1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên tại cục thuế tỉnh đắk lắk

111 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 7,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.2 Phạm vi nghiên cứu * Phạm vi về nội dung Đề tài nghiên cứu thực trạng về công tác quản lý thuế tài nguyên đối với các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên do Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Hoài An

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu của luận văn 4

6 Tổng quan nghiên cứu của đề tài 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN 6

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN 6

1.1.1 Một số khái niệm 6

1.1.2 Phân loại thuế tài nguyên 13

1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN 21

1.2.1 Công tác hoạch định, lập dự toán thu thuế tài nguyên 21

1.2.2 Công tác tổ chức thực hiện quản lý thu thuế tài nguyên 21

1.2.3 Công tác chỉ đạo, điều hành quản lý thu thuế tài nguyên 27

1.2.4 Công tác kiểm tra, kiểm soát việc quản lý thu thuế tài nguyên 29

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN 31

1.3.1 Yếu tố chủ quan 31

1.3.2 Yếu tố khách quan 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐẮK LẮK 37

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CỤC THUẾ TỈNH ĐẮK LẮK 37

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 37

Trang 5

2.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN TẠI CỤC THUẾ

TỈNH ĐẮK LẮK 41

2.2.1 Công tác hoạch định, lập dự toán thu thuế tài nguyên 41

2.2.2 Công tác tổ chức thực hiện quản lý thu thuế tài nguyên 42

2.2.3 Công tác chỉ đạo, điều hành quản lý thu thuế tài nguyên 52

2.2.4 Công tác kiểm tra, kiểm soát việc quản lý thu thuế tài nguyên 54

2.3 ĐÁNH GIÁ VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN 61

2.3.1 Những kết quả đã đạt được 61

2.3.2 Những tồn tại, hạn chế 63

2.3.3 Nguyên nhân 64

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐẮK LẮK 67

3.1 ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN TẠI CỤC THUẾ TỈNH ĐẮK LẮK 67

3.2 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN TẠI TỈNH ĐẮK LẮK 69

3.2.1 Hoàn thiện công tác lập dự toán 69

3.2.2 Nâng cao năng lực cho cán bộ thuế 70

3.2.3 Công tác phối hợp giữa các phòng trong công tác quản lý thu thuế tài nguyên 73

3.2.4 Hoàn thiện về công tác quản lý nợ và thanh tra, kiểm tra 74

3.2.5 Công tác phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan 74

Trang 6

3.3 KIẾN NGHỊ 76

3.3.1 Kiến nghị với Ngành Thuế và Bộ Tài Chính 76 3.3.2 Kiến nghị với Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan liên quan 77 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 79

KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 7

STT CHỮ VIẾT TẮT CHỮ ĐẦY ĐỦ TIẾNG VIỆT

10 QLN&CCNT Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế

12 HCQT-TV-AC Hành chính quản trị-Tài vụ-Ấn chỉ

13 TT và HTNNT Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế

Trang 8

bảng Tên bảng Trang

2.1 Tình hình thực hiện thu thuế tài nguyên so với dự toán

tại Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2013 đến 2015 42 2.2 Tổ chức bộ máy tại Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk 43

2.3 Kết quả giám sát hồ sơ năm 2015 của các DN có hoạt

2.4 Tình hình hoạt động của Cục Thuế giai đoạn 2013-2015 49

2.5 Cơ cấu thuế tài nguyên của tỉnh Đắk Lắk giai đoạn

Trang 9

sơ đồ Tên sơ đồ Trang

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước (NSNN) và là công

cụ quan trọng để điều tiết nền kinh tế góp phần đảm bảo công bằng xã hội, kích thích SXKD phát triển Điều đó đòi hỏi Nhà nước phải luôn quan tâm đến thuế và hoàn thiện các biện pháp quản lý và thu thuế Từ năm 1990 đến nay, hệ thống chính sách thuế ở nước ta đã từng bước được cải cách; bộ máy ngành thuế cũng được tổ chức lại thống nhất theo hệ thống dọc từ trung ương đến quận, huyện, thị xã; công tác quản lý thuế thường xuyên được hoàn thiện, đổi mới, từng bước hiện đại hoá nhằm quản lý, khai thác kịp thời, hiệu quả các nguồn thu phát sinh về nghĩa vụ thuế của các khu vực kinh tế Trong hệ thống chính sách thuế hiện hành ở Việt Nam, Thuế tài nguyên là một trong những công cụ tài chính, thể hiện vai trò sở hữu nhà nước đối với tài nguyên quốc gia và thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên của các tổ chức, cá nhân

Trong những năm qua, cùng với tiến trình cải cách hệ thống thuế cả nước, quản lý thu thuế tại Cục thuế tỉnh Đắk Lắk đã có những bước chuyển biến căn bản, kết quả thu thuế năm sau cao hơn năm trước Tổ chức quản lý thu thuế từng bước được cải cách, hiện đại hoá; trình độ chuyên môn nghiệp

vụ của cán bộ công chức thuế ngày càng được nâng lên Số thu từ thuế tài nguyên của tỉnh có xu hướng tăng qua từng năm nhưng chỉ là một tỷ lệ khá thấp trong khi tiềm năng của nguồn thu này trên địa bàn là đáng kể Nguyên nhân do tình trạng trốn thuế tài nguyên ngày càng phổ biến dưới nhiều hình thức tinh vi, khó phát hiện, số thuế tài nguyên bị thất thoát ngày càng lớn Hơn nữa công tác quản lý thuế nói chung và thuế tài nguyên nói riêng còn tồn tại những mặt còn hạn chế, chưa theo kịp với tình hình thực tiễn, chưa bao quát hết nguồn thu

Trang 11

Quản lý thuế tài nguyên kém sẽ dẫn tới hậu quả làm thất thoát tài nguyên và làm thất thu nguồn ngân sách lớn của nhà nước Mà NSNN là nguồn thu chính để nhà nước cải thiện môi trường và những tác động tiêu cực

do khai thác tài nguyên gây ra Vì thế cần tiếp tục đẩy mạnh công tác quản lý thuế tài nguyên là việc làm rất cần thiết và cần phải được thực hiện nghiêm túc để tránh hiện tượng một số tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản bừa bãi không có kế hoạch làm nguồn tài nguyên cạn kiệt và ô nhiễm giảm cấp môi trường

Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế tài nguyên là một đòi hỏi cấp thiết, là một nhiệm vụ trọng tâm của Cục thuế tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn hiện nay Việc đi sâu nghiên cứu công tác quản lý thuế tài nguyên

sẽ góp phần làm tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả của chính sách thuế Với

lý do đó tôi tiến hành thực hiện đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thuế tài

nguyên tại Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk " làm luận văn thạc sĩ

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Từ những đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, trên cơ sở đó đưa ra giải pháp tăng cường quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh để nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế đảm bảo trong việc kê khai, nộp thuế, chống thất thu thuế và tăng thu cho NSNN

2.2 Mục tiêu cụ thể

Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý thuế tài nguyên

Phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế tài nguyên tại Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk

Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên tại Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nội dung về công tác quản lý thuế tài nguyên tại Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk

Nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề về

lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh tại Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đề tài đánh giá thực trạng trong công tác quản lý thuế tài nguyên và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý thuế tài nguyên tại Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tiếp theo

3.2 Phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi về nội dung

Đề tài nghiên cứu thực trạng về công tác quản lý thuế tài nguyên đối với các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên do Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk quản

lý theo 4 nội dung sau:

+ Công tác hoạch định, lập dự toán thu thuế tài nguyên;

+ Công tác tổ chức thực hiện quản lý thu thuế tài nguyên;

+ Công tác chỉ đạo điều hành quản lý thu thuế tài nguyên;

+ Công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý thu thuế tài nguyên;

Trang 13

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với việc sử dụng phương pháp logic, phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh định tính, định lượng và các phương pháp của toán học, nghiệp vụ kế toán và kiểm toán

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 4 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế tài nguyên

Chương 2: Thực trạng quản lý thu thuế tài nguyên tại tỉnh Đắk Lắk Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế tài nguyên tại C ục Thuế tỉnh Đắk Lắk

6 Tổng quan nghiên cứu của đề tài

- Giáo trình Nghiệp vụ thuế, NXB Tài chính, Hà Nội Nguyễn Thị Liên

và Nguyễn Văn Hiệu (2008)

- Luật Thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 ngày 25 tháng 11 năm 2009

- Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên;

- Thông tư số 152/2015/TT-BTC ngày 02/10/2015 Hướng dẫn về thuế tài nguyên

- Quản lý thuế tài nguyên – Những điểm quy định mới và một số vướng

mắc từ thực tiễn, NGUYỄN BÁ PHÚ - Cục thuế Thanh Hóa – theo Tạp chí Kiểm toán số 9/2011

- Báo cáo nghiên cứu, đánh giá “Thực trạng về quản lý khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản Việt Nam” của Tổng hội địa chất Việt Nam

- Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa

Trang 14

xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI , kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007) và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành;

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kỳ họp thứ 4, thông qua ngày 20/11/2012 (Có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013) và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành;

- Luật Thuế tài nguyên số 49/2009/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 25/11/2009 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2010) và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành;

- Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội số UBTVQH10 ngày 28/8/2001 về phí và lệ phí có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2002 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành;

38/2001/PL Các văn bản quy phạm pháp luật quy định về các loại thuế, phí trong lĩnh vực tài nguyên, khoáng sản (Thuế giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp, phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản, phí cấp quyền khai thác khoáng sản…);

- Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011) và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thực hiện;

- Chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy tại Chương trình số 08/CTr-TU ngày 07/10/2011 và kế hoạch số 2033/KH-UBND ngày 24/4/2012 của UBND tỉnh về việc “Định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”;

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN

1.1.1 Một số khái niệm

a Khái niệm về thuế

Cho đến nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế, bởi lẽ giác độ nghiên cứu có nhiều khác biệt Nhìn chung, các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế mà mình muốn khai thác hoặc tìm hiểu, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của

phạm trù thuế Chẳng hạn theo quan niệm của Ph.Ăngghen: "Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khoá ” (Mác - Ăngghen, 1962) Với quan điểm

này, thuế chỉ là sự đóng góp của công dân để duy trì quyền lực Nhà nước Cũng từ luận điểm này, Mác phát triển thêm rằng trong một Nhà nước có giai cấp (một giai cấp giành được quyền thống trị) thì thuế thực ra là khoản đóng góp bắt buộc để duy trì quyền lực của giai cấp đó Khi những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, nghĩ rằng việc bắt buộc nộp thuế chỉ dùng để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp cai trị, thì họ sẽ không coi thuế là nghĩa vụ công dân và

sẽ bằng nhiều cách để tránh thuế và trốn thuế Quan điểm này đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà kinh tế có quan điểm xã hội trong việc củng cố lập trường đấu tranh giai cấp

Bên cạnh đó, cũng có những quan điểm khác nhau về thuế, được nhìn nhận trên các bình diện khác nhau Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass and Bryan Lowes (1994), đứng trên giác độ đối

tượng chịu thuế đã cho rằng: Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên

Trang 16

thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp, trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ và trên tài sản

Một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn thiện được nêu trong cuốn

"Economics" của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell and Bruy-M (1993), dựa trên cơ sở đối giá như sau: "Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty hoặc các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hóa, dịch vụ nào cả, khoản tiền đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật" (Thuế Nhà nước, 2000) Trong quan điểm này

người ta chỉ nhìn nhận thuế trên giác độ các đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế, không nói đến việc sử dụng tiền thuế để làm gì, chỉ thể hiện việc đánh thuế như là một nghĩa vụ công dân của các doanh nghiệp và hộ gia đình với đất nước mình đang kinh doanh hoặc sinh sống Các quan điểm này cũng chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển của thuế trong thời đoạn lịch sử nhất định

Trên giác độ phân phối thu nhập định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước

Trên giác độ người nộp thuế thì: Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Trên giác độ kinh tế học thì: Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước

Những khái niệm về thuế nêu trên mới chỉ nhấn mạnh một chiều theo

Trang 17

quan niệm của từng góc độ khác nhau nên chưa thật đầy đủ và chính xác được bản chất của thuế Đến nay tuy chưa có một định nghĩa thống nhất về thuế, nhưng các nhà kinh tế đều thống nhất cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế, thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau:

- Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp;

- Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước;

- Các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế

đã được pháp luật quy định;

- Và việc sử dụng tiền thuế phải dành cho mục đích chung

Trải qua nhiều giai đoạn và được nhận định trên nhiều giác độ khác nhau, thì một định nghĩa về thuế vẫn còn đang được áp dụng phổ biến, đặc biệt trong cơ chế thị trường, điển hình là khái niệm về thuế của Gaston Jèze (1934) trong Giáo trình tài chính công Dựa vào định nghĩa này và các yêu

cầu nêu trên, có thể đưa ra một khái niệm về thuế như sau: Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng

Vai trò của thuế

Thứ nhất: Thuế là công cụ chủ yếu huy động tập trung nguồn lực cho

Nhà nước "Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN"

Thứ hai: Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Thứ ba: Thuế góp phần điều hòa thu nhập và thực hiện công bằng xã

Trang 18

b Khái niệm về thuế tài nguyên và chính sách thuế tài nguyên

Tài nguyên thiên nhiên bao gồm tất cả các nguồn năng lượng, nguyên liệu, vật liệu tự nhiên có trên trái đất, trong không gian mà con người có thể khai thác, sử dụng phục vụ cuộc sống, sự phát triển của mình và của xã hội

Tài nguyên thiên nhiên là nguồn tài sản của quốc gia, thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, do Nhà nước thống nhất quản lý Đối với các quốc gia có nguồn TNTN phong phú nếu quản lý khai thác, sử dụng hiệu quả thì nó là nguồn lợi lớn và lâu dài cho sự phát triển của quốc gia đó Ngược lại, nếu việc quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên bừa bãi, lãng phí, sẽ gây ra hậu quả xấu không chỉ cho sự phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của quốc gia đó Để bảo đảm việc bảo vệ khai thác, sử dụng TNTN đạt hiệu quả, tránh việc khai thác, sử dụng bừa bãi, lãng phí, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống, các quốc gia thường sử sụng nhiều công cụ và biện pháp quản lý khác nhau Công cụ tài chính là một trong những công cụ quan trọng để quản lý tài nguyên, trong đó có việc thu thuế đối với hoạt động khai thác TNTN, đó chính là thuế tài nguyên

Thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, thu vào hoạt động khai thác tài nguyên của các tổ chức, cá nhân, nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng tài nguyên hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả góp phần bảo vệ tài nguyên đất nước, bảo đảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước để bảo vệ, tái tạo, tìm kiếm, thăm dò tài nguyên

Xét về mặt bản chất, thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, thu vào người tiêu dùng, vì thuế tài nguyên đã được tính trong giá thành sản phẩm tài nguyên Người khai thác chỉ là người nộp hộ cho người tiêu dùng Tuy nhiên, xét ở góc độ quan hệ sở hữu, nó mang tính chất là một khoản thu về từ việc chuyển nhượng TNTN giữa một bên là Nhà nước, một bên là các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên Bản chất của vấn đề này tương tự như việc các tổ

Trang 19

chức, cá nhân trả tiền để mua tài nguyên từ các quốc gia khác về để sản xuất, kinh doanh

Để thực hiện được mức thu thuế tài nguyên theo mục tiêu đề ra ngưòi

ta phải sử dụng công cụ để thực hiện đó chính là chính sách thuế tài nguyên

Chính sách thuế tài nguyên là hệ thống các biện pháp, cách thức của Nhà nước tác động vào việc sử dụng tài nguyên nhằm mục đích khai thác sử dụng mọi nguồn tài nguyên của đất nước một cách có hiệu quả và tiết kiệm, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước

Chính sách thuế tài nguyên là một trong những công cụ về tài chính, thể hiện vai trò sở hữu Nhà nước đối với tài nguyên quốc gia và thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên của các tổ chức, cá nhân

Đối tượng chịu thuế

Theo quy định tại Điều 2, Luật Thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 ngày 25 tháng 11 năm 2009 và Điều 2, Thông tư số 105/2010/TT-BTC của

Bộ Tài chính thì đối tượng chịu thuế tài nguyên là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm:

+ Khoáng sản kim loại;

+ Khoáng sản không kim loại, kể cả khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và đất làm gạch, đất khai thác để san lấp, xây dựng công trình, đất khai thác sử dụng cho các mục đích khác; đá, cát, sỏi, than, đá quý và tài nguyên không kim loại khác; nước khoáng, nước nóng thiên nhiên thuộc đối tượng quy định tại Khoản 3, Điều 3 Luật Khoáng sản

+ Dầu thô theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Dầu khí năm 1993;

Trang 20

+ Khí thiên nhiên theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Dầu khí năm 1993;

+ Khí than theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật Dầu khí năm 2008;

+ Sản phẩm của rừng tự nhiên, bao gồm các loại thực vật và các loại sản phẩm khác của rừng tự nhiên, trừ động vật và hồi, quế, sa nhân, thảo quả

do người nộp thuế trồng tại khu vực rừng tự nhiên được giao khoanh nuôi, bảo vệ;

+ Hải sản tự nhiên, gồm động vật và thực vật biển;

+ Nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt và nước dưới đất;

+ Yến sào thiên nhiên;

+ Tài nguyên thiên nhiên khác do Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan báo cáo Chính phủ để trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định

c Khái niệm về quản lý thuế tài nguyên

Quản lý thuế là vấn đề đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và có nhiều cách quan niệm khác nhau Mỗi quan niệm đều nhìn nhận quản lý thuế

ở một góc độ, phạm vi khác nhau và với mục đích, ý nghĩa thực tiễn khác nhau Dù vậy, các quan niệm về quản lý thuế đều có các điểm chung là:

+ Đều đề cập đến các nội dung của khâu hành pháp về thuế,

+ Đều đề cập đến sự tác động của chủ thể quản lý lên người bị quản lý bằng các phương thức, phương tiện nào đó nhằm đạt mục đích nhất định Chủ thể quản lý là Nhà nước (mà trực tiếp là cơ quan thuế các cấp) Người bị quản

lý là các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ về thuế Mục đích quản lý là để người nộp thuế và các người có liên quan phải thực hiện tốt nghĩa vụ luật định

về thuế của mình Phương tiện quản lý là sử dụng các qui định về đăng ký

Trang 21

thuế, kê khai thuế, nộp thuế với bộ máy, đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất cần thiết để quản lý

Quản lý nhà nước về thuế là thuật ngữ dùng để chỉ tổng thể các khâu lập pháp, hành pháp và tư pháp về thuế, còn quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy Nhà nước, thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp

về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do luật định nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua Theo nghĩa rộng, quản lý thuế là hoạt động nhằm đảm bảo sự thực thi nghiêm chỉnh pháp luật về thuế thông qua sự tự giác của chính người nộp thuế và sự hỗ trợ của cơ quan thuế và các cơ quan Nhà nước có liên quan

Như vậy, ta có thể định nghĩa khái quát về quản lý thuế như sau:

”Quản lý thuế là việc nhà nước sử dụng các phương tiện, cách thức, biện pháp nhằm thực hiện việc thu thuế sao cho đạt hiệu quả, đúng mục tiêu, mục đích đề ra trong việc xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nước trong từng thời kỳ”

Quản lý thuế tài nguyên là hoạt động quản lý của Nhà nước nhằm kiểm soát, hướng dẫn, điều tiết các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước, bảo vệ môi trường sinh thái và động viên một phần thu vào NSNN

Thuế tài nguyên: là loại thuế đánh vào tài nguyên thiên nhiên khai thác được

Thuế tài nguyên = số lượng tài nguyên thực tế khai thác x Giá tính thuế tài nguyên x Thuế suất

Thuế tài nguyên là công cụ để quản lý, kiểm soát, hướng dẫn, điều tiết các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước, bảo vệ môi trường sinh thái và động viên một phần thu nhập cho NSNN

+ Quản lý thuế thực hiện một trong những chức năng quan trọng của

Trang 22

Nhà nước trong lĩnh vực quản lý tài chính: Đó là điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đây là một trong những nội dung quan trọng nhất nhằm đảm bảo phát huy tối

đa chức năng, vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội Ngoài ra, nó còn

có mục tiêu quan trọng khác đó là huy động số thu cho ngân sách nhà nước

Nó thể hiện quyền lực tối cao và sự độc quyền của nhà nước trong việc quản

lý và điều hành đất nước

+ Giúp nhà nước kiểm soát việc nộp thuế của người nộp thuế Với vai trò kiểm tra, giám sát, vai trò của nhà nước về quản lý thuế định hướng, sửa chữa những sai sót trong quá trình thực hiện các luật thuế dù vô tình hay cố ý sai phạm, đều phải duy trì bình đẳng xã hội trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế

+ Giúp nhà nước quản lý được bộ máy thu thuế

Một mặt, đảm bảo bộ máy quản lý thuế vận hành trơn tru, không sai sót Mặt khác, xuất phát từ lợi ích cá nhân của những con người trong bộ máy quản lý thu thuế của nhà nước hám lợi sẵn sàng bắt tay với người nộp thuế nhằm giúp họ trốn thuế và thu những mối lợi bất chính làm thất thu cho ngân sách, hoặc cố tình gây khó dễ, sách nhiễu để vòi vĩnh

+ Hướng dẫn người nộp thuế, thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục sẽ nâng cao ý thức người dân trong việc chấp hành các luật thuế, đảm bảo việc thực hiện các luật thuế được nghiêm chỉnh

Mặt khác, việc xử lý các sai phạm đảm bảo nghiêm minh, đúng người, đúng việc nhằm răn đe những đối tượng vi phạm, đồng thời làm gương cho các đối tượng khác

1.1.2 Phân loại thuế tài nguyên

Theo quy định hiện hành của pháp luật thuế tài nguyên thì đối tượng chịu thuế tài nguyên là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, bao gồm vùng biển chồng lấn

Trang 23

giữa Việt Nam và quốc gia liên quan và thềm lục địa, thuộc chủ quyền của nước CHXHCN Việt Nam bao gồm:

- Khoáng sản kim loại: Gồm khoáng sản kim loại đen (sắt, man gan, ti tan ) và khoáng sản kim loại màu (vàng, đất hiếm, bạch kim, thiếc, won fram, đồng, chì, kẽm, nhôm )

- Khoáng sản không kim loại, kể cả khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và đất làm gạch, đất khai thác san lấp, xây dựng công trình, đất khai thác sử dụng cho các mục đích khác; đá, cát, sỏi, than, đá quý, nước khoáng, nước nóng thiên nhiên

- KS năng lượng như: Dầu mỏ, khí đốt; than đá

- Tài nguyên rừng tự nhiên: gồm các loại thực vật, động vật được phép khai thác là sản phẩm của rừng tự nhiên, như: gỗ (kể cả cành, ngọn, củi, gốc, rễ tre, nứa, giang, vầu; các loại dược liệu và các loại thực vật, động vật được phép khai thác khác

- Thủy sản tự nhiên: Các loại động vật, thực vật tự nhiên ở biển, sông, ngòi, hồ, ao, đầm thiên nhiên

- Nước thiên nhiên gồm: Nước mặt (biển, hồ, sông, suối, kênh, rạch, ao, đập ); nước ngầm dưới đất, trừ nước nóng, nước khoáng thiên nhiên theo quy định của Luật Khoáng sản (2010)

- Và các loại tài nguyên thiên nhiên khác chưa nêu ở các nhóm trên

- Các loại tài nguyên nhân tạo không thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên

* Đặc điểm của thuế tài nguyên

- Là một khoản thu của NSNN đối với người khai thác tài nguyên thiên nhiên do Nhà nước quản lý

- Thu trên sản lượng và giá trị thương phẩm của TN khai thác mà không phụ thuộc vào mục đích khai thác TN

Trang 24

- Được cấu thành trong giá bán TN mà người tiêu dùng tài nguyên hoặc sản phẩm được tạo ra từ tài nguyên thiên nhiên phải trả tiền thuế tài nguyên

- Mọi tổ chức, cá nhân khai thác TN thiên nhiên, không phụ thuộc mục đích sử dụng TN

* Vai trò của thuế tài nguyên

Tài nguyên thiên nhiên thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, do Nhà nước thống nhất quản lý Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu về tài nguyên ngày càng tăng, dẫn đến nguy cơ cạn kiệt các nguồn tài nguyên chắc chắn sẽ xảy ra nhất là các loại tài nguyên không có khả năng tái tạo Cho nên, yêu cầu đặt ra là phải khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên sẵn

có, nuôi dưỡng, bảo vệ các nguồn tài nguyên tái sinh Nhà nước thông qua nhiều công cụ khác nhau để bảo vệ và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài nguyên, trong đó có công cụ tài chính đó là chính sách thuế tài nguyên Chính vì thế thuế tài nguyên có vai trò:

- Thuế tài nguyên đảm bảo nguồn thu cho NSNN để chi phí cho việc cải tạo môi trường, đầu tư cơ sở hạ tầng nơi khai thác tài nguyên và các khoản chi khác Số thu hàng năm từ thuế tài nguyên của cả nước chiếm trên dưới 10% trong tổng thu NSNN hàng năm Thuế tài nguyên (trừ dầu thô) là khoản thu điều tiết 100% cho ngân sách địa phương Đây là nguồn thu quan trọng đối với ngân sách địa phương để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải tạo môi trường nơi khai thác và đảm bảo an ninh xã hội địa phương

- Thuế tài nguyên là một công cụ để phân phối lại, đảm bảo công bằng

xã hội Một trong những khuyết tật của kinh tế thị trường là sự phân phối không công bằng và đi cùng với nó là sự phân hoá giàu nghèo Rất nhiều các

tổ chức, cá nhân giàu lên nhanh chóng từ việc khai thác tài nguyên Thuế tài nguyên là chi phí đầu vào ảnh hưởng tới lợi nhuận của nhà đầu tư, chính vì thế có tác dụng tham gia điều tiết thu nhập của các nhà đầu tư Đồng thời

Trang 25

NSNN quản lý sử dụng nguồn thu từ thuế tài nguyên để đầu tư cơ sở hạ tẩng, cải tạo môi trường phục vụ an sinh xã hội

- Thuế tài nguyên đảm bảo khoản chi phí đầu vào của quá trình sản xuất cho nên nó có vai trò điều tiết sản xuất, tiêu dùng Nếu việc thu thuế tài nguyên quá cao sẽ khiến các nhà sản xuất kinh doanh tìm các nguyên vật liệu khác rẻ hơn để thay thế hoặc có thể chuyển hướng kinh doanh Ngược lại thu thuế tài nguyên quá thấp các tổ chức cá nhân khai thác sẽ kiếm được nhiều lợi nhuận dẫn đến tình trạng các nhà đầu tư tập chung vào ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên

Thuế tài nguyên khuyến khích các tổ chức, cá nhân đổi mới công nghệ khai thác, chế biến tại chỗ Khi tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, việc khai thác tác động xấu đến môi trường, buộc Nhà nước phải có các công

cụ quản lý để hạn chế khai thác, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài nguyên Thuế tài nguyên là một trong những công cụ Nhà nước sử dụng để bắt buộc các nhà đầu tư khai thác tài nguyên phải đổi mới công nghệ khai thác, chế biến tài nguyên, hạn chế xuất khẩu thô

- Thuế tài nguyên tác động tới khuynh hướng tiêu dùng Tài nguyên thiên nhiên không chỉ ở Việt Nam mà ở tất cả các nước trên thế giới ngày càng cạn kiệt do vậy Nhà nước phải quản lý ngày càng chặt chẽ hơn Thuế tài nguyên cũng đuợc hoàn thiện phù hợp với mỗi thời kỳ khác nhau Vì thế, nếu một loại tài nguyên nào đó có thuế suất cao tức là mức thu cao, giá thành sản phẩm từ loại tài nguyên đó sẽ cao, người tiêu dùng sẽ tìm đến sản phẩm khác thay thế Ví dụ như một số sản phẩm kim loại đang dần được thay thế bằng các sản phẩm nhựa có giá thành rẻ hơn

* Chức năng của thuế tài nguyên

- Thuế tài nguyên là một trong những nguồn thu chung của NSNN để dùng cho các hoạt động điều tiết xã hội khác nhau;

Trang 26

- Cũng giống như các loại thuế khác, thuế tài nguyên cũng có chức năng phân phối các nguồn lực; tái phân phối thu nhập; và ổn định nền kinh tế;

- Thuế tài nguyên là công cụ góp phần ổn định giá, chống lạm phát qua

đó tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho lao động, đồng thời nâng cao đời sống nhân dân

* Đối tượng chịu thuế tài nguyên

Theo quy định hiện hành của pháp luật thuế tài nguyên thì đối tượng chịu thuế tài nguyên là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, bao gồm vùng biển chồng lấn giữa Việt Nam và quốc gia liên quan thuộc chủ quyền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các loại tài nguyên nhân tạo không thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên

Căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế đơn vị tài nguyên và thuế suất thuế tài nguyên

x

Giá tính thuế đơn vị tài nguyên

x Thuế suất -

Số thuế tài nguyên được miễn giảm (nếu có)

Trang 27

Sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng tài nguyên thực tế khai thác

có thể bán ra được trên thị trường Tuỳ theo tính chất lý, hoá của loại tài nguyên để xác định theo số lượng, trọng lượng hay khối lượng tài nguyên khai thác trong kỳ làm căn cứ tính thuế Sản lượng tài nguyên làm căn cứ tính thuế là sản lượng tài nguyên khai thác trong kỳ, không phụ thuộc vào hiện trạng và mục đích khai thác tài nguyên (để bán ngay, đem trao đổi, tiêu dùng nội bộ, dự trữ đưa vào sản xuất tiếp theo ) Với quy định này đảm bảo người khai thác tài nguyên phải kê khai, nộp thuế tài nguyên đầy đủ, kịp thời

* Sản lượng tài nguyên tính thuế

Sản lượng tài nguyên là sản lượng tài nguyên khai thác có thể bán ra trên thị trường (sản lượng tài nguyên thương phẩm) Tuỳ theo tính chất lý, hoá của loại tài nguyên để xác định theo số lượng, trọng lượng hay khối lượng tài nguyên khai thác trong kỳ

Sản lượng tài nguyên làm căn cứ tính thuế là sản lượng tài nguyên khai thác trong kỳ, không phụ thuộc vào hiện trạng và mục đích khai thác tài nguyên (để bán ngay, đem trao đổi, tiêu dùng nội bộ, dự trữ đưa vào sản xuất tiếp theo ) cụ thể:

+ TN khai thác xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thì sản lượng TN tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của TN thực tế khai thác

+ TN khai thác chưa xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác do chứa nhiều chất, tạp chất khác nhau thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định theo số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của từng chất thu được sau khi sàng tuyển, phân loại

+ TN khai thác không bán mà đưa vào sản xuất sản phẩm khác nếu không trực tiếp xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác thì sản lượng TN tính thuế được căn cứ vào sản lượng sản phẩm sản

Trang 28

xuất trong kỳ tính thuế và định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm

+ Nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thuỷ điện thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng điện của cơ sở sản xuất thuỷ điện bán cho bên mua điện theo HĐ mua bán điện hoặc sản lượng điện giao nhận trong trường hợp không xác định theo hệ thống đo đếm, có xác nhận của bên mua, bên bán hoặc bên giao, bên nhận

+ Nước thiên nhiên: nước khoáng TN, nước nóng , nước dùng cho mục đích công nghiệp thì sản lượng TN tính thuế được xác định bằng m3 hoặc lít

+ TN được khai thác thủ công, phân tán hoặc khai thác lưu động, không thường xuyên, sản lượng tài nguyên khai thác dự kiến trong một năm có giá trị dưới 200 triệu đồng thì thực hiện khoán sản lượng tài nguyên khai thác theo mùa vụ hoặc định kỳ để tính thuế

+ Trường hợp tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất khác nhau thì giá tính thuế xác định theo giá bán đơn vị của từng chất và hàm lượng của từng chất trong tài nguyên khai thác nhưng không thấp hơn giá tính thuế do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định

- Giá tính thuế tài nguyên trong một số trường hợp được quy định cụ

Trang 29

+ Đối với tài nguyên khai thác không tiêu thụ trong nước mà xuất khẩu

là giá xuất khẩu;

+ Đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than là giá bán tại điểm giao nhận Điểm giao nhận là điểm được thoả thuận trong hợp đồng dầu khí mà ở

đó dầu thô, khí thiên nhiên, khí than được chuyển giao quyền sở hữu cho các bên tham gia hợp đồng dầu khí

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể giá tính thuế đối với tài nguyên chưa xác định được giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên, trừ dầu thô, khí thiên nhiên, khí than và nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện

* Thuế suất

Thuế suất thuế tài nguyên là căn cứ rất quan trọng, thể hiện quyền quản

lý, điều tiết của Nhà nước đối với tài nguyên quốc gia, là tỷ lệ huy động của Nhà nước đối với người khai thác tài nguyên, đảm bảo thực hiện mục tiêu quản lý các nguồn tài nguyên, tạo lập nguồn tài chính duy trì, nuôi dưỡng, tái tạo, phát triển các nguồn tài nguyên đảm bảo cho sự phát triển của nền kinh tế

một cách ổn định, bền vững

Nhà nước căn cứ vào yêu cầu quản lý Nhà nước, căn cứ tính chất, đặc điểm, giá trị sử dụng, mục đích sử dụng của loại tài nguyên, nhu cầu, tập quán sinh sống của dân cư để quy định các mức thuế suất thuế tài nguyên phù hợp, đảm bảo đời sống kinh tế xã hội ổn định và phát triển

Thuế suất thuế tài nguyên đối với một số loại tài nguyên quy định tại

Trang 30

Biểu thuế suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết 1084/2015/UBTVQH13 ngày 10/12/2015 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội tại phụ lục bảng 1.1

1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN

1.2.1 Công tác hoạch định, lập dự toán thu thuế tài nguyên

Công tác lập dự toán thu Ngân sách, trong đó có thu thuế tài nguyên là công việc làm thường kỳ hàng năm theo số liệu giao kiểm tra của Bộ Tài chính, Cục Thuế phải căn cứ vào dự báo tình hình phát triển kinh tế xã hội, tình hình đầu tư, SXKD, cơ chế chính sách, tiến độ thu thuế tài nguyên trong

kỳ làm kế hoạch; tác động ảnh hưởng đến nguồn thu tác động đến số thu ngân sách trên địa bàn Từ đó phân tích:

- Đánh giá dự báo số lượng người nộp thuế tài nguyên và khả năng số thuế nộp ngân sách tăng hay giảm ngay trong năm làm kế hoạch để tiên lượng tăng, giảm khoản thu

- Đánh giá nhận định, dự báo khả năng thu và đánh giá tăng, giảm, phân chia cụ thể theo từng loại tài nguyên, theo tiến độ thu hàng tháng trong năm

- Dự kiến số thu thuế tài nguyên ngay trong năm lập kế hoạch từ đó xây dựng kế hoạch thu cho năm sau đảm bảo con số giao kiểm tra

Việc lập dự toán phải luôn phải bám sát các quy định tại các Thông tư hướng dẫn, sửa đổi bổ sung để loại trừ một số khoản dự kiến sẽ không thu trong tương lai do có các chính sách Quốc hội,Chính phủ đưa ra để thúc đẩy nền kinh tế, kích thích tiêu dùng

1.2.2 Công tác tổ chức thực hiện quản lý thu thuế tài nguyên

Để tổ chức tốt công tác thu thuế, trước hết phải thực hiện tốt việc tổ chức bộ máy thu thuế Cơ quan thuế các cấp thực hiện sắp xếp, bố trí công chức thuế vào các vị trí quản lý phù hợp khả năng, sở trường của cán bộ thuế

Trang 31

và để thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế tài nguyên, cần phải xây dựng một đội ngũ công chức thuế chuyên trách được đào tạo chuyên sâu trong công tác quản lý thu thuế tài nguyên

Khai thuế tài nguyên (trừ dầu thô) là loại khai theo tháng và khai quyết toán năm hoặc khai quyết toán đến thời điểm có quyết định về việc doanh nghiệp thực hiện chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động

Người nộp thuế chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của việc lập tờ khai thuế tài nguyên Trường hợp cơ quan thuế qua công tác kiểm tra, thanh tra phát hiện các số liệu trên tờ khai là không trung thực, không chính xác, cơ sở kinh doanh sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật

Người nộp thuế tự tính số thuế phải nộp, trừ trường hợp việc tính thuế

do cơ quan quản lý thuế thực hiện theo quy định của Chính phủ, người nộp thuế có trách nhiệm nộp số tiền thuế đã kê khai vào NSNN, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế

Ở từng cấp, bộ máy cơ quan thuế có thể được tổ chức theo các mô hình sau: Mô hình tổ chức theo sắc thuế, mô hình tổ chức theo chức năng, mô hình

tổ chức theo đối tượng nộp thuế

Quản lý thuế tài nguyên là quản lý theo chức năng Do vậy bộ máy quản lý thuế tài nguyên tại các tỉnh thành trên toàn quốc chính là đội ngũ cán

bộ thuế chuyên trách được đào tạo chuyên sâu trong công tác quản lý thu thuế tài nguyên Đội ngũ này được tổ chức một cách thống nhất, đồng bộ và có khoa học gồm các phòng:

Phòng kiểm tra thuế: tham mưu, tổ chức triển khai thực hiện thống nhất chính sách thuế tài nguyên; kiểm tra giám sát việc thực hiện quản lý thuế tài

Trang 32

nguyên tại các chi cục thuế; tổ chức thực hiện dự toán thu thuế tài nguyên theo

kế hoạch cục thuế giao đối với các tổ chức

Phòng kê khai kế toán thuế: tổ chức thực hiện công tác đăng ký thuế,

xử lý hồ sơ khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế, cấp MST

Phòng quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế: tổ chức thực hiện công tác quản lý nợ thuế, đôn đốc thu tiền thuế nợ và cưỡng chế thu tiền thuế nợ, tiền phạt

Phòng Kiểm tra thuế

- Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế: bước đầu của quy trình kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế là thu thập, khai thác thông tin để kiểm tra hồ sơ khai thuế; dựa trên phân tích rủi ro để lựa chọn cơ

sở kinh doanh, lập danh sách kiểm tra hồ sơ khai thuế; Thủ trưởng cơ quan duyệt và giao nhiệm vụ kiểm tra hồ sơ khai thuế; lên nội dung kiểm tra hồ sơ khai thuế và cuối cùng là xử lý kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế Công tác kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế là công tác thường xuyên, liên tục, đảm bảo kiểm tra giám sát chặt chẽ hồ sơ khai thuế của cơ quan thuế, phát hiện sai phạm và xử lý theo từng mức độ vi phạm

- Kiểm tra tại trụ sở của NNT: đối với các đơn vị thuộc đối tượng phải kiểm tra tại trụ sở đơn vị (không giải trình được thông tin tài liệu chứng minh

số thuế khai là đúng hoặc phát sinh các sự vụ yêu cầu phải kiểm tra như hoàn thuế, chia tách sáp nhập, giải thể, chấm dứt hoạt động, .), cơ quan thuế ra quyết định kiểm tra tại trụ sở của cơ quan thuế để làm rõ nội dung kinh tế phát sinh liên quan tới hồ sơ khai thuế của đơn vị mà đơn vị không thể giải trình được trong quá trình kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế, hoặc giải quyết các sự

vụ có liên quan tới việc thực hiện quyền và nghĩa vụ thuế của đơn vị Việc kiểm tra được diễn ra theo tuần tự, có quy định cụ thể về số ngày của từng bước công việc và những điều cán bộ thuế được phép hay không được phép

Trang 33

làm trong quá trình kiểm tra tại đơn vị Kết thúc kiểm tra tại đơn vị, có biên bản ghi nhận những thực trạng, sai sót mà đơn vị mắc phải được phát hiện sau kiểm tra Cơ quan thuế sẽ có quyết định xử phạt vi phạm pháp luật về thuế quy định rõ về số tiền truy thu, số tiền phạt hoặc hình thức xử lý tương ứng với mức độ vi phạm của đơn vị

- Tổng hợp báo cáo và lưu giữ tài liệu kiểm tra thuế: sau khi thực hiện kiểm tra, cơ quan thuế các cấp, theo nhiệm vụ công việc được phân công sẽ

có trách nhiệm báo cáo và lưu giữ những tài liệu để có được số liệu tổng quát, phản ánh về chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra cũng như có cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý và kiểm soát của cấp trên nếu cần

Phòng kê khai và kế toán thuế

Thực hiện các công việc nhằm đảm bảo theo dõi, quản lý NNT thực hiện các thủ tục hành chính thuế về khai thuế, nộp thuế, kế toán thuế, hoàn thành nghĩa vụ thuế đầy đủ và đúng quy định

Phòng Kê khai - Kế toán thuế thực hiện Quy trình kê khai, nộp thuế và

kế toán thuế bao gồm các nội dung sau:

- Quản lý khai thuế của NNT: bộ phận Kê khai và kế toán thuế có nhiệm vụ quản lý tình trạng kê khai thuế của NNT, như quản lý NNT phải nộp hồ sơ khai thuế theo từng sắc thuế, từng mẫu hồ sơ khai thuế, thời hạn nộp hồ sơ khai thuế để xác định số lượng hồ sơ khai thuế phải nộp và theo dõi, đôn đốc tình trạng kê khai của NNT; quản lý NNT thay đổi về kê khai thuế để theo dõi cập nhật về nghĩa vụ kê khai thuế có liên quan; quản lý khai thuế qua tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế

Sau khi nắm rõ tình trạng kê khai thuế của NNT, bộ phận Kê khai và kế toán thuế tiến hành xử lý hồ sơ khai thuế như cung cấp thông tin hỗ trợ NNT thực hiện kê khai thuế, phối hợp cùng bộ phận tuyên truyền hỗ trợ NNT; thực hiện tiếp nhận hồ sơ khai thuế qua mạng internet, hồ sơ giấy tờ NNT nộp qua

Trang 34

bộ phận “một cửa” và các hồ sơ giấy tờ có liên quan khác qua bộ phận hành chính văn thư Tiếp đến kiểm tra, xử lý hồ sơ khai thuế như kiểm tra lỗi thông tin định danh của NNT hay lỗi số học và lập thông báo yêu cầu NNT giải trình, điều chỉnh hồ sơ khai thuế nếu phát hiện có lỗi phát sinh; xử lý hồ sơ khai thuế điều chỉnh, bổ sung của NNT; điều chỉnh hồ sơ khai thuế của NNT

do cơ quan thuế nhầm lẫn, sai sót Với hồ sơ khai thuế có gia hạn, sau khi tiếp nhận hồ sơ gia hạn từ bộ phận “một cửa” hoặc bộ phận Hành chính văn thư,

bộ phận kê khai và kế toán thuế kiểm tra tính đúng đắn và tiến hành xử lý hồ

sơ gia hạn theo quy định Bước công việc cuối cùng của xử lý hồ sơ khai thuế

là lưu hồ sơ khai thuế theo từng hình thức lưu hồ sơ khai thuế bằng giấy, lưu

hồ sơ khai thuế điện tử và lưu tại cơ sở dữ liệu của ngành

- Xử lý vi phạm về nộp hồ sơ khai thuế là bước công việc tiếp theo, bắt đầu từ việc đôn đốc NNT hoặc đại lý thuế nộp hồ sơ khai thuế thông qua thư nhắc nộp hồ sơ khai thuế hoặc thông báo đôn đốc NNT hoặc đại lý thuế chưa nộp hồ sơ khai thuế Nếu NNT không nộp hồ sơ khai thuế, tiến hành ấn định

số thuế phải nộp còn NNT nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định thì tiến hành xử lý vi phạm hành chính

- Kế toán thuế: bao gồm kế toán thu NSNN và kế toán theo dõi thu nộp thuế của NNT Với công tác kế toán theo dõi thu nộp thuế của NNT, sau khi nhận các văn bản xử lý về thuế đối với NNT do cơ quan thuế thực hiện, bộ phận kê khai và kế toán thuế tiến hành nhập các thông tin liên quan đến số tiền thuế của NNT và hạn nộp của khoản thuế và kiểm tra, hạch toán vào sổ theo dõi thu nộp thuế, tính sổ thuế, khoá sổ theo dõi hàng tháng và đối chiếu nghĩa vụ thuế với NNT Đối với NNT có thay đổi về MST hoặc cơ quan thuế quản lý, tiến hành chuyển đổi nghĩa vụ thuế và có xác nhận tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT khi có yêu cầu Khi NNT chấm dứt hoạt động và đóng MST, bộ phận kê khai và kế toán thuế thực hiện kết thúc theo dõi thu

Trang 35

nộp sau khi đối chiếu số tiền nợ, tiền phạt còn thiếu, còn thừa hoặc được khấu trừ để chuyển tới các bộp phận có liên quan giải quyết Tiến hành in và lưu sổ theo dõi thu nộp thuế hàng tháng

- Báo cáo định kỳ nhằm theo dõi, đánh giá, kiểm kết quả thực hiện công tác kê khai và kế toán thuế và có những giải pháp phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận trong cơ quan thuế để thực hiện có hiệu quả quy trình

Ngoài ra, bộ phận kê khai thuế còn nắm và thực hiện một số quy trình khác như xử lý hồ sơ xin gia hạn thời hạn kê khai thuế, thời hạn nộp thuế, quy trình hoàn thuế nhằm đưa ra các bước công việc nhằm triển khai, thực hiện thống nhất các nội dung trong công tác quản lý thuế theo từng chức năng, đạt hiệu quả cao trong quá trình thực hiện quản lý thuế

Phòng quản lý nợ thuế

Quy định trách nhiệm, nội dung, trình tự, thủ tục, thời gian để triển khai thực hiện thống nhất trong cơ quan thuế các cấp trong việc xây dựng và thực hiện chỉ tiêu, đôn đốc thu hồi và xử lý các khoản tiền thuế nợ của người nộp thuế có nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN đã được quy định tại Luật quản lý thuế

- Đôn đốc thu và xử lý tiền thuế nợ: phân công quản lý nợ thuế cho công chức quản lý nợ theo từng loại hình doanh nghiệp và tình huống phát sinh nợ thuế; phân loại tiền thuế nợ đối với từng nhóm nợ, khoản nợ theo quy

Trang 36

định; lập nhật ký và sổ tổng hợp theo dõi tiền thuế nợ; đối chiếu số liệu và thực hiện đôn đốc thu nộp Ngoài ra, xử lý các văn bản, hồ sơ đề nghị xóa nợ tiền thuế, gia hạn nộp thuế, hoàn thuế kiêm bù trừ; xử lý tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh; khó thu và một số nguyên nhân gây chênh lệch tiền thuế nợ; đôn đốc tiền thuế nợ đối với các đơn vị xây dựng cơ bản vãng lai ngoại tỉnh, các đơn vị hạch toán phụ thuộc và đơn vị ủy nhiệm thu Thực hiện

báo cáo kết quả thực hiện công tác quản lý nợ và lưu trữ tài liệu quản lý nợ

1.2.3 Công tác chỉ đạo, điều hành quản lý thu thuế tài nguyên

Việc chỉ đạo, điều hành trong quản lý thuế tài nguyên được thể hiện ở việc thành lập các ban chỉ đạo, tổ giúp việc từ Trung ương đến địa phương

Để triển khai tốt luật thuế tài nguyên nhất thiết phải có các chỉ thị, quyết định, nghị quyết, chương trình hành động cụ thể…để làm cơ sở cho cấp trên rà soát, đánh giá tình hình thu

Để luật thuế đi vào lòng người, dễ hiểu và chấp hành đúng thì việc tuyên truyền, giải đáp thắc mắc trong quá trình triển khai của các đơn vị và áp dụng thực hiện của người nộp thuế có vai trò hết sức quan trọng

Ngoài ra sự phối hợp của các cơ quan đơn vị có liên quan trong việc triển khai luật thuế tài nguyên cũng là yếu tố quyết định sự thành bại của luật thuế

Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT

Phổ biến, hướng dẫn, tuyên truyền Pháp luật thuế tài nguyên bằng công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản

lý thuế nói chung và thuế tài nguyên nói riêng của cơ quan thuế, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ NNT thực hiện quyền và nghĩa vụ thuế của mình

Phòng tuyên truyền, hỗ trợ NNT thực hiện các bước công việc:

- Lập kế hoạch tuyên truyền, hỗ trợ NNT: căn cứ vào chương trình công tác, nhiệm vụ, biện pháp quản lý thu NSNN của Bộ Tài chính, Tổng cục

Trang 37

Thuế; căn cứ vào các thay đổi về chế độ chính sách thuế; căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của bộ phận tuyên truyền, hỗ trợ NNT để xây dựng kế hoạch tuyên truyền, hỗ trợ NNT Kế hoạch tuyên truyền, hỗ trợ NNT phải được lập định kỳ hàng năm, đảm bảo tính kịp thời, hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tế tại cơ quan thuế; đảm bảo cân đối giữa nhu cầu cần hỗ trợ của NNT với nguồn nhân lực, cơ sở vật chất của cơ quan thuế; hướng tới mục tiêu chung của toàn ngành thuế Kế hoạch này bao gồm kế hoạch tuyên truyền về thuế và kế hoạch hỗ trợ NNT

- Tổ chức thực hiện các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ NNT như Tuyên truyền qua hệ thống tuyên giáo; tuyên truyền qua tờ rơi, ấn phẩm, pano, áp phích; tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng; tuyên truyền qua trang thông tin điện tử và các trang mạng khác; tổ chức tập huấn, đối thoại với NNT khi có các thay đổi về chính sách thuế hoặc có nhiều vướng mắc về chính sách, thủ tục hành chính thuế; xây dựng và cấp phát tài liệu hỗ trợ NNT; giải đáp vướng mắc về thuế cho NNT; tổ chức các cuộc họp chuyên

đề về công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT; khảo sát, thăm dò ý kiến về nhu cầu

hỗ trợ của NNT Tất cả các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ nhằm đảm bảo cho NNT nắm vững quy định về luật quản lý thuế và thực hiện quyền, nghĩa vụ thuế của mình một cách tốt nhất

- Báo cáo đánh giá công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT để có cái nhìn tổng quát về hiệu quả công tác tuyên truyền hỗ trợ, đưa ra những tồn tại, nguyên nhân, biện pháp khắc phục và đề ra phương hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT

Ngoài ra, bộ phận tuyên truyền, hỗ trợ NNT còn có nhiệm vụ tiếp nhận

và trả kết quả giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính thuế của NNT theo quy chế

“một cửa”, nhằm giúp đỡ NNT giảm bớt các thủ tục hành chính trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời tạo cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các

Trang 38

phòng ban chức năng ở cơ quan thuế

1.2.4 Công tác kiểm tra, kiểm soát việc quản lý thu thuế tài nguyên

Đây là một nội dung quan trọng của công tác quản lý thu thuế tài nguyên Thanh, kiểm tra thuế tài nguyên được thực hiện bởi bộ phận cán bộ thuế chuyên ngành Đối tượng thanh, kiểm tra thuế là các tổ chức kinh tế và

cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế tài nguyên cho Nhà nước Mục tiêu thanh, kiểm tra thuế tài nguyên là phát hiện và xử lý các trường hợp sai phạm nhằm giảm bớt những tổn thất cho Nhà nước và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Đồng thời cũng qua quá trình thanh, kiểm tra, cơ quan thuế có thể phát hiện những thiếu sót, bất cập trong văn bản pháp luật thuế và quá trình tổ chức thực hiện, từ đó tìm ra những hướng giải quyết nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên Thanh, kiểm tra thuế tài nguyên được thực hiện dưới các hình thức và phương pháp khác nhau

Thanh tra, kiểm tra thuế là một trong bốn chức năng cơ bản của quản lý thuế theo mô hình chức năng Bên cạnh việc tôn trọng kết quả tự tính, tự khai

tự nộp thuế của người nộp thuế, cơ quan thuế thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quả vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện, vừa đảm bảo phát hiện ngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật thuế Thanh tra, kiểm tra là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm, giúp người nộp thuế nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại và kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ

Việc thanh tra kiểm tra thuế phải tuân theo các nguyên tắc sau đây: + Bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời Các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý thanh tra phải bảo đảm tính chính xác, khách quan, trung thực; nghiêm cấm việc cố ý kết luận sai sự thật, quyết định, xử lý trái Pháp luật, bao che cho người có hành vi vi phạm Pháp luật

Trang 39

+ Thanh tra thuế nhất thiết phải dựa trên tư tưởng pháp trị, có nghĩa là mọi cuộc thanh tra thuế đều phải dựa trên cơ sở các văn bản pháp quy của Nhà nước, lấy đó làm chuẩn mực cho việc đánh giá, suy xét các sự kiện, các

vụ việc được thanh tra

+ Thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế

+ Không cản trở hoạt động bình thường của người nộp thuế

+ Tuân thủ quy định của Luật quản lý thuế và các quy định của pháp luật có liên quan

Các hình thức thanh, kiểm tra xét theo thời gian tiến hành thanh tra:

+ Hình thức thanh, kiểm tra thường xuyên được thực hiện mang tính định kỳ, không phụ thuộc vào việc có xảy ra vụ việc hay không trong các ĐTNT và các cơ quan quản lý thuế

+ Thanh, kiểm tra đột xuất là hình thức thanh, kiểm tra mang tính bất thường và đối tượng thanh tra không được biết trước Hình thức này được tiến hành khi có những vụ việc xảy ra từ phía đối tượng nộp thuế hoặc trong các

cơ quan thuế để có biện pháp xử lý

Các hình thức thanh, kiểm tra xét theo phạm vi và nội dung:

+ Thanh, kiểm tra toàn diện: Được tiến hành với tất cả các nội dung thanh, kiểm tra thuế, hoặc với tất cả đối tượng thanh, kiểm tra Hình thức này thường được áp dụng để phục vụ cho những nghiên cứu cải tiến lớn về hệ thống thuế

+ Thanh, kiểm tra có trọng điểm: Được tiến hành chỉ với một số nội dung, một số đối tượng Người ta thường chọn ra các đối tượng điển hình và

tổ chức thanh tra, kiểm tra từ đó rút ra các kết luận chung cho toàn hệ thống

Trang 40

Trên thực tế, người ta cũng có thể kết hợp cả hai hình thức này trong trường hợp cần thiết

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ THU THUẾ TÀI NGUYÊN

Thuế tài nguyên cùng với các sắc thuế khác được quy định, hướng dẫn thực thi bởi Luật và các văn bản dưới luật Những quy định này được tuyên truyền rộng rãi và phổ biến đến NNT để NNT nắm rõ và thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa vụ thuế của mình Tuy nhiên, trong thực tế thực hiện, NNT hoặc do sự thiếu quan tâm hiểu biết, hoặc do cố tình trốn, gian lận thuế nên phát sinh rất nhiều các tình huống mà nếu cán bộ thuế không vững về chuyên môn nghiệp vụ, sẽ không thể hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, phát hiện và xử lý

vi phạm

Lĩnh vực khai thác tài nguyên khoáng sản là lĩnh vực hoạt động phức tạp, địa bàn quản lý rộng, có tính đặc thù do tài nguyên khoáng sản luôn gắn liền với tự nhiên, việc khai thác sử dụng là khó kiểm soát, đặc biệt là khai thác và sử dụng nhỏ lẻ Các đơn vị khai thác tài nguyên cũng luôn tìm cách lách luật để trốn tránh nghĩa vụ thuế, càng đòi hỏi người cán bộ thuế phải am tường luật pháp và trau dồi kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ để xử lý kịp thời

và triệt để, tránh thất thu NSNN, mặt khác đem lại hiệu quả quản lý về mặt xã hội

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ quản lý thuế được hiểu bao

Ngày đăng: 04/04/2022, 22:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

bảng Tên bảng Trang - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên tại cục thuế tỉnh đắk lắk
b ảng Tên bảng Trang (Trang 8)
Bảng 2.1. Tình hình thực hiện thu thuế tài nguyên so với dự toán tại Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2013 đến 2015 - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên tại cục thuế tỉnh đắk lắk
Bảng 2.1. Tình hình thực hiện thu thuế tài nguyên so với dự toán tại Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2013 đến 2015 (Trang 51)
Bảng 2.2. Tổ chức bộ máy tại Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên tại cục thuế tỉnh đắk lắk
Bảng 2.2. Tổ chức bộ máy tại Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk (Trang 52)
Bảng 2.3. Kết quả giám sát hồ sơ năm 2015 của các DN có hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên tại cục thuế tỉnh đắk lắk
Bảng 2.3. Kết quả giám sát hồ sơ năm 2015 của các DN có hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản (Trang 55)
NNT. [Bảng 2.4] phản ánh chi tiết giá tính thuế một số tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên tại cục thuế tỉnh đắk lắk
Bảng 2.4 ] phản ánh chi tiết giá tính thuế một số tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (Trang 58)
Bảng 2.5. Cơ cấu thuế tài nguyên của tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2013-2015 - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên tại cục thuế tỉnh đắk lắk
Bảng 2.5. Cơ cấu thuế tài nguyên của tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2013-2015 (Trang 59)
Bảng 2.6. Kết quả kiểm tra về thuế tài nguyên và phí BVMT tại DN  năm 2015 - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên tại cục thuế tỉnh đắk lắk
Bảng 2.6. Kết quả kiểm tra về thuế tài nguyên và phí BVMT tại DN năm 2015 (Trang 64)
Nhìn vào bảng 2.6 ta thấy tại cơng ty TNHH Bình Minh khơng kê khai thuế tài nguyên định  kỳ  nhƣng  khi  kiểm  tra tại đơn vị phát hiện và  truy  thu  hơn 30 triệu tiền thuế tài nguyên và hơn 11 triệu tiền phí BVMT; Tƣơng tự tại  công ty CP đƣờng bộ 26 kh - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên tại cục thuế tỉnh đắk lắk
h ìn vào bảng 2.6 ta thấy tại cơng ty TNHH Bình Minh khơng kê khai thuế tài nguyên định kỳ nhƣng khi kiểm tra tại đơn vị phát hiện và truy thu hơn 30 triệu tiền thuế tài nguyên và hơn 11 triệu tiền phí BVMT; Tƣơng tự tại công ty CP đƣờng bộ 26 kh (Trang 64)
Nhìn vào bảng 2.7 ta thấy chênh lệch giữa số đơn vị báo cáo và số thanh tra trên 779 triệu đồng trong đó thuế tài nguyên là chênh lệch hơn 516  triệu đồng cịn phí BVMT chênh lệch hơn 263 triệu đồng - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên tại cục thuế tỉnh đắk lắk
h ìn vào bảng 2.7 ta thấy chênh lệch giữa số đơn vị báo cáo và số thanh tra trên 779 triệu đồng trong đó thuế tài nguyên là chênh lệch hơn 516 triệu đồng cịn phí BVMT chênh lệch hơn 263 triệu đồng (Trang 66)
Bảng 1.1. Thuế suất đối với một số loại tài nguyên năm 2015 - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên tại cục thuế tỉnh đắk lắk
Bảng 1.1. Thuế suất đối với một số loại tài nguyên năm 2015 (Trang 104)
BẢNG 2.4. GIÁ TÍNH THUẾ TÀI NGUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK - (luận văn thạc sĩ) hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên tại cục thuế tỉnh đắk lắk
BẢNG 2.4. GIÁ TÍNH THUẾ TÀI NGUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK (Trang 107)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm