Để hạn chế rủi ro, một trong những biện pháp quản trị của các Ngân hàng thương mại đang có xu hướng chú trọng và chú ý sử dụng là Xếp hạng tín dụng - sử dụng các mô hình phân tích để chấ
Trang 1PHẠM THU KIỀU QUYÊN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THUƠNG MẠI CỔ PHẦN
QUÂN ĐỘI CHI NHÁNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KI NH DOANH
Trang 2PHẠM THU KIỀU QUYÊN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THUƠNG MẠI CỔ PHẦN
QUÂN ĐỘI CHI NHÁNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KI NH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hoàng Tùng
Đà Nẵng - Năm 2016
Trang 3công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Phạm Thu Kiều Quyên
Trang 42 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
7 Bố cục của đề tài 4
8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8
1.1.1 Khái niệm 8
1.1.2 Một số hoạt động chính của Ngân hàng thương mại 9
1.1.3 Rủi ro tín dụng ngân hàng 11
1.2 KHÁI NIỆM XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP 17
1.2.1 Khái niệm 17
1.2.2 Sự cần thiết của hoạt động xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 18
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác xếp hạng doanh nghiệp 28
1.2.4 Một số mô hình xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THUƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI – CHI NHÁNH ĐĂK LĂK 34
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG QUÂN ĐỘI 34
2.1.1 Sơ luợc về Ngân hàng Quân Đội Đăk Lăk 34
Trang 52.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH
NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG QUÂN ĐỘI ĐAK LĂK 38
2.2.1 Một số quy định của hoạt động xếp hạng tín dụng 38
2.2.2 Quy trình thực hiện xếp hạng tín dụng đối với khách hàng là doanh nghiệp tại Ngân Hàng Quân Đội Đăk Lăk 40
2.2.3 Đánh giá thực trạng công tác xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân Hàng Quân Đội Đăk Lăk 59
3.1 MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG QUÂN ĐỘI ĐĂK LĂK 67
3.1.1 Mục tiêu 67
3.1.2 Các giải pháp 67
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG QUÂN ĐỘI ĐĂK LĂK 69
3.2.1 Chú trọng thực hiện việc thu thập và xử lý thông tin chính xác, kịp thời và đầy đủ 69
3.2.2 Nâng cao chất lượng công tác chấm điểm, xếp hạng tín dụng 69
3.2.3 Giám sát sát sao việc sử dụng kết quả xếp hạng tín dụng vào công tác cho vay và trích lập dự phòng rủi ro 70
3.2.4 Thực hiện đầy đủ việc kiểm tra, giám sát xếp hạng tín dụng 71
3.2.5 Nâng cao trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên 71
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG QUÂN ĐỘI 72
3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ KHÁC 76
3.4.1 Đối với Ngân hàng Nhà Nước 76
3.4.2 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước 78
Trang 6QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 82.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Ngân hàng Quân Đội Đăk
Trang 91.1 Bảng so sánh giữa chỉ số Z” và các chỉ số của
1.2 Các yếu tố xem xét khi chấm điểm tín dụng của FICO 30
1.3 Mối quan hệ giữa điểm và xác suất khách hàng mất
1.4 Thang điểm tín dụng và kết quả xếp loại 31
2.1 Tình hình hoạt động huy động vốn giai đoạn 2012 –
2.6 Trọng số đối với khách hàng chƣa có quan hệ tín
2.7 Phân loại rủi ro theo các mức điểm và xếp hạng tại
2.8 Cơ cấu dƣ nợ quá hạn doanh nghiệp giai đoạn 2012 –
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường là một trong những hoạt động kinh tế có nhiều rủi ro hơn hết Có thể nói rủi ro được xem như một yếu tố không thể tách rời quá trình hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng rủi ro tín dụng chiếm tới 70 % rủi
ro trong hoạt động của ngân hàng Thực tế hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam trong thời gian qua là một minh chứng cho nhận định này Bên cạnh những nỗ lực tạo dựng một cơ cấu tín dụng lành mạnh như quy trình tín dụng được thực hiện gần với chuẩn mực thế giới, đa dạng hóa danh mục cho vay, …thì vẫn tồn tại nhiều vấn đề bất cập như hiệu quả tín dụng chưa cao, chất lượng tín dụng chưa tốt, tỷ lệ nợ quá hạn còn cao so với khu vực Vì vậy, vấn đề nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam đang là vấn đề bức xúc cả trên phương diện lý thuyết và thực tiễn
Để hạn chế rủi ro, một trong những biện pháp quản trị của các Ngân hàng thương mại đang có xu hướng chú trọng và chú ý sử dụng là Xếp hạng tín dụng - sử dụng các mô hình phân tích để chấm điểm về chất lượng, uy tín tín dụng của các khách hàng từ đó có thể chọn lọc các khách hàng tốt và có chính sách phù hợp đối với từng đối tượng khách hàng để hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng Tuy nhiên, công tác này vẫn còn nhiều điểm hạn chế, nhất
là việc thực hiện công tác này tại các chi nhánh của từng ngân hàng cần phải xem xét một cách kỹ lưỡng, khoa học nhằm sửa đổi, bổ sung phù hợp Do vậy, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện công tác này là rất cấp thiết Đó cũng chính là lý do em chọn thực hiện đề tài tốt nghiệp
“Hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân hàng Thương Mại
Cổ Phần Quân đội - Chi nhánh Đắk Lắk”
Với đề tài này em xin đi sâu tìm hiểu về phương pháp xếp hạng tín
Trang 11dụng đối với đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn Từ đó sẽ đánh giá những thành công và hạn chế của hoạt động này khi áp dụng thực tế tại địa bàn và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp chấm điểm doanh nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng của công tác xếp hạng tín dụng tại MB Đắk Lắk
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Xếp hạng tín dụng là gì? Đối tượng, nguyên tắc và các phương pháp xếp hạng tín dụng như thế nào? Sự cần thiết của hoạt động xếp hạng tín dụng đối với các ngân hàng, doanh nghiệp và nền kinh tế ra sao? Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động xếp hạng tín dụng tại ngân hàng là gì?
- Tình hình thực hiện công tác xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại MB Đăk Lăk qua các năm 2012, 2013, 2014 như thế nào? Phân tích, đánh giá những thành tựu và hạn chế của công tác xếp hạng tín dụng tại MB Đăk Lăk, tìm hiểu nguyên nhân?
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị để nâng cao chất lượng của công tác xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại MB Đăk Lăk
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu công tác xếp hạng tín dụng
Trang 12nội bộ tại MB Đăk Lăk đối với khách hàng là các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp vay vốn tại đây
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Bên cạnh những thông tin chung về MB Đắk Lắk và tổng quan các hoạt động huy động vốn, cho vay, đề tài tập trung nghiên cứu phân tích thực trạng chất lượng xếp hạng tín dụng doanh nghiệp qua các năm
2012, 2013, 2014 của MB Đắk Lắk; nhận xét, đánh giá và từ đó đề ra giải pháp nâng cao chất lượng xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại MB Đắk Lắk
- Về không gian: Tại Ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Đắk Lắk (MB Đắk Lắk)
- Về thời gian: Từ đầu năm 2012 đến hết năm 2014 và các đề xuất cho những năm tiếp theo
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản như: phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp,… đồng thời sử dụng các mô hình minh hoa, bảng số liệu để chứng minh và rút ra kết luận
Trên cơ sở nội dung đề tài, tác giả dự kiến thu thập số liệu từ báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của MB Đắk Lắk trong những năm gần đây (2012, 2013, 2014), tham khảo các giáo trình, tài liệu, báo chí, báo cáo thường niên, báo cáo kinh tế vĩ mô, quy trình xếp hạng tín dụng, các văn bản pháp luật, các quy định của MB liên quan đến hoạt động cho vay trung dài hạn, nhằm phục vụ quá trình thực hiện đề tài Riêng về phần số liệu được tổng hợp từ phòng Quản Lý Rủi Ro của ngân hàng Quân Đội cung cấp
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài trình bày sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống XHTD khách hàng doanh nghiệp tại NH TMCP Quân Đội chi nhánh Đăk Lăk Đề tài nghiên cứu tập trung vào phương pháp tính điểm và xếp hạng, đưa ra các các
Trang 13giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại NH TMCP Quân Đội chi nhánh Đăk Lăk
Xây dựng thành công hệ thống đánh giá, XHTD đối với khách hàng không chỉ giúp NHTM phân loại nợ trung thực hơn, mà còn là công cụ tư vấn, giúp các nhà quản trị NHTM có định hướng chiến lược kinh doanh rõ ràng, áp dụng phù hợp cho từng nhóm đối tượng khách hàng doanh nghiệp vay vốn
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, bố cục của đề tài bao gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xếp hạng tín dụng nội bộ tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng công tác xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân hàng TMCP Quân Đội chi nhánh Đăk Lăk
Chương 3: Hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân hàng TMCP Quân Đội chi nhánh Đăk Lăk
8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu làm bài, tôi cũng đã tham khảo từ một số nghiên cứu đi trước có liên quan, để từ đó rút ra được những định hướng và phương pháp nghiên cứu cho phù hợp với đề tài của mình Cụ thể:
1 Luận văn “Nghiên cứu về hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của
Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội”, tác giả Trần Thị Thúy Hà, luận văn thạc sĩ,
2011, trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Tác giả đã xây dựng được một cơ sở lý luận chặt chẽ và rất logic, thể hiện được những nội dung cơ bản và chi tiết của hoạt động XHTD của NHTM Đề tài đã đi sâu vào việc nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu áp dụng trong công tác chấm điểm xếp hạng, mối quan hệ của các chỉ tiêu này với Tổng điểm xếp hạng, giúp người đọc hiểu rõ được ý nghĩa của từng chỉ tiêu Tuy nhiên, điểm hạn chế của đề tài này là tác giả chỉ nêu ra các chỉ tiêu
Trang 14áp dụng trong công tác XHTD nhưng không đề cập đến việc áp dụng vào thực
tế của các nhóm chỉ tiêu, khó khăn và tồn tại của công tác XHTD tại các NHTM Các phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là mô hình hồi quy tuyến tính để kiểm định mối tương quan của các chỉ tiêu trong hệ thống đối với kết quả xếp hạng, từ đó phân tích hiện trạng, kiểm chứng các chỉ tiêu này
2 Luận văn “Hoàn thiện Hệ thống xếp hạng tín dụng năm 2010 của
Vietcombank”, tác giả Đoàn Quốc Chinh, luận văn thạc sĩ kinh tế, trường Đại
Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Về phần cơ sở lý luận, tác giả cũng đã tổng hợp và nêu ra được những
lý thuyết cơ bản, các đặc điểm và nội dung cơ bản của công tác XHTD tại NHTM Điểm mới của đề tài này so với các đề tài khác là đã hệ thống hóa cả hai hệ thống XHTD của Vietcombank cũ và sau khi được đổi mới; so sánh các điểm khác biệt, bước tiến của hệ thống XHTD mới so với XHTD cũ Từ
đó, phân tích và đánh giá những mặt đạt được và hạn chế khi áp dụng hệ thống XHTD mới Tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê, so sánh đối với từng nhóm chỉ tiêu để chỉ ra những khác biệt rõ ràng nhất Không chỉ so sánh giữa hệ thống XHTD cũ và mới, tác giả cũng đã tổng hợp và so sánh hệ thống XHTD của Vietcombank với các ngân hàng khác giúp người đọc có thêm nhiều kiến thức về XHTD của các ngân hàng khác
3 Luận văn “Giải pháp hoàn thiện Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp
tai Tổng công ty Cổ Phần Dầu Khí Việt Nam (PVFC)”, tác giả Nguyễn Thị
Ngọc Anh, luận văn thạc sĩ Tài Chính – Ngân hàng, 2011, trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh
Tác giả đã khái quát phần cơ sở lý luận của Xếp hạng tín dụng, và cũng đưa ra một số các ví dụ về phương pháp XHTD tại một số các Tổ chức chuyên về xếp hạng như S&P, Fitch, và các NHTM khác Riêng về nội dung
Trang 15công tác XHTD thì tác giả đã đi sâu và làm rõ được hệ thống XHTD hiện nay
mà PFVC đang sử dụng, với tư cách là một công ty tài chính đã có những khác biệt như thế nào so với hệ thống mà các NHTM đang sử dụng Trên cơ
sở đó, cũng đưa ra một ví dụ điển hình để làm rõ hơn các luận điểm của mình
4 Luận văn “Phân tích hệ thống chấm điểm tín dụng doanh nghiệp tại
các ngân hàng thương mại quốc doanh trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng”, tác giả
Đỗ Trọng Hoài, luận văn thạc sĩ Tài Chính – Ngân Hàng, 2007, trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh
Đề tài đã phân tích các phương xếp hạng tín dụng doanh nghiệp mà các ngân hàng TMCP quốc doanh hiện đang áp dụng đối với khách hàng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, Tác giả đã tổng hợp, so sánh và phân tích các quy trình
mà các NHTM quốc doanh hiện đang áp dụng tại một địa bàn đặc thù, từ đó
có những nhận định để đề xuất, kiến nghị nhằm thúc đấy va hỗ trợ cho công tác phân loại và quản trị rủi ro tại một địa bàn nhất định Tuy nhiên vì đề tài
đã được thực hiện khá lâu nên một số thông tin có thể đã cũ và không còn phù hợp tại thời điểm hiện tại
5 Đề Tài “Xếp hạng tín nhiệm tại Việt Nam – Thực trạng và Giải
Pháp”, khoa Khoa Học Kinh Tế, công trình Nghiên cứu Khoa Học Nhà Kinh
Tế Trẻ, 2010, trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh
Đề tài cnng cấp nội dung cơ sở lý luận vững chắc về hệ thống xếp hạng tín nhiệm, phân tích những vấn đề xếp hạng tín nhiệm trên thế giới để thấy được những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, tìm hiểu một số mô hình hay
áp dụng và đã xuất hiện từ trước tới nay trong quy trình xếp hạng tín nhiệm, tổng hợp thực trạng ở Việt Nam hiện nay và các nhân tố của thị trường Việt Nam ảnh hưởng tới việc xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp để từ đó đưa ra các giải pháp kiến nghị nhằm pháp triển công tác xếp hạng tín nhiệm
Trang 16Nhìn chung, đã có rất nhiều luận văn nghiên cứu về cấn đề xếp hạng tín
dụng doanh nghiệp của các ngân hàng, đều nêu ra được hệ thống XHTD mà các ngân hàng thương mại Việt Nam đang áp dụng; thành công, hạn chế của từng hệ thống đó và đề xuất được những giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển hơn nữa từng hệ thống XHTD tại các NHTM, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao công tác quản trị rủi ro tại từng NHTM và cho cả nền kinh tế Các phương pháp sử dụng chủ yếu trong các luận văn là phương pháp biện chứng, duy vật lịch sử, đồng thời kết hợp một số phương pháp như phân tích, tổng hợp, giải thích, so sánh để thu thập số liệu và phân tích số liệu,…
Tuy nhiên, đề tài “Hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ tại
Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Quân đội - Chi nhánh Đắk Lắk” sẽ có những nội dung mới so với các công trình nghiên cứu trước đây, kế thừa kết quả của những nghiên cứu có tính thực tiễn cao của các tác giả đi trước, nhưng đề tài có những hướng phân tích mới khi đi sâu vào việc nghiên cứu XHTD tại một địa bàn nhất định và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác này phù hợp nhất với tình hình thực trạng
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG
NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm
Ngân hàng là một trong những ngành có lịch sử hoạt động lâu đời trên thế giới, cho đến nay hoạt động Ngân hàng luôn giữ được vị trí quan trọng
trong hầu hết các hoạt động của nền kinh tế xã hội “Ngân hàng là loại hình
tổ chức được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền
tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”
Như vậy, có thể khái quát Ngân hàng là một loại định chế tài chính trung gian mà qua đó các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội được tập trung lại
và chính các nguồn vốn này sẽ được sử dụng nhằm hỗ trợ tài chính cho các thành phần kinh tế trong xã hội với mức lãi suất cao hơn Ngoài ra, thông qua hoạt động của mình các ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ, sản phẩm ngân hàng đa dạng phù hợp nhu cầu của các thành phần kinh tế trong xã hội, từ đó tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng
Trước xu thế hội nhập, quan hệ hợp tác giữa các nước trên thế giới không ngừng được mở rộng, giao lưu về kinh tế- chính trị, ngân hàng ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình, là tổ chức trung gian tài chính cung cấp các khoản tín dụng trả góp cho người tiêu dùng với quy mô lớn nhất, cung cấp phần lớn vốn lưu động quan trọng nhất cho các doanh nghiệp, là thành viên quan trọng trong thị trường tín phiếu và trái phiếu…
Trang 181.1.2 Một số hoạt động chính của Ngân hàng thương mại
Hoạt động huy động vốn: Ngân hàng với vai trò là người đứng ra tập
trung, huy động các nguồn vốn trong toàn xã hội, sau đó sử dụng để cung cấp tín dụng cho các đối tượng khách hàng có nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh, tiêu dùng Nguồn vốn huy động gồm có:
− Tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng (còn được gọi là tiền gửi giao dịch, tiền gửi thanh toán);
− Tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức và cá nhân;
− Tiền gửi tiết kiệm của dân cư;
− Nguồn vốn huy động qua phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi …
Hoạt động thanh toán quốc tế: tài trợ, hỗ trợ khách hàng khi tham gia
quá trình mua bán với các đối tác nước ngoài bằng việc cung ứng các dịch vụ thanh toán quốc tế, cam kết, bảo lãnh của ngân hàng để có thể mua hàng trả chậm từ bạn hàng nước ngoài dưới các hình thức thanh toán DP, DA, L/C… Thông qua việc tham gia này, các ngân hàng cũng thu được các loại phí từ khách hàng và nâng cao uy tín của mình đối với các đối tác nước ngoài
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh nguồn vốn: hoạt động
kinh doanh ngoại tệ là hoạt động mua bán các loại ngoại tệ nhằm phục vụ cho mục tiêu thu lợi nhuận từ sự chênh lệch, biến động giá cả của các loại ngoại tệ; hoạt động này cũng nhằm mục tiêu phục vụ cho nhu cầu mua bán các loại ngoại tệ của khách hàng để thanh toán nước ngoài hoặc chuyển đổi ngoại tệ thu được thành nội tệ để mua nguyên nhiên vật liệu trong nước
Hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất của các nguồn vốn là các hoạt động liên quan đến mua và bán hoặc làm đầu mối tìm kiếm và giao lại cho các định chế tài chính khác các nguồn vốn để hưởng chênh lệch lãi suất
có lợi Hoạt động này ngày càng được các ngân hàng quan tâm vì nó mang lại
Trang 19lợi nhuận rất lớn nếu ngân hàng có biện pháp, nguyên tắc an toàn chuẩn mực trong việc quản lý loại hoạt động kinh doanh này
Hoạt động bảo lãnh: là một hình thức cấp tín dụng cho khách hàng
được thực hiện thông qua các cam kết của ngân hàng bằng văn bản về việc sẵn sàng thực hiện
Hoạt động chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá: Nghiệp vụ này
mang lại tiện ích cho khách hàng gửi tiền tiết kiệm, hoặc người đang nắm giữ trái phiếu, kỳ phiếu, thương phiếu và các lọai chứng chỉ tiền gửi khác,…bằng cách ngân hàng cho vay chiết khấu các giấy tờ có giá để đáp ứng ngay nhu cầu vốn cho khách hàng
Hoạt động cung cấp dịch vụ: như cho thuê két sắt, dịch vụ thẻ ATM,
thanh toán lương tự động, dịch vụ thanh toán trong nước; dịch vụ chi trả kiều hối; dịch vụ chuyển tiền; dịch vụ quản lý ngân quỹ; dịch vụ tư vấn tài chính,
− Mua cổ phiếu của các công ty cổ phần : Hiện nay hoạt động này của các ngân hàng phát triển càng ngày càng mạnh mẽ, tạo điều kiện cho các ngân hàng thâm nhập ngày càng sâu rộng vào các ngành nghề, các lĩnh vực kinh doanh khác
− Mua trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty,…
Các hoạt động tài chính của ngân hàng hiện đại: Homebanking, SMS
banking, Phone banking, E-bankinh, E- L/C…
Hoạt động cho vay: thường được gọi là cấp tín dụng; là nghiệp vụ sử
Trang 20dụng vốn quan trọng nhất, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh, sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại, là một nghiệp vụ quản lý tài sản
Có của ngân hàng Mục đích hoạt động này là cung cấp nguồn hỗ trợ tài chính cho các thành phần trong nền kinh tế Nhờ hoạt động này mà các khách hàng của ngân hàng có thể thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của mình, chuyển các ý tưởng kinh doanh thành hiện thực Tuy nhiên, hoạt động cấp tín dụng cũng là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất cho ngân hàng khi mà ngân hàng phải giao quyền sử dụng hàng hoá đặc biệt của mình (là tiền) cho khách hàng
sử dụng Mặc dù trong hoạt động cấp tín dụng các ngân hàng thương mại đều
có các quy định về thẩm định và đánh giá khách hàng nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra do các đánh giá sai lầm của ngân hàng về khách hàng hoặc do các biến động của nền kinh tế hoặc do cán bộ ngân hàng có tiêu cực trong hoạt động cấp tín dụng…
1.1.3 Rủi ro tín dụng ngân hàng
a Khái niệm về rủi ro và rủi ro trong hoạt động Ngân hàng
Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn Tuy nhiên, không phải sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro, chỉ có những tình trạng không chắc chắn nào có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro Những tình trạng không chắc chắn nào chưa từng xảy ra và không thể ước đoán được xác suất xảy ra được xem là sự bất trắc chứ không phải rủi ro
Từ khái niệm về rủi ro như trên có thể hiểu rằng rủi ro trong hoạt động bao gồm các biến cố ngẫu nhiên xảy ra ngoài sự mong đợi có thể tác động không tốt đến hoạt động của một tổ chức Trong hoạt động ngân hàng, rủi ro
là vấn đề tất yếu không thể loại trừ, nó gắn liền với hoạt động kinh doanh bất
kể mọi biện pháp phòng chống ngăn ngừa từ Luật pháp, các quy định, hệ thống thanh tra, kiểm tra, bảo hiểm,…Xác định được rủi ro và nắm được bản chất của nó trong hoạt động
Trang 21Một Ngân hàng trong quá trình hoạt động thường đối mặt với các rủi ro chủ yếu sau :
Rủi ro thanh khoản: là lọai rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chỉ trả hoặc không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền theo yêu cầu của các hợp đồng thanh toán Tình trạng thiếu hụt thanh khoản ở mức độ lớn là một trong những nguyên nhân đưa đến phá sản một ngân hàng
Rủi ro lãi suất : là lọai rủi ro do sự biến động của lãi suất Loại rủi ro này phát sinh trong quá trình quan hệ tín dụng của tổ chức tín dụng Theo đó
tổ chức tín dụng có những khoản đi vay hoặc cho vay theo lãi suất thả nổi Nếu ngân hàng đi vay theo lãi suất thả nổi, khi lãi suất thị trường tăng khiến chi phí trả lãi của ngân hàng tăng theo Ngược lại, nếu ngân hàng cho vay theo lãi suất thả nổi, khi lãi suất thị trường xuống thấp khiến thu nhập lãi cho vay của ngân hàng giảm Rủi ro lãi suất đặc biệt quan trọng khi ngân hàng huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, hoặc đầu tư tài chính khá lớn và theo lãi suất thị trường
Rủi ro tỷ giá: là rủi ro phát sinh do sự biến động tỷ giá làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong tương lai Rủi ro tỷ giá có thể phát sinh trong nhiều hoạt động khác nhau của ngân hàng Nhưng nhìn chung bất cứ hoạt động nào mà ngân lưu thu (inflows) phát sinh bằng một đồng tiền trong khi ngân lưu chi (outflows) phát sinh bằng một đồng tiền khác đều chứa đựng nguy cơ rủi ro tỷ giá
Rủi ro tín dụng: (được trình bày cụ thể ngay dưới đây)
b Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng (credit risk) là lọai rủi ro phát sinh do khách hàng không còn khả năng chi trả Trong hoạt động của các công ty, rủi ro tín dụng phát sinh khi công ty bán chịu hàng hóa và khách hàng mua chịu không có khả năng trả nợ
Trang 22Tại quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng thì :
“Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD Rủi ro tín dụng có tính tất yếu, nó luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Đặc điểm này xuất phát từ
sự bất cân xứng về thông tin giữa ngân hàng thương mại (người cho vay) và khách hàng (người đi vay); nó phát sinh trong quá trình cho vay của Ngân hàng" Biểu hiện cụ thể của rủi ro tín dụng là :
− Khách hàng không trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ
− Khách hàng trả nợ không đầy đủ
− Khách hàng trả nợ không đúng hạn
Rủi ro tín dụng có tính đa dạng và phức tạp biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng thương mại như bảo lãnh, cam kết tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, đồng tài trợ, tín dụng thuê mua…
Trong hoạt động tín dụng, khi ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cho vay thì đó mới chỉ là một giao dịch chưa hoàn thành Giao dịch tín dụng chỉ được xem là hoàn thành khi nào ngân hàng thu hồi về được khoản cho vay cả gốc
và lãi Thế nhưng, khi thực hiện giao dịch tín dụng thì ngân hàng không biết chắc được giao dịch đó có hoàn thành hay không, nó có khả năng hoàn thành cũng có khả năng không hoàn thành Do đó rủi ro tín dụng thể hiện ở khả năng hay xác suất hoàn thành giao dịch tín dụng đó
Tùy thuộc vào gốc độ xem xét, phân tích … mà rủi ro tín dụng có
Trang 23nguồn gốc phát sinh khác nhau Nếu xét dưới gốc độ phát sinh từ phía khách hàng và Ngân hàng thì rủi ro tín dụng có thể phát sinh do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan sau :
Về phía khách hàng: Nguyên nhân chủ quan có thể do trình độ quản lý
của khách hàng yếu kém, hoạt động kinh doanh còn nhỏ lẻ, hệ thống kế toán không đầy đủ và chưa tuân thủ theo các chuẩn mực của kế toán Việt Nam, dẫn đến việc cung cấp thông tin sai lệch, gây nhiều rủi ro cho ngân hàng
Về phía ngân hàng: Nguyên nhân chủ quan dẫn đến rủi ro tín dụng có
thể xuất phát từ quá trình phân tích và thẩm định tín dụng không kỹ lưỡng dẫn đến những sai lầm trong quyết định cho vay Mặt khác, cũng có thể quyết định cho vay đúng đắn nhưng do thiếu kiểm tra kiểm soát sau khi cho vay dẫn đến khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích nhưng ngân hàng vẫn
không phát hiện để ngăn chặn kịp thời
Dù là nguyên nhân từ phía khách hàng hay từ phía ngân hàng, nguyên nhân chủ quan hay khách quan đều dẫn đến hậu quả là khách hàng không trả được nợ, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
Với hầu hết các ngân hàng hoạt động tín dụng rất quan trọng, dư nợ tín dụng thường chiếm hơn 50% tổng tài sản và thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm khoảng 50% đến 75% tổng thu nhập của ngân hàng Mặt khác, rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có khuynh hướng tập trung vào danh mục tín dụng Vì vậy, việc tìm ra biện pháp quản trị rủi ro tín dụng phù hợp
có ý nghĩa sống còn đối với một ngân hàng
c Các biện pháp để quản lý rủi ro tín dụng
Sàng lọc, lựa chọn khách hàng
Sự lựa chọn đối nghịch trong thị trường cho vay đòi hỏi ngân hàng phải sàng lọc và lựa chọn khách hàng Để hạn chế rủi ro tín dụng, ngân hàng phải
Trang 24lựa chọn được những khách hàng vay có triển vọng tốt trong số những khách hàng đến với ngân hàng
Muốn sàng lọc khách hàng vay có hiệu quả, ngân hàng cần tập hợp thông tin tin cậy về những người vay tiền Trên cơ sở các thông tin thu thập được tiến hành tính điểm tín dụng, đánh giá xếp loại khách hàng có triển vọng tốt hay xấu để quyết định cho vay
Đối với các món vay dành cho các doanh nghiệp, ngoài các thông tin
về tình hình tài chính, khả năng sản xuất kinh doanh, ngân hàng cũng cần tìm hiểu về khả năng cạnh tranh, cách thức sử dụng tiền vay cũng như kế hoạch trong tương lai của doanh nghiệp
Theo dõi và giám sát việc sử dụng vốn vay
Để hạn chế khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích hay sử dụng vào các hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro cao Trong quá trình cho vay, nhân viên tín dụng phải thường xuyên kiểm tra đánh giá tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng Kiểm tra vấn đề tuân thủ theo các điều khoản đã ghi trong hợp đồng tín dụng, nếu họ không tuân theo có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành những quy định của hợp đồng Điều này đòi hỏi việc soạn thảo hợp đồng tín dụng cần phải rõ ràng, chính xác, đầy đủ và chặt chẽ
Xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng
Xây dụng mối quan hệ lâu dài với khách hàng là một trong những nguyên lý quan trọng trong quản lý rủi ro tín dụng Nếu một khách hàng đã có quan hệ lâu dài với ngân hàng trong các hoạt động gửi hoặc vay tiền thì thông qua các giao dịch phát sinh trên các tài khoản tiền gửi, tiền vay, nhân viên tín dụng có thể biết được nhu cầu và khả năng thanh toán của khách hàng, Qua
đó giúp ngân hàng giảm thiểu được các chi phí liên quan đến việc thu thập thông tin, đánh giá tiềm năng và rủi ro tín dụng của khách hàng Việc phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro tín dụng sẽ dễ dành và chính xác hơn
Trang 25Đối với khách hàng, mối quan hệ lâu dài với ngân hàng cũng giúp họ
dễ được vay của ngân hàng với lãi suất thấp, vì ngân hàng phải bỏ ít chi phí hơn trong việc thu thập thông tin đánh giá khách hàng
Sự gắn bó chặt chẽ giữa ngân hàng và khách hàng đem lại lợi ích cho
cả hai bên Để tạo sự gắn bó này ngân hàng có thể nắm giữu cổ phần trong doanh nghiệp mà họ cho vay tiền; hoặc đưa ra một hạn mức tín dụng cho khách hàng, theo đó ngân hàng cam kết cho khách hàng vay một lượng vốn nhất định trong tương lai, đổi lại, khách hàng phải định kỳ cung cấp cho ngân hàng các thông tin về tình hình thu nhập, về hoạt động kinh doanh, tài sản Có
và tài sản Nợ, Những cam kết này sẽ có lợi cho cả hai phía: khách hàng yên tâm về khoản tín dụng khi cần đến, còn ngân hàng có thể giảm thiểu được chi phí thu thập thông tin đánh giá khách hàng Đồng thời việc quản lý rủi ro tín dụng cũng trở nên dễ dàng và có hiệu quả hơn
Bảo đảm tiền vay
Trong hoạt động tín dụng, có những khách hàng vay có nhiều rủi ro nhưng lại là những khách hàng tiềm năng Để có thể hạn chế được rủi ro mà vẫn giữ được khách hàng, ngân hàng có thể chuyển rủi ro cho các chủ thể khác có khả năng chịu đựng rủi ro bằng cách thực hiện bảo hiểm tín dụng
Hạn chế cho vay
Để hạn chế rủi ro tín dụng, đôi khi ngân hàng cũng phải từ chối cung cấp tín dụng cho những khách hàng có nhu cầu vay và sẵn sàng trả lãi suất cao, hoặc chỉ đáp ứng một phần trong toàn bộ nhu cầu của khách hàng
Việc từ chối cho vay đối với khách hàng nhằm ngăn ngừa hiện tượng lựa chọn đối nghịch trong cho vay vì những khách hàng có khả năng vay vốn với lãi suất cao thường sử dụng vốn vào những dự án có mức độ rủi ro cao
Lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng
Quỹ dự phòng rủi ro tại nguồn bù đắp tổn thất cho ngân hàng khi có rủi
Trang 26ro xảy ra Do vậy, lập quỹ dự phòng được coi là một trong những biện pháp quan trọng để tăng khả năng chống chịu rủi ro của ngân hàng, giúp ngân hàng
có thể ổn định được hoạt động kinh doanh trong trường hợp có rủi ro xảy ra Mỗi ngân hàng thương mại cần phải trích và lập quỹ dự phòng rủi ro theo đúng quy định của pháp luật
Ngoài ra, một trong những biện pháp để giải quyết vấn đề này là việc các ngân hàng áp dụng và thực hiện việc phân tích, chấm điểm - xếp hạng khách hàng, công việc này có ý nghiã rất lớn đối với hoạt động của NHTM Một là, giúp ngân hàng có thể lựa chọn được những khách hàng tiềm năng, có khả năng trả nợ trong tương lai để đầu tư tín dụng, mặt khác, hạn chế việc cho vay những khách hàng có triển vọng xấu, tiềm ẩn rủi ro cao… Hai là, việc chấm điểm - xếp hạng khách hàng còn có ý nghĩa rất quan trọng đối với bản thân khách hàng, thông qua kết quả này, khách hàng sẽ biết được tình hình kinh doanh thực tế của mình đang ở mức độ nào, có ổn định không, việc quản trị doanh nghiệp có tốt không…
Hiện tại trên thế giới, công việc này trở nên phổ biến ở nhiều nước, Chính phủ còn có biện pháp khuyến khích việc thành lập các trung tâm thông tin tín dụng nhằm đảm bảo an toàn cho thị trường tài chính, để thông tin trên thị trường trở nên minh bạch hơn, giảm hiện tượng thông tin mất cân xứng
1.2 HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP
1.2.1 Khái niệm
Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp (credit rating) là kỹ thuật đánh giá rủi
ro tín dụng do các tổ chức xếp hạng thực hiện và công bố dựa trên các tiêu chí phản ánh uy tín tín dụng của người vay nợ
Hệ thống chấm điểm xếp hạng khách hàng hay còn có các tên gọi khác như: hệ thống chấm điểm tín dụng doanh nghiệp, hệ thống định hạng tín dụng
Trang 27nội bộ, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ… là một công cụ giám sát và kiểm tra tín dụng quan trọng nhằm hỗ trợ cho ngân hàng trong việc ra các quyết định tín dụng Hệ thống này có thể giúp theo dõi được những dấu hiệu rủi ro của khách hàng vay để có những quyết định thích ứng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng Trên cơ sở chấm điểm tín dụng, ngân hàng có thể đưa ra chính sách khách hàng phù hợp với mục tiêu phát triển kinh doanh chung của ngân hàng
Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từng khách hàng và được xác định thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm, dựa vào thông tin tài chính, thông tin phi tài chính có sẵn của khách hàng tại thởi điểm chấm điểm tín dụng
Khi chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp, ngân hàng sử dụng các bảng tiêu chuẩn đánh giá các tiêu chí chấm điểm tín dụng theo nguyên tắc:
Đối với mỗi tiêu chí trên bảng tiêu chuẩn đánh giá các tiêu chí, chỉ
số thực tế gần với trị số nào nhất thì áp dụng cho loại xếp hạng đó, nếu nằm giữa hai trị số thì ưu tiên nghiêng về phía loại tốt nhất
Trong trường hợp khách hàng có bảo lãnh của một tổ chức có năng lực tài chính mạnh hơn thì khách hàng đó có thể được xếp hạng tín dụng tương đương hạn tín nhiệm của bên bảo lãnh Quy trình chấm điểm tín dụng của bên bảo lãnh cũng giống như quy trình áp dụng cho khách hàng
1.2.2 Sự cần thiết của hoạt động xếp hạng tín dụng doanh nghiệp
Khi sử dụng hệ thống chấm điểm xếp hạng khách hàng tổ chức tài chính sẽ có được nhiều lợi ích, chẳng hạn :
Thứ nhất, nó giúp cho việc kiểm soát mức độ tín nhiệm tín dụng của
người đi vay và hiệu quả giao dịch tín dụng bằng một hệ thống tiêu chuẩn thống nhất Bằng cách xếp hạng tín nhiệm, người ta cũng có thể tính toán
Trang 28được mức độ rủi ro bằng cách ước tính khả năng người đi vay không trả được
nợ Những phân tích mang tính nhất quán, toàn diện và khách quan này làm nền tảng cho việc quản trị ngân hàng một cách khoa học
Thứ hai, hỗ trợ Ban Giám đốc trong việc ra quyết định cấp tín dụng Hệ
thống chấm điểm tín dụng là phương pháp lượng hóa rủi ro tín dụng với từng khách hàng nhằm đảm bảo tính khách quan trong đánh giá chất lượng khách hàng và ra quyết định cho vay
Thứ ba, là cơ sở để xây dựng chính sách khách hàng Ngày nay, vấn đề
hội nhập đã làm tăng mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau Các ngân hàng luôn hướng tới đối tượng khách hàng có độ rủi ro tín dụng thấp, mức độ an toàn khi cho vay cao, những khách hàng này sẽ được các ngân hàng phục vụ rất chu đáo Tuy nhiên, các ngân hàng sẽ phân chia khách hàng
ra làm nhiều nhóm và đưa ra chính sách khách hàng phù hợp cho từng nhóm
Thứ tư, tăng tính chủ động trong quản lý khách hàng Việc định kỳ
chấm điểm tín dụng doanh nghiệp giúp ngân hàng đánh giá, nhận biết được rủi ro tín dụng của khách hàng thay đổi như thế nào sau khi đã được ngân hàng tài trợ vốn thực hiện phương án kinh doanh hoặc dự án đầu tư Nếu sau khi có kết quả đánh giá lại mà doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao hơn thì nhân viên tín dụng có thể chủ động đề xuất những biện pháp ứng xử thích hợp Việc chủ động theo dõi này rất có ích vì nó giúp phòng ngừa, hạn chế khả năng xảy ra rủi ro tín dụng ở mức thấp nhất
Thứ năm, áp dụng cùng một thang đo chuẩn trong đánh giá khách hàng
giúp tạo tính minh bạch, khách quan và nhất quán trong toàn hệ thống
Thứ sáu, nâng cao hiệu quả quản lý từ xa của các nhà quản trị ngân
hàng cấp cao Trước đây, khi chưa có các báo cáo về kết quả chấm điểm tín dụng thì các nhà quản trị không thể biết được chất lượng tín dụng ở các chi nhánh như thế nào, chỉ khi nào dư nợ quá hạn ở chi nhánh tăng cao thì mới có
Trang 29những biện pháp xử lý nhưng đã chậm, tổn thất đã xảy ra Vì vậy, từ khi có hệ thống chấm điểm tín dụng ít nhất các nhà quản trị có thể nắm được tình hình rủi ro của các khoản vay của các chi nhánh đang ở mức nào Từ đó các nhà quản trị ngân hàng sẽ chủ động kịp thời ngăn chặn, đề xuất những biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng có thể xảy ra ở mức thấp nhất
Cuối cùng, việc xây dựng và sử dụng hệ thống chấm điểm xếp hạng khách hàng giúp Ngân hàng hoàn thiện việc tuân thủ triệt để các điều khoản quy định của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống Đốc Ngân hàng Nhà Nước ban hành
1.2.3 Một số mô hình xếp hạng tín dụng doanh nghiệp
Trước đây, hầu hết các ngân hàng chỉ sử dụng phương pháp truyền thống để đánh giá rủi ro tín dụng, phương pháp này vừa tốn nhiều thời gian, vừa mang tính chủ quan Cho nên, hiện nay các ngân hàng không ngừng cải thiện các phương pháp đánh giá khách hàng, xây dựng các mô hình chấm điểm nhằm tiết kiệm thời gian, chi phí, xử lý được khối lượng công việc tốt hơn, góp phần kiểm soát rủi ro tín dụng ngân hàng
Các mô hình tính điểm tín dụng thường sử dụng các số liệu liên quan đến đặc điểm của người vay như thu nhập, tài sản, lứa tuổi, ngành nghề kinh doanh… để tính toán rủi ro tín dụng hoặc để phân loại khách hàng thành các mức độ rủi ro khác nhau tuỳ thuộc vào các tiêu chí dùng để phân tích đánh giá Dựa vào các mô hình này, các tổ chức tín dụng có thể:
- Đánh giá, sàng lọc chính xác hơn các đơn vị vay vốn
- Đưa ra các giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng, tính toán chính xác mức dự trữ cần thiết
- Thấy được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới hiệu quả cho vay,
và tầm quan trọng của các nhân tố đó
Trang 30a Mô hình điểm số Z
Các nhà đầu tư thường xem xét hệ số đòn bẩy tài chính để đánh giá tình hình nợ nần của doanh nghiệp đó quyết định mức độ rủi ro khi đầu tư vào doanh nghiệp đó Tuy nhiên có một chỉ số có thể giúp các nhà đầu tư đánh giá rủi ro tốt hơn, thậm chí có thể dự đoán được nguy cơ phá sản của doanh nghiệp trong tương lai gần Đó chính là hệ số nguy cơ phá sản, hay còn gọi là
Z score do nhà kinh tế học Koa kỳ Edward.I Altman, giảng viên trường đại học Newyork thiết lập Hệ số này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp chứ không áp dụng cho các định chế tài chính như ngân hàng hay là các công ty đầu tư tài chính Mặc dù chỉ số Z này được phát minh tại Mỹ, nhưng hầu hết các nước, vẫn có thể sử dụng với độ tin cậy khá cao
Chỉ số Z bao gồm 5 chỉ số X1, X2, X3, X4, X5:
X1 là tỷ số “Vốn lưu động/ Tổng tài sản”
X2 là tỷ số “ Lợi nhuận giữ lại/ Tổng tài sản”
X3 là tỷ số “ Lợi nhuận trước lãi vay và thuế / Tổng tài sản”
X4 là tỷ số “Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu trên giá trị sổ sách của tổng nợ”
X5 là tỷ số “Doanh thu/ Tổng tài sản”
Trị số Z càng cao, thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp Như vậy, khi trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp hạng khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao
Từ một chỉ số Z ban đầu, Giáo sư E.I Altman đã phát triển ra Z’ và Z”
để có thể áp dụng theo từng loại hình và ngành của doanh nghiệp, như sau:
Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành sản xuất:
Z=1,2X1+1,4X2+3,3X3+0,64X4+0,999X5
Nếu Z > 2,99 Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản
Trang 31Nếu 1,8 < Z < 2,99 Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản
Nếu Z < 1,8 Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao
Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá, ngành sản xuất:
Đối với doanh nghiệp khác:
Chỉ số Z” dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình doanh nghiệp Vì sự khác nhau khá lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 đã được đưa ra Công thức tính chỉ số Z” được điều chỉnh như sau:
Trang 32nhiệm của Standard and Poor Công thức Z” điều chỉnh đƣợc xác định nhƣ sau:
Z” = 3,25+ 6,56X1+3,26X2+6,72X3+1,05X4
Bảng 1.1 Bảng so sánh giữa chỉ số Z” và các chỉ số của Standard & Poor
Z” điều chỉnh
Định mức tín nhiệm S&P Tình trạng
6,85 – 7,00 A+ Chất lƣợng vừa cao
hơn 6,65 – 6,85 A
6,40 – 6,65 A6,25 – 6,40 BBB+ Chất lƣợng vừa 5,85 – 6,25 BBB
5,25 – 5,65 BB+ Chất lƣợng vừa thấp
hơn 4,95 – 5,25 BB
4,75 – 4,95 BB4,50 – 4,75 B+ Đầu cơ
1,75 – 2,50 CCC
-0 – 1,75 D Không hoàn đƣợc
vốn
(Nguồn: www.saga.com.vn)
Trang 33Sự tương đồng giữa chỉ số Z” điều chỉnh và hệ số tín nhiệm S&P là khá cao, nhưng không có nghĩa là tuyệt đối Có một sự chênh lệch nhất định giữa hai chỉ số trên nhưng có thể chấp nhận được Mặc dù chỉ số Z” điều chỉnh được dùng khá tốt ở các thị trường khác, cũng nên được nghiên cứu để điều chỉnh theo môi trường Việt Nam
Nói chung hệ số Z” có thể giúp ngân hàng nhận định cơ bản về tình hình tài chính và khả năng thanh toán nợ của công ty
Tuy nhiên, chỉ số Z chỉ có thể cho ta thấy nguy cơ phá sản của doanh nghiệp trên góc độ số liệu tài chính, mà không xem xét được các yếu tố khác như môi trường kinh doanh, chiến lược và chính sách phát triển của doanh nghiệp, danh tiếng của khách hàng, mối quan hệ truyền thống giữa khách hàng và ngân hàng
b Mô hình chất lượng dựa trên yếu tố 6C
Phòng thẩm định tín dụng của ngân hàng chịu trách nhiệm về việc phân tích và đưa ra những đánh giá đối với hầu hết các đơn xin vay Kinh nghiệm cho thấy rằng khi xem xét một đơn xin vay, phòng thẩm định tín dụng phải trả lời thoả đáng 3 câu hỏi sau:
Người xin vay có đáng tin cậy không? Sao bạn biết?
Liệu hợp đồng tín dụng có thể được cấu trúc để bảo vệ an toàn cho ngân hàng và người gửi tiền cũng như tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng món vay hiệu quả không?
Liệu ngân hàng có quyền đối với tài sản và thu nhập của khách hàng trong trường hợp khoản cho vay có vấn đề và liệu ngân hàng có thể thu hồi vốn nhanh chóng với rủi ro và chi phí thấp được không?
Mô hình sáu chữ C nhằm trả lời câu hỏi quan trọng “Khách hàng có đáng tin cậy hay không?”
Trang 34- Tính cách (Character): Cán bộ tín dụng phải có được bằng chứng cho
thấy rằng khách hàng có mục tiêu rõ ràng khi xin vay và có kế hoạch trả nợ nghiêm túc Khi mục tiêu xin vay đã được làm rõ, cán bộ tín dụng phải quyết định xem nó có phù hợp với chính sách cho vay hiện tại của ngân hàng không? Đồng thời phải xem xét xem liệu người vay có trách nhiệm trong việc
sử dụng tiền vay không Trách nhiệm, tính trung thực, mục đích vay vốn nghiêm túc, kế hoạch trả nợ rõ ràng là những tiêu chuẩn tạo dựng lên tính cách khách hàng trong cách nhìn nhận của cán bộ tín dụng
- Năng lực (Capacity): cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng khách hàng
có đủ năng lực vay vốn và có đủ tư cách pháp lý trong việc ký kết hợp đồng vay vốn Tuỳ vào luật pháp của mỗi quốc gia, đối với cá nhân, dưới 18 tuổi không đủ tư cách ký hợp đồng tín dụng; đối với doanh nghiệp, phải căn cứ vào giấy phép kinh doanh, quyết định thành lập, quyết định bổ nhiệm người điều hành
- Dòng tiền mặt (cash): đây là nội dung có ý nghĩa rất quan trọng đối
với một yêu cầu xin vay và thường tập trung vào câu hỏi: liệu người vay có khả năng tạo ra một dòng tiền mặt đủ lớn để đáp ứng yêu cầu hoàn trả cho ngân hàng món vay không? Nhìn chung khách hàng vay vốn chỉ có ba nguồn
có thể được sử dụng để hoàn trả khoản vay
Dòng tiền mặt từ doanh thu bán hàng hoặc thu nhập
Dòng tiền từ việc bán tài sản
Các nguồn vốn huy động bằng cách phát hành nợ hay chứng khoán vốn
Bất cứ nguồn nào trong ba nguồn trên đều có thể được sử dụng để đáp ứng nhu cầu tiền mặt trong việc thanh toán nợ cho ngân hàng Tuy nhiên các ngân hàng rất quan tâm tới dòng tiền tạo ra từ Doanh thu bán hàng và xem đây là một nguồn chính để thanh toán nợ bởi vì việc bán các tài sản có thể làm
Trang 35suy yếu năng lực hoạt động của người vay và khiến cho ngân hàng rơi vào tình trạng một chủ nợ không được bảo đảm Hơn nữa, sự suy giảm quy mô dòng tiền mặt thường ẩn chứa một sự suy giảm trong kinh doanh và do đó ngân hàng phải đối mặt với rủi ro về một khoản nợ có vấn đề
- Tài sản thế chấp (Collateral): đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín
dụng và là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng Trong việc đánh giá tài sản thế chấp cán bộ tín dụng phải lưu ý đến những đặc điểm như: thời gian sử dụng, tình trạng hiện tại, mức độ chuyên môn hoá thể hiện ở tài sản của khách hàng Ở đây, công nghệ có một vị trí quan trọng Nếu tài sản của khách hàng lỗi thời về công nghệ, giá trị thế chấp của chúng sẽ bị giảm
- Điều kiện (Conditions): cán bộ tín dụng phải nhận biết được xu
hướng phát triển của doanh nghiệp cũng như ngành mà doanh nghiệp hoạt động Các yếu tố vĩ mô như lạm phát, thời kỳ suy thoái kinh tế cũng ảnh hưởng đến các khoản cho vay của ngân hàng
- Sự kiểm soát (Control): tập trung vào các vấn đề như sự thay đổi về
pháp luật có ảnh hưởng xấu đến người vay không? Và liệu khách hàng có đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng tín dụng mà ngân hàng đặt ra hay không?
c Mô hình chấm điểm tín dụng của công ty FICO
FICO (The US Fair Issac Company) tại Mỹ là công ty phát triển hệ thống chấm điểm tín dụng tự động vào những năm 1960 và 1970 Điểm tín dụng do FICO xây dựng có giới hạn từ 300 đến 850, điểm trung bình là 720
và điểm càng cao thì rủi ro tín dụng càng thấp Hệ thống chấm điểm tín dụng FICO dựa vào 5 yếu tố với trọng số như sau:
Trang 36Bảng 1.2 Các yếu tố xem xét khi chấm điểm tín dụng của FICO
Yếu tố Trọng số( %) Giải thích
Lịch sử thanh toán nợ 35 Thanh toán nợ đúng hạn hay không?
Có lần nào không trả nợ hay không? Trị giá khoản tín dụng 30 Doanh số khoản tin dụng là bao nhiêu? Thời hạn tín dụng 15 Khoản tín dụng có thời hạn bao lâu? Lịch sử quan hệ tín
dụng
10 Đây có phải là khoản tín dụng mới hay
không? Còn khoản tín dụng nào khác nữa không?
Loại tín dụng 10 Trả góp tiêu dùng hay mua bất động
sản?
(Nguồn: www.myfico.com)
Dựa vào các yếu tố tác động với trọng số nêu trên, FICO xây dựng thang điểm và chấm điểm tín dụng
Bảng 1.3 Mối quan hệ giữa điểm và xác suất KH mất khả năng trả nợ
Điểm tín dụng FICO Xác suất mất khả năng trả nợ
Trang 37các ngân hàng ở Mỹ sử dụng thang điểm của FICO để xếp hạng tín dụng cho khách hàng nhƣ sau:
Bảng 1.4 Thang điểm tín dụng và kết quả xếp loại
Điểm tín dụng FICO Kết quả xếp loại
và phần các chỉ tiêu phi tài chính, điểm khách hàng là tổng điểm của phần tài chính và phi tài chính nhân với trọng số của từng phần
1.3.2 Quy trình công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp
a Tổ chức thực hiện công tác xếp hạng
Công tác tổ chức thực hiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với
Trang 38khách hàng doanh nghiệp gồm hai khâu chính, đó là: Ban hành các quy định, quy trình thực hiện và triển khai thực hiện
b Thu thập, sàng lọc và lưu trữ thông tin
Thông tin thu thập bao gồm: Thông tin tài chính và thông tin phi tài chính Sau khi thu thập thông tin, cán bộ ngân hàng tiến hành sàng lọc, lựa chọn thông tin và sau khi sàng lọc và hoàn thiện cần đưa các file thông tin vào lưu trữ để làm cơ sở là dữ liệu lịch sử, phục vụ cho các kỳ xếp hạng tiếp theo
trong tương lai
c Chấm điểm, xếp hạng khách hàng
Chấm điểm, xếp hạng khách hàng: Trên cơ sở thông tin thu thập được, cán bộ ngân hàng tiến hành nhập dữ liệu, thông tin vào các chỉ tiêu chấm điểm của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để thực hiện việc chấm điểm, tính điểm, xếp hạng khách hàng Sau đó, trình cho người kiểm soát (phụ trách
bộ phận/phòng tín dụng) để xem xét quyết định phê duyệt hoặc từ chối phê duyệt kết quả xếp hạng khách hàng
d Sử dụng kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp
Kết quả xếp hạng sẽ được ngân hàng sử dụng phục vụ thực hiện chính sách khách hàng, cấp tín dụng, quản lý chất lượng tín dụng Kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ là căn cứ để ngân hàng thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Ngoài ra, kết quả xếp hạng còn là căn cứ để đánh giá, khen thưởng đối với cán bộ ngân hàng làm công tác tín dụng
e Kiểm tra và đánh giá, cập nhật công tác xếp hạng
Công tác xếp hạng sẽ được thường xuyên kiểm tra và đánh giá trên phạm vi toàn ngân hàng đối với toàn bộ khách hàng được xếp hạng, để có
Trang 39những phát hiện và đề xuất chỉnh sửa kịp thời những điểm không phù hợp của công tác xếp hạng
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác xếp hạng tín dụng nội
bộ đối với doanh nghiệp
a Yêu cầu về nguồn thông tin
Việc duy trì thông tin tín dụng (TTTD) trong hệ thống là vô cùng quan trọng do TTTD tạo lập cơ sở dữ liệu tập trung về khách hàng để phục vụ cho quá trình cấp tín dụng, phân tích và quản lý tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng
Hệ thống TTTD giúp tìm kiếm và phát hiện sớm các khoản tín dụng có vấn đề
và đánh giá đúng mức độ rủi ro của các khoản nợ, đồng thời tiên liệu trước khả năng một khoản tín dụng có thể chuyển sang nợ xấu
Một hệ thống thông tin đầy đủ về khách hàng như: Lịch sử hình thành
và phát triển, năng lực tài chính, mức độ tín nhiệm, đội ngũ điều hành là cơ sở hết sức quan trọng giúp cho công tác chấm điểm tín dụng Nếu hệ thống này không đầy đủ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng đánh giá, xếp loại khách hàng
Để áp dụng phương pháp chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp, Ngân hàng phải có một hệ thống thông tin tín dụng hiệu quả để tự thu thập thông tin một cách chính xác và đầy đủ về khách hàng Đây là một nhân
tố rất quan trọng, quyết định đến tính chính xác của kết quả chấm điểm tín dụng Chất lượng nguồn thông tin được thể hiện qua bốn yếu tố:
- Đầy đủ và kịp thời: Theo định kỳ hoặc khi có phát sinh, mọi TTTD
về khách hàng phải được thu thập, ghi chép và xử lý kịp thời để phản ánh chính xác mức độ rủi ro và năng lực của khách hàng trong việc thực hiện các nghĩa vụ với ngân hàng cho vay, đồng thời giúp ngân hàng có quyết định điều chỉnh đúng đắn đối với hoạt động tín dụng cung cấp cho khách hàng Thông tin về mọi khách hàng có quan hệ tiền gửi và vay tiền với ngân hàng cho vay
Trang 40hoặc những khách hàng chưa từng có quan hệ với ngân hàng cho vay nhưng
là những doanh nghiệp lớn, có uy tín trên thị trường đều phải được ghi chép, lưu trữ
- Trung thực, khách quan: TTTD phải được thu thập từ các nguồn cung cấp có cơ sở pháp lý hoặc cơ sở thực tiễn để đảm bảo tính trung thực và khách quan Mọi thông tin có được từ các nguồn không hợp lệ chỉ sử dụng cho mục đích tham khảo
- Nhất quán: TTTD phải được tập hợp, cập nhật, theo dõi liên tục theo thời gian, ít nhất cho tới khi khách hàng chấm dứt quan hệ với ngân hàng cho vay
- Bảo mật: TTTD phải được lưu trữ, quản lý theo chế độ bảo mật như tài sản riêng có của ngân hàng cho vay; sử dụng an toàn, bí mật, không gây ảnh hưởng đến nguồn cung cấp thông tin và không cung cấp cho bên thứ ba
b Đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm và năng lực chuyên môn
Xếp hạng tín dụng là một mô hình rất phức tạp, các tiêu chí và quy trình đánh giá được đưa ra phụ thuộc rất lớn vào các chuyên gia có kinh nghiệm, khả năng phân tích và hiểu biết sâu sắc trong lĩnh vực tín dụng Ngân hàng muốn hoàn thiện công tác chấm điểm tín dụng ngoài các cán bộ cao cấp trong nội bộ chuyên quản lý và hoàn thiện hệ thống mô hình xếp hạng tín dụng còn nên lắng nghe ý kiến tư vấn của các chuyên gia có kinh nghiệm trong việc phát triển mô hình
c Trình độ hiện đại hóa công nghệ ngân hàng
Hệ thống công nghệ của ngân hàng phải đủ hiện đại có thể kết hợp phần mềm chấm điểm tín dụng và tạo thành một quy trình cho vay và kiểm soát tín dụng thống nhất Áp dụng công nghệ thông tin vào hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng làm tăng chất lượng lưu trữ, cập nhật
và đảm bảo tính bảo mật của thông tin Công nghệ ngân hàng còn giúp cho hệ