Chính vì vậy, đề tài "Hoàn thiện quy trình đánh giá và kiểm soát rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Tƣ Vấn - Kiểm toán S&S" được thực hiện với mục đích nghiên cứu
Trang 1TRẦN THÁI NGUYỆT
HOÀN THIỆN QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ VÀ KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU
HẠN TƢ VẤN - KIỂM TOÁN S&S
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐÀ NẴNG – NĂM 2016
Trang 2TRẦN THÁI NGUYỆT
HOÀN THIỆN QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ VÀ KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU
HẠN TƯ VẤN - KIỂM TOÁN S&S
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS Đoàn Thị Ngọc Trai
ĐÀ NẴNG – NĂM 2016
Trang 3Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn Trần Thái Nguyệt
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Câu hỏi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5
7 Ý nghĩa đề tài 8
8 Bố cục đề tài 8
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO VÀ KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 9
1.1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 9
1.1.1 Khái niệm về rủi ro 9
1.1.2 Định nghĩa rủi ro trong kiểm toán 9
1.1.3 Các bộ phận cấu thành rủi ro kiểm toán 12
1.1.4 Mối quan hệ giữa các loại rủi ro 14
1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO 16
1.2.1 Đánh giá rủi ro 16
1.2.2 Các mô hình đánh giá rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính 18 1.3 QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ RỦI RO THEO CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN VIỆT NAM SỐ 400 (VSA 400) 22
1.3.1 Xác định rủi ro kiểm toán chấp nhận được 23
1.3.2 Đánh giá rủi ro tiềm tàng: 25
Trang 5KIỂM TOÁN VIỆT NAM HIỆN HÀNH (VSA 315) 39
1.4.1 Tìm hiểu về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị 39 1.4.2 Tìm hiểu về kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán 40 1.4.3 Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu: 41 1.5 BIỆN PHÁP XỬ LÝ CỦA KTV ĐỐI VỚI RỦI RO ĐÃ ĐÁNH GIÁ THEO QUY ĐỊNH CỦA CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN VIỆT NAM (VSA 330) 41
1.5.1 Biện pháp xử lý tổng thể đối với các rủi ro có sai sót trọng yếu được đánh giá ở cấp độ báo cáo tài chính 41
1.5.2 Thủ tục kiểm toán đối với rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá ở cấp độ cơ sở dẫn liệu 42 Kết luận chương 1 44
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ RỦI RO VÀ KIỂM SOÁT RỦI RO TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN VÀ KIỂM TOÁN S&S 45
2.1 CÁC QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐÁNH GIÁ VÀ KIỂM SOÁT RỦI RO ĐƯỢC ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM 45
2.1.1 Các quy định liên quan đến đánh giá và kiểm soát rủi ro trong hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 46
2.1.2 Các quy định liên quan đến đánh giá và kiểm soát rủi ro trong hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam có hiệu lực từ 01/01/2014 48 2.2 ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TNHH TƯ VẤN – KIỂM TOÁN S&S 49
2.2.1 Đặc điểm hình thành và phát triển của công ty TNHH Tư vấn - Kiểm toán S&S 49
Trang 62.3 KHÁI QUÁT QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BCTC DO CÔNG TY S&S
THỰC HIỆN 53
2.3.1 Giai đoạn tiền kế hoạch 54
2.3.2 Giai đoạn lập kế hoạch 54
2.3.3 Giai đoạn thực hiện và kết thúc kiểm toán 54
2.4 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ RỦI RO VÀ KIỂM SOÁT RỦI RO TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN – KIỂM TOÁN S&S 55
2.4.1 Mục tiêu khảo sát 55
2.4.2 Phương pháp khảo sát 56
2.4.3 Đối tượng khảo sát 56
2.4.4 Câu hỏi khảo sát 56
2.4.5 Kết quả khảo sát thực trạng quy trình đánh giá và kiểm soát rủi ro trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Tư vấn – Kiểm toán S&S 60
2.5 NHẬN XÉT CHUNG 72
2.5.1 Những kết quả đạt được trong quy trình đánh giá và kiểm soát rủi ro trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Tư vấn – Kiểm toán S&S 72
2.5.2 Những hạn chế, tồn tại trong quy trình đánh giá và kiểm soát rủi ro trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Tư vấn – Kiểm toán S&S 73
Kết luận Chương 2 76
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ VÀ KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN – KIỂM TOÁN S&S 77
3.1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC HOÀN THIỆN QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ VÀ KIỂM SOÁT RỦI RO 77
3.2 QUAN ĐIỂM VỀ XÁC LẬP GIẢI PHÁP 78
Trang 7KIỂM TOÁN S&S 79
3.3.1 Giải pháp trong đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán 80 3.3.2 Tìm hiểu môi trường kinh doanh và vận dụng mô hình rủi ro kinh doanh trong đánh giá rủi ro 81
3.3.3 Giải pháp trong công tác đánh giá rủi ro kiểm soát và thực hiện các thử nghiệm kiểm soát 83
3.3.4 Hoàn thiện các biện pháp xử lý của kiểm toán viên đối với các rủi ro đã đánh giá 84
3.3.5 Một số kiến nghị trong việc nâng cao chất lượng kiểm toán 85
Kết luận chương 3 90
KẾT LUẬN 91 DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
PHỤ LỤC
Trang 8STT Tên viết tắt Tên đầy đủ
1 AICPA Hội kiểm toán viên Hoa Kỳ
2 AR Rủi ro kiểm toán
3 BCTC Báo cáo tài chính
4 CR Rủi ro kiểm soát
5 DR Rủi ro phát hiện
6 GAAS Nguyên tắc kiểm toán chung được chấp nhận
7 HT KSNB Hệ thống kiểm soát nội bộ
8 IFAC Liên đoàn kế toán quốc tế
9 IR Rủi ro tiềm tàng
10 ISA Chuẩn mực kiểm toán quốc tế
11 KTĐL Kiểm toán độc lập
12 KTV Kiểm toán viên
13 SAS Báo cáo về chuẩn mực kiểm toán (Statement of Audit
Standard)
14 VACPA Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam
15 VSA Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
Trang 9Số hiệu
Trang 10sơ đồ Tên sơ đồ
Trang
1.1 Trình tự đánh giá rủi ro (Theo mô hình tài chính) 20
1.2 Trình tự đánh giá rủi ro (Theo VSA 400) 21
1.3 Đánh giá rủi ro kiểm soát 37
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ thế kỷ thứ 18, hoạt động kiểm toán độc lập đã bắt đầu hình thành trên thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm tra của các chủ sở hữu để chống lại
sự gian lận của nhà quản lý và người làm công Theo sự phát triển của nền kinh tế, từ đầu thế kỷ 20 đến nay hoạt động này đang ngày càng phát triển mạnh mẽ với sự ra đời của nhiều công ty kiểm toán lớn trên thế giới
Tháng 11 năm 2006 Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO Có thể nói đây là mốc đánh dấu sự thay đổi lớn trong tiến trình phát triển nền kinh tế của Việt Nam Bên cạnh sự kiện này,
sự phát triển, mở rộng theo chiều hướng đa dạng hóa, đa phương hóa của nền kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều cơ hội lớn cho các cá nhân, tổ chức kinh tế tại Việt Nam, đồng thời cũng phải đối mặt với những thử thách và cạnh tranh gay gắt
Sự hình thành và lớn mạnh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong một môi trường kinh doanh tạo nên nhiều kênh thông tin tài chính khác nhau Nhu cầu sử dụng thông tin tài chính ngày càng nhiều và đa dạng do đó đặt ra yêu cầu cung cấp những thông tin về tính chính xác và kịp thời ngày càng tăng Trong xu thế phát triển tất yếu đó, dịch vụ kiểm toán là có uy tín nhất trong việc thẩm định thông tin tài chính của các doanh nghiệp Những người quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp coi báo cáo kiểm toán là ý kiến cuối cùng trong việc thẩm định, xác minh tính trung thực, hợp
lý của BCTC
Kiểm toán dần được khẳng định và chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Mặc dù mới ra đời và phát triển trong gần 20 năm nhưng số lượng các công ty kiểm toán đã ngày càng gia tăng, chứng tỏ nhu cầu đối với lĩnh vực này ngày càng cao
Trang 12Do nền kinh tế đang phát triển mạnh, các công ty ngày càng có sự mở rộng về quy mô hoạt động và càng phức tạp về các nghiệp vụ kế toán Sự thay đổi này đã buộc các công ty kiểm toán, các tổ chức nghề nghiệp không ngừng hoàn thiện thủ tục kiểm toán để đảm bảo được chất lượng kiểm toán, đáp ứng
sự kỳ vọng của người sử dụng thông tin Trên thực tế, đã có những vụ sai phạm có liên quan đến các công ty kiểm toán, gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế Điển hình là sự kiện Enron (2001) dẫn đến sự sụp đổ của một trong những công ty kiểm toán lớn trên thế giới-Athur Andersen Đây không phải là trường hợp đầu tiên xảy ra việc làm sai lệch thông tin che mắt giới chức và lừa dối các nhà đầu tư Các công ty kiểm toán khác cũng đã từng phải bồi thường những con số khổng lồ hàng trăm triệu đô la Nhưng một khi chưa bị rút giấy phép kiểm toán, chưa ai phải đi đến kết thúc bi thảm như Andersen Về phần mình, có lẽ các công ty tư vấn kiểm toán sẽ phải xét đến một chuẩn đạo đức mới Từ trước đến nay, trước bất kỳ một yêu cầu nào của khách hàng, thay vì nói "không", họ đã nói "để chúng tôi giúp quí vị làm điều đó"
Kiểm toán Báo cáo tài chính luôn là dịch vụ truyền thống và chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu của các công ty kiểm toán hiện nay Trước xu thế hội nhập như ngày nay các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam luôn phải đặt ra yêu cầu không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ của mình để có thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và cạnh tranh với các công ty kiểm toán nước ngoài
Đánh giá rủi ro là một trong những thủ tục kiểm toán được chuẩn mực kiểm toán xác định là vô cùng quan trọng và cần thiết trong một cuộc kiểm toán hiện nay Theo đó, cuộc kiểm toán được thực hiện dựa trên tiếp cận rủi
ro sẽ cung cấp được một tầm nhìn tổng quát tốt nhất cho toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến tính hiệu quả trong công tác kiểm toán, giúp tiết kiệm chi phí , tăng cường sự bảo đảm việc đánh giá rủi ro một cách
Trang 13phù hợp để từ đó đưa ra những phương hướng kiểm soát rủi ro giúp nâng cao tính hiệu quả trong cuộc kiểm toán
Kiểm toán độc lập Việt Nam cũng đang theo xu hướng chung của thế giới thông qua việc cập nhật các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam theo sự hài hòa với các chuẩn mực kiểm toán quốc tế hiện hành Đồng thời, với sự nỗ lực của hội nghề nghiệp VACPA nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán, quy trình đánh giá rủi ro đã được thực hiện hầu hết tất cả các công ty.Tuy nhiên, tính hiệu quả của công tác đánh giá rủi ro tại các công ty kiểm toán ở Việt Nam vẫn còn là một câu hỏi lớn và cần được xem xét nghiên cứu kỹ lưỡng để có một cái nhìn đúng đắn nhất
Chính vì vậy, đề tài "Hoàn thiện quy trình đánh giá và kiểm soát rủi
ro trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Tƣ Vấn - Kiểm toán S&S" được thực hiện với mục đích nghiên cứu, đánh giá công tác đánh
giá rủi ro tại Công ty kiểm toán S&S nhằm góp phần hoàn thiện công tác kiểm toán trong môi trường kinh doanh ngày càng đa dạng phong phú hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
Từ ý nghĩa quan trọng của đánh giá và kiểm soát rủi ro trong kiểm toán Báo cáo tài chính và thực tế công tác đánh giá, kiểm soát rủi ro kiểm toán tại Công ty TNHH Tư vấn – Kiểm toán S&S, Luận văn muốn:
- Giải thích được lý luận rủi ro kiểm toán nói chung và đánh giá và kiểm soát rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính nói riêng
- Hệ thống hóa các nghiên cứu trước đây về đánh giá rủi ro và kiểm soát rủi ro trong kiểm toán, hệ thống hóa yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán về đánh giá và kiểm soát rủi ro trong kiểm toán BCTC
- Hơn nữa, Luận văn cũng muốn nghiên cứu công tác đánh giá và kiểm soát rủi ro kiểm toán tại Công ty TNHH Tư vấn – Kiểm toán S&S Từ đó có
cơ sở để so sánh giữa thực tế và lý thuyết và đưa ra những kiến nghị, giải
Trang 14pháp nhằm hoàn thiện công tác đánh giá trọng yếu và kiểm soát rủi ro kiểm toán tại Công ty TNHH Tư vấn – Kiểm toán S&S
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Quy trình đánh giá và kiểm soát rủi ro trong kiểm toán
báo cáo tài chính
- Phạm vi: Tại Công ty TNHH Tư vấn – Kiểm toán S&S
4 Câu hỏi nghiên cứu
Công tác đánh gía và kiểm soát rủi ro tại công ty TNHH Tư vấn – Kiểm toán S&S được thực hiện như thế nào, có tuân thủ yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán hiện hành? Công ty có duy trì đánh giá, hay thay đổi cho phù hợp với công ty hay không?
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp định lượng kết hợp với định tính, trên cơ sở vận dụng các kỹ thuật như điều tra thống kê, phân tích thực tiễn
Dữ liệu được sử dụng trong Luận văn bao gồm cả dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp Dữ liệu sơ cấp được thu thập chủ yếu qua phương pháp điều tra kết hợp với phỏng vấn Hoạt động điều tra được tiến hành ở công ty TNHH
Tư vấn – Kiểm toán S&S Đối tượng trả lời là các cá nhân làm việc ở công ty S&S với kinh nghiệm trên 4 năm
Bên cạnh dữ liệu sơ cấp, người viết cũng sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp, được thu thập chủ yếu từ các tài liệu nghiên cứu trước, các tài liệu kiểm toán, các thống kê, đánh giá của các cơ quan có liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập
Về phương pháp điều tra: người viết gửi bảng câu hỏi đến các cá nhân
để thu thập thông tin Trong bảng câu hỏi gồm có những câu hỏi đóng và mở, người trả lời sẽ lựa chọn phương án phù hợp nhất Ngoài ra, người viết cũng thực hiện phỏng vấn các cá nhân này một số thông tin có liên quan đến nội dung trong bảng câu hỏi
Trang 156 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong việc làm lành mạnh nền tài chính và đảm bảo độ tin cậy của hệ thống thông tin kinh tế Tuy nhiên, thực tế cho thấy chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập còn bộc lộ nhiều tồn tại mà hậu quả của nó là sự mất lòng tin của các nhà đầu tư, của công chúng vào tính trung thực, khách quan của thông tin và tính lành mạnh của hoạt động tài chính đã qua kiểm toán Một trong những nguyên nhân chính của tình hình trên là do công tác đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán không được quan tâm đúng mức, nhiều công ty kiểm toán chạy theo lợi nhuận chấp nhận rủi ro cao, bỏ qua các quy trình, chuẩn mực kiểm toán Chính vì vậy, vấn đề đánh giá trọng yếu và kiểm soát rủi ro kiểm toán đã nhận được sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới Có thể kể ra đây một số công trình nghiên cứu chính sau:
Luận án tiến sĩ của Thomas M Kozloski tại Đại học Drexel (2002)
“Đánh giá rủi ro sai phạm của KTV: Tác động của sự tương tự và kinh nghiệm rủi ro từ các đánh giá khác” Đề tài đã hệ thống hóa và khái quát các vấn đề về rủi ro kiểm toán, đưa ra và giải quyết thành công một vấn đề cụ thể
là ảnh hưởng của sự tương tự và kinh nghiệm rủi ro từ các lần đánh giá trước bằng phương pháp xây dựng mô hình phân tích ảnh hưởng và thực nghiệm trên các cuộc kiểm toán (Pilot test) Các kiến nghị và kết luận của đề tài là tài liệu tham khảo quý giá cho các nghiên cứu liên quan đến đánh giá rủi ro kiểm toán
Luận án tiến sĩ của Vincent E Owhoso tại Đại học Florida (1998) về
“Giảm rủi ro kiểm toán thông qua hoạt động kiểm soát kiểm toán” Một trong các đóng góp lớn của đề tài là khái quát được các rủi ro có thể xảy ra trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán Qua đó tác giả đề xuất được nhiều giải pháp về kiểm tra và soát xét hồ sơ kiểm toán nhằm giảm thiểu các rủi ro phát sinh và nâng cao chất lượng kiểm toán
Trang 16Luận án tiến sĩ của Lau tze Yiu, Peter tại Đại học Hongkong (1997) về
“Phân tích tác động của rủi ro, trọng yếu và cấu trúc đối với việc lựa chọn bằng chứng kiểm toán” Đây là công trình nghiên cứu có quy mô lớn, phân tích đầy đủ các vấn đề cơ bản về rủi ro kiểm toán, trọng yếu kiểm toán, mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro trong việc nâng cao chất lượng bằng chứng kiểm toán Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài cũng có tính khả thi cao, đặc biệt phù hợp với các quốc gia có nền kinh tế mới nổi tại khu vực châu Á
Có nhiều nghiên cứu đã được đúc kết trong các giáo trình đại học cũng như các công trình nghiên cứu độc lập, như Sự phát triển đánh giá rủi ro của Jeffrina Prinsloo (2008) đã chỉ ra sự hình thành và phát triển kiểm toán qua các giai đoạn dựa trên đánh giá rủi ro, Nghiên cứu Ảnh hưởng của đánh giá rủi ro kinh doanh đến việc ra quyết định lập kế hoạch kiểm toán của Natalia Kotchetova, Ed O’Donnel, Alan Webb (Đại học Wateloo, Đại học Kansas năm 2008) đưa ra mô hình ảnh hưởng đến việc đánh giá rủi ro kinh doanh như xét đoán của KTV, thông tin về khách hàng, phân chia nhiệm vụ đến các thủ tục kiểm toán Nghiên cứu cũng trình bày các bằng chứng hỗ trợ khi KTV thực hiện các thủ tục phân tích để đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trên BCTC
Ngoài ra, công tác đánh giá rủi ro được các công ty kiểm toán lớn trên thế giới (được gọi là Big 4) nghiên cứu và cụ thể hóa trong các chương trình hướng dẫn kiểm toán tại công ty như tài liệu PWC Audit guide của Công ty PriceWaterhouse Coopers, tài liệu KAM của Công ty KPMG, cụ thể hóa các công việc cần thực hiện để đánh giá rủi ro theo yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán quốc tế
Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển của kiểm toán độc lập, các nghiên cứu về kiểm toán nói chung và đánh giá rủi ro nói riêng cũng đã có những thành công ban đầu Về mặt lý luận, các công trình đã bám sát nguyên lý hiện đại trên thế giới và được đúc kết trong giáo trình của các trường đại học như Đại học kinh tế TP HCM, Học viện tài chính, Đại học Kinh tế quốc dân Bên
Trang 17cạnh đó, cũng có một số công trình nghiên cứu Luận án Tiến sĩ, Thạc sĩ liên quan đến vấn đề đánh giá rủi ro như:
Luận án tiến sĩ của Đoàn Thanh Nga về Nghiên cứu đánh giá trọng yếu
và rủi ro kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng hoạt động trong các công ty kiểm toán tại Việt Nam (2011) nghiên cứu mối quan hệ giữa đánh giá trọng yếu, rủi ro kiểm toán với việc nâng cao chất lượng kiểm toán trên cơ sở lý luận của chuẩn mực kiểm toán quốc tế và chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành và tiến hành điều tra, khảo sát tại hơn 20 công ty kiểm toán độc lập
ở Việt Nam cũng như gần 20 đơn vị được kiểm toán, nghiên cứu đã phân tích được ảnh hưởng của đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán đến chất lượng kiểm toán, vẽ nên bức tranh khá toàn diện về thực trạng đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC do các công ty kiểm toán độc lập của Việt Nam thực hiện cũng như chất lượng của kiểm toán độc lập tại Việt Nam hiện nay Bài viết đưa ra những đóng góp hữu ích nhằm hoàn thiện quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán để ngày càng nâng cao chất lượng dịch
vụ như nhu cầu hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo môi trường pháp lý cho hoạt động kiểm toán theo thông lệ quốc tế, tin học hóa công tác kế toán kiểm toán, mở rộng quy mô, đối tượng khách hàng cho các công ty kiểm toán để cải thiện chương trình kiểm toán, nâng cao chất lượng
Luận văn thạc sĩ Giải pháp hoàn thiện đánh giá rủi ro trong kiểm toán BCTC tại các công ty kiểm toán Việt Nam của Hoàng Thị Thu Trang (năm 2008): trên cơ sở nghiên cứu các chuẩn mực kiểm toán quốc tế và công tác đánh giá rủi ro của các nước trên thế giới, tiêu biểu là Hoa Kỳ, đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như hoàn thiện hóa hồ sơ đánh giá rủi ro,
áp dụng mô hình rủi ro kinh doanh trong tiếp cận rủi ro
Nhìn chung, các nghiên cứu đã cho thấy được tình hình thực tế trong việc vận dụng các chuẩn mực kiểm toán trong công tác kiểm toán tại Việt Nam, tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu vào vấn đề đánh giá rủi ro kiểm toán cùng với sự kiểm soát các rủi ro đã đánh giá Thêm nữa, các công
Trang 18trình nghiên cứu được thực hiện chủ yếu trên cơ sở chuẩn mực kiểm toán Việt Nam được ban hành cách đây gần 10 năm nên có nhiều điểm chưa phù hợp với tình hình quốc tế hiện hành cũng như chuẩn mực kiểm toán Việt Nam mới được ban hành và sẽ được áp dụng trong thời gian tới
7 Ý nghĩa đề tài
- Khẳng định được tầm quan trọng của đánh giá trọng yếu và kiểm soát
rủi ro kiểm toán trong việc nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập nói chung và công ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn S&S nói riêng
- Đưa ra được nhận xét và các giải pháp mang tính khả thi đối với công
ty kiểm toán nhằm hoàn thiện đánh giá trọng yếu và kiểm soát rủi ro kiểm toán, qua đó nâng cao chất lượng kiểm toán của công ty S&S
8 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về rủi ro, đánh giá rủi ro và kiểm soát rủi ro trong kiểm toán BCTC
Chương 2: Thực trạng đánh giá rủi ro và kiểm soát rủi ro tại công ty TNHH Tư vấn – Kiểm toán S&S
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quy trình đánh giá và kiểm soát rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính đối với công ty TNHH Tư Vấn – Kiểm toán S&S
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO VÀ KIỂM SOÁT RỦI
RO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1.1 Khái niệm về rủi ro
Rủi ro, theo một cách chung nhất, được hiểu đó là những sự kiện xảy ra nằm ngoài ý muốn và thường không có lợi cho chủ thể
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về rủi ro Trong từ điển Oxford của Đại học Cambrige (Anh) định nghĩa: “Rủi ro là một tình huống liên quan đến việc tiếp cận sự nguy hiểm” Một số từ điển khác cho rằng: “Rủi ro là khả năng hoặc sự đe dọa gây ra thiệt hại, tổn thương, mất mát, trách nhiệm hoặc bất kỳ phát sinh tiêu cực khác xảy ra do các lỗ hổng bên ngoài hoặc nội bộ, và
có thể tránh được thông qua các hành động ưu tiên”
Trong lĩnh vực đầu tư, người ta cho rằng rủi ro là khả năng mà việc thu hồi trở lại một khoản đầu tư có giá trị thấp hơn so với kỳ vọng
Trong sản xuất kinh doanh, rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy
ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
1.1.2 Định nghĩa rủi ro trong kiểm toán
Lĩnh vực kiểm toán là một lĩnh vực luôn đối mặt với những rủi ro Rủi
ro kiểm toán là hậu quả của nhiều loại rủi ro, do vậy, cần tìm hiểu những nhân
tố cấu thành chúng nhằm giảm thiểu rủi ro cho nghề nghiệp cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán Rủi ro kiểm toán bị tác động bởi cả những nhân tố nội tại bên trong doanh nghiệp kiểm toán, lẫn các nhân tố bên ngoài, phát sinh do những sự kiện mà doanh nghiệp kiểm toán không thể lường trước được
Trang 20Chuẩn mực kiểm toán quốc tế (CMKT) số 200 – Mục tiêu tổng thể của KTV độc lập và thực hiện cuộc kiểm toán theo CMKT quốc tế có đưa ra định nghĩa về rủi ro kiểm toán như sau: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính (BCTC) đã được kiểm toán còn có những sai phạm trọng yếu Rủi ro kiểm toán là hệ quả của rủi ro có sai phạm trọng yếu và rủi ro phát hiện” Chuẩn mực cũng xác định rằng “rủi ro kiểm toán” không bao gồm rủi ro mà KTV có thể đưa ra ý kiến BCTC có sai sót trọng yếu nhưng thực tế BCTC không có sai sót như vậy Rủi ro này thường không nghiêm trọng
Ngoài ra, “rủi ro kiểm toán” là một thuật ngữ chuyên môn liên quan đến quá trình kiểm toán, không bao hàm rủi ro mà KTV gặp phải trong kinh doanh như bị thua kiện, làm mất uy tín, hoặc các sự kiện khác phát sinh trong mối liên hệ với các cuộc kiểm toán BCTC
Như vậy, nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro kiểm toán là KTV đưa ra nhận xét không đúng về các thông tin trên BCTC của khách hàng, ví dụ, KTV
có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần về một BCTC mà không biết rằng BCTC này chứa đựng những sai phạm trọng yếu
Cũng với quan điểm này, SAS 107 do Hội KTV hành nghề Mỹ (AICPA) có hiệu lực từ ngày 15/12/2006 cũng chỉ ra rằng: “Rủi ro kiểm toán
là rủi ro mà KTV có thể vô tình thất bại trong việc đưa ra ý kiến phù hợp về một BCTC có sai phạm trọng yếu” Các sai phạm này có thể là kết quả của sai sót và gian lận trong công tác kế toán như việc bỏ sót các nghiệp vụ, trình bày phân loại không phù hợp với nguyên tắc kế toán, hay bỏ sót các thông tin cần công bố, sai sót trong các ước tính kế toán v.v Việc đánh giá một sai phạm là trọng yếu dẫn đến ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng, phải bao gồm cả việc xem xét những đặc tính của người sử dụng thông tin, chẳng hạn như: hiểu biết về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được
Trang 21kiểm toán, hiểu biết về BCTC, ra quyết định trên cơ sở các thông tin trong BCTC
Để hoạt động kiểm toán được thực hiện một cách hiệu quả, phù hợp với tình hình cụ thể từng quốc gia, mỗi quốc gia đều xây dựng hệ thống chuẩn mực áp dụng tại quốc gia đó Ở Việt Nam, hoạt động kiểm toán ra đời muộn hơn so với thế giới, việc ban hành các chuẩn mực kiểm toán căn bản được dựa trên nền tảng của chuẩn mực kiểm toán quốc tế Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ, ban hành năm 2001 quy định về đánh giá rủi ro định nghĩa: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi BCTC đã kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”
Hiện nay, tuy chuẩn mực này đã được thay thế bởi chuẩn mực VSA
200 và đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 nhưng nhìn chung định nghĩa này không có sự khác biệt về mặt bản chất so với định nghĩa về rủi ro kiểm toán trong VSA 200 như sau: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do KTV đưa ra ý kiến kiểm toán không phù hợp khi BCTC đã được kiểm toán còn chứa đựng sai sót trọng yếu Rủi ro kiểm toán là hệ quả của rủi ro có sai sót trọng yếu (gồm rủi
ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát) và rủi ro phát hiện”
Trong mỗi cuộc kiểm toán, rủi ro kiểm toán là điều luôn có khả năng xảy ra, do việc đánh giá rủi ro kiểm toán bị ảnh hưởng bởi quy mô và độ phức tạp của đơn vị được kiểm toán cũng như kinh nghiệm của KTV đối với hiểu biết về đơn vị được kiểm toán cũng như môi trường của nó Khi việc lập kế hoạch không tốt và thiếu thận trọng khi thực hiện thì rủi ro kiểm toán càng tăng, và ngay cả khi cuộc kiểm toán được lập kế hoạch chu đáo và thực hiện một cách thận trọng thì rủi ro vẫn không biến mất hoàn toàn KTV có thể kiểm soát rủi ro thông qua việc thiết kế và thực hiện các thử nghiệm kiểm toán
Trang 221.1.3 Các bộ phận cấu thành rủi ro kiểm toán
Năm 1983, Hội KTV hành nghề Mỹ (AICPA) đưa ra “mô hình rủi ro kiểm toán” thông qua việc ban hành Báo cáo chuẩn mực kiểm toán (SAS) số 47-“ Rủi ro kiểm toán và mức trọng yếu trong thực hiện kiểm toán” trong khuôn khổ “Các chuẩn mực kiểm toán chung được chấp nhận” ở Mỹ (US GAAS) và yêu cầu KTV áp dụng từ năm 1984 Trước khi SAS 47 ra đời, nhiều KTV đã sử dụng một vài nguyên tắc của mô hình trong thực hành, mặc
dù chúng không được ban hành một cách rõ ràng như trong GAAS Mô hình này yêu cầu KTV phải sử dụng những xét đoán trong việc đánh giá rủi ro và sau đó quyết định những thủ tục cần thực hiện Nó cho phép KTV áp dụng trong nhiều tình huống khác nhau trong việc lựa chọn một cách tiếp cận kiểm toán Mô hình cũng yêu cầu KTV phải có một sự hiểu biết về kiểm soát nội
bộ của đơn vị, và kiểm tra tính hữu hiệu của các kiểm soát nếu như KTV kỳ vọng vào chúng trong quá trình xem xét bản chất, thời gian và phạm vi các
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế IAS 200, rủi ro kiểm toán được cấu thành từ 3 bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện
a Rủi ro tiềm tàng
“Rủi ro tiềm tàng là khả năng cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch,
số dư tài khoản hay những thông tin thuyết minh có thể chứa đựng sai sót trọng yếu, khi xét riêng rẽ hay tổng hợp lại, trước khi xem xét đến bất kỳ kiểm soát nào có liên quan” (Đại học Kinh tế TPHCM 2001- NXB Thống Kê,
Kiểm toán)
Rủi ro tiềm tàng chủ yếu đến từ các yếu tố nội tại của doanh nghiệp, chẳng hạn như việc tính toán phức tạp có thể sai sót nhiều hơn các tính toán đơn giản, khoản mục tiền thường gặp rủi ro mất cắp hơn các khoản mục khác, những tài khoản bao gồm các giá trị phát sinh từ các ước tính kế toán sẽ có rủi
Trang 23ro sai phạm cao hơn các nghiệp vụ thông thường…Tuy nhiên, các nhân tố bên ngoài đôi khi cũng ảnh hưởng đến rủi ro tiềm tàng, ví dụ như sự phát triển về công nghệ có thể dẫn đến việc lỗi thời của một số sản phẩm cụ thể, làm cho hàng tồn kho có khả năng ghi nhận khống trên BCTC của doanh nghiệp
Tùy thuộc vào bản chất ngành nghề, điều kiện kinh doanh cũng như một số nhân tố khác liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp sẽ có những rủi ro tiềm tàng khác nhau KTV chỉ có thể đánh giá chứ không thể tác động vào rủi ro tiềm tàng
Rủi ro tiềm tàng được đánh giá trong suốt giai đoạn lập kế hoạch và cập nhật trong suốt quá trình kiểm toán
b Rủi ro kiểm soát
“Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, đối với cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh mà kiểm soát nội bộ của đơn
vị không thể ngăn chặn hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời.” (Đại học
Kinh tế TPHCM 2001- NXB Thống Kê, Kiểm toán)
Như vậy, rủi ro kiểm soát thể hiện hiệu quả của việc thiết kế, vận hành
và duy trì kiểm soát nội bộ của Ban giám đốc nhằm giải quyết những rủi ro đã xác định có thể cản trở việc hoàn thành các mục tiêu của đơn vị liên quan đến việc lập BCTC Tuy nhiên, bất kỳ hệ thống kiểm soát nội bộ nào cũng có những hạn chế tiềm tàng, chẳng hạn như khả năng người thực hiện gây ra những nhầm lẫn, sai sót, hoặc một số kiểm soát có thể bị vô hiệu do có sự thông đồng hay lạm dụng quyền của người quản lý Điều này làm cho rủi ro kiểm soát luôn luôn tồn tại, và do đó, không thể loại trừ hoàn toàn rủi ro có sai sót trọng yếu trên BCTC
Cũng giống như rủi ro tiềm tàng, KTV không thể can thiệp vào rủi ro kiểm soát mà chỉ có thể đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng đến BCTC để
từ đó xác định nội dung, lịch trình, phạm vi của các thử nghiệm cơ bản
Trang 24c Rủi ro phát hiện
“Rủi ro phát hiện là rủi ro mà các thủ tục mà KTV thực hiện nhằm làm giảm rủi ro kiểm toán xuống tới mức thấp có thể chấp nhận được nhưng vẫn không phát hiện được hết các sai sót trọng yếu khi xét riêng hoặc tổng hợp lại Với một mức rủi ro kiểm toán xác định trước, mức độ rủi ro phát hiện được chấp nhận có quan hệ tỷ lệ nghịch với rủi ro có sai sót trọng yếu được đánh giá ở cấp độ cơ sở dẫn liệu Ví dụ như, nếu KTV xác định có rủi ro sai sót trọng yếu ở mức độ càng cao thì rủi ro phát hiện có thể chấp nhận được càng thấp, và cần thu thập nhiều bằng chứng kiểm toán có tính thuyết phục cao
hơn” (Đại học Kinh tế TPHCM 2001- NXB Thống Kê, Kiểm toán)
Như vậy, rủi ro phát hiện là sự kết hợp giữa tính hiệu quả của các thủ tục kiểm toán và việc thực hiện các thủ tục đó Do những hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán, rủi ro phát hiện chỉ có thể giảm bớt mà không thể loại trừ hoàn toàn
Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát có sự khác biệt với rủi ro phát hiện
đó là chúng tồn tại độc lập với cuộc kiểm toán, trong khi rủi ro phát hiện lại liên quan đến các thủ tục kiểm toán của KTV và có thể thay đổi theo sự xem xét của KTV Rủi ro phát hiện có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát càng thấp, rủi ro phát hiện chấp nhận được càng cao, và ngược lại, nhiều rủi ro tiềm tàng và rủi
ro kiểm soát được KTV tin là có tồn tại, thì rủi ro phát hiện có thể chấp nhận được là càng thấp
1.1.4 Mối quan hệ giữa các loại rủi ro
Mô hình rủi ro kiểm toán được thiết lập lần đầu tiên trong SAS 47 trong khuôn khổ Các nguyên tắc kiểm toán được chấp nhận (US GASS) do Hội kiểm toán Hoa Kỳ ban hành đưa ra mối quan hệ giữa các loại rủi ro:
AR= IR x CR x DR (1)
Trang 25Trong đó:
AR: Rủi ro kiểm toán IR: Rủi ro tiềm tàng CR: Rủi ro kiểm soát DR: Rủi ro phát hiện Với 3 bộ phận của rủi ro kiểm toán: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện, mô hình rủi ro kiểm toán có thể chia rủi ro kiểm toán thành 2 thành phần chính: Một phần phụ thuộc vào doanh nghiệp (rủi ro tiềm tàng, rủi
ro kiểm soát), một phần phụ thuộc vào KTV (rủi ro phát hiện)
Tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro tiềm tàng vả rủi ro kiểm soát được phản ánh bằng những ảnh hưởng của chúng đến rủi ro phát hiện Những ảnh hưởng này có thể được mô tả dưới hình thức toán học như phương trình (1) nêu trên KTV giảm thiểu mức độ rủi ro được đánh giá bằng cách thiết kế
và thực hiện các thủ tục nhằm phát hiện các sau phạm trọng yếu Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát càng lớn, thì rủi ro phát hiện càng nhỏ, kết quả là KTV cần phải thực hiện nhiều hơn các thủ tục kiểm toán, bao gồm cả về nội dung, phạm vi, lịch trình của các thủ tục đó
Do rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát không thể bị tác động mà chỉ có thể đánh giá, chúng tồn tại độc lập khách quan với các thử nghiệm kiểm toán Ngược lại, KTV có thể giảm thiểu rủi ro phát hiện bằng cách điều chỉnh nội dung, phạm vi và thời gian của thử nghiệm cơ bản Do đó, trong giai đoạn lập
kế hoạch kiểm toán, KTV thường ấn định mức rủi ro kiểm toán mong muốn, đồng thời đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát dựa trên tình hình doanh nghiệp để từ đó xác định rủi ro phát hiện, làm cơ sở cho việc thiết kế các thử nghiệm kiểm toán Do đó, công thức (1) có thể được sử dụng dưới dạng:
AR
IR x CR
Trang 26Như vậy, mô hình rủi ro kiểm toán cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa các loại rủi ro Trong mối quan hệ này, rủi ro phát hiện luôn có mối quan hệ
tỷ lệ nghịch với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát
1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO
1.2.1 Đánh giá rủi ro
a Khái niệm về đánh giá rủi ro
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 315 về “Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị” thì “Đánh giá rủi ro là một thủ tục kiểm toán được thực hiện để tìm hiểu về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị, trong đó có kiểm soát nội bộ, nhằm xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn ở cấp độ BCTC hoặc cấp độ cơ sở dẫn liệu”
Mục đích của việc đánh giá rủi ro kiểm toán là xác định mức rủi ro phát hiện làm cơ sở cho việc thiết kế các thử nghiệm cơ bản
Như vậy, đánh giá rủi ro là một quá trình tích hợp bao gồm việc xác định và đánh giá từng thành phần của rui ro kiểm toán để từ đó thiết kế các thử nghiệm cơ bản gồm thời gian, phạm vi, lịch trình phù hợp nhằm mục tiêu đạt được mức rủi ro kiểm toán như kỳ vọng
b Vai trò của đánh giá rủi ro trong kiểm toán
Tình hình tài chính cũng như hiệu quả nghiệp vụ là vấn đề rất rộng và trên thực tế không thể kiểm toán được tất cả các thông tin đã thu thập và chưa thu thập của hoạt động tài chính và nghiệp vụ phải kiểm toán Mặt khác, người sử dụng thông tin cũng chỉ quan tâm đến bản chất của thực trạng hoạt động tài chính và hiệu quả hoạt động Điều đó dẫn tới tính tất yếu phải lựa chọn nội dung, phương pháp, thủ tục kiểm toán tối ưu để vừa đánh giá đúng bản chất đối tượng kiểm toán, vừa đáp ứng kịp thời nhu cầu của người quan
Trang 27tâm với giá phí kiểm toán thấp trên cơ sở thực hiện đủ những thủ tục kiểm toán cần thiết
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300 (VSA 300) “Lập kế hoạch kiểm toán” cho thấy vai trò của việc đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch: “Kế hoạch kiểm toán phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm ẩn, đảm bảo cuộc kiểm toán được hoàn thành đúng thời hạn” và “Khi xây dựng chương trình kiểm toán, KTV phải xem xét các đánh giá về rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, cũng như mức độ đảm bảo phải đạt được thông qua thử nghiệm cơ bản”
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 530 (VSA 530) “Lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục lựa chọn khác” quy định về cỡ mẫu như sau: “Kiểm toán phải đảm bảo rủi ro kiểm toán do áp dụng phương pháp lấy mẫu giảm xuống mức có thể chấp nhận được khi xác định cỡ mẫu Cỡ mẫu chịu ảnh hưởng bởi mức rủi ro kiểm toán Rủi ro kiểm toán chấp nhận được càng thấp, thì cỡ mẫu cần thiết sẽ càng lớn” Như vậy, rủi ro kiểm toán có ảnh hưởng một cách trực tiếp đến cỡ mẫu, đồng thời ảnh hưởng tới quá trình thu thập bằng chứng cũng như hiệu quả cuộc kiểm toán Trong quá trình thu thập bằng chứng, KTV phải
sử dụng khả năng xét đoán nghề nghiệp để đánh giá rủi ro tiềm tàng xuống thấp đến mức có thể chấp nhận được
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (VSA 240) “Gian lận và sai sót” cũng quy định: “Khi lập kế hoạch và khi thực hiện kiểm toán, KTV và công ty kiểm toán phải đánh giá rủi ro về những gian lận và sai sót có thể có, làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính và phải trao đổi với Giám đốc (hoặc người đứng đầu đơn vị) về mọi sai sót quan trọng phát hiện được”
Như vậy, có thể nói, rủi ro kiểm toán được đề cập đến trong suốt cuộc kiểm toán, cho thấy tầm quan trọng và mức ảnh hưởng của nó tới công việc
kiểm toán báo cáo tài chính Chính vì vậy mà công việc đánh giá rủi ro kiểm
Trang 28toán là rất quan trọng và cần phải được thực hiện bởi những kiểm toán viên
có trình độ cao
1.2.2 Các mô hình đánh giá rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính
a Lịch sử phát triển của mô hình rủi ro và đánh giá rủi ro
Elliot và Rogers trong nghiên cứu của mình đã đưa ra phương pháp kiểm toán dựa trên rủi ro, được chuẩn mực hóa trong SAS 39 (năm 1981 do AICPA ban hành) Đến năm 1983, AICPA phát triển thêm trong SAS 47 với tên gọi “Inherent risk audit approach - Phương pháp kiểm toán dựa trên rủi ro tiềm tàng” AICPA xác định cách tiếp cận này trong sự liên hệ với mô hình rủi ro kiểm toán (Rủi ro kiểm toán = rủi ro tiềm tàng x Rủi ro kiểm soát x Rủi
ro phát hiện) Sau sự kiện Enron, Worldcom tại Mỹ, hay Parmalat tại Châu
Âu, nghề kiểm toán gặp phải những chỉ trích gay gắt và đứng trước áp lực phải thay đổi cách tiếp cận kiểm toán Kết quả là dẫn đến việc IAASB ban
240, 315 và 330 với hy vọng rằng các chuẩn mực mới sẽ nâng cao việc vận dụng phương pháp kiểm toán dựa trên rủi ro của KTV trong thực tế, nhằm gia tăng hiệu quả và chất lượng kiểm toán
Theo cách tiếp cận này, KTV đưa ra ý kiến về BCTC bằng cách thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán để có được sự đảm bảo hợp lý rằng BCTC có trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không, theo khuôn mẫu BCTC được áp dụng Để đạt được các bằng chứng kiểm toán thích hợp hữu hiệu để đưa ra ý kiến, KTV phải thực hiện các thủ tục đánh giá rủi ro theo chuẩn mực VSA 315, để cung cấp một cơ sở cho việc xác định và đánh giá rủi ro có sai phạm trọng yếu trên BCTC và ở mức độ cơ sở dẫn liệu Thủ rục đánh giá rủi ro là thủ tục kiểm toán được thực hiện để thu thập hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của nó, bao gồm cả kiểm soát
Trang 29nội bộ, để xác định và đánh giá rủi ro các sai phạm trọng yếu, gồm sai sót và gian lận, trên BCTC và ở cả góc độ cơ sở dẫn liệu, làm cơ sở cho việc thiết kế
và thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo, tức là xác định nội dung, thời điểm và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo sẽ được thực hiện
Những thay đổi cho phương pháp kiểm toán dựa trên rủi ro đã ảnh hưởng đến các vấn đề cốt lõi của công tác kiểm toán, mô hình này cung cấp một tiến trình đánh gía rủi ro một cách hệ thống, nhấn mạnh đến vai trò của
quản trị rủi ro, chẳng hạn như việc xác định, đánh giá, kiểm soát các rủi ro
b Mô hình rủi ro tài chính
Mô hình rủi ro tài chính là phương pháp tiếp cận rủi ro dựa trên mối quan tâm chính yếu là rủi ro về mặt số liệu trên BCTC Mô hình này được đưa vào sớm nhất trong chuẩn mực kiểm toán quốc tế từ những năm 1990
Mô hình này có đặc điểm:
- Để lập kế hoạch một cách có hệ thống, đòi hỏi KTV phải có những hiểu biết chung về hoạt động kinh doanh của khách hàng
- Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ dưới góc độ ảnh hưởng đến BCTC
- Thủ tục phân tích được áp dụng trong mọi giai đoạn của cuộc kiểm toán để xác định xem liệu các xu hướng và các mối quan hệ tài chính hay hoạt động có hợp lý hay không
- Theo mô hình rủi ro tài chính, trình tự rủi ro được thể hiện như sơ đồ
sau:
Trang 30Sơ đồ 1.1 Trình tự đánh giá rủi ro
Cách tiếp cận này đòi hỏi KTV phải xem xét một cách thận trọng những vấn đề về rủi ro và trọng yếu trong quá trình chuẩn bị chương trình kiểm toán cho từng chu trình nghiệp vụ của doanh nghiệp, chương trình kiểm toán phải nhán mạnh vào những khu vực có rủi ro cao và các khoản mục trọng yếu trong cuộc kiểm toán
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, mô hình rủi ro tài chính đã bộc lộ điểm yếu của nó, đó là: tiếp cận rủi ro ở trạng thái tĩnh, trong khi môi trường kinh doanh thì luôn luôn biến đổi và ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, rất khó tách bạch được rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát Hơn nữa, do mô hình rủi ro tài chính chỉ chú trọng về mặt số liệu trên BCTC nên không thấy được các rủi ro khác liên quan đến hoạt động kinh doanh của doannh nghiệp, do đó không thể tư vấn một cách đầy đủ và hiệu quả cho doanh nghiệp
c Mô hình rủi ro kinh doanh
Đứng trước sức ép về việc gìn giữ khách hàng, yêu cầu gia tăng giá trị kiểm toán, áp lực cắt giảm thử nghiệm cơ bản trong việc kiểm soát chi phí
Xác định rủi ro kiểm toán không mong muốn
Tính toán rủi ro phát hiện
Thiết kế thử nghiệm cơ bản
Đánh giá rủi ro
tiềm tàng
Đánh giá rủi ro kiểm soát
Trang 31ngày càng gia tăng tại các công ty kiểm tón, mô hình rủi ro tài chính đã không còn phù hợp Vì vậy, đòi hỏi phải có một phương thức tiếp cận mới nhằm thỏa mãn được sự kỳ vọng của khách hàng, vừa đảm bảo sự phát triển của công ty kiểm toán Cuối những năm 1990, phương thức tiếp cận rủi ro tài chính được nâng cấp bằng cách tập trung nhiều hơn vào các rủi ro kinh doanh
mà khách hàng đang gặp phải bên cạnh những hiểu biết về rủi ro tác động đến việc xử lý và ghi chép các nghiệp vụ Điểm tiến bộ của phương thức này chính là vừa nhấn mạnh được các rủi ro kinh doanh chiến lược của đơn vị nhưng không mâu thuẫn với mô hình rủi ro tài chính, do đó, nó vẫn đáp ứng được các yêu cầu của chuẩn mực quy định Mô hình rủi ro kinh doanh chính
là phần mở rộng của mô hình rủi ro tài chính nhằm giúp việc kiểm toán đạt hiệu quả hơn
d Vận dụng mô hình rủi ro kinh doanh trong kiểm toán báo cáo tài chính
Theo VSA 315, “Rủi ro kinh doanh là rủi ro phát sinh từ các điều kiện,
sự kiện, tình huống, việc thực hiện hay không thực hiện các hành động có ảnh hưởng đáng kể mà có thể dẫn đến ảnh hưởng bất lợi tới khả năng đạt được mục tiêu và thực hiện chiến lược của đơn vị, hoặc là rủi ro phát sinh từ việc xác định mục tiêu và chiến lược không phù hợp”
Mô hình rủi ro kinh doanh yêu cầu trước tiên KTV phải đánh giá rủi ro kinh doanh của đơn vị được kiểm toán trong hoàn cảnh cụ thể của đơn vị đó, chẳng hạn như tình hình kinh tế vĩ mô, sự thay đổi trong chính sách kinh tế, các quy định pháp luật tác động tích cực hay tiêu cực đến ngành nghề kinh doanh của đơn vị… Căn cứ trên đánh giá rủi ro về tình hình kinh doanh của đơn vị được kiểm toán, KTV đánh giá rủi ro có sai lệch trọng yếu do sai sót, gian lận hoặc hành vi không tuân thủ trong doanh nghiệp Sau đó, KTV mới xác định phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến từng loại rủi ro (rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện) tương ứng với tình hình của đơn vị
Trang 32Để thực hiện đánh giá được rủi ro kinh doanh của đơn vị được kiểm toán, đòi hỏi KTV phải có hiểu biết rộng về tình hình kinh tế vĩ mô cũng như tình hình cơ bản của ngành nghề mà đơn vị được kiểm toán đang thực hiện kinh doanh Ngoài ra KTV phải vận dụng các mô hình hỗ trợ trong quản trị rủi ro để phân tích Trên thế giới hiện nay có nhiều mô hình được áp dụng như mô hình PEST, phân tích tình hình kinh doanh theo bốn yếu tố: kinh tế, chính trị, xã hội và công nghệ, mô hình SWOT – phân tích tình hình kinh doanh theo các yếu tố: điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của một doanh nghiệp, hay mô hình 5F, 7F, mô hình chuỗi giá trị…
KTV có thể vận dụng một hoặc nhiều mô hình hỗ trợ nhằm phân tích tình hình kinh doanh của đơn vị được kiểm toán, từ đó xác định được rủi ro kinh doanh mà đơn vị có thể gặp phải
1.3 QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ RỦI RO THEO CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN VIỆT NAM SỐ 400 (VSA 400)
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400) “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ” đã nêu rõ: “Rủi ro kiểm toán được xác định trước khi lập kế hoạch kiểm toán và trước khi thực hiện kiểm toán” Hiện nay, chuẩn mực này
đã được thay thế bởi chuẩn mực VSA 200 và đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2014, tuy nhiên tác giả muốn làm rõ quy trình đánh giá rủi ro trước và sau khi có thay đổi này Theo VSA 400, công tác đánh giá rủi ro kiểm toán bao gồm đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện Việc đánh giá rủi ro kiểm toán được thực hiện tuần tự như sau:
Đánh giá rủi ro
tiềm tàng
Xácđịnh rủi ro phát hiện
Đánh giá rủi ro kiểm soát Đánh giá rủi ro kiểm toán chấp nhận được
Trang 331.3.1 Xác định rủi ro kiểm toán chấp nhận đƣợc
Rủi ro kiểm toán chấp nhận được là mức rủi ro mà KTV sẵn sàng chấp nhận BCTC tồn tại sai phạm trọng yếu sau khi cuộc kiểm toán kết thúc và nhận xét chấp nhận Khi KTV quyết định một tỷ lệ rủi ro kiểm toán mong muốn thấp hơn, điều này có nghĩa KTV muốn được chắc hơn là các BCTC sai phạm trọng yếu ít hơn Mức rủi ro này có đặc điểm:
- Trong mọi lĩnh vực luôn tồn tại rủi ro, trong kiểm toán báo cáo tài chính cũng vậy, luôn tồn tại rủi ro không phát hiện được sai phạm trọng yếu,
do đó rủi ro chấp nhận được không thể bằng 0
- Chức năng của KTV là phát hiện những sai phạm trọng yếu trong thông tin tài chính của công ty khách hàng Nếu không phát hiện ra sai phạm trọng yếu thì chức năng kiểm toán bị vi phạm, do đó, không thể có rủi ro kiểm toán chấp nhận được là 100%
Từ đó xác định rủi ro kiểm toán chấp nhận được trong khoảng từ 0 đến
1 Các công ty kiểm toán luôn cân nhắc nhiều vấn đề để đạt được một mức rủi
ro phù hợp, vừa đảm bảo thông tin tài chính cung cấp, vừa đảm bảo sự hiệu quả về chi phí kiểm toán Trong giai đoạn lập kế hoạch, KTV xác định mức rủi ro mong muốn cho toàn bộ BCTC và sau đó là cho từng khoản mục Mức rủi ro mong muốn này sẽ quyết định khối lượng công việc mà KTV cần thực hiện Mức rủi ro mong muốn phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Mức độ sử dụng BCTC của đơn vị khách hàng càng lớn thì mức rủi ro chấp nhận được càng thấp Quy mô này được xác định dựa trên bản chất của công ty về:
+ Quy mô công ty khách hàng: nếu quy mô càng lớn, các báo cáo kiểm toán sẽ được sử dụng rộng rãi Quy mô này được đo lường bằng tổng tài sản hoặc tổng thu nhập Hiện nay những doanh nghiệp có quy mô tầm cỡ hầu hết
là các doanh nghiệp có niêm yết trên thị trường chứng khoán
Trang 34+ Sự phân phối quyền sở hữu: mức độ phân phối càng cao thì rủi ro chấp nhận được càng phải thấp so với các công ty có mức độ phân phối nhỏ hơn
+ Bản chất và quy mô của công nợ: đối với những công ty có số lượng lớn công nợ thì những báo cáo kiểm toán của các công ty này sẽ được sự quan tâm bởi các chủ nợ thực tế và tiềm năng
+ …
- Đồng thời cần phải xem xét khả năng công ty khách hàng gặp khó khăn sau khi BCTC sau kiểm toán được công bố, điều này dựa trên:
+ Khả năng hoán chuyển thành tiền của tài sản
+ Kết quả hoạt động kinh doanh của năm trước
+ Các biện pháp nhằm gia tăng quá trình tài trợ
+ Bản chất hoạt động của công ty khách hàng
+ Năng lực của ban quản trị
Mức độ rủi ro kiểm toán là như nhau giữa các KTV khác nhau Trong một môi trường lý tưởng thì các KTV khác nhau sẽ lập cùng một mức rủi ro kiểm toán đối với bất kỳ cuộc kiểm toán nào Theo như nghiên cứu thì với cùng một mức rủi ro kiểm toán chấp nhận được thì mỗi KTV sẽ có nỗ lực khác nhau trong việc thu thập bằng chứng để đạt được mức rủi ro đó Công việc của KTV cụ thể sẽ phụ thuộc vào những vấn đề như:
- Sự định hướng của mỗi công ty kiểm toán cho nhân viên của mình là
các KTV phải tuân thủ đầy đủ những nguyên tắc nghề nghiệp trong quá trình thực hiện kiểm toán ở bất kỳ đơn vị nào
- Sự cạnh tranh giữa các công ty kiểm toán: xét cho cùng thì kiểm toán
cũng là một ngành cung cấp dịch vụ, do đó, quyết định chọn công ty kiểm toán là do khách hàng quyết định Khi một công ty kiểm toán đặt ra mức rủi
ro kiểm toán chấp nhận được thấp hơn các công ty kiểm toán khác thì tất yếu
Trang 35giá phí kiểm toán sẽ cao hơn, và có thể khách hàng sẽ chuyển sang ký hợp đồng với các công ty kiểm toán giá phí rẻ hơn
- Trình độ nghiệp vụ của KTV: Mỗi KTV có trình độ nghiệp vụ riêng
nên khả năng đáp ứng cho một mức rủi ro kiểm toán chấp nhận được sẽ khác nhau
1.3.2 Đánh giá rủi ro tiềm tàng:
Để đánh giá rủi ro tiềm tàng, KTV dựa vào các yếu tố sau:
- Bản chất kinh doanh của khách hàng: rủi ro tiềm tàng thường tăng lên
bởi những đặc thù của ngành nghề kinh doanh tạo ra khó khăn cho kiểm toán,
do đó làm tăng những gian lận hoặc sai sót trên BCTC
Ví dụ: Khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm sẽ rất khó khăn trong việc hạch toán doanh thu, do đó việc kiểm toán doanh thu sẽ khó khăn hơn so với những doanh nghiệp sản xuất thông thường
- Tính trung thực của ban quản trị: Khi ban quản trị bị kiểm soát bởi
các cá nhân thiếu tính trung thực thì khả năng các BCTC có sai phạm trọng yếu sẽ tăng lên, do vậy phải đánh giá rủi ro tiềm tàng ở mức cao
- Các bên đối tác có liên quan: đối với các nghiệp vụ xảy ra ở loại hình
công ty mẹ, công ty con, hoặc sát nhập giữa các công ty thường tồn tại khả năng sai phạm tiềm tàng cao
- Hợp đồng kiểm toán lần đầu: Trong những hợp đồng kiểm toán lần
đầu, KTV thường thiếu hiểu biết và kinh nghiệm về các sai sót của đơn vị khách hàng nên thường đánh giá rủi ro tiềm tàng cao hơn so với những hợp đồng kiểm toán dài hạn
- Kết quả những lần kiểm toán trước: đối với các tài khoản được phát
hiện có sai phạm trong những lần kiểm toán của năm trước, rủi ro tiềm tàng sẽ được đánh giá ở mức cao Lý do nhiều loại sai phạm có tính chất hệ thống và các đơn vị thường chậm chạp không tiến hành sửa chữa nên các sai phạm năm trước có thể sẽ xảy ra tiếp tục trong năm nay
Trang 36- Các nghiệp vụ kinh tế không thường xuyên: các nghiệp vụ này có khả
năng bị sai số nhiều hơn các nghiệp diễn ra hằng ngày do khách hàng thiếu kinh nghiệm trong hạch toán các nghiệp vụ đó, do đó rủi ro tiềm tàng đối với các tài khoản trong các nghiệp vụ này thường bị đánh giá rất cao
- Các ước tính kế toán: Rủi ro tiềm tàng của các tài khoản phản ánh
ước tính kế toán (dự phòng các khoản phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho…) thường bị đánh giá cao do việc xác định đúng đắn giá trị của các khoản mục này không những đòi hỏi sự hiểu biết dúng bản chất các khoản mục, lý thuyết liên quan mà còn phụ thuộc vào kinh nghiệm và cả sự xét đoán chủ quan của người có kinh nghiệm
- Số lượng tiền của các số dư tài khoản: các tài khoản có số dư bằng
tiền lớn thường rủi ro tiềm tàng bị đánh giá là cao hơn so với tài khoản có số
dư bằng tiền nhỏ
Kiểm toán viên cần đánh giá lần lượt các yếu tố trên và quyết định về mức rủi ro tiềm tàng thích hợp với các khoản mục trên báo cáo tài chính thông qua phân tích, phỏng vấn, quan sát Trong quá trình xem xét những yếu
tố này, cần phải đặc biệt lưu ý đến một số vấn đề như khi đánh giá ban quản trị (giám đốc) thì tính liêm chính của bộ phận này có thể ảnh hưởng đến nhiều hoặc tất cả các yếu tố của thông tin tài chính cung cấp hơn so với yếu tố khác Trong các chuẩn mực kế toán không quy định mức rủi ro tiềm tàng là bao nhiêu, tuy nhiên, bằng kinh nghiệm xét đoán của mình thì kiểm toán viên có thể đánh giá độ tin cậy vào rủi ro tiềm tàng là 0 hoặc 1, hoặc cũng có thể đánh giá rủi ro tiềm tàng với mức từ 0,3 đến 1
1.3.3 Đánh giá rủi ro kiểm soát
a Tác dụng của kiểm soát nội bộ đối với công việc kiểm toán
Kiểm tra, kiểm soát luôn là một chức năng quan trọng của quản lý, do
đó, khi tổ chức bất kỳ một hoạt động nào của đơn vị, bên cạnh việc sắp xếp
Trang 37các cơ sở vật chất, nhân sự thì nhà quản lý luôn phải lồng vào đó sự kiểm soát của mình về các phương diện thông qua các thủ tục qui định về mặt hoạt động , đó chính là hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp Tương tự như rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát tỉ lệ nghịch với rủi ro phát hiện và tỉ lệ thuận với bằng chứng kiểm toán Do đó, việc hiểu được cơ cấu kiểm soát nội bộ, đánh giá rủi ro kiểm soát và ảnh hưởng của chúng đến rủi ro phát hiện cũng như số lượng bằng chứng thu thập rất quan trọng trong quá trình kiểm toán Trên cơ sở đó, Kiểm toán viên sẽ tìm hiệu về hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp nói chung và hệ thống kiểm soát được thiết kế cho từng bộ phận
để đánh giá rủi ro kiểm soát
Qua mô tả về hệ thống KSNB, KTV sẽ đánh giá việc thiết kế đó có hữu hiệu hay không, có rủi ro gì xảy ra không và với các điểm nhạy cảm dễ xảy rủi ro đó thì doanh nghiệp đã có biện pháp gì khắc phục chưa Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và rủi ro kiểm soát không chỉ để xác minh tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ mà còn làm cơ sở cho việc xác định phạm
vi thực hiện thử nghiệm cơ bản trên số dư hoặc nghiệp vụ của đơn vị
Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ càng hữu hiệu thì rủi ro kiểm soát càng thấp, trên cơ sở đánh giá rủi ro kiểm soát đó, kiểm toán viên sẽ lựa chọn phương pháp kiểm toán tuân thủ, lúc đó thử nghiệm cơ bản sẽ giảm, khối lượng công việc sẽ nhẹ nhàng hơn Nếu kiểm toán viên đánh giá mức rủi ro kiểm soát cao (hệ thống kiểm soát nội bộ yếu), lúc đó kiểm toán viên sẽ thực hiên phương pháp kiểm toán cơ bản
* Một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu phải đảm bảo đủ 7 mục tiêu tổng quát sau sẽ được thực hiện:
- Tính có thật (Validity): các nghiệp vụ ghi sổ phải có thật, tức là phải
có căn cứ hợp lý khi ghi vào sổ
- Sự phê chuẩn (authorization): các nghiệp vụ kinh tế phải được phê
Trang 38chuẩn đúng đắn, tức là khi thực hiện mọi hoạt động thì phải đảm bảo chúng phải được phê chuẩn một cách hợp lệ
- Sự đầy đủ (Completeness): tất cả các nghiệp vụ kinh tế xảy ra đều được ghi nhận đầy đủ, tức là không được loại bỏ, giấu bớt để ngoài sổ sách về các nghiệp vụ phát sinh
- Sự đánh giá (Valuation): không để xảy ra những sai phạm trong tính toán, trong việc áp dụng chính sách kế toán, các nghiệp vụ kinh tế phải được đánh giá đúng đắn
- Sự phân loại (classification): các nghiệp vụ kinh tế phải được phân loại đúng đắn, bảo đảm số liệu được phân loại đúng theo sơ đồ tài khoản của đơn vị và ghi nhận đúng đắn ở các loại sổ sách kế toán có liên quan
-Sự đúng kỳ (timing): các nghiệp vụ kinh tế phải được ghi nhận đúng
bộ, từ đó xác định trọng tâm cho việc kiểm toán
b Những hạn chế vồn có của hệ thống kiểm soát nội bộ
Một hệ thống kiểm soát nội bộ tốt có thể ngăn chặn được những sai sót
và nâng cao độ tin cậy của dữ liệu kế toán Tuy nhiên tác dụng của kiểm soát nội bộ cũng chỉ ở một chừng mực nhất định Nguyên nhân là do:
- Phạm vi của kiểm soát nội bộ bị giới hạn những vấn đề về chi phí
Trang 39Các nhà quản lý luôn đòi hỏi chi phí bỏ ra cho kiểm soát phải có hiệu quả, nghĩa là chi phí của kiểm soát nội bộ phải nhỏ hơn các tổn thất do sai sót và gian lận gây ra
- Kiểm soát nội bộ do người quản lý tổ chức và điều hành, nên nếu người quản lý muốn gian lận thì hệ thống kiểm soát nội bộ này không thể phát hiện được
- Một phần lớn tác dụng của kiểm soát nội bộ dựa trên sự phân công, phân nhiệm, do đó, kiểm soát nội bộ có thể bị vô hiệu hóa khi có sự thông đồng giữa các nhân viên và thông đồng giữa nhân viên với bên ngoài
- Kiểm soát nội bộ thường tập trung vào các nghiệp vụ thông thường
hoặc dự kiến được, vì thế khó có thể phát hiện được các sai phạm đột xuất hay bất thường
- Những thủ tục kiểm soát có thể không còn phù hợp vì tình hình thực
tế của công ty đã thay đổi
Như vậy, trong bất kỳ trường hợp nào, dù kiểm toán viên đánh giá rủi
ro kiểm soát rất thấp nhưng điều đó không có nghĩa là không tồn tại những sai sót trọng yếu và bắt buộc kiểm toán viên phải tiến hành thử nghiệm cơ bản trong mọi trường hợp
Để kiểm tra tính hữu hiệu của các thủ tục đó trong thực tế thì KTV cần phải thực hiện thử nghiệm kiểm soát, thủ tục thường được sử dụng là: phỏng vấn, quan sát, thực hiện lại, đối chiếu, kiểm tra chứng từ và những thủ tục
kiểm toán thường được thực hiện cho từng phần hành
Quy trình đánh giá rủi ro kiểm soát (4 bước):
hoạch kiểm toán
Công việc này được thực hiện ở giai đoạn lập kế hoạch nhằm xác định loại sai phạm có thể bỏ qua và các nhân tố làm tăng rủi ro xảy ra sai phạm cũng như xác định được phương pháp kiểm toán hữu hiệu
Trang 40Sau khi tìm hiểu sự tồn tại của hệ thống kiểm soát nội bộ nói chung, kiểm toán viên sẽ đi vào tìm hiểu kiểm soát nội bộ trong từng phần hành kế toán Để phục vụ cho mục đích này, kiểm toán viên thường chia hệ thống kiểm soát nội bộ thành các chu trình nghiệp vụ (transaction cycles) Việc phân chia này tùy thuộc vào đặc thù của đơn vị và kinh nghiệm của kiểm toán viên
Ví dụ: một doanh nghiệp có thể phân chia thành những chu trình sau:
- Chu trình bán hàng, thu tiền
- Chu trình mua hàng và thanh toán
- Chu trình tiền lương
- Chu trình sản xuất
- Chu trình tài chính
Các phương pháp tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ
Dựa vào phương pháp như phỏng vấn những người quản lý chủ chốt, đọc tài liệu, quan sát hay sử dụng những hiểu biết và kinh nghiệm trước đây của KTV về lĩnh vực hoạt động cũng như khách hàng để tìm hiểu về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và quyền hạn của hội đồng quản trị, BGĐ và các phòng ban; tìm hiểu về tư duy quản lý, phong cách điều hành của các thành viên chủ chốt, chính sách cũng như cơ chế nội bộ của doanh nghiệp
Xem xét các tài liệu về kiểm soát nội bộ của đơn vị như sơ đồ tổ chức,
sơ đò hạch toán, các văn bản nội bộ về qui chế kiểm soát nội bộ…Nếu có thể, bao gồm cả báo cáo và tư liệu của bộ phận kiểm toán nội bộ Kiểm toán viên
có thể xem xét hồ sơ của các cuộc kiểm toán trước, tuy nhiên cần chú ý cập nhật những thay đổi của hệ thống kiểm soát nội bộ
KTV cần phải biết về hệ thống kế toán và thực hiện công việc kế toán
để xác định các loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu và nguồn gốc của nó, về công tác tổ chức bộ máy kế toán, quy trình kế toán từ hệ thống chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, sổ kế toán cho đến khi lập hệ thống BCTC Bên cạnh đó, KTV