Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới chung của đất nước và thực hiện chương trình tổng thể về cải cách hành chính nhà nước, quản lý ngân sách nhà nước cũng
Trang 1HUỲNH MINH TUẤN
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
HUỲNH MINH TUẤN
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VÕ XUÂN TIẾN
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Huỳnh Minh Tuấn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục luận văn 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 8
1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 8
1.1.1 Một số khái niệm 8
1.1.2 Phân loại chi NSNN 15
1.1.3 Ý nghĩa của quản lý chi NSNN 18
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá kết quả chi NSNN quận Sơn Trà 20
1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 24
1.2.1 Công tác lập dự toán chi NSNN huyện (quận) 25
1.2.2 Chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước 27
1.2.3 Công tác quyết toán chi ngân sách nhà nước 29
1.2.4 Kiểm soát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước 32
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 33
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 33
1.3.2 Điều kiện kinh tế 34
1.3.3 Điều kiện xã hội 35
1.3.4 Các qui định của trung ương 35
Trang 51.3.5 Tổ chức bộ máy và trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý cấp
huyện 35
1.3.6 Nhận thức và ý thức chấp hành của cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách trên địa bàn 37
1.3.7 Các nhân tố khác 37
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUẬN SƠN TRÀ 41
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA QUẬN ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 41
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 41
2.1.2 Đặc điểm xã hội 43
2.1.3 Đặc điểm kinh tế 45
2.1.4 Tình hình chi ngân sách nhà nước quận Sơn Trà 49
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUẬN SƠN TRÀ 55
2.2.1 Công tác lập, phân bổ dự toán chi ngân sách nhà nước 56
2.2.2 Công tác chấp hành quản lý chi ngân sách nhà nước 72
2.2.3 Quyết toán quản lý chi NSNN quận Sơn Trà 80
2.2.4 Kiểm soát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước 82
2.3 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSNN QUẬN SƠN TRÀ 88 2.3.1 Những kết quả đạt được của việc quản lý chi NSNN quận Sơn Trà 88
2.3.2 Những hạn chế của chi NSNN quận Sơn Trà 91
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trên 93
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH SƠN TRÀ 95
3.1 CĂN CỨ CỦA CÁC GIẢI PHÁP 95
Trang 63.1.1 Căn cứ nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội của quận trong thời gian tới 95 3.1.2 Định hướng hoàn thiện quản lý chi ngân sách trên địa bàn quận 97 3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP 99 3.2.1 Hoàn thiện công tác lập, phân bổ dự toán chi ngân sách quận Sơn Trà 99 3.2.2 Hoàn thiện công tác chấp hành chi ngân sách 104 3.2.3 Hoàn thiện công tác quyết toán chi NSNN 108 3.2.4 Hoàn thiện công tác kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN 110 3.3 KIẾN NGHỊ 117
KẾT LUẬN 119 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
Trang 7BQ Bình quân
ĐTPT Đầu tư phát triển
ĐTXDCB Đầu tư xây dựng cơ bản GTSX Giá trị sản xuất
GDĐT Giáo dục đào tạo
Trang 82.8 Lập dự toán chi thường xuyên NSNN giai đoạn 2010 –
2.9 Tình hình phân bổ chi đầu tư xây dựng phân theo ngành
2.10 Chi ngân sách quận Sơn Trà giai đoạn 2010 – 2014
2.11 Tình hình chi cho sự nghiệp giáo dục đào tạo Sơn Trà 74 2.12 Tình hình chi sự nghiệp y tế giai đoạn 2010 - 2014 77
Trang 92.13 So sánh tình hình thực hiện chi thường xuyên so với dự
toán được giao đầu năm từ năm 2010 - 2013 80 2.14 Tình hình kiểm soát, thanh toán vốn ĐTXDCB từ nguồn
NSNN cấp quận qua KBNN từ năm 2006 – 2014 84 2.15 Kết quả kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN quận
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới chung của đất nước và thực hiện chương trình tổng thể về cải cách hành chính nhà nước, quản lý ngân sách nhà nước cũng đã có những bước cải cách, đổi mới và đạt được một số thành tựu đáng kể; Đặc biệt là từ khi Luật ngân sách nhà nước được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ hai thông qua ngày 16/12/2002 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004 với mục tiêu và ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc quản lý và điều hành ngân sách nhà nước, phát triển kinh tế- xã hội
Ngân sách nhà nước vừa là nguồn kinh phí được nhà nước sử dụng để tài trợ cho sự tồn tại và hoạt động của hệ thống bộ máy nhà nước, vừa là công
cụ để nhà nước thực hiện các dịch vụ công, chi phối, điều chỉnh các mặt hoạt động khác của đất nước Trong tiến trình đổi mới, thực hiện cải cách nền tài chính quốc gia, nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của các cơ quan tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và sử dụng NSNN một cách tiết kiệm và có hiệu quả Trong đó việc hoàn thiện công tác thu, chi NSNN luôn được Đảng
và Nhà nước coi là một nội dung quan trọng hàng đầu
Một trong những giải pháp quan trọng để tăng cường nguồn lực ngân sách chính là phải quản lý chi ngân sách thật tốt Chính vì lẽ đó, kiểm soát và quản lý chặt chẽ các khoản chi ngân sách nhà nước luôn là mối quan tâm lớn của Đảng, nhà nước và của các cấp, các ngành, góp phần quan trọng trong việc giám sát sự phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính một cách đúng mục đích, có hiệu quả, đồng thời là biện pháp hữu hiệu để thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí Từ năm 2004, thực hiện luật ngân sách nhà nước, công tác quản lý, kiểm soát chi NSNN qua KBNN đã có những chuyển biến tích cực, công tác lập, duyệt, phân bổ dự toán được chú trọng hơn về chất lượng và thời
Trang 12gian Việc quản lý điều hành NSNN cũng đã có những thay đổi lớn và đạt được thành tựu quan trọng, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, giả quyết những vấn đề xã hội Tuy nhiên, tính năng động và tích cực của đơn vị
sử dụng ngân sách chưa phát huy, tâm lý ỷ lại trông chờ vào NSNN còn phổ biến Điều đó ảnh hưởng không tốt đến việc huy động và khai thác các nguồn lực cho đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu phát triển và giải quyết được các vấn đề xã hội Hơn thế nữa, trong lĩnh vực quản lý chi NSNN còn nhiều bất cập cần được nhìn nhận một cách khách quan để tìm biện pháp cải thiện Sơn Trà là quận có vị trí thuận lợi về phát triển du lịch Mặc dù thời gian qua Sơn Trà được đánh giá là đã có bước chuyển biến tích cực, song chưa thể khẳng định được rằng đổi mới quản lý chi NSNN là những cải cách có tính hệ thống
và có hiệu quả Công tác quản lý chi ngân sách của quận Sơn Trà hiện nay hiệu quả chưa cao Các đơn vị dự toán ngân sách gò bó vào chính sách chế độ, tiêu chuẩn định mức nhưng lại không bị rang buộc về hiệu quả sử dụng ngân sách được giao Nhận thức được vai trò cấp thiết cần phải hoàn thiện quản lý chi NSNN trong những năm tới, tác giả đã chọn đề tài: “Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn quận Sơn Trà – thành phố Đà Nẵng”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác quản lý chi NSNN
- Đánh giá thực trạng tình hình quản lý chi NSNN quận Sơn Trà – Đà
Nẵng
- Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi
NSNN quận Sơn Trà – Đà Nẵng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Là các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc quản lý chi NSNN
quận Sơn Trà
Trang 13- Phạm vi nghiên cứu
+ Nội dung: Nghiên cứu những vấn đề ảnh hưởng chi NSNN
+ Không gian: Các nội dung trên được tiến hành nghiên cứu trên phạm
vi quận Sơn Trà – Đà Nẵng
+ Thời gian: Các đề xuất trong luận văn có ý nghĩa từ nay đến năm
2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nói trên, đề tài sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp khảo sát, phương pháp chuyên gia,
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chi Ngân sách quận Sơn Trà –
Đà Nẵng
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN quận Sơn Trà – Đà Nẵng
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trong thời gian gần đây, các vấn đề liên quan đến quản lý chi NSNN
đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà quản lý kinh
tế và các bài viết đăng trên báo, tạp chí của Trung ương và địa phương, cụ thể:
- “Quản lý chi tiêu công ở Việt Nam thực trạng và giải pháp” của
GS-TS Dương Thị Bình Minh, Nxb tài chính, 2005 và “một số vấn đề về chính sách tài khóa và đầu tư công với mục tiêu ổn định vĩ mô” của PGS.TS Vũ
Trang 14Như Thăng, tạp chí quản lý ngân quỹ quốc gia số 113 (11/2011): Hai tài liệu
đề cập đến thực trạng quản lý chi tiêu công còn lãng phí, đầu tư công dàn trãi
và thiếu hiệu quả, định hướng và giải pháp cho đầu tư công ở Việt Nam trong những năm tới: Thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế quốc gia, thu hút hợp lý các nguồn lực xã hội để tập trung đầu tư cho hạ tầng kinh tế xã hội, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính công, đặc biệt nguồn vốn từ NSNN, thực hiện cơ cấu lại chi NSNN Công trình đề cập đến các nhóm giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế tài chính trong chi tiêu công và đầu tư công ở Việt Nam
- Luận án tiến sĩ của tác giả Tô Thượng Hiền, Trường Đại học Ngân
hàng Thành Phố Hồ Chí Minh với đề tài “Nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước tỉnh An Giang giai đoạn 2011 – 2015 và tầm nhìn đến 2020”
(2012), Thông qua đề tài, tác giả đã khái quát được những điểm mới về mặt
lý luận về hiệu quả quản lý NSNN và quản lý NSNN Trên cơ sở đó tác giả đã phân tích nội dung phân tích thực trạng thu, chi NSNN đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý NSNN tỉnh An Giang đảm bảo tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững với tầm nhìn đến năm 2020 Đề tài này
là cơ sở lý luận giúp tỉnh Bình Định hoàn thiện hơn công tác quản lý chi ngân sách nhà nước nói riêng và các tỉnh khác nói chung
- Tác giả Trịnh Thị Thúy Hồng trong luận án tiến sĩ “Quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Bình Định”
(2012), trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Luận án đã đưa ra cơ sở lý luận trong đầu tư xây dựng cơ bản Luận án đưa ra các chỉ tiêu đánh giá quản lý chi NSNN trong đầu tư XDCB về kết quả chi, hiệu quả chi NSNN trong đầu
tư XDCB, khảo sát chu trình quản lý chi NSNN trong đầu tư XDCB, một chỉ
số toàn diện để đánh giá hiệu quả quản lý chi NSNN trong đầu tư XDCB từ khâu Luật pháp, lập kế hoạch, lập dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán cho đến khâu kiểm tra, thanh tra, đánh giá chương trình Tác giả đã đưa ra được 7
Trang 15giải pháp lớn góp phần giúp tăng cường công tác quản lý chi NSNN trong đầu
tư xây dựng cơ bản trên địa bàn Bình Định
Tác giả Trần Văn Lâm trong luận án tiến sỹ “Hoàn thiện quản lý chi NSNN nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”
(2009), Học viện Tài chính Tác giả đã làm sáng tỏ nhận thức mối quan hệ giữa tăng trưởng, phát triển và phát triển bền vững, đồng thời hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về chi ngân sách, quản lý chi ngân sách nhà nước, đặc biệt
đã phân tích được ưu và nhược điểm của phương pháp quản lý theo kiểu quản
lý NSNN theo kiểu hành chính truyền thống và phương thức quản lý NSNN theo kiểu hành chính truyền thống và phương thức quản lý NSNN theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn gắn với kết quả đầu ra Luận án đã phân tích được thực trạng của công tác chi quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Trên cơ
sở đó, Tác giả đề xuất ra các giải pháp hoàn thiện chi quản lý NSNN Tuy nhiên, Luận án chưa làm rõ được đặc thù riêng của tỉnh khi áp dụng phương
Trang 16ra được nguyên nhân sâu xa sự bất cập trong vận hành cơ chế này
- Tác giả Hà Việt Hoàng trong luận văn thạc sĩ “Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý cấp huyện tỉnh Thái Nguyên”
(2007), Đại học Thái Nguyên, luận văn đề cập đến quản lý ngân sách nhà nước trong giai đoạn hiện nay và hướng đến các năm tới Luận văn đã đưa ra những kinh nghiệm quản lý ngân sách hiệu quả và đã trình bày được những luận điểm và phương pháp quản lý các nguồn thu – chi ngân sách một cách hợp lý và giải quyết các tồn đọng hiện nay
- Tác giả Nguyễn Hoàng Tuấn trong luận văn thạc sỹ “Nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước tỉnh An Giang giai đoạn 2006 – 2010”
(2006), Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, với nội dung phân cấp ngân sách trong đó phân bổ vốn đầu tư và chi thường xuyên, từng bước đổi mới công tác lập dự toán gắn liền với thực hiện các chương trình kinh tế, nâng cao ý thức tiết kiệm chống lãng phí, ý thức kỷ luật tài chính, có chính sách tài chính để khai thác hiệu quả nguồn lực hiện có góp phần tạo môi trường đầu tư thuận lợi Luận văn chưa làm rõ vấn đề chấp hành ngân sách của các đơn vị
dự toán
- Tác giả Nguyễn Văn Ngọc trong luận văn thạc sĩ kinh tế “Quản lý và
sử dụng kinh phí ngân sách địa phương tại các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp trên địa bàn Lâm Đồng”, (2012), Trường Đại học Kinh tế
TP Hồ Chí Minh Nghiên cứu những vấn đề chung về quản lý sử dụng ngân sách nhà nước Thực trạng quản lý và sử dụng ngân sách địa phương tại cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp ở Lâm Đồng Tăng cường các biện pháp quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách địa phương tại cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp Luận văn chưa làm rõ vấn đề đầu tư xây dựng cơ bản
- Tác giả Tạ Xuân Quan trong luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước tỉnh Hà Tĩnh” (2011), Đại học Đà Nẵng, luận văn đã
Trang 17hệ thống và phát triển được các vấn đề lý luận cơ bản về chi ngân sách nhà nước, làm rõ các vấn đề nổi cộm trong quản lý chi ngân sách nhà nước tỉnh
Hà Tĩnh đối với các khoản chi thường xuyên Luận án cũng đã chỉ ra được những kết quả đạt được và một số tồn tại trong việc vận dụng quá trình quản
lý chi ngân sách nhà nước Đồng thời, luận án đã đề xuất giải pháp áp dụng quy trình lập dự toán và phân bổ dự toán tương đối phù hợp và có khả năng thực thi ở Hà Tĩnh hiện nay
- Tác giả Huỳnh Thị Cẩm Liêm trong luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện Đức Phổ” (2011), Đại học Đà
Nẵng, luận văn đã khái quát lại những vấn đề cơ bản về NSNN và quản lý NSNN cấp huyện Trên cơ sở đó phân tích thực trạng công tác quản lý NSNN huyện Đức Phổ và đưa ra các giải pháp hoàn thiện
Trang 18lý nhà nước của mình Trong hệ thống tài chính, NSNN là khâu chủ đạo, là điều kiện vật chất quan trọng để thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước NSNN là một phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử Nó phản ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội trong điều kiện còn tồn tại hàng hóa – tiền tệ cà được sử dụng như một công cụ thực hiện chức năng của nhà nước
Như vậy, NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước
Bên cạnh đó, NSNN là một phạm trù kinh tế khách quan ra đời, tồn tại
và phát triển trên cơ sở sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI kỳ họp lần thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002 đã xác định: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
Trang 19của nhà nước NSNN có thể hiểu là một kế hoạch tài chính quốc gia bao gồm chủ yếu các khoản thu và chi của nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN; phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được để thực hiện các mục tiêu KT – XH NSNN được lập và thực hiện cho một thời gian nhất định, thường là một năm và được Quốc hội phê chuẩn thông qua
NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước Quỹ này thể hiện lượng tiền huy động từ thu nhập quốc gia để đáp ứng cho các khoản thu, chi của nhà nước, có hai mặt đó là: mặt tĩnh và mặt động Mặt tĩnh thể hiện các nguồn tài chính được tập trung vào NSNN mà chúng ta có thể xác định được vào bất kì thời điểm nào Mặt động thể hiện các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị gắn liền với quỹ tiền tệ tập trung vào NSNN và từ NSNN phân bổ các nguồn tài chính cho các ngành các lĩnh vực, các địa phương của nền kinh tế quốc dân
NSNN là một phạm trù kinh tế tài chính được coi là một hệ thống quan
hệ kinh tế tồn tại khách quan Hệ thống các quan hệ kinh tế này được đặc trưng bởi quan hệ tiền tệ phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính và bằng các quan hệ đó mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được tạo lập và sử dụng Hệ thống các quan hệ kinh tế này bao gồm:
- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với khu vực doanh nghiệp
- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị hành chính sự nghiệp
- Quan hệ giữa NSNN với các tầng lớp dân cư
- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính
Như vậy đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài của NSNN là một loại quỹ tiền tệ của Nhà nước với các khoản thu và các khoản chi của nó thì NSNN lại phản ánh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối, thể hiện
Trang 20các quan hệ phân phối và các quan hệ lợi ích kinh tế gắn với chủ thể đặc biệt,
đó là Nhà nước nhằm tạo lập và sử dụng nguồn tài chính quốc gia để gải quyết các nhiệm vụ về KT – XH
Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tổ chức huy động, quản lý các nguồn thu và thực hiện nhiệm vụ chi của mỗi cặp ngân sách
Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, hệ thống NSNN được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức bộ máy QLHC nhà nước Ở nước ta, bộ máy QLHC Nhà nước được tổ chức 4 cấp trung ương: cấp trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc TW; quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và xã, phường, thị trấn Mỗi cấp chính quyền đều phải có ngân sách để thực hiện các nhiệm
vụ được giao
b Chi ngân sách nhà nước
Chi NSNN thể hiện các quan hệ tiền tệ hình thành trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho các chi phí của bộ máy QLNN và thực hiện các chức năng KT – XH mà nhà nước đảm nhận theo những nguyên tắc nhất định
Chi NSNN là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng Quá trình sử dụng là quá trình hình thành trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ ngân sách không phải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng
Như vậy, chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm trang trải cho chi phí bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước
Trang 21Luật NSNN đã xác định cụ thể chi NSNN bao gồm: các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước, chi trả nợ của nhà nước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo qui định của pháp luật
Mỗi chế độ xã hội, mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, chi NSNN có những nội dung và cơ cấu khác nhau, song đều có những đặc trưng cơ bản như nhau
Chi NSNN luôn gắn chặt với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh
tế chính trị xã hội mà Nhà nước đó đảm nhiệm Nội dung chi ngân sách do chính quyền nhà nước các cấp đảm nhận theo qui định hoặc phân cấp quản lý NSNN để đảm bảo thực hiện chức năng quản lý, phát triển KT – XH
Các cấp của cơ quan quyền lực nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định
cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chi NSNN vì các cơ quan đó quyết định các nhiệm vụ chính trị, KT – XH của vùng, miền, đất nước; thể hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân
Chi ngân sách nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân cư ở các vùng hay phạm vi quốc gia Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền KT – XH của Nhà nước
Thông thường các khoản chi của NSNN được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ mô Điều này có nghĩa hiệu quả của các khoản chi ngân sách phải được xem xét toàn diện dựa trên việc hoàn thành các mục tiêu KT – XH đề ra Các khoản chi NSNN mang tính không hoàn trả hoặc hoàn trả không trực tiếp và thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới hình thức chi tiêu công Điều này được quyết định bởi những chức năng tổng thể về KT – XH của Nhà nước
Các khoản chi ngân sách gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá
Trang 22trị khác như tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ suất hối đoái nói chung là các phạm trù thuộc lĩnh vực tiền tệ
Để đánh giá tính tích cực, tiến bộ của ngân sách một quốc gia người ta thường xem xét đến cơ cấu nội dung chi của ngân sách quốc gia đó Cơ cấu chi ngân sách thường được hiểu là hệ thống các khoản chi ngân sách bao gồm: các khoản chi và tỷ trọng của nó Nội dung, cơ cấu chi NSNN là sự phản ánh những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước đó trong từng giai đoạn, lĩnh vực và chịu sự chi phối của các nhân tố sau:
- Chế độ chính trị xã hội là nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến nội dung, cơ
cấu chi ngân sách vì nó quyết định bản chất và nhiệm vụ KT – XH của Nhà nước
- Sự phát triển của lực lượng sản xuất vì nó tạo khả năng và điều kiện
cho việc hình thành nội dung, cơ cấu chi vừa đặt ra yêu cầu thay đổi nội dung
cơ cấu chi trong từng thời kì nhất định
- Khả năng tích lũy của nền kinh tế: khả năng này càng lớn thì nguồn
chi đầu tư phát triển kinh tế cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu chi thường xuyên tăng lên
- Mô hình tổ chức bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ KT – XH mà
nó đảm nhận trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
c Quản lý chi ngân sách nhà nước
Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình công nghệ mà chủ thể quản lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động phát triển phù hợp với quy luật khách quan và đạt tới các mục tiêu đã định Trong hoạt động quản lý, các vấn đề về: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, công cụ và phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những yếu tố trung tâm đòi hỏi phải xác định đúng đắn
Trang 23Quản lý chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ tập trung một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trên
cơ sở sử dụng hệ thống chính sách, pháp luật
Quản lý chi ngân sách cấp quận là quá trình các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền sử dụng hệ thống các biện pháp tác động vào hoạt động chi ngân sách cấp quận, đảm bảo cho các khoản chi ngân sách quận được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả
Quản lý chi ngân sách là quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ tập trung một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trên cơ sở sử dụng hệ thống chính sách, pháp luật Chi ngân sách mới thể hiện ở khâu phân bổ ngân sách còn hiệu quả sử dụng ngân sách sẽ quyết định hiệu quả sử dụng vốn ngân sách
Quản lý chi NSNN là quá trình thực hiện có hệ thống các biện pháp phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm phục vụ chi tiêu cho bộ máy
và thực hiện các chức năng của Nhà nước Thực chất quản lý chi NSNN là quá trình sử dụng các nguồn vốn chi tiêu của Nhà nước từ khâu lập kế hoạch đến khâu sử dụng ngân sách đó nhằm đảm bảo quá trình chi tiết kiệm và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tế đang đặt ra theo đúng chính sách chế độ của nhà nước phục vụ các mục tiêu KT – XH
Quản lý NSNN là một nội dung trọng yếu của quản lý tài chính, do Nhà nước điều hành và là một mặt của quản lý kinh tế - xã hội quan trọng, do đó trong quản lý NSNN cần được nhận thức đầy đủ Chủ thể quản lý NSNN là Nhà nước hoặc các cơ quan nhà nước được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ NSNN Chủ thể trực tiếp quản
lý NSNN là bộ máy tài chính trong hệ thống các cơ quan nhà nước
Đối tượng của quản lý NSNN là các hoạt động của NSNN Nói cụ thể hơn đó là các hoạt động thu, chi bằng tiền của NSNN
Trang 24Trong quản lý NSNN, các chủ thể quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp quản lý và nhiều công cụ quản lý khác nhau như:
- Phương pháp tổ chức: được sử dụng để thực hiện ý đồ của chủ thể
quản lý trong việc bố trí, sắp xếp các mặt hoạt động của NSNN theo những khuôn mẫu đã định và thiết lập bộ máy quản lý phù hợp với các mặt hoạt động đó của quản lý NSNN
- Phương pháp hành chính: được sử dụng khi các chủ thể quản lý
NSNN muốn các đòi hỏi của mình phải được các khách thể quản lý tuân thủ một cách vô điều kiện Đó là khi các chủ thể quản lý ra các mệnh lệnh hành chính
- Phương pháp kinh tế: được sử dụng thông qua việc dùng các đòn bẩy
kinh tế để kích thích tính tích cực của các khách thể quản lý, tức là tác động tới các tổ chức và cá nhân đang tổ chức các hoạt động quản lý NSNN
- Hệ thống pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý NSNN: được sử dụng để
quản lý và điều hành các hoạt động quản lý NSNN được xem như một loại công cụ quản lý có vai trò đặc biệt quan trọng
Bên cạnh đó, vấn đề quan trọng trong quản lý chi NSNN là việc tổ chức quản lý giám sát các khoản chi sao cho tiết kiệm và có hiệu quả cao, muốn vậy cần phải quan tâm các mặt sau:
- Quản lý chi phải gắn chặt với việc bố trí các khoản chi làm cơ sở cho
việc quản lý xây dựng quy chế kiểm tra, kiếm soát
- Bảo đảm yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí và quản lý các
khoản chi tiêu ngân sách nhà nước
- Quản lý chi phải thực hiện các biện pháp đồng bộ, kiểm tra giám sát
trước, trong và sau khi chi
- Phân cấp quản lý các khoản chi cho các cấp chính quyền địa phương
và các tổ chức trên cơ sở phải phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển KT – XH của
Trang 25các cấp theo luật ngân sách để bố trí các khoản chi cho thích hợp
- Quản lý chi ngân sách phải kết hợp quản lý các khoản chi ngân sách
thuộc vốn nhà nước với các khoản chi thuộc nguồn của các thành phần kinh tế
để tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả chi
1.1.2 Phân loại chi NSNN
Tùy theo yêu cầu của việc phân tích, đánh giá và quản lý NSNN trong từng thời kỳ người ta có thể phân chia các khoản chi NSNN theo tiêu thức khác nhau Theo tính chất kinh tế, chi NSNN được chia ra các nội dung:
a Chi đầu tư phát triển kinh tế
Một trong các chức năng quan trọng của nhà nước là chức năng tổ chức kinh tế Chức năng này trong cơ chế thị trường được thể hiện bằng vai trò của nhà nước trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Ngân sách nhà nước với các vai trò của nó được coi là một công cụ quan trọng trong việc thực hiện chức năng nói trên của nhà nước
Chi phát triển đầu tư là những khoản chi mang tính chất tích lũy phục
vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng gắn với việc cơ sở hạ tầng nhằm tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho việc bỏ vốn đầu tư của các doanh nghiệp vào các lĩnh vực cần thiết, phù hợp với mục tiêu của nền kinh tế Nói khác đi, việc chi cho đầu tư phát triển của NSNN nhằm mục đích tạo ra sự khởi động ban đầu, kích thích quá trình vận động các nguồn vốn trong xã hội
để hướng tới sự tăng trưởng
Chi đầu tư phát triển được cấp phát chủ yếu từ ngân sách trung ương và một số bộ phận đáng kể của ngân sách địa phương và bao gồm các khoản chi sau đây:
- Chi đầu tư xây dựng cơ bản: Là khoản chi tài chính nhà nước được
đầu tư cho các công trình thuộc kết cấu hạ tầng (cầu cống, bến cảng, sân bay,
hệ thống thủy lợi ), các công trình kinh tế có tính chất chiến lược , các công
Trang 26trình và dự án phát triển văn hóa xã hội trọng điểm, phúc lợi công cộng nhằm hình thành thế cân đối cho nền kinh tế , tạo ra tiền đề kích thích quá trình vận động vốn của doanh nghiệp và tư nhân nhằm tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân
- Chi đầu tư xây dựng cơ bản có tầm quan trọng trong việc tạo ra cơ sở
vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế và xã hội, góp phần hình thành cơ cấu kinh
tế theo định hướng nhà nước, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển và nâng cao lao động sản xuất xã hội
- Chi đầu tư và hỗ trợ vốn doanh nghiệp nhà nước: là khoản chi gắn
liền với sự can thiệp nhà nước vào lĩnh vực kinh tế Với khản chi này, một mặt nhà nước bảo đảm đầu tư vào một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh cần thiết tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế xã hội , mặt khác nhằm hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý
Trong nền kinh tế thị trường, tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước được hình thành và tồn tại trong các ngành, các lĩnh vực then chốt như khai thác tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, các ngành công nghiệp cơ bản, an ninh quốc phòng, các ngành phục vụ lợi ích công cộng Với sự hoạt động của loại hình doanh nghiệp nhà nước đòi hỏi ngân sách nhà nước phải cấp vốn đầu tư ban đầu và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nhà nước, khoản chi này h́nh thành nên vốn cố định và vốn lưu động của doanh nghiệp nhà nước
- Chi góp vốn cổ phần, vốn liên doanh vào doanh nghiệp thuộc các lĩnh
vực cần thiết có sự tham gia của nhà nước : trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, các công ty cổ phần được hình thành thông qua quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp quốc gia hoặc thành lập mới Các doanh nghiệp liên doanh được thành lập trên cơ sở liên doanh, liên kết giữa các tổ chức kinh tế với nhau Các doanh nghiệp này tham gia vào nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế kể
cả ở những lĩnh vực có vị trí trọng yếu ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế Trong
Trang 27điều kiện đó, đòi hỏi nhà nước với vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh
tế phải tham gia vào các lĩnh vực thiết yếu đó bằng việc mua cổ phần của các công ty hoặc góp vốn liên doanh theo một tỷ lệ nhất định, tùy theo tính chất quan trọng của từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh đối với nền kinh tế, nhằm thực hiện hướng dẫn, kiểm soát hoặc khống chế hoạt động của các doanh nghiệp này đi theo hướng phát triển có lợi cho nền kinh tế
- Chi cho các quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển:
Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và quỹ hỗ trợ phát triển quốc gia là những tổ chức tài chính có tư cách pháp nhân, thực hiện chức năng huy động vốn và tiếp nhận các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước để cho vay đối với các chương trình, dự án phát triển thuộc các ngành nghề thuộc diện ưu đãi và các vùng khó khăn theo quy định của chính phủ Trong quá trình thành và hoạt động của các quỹ này được ngân sách nhà nước cấp vốn điều lệ ban đầu và bổ sung vốn hàng năm để thực hiện nhiệm vụ được giao
- Chi dự trữ nhà nước : Dự trữ quốc gia cho phép duy trì sự cân đối và
ổn định trong phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động của nền kinh tế và trong những trường hợp nhất định cho phép ngăn chặn, bù đắp các tổn thất bất ngờ xảy ra đối với nền kinh tế xã hội Trong nền kinh tế thị trường hoạt động của các quy luật kinh tế có thể dẫn đến những biến động phức tạp không có lợi cho nền kinh tế hoặc xảy ra thiên tai đòi hỏi phải có một khoản dự trữ giúp nhà nước điều tiết thị trường, khắc phục hậu quả
b Chi tiêu dùng thường xuyên
Là những khoản chi không có trong khu vực đầu tư và có tính chất thường xuyên để tài trợ cho hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm duy trì đời sống quốc gia Về nguyên tắc, các khoản chi này thường được tài trợ bằng các khoản thu không mang tính chất hoàn trả của ngân sách nhà nước Chi
Trang 28thườn xuyên gồm có: chi về chủ quyền quốc gia, chi phí liên quan đến sự điều hành và duy trì hoạt động của các cơ quan nhà nước để thực hiện những nhiệm vụ được giao phó, chi phí do sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động kinh doanh văn hóa xã hội để cải thiện đời sống nhân dân
c Chi trả nợ gốc tiền chính phủ vay
+ Trả nợ trong nước: Là những khoản nợ mà trước đây nhà nước đã vay các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế và các tổ chức khác bằng cách phát hành các loại chứng khoán nhà nước như tín phiếu kho bạc, trái phiếu quốc gia
+ Trả nợ nước ngoài: Là các khoản nợ mà nhà nước vay chính phủ nước ngoài, các doanh nghiệp và các tổ chức tiền tệ quốc tế
Hàng năm số chi trả nợ của nhà nước được bố trí theo một tỷ lệ nhất định trong tổng số chi của ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn
1.1.3 Ý nghĩa của quản lý chi NSNN
- Phản ánh qui mô và hiện trạng chi tiêu của nhà nước cho đầu tư phát
triển, cho các sự nghiệp kinh tế xã hội và bổ sung quỹ dự trữ tài chính Chi NSNN là nguồn lực tài chính nhằm bảo đảm và duy trì sự hoạt động bình thường của hệ thống chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương Hoạt động bộ máy chính quyền các cấp, không chỉ nhằm mục đích thống nhất quản
lý các hoạt động của nền kinh tế quốc dân mà còn nhằm đảm bảo sự ổn định
về chính trị: một trong những nhân tố có vai trò quyết định đến sự thành bại của công cuộc cải cách kinh tế
- Phản ánh tầm quan trọng của các lĩnh vực chi tiêu, quy mô và vị trí
của từng khoản chi trong tổng chi NSNN Phải xây dựng được các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu phù hợp với từng đối tượng hay tính chất công việc; đồng thời phải có tính thực tiễn cao
Trang 29- Phải thiết lập được các hình thức cấp phát đa dạng và lựa chọn hình thức cấp phát áp dụng cho mỗi loại hình đơn vị, hay yêu cầu quản lý của từng nhóm mục chi một cách phù hợp - Biết lựa chọn ưu tiên cho các loại hoạt động hoặc theo các nhóm mục chi sao cho tổng số chi có giới hạn nhưng khối lượng công việc, công trình xây dựng vẫn hoàn thành và đạt chất lương cao
Để đạt được điều này, đòi hỏi phải có các phương án phân phối và sử dụng kinh phí khác nhau Trên cơ sở đó mà lựa chọn phương án tối ưu nhất
- Giúp điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế Chi NSNN có
tác động nhất định đến việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế Trường hợp chi vượt thu quá sẽ dẫn đến lạm phát Vì vậy, để kiềm chế lạm phát phải khống chế tiêu dùng của Chính phủ, đặc biệt đối với những nước đang phát triển, nơi lạm phát thường ở mức độ cao
- Góp phần ổn định thị trường, chống lạm phát, bình ổn giá cả thị
trường hàng hóa Trái với quan điểm “Ngân sách tiêu dùng” hoặc “Ngân sách cai trị” có quy mô vừa phải, đủ đảm bảo chi thường xuyên, chi quốc phòng,
an ninh là quan điểm ủng hộ Nhà nước sử dụng Ngân sách can thiệp vào kinh
tế Nhà nước cần phải tác động vào quá trình phát triển kinh tế, dù đó là kinh
tế kế hoạch hoá tập trung hay kinh tế thị trường Với ý nghĩa đó, tiềm lực tài chính của Nhà nước phải đủ mạnh đảm bảo triển khai các biện pháp can thiệp kinh tế Quy mô thu, chi NSNN phải đủ lớn bảo đảm cho Nhà nước chủ động thực hiện các chính sách tài khóa nới lỏng (hoặc thắt chặt), thực hiện kích cầu đầu tư, tiêu dùng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trong thực tế, việc thúc đẩy tăng trưởng, ổn định, điều tiết kinh tế vĩ
mô của một Ngân sách phát triển đã được nhận thức, vận dụng rất khác nhau tuỳ thuộc quan niệm của mỗi Nhà nước, tuỳ theo bối cảnh kinh tế ở mỗi thời
kỳ và đã trải qua nhiều thăng trầm quan trọng Nổi bật là hiện tượng đề cao quá mức vai trò công cụ điều tiết kinh tế của NSNN tại các Nhà nước XHCN
Trang 30trước thập kỷ 90 và các Nhà nước TBCN trước thập kỷ 70
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá kết quả chi NSNN quận Sơn Trà
Thứ nhất, cơ sở pháp lý cho việc quản lý chi ngân sách của các quốc gia chủ yếu bao gồm hiến pháp và hệ thống văn bản luật Tuỳ theo tính chất, thể chế chính tả yêu cầu thực tiễn hoạt động ngân sách đòi hỏi và quan niệm của các nhà hoạch định chính sách, mỗi quốc gia có thể ban hành một số luật trong đó có thể có giá trị hiệu lực hàng năm hoặc ổn định trong một số năm
Hệ thống luật làm căn cứ để quản lý chi ngân sách đều đưa ra những quy phạm pháp luật, nguyên tắc quản lý, thẩm quyền, trách nhiệm cách thức Mục tiêu quản lý các chế tài ràng buộc và chúng đều tiến tới mục đích quản lý
có hiệu quả nguồn lực tài chính có hạn trong khi phải đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú về cung cấp hàng hoá, dịch vụ công trong cơ chế thị trường, tuy rằng mức độ đạt được mục đích của mỗi quốc gia khác nhau
Ở các quốc gia càng phát triển thì hệ thống luật pháp về ngân sách càng đồng bộ và cụ thể, căn cứ pháp lý cho hoạt động ngân sách rõ ràng, minh bạch về thẩm quyền, phạm vi và chế tài xử phạt Thậm chí, ngoài hệ thống luật quy định những nguyên tắc chung về quản lý ngân sách, một số quốc gia nâng cơ sở pháp lý của hoạt động ngân sách hàng năm thành luật, thường gọi
là đạo luật ngân sách hàng năm
Thứ hai, quản lý chi ngân sách theo kết quả đầu ra là phương thức quản
lý mới được một số nước tiếp cận, trong đó có cả những quốc gia có nền kinh
tế phát triển, nguồn lực ngân sách dồi dào và cả những nước đang phát triển Điều đó xuất phát từ yêu cầu phát triển của mỗi quốc gia luôn cao hơn nguồn lực ngân sách ngày càng khan hiếm và có giới hạn Chính vì vậy ngân sách cần được sử dụng hiệu quả và phải được minh bạch, công khai, quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra chính là để giải quyết nhu cầu đó, bằng cách lượng hoá được hiệu quả sử dụng ngân sách thông qua những kết quả đầu ra cụ thể
Trang 31để mọi người dân đều có thể đánh giá, giám sát được
Tuy nhiên, đây là phương thức mới, để đo đếm hiệu quả ngân sách bằng những kết quả đầu ra cụ thể cần hệ thống khuôn khổ pháp lý, hạ tầng công nghệ thông tin, đội ngũ cán bộ quản lý với tư duy và trình độ đủ để tiếp cận với phương thức mới, nhất là trong bối cảnh nước ta, hầu hết chưa tiếp cận với những phương thức tiên tiến, nhiều thập kỷ nay vẫn áp dụng phương thức truyền thống đầu vào, ngân sách vốn đã nhỏ bé lại phải dàn trải và sử dụng kém hiệu quả, cần có thời gian và điều kiện, nhất là cần xây dựng khuôn khổ pháp lý thích ứng Trước mắt có thể áp dụng các bước trung gian là khoán chi và trao quyền tự chủ về biên chế, kinh phí cho đơn vị sử dụng ngân sách Đồng thời có thể áp dụng thí điểm ở một số Bộ, ngành khi đủ điều kiện Thứ ba, chi ngân sách theo chương trình, dự án là phương thức quản lý hình thành sau phương thức quản lý truyền thống dòng mục đầu vào, hiện nay đang được nhiều nước áp dụng và thể hiện rõ tính ưu việt hơn hẳn Qua thực tiễn của các nước cho thấy:
Tính mục tiêu ở tầm quốc gia của các chương trình, dự án Chính phủ sử dụng công cụ này nhằm tạo động lực thông qua các giải pháp đặc biệt và đường bộ để đạt, một số mục tiêu đã định trong thời gian sớm hơn mức bình thường vốn có
Chi ngân sách theo chương trình dự án khác với chi ngân sách thường nên là chỉ diễn ra trong năm và kết thúc chu kỳ một năm lại lặp lại tương tự như năm đầu
Chương trình dự án thường là những mục tiêu lớn mang tâm Quốc gia, khu vực cần tập trung giải quyết trong một khoảng thời gian nhất định, thông thường một số năm, nội dung chi giữa các năm cũng không hoàn toàn giống nhau, tuỳ thuộc giai đoạn đó cần giải pháp nào phù hợp để đạt mục tiêu đã định
Trang 32Quan trọng nhất của ngân sách theo chương trình mục tiêu là tính hiệu quả, bởi đây là yêu cầu và cũng là đích cần đạt tới ngay từ khi chương trình, mục tiêu được hình thành Mỗi chương trình mục tiêu cần có kết quả cụ thể được thể hiện bằng những chỉ tiêu lượng hoá, có thể đo đếm và được kiểm tra đánh giá tiến độ và tỷ lệ hoàn thành so với mục tiêu đề ra, chương trình kết thúc khi các chỉ tiêu đề ra đã thực hiện xong
Thứ tư, khuôn khổ chi tiêu trung hạn là kế hoạch cuốn chiếu các khoản chi trong và ngoài ngân sách trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 năm, đây là công cụ kế hoạch mới so với trước đây, không có điểm bắt đầu và kết thúc cố định Công cụ này còn gọi là kế hoạch trượt bởi lúc nào cũng tồn tại một kế hoạch trung hạn, nếu điểm đầu dịch chuyển một năm thì điểm cuối cũng được dịch chuyển như vậy Ưu điểm nổi bật của công cụ này là kế hoạch luôn được
bổ sung, cập nhật hàng năm, làm cho kế hoạch sống động, mang tính khả thi,
vì vậy đang được nhiều nước áp dụng
Công cụ này còn cho phép giải quyết mối quan hệ giữa ngân sách chương trình dự án và ngân sách kết quả đầu ra, thể hiện ở chỗ chương trình,
dự án, các kết quả đầu ra đều được thể hiện trong khuôn khổ trung hạn mà các công cụ khác khó có thể chuyển tải cả 2 nội dung này
Đây là công cụ mới thể hiện rõ tính hơn hẳn so với những kế hoạch khác,
vì vậy Việt Nam cần áp dụng sớm Tuy nhiên, đây là công cụ mới nên cần chuẩn bị những điều kiện nhất định, hiện nay đang được áp dụng thí điểm ở một số trường giáo dục phổ thông và sẽ được nhân rộng trong thời gian tới thay thế cho kế hoạch dài hạn cố định không còn phù hợp với phương thức quản lý chi hiện đại
Với định hướng phát triển kinh tế thị trường chúng ta đang theo đuổi, thì việc áp dụng các công cụ trợ cấp mang tính phổ biến các quốc gia đã và đang
sử dụng gần như là giải pháp tất yếu Xuất phát từ sự phát triển không đồng
Trang 33đều giữa các địa phương có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau khi bắt đầu bước vào kinh tế thị trường Hơn bao giờ hết, thông qua công cụ trợ cấp, Chính phủ thể hiện vai trò điều hoà ngân sách để các địa phương có thể giải quyết nhiệm vụ cơ bản về ngân sách, ngoài ra còn thực hiện một số mục tiêu đầu tư hạ tầng thiết yếu và phát triển kinh tế trọng tâm trong từng giai đoạn
Và quan trọng nhất, trợ cấp ngân sách được sử dụng như công cụ hữu hiệu để đạt mục tiêu chúng ta đang theo đuổi, đó là hạn chế tối đa mặt trái của kinh tế thị trường, giải quyết hàng loạt vấn đề xã hội bức xúc
- Đánh giá tình hình và tìm ra những sai sót trong báo cáo quyết toán
ngân sách (xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo quyết toán NSNN đối với niên độ được kiểm toán);
- Đánh giá việc tuân thủ pháp luật, chính sách, chế độ quản lý tài chính -
kế toán, chế độ quản lý đầu tư và xây dựng; việc quản lý và sử dụng tài sản công (quản lý, sử dụng đất đai, trụ sở làm việc tại các đơn vị được kiểm toán);
- Đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân
sách, tiền và tài sản nhà nước, trong đó đi sâu đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả việc triển khai thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN;
- Phát hiện kịp thời hành vi tham nhũng, lãng phí và sai phạm trong
quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước tại các đơn vị sử dụng; xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, kiến nghị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật
- Kiến nghị với đơn vị chấn chỉnh công tác quản lý tài chính - kế toán,
hoạt động của đơn vị và biện pháp khắc phục những tồn tại được phát hiện qua kiểm toán; kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý vi phạm, sửa đổi, bổ sung
cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý, sử dụng ngân sách, tiền, tài sản
Trang 34nhằm bảo đảm các nguồn lực tài chính công được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả
Để có thể đánh giá được tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý,
sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước, kiểm toán viên phải tiến hành kiểm toán các hoạt động quản lý và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước có phù hợp với các nguyên tắc, chính sách, tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước hay không? Đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực bao gồm cả việc kiểm tra các hệ thống thông tin, mức độ hoạt động và hệ thống giám sát
mà đơn vị áp dụng để đạt được mục tiêu đề ra và cuối cùng là so sánh kết quả thực tế đạt được với kết quả dự kiến sẽ mang lại ứng với từng nguồn kinh phí Một trong những nội dung quan trọng phải thực hiện trước khi tiến hành kiểm toán là phải thiết lập được các tiêu chí kiểm toán để làm cơ sở so sánh với kết quả thực hiện Do đặc thù của từng đơn vị quản lý, sử dụng ngân sách, mỗi đơn vị có quy mô ngân sách và chức năng quản lý nhà nước khác nhau nên không thể thiết lập được bộ tiêu chí chung cho tất cả các cuộc kiểm toán
mà chỉ có thể thiết lập tiêu chí cho từng cuộc kiểm toán riêng biệt Vì vậy, trong phạm vi bài viết này chỉ đưa ra những nội dung kiểm toán có tính chất chung nhất khi kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách, tiền và tài sản nhà nước tại các bộ, ngành, đưa ra thực trạng cơ sở thiết lập các tiêu chí kiểm toán đối với từng nội dung của KTNN chuyên ngành II trong thời gian kiểm toán ngân sách, tiền và tài sản nhà nước tại các bộ, ngành mà không đưa ra các các tiêu chí kiểm toán cụ thể cho từng cuộc kiểm toán
1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Quản lý chi NSNN là sự tác động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đến các hoạt động chi NSNN, làm cho quỹ NSNN được phân bổ,
sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả, nhằm phục vụ tốt nhất cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ do cơ quan quản lý nhà nước đảm nhận Quản lý NSNN huyện (quận) là quản lý toàn bộ các khoản thu, chi
Trang 35NSNN cấp huyện hằng năm qua các khâu: Lập dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán và kiểm tra, kiểm soát NSNN huyện (quận)
1.2.1 Công tác lập dự toán chi NSNN huyện (quận)
a Lập dự toán ngân sách
Lập dự toán ngân sách nhà nước là khâu đầu tiên và là giai đoạn khởi
đầu trong một quá trình ngân sách ở mỗi quốc gia
b Mục đích, yêu cầu của lập dự toán chi ngân sách nhà nước
Dự toán là khâu mở đầu của một chu trình NSNN Những khoản chi một khi đã được ghi vào dự toán chi và đã được cơ quan quyền lực nhà nước xét duyệt được coi là chi tiêu pháp lệnh Xét trên góc độ quản lý, số chi đã được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của cơ quan chức năng quản lý tài chính nhà nước với các đơn vị thụ hưởng NSNN, từ đó nảy sinh nguyên tắc quản lý chi theo dự toán
Việc quản lý quá trình lập dự toán chi ngân sách cấp thành phố do UBND thành phố, Phòng tài chính – Kế hoạch thành phố thực hiện
- Mục đích cơ bản của việc lập dự toán chi ngân sách là nhằm bảo đảm
tính đúng đắn ngân sách trong kỳ kế hoạch, có căn cứ khoa học và căn cứ thực tiễn các chi tiêu thu, chi của ngân sách trong kỳ kế hoạch
- Yêu cầu trong quá trình lập dự toán ngân sách phải đảm bảo:
+ Kế hoạch ngân sách nhà nước phải bám sát kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội và có tác động tích cực đối với việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội: Kế hoạch chi ngân sách chỉ mang tính hiện thực khi nó bám sát kế hoạch phát triển – xã hội, có tác động tích cực đến thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội,cũng chính là thực hiện kế hoạch ngân sách nhà nước Trong điều kiện kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện kinh tế quản lý
vĩ mô, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu mang tính định hướng + Kế hoạch chi ngân sách nhà nước phải đảm bảo thực hiện đầy đủ và
Trang 36đúng đắn các quan điểm của chính sách tài chính địa phương trong thời kỳ và yêu cầu của Luật ngân sách nhà nước Hoạt động chi ngân sách nhà nước là nội dung cơ bản của chính sách tài chính Do vậy, lập ngân sách nhà nước phải thể hiện được đầy đủ và đúng đắn các quan điểm chủ yếu của chính sách tài chính địa phương Bên cạnh đó, chi ngân sách nhà nước hoạt động luôn phải tuân thủ các yêu cầu của Luật ngân sách nhà nước, nên ngay từ khâu lập ngân sách cũng phải thể hiện đầy đủ các yêu cầu của Luật ngân sách nhà nước như: Xác định phạm quy, mức độ của nội dung các khoản chi phân định chi giữa các cấp ngân sách, cân đối ngân sách nha nước
c Căn cứ lập dự toán chi NSNN
- Nhiệm vụ phát triển Kinh tế - Văn hóa – Xã hội đảm bảo quốc phòng,
An ninh của Đảng và Chính quyền địa phương trong năm kế hoạch và những năm tiếp theo
- Lập dự toán chi ngân sách nhà nước phải dựa trên kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương trong năm kế hoạch Kế hoạch phát triển kinh
tế, xã hội là cơ sở, căn cứ để đảm bảo các nguồn chi cho ngân sách nhà nước Đồng thời, cũng là nơi sử dụng các khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước
- Lập dự toán chi ngân sách ngân sách nhà nước phải tính đến kết quả
phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch ngân sách của các năm trước,đặc biệt là của năm báo cáo
- Lập ngân sách nhà nước phải dựa trên các chính sách, chế độ, tiêu
chuẩn định mức cụ thể về chi tài chính nhà nước Lập chi ngân sách nhà nước
là xây dựng các chi tiêu chi cho năm kế hoạch, các chỉ tiêu đó chỉ có thể được xây dựng sát, đúng, ngoài ra dựa vào căn cứ nói trên phải đặc biệt tuân thủ theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu chi tài chính nhà nước thông qua hệ thống pháp luật và các văn bản pháp lý khác của nhà nước
- Trong quản lý chi ngân sách nhất thiết phải có định mức cho từng
Trang 37nhóm mục chi hay cho mỗi đối tượng cụ thể Nhờ đó cơ quan tài chính mới có căn cứ để lập các phương án phân bổ ngân sách, kiểm tra, giám sát quá trình chấp hành, thẩm tra phê duyệt quyết toán kinh phí của các đơn vị thụ hưởng Đồng thời dựa vào đinh mức chi mà các ngành, các cấp, các đơn vị mới có căn cứ pháp lý để triển khai các ngành, các cấp, các đơn vị mới có căn cứ pháp lý để triển khai các công việc cụ thể của quá trình quản lý, sử dụng kinh phí tại đơn vị mình theo đúng chế độ
d Phương pháp lập dự toán chi NSNN
Có 2 phương pháp phổ biến được áp dụng trong lập dự toán chi NSNN
là : phương pháp phân bổ từ trên xuống và phương pháp lập từ cơ sở, tổng hợp từ dưới lên
- Phương pháp phân bổ từ trên xuống
Phương pháp này được thể hiện chủ yếu là nhà nước trung ương dụa vào các căn cứ nhất định sẽ xác định tổng số chi của NSNN trong kỳ kế hoạch
Phương pháp này có ưu điểm là nhanh, gọn, đảm bảo được các yêu cầu của Nhà nước trung ương
- Phương pháp lập dự toán từ cơ sở, tổng hợp từ dưới lên
Nội dung chính của phương pháp này là các nội dung chi của NSNN sẽ được tiến hành lập từ những đơn vị cơ sở thấp nhất, sau đó được tổng hợp lên các cấp, các ngành
1.2.2 Chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước
a Chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước
Là thực hiện dự toán ngân sách nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hay nói cách khác là thực hiện các chỉ tiêu chi tài chính trong dự toán ngân sách nhà nước
Trang 38b Mục tiêu của chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước
- Biến các chỉ tiêu chi ghi trong kế hoạch ngân sách năm từ khả năng,
dự kiến thành hiện thực
- Thông qua chấp hành dự toán chi NSNN có thể tiến hành kiểm tra
việc thực hiện các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức về kinh tế, tài chính của nhà nước
c Nội dung chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước
- Phân bổ và giao dự toán chi NS huyện (quận)
Căn cứ Quyết định của UBND thành phố và giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách, Phòng tài chính Kế hoạch quận có trách nhiệm tham mưu cho UBND huyện, quận thực hiện phương án phân bổ ngân sách cấp huyện và mức phân bổ cho ngân sách cấp dưới
Nội dung cơ bản của cho thường xuyên: Chi cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa – thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục thể thao, đảm bảo xã hội; Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước; Chi hoạt động môi trường; Chi cho hoạt động hành chính nhà nước; Chi cho An ninh – quốc phòng và chi khác ngân sách
Nội dung cơ bản của chi đầu tư phát triển: Việc cấp phát thanh toán vốn đầu tư và xây dựng cơ bản phải đảm bảo đúng mục đích, đúng kế hoạch; Cấp phát đầu tư xây dựng cơ bản chỉ được thực hiện theo đúng mức độ thực tế hoàn thành kế hoạch, trong phạm vi gia dự toán được duyệt
Sau khi được các cơ quan tài chính thống nhất, thủ trưởng cơ quan, đơn
vị phân bổ ngân sách quyết định giao dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc
- Chi trả, thanh toán bằng hình thức chi lệnh tiền
Các khoản chi trả thanh toán theo hình thức bằng lệnh chi tiền gồm:
Trang 39+ Chi cho các doanh nghiệp các tổ chức kinh tế - xã hội không có quan
hệ thường xuyên với ngân sách
+ Chi cho vay, trả nợ trong và ngoài nước
+ Chi bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới
- Chi ứng trước dự toán
+ Các dự án, công trình quốc gia và công trình XDCB
+ Một số nhiệm vụ quan trọng cấp bách phải thực hiện theo chế độ
1.2.3 Công tác quyết toán chi ngân sách nhà nước
a Quyết toán ngân sách nhà nước
Quyết toán NSNN là phản ánh cuối cùng về tình hình thực hiện thu, chi theo dự toán hàng năm, cũng là sự phản ánh tập trung về tài chính kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân và xã hội
b Nội dung quyết toán chi ngân sách nhà nước
Quyết toán ngân sách là khâu cuối cùng của một chu trình ngân sách Tổng kết quá trình thực hiện dự toán ngân sách nhằm đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động của một năm ngân sách đó rút ra ưu, nhược điểm và bài học kinh nghiệm cần thiết trong việc quản lý ngân sách cấp huyện cho những năm tiếp sau đó
- Quyết toán NSNN phải đảm bảo thực hiện đầy đủ chế độ kế toán,
kiểm toán, báo cáo kế toán, quyết toán NSNN theo luật định Các đơn vị dự toán, cơ quan tài chính, Thuế các cấp và Kho bạc Nhà nước phải tổ chức công tác kế toán, quyết toán NS theo quy định của pháp luật về kế toán
- Thực hiện chỉnh lý quyết toán NS trong thời gian chỉnh lý quyết toán
là thời gian quy định cho NS các cấp thực hiện việc giải quyết các tồn đọng của năm báo cáo và đối chiếu, điều chỉnh những sai sót trong quá trình hoạch toán kế toán, hoàn chỉnh số liệu để quyết toán NS năm báo cáo
- Quyết toán NSNN phải đảm bảo các nguyên tắc theo luật định, đảm
Trang 40bảo số liệu báo cáo quyết toán phải chính xác, trung thực, đầy đủ và kịp thời Nội dung báo cáo quyết toán NS phải đúng các nội dung ghi trong dự toán được giao và chi tiết theo mục lục NSNN Đồng thời, thực hiện đúng trình tự lập, gởi xét duyệt báo cáo quyết toán NSNN năm theo quy định Sau đó, báo cáo quyết toán NSNN năm theo quy định Sau đó, báo cáo quyết toán NS các cấp được thẩm định, phê chuẩn và gởi báo cáo quyết toán NSNN hàng năm cho các cơ quan có thẩm quyền theo luật định
- Báo cáo quyết toán NS các cấp chính quyền phải đảm bảo đầy đủ các
biểu, mẫu theo chế độ quy định và chấp hành đúng quy định về thời hạn báo cáo kế toán, thời hạn chỉnh lý quyết toán, thời hạn báo cáo quyết toán năm
- Đơn vị trực tiếp sử dụng kinh phí ủy quyền của NS cấp trên phải lập
báo cáo quyết toán năm theo biểu, mẫu quy định gởi cơ quan tài chính nhận
ủy quyền và cơ quan quản lý chuyên ngành đồng cấp Cơ quan Tài chính nhận
ủy quyền chủ trì phối hợp với cơ quan quản lý chuyên ngành cùng cấp thẩm tra, xem xét quyết toán kinh phí ủy quyền của cơ quan Tài chính nhận ủy quyền và tổng hợp vào quyết toán chi NS cấp ủy quyền
- Cơ quan Tài chính, cơ quan thu ngân sách, cơ quan kho bạc nhà nước,
đơn vị dự toán các cấp theo chức năng nhiệm vụ được phân công có trách nhiệm tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra kế toán thường xuyên, định kỳ đối với các đơn vị, cá nhân ý nghĩa vụ thu nộp ngân sách, đơn vị sử dụng ngân sách các cấp
- Việc kiểm tra quyết toán năm của các đơn vị dự toán và ngân sách các
cấp do cơ quan kiểm toán Nhà nước thực hiện theo quy định Khi nhận được kiến nghị của cơ quan kiểm toán Nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền phải xem xét xử lý đúng theo quy định của pháp luật trước khi Quốc hội phê chuẩn quyết toán NSNN, HĐND phê chuẩn quyết toán NSĐP và thông báo cho cơ quan Kiểm toán Nhà nước