Hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng là giúp các NHTM giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
VÕ THỊ THẢO VÂN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT Á – CHI NHÁNH HỘI AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
VÕ THỊ THẢO VÂN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT Á – CHI NHÁNH HỘI AN
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐOÀN NGỌC PHI ANH
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
VÕ THỊ THẢO VÂN
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu đề tài 2
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH BCTC DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 6
1.1.1 Khái niệm, đặc trưng, vai trò của tín dụng ngân hàng 6
1.1.2 Rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng 9
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 13
1.2.1 Khái niệm phân tích BCTC 13
1.2.2 Mục đích của công tác phân tích BCTC 13
1.2.3 Nguồn thông tin phục vụ phân tích BCTC 16
1.2.4 Phương pháp phân tích BCTC doanh nghiệp vay vốn tại NHTM 18 1.3 NỘI DUNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH BCTC DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NHTM 21
1.3.1 Dữ liệu phân tích BCTC doanh nghiệp 21
1.3.2 Phân tích BCTC doanh nghiệp phục vụ cho vay 24
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÂN TÍCH BCTC DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NHTM 38
1.4.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng 38
Trang 51.4.2 Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp 39 1.4.3 Các nhân tố khác 41
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT Á CHI NHÁNH HỘI AN 43
2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP VIỆT Á - CHI NHÁNH HỘI
AN 43 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Ngân Hàng TMCP Việt Á - Hội An 43 2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Ngân Hàng TMCP Việt Á
- Hội An 45 2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Việt Á – Chi nhánh Hội An năm 2010 – 2013 47 2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH BCTC DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NH TMCP VIỆT Á CHI NHÁNH HỘI AN 50 2.2.1 Tổng quan về quy trình cấp tín dụng tại Ngân hàng TMCP Việt Á - Chi nhánh Hội An 50 2.2.2 Thực trạng phân tích BCTC của doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Việt Á - Chi nhánh Hội An 54 2.3 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH BCTC DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG VIỆT Á- CHI NHÁNH HỘI AN 71 2.3.1 Những kết quả đạt được 71 2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 72
CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH BCTC DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT Á– CHI NHÁNH HỘI AN 76
Trang 63.1 MỤC TIÊU CỦA NGÂN HÀNG TMCP VIỆT Á– CHI NHÁNH HỘI AN
TRONG CÔNG TÁC TÍN DỤNG 76
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH BCTC DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG NGÂN HÀNG TMCP VIỆT Á– CHI NHÁNH HỘI AN 77
3.2.1 Hoàn thiện công tác thu thập thông tin 77
3.2.2 Hoàn thiện phương pháp phân tích 78
3.2.3 Hoàn thiện nội dung phân tích 81
3.2.4 Các giải pháp khác 97
3.3 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 98
3.3.1.Minh bạch, công khai các nguồn thông tin tài chính 98
3.3.2 Tăng cường vai trò của trung tâm thông tin tín dụng CIC 99
KẾT LUẬN 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCĐKT : Bảng cân đối kế toán
BCKQHĐKD : Báo cáo kết quả HĐKD
BCLCTT : Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
BCTC : Báo cáo tài chính
LNST : Lợi nhuận sau thuế
NCVLĐR : Nhu cầu vốn lưu động ròng
NHTM : Ngân hàng thương mại
NQR : Ngân quỹ ròng
NVTT : Nguồn vốn tạm thời
NVTX : Nguồn vốn thường xuyên
QLDN : Quản lý doanh nghiệp
Tài sản cố định Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Á- Hội An VCSH : Vốn chủ sở hữu
Trang 82.7 Bảng phân tích khả năng sinh lợi của Công ty TNHH
3.1 Bảng chỉ số tài chính trung bình của các ngành 79 3.2 Bảng so sánh các chỉ tiêu tài chính của Công ty CP TV
ĐT XD Tân Trường với trung bình ngành vận tải 80 3.3 Bảng phân tích cân bằng Tài chính của công ty CP TV ĐT
3.4 Bảng BCLCTT của công ty CP TV ĐT XD Tân Trường 84 3.5 Tỷ trọng dòng tiền thu, chi từ HĐKD qua các năm của
3.6 Bảng phân tích Khả năng thanh toán của công ty CP TV
Trang 93.7 Bảng phân tích hệ số Kts, Ktu của Công ty CP TV ĐT XD
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hiện nay cạnh tranh là một vấn đề tất yếu, điều này đòi hỏi các doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng phải nỗ lực rất nhiều, thông qua các biện pháp khác nhau nhằm tồn tại và gia tăng nguồn lợi nhuận Nói đến cạnh tranh trong việc kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) hiện nay thì không khỏi nhắc đến hoạt động cho vay bởi nó chiếm tỷ trọng không nhỏ từ 85%-95% doanh thu Vì thế, đảm bảo và nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng vừa là mục tiêu vừa là nhân tố quan trọng
để cạnh tranh và phát triển của mỗi NHTM Trước mỗi quyết định tài trợ, NHTM luôn phải cân nhắc kỹ lưỡng, ước lượng khả năng rủi ro và sinh lời dựa trên phân tích các khía cạnh tài chính, phi tài chính theo một quy trình nghiệp vụ nghiêm ngặt, mang tính khoa học cao, phân tích báo cáo tài chính khách hàng là một trong những nội dung đó Báo cáo tài chính của khách hàng vay vốn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá tình hình tài chính, khả năng thanh khoản, khả năng trả nợ của khách hàng giúp cán bộ tín dụng đi đến quyết định có cho vay hay không Hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng là giúp các NHTM giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài:
“Hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Việt Á - Chi nhánh Hội An”
2 Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận về phân tích BCTC DN vay vốn trong NHTM
- Phân tích thực trạng công tác phân tích BCTC tại NH TMCP Việt Á -
Chi nhánh Hội An
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp vay vốn tại NH TMCP Việt Á - Chi nhánh Hội An
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác phân tích BCTC của doanh nghiệp
vay vốn tại NH TMCP Việt Á - Chi nhánh Hội An (VAB-HA)
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Luận văn nghiên cứu tại NH TMCP Việt Á - Chi
nhánh Hội An
+ Về thời gian: Luận văn sử dụng thông tin hiện tại của ngân hàng Việt
Á - Chi nhánh Hội An, liên quan đến phân tích báo cáo tài chính của khách
hàng, số liệu minh họa từ năm 2011 đến năm 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
- Dữ liệu:
+ Dữ liệu thứ cấp: Thu thập số liệu từ BCTC của các doanh nghiệp đang vay vốn tại Ngân hàng TMCP Việt Á - Chi nhánh Hội An
+ Dữ liệu sơ cấp: Phỏng vấn cán bộ tín dụng; thu thập số liệu chủ yếu
từ phòng tín dụng Ngân hàng TMCP Việt Á - Chi nhánh Hội An
- Xử lý dữ liệu
Các tài liệu, số liệu thu thập được phân tích, diễn giải, so sánh, đánh giá đồng thời đối chiếu với các quy định hiện tại của ngân hàng từ đó rút ra kết luận về thực trạng áp dụng công tác phân tích báo cáo tài chính trong quy trình thẩm định tín dụng đối với doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP
Việt Á - Chi nhánh Hội An
5 Kết cấu đề tài
Chương 1: Lý luận chung về tín dụng ngân hàng và công tác phân tích
BCTC doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng công tác phân tích BCTC doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Việt Á - Chi nhánh Hội An
Trang 13Chương 3: Hoàn thiện công tác phân tích BCTC doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Việt Á - Chi nhánh Hội An
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Báo cáo tài chính là tài liệu chủ yếu được sử dụng để phân tích tài chính doanh nghiệp vì nó phản ánh một cách tổng hợp nhất tình hình tài chính tài sản, nguồn vốn các chỉ tiêu về tài chính cũng như kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Phân tích báo cáo tài chính là con đường ngắn nhất để tiếp cận bức tranh toàn cảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp, vấn đề này đã được nhiều tác giả nghiên cứu và được biểu hiện thông qua một số sách chuyên ngành như: Giáo trình phân tích hoạt động kinh
doanh (PGS.TS Trương Bá Thanh - Trần Đình Khôi Nguyên (2009), Nhà
xuất bản Giáo dục); Giáo trình phân tích tài chính DN (GS.TS.Ngô Thế Chi, PGS.TS.Nguyễn Trọng Cơ (2008), NXB Tài Chính); Bài giảng Phân tích tài chính doanh nghiệp (PGS.TS Trương Bá Thanh (lớp cao học)) Ngoài ra, một
số nghiên cứu khoa học và luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu như:
Nghiên cứu của Hoàng Ngọc Minh Hiếu (2013) với đề tài: “Hoàn thiện
phân tích báo cáo tài chính khách hàng tại Ngân hàng TMCP Phương Đông -
Chi nhánh Trung Việt”, đã tổng hợp lý luận về tín dụng ngân hàng, báo cáo tài chính và công tác phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp vay vốn tại NHTM Khái quát được tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP
Phương Đông - CN Trung Việt Đồng thời đánh giá thực trạng công tác phân
tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp để phục vụ công tác ra quyết định cấp tín dụng Từ việc phân tích thực trạng, đã nêu lên được những kết quả đạt được, những khó khăn, hạn chế trong công tác phân tích báo cáo tài chính của doanh
nghiệp vay vốn tại ngân hàng TMCP Phương Đông - CN Trung Việt Trên cơ sở
nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tế về công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp, luận văn đã đề xuất các nội dung, phương pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng
Trang 14TMCP Phương Đông - CN Trung Việt Nhận xét chung các giải pháp và hướng
xây dựng rất rõ ràng và thực tế, có thể đưa vào triển khai áp dụng
Tác giả Phạm Việt Hòa (2012) với nghiên cứu: “Hoàn thiện phân tích
báo cáo tài chính khách hàng tại Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam -
chi nhánh Bình Định”, đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về báo cáo tài chính, nội dung và các phương pháp thường được sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp Trình bày khái quát thực trạng công tác phân tích báo cáo tài chính tại công ty TNHH Xây dựng tổng hợp Minh Phương và công ty Cổ phần lương thực Bình Định và đã đưa ra một số nhận xét và hướng hoàn thiện Tuy nhiên trong phần giải pháp tác giả chưa đề xuất việc bổ sung công tác phân tích dòng tiền thông qua BCLCTT, chưa đề cao tầm quan trọng của việc thiếu BCLCTT trong công tác phân tích, một hạn chế nữa là luận văn có đề xuất xây dựng chỉ tiêu trung bình ngành cho các nhóm ngành kinh doanh nhưng vẫn chưa đưa ra cách thức xây dựng cụ thể…
Cũng viết về công tác phân tích BCTC của khách hàng vay vốn tại ngân hàng, Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Xuân Lan (2011), với đề tài:
“Hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp của Navibank
Đà Nẵng” đã phân tích mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu dựa vào các phương pháp phân tích như so sánh, chi tiết, loại trừ, liên hệ và phương pháp Dupont Nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp Trong nghiên cứu đã lấy ví dụ minh họa là hai doanh nghiệp cụ thể vay vốn tại Ngân hàng là công ty TNHH Vĩnh Khoa
và Công ty Cổ phần Mỹ Phát, khi tiến hành việc phân tích chưa xoáy sâu vào tình hình kinh doanh của một doanh nghiệp cụ thể, phần phân tích vẫn còn khá sơ sài Và khi kết thúc nội dung phân tích thì vẫn chưa thấy đưa ra phần nhận xét đánh giá và đề xuất của cán bộ TD sau khi phân tích BCTC
Với các đề tài nghiên cứu về công tác phân tích BCTC của các NHTM, tác giả cũng tham khảo nghiên cứu Hoàn thiện công tác phân tích tình hình tài
Trang 15chính các doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải - Chi nhánh
Đà Nẵng, của tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc (2010) Nghiên cứu đã nêu được quy trình thu thập, xử lý thông tin, cũng như các công cụ, báo cáo cần thiết phục vụ cho công tác phân tích BCTC doanh nghiệp Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã đề ra giải pháp hoàn thiện công tác thu thập, xử lý thông tin Tuy nhiên các vấn đề mà nghiên cứu đưa ra còn mang tính chất chung chung, chưa
đi vào trường hợp cụ thể cũng như chưa đưa ra công cụ hỗ trợ cho việc phân tích báo cáo tài chính như hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ hoặc công cụ hỗ trợ việc tính toán các chỉ tiêu tài chính
Như vậy, hoàn thiện công tác phân tích BCTC doanh nghiệp vay vốn tại NHTM là đề tài đã được một số tác giả nghiên cứu Tuy nhiên công tác phân tích BCTC của những doanh nghiệp vay vốn không giống nhau ở tại mỗi đơn vị khác nhau Tại NHTM Việt Á chi nhánh Hội An thì công tác này vẫn chưa được phản ánh rõ ràng, chưa chỉ ra được những tồn tại cần phải khắc phục cụ thể, với đề tài “Hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính
doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Việt Á - Chi nhánh Hội An” là
một đề tài chưa được tác giả nào nghiên cứu trước đây Kế thừa và phát triển các nghiên cứu trước, luận văn tiếp tục nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng của công tác phân tích BCTC của khách hàng vay vốn tại Ngân hàng TMCP
Việt Á - Chi nhánh Hội An nhằm khẳng định thêm tính thiết thực và hiệu quả
mang lại của công tác này Việc nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này có ý
nghĩa cả về lý luận và thực tiễn giúp Ngân hàng TMCP Việt Á - Chi nhánh
Hội An đánh giá được những kết quả đã đạt được trong công tác phân tích BCTC doanh nghiệp đồng thời nhận ra được những tồn tại và khắc phục, cải thiện những tồn tại đó, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng tại đơn vị
Trang 16Cũng như quan hệ tín dụng khác, TDNH chứa đựng ba nội dung:
- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho
người sử dụng, nghĩa là người đi vay được quyền sử dụng số tiền vay theo đúng như mục đích đã thỏa thuận với NH
- Sự chuyển nhượng này mang tính tạm thời hay có thời gian: bên đi
vay phải trả vô điều kiện số tiền đã vay của NH trong một khoảng thời gian nhất định theo sự thỏa thuận của hai bên
- Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí: bên đi vay phải trả cho
NH một số tiền nhất định để được quyền sử dụng vốn và được thể hiện cụ thể bằng lãi suất vay
- TDNH là hoạt động mà NH cấp tín dụng cho KH dưới hình thức cho
vay, bảo lãnh, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá, bao thanh toán, cho thuê tài chính và các hình thức khác
Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, định nghĩa hoạt động cấp tín dụng là “việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc
Trang 17cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”
Trong đó:
+ Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
+ Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho
KH khi KH không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết KH phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD theo thỏa thuận
+ Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán
+ Hoạt động cho thuê tài chính là việc cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính
Hoạt động cho vay của NHTM là hình thức cấp tín dụng phổ biến, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các hình thức cấp tín dụng Đó là hoạt động mà theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền
để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.[5]
b Đặc trưng của tín dụng
- Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn Để đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn, người cho vay thường xác định rõ thời gian cho vay Việc xác định thời hạn đó dựa vào[5]:
Trang 18+ Quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay Có nghĩa là thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì lúc
đó người vay mới có điều kiện để trả nợ
+ Nếu thời hạn cho vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì khi đến hạn khách hàng chưa có nguồn để trả nợ, sẽ gây khó khăn cho khách hàng Ngược lại, nếu thời hạn cho vay lớn hơn chu kỳ luân chuyển vốn
sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích và không
có nguồn để trả nợ, nhưng nếu có nguồn thu nhập khác ngoài nguồn thu chính thì có thể trả nợ từ nguồn đó Vì vậy, thời hạn cho vay không chỉ dựa vào chu
kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay mà còn phải dựa vào tính chất vốn của người cho vay: Nếu vốn của người cho vay ổn định thì thời hạn cho vay có thể dài hơn và ngược lại thì thời hạn cho vay phải ngắn hơn để đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng
- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên
tắc phải hoàn trả gốc và lãi Đây là thuộc tính riêng của tín dụng Vì vốn cho vay của ngân hàng là vốn huy động của những người tạm thời thừa nên sau một thời gian nhất định ngân hàng phải trả lại cho người ký thác Mặt khác, ngân hàng cần phải có nguồn để bù đắp chi phí hoạt động như: Khấu hao tài sản cố định, trả lương cán bộ công nhân viên, chí phí văn phòng phẩm…nên người vay vốn ngoài việc trả nợ gốc còn phải trả lãi cho ngân hàng
c Vai trò của tín dụng ngân hàng
Trong xã hội luôn có một số người thừa vốn cần đầu tư và một số người thiếu vốn muốn đi vay Song những người này khó có thể trực tiếp gặp nhau để cho nhau vay hoặc có thể gặp nhau thì chi phí rất cao và không kịp thời, nên tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa người có vốn cà người cần vốn
để giải quyết nhu cầu thoả đáng trong mối quan hệ này
Trang 19Nghĩa là tín dụng ngân hàng thu hút tập trung mọi nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế, dân cư để đầu tư cho quá trình mở rộng sản xuất, tăng trưởng kinh tế, đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốn, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, tăng tốc độ chu chuyển vốn cho xã hội, góp phần thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển bền vững
Thông qua tín dụng ngân hàng, có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông Thực hiện yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ Mặt khác, tín dụng ngân hàng còn thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường chế
độ hạch toán kinh doanh, giúp cho các doanh nghiệp khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh Đồng thời tín dụng ngân hàng còn tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài, là cầu nối cho việc giao lưu kinh tế và là phương tiện để thắt chặt mối quan hệ kinh
tế với các nước trên thế giới [5]
1.1.2 Rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng
Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hoạt động với các nghiệp vụ truyền thống là chủ yếu trong đó tín dụng là hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu nhất cho các ngân hàng Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động rất dễ xảy ra rủi ro và nếu rủi ro xảy ra thường gây những thiệt hại nghiêm trọng đối với ngân hàng, gây ảnh hưởng tới sự an toàn hoạt động của bản thân ngân hàng và
cả hệ thống ngân hàng Qua con số về tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ kê đọng lại các ngân hàng thương mại (NHTM) trong thời gian qua chứng tỏ rủi ro tín dụng là vấn đề đang cần được quan tâm
Mặc dù trong thời gian gần đây, tỷ lệ nợ quá hạn và nợ kê đọng của các NHTM Việt Nam đang có xu hướng giảm đáng kể do thực hiện những biện pháp như kiểm soát chặt chẽ chất lượng cho vay, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay đối với nợ đọng, trích lập và sử dụng dự hòng rủi ro…nhưng trong thực tiễn, tiềm ẩn rủi ro đang vẫn lớn do tốc độ gia tăng tín dụng, những biến động
Trang 20phức tạp của giá cả một số loại nguyên nhiên vật liệu đầu vào, xu hướng đầu
tư vốn lớn vào thị trường bất động sản, tình trạng ứ đọng trong xây dựng cơ bản…điều này đã buộc Ngân hàng Nhà nước cũng như các tổ chức tín dụng phải hết sức quan tâm đến chất lượng tín dụng nhằm hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất có thể [5]
a Khái niệm
Rủi ro tín dụng là những nguy cơ dẫn đến những tổn thất tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu Rủi ro tín dụng xảy ra khi người cho vay không trả hoặc không hoàn trả đúng hạn hoặc không trả đầy đủ gốc và lãi cho ngân hàng Như vậy rủi ro tín dụng liên quan đến khả năng trả nợ của khách hàng
Có hai thể hiện đó là rủi ro mất vốn và rủi ro sai lệch:
+ Với rủi ro mất vốn: Coi như ngân hàng đã bị thiệt hại và làm giảm hiệu quả kinh doanh của mình
+ Với rủi ro sai lệch: Đây cũng được coi là rủi ro vì khi đến hạn khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng dẫn đến xác suất xảy ra khả năng mất vốn là rất cao Mặt khác, ngân hàng phải mất thêm những chi phí nhất định đó
là chi phí tăng cường, giám sát, tư vấn, đòi nợ hay mất đi những cơ hội đầu tư vào những khoản vay mới, tìm kiếm lợi nhuận mới [5]
b Nguyên nhân dẫn đến rủi ro
Như vậy rủi ro là luôn luôn đồng hành với hoạt động tín dụng ngân hàng Để hạn chế được nó ta phải xem xét các nguyên nhân dẫn đến rủi ro
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro nhưng nhìn chung có những nguyên nhân chính sau [5]:
* Nguyên nhân chung
Do nền kinh tế suy thoái, sự thiếu nợ đồng bộ, thiếu hợp lý trong chính sách của Nhà nước, những biến động, khủng hoảng chính trị trong nước và trong khu vực, hoặc do những điều kiện tự nhiên: Khí hậu, bão, lũ lụt…
Trang 21* Nguyên nhân từ phía khách hàng
+ Đối với khách hàng là cá nhân:
Do sự suy giảm thu nhập làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp bao gồm: Thu nhập chu kỳ, thu nhập cơ cấu, công ty phá sản, sức khoẻ giảm, năng lực trình độ kém bị sa thải…hoặc do người vay bị gặp sự cố bất thường trong cuộc sống: tai nạn, ốm đau, li dị hoặc chết
Rủi ro cũng có thể đến với ngân hàng khi họ hoạch định ngân quỹ không chính xác, không có sự nhất quán trong việc sử dụng chi tiêu hay cố ý
bỏ chốn, lừa đảo ngân hàng
+ Đối với khách hàng là doanh nghiệp:
• Doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh bị thua lỗ, kém hiệu quả
• Doanh nghiệp sử dụng vốn vay sai mục đích
• Năng lực quản lý điều hành của Ban lãnh đạo thấp kém, lựa chọn hướng đi chưa phù hợp, sử dụng vốn kém hiệu quả và không có khả năng chống đỡ khi có sự biến động của thị trường
• Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực, ngành nghề có xu hướng suy thoái Những doanh nghiệp có chi phí cố định cao sẽ chịu rủi ro cao hoặc doanh nghiệp vay nợ quá nhiều trong quá khứ Sự suy giảm này làm giảm lợi nhuận và khả năng trả nợ cho những khoản vay mới là khó khăn
• Doanh nghiệp gặp rủi ro tài chính: là khả năng của doanh nghiệp không đối phó được với việc trả nợ do sử dụng vay nợ đầu tư cho tài sản cố định hoặc bị chiếm dụng vốn trong một thời gian dài
• Doanh nghiệp cố tình lừa dối ngân hàng: Có những hợp đồng giả mạo, đi mượn tài sản cố định nhằm quảng bá doanh nghiệp …
* Nguyên nhân từ phía ngân hàng
+ Do chính sách tín dụng chưa hợp lý: Quá nhiều mục tiêu lợi nhuận, mở
Trang 22hợp lý; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ việc phân tích, đánh giá khách hàng trước khi cho vay, trong khi cho vay hoặc sau khi cho vay
+ Thực hiện không tốt công giám sát tín dụng, do thông tin không thu thập đầy đủ hoặc sự sai lệch thông tin
+ Có sơ hở trong việc lập và ký kết các hợp đồng tín dụng Việc xác định mức cho vay và thời hạn cho vay không hợp lý
+ Công tác tuyển dụng nhân sự chưa tốt từ khâu tuyển dụng, bố trí sắp xếp, đào tạo dẫn đến trình độ cán bộ yếu kém cả về kỹ năng nghiệp vụ, tầm hiểu biết…
+ Cán bộ ngân hàng vi phạm đạo đức nghề nghiệp
+ Ngân hàng không thực hiện tốt các bảo đảm tín dụng, không tuân thủ các quy định pháp lý về tài sản bảo đảm
* Nguyên nhân từ bảo đảm tín dụng
+ Với bảo đảm bằng đối vật: do giá trị tài sản bảo đảm giảm giá trị (giảm giá trị thị trường hoặc hao mòn do sử dụng) Ngân hàng có thể gặp rủi
ro trong việc tiếp cận, nắm giữ tài sản bảo đảm…
+ Với bảo đảm bằng đối nhân (bảo lãnh): Người bảo lãnh từ chối, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán
Vậy nguyên nhân đến với ngân hàng chủ yếu là do các nhóm trên Song tựu chung lại, dù nguyên nhân đến với ngân hàng từ phía nào thì chủ yếu cũng do công tác hoạch định chiến lược, kiểm soát của Ban lãnh đạo ngân hàng cũng như trình độ yếu kém cả về năng lực và đạo đức của cán bộ tín dụng, việc thẩm định đánh giá khách hàng không tốt Nên để giảm thiểu rủi ro tín dụng, những vấn đề trên thường xuyên được khắc phục, củng cố và nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng [5]
Trang 231.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm phân tích BCTC
Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp đối với NHTM là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ cho phép thu thập và xử lý thông tin
kế toán và các thông tin khác nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của khách hàng giúp ngân hàng đưa ra các quyết định tài trợ [8]
Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp tại các NHTM thực chất là xác định rõ hiện trạng tài chính khách hàng về giá trị tài sản, công nợ, nhu cầu tài trợ, tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng hoàn trả vốn vay… để dự báo tình hình tài chính trong tương lai của khách hàng và dự đoán những trường hợp xấu nhất ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng
Hay nói các khác phân tích báo cáo tài chính là chỉ rõ những gì đang xảy ra đằng sau những chỉ tiêu tài chính nhằm xác định được giá trị tài sản, tình hình nợ, khả năng trả nợ của khách hàng
Theo TS Phan Đức Dũng (2009) thì Phân tích báo cáo tài chính là quá trình thu thập thông tin, xem xét, đối chiếu, so sánh số liệu về tình hình tài chính hiện hành và quá khứ của doanh nghiệp, giữa đơn vị và chỉ tiêu bình quân ngành để từ đó có thể xác định được thực trạng tài chính và tiên đoán cho tương lai về xu hướng, tiềm năng kinh tế của doanh nghiệp nhằm xác lập một giái pháp kinh tế, điều hành, quản lý, khai thác có hiệu quả [2]
1.2.2 Mục đích của công tác phân tích BCTC
Hệ thống Báo cáo tài chính phản ánh các chỉ tiêu giá trị về tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản, kết quả hoạt động kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ tại một thời điểm, thời kỳ nhất định, nó giúp cho việc cung cấp thông tin tài chính phục vụ cho điều hành, quản lý của chủ doanh nghiệp cũng như các cơ quan tài chính, ngân hàng, Mỗi đối tượng khác nhau thì quan tâm
Trang 24đến BCTC và phân tích chúng với mức độ khác nhau Tuy nhiên, dù đó là nhà đầu tư hay ngân hàng hay một nhà phân tích tham mưu của công ty đang được phân tích, tất cả đều có mục đích chung là tìm hiểu, nghiên cứu các thông tin
để phục vụ cho việc ra quyết định của họ [6] Cụ thể:
+ Đối với chủ doanh nghiệp, BCTC cung cấp thông tin tổng quát về tài sản, nguồn vốn, kết quả kinh doanh và triển vọng tài chính của doanh nghiệp Thông qua phân tích BCTC mà các nhà quản trị có bức tranh toàn cảnh về tình hình tài chính, các xu hướng phát triển, các ưu và nhược điểm trong hoạt động của công ty Qua đó, thực hiện được mục tiêu kiểm soát nội bộ và nắm bắt được nhiều thông tin hơn về điều kiện và hiệu quả tài chính của công ty Trong kiểm soát nội bộ, nhà quản trị đặc biệt quan tâm đến thu nhập trên đầu
tư và hiệu quả trong công tác quản trị tài sản Mặt khác, để thương lượng hiệu quả với các nguồn bên ngoài, nhà quản trị tài chính cần phải điểu chỉnh tất cả các phương diện phân tích tài chính để câc nhà cung cấp vốn bên ngoài sử dụng và đánh giá về công ty
+ Đối với các cổ đông, những người góp vốn, người lao động, mối lo lắng của họ gắn với vốn đầu tư mà họ đã bỏ vào trong công ty Với họ, điều băn khoăn là khả năng thu hồi vốn bỏ ra, khả năng sinh lợi và những rủi ro gắn với khoản đầu tư của họ Thu nhập hiện tại và thu nhập kỳ vọng cũng như khả năng ổn định dòng thu nhập là điều mà họ quan tâm Vì vậy, phân tích BCTC cung cấp các thông tin cần thiết để tìm hiểu các yếu tố rủi ro, khả năng hoàn vốn, khả năng bảo toàn và khả năng thanh toán vốn, sự tăng trưởng Cụ thể hơn họ ước lượng được quan hệ giữa giá trị hiện tại và giá trị tương lai mà
họ có thể đạt được Hơn nữa, họ còn nghiên cứu thu nhập hoạt động, chính sách chia lãi cho cổ đông và đặc biệt họ còn tìm ra được các yếu tố tiềm năng
để trả lời những câu hỏi như: công ty đang duy trì cơ cấu như thế nào, những rủi ro và cơ hội có thể có…
Trang 25+ Đối với các cơ quan tài chính, thuế, kiểm toán,… BCTC cung cấp thông tin tổng quát về tình hình tài chính, tình hình tranh chấp chế độ thu nộp,
kỷ luật tín dụng và tương lai phát triển của doanh nghiệp… từ đó giúp kiểm tra hướng dẫn và tư vấn cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động
+ Xét riêng đối với ngân hàng thì công tác phân tích BCTC doanh nghiệp là một khâu quan trọng trong quá trình thẩm định cho vay của mình Mục đích của công tác phân tích này giúp ngân hàng có thể nhìn nhận một cách logic tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và xu hướng phát triển trong tương lai Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp có thể đánh giá được rủi ro của doanh nghiệp, đặc biệt là rủi ro
về khả năng thanh toán ở hiện tại và tương lai, và quyết định có nên cho doanh nghiệp vay không và mức độ rủi ro mà ngân hàng gánh chịu khi chấp nhận cho doanh nghiệp vay, cho vay với số lượng là bao nhiêu Phân tích BCTC không chỉ giúp ngân hàng đưa ra quyết định đúng đắn khi tiến hành xét duyệt các khoản cho vay mà còn trong cả quá trình cho vay Trong thời hạn cho vay, doanh nghiệp vẫn có nghĩa vụ cung cấp cho ngân hàng các báo cáo tài chính, các thông tin về tình hình tài chính của mình, qua đó ngân hàng
có thể phát hiện những dấu hiệu xấu về tình hình tài chính của doanh nghiệp
đó và thu hồi các khoản vay trước hạn Ngoài ra phân tích BCTC còn giúp ngân hàng xây dựng kế hoạch cho vay Trên cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh và tài chính của mỗi doanh nghiệp, ngân hàng có thể đánh giá nhu cầu vốn ngắn hạn, trung và dài hạn, từ đó có chiến lược huy động vốn phù hợp, tránh lãng phí và đạt hiệu quả cao nhất Đồng thời, ngân hàng có thể biết được xu hướng phát triển của từng giai đoạn, từng lĩnh vực kinh tế, lập kế hoạch cung cấp tín dụng hướng vào lĩnh vực có khả năng phát triển mạnh trong tương lai Xây dựng kế hoạch tín dụng phù hợp sẽ giúp ngân hàng nâng
Trang 26cao hiệu quả cho vay, đem lại lợi nhuận cao cũng như góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế của nhà nước [6]
Như vậy nội dung cơ bản nhất về tình hình tài chính của một công ty được thể hiện ngay trong các BCTC, tùy thuộc vào từng chủ thể nghiên cứu
mà việc phân tích BCTC sẽ đem lại những mục đích nhất định cho từng đối
tượng quan tâm
1.2.3 Nguồn thông tin phục vụ phân tích BCTC
a Bảng cân đối kế toán (BCĐKT)
BCĐKT là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ảnh tổng quát tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp dưới hình thái tiền tệ tại một thời điểm nhất định Thời điểm đó thường là ngày cuối tháng, cuối quý, cuối năm [9]
BCĐKT phản ánh hai nội dung cơ bản là nguồn vốn và tài sản Nguồn vốn phản ánh nguồn vốn được huy động vào sản xuất kinh doanh Về mặt pháp lý, nguồn vốn cho thấy trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh với Nhà nước, số tài sản đã hình thành bằng nguồn vốn vay ngân hàng, vay đối tượng khác, cũng như trách nhiệm phải thanh toán với người lao động, cổ đông, nhà cung cấp, trái chủ, ngân sách Phần tài sản phản ánh quy mô và cơ cấu các loại tài sản hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp, năng lực và trình độ sử dụng tài sản Về mặt pháp lý, phần tài sản thể hiện tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền quản lý, sử dụng lâu dài, gắn với mục đích thu được các khoản lợi nhuận
BCĐKT là tài liệu quan trọng bậc nhất giúp cho nhà phân tích nghiên cứu đánh giá một cách khái quát tình hình và kết quả kinh doanh, khả năng cân bằng tài chính, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp
Trang 27b Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BC KQHĐKD)
BC KQHĐKD là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ (quý, năm) chi tiết theo các loại hoạt động, tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp với Nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác [9]
Dựa vào số liệu trên BC KQHĐKD, người sử dụng thông tin có thể kiểm tra, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong
kỳ đó , so sánh với kỳ trước và với doanh nghiệp khác để nhận biết khái quát hoạt động trong kỳ và xu hướng vận động trong thời gian tới
c Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT)
BCLCTT là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh theo các hoạt động khác nhau trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp BCLCTT được lập để trả lời những câu hỏi liên quan đến luồng tiền ra vào trong doanh nghiệp, tình hình trả nợ, đầu tư bằng tiền của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
BCLCTT cung cấp những thông tin về những luồng vào, ra của tiền và những khoản coi như tiền, những khoản đầu tư ngắn hạn có tính lưu động cao,
có thể nhanh chóng và sẵn sàng chuyển đổi thành một khoản tiền biết trước ít chịu rủi ro lỗ về giá trị do những sự thay đổi về lãi suất Những luồng vào ra của tiền và những khoản coi như tiền được tổng hợp thành ba nhóm: lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu
tư, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính và lập theo hai phương pháp trực tiếp và gián tiếp [9]
d Thuyết minh báo cáo tài chính
Khi phân tích tài chính doanh nghiệp, nhà phân tích cần sử dụng thêm các
dữ liệu chi tiết từ thuyết minh BCTC hoặc các báo cáo kế toán nội bộ để hệ thống chỉ tiêu phân tích được đầy đủ hơn, đồng thời khắc phục tính tổng hợp của số liệu thể hiện trên bảng cân đối kế toán và báo cáo lãi lỗ
Trang 28Các BCTC trong doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau, mỗi
sự thay đổi của một chỉ tiêu trong báo cáo này trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến các báo cáo kia, trình tự đọc hiểu được các BCTC, qua đó họ nhận biết được và tập trung vào các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu phân tích của họ [9]
e Nguồn thông tin khác
Từ nội bộ doanh nghiệp: thông tin này có được từ các cuộc điều tra phỏng vấn trực tiếp Đây là các thông tin cần thiết để bổ sung thêm cho công tác phân tích tài chính, bởi vì nó giúp cho CBTD có thể kiểm tra lại các số liệu trên các BCTC, ngoài ra còn giúp cho CBTD có cái nhìn khách quan và thực tế hơn về tình hình hoạt động của doanh nghiệp có hoặc một phần không được phản ánh trên các BCTC
Trong thực tế hiện nay, nguồn thông tin quan trọng nhất được sử dụng là các BCTC của doanh nghiệp Doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp các BCTC cho nhiều đối tượng khác nhau không chỉ các NHTM Để phân tích tài chính doanh nghiệp đạt được kết quả cao, CBTD ngoài các kĩ năng chuyên môn về phân tích các BCTC còn phải kết hợp các nguồn thông tin bên ngoài và những quan sát thực tế của bản thân, từ đó CBTD có thể loại trừ những thông tin kém trung thực để đưa ra những đánh giá chính xác về tình hình tài chính cơ bản của doanh nghiệp, đánh giá được điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp một cách trung thực nhất [9]
1.2.4 Phương pháp phân tích BCTC doanh nghiệp vay vốn tại NHTM
Trang 29chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích được lựa chọn là
kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể lựa chọn bằng số tuyệt đối,
số tương đối hoặc bình quân, [10] bao gồm:
- So sánh giữa số thực hiện trong kỳ này với số thực hiện trong kỳ trước
để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp, nhằm đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu
của doanh nghiệp
- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình ngành của
các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu, được hay chưa được
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với
tổng thể, so sánh chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số lượng tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp
b Phương pháp tỉ số
Đây là phương pháp truyền thống, được sử dụng phổ biến trong phân tích tài chính Phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện, [10] bởi lẽ:
Thứ nhất, nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và được cung cấp đầy đủ hơn Đó là cơ sở hình thành các chỉ tiêu tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ lệ tài chính của doanh nghiệp
Thứ hai, việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ
Thứ ba, phương pháp phân tích này giúp cho nhà phân tích khai thác có hiệu quả các số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn
Trang 30Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với các
tỷ lệ tham chiếu Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tùy theo góc độ phân tích, CBTD lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích của mình
c Phương pháp DUPONT
Là phương pháp tách một tỷ số tổng hợp thành tích của chuỗi các tỷ số
có mối liên hệ với nhau Điều đó cho phép phân tích những ảnh hưởng của các tỷ số thành phần đối với tỷ số tổng hợp Với phương pháp này, nhà phân tích tìm ra được các mối liên hệ giữa các tỷ số tính toán được
Phương pháp phân tích Dupont giúp ta rút ra những kết luận về tình hình tài chính của DN trên tất cả các phương diện là tốt hay xấu thông qua các thông số, sau đó thực hiện các công việc sau [10]:
- Xác định nguyên nhân và tính toán mức độ ảnh hưởng các nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích
- Xác định và dự đoán những nhân tố kinh tế xã hội tác động đến tình hình kinh doanh của DN
- Tổng hợp kết quả, rút ra nhận xét, kết luận về tình hình tài chính của DN
Trang 311.3 NỘI DUNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH BCTC DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NHTM
1.3.1 Dữ liệu phân tích BCTC doanh nghiệp
a Thu thập và xử lý thông tin của khách hàng
Để đạt được hiệu quả cao trong phân tích BCTC DN, việc thu thập và
xử lý thông tin của khách hàng là công việc quan trọng đầu tiên, việc thu thập phải được thực hiện toàn diện và khách quan Chất lượng thông tin đưa vào phân tích có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả phân tích BCTC của khách hàng, qua đó ảnh hưởng đến quyết địn cho vay Chất lượng thông tin thể hiện ở các thuộc tính sau: Đầy đủ, kịp thời, chính xác Chỉ khi nào thông tin thu thập được với đầy đủ các thuộc tính trên thì mới được xem là thông tin có chất lượng và là thông tin hữu ích cho quá trình phân tích
Sau khi thu thập thông tin của khách hàng vay vốn, công việc tiếp theo
là xử lý thông tin của khách hàng, việc xử lý đòi hỏi phải đi vào đánh giá doanh nghiệp trên các mặt sau [6]:
- Đánh giá bản thân doanh nghiệp về các mặt nhân sự, các phương tiện tài chính (nguồn vốn), các phương tiện sản xuất, kinh doanh (các loại tài sản), những nguy cơ mà doanh nghiệp phải gánh chịu nếu có sự biến động
- Đánh giá về sản phẩm
- Đánh giá về thị trường
- Đánh giá môi trường kinh tế và chính trị
- Đánh giá nguy cơ phá sản của doanh nghiệp
* Đánh giá toàn bộ doanh nghiệp nhằm trả lời cho câu hỏi:
Liệu doanh nghiệp có khả năng về các tham vọng mà doanh nghiệp đưa
ra không?
- Yếu tố chung: Những yếu tố cần phải làm nổi bật như: người lãnh đạo,
cơ cấu doanh nghiệp (vốn, công cụ sản xuất, phương tiện tài chính, phạm vị
Trang 32địa lý hoạt động), các sản phẩm hiện tại của doanh nghiệp, thị trường và điều kiện môi trường kinh tế xã hội mà doanh nghiệp hoạt động Qua đó, tiên liệu
về khả năng của người lãnh đạo trong việc làm chủ vị trí của họ trên thị trường ở những năm sắp đến hay không
- Đánh giá kết quả đạt được: Nhân viên tín dụng cần tìm hiểu về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian qua về các chỉ tiêu như sự biến động về thị trường (mở rộng hay duy trì, hay thu hẹp) thông qua chỉ tiêu doanh số, khả năng vận hành tốt các dự kiến trước đây, khả năng thực thi các
dự kiến ở tương lai Ngoài ra, nhân viên tín dụng cần phải xem xét các điều kiện hoạt động như khả năng làm chủ các chi phí sản xuất, chênh lệch giữa giá bán và giá vốn, khả năng tạo ra lãi gộp, lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế so với các đối thủ cạnh tranh hay khả năng điều chỉnh nhanh chóng mức độ hoạt động và sự thay đổi của nhu cầu Ngoài ra, nhân viên tín dụng cần tìm hiểu về khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp Đây là yếu tố có tính chất quyết định đến tương lai của doanh nghiệp bởi trước mắt, doanh nghiệp
có thể vay nhưng sau đó phải tạo ra một khả năng sinh lợi lớn hơn để giảm thiểu nhu cầu vay của doanh nghiệp đối với ngân hàng
b Thẩm định BCTC khách hàng
* Chọn loại báo cáo để thẩm định
Trong hệ thống báo cáo kế toán DN có hai loại báo cáo chủ yếu là BCTC
và báo cáo kế toán nội bộ khác của doanh nghiệp Báo cáo tài chính doanh nghiệp, bao gồm: Bảng cân đối kế toán (BCĐKT); Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BCKQHĐKD), Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT) và Thuyết minh báo cáo tài chính (TMBCTC) Báo cáo tài chính của doanh nghiệp là báo cáo được phát hành ra bên ngoài mang tính hợp pháp của doanh nghiệp
và nó phản ảnh các thông tin tổng hợp nhất về tình hình tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu, công nợ, tình hình lưu chuyển tiền tệ cũng như tình hình tài chính
Trang 33và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ kinh doanh nhất định Do vậy NHTM thường lựa chọn BCTC DN để phân tích tình hình hoạt động tài chính cũng như khả năng thanh toán và khả năng trả nợ vay của
khách hàng trước khi ngân hàng làm các thủ tục cho khách hàng vay [4]
* Kiểm tra tính tuân thủ của BCTC
Kiểm tra tính tuân thủ của BCTC của khách hàng là ngân hàng xem xét BCTC của khách hàng có phù hợp với các quy định hiện hành trước khi ngân hàng làm các thủ tục cho khách hàng vay:
- Kiểm tra BCTC DN (Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Thuyết minh báo cái tài chính, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ) của khách hàng được thiết lập đúng có theo quy định hiện hành hay không, BCTC khách hàng cung cấp có đầy đủ hay không, BCTC của khách hàng đã được kiểm toán hay chưa, ngay khi BCTC khách hàng đã được kiểm toán thì ngân hàng cũng phải sử dụng BCTC của khách hàng một cách thận trọng
- Kiểm tra sự trình bày và khai báo số liệu trên BCTC khách hàng tuân thủ với các quy định hiện hành của pháp luật, chế độ kế toán nhà nước, phù hợp với các chuẩn mực kế toán Việt Nam Điều lệ quy định của DN và các thông lệ của quốc tế mà Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký giao ước
- Kiểm tra trên bảng cân đối kế toán của khách hàng về các khoản phải thu, phải trả, việc hạch toán hàng tồn kho, xác định nguyên giá tài sản và trích khấu hao tài sản cố định, việc xác định giá trị các khoản đầu tư tài chính…có hợp phù hợp với các quy định của Pháp luật, chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành về hạch toán các khoản phải thu, phải trả, hàng tồn kho, tài sản cố định, đầu tư tài chính…hay không
- Kiểm tra trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của khách hàng việc ghi nhận doanh thu và giá vốn và phân bổ chi phí bán hàng, chi phí quản
lý doanh nghiệp và xác định lợi nhuận có phù hợp có phù hợp với các quy
Trang 34định của Pháp luật và chuẩn mực kế toán độ, kế toán Việt Nam hiện hành về hạch toán doanh thu, gái vốn, chi phí và xác định lợi nhuận của doanh nghiệp
* Kiểm tra tính trung thực của BCTC
Kiểm tra tính trng thực của BCTC của khách hang là ngân hang kiểm tra xem BCTC của khách hàng đã lập có đúng quy định hay không trước khi ngân hang làm các thủ tục cho khách hang vay [4]:
- Kiểm tra BCTC (Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh, Thuyết minh báo cáo tài chính, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ) có đúng là của đơn vị đó đã phát hành hay không
- Đối chiếu với BCTC của khách hàng đã gửi các cơ quan khác như:
Thuế, Kế hoạch đầu tư, Thống kê, đồng thời gửi thư cho khách hàng xác nhận để xác nhận tính trung thực của BCTC khách hàng
- Kiểm tra sự trình bày và khai báo các số liệu trong BCTC của khách
hàng có đảm bảo tính trung thực hay chưa, BCTC của DN được lập có phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành và có đúng theo các biểu mẫu quy định hay không
- Dựa vào số liệu đã được trình bày và khai báo trong BCTC của DN,
cán bộ ngân hàng tính toán, kiểm tra lại để đánh giá, kiểm chứng BCTC khách hàng đó lập đã đảm bảo tính trung thực và phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành hay chưa
Trên cơ sở xác định BCTC của khách hàng lập đã đảm bảo tính trung thực, hợp lý và phù hợp với các quy định hiện hành thì ngân hàng tiến hành công tác phân tích BCTC khách hàng
1.3.2 Phân tích BCTC doanh nghiệp phục vụ cho vay
Phân tích BCTC được các NHTM sử dụng nhằm đánh giá khả năng trả
nợ của doanh nghiệp, đây là yếu tố quan trọng để ban lãnh đạo các NHTM ra quyết định có cấp tín dụng cho doanh nghiệp hay không? Vì vậy khi phân tích
Trang 35BCTC, cán bộ tín dụng (CBTD) đặc biệt chú ý đến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp
Bên cạnh đó, CBTD cũng rất quan tâm tới số vốn của chủ sở hữu, bởi vì
số vốn này là khoản bảo hiểm cho các NHTM trong trường hợp doanh nghiệp
bị rủi ro Như vậy, kỹ thuật phân tích có thể thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của các khoản nợ, nhưng cho dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì ngân hàng cũng đều quan tâm phải quan tâm đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp nó biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay
Chính vì vậy sau khi xử lý thông tin và đánh giá mức độ tin cậy của BCTC, bước tiếp theo trong thẩm định tài chính doanh nghiệp là phân tích các BCTC Khi tiến hành phân tích các BCTC các ngân hàng thường lấy số liệu
từ 02 đến 03 năm gần nhất [1]
a Phân tích khái quát BCTC khách hàng
* Phân tích cấu trúc và cân bằng tài chính
(1) Phân tích cấu trúc tài sản
Phân tích cấu trúc tài sản nhằm đánh giá những đặc trưng trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, tính hợp lý khi đầu tư vốn cho họat động kinh doanh Khi phân tích cấu trúc tài sản cần chú ý đến các chỉ tiêu sau: Các thông tin về qui mô tài sản, khả năng quản lý tài sản của khách hàng Điều này ảnh hưởng lớn đến quyết định cho vay của ngân hàng bởi tài sản của khách hàng luôn được coi là một phần tài sản đảm bảo cho khoản vay, đảm bảo khả năng thu hồi nợ khi khách hàng mất khả năng thanh toán, cụ thể:
- Tiền và các khoản tương đương tiền: Bao gồm tiền gửi ngân hàng, tiền mặt trong két, các khoản phải thu Tiền gửi và tiền mặt là tài sản có thể dùng
để chi trả ngay, song thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản của khách hàng Các khoản phải thu (chủ yếu là tiền bán hàng hóa và dịch vụ chưa thu
Trang 36được tiền) luôn có khả năng chuyển thành tiền gửi hoặc tiền mặt Ngân hàng cần xem xét kỹ khoản này để loại trừ các khoản bán chịu không thu được, khó thu được hoặc đã bán lại cho người khác Các khoản cho vay ngắn hạn liên quan chặt chẽ tới tình hình ngân quỹ của khách hàng, đặc biệt thời hạn cho vay có thể tính toán dựa trên số ngày của kỳ thu tiền
- Các chứng khoán có giá: Là tài sản tài chính của doanh nghiệp Các tài sản này có thể mang đi bán khi cần tiền để chi trả
- Hàng tồn kho: Rất nhiều các món vay ngắn hạn với mục tiêu tăng dự trữ hàng hóa, có nghĩa là một phần hàng hóa trong kho được hình thành từ vốn vay ngân hàng Do đó, ngân hàng quan tâm tới số lượng, chất lượng, giá cả, mẫu
mã, bảo hiểm, rủi ro đối với hàng hóa trong kho Ngoài xem xét trên sổ sách, ngân hàng còn yêu cầu người vay mở kho hàng kiểm tra để loại trừ hàng hóa kém, mất phẩm chất, chậm tiêu thụ, phát hiện hàng giả, hàng người khác gửi
- Tài sản cố định: Gồm nhà cửa, sân bãi, trang thiết bị, phương tiện vận chuyển, thiết bị văn phòng… thường là đối tượng tài trợ trung và dài hạn (2) Phân tích cấu trúc nguồn vốn
Cấu trúc nguồn vốn thể hiện chính sách tài trợ của doanh nghiệp, phân tích cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp để có đánh giá đầy đủ nhất về tình
hình tài chính doanh nghiệp [1]
Nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận: Nguồn vốn vay nợ
và nguồn vốn chủ sở hữu Tính chất của hai nguồn vốn này hoàn toàn khác nhau về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp Đối với nguồn vốn vay nợ (còn gọi là nợ phải trả), doanh nghiệp phải cam kết thanh toán với các chủ nợ
số nợ gốc và các khoản chi phí sử dụng vốn (nếu có) theo thời hạn đã qui định Vốn chủ sở hữu thể hiện phần tài trợ của người chủ sở hữu đối với toàn
bộ tài sản ở doanh nghiệp
Ngân hàng quan tâm tới tất cả các chủ nợ của khách hàng, có thể là
Trang 37người lao động Vị trí của ngân hàng trong danh sách chủ nợ luôn được nghiên cứu kỹ lưỡng Nếu ngân hàng giành vị trí quan trọng nhất thì dễ dàng thu được nợ hơn vị trí khác
Ngân hàng cũng xem xét các khoản nợ ưu đãi, nợ có đảm bảo và nợ khác Các tài sản đã làm đảm bảo cho khoản vay cũ cần phải được tính lại theo giá thị trường, chúng được lấy làm tài sản đảm bảo cho khoản vay mới thì cần tính toán giá trị dôi thừa so với tiền vay cũ
Đánh giá cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp cần xét đến tính tự chủ và tính ổn định về nguồn vốn của doanh nghiệp
Phân tích tính tự chủ tài chính của doanh nghiệp: Xét trên khía cạnh
tự chủ về tài chính, nguồn vốn này thể hiện năng lực vốn có của người chủ sở hữu trong tài trợ hoạt động kinh doanh Tính tự chủ về tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
Tỷ suất nợ cho biết số nợ của doanh nghiệp so với tổng nguồn vốn, thể hiện mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp đối với các chủ nợ Tỷ suất nợ càng thấp thì nền tảng vốn chủ sở hữu càng vững mạnh, doanh nghiệp sẽ ít phụ thuộc vào nợ vay thì rủi ro của bên cho vay giảm
+ Tỷ suất tự tài trợ
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tỷ suất tự tài trợ =
Tổng nguồn vốn x 100
Trang 38Tỷ suất tự tài trợ thể hiện khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp Tỷ suất này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có tính độc lập cao về tài chính và ít bị sức ép của các chủ nợ Doanh nghiệp có nhiều cơ hội tiếp nhận các khoản tín dụng từ bên ngoài
Khi phân tích tính tự chủ về tài chính cần sử dụng số liệu trung bình ngành hoặc các số liệu định mức mà ngân hàng qui định đối với doanh nghiệp Những số liệu này là cơ sở để ngân hàng giải quyết các vấn đề nợ của doanh nghiệp: nên gia tăng các khoản vay nợ hay vốn chủ sở hữu và mức gia tăng tối đa là bao nhiêu Một khi tỷ suất nợ đã vượt quá mức an toàn cho phép, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng đông cứng và có nhiều khả năng không nhận được các khoản tín dụng từ bên ngoài
Phân tích tính ổn định của nguồn tài trợ: Sự ổn định về nguồn tài trợ cần được quan tâm khi đánh giá cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp Theo yêu cầu đó, nguồn vốn của doanh nghiệp chia thành nguồn vốn thường xuyên
và nguồn vốn tạm thời
Nguồn vốn thường xuyên là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng thường xuyên, lâu dài vào hoạt động kinh doanh, có thời gian sử dụng trên một năm Theo cách phân loại này, nguồn vốn thường xuyên tại một thời điểm bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản nợ vay trung và dài hạn Khoản nợ vay dài hạn đến hạn trả không được xem là nguồn vốn thường xuyên
Nguồn vốn tạm thời là nguồn vốn mà doanh nghiệp tạm thời sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong một khoản thời gian ngắn, thường là trong một năm hoặc trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh
Phân tích sự ổn định về tài trợ thường sử dụng hai chỉ tiêu sau:
+ Tỷ suất nguồn vốn thường xuyên
Nguồn vốn thường xuyên
Tỷ suất nguồn vốn
thường xuyên = Tổng nguồn vốn x 100
Trang 39+ Tỷ suất nguồn vốn tạm thời
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tỷ suất nguồn vốn chủ sở hữu
trên nguồn vốn thường xuyên = Nguồn vốn thường xuyên x 100 (3) Phân tích cân bằng tài chính:
- Cân bằng tài chính dài hạn: Thể hiện qua chỉ tiêu vốn lưu động ròng VLĐR = NVTX – Tài sản dài hạn = Tài sản ngắn hạn – NVTT
+ Trường hợp VLĐR >0: NVTX không chỉ tài trợ cho tài sản dài hạn
mà còn tài trợ một phần tài sản ngắn hạn DN được xem là cân bằng tài chính dài hạn
+ Trường hợp VLĐR = 0: NVTX vừa đủ để tài trợ tài sản dài hạn Cân bằng tài chính dài hạn kém bền vững, tính bấp bênh cao
+ Trường hợp VLĐR < 0: NVTX không đủ để tài trợ tài sản dài hạn, phải sử dụng một phần nợ ngắn hạn để tài trợ DN được xem là không an toàn
Trang 40trong tài trợ (mất cân bằng), áp lực thanh toán nợ ngắn sẽ tăng
- Cân bằng tài chính ngắn hạn: Thể hiện qua chỉ tiêu ngân quỹ ròng (NQR)
NQR = VLĐR – NCVLĐR Trong đó: Nhu cầu vốn lưu động ròng (NCVLĐR) = Hàng tồn kho (HTK)
+ Nợ phải thu – Nợ phải trả ngắn hạn (không tính nợ vay)
Các trường hợp của NQR:
+ Trường hợp NQR < 0: VLĐR không đủ để tài trợ, phải vay ngắn hạn
để đáp ứng nhu cầu DN được xem là mất cân bằng trong ngắn hạn
+ Trường hợp NQR = 0: VLĐR vừa đủ để tài trợ NCVLĐR, nhu cầu vốn vay ngắn hạn ngân hàng không cần thiết
+ Trường hợp NQR > 0: VLĐR dư để tài trợ NCVLĐR, DN được xem
là cân bằng tài chính trong ngắn hạn, tiền nhàn rỗi sẽ dùng để đầu tư tài chính ngắn hạn
* Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Việc phân tích BC KQHĐKD nhằm mục đích đánh giá tổng hợp tình hình
và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ, xác định các nguyên nhân chính dẫn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việc phân tích được tiến hành thông qua xem xét sự biến động của các khoản mục chính và xác định tỷ trọng trên tổng doanh thu thuần, từ đó CBTD đánh giá mức độ biến động của các khoản chi phí như: xác định tỷ suất giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần để biết giá vốn hàng bán chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng doanh thu thuần thu được; tỷ suất chi phí quản lý trên doanh thu thuần để biết doanh nghiệp quản lý các khoản chi phí có hiệu quả hay không; tỷ suất lợi nhuận thuần trên doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh hay lợi nhuận trước thuế trên doanh thu thuần Các nguyên nhân có thể gây biến động lợi nhuận như: doanh thu hoạt động sản xuất kinh doanh giảm trong khi giá vốn hàng bán tăng, doanh thu và