuối cùng trong quản lý tài chính của các cơ quan, đơn vị, diễn ra vào cuối quý hoặc năm Các cơ quan phải lập báo cáo kế toán và báo cáo quyết toán thu chi tài chính để gửi đến các cơ quan chức năng theo quy định Báo cáo quyết toán ngân sách phản ánh tổng hợp tình hình tài sản, thu chi và kết quả sử dụng nguồn lực tài chính, cung cấp thông tin tài chính cần thiết Trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển và hội nhập kinh tế, hoạt động sự nghiệp ngày càng phong phú, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội Để quản lý kinh tế tài chính hiệu quả, kế toán trong các cơ quan hành chính cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu.
Ghi chép và phản ánh chính xác, kịp thời về tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn là rất quan trọng Điều này giúp theo dõi quá trình hình thành và sử dụng nguồn kinh phí, cũng như tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại đơn vị.
Thực hiện kiểm tra và kiểm soát tình hình chấp hành dự toán thu, chi, đồng thời đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế tài chính và các tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước Kiểm tra việc quản lý và sử dụng các loại vật tư, tài sản tại đơn vị, cũng như việc chấp hành kỷ luật thu, nộp ngân sách, kỷ luật thanh toán và chế độ chính sách của Nhà nước.
Theo dõi và kiểm soát tình hình phân phối kinh phí cho các đơn vị dự toán cấp dưới, đồng thời giám sát việc chấp hành dự toán thu, chi và quyết toán của các đơn vị này.
Lập và nộp đúng hạn các báo cáo tài chính cho cơ quan quản lý và cơ quan tài chính theo quy định là rất quan trọng Điều này bao gồm việc cung cấp thông tin và tài liệu cần thiết để xây dựng dự toán và các định mức chi tiêu Ngoài ra, việc phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí tại đơn vị cũng đóng vai trò quan trọng trong quản lý tài chính.
- ðể thực hiện tốt nhiệm vụ của mỡnh, kế toỏn ủơn vị hành chớnh sự nghiệp phải ủỏp ứng ủược những yờu cầu sau:
NỘI DUNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC ðƠN VỊ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.3.1 Tổ chức công tác kế toán
Mô hình tổ chức công tác kế toán là mối quan hệ kế toán giữa các cấp quản lý, dựa trên việc quy hoạch thông tin cho từng cấp trong bộ máy kế toán để thực hiện các công việc kế toán phân cấp Mô hình này bao gồm hai khía cạnh: sự phối hợp giữa các cấp quản lý và sự bố trí nhân sự kế toán nhằm hình thành bộ máy kế toán thống nhất Có ba mô hình tổ chức công tác kế toán: mô hình tập trung, mô hình phân tán và mô hình kết hợp giữa tập trung và phân tán Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung là một trong những phương pháp được áp dụng để tối ưu hóa hiệu quả công việc kế toán trong đơn vị.
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung theo phương thức trực tuyến cho phép các đơn vị chỉ cần một phòng kế toán trung tâm, nơi thực hiện toàn bộ công việc kế toán Các bộ phận trực thuộc chỉ cần bố trí nhân viên kế toán để thực hiện hạch toán ban đầu, thu thập và kiểm tra chứng từ, sau đó định kỳ gửi về phòng kế toán trung tâm Hình thức này thường được áp dụng cho các đơn vị có quy mô vừa và nhỏ, với phạm vi sản xuất kinh doanh tập trung tại một địa bàn nhất định, giúp đảm bảo việc luân chuyển chứng từ nhanh chóng và kịp thời.
Mẫu hình này phù hợp với các đơn vị có quy mô vừa và nhỏ, cũng như những đơn vị trực thuộc Nó hoạt động hiệu quả trên địa bàn tập trung hoặc tại các đơn vị lớn có địa bàn hoạt động rộng, nhưng cần phải được trang bị và ứng dụng các phương tiện kỹ thuật ghi chép tính toán hiện đại.
Hình thức tổ chức kế toán trung tâm chỉ cần một phòng kế toán duy nhất, nơi thực hiện tất cả các công việc như phân loại và kiểm tra chứng từ, định khoản kế toán, ghi sổ tổng hợp chi tiết, tính giá thành và lập báo cáo kinh tế Trong khi đó, hình thức tổ chức kế toán phân tán cho phép các bộ phận khác nhau thực hiện công tác kế toán tại chỗ, tạo ra sự linh hoạt và nhanh chóng trong việc quản lý thông tin tài chính.
Mô hình tổ chức công tác kế toán phân tán được xây dựng dựa trên phương thức trực tuyến, cho phép các đơn vị, bộ phận trực thuộc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, thu thập và xử lý chứng từ ban đầu, hạch toán chi tiết và tổng hợp các hoạt động kinh tế theo phân cấp của phòng Kế toán trung tâm Các bộ phận này định kỳ lập báo cáo gửi về phòng kế toán đơn vị Phòng kế toán trung tâm sẽ tổng hợp số liệu kế toán từ các phòng kế toán của các bộ phận phụ thuộc, hạch toán các hoạt động chung và lập báo cáo kế toán, đồng thời hướng dẫn kiểm tra toàn bộ công tác kế toán trong đơn vị.
Mô hình tổ chức công tác kế toán phân tán có ưu điểm tạo điều kiện cho việc kiểm tra và chỉ đạo hoạt động kinh tế tại các đơn vị trực thuộc diễn ra nhanh chóng và kịp thời Nó cũng thuận tiện cho việc kiểm tra, kiểm soát trực tiếp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh cũng như phân cấp quản lý kinh tế tài chính và hạch toán kinh tế nội bộ Tuy nhiên, mô hình này cũng tồn tại một số nhược điểm, như việc tổng hợp số liệu và cung cấp thông tin, lập báo cáo cho toàn bộ đơn vị diễn ra chậm, cùng với tổ chức bộ máy kế toán cồng kềnh và phức tạp, không thuận tiện cho việc cơ giới hóa công tác kế toán Hơn nữa, việc kiểm tra và chỉ đạo của Kế toán trưởng không tập trung, gây khó khăn trong quản lý.
Mô hình tổ chức công tác kế toán vừa tập trung vừa phân tán dựa trên phương thức chức năng cho phép công tác kế toán diễn ra tại phòng kế toán trung tâm của đơn vị và một số bộ phận trực thuộc Một số bộ phận này hoạt động tập trung mà không tiến hành công tác kế toán Khi bộ máy kế toán được tổ chức theo mô hình này, các phòng kế toán của các bộ phận phụ thuộc hoạt động phân tán, trong khi các nhân viên kinh tế tại các bộ phận phụ thuộc hoạt động tập trung Phòng kế toán trung tâm thực hiện hạch toán các hoạt động kinh tế tài chính có tính chất chung toàn đơn vị và các hoạt động tài chính ở các bộ phận phụ thuộc, tổng hợp số liệu từ các phòng kế toán đơn vị trực thuộc và toàn bộ đơn vị, sau đó lập báo cáo cung cấp thông tin về toàn bộ công tác kế toán của đơn vị.
Mô hình tổ chức công tác kế toán vừa tập trung vừa phân tán kết hợp hai phương thức kế toán, giúp gắn kết công tác kế toán với hoạt động sự nghiệp của đơn vị Mô hình này cung cấp thông tin kịp thời cho việc phân tích hoạt động kinh tế, đồng thời tạo điều kiện cho việc kiểm tra và giám sát chặt chẽ Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình này là công tác kế toán không tập trung, gây khó khăn trong việc thống kê và không thuận tiện cho việc sử dụng máy vi tính.
Mô hình này thường được áp dụng tại các đơn vị lớn có nhiều đơn vị trực thuộc, hoạt động trên địa bàn vừa tập trung vừa phân tán, với mức độ phân cấp quản lý kinh tế tài chính và trình độ quản lý khác nhau.
Việc tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị hành chính sự nghiệp cần được thực hiện theo nhiều mô hình khác nhau, phù hợp với đặc thù và loại hình công tác của từng đơn vị.
1.3.2 Công tác lập dự toán ngân sách
Lập dự toán ngân sách là quá trình phân tích và đánh giá giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính để xây dựng các chỉ tiêu thu, chi ngân sách hàng năm một cách hợp lý, có căn cứ khoa học và thực tiễn Hai phương pháp lập dự toán phổ biến là phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ (Incremental budgeting method) và phương pháp lập dự toán không dựa trên cơ sở quá khứ (Zero basic budgeting method) Mỗi phương pháp có những đặc điểm riêng, cùng với ưu, nhược điểm và điều kiện vận dụng khác nhau Phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ được coi là phương pháp truyền thống, đơn giản, dễ thực hiện và phù hợp cho những hoạt động tương đối ổn định của đơn vị.
Khi lập dự toán ngân sách hàng năm, các phòng ban của Sở và các đơn vị trực thuộc cần phản ánh đầy đủ các khoản thu, chi theo đúng chế độ, tiêu chuẩn và định mức do cơ quan có thẩm quyền ban hành, bao gồm cả các khoản thu, chi từ nguồn Trung ương Quá trình lập dự toán phải tuân thủ các mẫu biểu và thời gian theo Thông tư số 102/2015/TT-BTC, ngày 30 tháng 6 năm.
2015 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn xây dựng dự toán NSNN năm
2016 Dự toỏn ngõn sỏch của cỏc ủơn vị trực thuộc ủược gửi ủỳng thời hạn ủến cơ quan chức năng theo quy ủịnh
- Quy trình xây dựng dự toán thu, chi NSNN (Phụ lục 1.1):
Vào tháng 7 hàng năm, các đơn vị quản lý hành chính tiến hành lập dự toán thu – chi ngân sách nhà nước cho năm kế tiếp, dựa trên tình hình thực hiện nhiệm vụ của năm trước và năm hiện tại Quá trình lập dự toán tại các đơn vị này bao gồm nhiều bước quan trọng.
Đánh giá tình hình thu ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2015 cho thấy kết quả thu phí, lệ phí và xử phạt vi phạm hành chính trong 6 tháng đầu năm và cả năm Tổng số thu, số nộp NSNN, cùng với số thu phí và lệ phí được để lại chi theo quy định, cũng như số trích để thực hiện cải cách tiền lương cần được phân tích kỹ lưỡng Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện thu NSNN năm hiện tại cần được đánh giá, bao gồm tác động từ việc điều chỉnh, sửa đổi chế độ và chính sách Đồng thời, cần xem xét kết quả thực hiện các nhiệm vụ quan trọng, chương trình và dự án lớn của đơn vị, đảm bảo việc bố trí dự toán có đáp ứng được các nhiệm vụ được giao hay không Cuối cùng, cần đánh giá khối lượng các nhiệm vụ phát sinh, những khó khăn, vướng mắc và đề xuất các biện pháp xử lý phù hợp.
Đánh giá tình hình thực hiện chi ngân sách nhà nước (NSNN) trong năm hiện tại cần phân tích theo các nhóm mục chi như: tiền lương, các khoản có tính chất lương, khoản trích theo lương; chi cho nhiệm vụ thường xuyên, chi cho các nhiệm vụ phát sinh ngoài dự toán hoặc chi không thường xuyên như mua sắm và sửa chữa lớn.
TỔNG QUAN VỀ SỞ CÔNG THƯƠNG TỈNH ðẮK NÔNG
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Sở Công Thương tỉnh ðắk Nông
Sở Công Thương tỉnh Đắk Nông được thành lập theo Quyết định số 06/QĐ-UB, ngày 01 tháng 01 năm 2004 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông, nhằm phát triển ngành công nghiệp tại địa phương.
Ngày 27 tháng 3 năm 2008, Hợp nhất giữa Sở Công nghiệp và Sở Thương mại & Du lịch thành Sở Công Thương tỉnh ðắk Nông theo Quyết ủịnh số 429/Qð-UBND, ngày 27 thỏng 3 năm 2008 của Ủy ban nhõn dõn tỉnh ðăk Nông về việc hợp nhất Sở Công nghiệp với Sở Thương mại & Du lịch thành Sở Công Thương kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2008 ðịa chỉ: ðường Tô Hiến Thành, phường Nghĩa Tân, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh ðắk Nông
Hiện tổng số CBCCVC của Sở Cụng Thương tỉnh ðắk Nụng ủến ngày 31/12/2016 là 110 người, trong ủú:
- Biên chế hành chính: 91 người (Văn phòng Sở Công Thương: 46 người, Chi cục Quản lý thị trường: 45 người);
- Biên chế sự nghiệp: 19 người
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Sở Công Thương tỉnh ðắk Nông a Ch ứ c n ă ng, nhi ệ m v ụ c ủ a S ở Công Th ươ ng t ỉ nh ðắ k Nông
Sở Công Thương tỉnh Đắk Nông là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, có nhiệm vụ tham mưu và hỗ trợ quản lý nhà nước về lĩnh vực Công Thương Các ngành và lĩnh vực quản lý bao gồm cơ khí, luyện kim, điện, năng lượng mới và tái tạo, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, công nghiệp khai thác mỏ và chế biến khoáng sản, công nghiệp tiêu dùng, thực phẩm, an toàn thực phẩm, lưu thông hàng hóa, xuất nhập khẩu, thương mại biên giới, quản lý thị trường, xúc tiến thương mại, thương mại điện tử, dịch vụ thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế, quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, khuyến công, quản lý cụm công nghiệp và tổ chức thực hiện các dịch vụ công theo quy định của pháp luật.
Mỗi đơn vị thuộc Sở Công Thương cần kiện toàn bộ máy, tổ chức thực hiện nhiệm vụ và quản lý hiệu quả hoạt động dịch vụ nhằm đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, cải thiện đời sống cán bộ và người lao động, đồng thời quản lý hiệu quả nguồn kinh phí nhà nước và nguồn thu sự nghiệp Cơ cấu tổ chức bộ máy của Sở Công Thương bao gồm Giám đốc Sở, 03 Phó Giám đốc Sở, 07 phòng chức năng và 03 đơn vị trực thuộc Mỗi phòng, Ban và các đơn vị trực thuộc có nhiệm vụ và chức năng riêng.
Mụ hỡnh tổ chức của Sở Cụng Thương tỉnh ðắk Nụng (Sơ ủồ 2.1)
S ơ ủồ 2.1 C ơ c ấ u t ổ ch ứ c c ủ a S ở Cụng Th ươ ng t ỉ nh ðắ k Nụng
2.1.3 ðặc ủiểm quản lý thu của Sở Cụng Thương tỉnh ðắk Nụng a Ngu ồ n tài chính c ủ a S ở Công Th ươ ng t ỉ nh ðắ k Nông
Sở Công Thương tỉnh Đắk Nông không chỉ sử dụng ngân sách nhà nước hàng năm mà còn khai thác nguồn thu từ phí và lệ phí được phép giữ lại để chi tiêu theo quy định.
Nguồn kinh phí ngân sách nhà nước được cấp bao gồm các loại như: kinh phí thường xuyên và không thường xuyên cho quản lý hành chính, kinh phí sự nghiệp kinh tế, kinh phí bổ sung để thực hiện cải cách tiền lương và chính sách tinh giảm biên chế theo quy định, cùng với nguồn kinh phí cho đào tạo và nguồn chi đầu tư phát triển.
Nguồn thu phí và lệ phí liên quan đến các hoạt động như thẩm định thiết kế bản vẽ thi công và dự toán, thẩm định hồ sơ cấp giấy phép hoạt động điện lực, cũng như thẩm định hồ sơ cấp giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp.
Tư vấn phát triển công nghiệp
Phòng Quản lý Công nghiệp
Kỹ thuật an toàn- Môi trường
Chi cục Quản lý thị trường
Phòng Quản lý Thương mại
Trung tâm Xúc tiền thương mại
Phó Giám đốc 3 cấp chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, đồng thời thực hiện thẩm định kinh doanh hàng hóa và dịch vụ thương mại có điều kiện Bài viết cũng đề cập đến lệ phí cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, lệ phí cấp Giấy phép kinh doanh trong lĩnh vực thương mại, và lệ phí cấp Giấy phép thành lập.
Sở Giao dịch hàng hoá
B ả ng 2.1 T ổ ng h ợ p ngu ồ n thu c ủ a S ở Công Th ươ ng t ỉ nh ðắ k Nông trong
3 n ă m d ự a trên báo cáo tài chính n ă m 2014, 2015, 2016
Ngân sách nhà nước Thu phí, lệ phí Năm Tổng cộng
Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%)
(Nguồn số liệu: Sở Công Thương tỉnh ðắk Nông)
Trong ba năm 2014, 2015 và 2016, nguồn ngân sách của Sở Công Thương chủ yếu đến từ ngân sách nhà nước, chiếm tới 98,92%, trong khi nguồn thu từ phí và lệ phí chỉ chiếm 1,089% Sau khi nộp ngân sách nhà nước theo tỷ lệ quy định, Sở Công Thương phải trích 40% để thực hiện cải cách tiền lương khi có thay đổi về chính sách lương Do đó, số còn lại không đủ để chi cho hoạt động thu phí và lệ phí, dẫn đến việc không có nguồn dư để tăng thu nhập cho cán bộ, công chức của Sở Công Thương.
Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho Sở Công Thương tỉnh Đắk Nông được thực hiện theo phương thức cấp phát "Hạn mức kinh phí" Hàng năm, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ căn cứ vào dự toán của Sở Công Thương để lập kế hoạch cho năm tiếp theo, sau đó sẽ trình thẩm định cho Sở Tài chính tỉnh Đắk Nông Cuối cùng, ngân sách sẽ được phân bổ và giao dự toán cho Sở Công Thương.
Khi Sở Công Thương nhận được Quyết định giao dự toán thu, chi ngân sách từ Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông, kế toán sẽ thực hiện ghi chép bằng cách nợ tài khoản 008.
Dự toán chi hoạt động và các tài khoản cấp 2 phù hợp như Tài khoản 0081 “Dự toán chi thường xuyên” hoặc Tài khoản 0082 “Dự toán chi không thường xuyên” sẽ được lập tại KBNN tỉnh Đắk Nông Đồng thời, phiếu nhập dự toán Ngân sách sẽ được thực hiện theo Phục lục 2.2.
2.1.4 ðặc ủiểm quản lý chi của Sở Cụng Thương tỉnh ðắk Nụng
Bao gồm các khoản chi, như sau:
Chi phí thường xuyên bao gồm các khoản như tiền lương, tiền công, các khoản trích nộp theo lương, bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), kinh phí công đoàn (KPCĐ), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) theo quy định Ngoài ra, còn có các khoản chi cho dịch vụ công cộng, văn phòng phẩm, điện thoại, hội nghị, công tác phí trong và ngoài nước, chi phí nghiệp vụ chuyên môn, sửa chữa tài sản cố định định kỳ và các khoản chi khác theo quy định.
Chi khụng thường xuyên bao gồm các khoản chi như chi đào tạo, chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, chi sửa chữa lớn tài sản cố định, và chi thực hiện các dự án quy hoạch.
- Cỏc khoản chi ủược chi từ nguồn NSNN và thu phớ, lệ phớ a Chi ti ề n l ươ ng và thu nh ậ p
1 Quỹ lương và thu nhập
* Quỹ tiền lương và thu nhập của Sở Công Thương tỉnh ðắk Nông ủược sử dụng từ:
Nguồn kinh phí hoạt động bao gồm nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) cấp để chi trả tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp theo lương cho cán bộ, công chức, viên chức của đơn vị Điều này được quy định tại Nghị định số 47/2016/NĐ-CP, ngày 26 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ cùng với các văn bản hướng dẫn hiện hành về lương và phụ cấp.
Quỹ tiền lương kế hoạch ủược xỏc ủịnh theo quy ủịnh tại Nghị ủịnh số
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI SỞ CÔNG THƯƠNG TỈNH ðẮK NÔNG
2.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán tại Sở Công Thương tỉnh ðắk Nông
Theo phân cấp quản lý của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông, Sở Công Thương là đơn vị dự toán cấp 1, có nhiệm vụ phân bổ và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị cấp dưới Sở chịu trách nhiệm trước Nhà nước về tổ chức và thực hiện công tác kế toán cũng như quyết toán ngân sách của mình và các đơn vị trực thuộc Không có phòng kế toán riêng, hoạt động theo mô hình tập trung với một Kế toán trưởng duy nhất và Kế toán trưởng của các đơn vị trực thuộc.
S ơ ủồ 2.2 Mụ hỡnh t ổ ch ứ c k ế toỏn t ạ i S ở Cụng Th ươ ng t ỉ nh ðắ k Nụng
Kế toán trưởng Sở Công Thương có trách nhiệm tổ chức công tác kế toán, thực hiện tự kiểm tra và giám sát hoạt động kế toán Bên cạnh đó, vị trí này còn đảm nhiệm việc quản lý thu chi, thực hiện quyết toán và ký báo cáo tài chính định kỳ.
Kế toán trưởng Sở Công Thương
Văn thư kiêm thủ quỹ
Văn thư kiêm thủ quỹ Văn thư kiêm thủ quỹ
Kiểm tra quyết toán tại các đơn vị như Trung tâm Khuyến công & Tư vấn phát triển công nghiệp và Trung tâm Xúc tiến thương mại nhằm đảm bảo công tác kế toán được thực hiện đúng theo pháp luật, quy chế và thể lệ quy định.
- Kiểm tra tính chất hợp pháp, hợp lý, hợp lệ của các nghiệp vụ kinh tế tài chớnh phỏt sinh và ủược phản ỏnh vào chứng từ kế toỏn;
Thông qua việc kiểm tra kế toán và tình hình chấp hành ngân sách, chúng tôi đánh giá kế hoạch thu, chi tài chính, kỷ luật thu nộp thanh toán, và việc bảo quản, sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn Qua đó, chúng tôi phát hiện và ngăn ngừa các vi phạm chính sách, chế độ kinh tế tài chính, đồng thời đề xuất những biện pháp khắc phục tồn tại trong công tác kế toán và quản lý tại đơn vị.
Thủ quỹ có trách nhiệm thu, chi tiền mặt tại quỹ dựa trên các chứng từ hợp lệ Họ cần bảo quản tiền mặt cẩn thận và cập nhật số liệu thu, chi vào sổ quỹ Hàng tháng, thủ quỹ phải tiến hành kiểm kê quỹ để báo cáo cho Kế toán trưởng và Giám đốc Sở khi có yêu cầu.
Trên cơ sở áp dụng mô hình kế toán trên, Kế toán trưởng Sở Công Thương chưa kiểm soát chặt chẽ về quản lý tài chính
2.2.2 Công tác lập dự toán tại Sở Công Thương tỉnh ðắk Nông a Công tác l ậ p d ự toán thu c ủ a S ở Công Th ươ ng
Dự toán thu chi ngân sách nhà nước của Sở Công Thương hàng năm được xây dựng dựa trên tình hình thu chi thực tế của Sở, nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ mà Nhà nước giao.
- Lập dự toán từ nguồn Ngân sách cấp (Phụ lục 2.3)
Lập dự toán đầu năm trong thời kỳ ổn định là một quá trình quan trọng, trong đó Sở Công Thương sẽ căn cứ vào số chỉ tiêu biên chế được nhà nước phê duyệt và hợp đồng tại Sở Đồng thời, kế hoạch mua sắm và sửa chữa máy móc, trang thiết bị cũng được xem xét, cùng với việc đánh giá tình hình thực hiện các nhiệm vụ của năm trước và định mức của nhà nước.
- ðối với các khoản thu phí, lệ phí: Căn cứ vào tình hình thực hiện thu thực tế của năm trước ủể lập dự toỏn cho năm sau;
Trong quá trình lập dự toán thu phí, lệ phí, Sở Công Thương thực hiện theo trình tự, chế độ nhất định Tuy nhiên, số liệu trong dự toán chỉ mang tính ước tính do không thể xác định chính xác số lượng công trình cần thẩm định và số giấy phép cần cấp, vì vậy khoản thu chỉ mang tính tương đối Bảng dự toán NSNN cấp và số thu phí, lệ phí của Sở Công Thương trong ba năm 2014, 2015, 2016 được trình bày trong bảng 2.2.
B ả ng 2.2 D ự toán và th ự c hi ệ n thu Ngân sách c ủ a S ở Công Th ươ ng t ỉ nh ðắ k Nông n ă m 2014-2016 ðơn vị tớnh: Triệu ủồng
TT Nội dung Dự toán
II Thu phí, lệ phí 150 216 150 137 150 393 Tổng cộng 9.400 8.129 42.650 28.766 45.150 32.368
(Nguồn số liệu: Sở Công Thương tỉnh ðắk Nông)
Dựa trên số liệu trong 3 năm qua, chi hoạt động của Sở Công Thương chủ yếu được cấp từ ngân sách nhà nước, với nguồn thu phí và lệ phí chỉ đóng góp một phần nhỏ vào chi thường xuyên Mục đích chính của các khoản chi này là để thực hiện cải cách tiền lương khi Nhà nước có sự thay đổi về chính sách tiền lương Công tác lập dự toán chi của Sở Công Thương cần được chú trọng để đảm bảo nguồn lực cho các hoạt động hiệu quả hơn.
Dự toán các khoản chi thanh toán cá nhân bao gồm chi lương, tiền công, phụ cấp lương, khen thưởng, phúc lợi tập thể và các khoản trích theo lương theo các mục 6000, 6050, 6100, 6200, 6250, 6300, cùng với các khoản thanh toán khác theo Quyết định số 33/2008/QĐ-BTC, ngày 02 tháng 6 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Đơn vị cần căn cứ vào biên chế được giao và hệ số lương bình quân của cán bộ công chức để dự kiến các biến động nhân sự trong năm, đảm bảo các khoản chi thanh toán cá nhân phải khớp đúng với biên chế được giao.
Tổng quỹ lương = Tổng hệ số lương và phụ cấp x mức lương tối thiểu x 12tháng (1)
Cỏc khoản trớch nộp theo lương do cơ quan ủúng = Tổng quỹ lương x 23% (2)
Sở Công Thương đặc biệt chú trọng đến việc kiểm tra các khoản chi liên quan đến lương, phụ cấp lương và các khoản trích nộp theo lương Quy trình kiểm soát chi lương và phụ cấp tại Sở Công Thương được thực hiện một cách nghiêm ngặt để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách.
Sở Công Thương thực hiện việc thanh toán lương dựa trên bảng dự toán quỹ lương đã được xây dựng từ đầu năm và được Sở Tài chính thẩm định Khi chi lương và các khoản trích theo lương, Sở Công Thương căn cứ vào số lượng cán bộ, công chức hiện có, hệ số lương và phụ cấp mà họ đang hưởng, cùng với mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
Sở Công Thương thực hiện thanh toán phụ cấp lương dựa trên bảng dự toán quỹ lương được xây dựng từ đầu năm và đã được Sở Tài chính thẩm định Các khoản phụ cấp lương bao gồm phụ cấp chức vụ, trách nhiệm, làm thêm giờ, thâm niên vượt khung, mức lương tối thiểu theo quy định của Nhà nước, và được tính toán theo công thức quy định để đảm bảo tính chính xác và hợp lý.
Dự toán chi nghiệp vụ chuyên môn bao gồm các mục chi như thanh toán dịch vụ công cộng, chi vật tư văn phòng, chi thông tin, chi tuyên truyền, liên lạc, hội nghị, chi công tác phí, chi thuê mướn, chi đồn ra, chi đồn vào, chi sửa chữa tường xuyên và các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn khác Những mục chi này tương ứng với các mã: 6500, 6550, 6600, 6650, 6700, 6750, 6800, 6850, 6900, 7000 theo Quyết định số 33/2008/QĐ-BTC, ngày 02 tháng 6 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Chi thanh toán dịch vụ công cộng bao gồm tiền điện, tiền nước và nhiên liệu phục vụ Sở Công Thương sẽ dựa vào nhu cầu chi tiêu và số liệu thực tế của các năm trước để lập dự toán cho năm nay Khi thanh toán, đơn vị sẽ căn cứ vào hóa đơn thực tế để chuyển trả tiền điện, nước hàng tháng cho đơn vị cung cấp.