Để giúp NKT có thể vượt qua được những khó khăn do khiếm khuyết của cơ thể, hòa nhập vào cuộc sống thì chính sách trợ giúp xã hội TGXH đóng vai trò không nhỏ trong việc ổn định cuộc sống
Trang 1NGUYỄN THỊ THÚY NGA
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TRỢ GIÚP XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ THÚY NGA
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TRỢ GIÚP XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở
QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ BẢO
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thúy Nga
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục của đề tài 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 9
1.1 KHÁI QUÁT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 9
1.1.1 Trợ giúp xã hội 9
1.1.2 Người khuyết tật 12
1.1.3 Mục tiêu trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 25
1.1.4 Các nguyên tắc cơ bản của trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 25
1.1.5 Vai trò của trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 29
1.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 31
1.2.1 Trợ cấp xã hội hàng tháng 31
1.2.2 Trợ giúp về y tế 32
1.2.3 Trợ giúp về giáo dục 33
1.2.4 Trợ giúp về dạy nghề và tạo việc làm 34
1.2.5 Trợ giúp về tiếp cận văn hóa, thể thao, giải trí 35
Trang 51.2.6 Tiêu chí đánh giá công tác trợ giúp xã hội đối với người khuyết
tật 35
1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 38
1.3.1 Nhóm nhân tố từ người khuyết tật 38
1.3.2 Nhóm nhân tố từ cơ chế, công cụ chính sách 39
1.3.3 Nhóm nhân tố thuộc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở QUẬN THANH KHÊ 43
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA QUẬN THANH KHÊ 43
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 43
2.1.2 Đặc điểm về điều kiện xã hội 45
2.1.3 Đặc điểm về điều kiện kinh tế 48
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở QUẬN THANH KHÊ 51
2.2.1 Thực trạng công tác trợ cấp xã hội hàng tháng 51
2.2.2 Thực trạng công tác trợ giúp về y tế 58
2.2.3 Thực trạng công tác trợ giúp về giáo dục 60
2.2.4 Thực trạng công tác trợ giúp về dạy nghề và tạo việc làm 63
2.2.5 Thực trạng công tác trợ giúp về tiếp cận văn hóa, thể thao, giải trí 64
2.2.6 Thực trạng công tác triển khai chính sách trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ở quận Thanh Khê 65
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở QUẬN THANH KHÊ THỜI GIAN QUA 72
2.3.1 Những thành công đạt được 72
Trang 62.3.2 Những hạn chế 73
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 74
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 80
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở QUẬN THANH KHÊ 81
3.1 CƠ SỞ CHO VIỆC XÂY DỰNG GIẢI PHÁP 81
3.1.1 Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và xã hội về NKT hiện nay 81
3.1.2 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quận Thanh Khê 83
3.1.3 Các quan điểm định hướng khi xây dựng giải pháp 84
3.2 CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ 86
3.2.1 Hoàn thiện công tác triển khai chính sách trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 86
3.2.2 Mở rộng quy mô đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội và kinh phí chăm sóc người khuyết tật hàng tháng 91
3.2.3 Tăng cường công tác trợ giúp về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật 92
3.2.4 Đẩy mạnh công tác trợ giúp về giáo dục cho trẻ em khuyết tật 92
3.2.5 Tăng cường công tác trợ giúp về dạy nghề và việc làm cho người khuyết tật 93
3.2.6 Đẩy mạnh công tác trợ giúp về vui chơi, giải trí cho người khuyết tật 95
3.3 KIẾN NGHỊ 95
3.3.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật 96
3.3.2 Điều chỉnh mức trợ cấp xã hội hàng tháng theo hướng dần tiếp cận với nhu cầu mức sống tối thiểu 96
Trang 73.3.3 Rút ngắn thời gian ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách 97 3.3.4 Đẩy mạnh việc thực hiện lộ trình cải tạo các công trình công cộng, phương tiện giao thông tiếp cận 97 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 98
KẾT LUẬN 99 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.13
Ý kiến của cán bộ thực hiện chính sách về sự phù hợp
của mức chuẩn trợ cấp so với tình hình phát triển kinh tế
- xã hội
76
2.14
Ý kiến của cán bộ thực hiện chính sách về quy định việc
xác định mức độ khuyết tật do Hội đồng giám định
khuyết tật phường đánh giá
76
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Qua gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trên tất cả các lĩnh vực Kinh tế - Văn hóa - Xã hội, cuộc sống của người dân đã không ngừng cải thiện và nâng lên Ngoài chăm lo cuộc sống vật chất, tinh thần cho người dân, Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo sát sao hơn công tác trợ giúp các đối tượng yếu thế trong xã hội như: Người cao tuổi, người già cô đơn, trẻ em
mồ côi, trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS…, đặc biệt là người khuyết tật (NKT) NKT là một trong những nhóm đối tượng yếu thế do có sự khiếm khuyết trên cơ thể, dẫn tới sự giảm sút đáng kể trong việc thực hiện các chức năng so với người bình thường Để giúp NKT có thể vượt qua được những khó khăn
do khiếm khuyết của cơ thể, hòa nhập vào cuộc sống thì chính sách trợ giúp
xã hội (TGXH) đóng vai trò không nhỏ trong việc ổn định cuộc sống của NKT Các chính sách đó có thể là: trợ cấp xã hội, bảo hiểm y tế, giáo dục, việc làm… Mục đích của các chính sách trên nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để cho NKT có thể phát triển cả về thế chất lẫn tinh thần Điều này thể hiện tinh thần nhân văn cao cả của Đảng và Nhà nước đối với những đối tượng yếu thế, những người thiệt thòi gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống Năm 2010 được đánh dấu là năm bước ngoặt trong công tác chăm sóc NKT bằng việc ra đời Luật người khuyết tật, Luật người khuyết tật là sự kế thừa của Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 Ngoài ra, Đảng và Nhà nước còn có các nghị định, thông tư, hướng dẫn trong công tác chăm sóc NKT Hiện nay, theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội cả nước có khoảng 6,7 triệu NKT chiếm khoảng 7,5% dân số [38] Để giúp NKT vượt qua được rào cản, khó khăn trong cuộc sống thì việc thực hiện các chính sách của Nhà nước và sự hỗ trợ của cộng đồng là điều hết sức cần thiết
Trang 12Quận Thanh Khê là một trong các quận trung tâm của thành phố Đà Nẵng Thực hiện đúng chính sách của Nhà nước và thành phố Đà Nẵng, trong những năm qua công tác TGXH đối với NKT trên địa bàn quận Thanh Khê được thực hiện nghiêm túc Nhờ có sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương công tác chăm sóc NKT đã có chuyển biến rõ rệt, cuộc sống của người khuyết tật đã có những cải thiện đáng kể, tạo điều kiện
để ổn định và hòa nhập vào cuộc sống Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện công tác TGXH đối với NKT vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập Chính
vì vậy, để đảm bảo thực hiện chính sách an sinh xã hội góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, để công tác TGXH đối với NKT đi vào cuộc sống một cách hiệu quả, tạo được niềm tin, niềm vui và chỗ dựa vững chắc cho họ thì việc nghiên cứu đánh giá và đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện hiệu quả công tác TGXH đối với NKT là rất cần thiết Với lí do đó, tôi lựa chọn đề
tài “Hoàn thiện công tác trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ở quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng” để làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành
kinh tế phát triển
2 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa lý luận về công tác trợ giúp xã hội đối với NKT
Đánh giá thực trạng công tác trợ giúp xã hội đối với NKT trên địa bàn quận Thanh Khê trong thời gian qua
Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác trợ giúp
xã hội đối với NKT trong thời gian tới
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác trợ giúp xã hội đối với NKT
Trang 133.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung của công tác trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật trên năm lĩnh vực: trợ cấp hàng tháng, y
tế, giáo dục, học nghề và việc làm, vui chơi giải trí
- Về không gian: Các nội dung trên được tiến hành nghiên cứu tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
- Về thời gian: Thực trạng được phân tích từ năm 2010 đến 2014 Các giải pháp đề xuất trong luận văn có ý nghĩa trong 5 năm tới
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Luận văn chủ yếu sử dụng số liệu từ các báo cáo của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội quận Thanh Khê và sử dụng phương pháp thống kê
để phân tích đánh giá số liệu Đồng thời trong quá trình nghiên cứu đã thực hiện: khảo sát 100 NKT trên địa bàn quận Thanh Khê (thực hiện khảo sát trên 10 phường thuộc quận Thanh Khê, mỗi phường chọn ngẫu nhiên 10 NKT để khảo sát) nhằm tìm hiểu nhu cầu TGXH và độ hài lòng về chính sách của NKT; phỏng vấn trực tiếp các cán bộ thực hiện chính sách bảo trợ
xã hội ở quận Thanh Khê để xin ý kiến về đối tượng thụ hưởng, mức trợ cấp hàng tháng và tác động của chính sách,… Hai điều tra này được thiết kế
dưới dạng câu hỏi với các phương án trả lời đơn giản
4.2 Phương pháp xử lý số liệu
Việc xử lý số liệu được thực hiện bằng máy tính dựa trên phần mềm
Excel
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân tích thực chứng; phương pháp phân tích chuẩn tắc; phương pháp phân tích thống kê; phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp phân tích so sánh
Trang 145 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
đề tài được chia làm 3 phần như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật
Chương 2: Thực trạng công tác trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ở quận Thanh Khê
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật ở quận Thanh Khê
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Hiện nay, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết về
an sinh xã hội, trong đó có đề cập đến công tác TGXH đối với NKT ở góc độ
lý luận, chính sách, thực tiễn… Cũng có những công trình, bài viết riêng về NKT nhưng ở các góc độ, khía cạnh khác nhau Một số công trình tiêu biểu
có thể kể đến như:
- Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng, Lê Hoài Trung,
Robert Lezoy Bach (2005), Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt
Nam, NXB Thế giới, Hà Nội [17] Cuốn sách trình bày kết quả khảo sát các
nhu cầu và những vấn đề có liên quan đến các nhóm thiệt thòi ở Việt Nam Nhìn nhận chức năng TGXH thường xuyên như hệ thống bảo trợ xã hội Đồng thời các tác giả đưa ra những dẫn chứng về số liệu, văn bản, nguồn lực, kết quả thực hiện, điểm mạnh, điểm hạn chế của hệ thống bảo trợ xã hội của Việt Nam đối với các nhóm đối tượng yếu thế, thiệt thòi cần được trợ giúp
- Nguyễn Hải Hữu (2007), Báo cáo chuyên đề “thực trạng trợ giúp xã
hội và ưu đãi xã hội ở nước ta năm 2001 – 2007 và khuyến nghị tới năm 2015”, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, Hà Nội [24] Tác giả đã đề cập
đến các đối tượng bảo trợ xã hội trong đó có NKT và các trợ giúp xã hội mà
Trang 15NKT được hướng đến Từ đó, đề ra các kiến nghị, giải pháp tiếp tục hoàn thiện các chính sách TGXH về khám chữa bệnh, giáo dục, tiếp cận các công trình giao thông công cộng cho các đối tượng bảo trợ xã hội nói chung và NKT nói riêng
- Tổ chức lao động quốc tế - ILO (2008), Báo cáo khảo sát về đào tạo
nghề và việc làm cho Người khuyết tật tại Việt Nam [40] Báo cáo đã chỉ rõ
Chính phủ Việt Nam chú trọng nhiều đến tầm quan trọng của vấn đề hòa nhập NKT trong đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp Trong báo cáo
đã cho thấy pháp luật về đào tạo nghề và việc làm của Việt Nam không nêu rõ trong các hoạt động chủ đạo và Chính phủ cũng chưa có chính sách khuyến khích đào tạo nghề hòa nhập riêng cho NKT ngoài chính sách giáo dục hòa nhập Nhờ có một số ưu tiên riêng, đã có nhiều trường/trung tâm dạy nghề dành riêng cho NKT được thành lập, nhưng trên thực tế chỉ phục vụ các khu vực thành thị Tại các khu vực nông thôn, việc tiếp cận đào tạo nghề rất bị hạn chế Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp, kiếm được việc làm sau đào tạo nghề khá thấp
và phần lớn những học viên tốt nghiệp chủ yếu tìm được việc làm tại các cơ
sở dành riêng cho NKT chứ không phải tại các doanh nghiệp thông thường Tại Việt Nam, số các doanh nghiệp dành riêng cho NKT khá nhiều Hơn 8000 NKT làm việc tại các doanh nghiệp này Tuy nhiên, phần lớn là các cơ sở rất nhỏ, hoạt động lợi nhuận thấp như các ngành thủ công, mỹ nghệ, matsxa, đan lát Khả năng được đào tạo một cách phù hợp hoặc tham gia các dịch vụ phát triển kinh doanh tại các doanh nghiệp này là rất hạn chế
- TNS thực hiện và biên soạn cho Qũy nhi đồng liên hợp quốc UNICEF
(2009), Báo cáo về Trẻ khuyết tật và Gia đình Trẻ khuyết tật tại Đà Nẵng -
Kiến Thức - Thái Độ - Hành Vi [39] Báo cáo đã chỉ rõ ước tính Việt Nam có
khoảng hơn 1 triệu trẻ khuyết tật Năm 2008, UNICEF Việt Nam đã khởi xướng một chương trình đa ngành cho trẻ khuyết tật và Đà Nẵng là nơi đầu
Trang 16tiên được chọn trong ba tỉnh thành đề xuất cho dự án này Trong báo cáo đề cập tới kiến thức, thái độ và cảm nhận của các gia đình và trẻ khuyết tật, bao gồm những vấn đề chính và mong đợi của trẻ cũng như những trở ngại mà trẻ gặp phải trong đời sống hàng ngày, đồng thời cũng đưa ra những nhìn nhận mang tính xã hội của cộng đồng và các bên liên quan về những vấn đề này Bên cạnh đó, báo cáo còn chỉ rõ các vấn đề liên quan tới các hệ thống và sự
hỗ trợ cho việc hòa nhập của trẻ khuyết tật với cộng đồng hiện nay và quan điểm của từng bên hữu quan cũng được cung cấp Từ đó đưa ra những đề xuất củng cố thêm các chính sách, khung pháp lý và các chương trình cho trẻ khuyết tật và gia đình của trẻ, cũng như phát triển truyền thông nhằm thay đổi hành vi của xã hội cũng như từng cá nhân
- Bộ Lao động - Thương binh và xã hội (2009), Báo cáo tổng kết tình
hình thi hành Pháp lệnh về người tàn tật và các văn bản pháp luật liên quan,
Hà Nội [3] Trong báo cáo đã chỉ rõ về thực trạng người khuyết tật Theo ước tính cả nước có khoảng 5,1 triệu người khuyết tật, chiếm khoảng 6% dân số Đời sống vật chất, tinh thần của người khuyết tật còn nhiều khó khăn Những khó khăn này cản trở người khuyết tật tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn trong cuộc sống và hoà nhập với cộng đồng Đồng thời báo cáo cũng nêu rõ các kết quả thực hiện công tác chăm sóc người khuyết tật trên các lĩnh vực như: đời sống, sức khỏe, giáo dục, học nghề và việc làm, tiếp cận văn hóa, thể thao và công trình công cộng Từ đó đề ra những giải pháp để giúp công tác thực hiện pháp lệnh người tàn tật được tốt hơn
- Nguyễn Ngọc Toản (2010), Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên
cộng đồng ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc
dân, Hà Nội [37] Tác giả đã có viết một phần về NKT Trong luận án, tác giả
đã chỉ ra được số lượng NKT (theo kết quả khảo sát năm 2008) trên cả nước
Trang 17và phạm vi phân bố NKT, dạng khuyết tật và số lượng NKT cũng như nhu cầu của NKT và việc đáp ứng nhu cầu của NKT Kết quả nghiên cứu phát hiện nhu cầu trợ giúp tương đối đông, tính chung 16,22% dân số cần trợ giúp
xã hội Các nhu cầu trợ giúp về đời sống, sức khỏe, giáo dục là khác nhau, tùy thuộc vào các nhóm đối tượng cụ thể Tính hiệu quả của chính sách ngày càng cao theo thời gian Tuy nhiên tính hiệu lực, hiệu quả, tính công bằng và bền vững của chính sách còn chưa đảm bảo (mới bao phủ 1,45% dân số, 12,2% thuộc diện chưa hưởng chính sách, 32% đối tượng, 55% cán bộ chưa thực sự hài lòng với chính sách) Đồng thời dựa trên những kết quả thu được, tác giả cũng đã đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách TGXH thường xuyên ở cộng đồng Việt Nam
- Nguyễn Quốc Anh (2010), “Thực trạng Người khuyết tật và kết quả
thực hiện chăm sóc Người khuyết tật”, Tạp chí Dân số và Phát triển, số 1
(106) [1] Bài viết phân tích, đánh giá thực trạng NKT ở Việt Nam Cả nước
có khoảng 5,1 triệu NKT, chiếm khoảng 6% dân số, với nhiều nguyên nhân dẫn đến khuyết tật khác nhau Công tác tuyên truyền phổ biến Pháp lệnh và chính sách liên quan đến NKT cũng còn hạn chế Còn tới 77,1% số người không biết Pháp lệnh về người tàn tật, trong số biết chỉ có 6,4% biết rõ, 16,5% mới chỉ nghe và biết tên Hiểu biết ít nên các hoạt động chăm sóc, hỗ trợ NKT ở cộng đồng chưa được thực hiện tốt; NKT thường tự ti trong cuộc sống, chưa thấy được quyền và trách nhiệm của mình Đồng thời đưa ra những dẫn chứng về số liệu, văn bản, kết quả thực hiện, điểm mạnh, điểm hạn chế của chính sách TGXH đối với NKT trên năm lĩnh vực: đời sống; sức khỏe, chỉnh hình, phục hồi chức năng; học văn hóa; học nghề và tạo việc làm; tiếp cận văn hóa, thể thao và công trình công cộng
- Quỹ dân số Liên hợp quốc UNFPA (2011), Người khuyết tật Việt Nam:
Một số kết quả chủ yếu từ Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009, Hà
Trang 18Nội [33] Tài liệu này đưa ra một bức tranh kinh tế - xã hội sơ bộ về NKT ở Việt Nam dựa trên phân tích số liệu mẫu 15% của tổng điều tra dân số năm
2009 Báo cáo chỉ rõ trong số 78,5 triệu người Việt Nam từ 5 tuổi trở lên năm
2009 có 6,1 triệu người, tương ứng với 7,8% dân số từ 5 tuổi trở lên, có khó khăn trong việc thực hiện ít nhất một trong bốn chức năng nhìn, nghe, vận động, và tập trung hoặc ghi nhớ Tỷ lệ người khuyết tật ở các vùng khác nhau
rõ rệt, có75,7% số NKT sống ở khu vực nông thôn Báo cáo cũng chỉ rõ so với người không khuyết tật, NKT thường có điều kiện nhà ở kém hơn, mức sống của hộ gia đình họ cũng thấp hơn, NKT có tỷ lệ sống độc thân cao hơn, gặp nhiều khó khăn hơn trong việc kết hôn, cũng như gặp nhiều trục trặc sau hôn nhân hơn So với NKT trẻ tuổi, NKT cao tuổi, đặc biệt là những người góa bụa hoặc sống độc thân, có nhu cầu rất lớn về những hỗ trợ từ Chính phủ hay từ ngoài gia đình NKT cũng chịu nhiều thiệt thòi hơn trong giáo dục so với người không khuyết tật, do vậy cần có sự quan tâm và hỗ trợ đặc biệt đến giáo dục cho thanh thiếu niên khuyết tật
Đa phần các công trình nghiên cứu đều trên phạm vi rộng và đề cập tới nhiều đối tượng bảo trợ xã hội Qua các nghiên cứu của các tác giả cũng như các bộ ngành, đã cho chúng ta thấy một bức tranh về thực trạng NKT, kết quả thực hiện chính sách và đề xuất, kiến nghị các giải pháp tăng cường hệ thống thực thi các chính sách liên quan đến NKT Tuy vậy, các nghiên cứu nêu trên đều tập trung vào tầm vĩ mô trên phạm vi toàn quốc, chưa có đề cập đến tình hình NKT cụ thể của một huyện hay một xã nào Chính vì lẽ đó mà nghiên cứu về tình hình thực hiện chính sách trợ giúp đối với NKT ở cấp huyện sẽ là những nghiên cứu thực địa mang tính bổ sung cho các nghiên cứu trên phạm
vi toàn quốc là rất cần thiết và có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn cao
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TRỢ GIÚP XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1 KHÁI QUÁT VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1.1 Trợ giúp xã hội
a Khái niệm trợ giúp xã hội
Trợ giúp xã hội là một hợp phần trong hệ thống ASXH thực hiện chức năng trợ giúp bộ phận dân cư yếu thế tồn tại, vươn lên thoát khỏi khó khăn để
có thể hòa nhập, tái hòa nhập đời sống xã hội Tùy từng quốc gia khác nhau
và trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau mà các quốc gia quy định nhóm các đối tượng yếu thế thuộc diện điều chỉnh của hệ thống chính sách TGXH Và TGXH được hiểu theo các quan điểm tiếp cận, tính chất, chức năng
và mô hình khác nhau
Theo tổ chức lao động quốc tế (International labour Orgarnisation- ILO), trợ giúp xã hội là những chính sách, chế độ trợ giúp của nhà nước và do Ngân sách Nhà nước đảm bảo để duy trì thu nhập của những người không có nguồn thu nhập từ quỹ bảo hiểm cũng như nâng mức thu nhập của những người đã
có thu nhập từ quỹ bảo hiểm nhưng tổng thu nhập cá nhân vẫn chưa đạt mức sống tối thiểu đảm bảo nhu cầu cơ bản của con người (Nguyễn Mạnh Cường
và Đỗ Quỳnh Chi – tham luận tại hội thảo do Bộ LĐTBXH và GTZ phối hợp
tổ chức tại Hà Nội ngày 01/4/2003)
Nguyễn Ngọc Toản (2010) cho rằng: “Trợ giúp xã hội là các biện pháp, giải pháp của Nhà nước và xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội (người
bị thiệt thòi, yếu thế hay gặp bất hạnh trong cuộc sống) nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trong cuộc sống Việc bảo
Trang 20đảm này thông qua việc cung cấp tài chính, vật phẩm, các điều kiện vật chất khác cho đối tượng.” [37]
Qua các khái niệm thuật ngữ có liên quan đến TGXH nêu trên, có thể
tổng hợp thành một khái niệm chính thức về TGXH như sau: Trợ giúp xã hội
là hệ thống các chính sách, chế độ, chương trình trợ giúp chính thức của Nhà nước chính quyền các cấp và hoạt động trợ giúp phi chính thức của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng yếu thế và dễ bị tổn thương có điều kiện khắc phục những khó khăn ổn đin h cuộc sống và có cơ hội vươn lên hòa nhập vào cộng đồng để c ng phát triển
b Quan điểm tiếp cận trợ giúp xã hội
Chính sách TGXH của mỗi quốc gia được xây dựng trên cơ sở quan điểm phát triển hệ thống trợ giúp xã hội của mình Với quan điểm tiếp cận đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, sẽ có được hệ thống chính sách hiệu quả, phát huy được vai trò hỗ trợ các chính sách kinh tế và ổn định xã hội Ngược lại, với quan điểm không phù hợp, sẽ dẫn đến việc lựa chọn các chính sách không phù hợp, không những gây tốn kém nguồn lực Nhà nước mà còn không hiệu quả và đôi khi còn gây nên hậu quả xấu cho xã hội
- Tiếp cận theo quan điểm quyền con người
Quan điểm này lấy con người làm trung tâm của mục tiêu các chính sách TGXH và hướng vào phát triển con người Với quan niệm con người sinh ra
có các quyền sống và phát triển Nhà nước và xã hôị cần có biện pháp trợ giúp những cá nhân không có năng lực thực hiện quyền và tự bảo đảm nhu cầu cơ bản của mình để duy trì cuộc sống và có cơ hội phát triển TGXH chính là sự can thiệp để các cá nhân trong xã hội thực hiện các nhu cầu cơ bản Trách nhiệm của Nhà nước là bảo vệ sự an toàn cho tất cả các thành viên trong xã hội trước các nguy cơ suy giảm hoặc bị mất nguồn thu nhập, trước các cú sốc
Trang 21về kinh tế - xã hội và đó thuộc về chức năng cơ bản của an sinh xã hội Theo quan điểm này, chính sách TGXH được xây dựng trên cơ sở bảo đảm cho bộ phận dân cư khó khăn có thể thực hiện các nhu cầu về đời sống như lương thực, thực phẩm, có nước sạch sinh hoạt, có nơi ở, bảo đảm vệ sinh cá nhân
và môi trường, được chăm sóc về y tế, được tiếp cận giáo dục, văn hóa, thể thao và các hoạt động cộng đồng khác
- Tiếp cận theo quan điểm quản lý rủi ro
Cơ sở của quan điểm này là mọi thành viên trong xã hội luôn có nguy cơ
bị rủi ro trong cuộc sống, nhất là rủi ro trong kinh tế thị trường, rủi ro do thiên tai, tác động xấu của biến đổi khí hậu và rủi ro xã hội khác TGXH là một trong những công cụ, biện pháp quan trọng trong hệ thống quản lý rủi ro và thực hiện các chức năng phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro dẫn đến
bị giảm hoặc bị mất sinh kế, nguồn thu nhập, thiếu người chăm sóc, tạo cơ hội cho họ hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng thông qua đảm bảo những quyền cơ
bản của con người về ăn, mặc, ở, học tập, chăm sóc sức khỏe, nước sạch,
Với cách tiếp cận này đối tượng TGXH là những cá nhân chịu rủi ro và những
cá nhân có nguy cơ chịu rủi ro
- Tiếp cận theo quan điểm phổ cập
Quan điểm này dựa trên cơ sở cho rằng mọi thành viên xã hội đã là khó khăn rồi thì đều có nhu cầu được đảm bảo về ASXH như nhau Vì vậy, chính sách TGXH theo hướng phổ cập đối với tất cả các đối tượng, không có sự
ràng buộc về các điều kiện hay các tiêu chí ưu tiên Ưu điểm của mô hình này
là tiêu chí xác định đối tượng đơn giản, do vậy chi phí quản lý thấp, độ bao phủ đối tượng cao so với dân số Hạn chế là mức trợ cấp thấp do số lượng đối tượng hưởng trợ cấp đông, trong khi đó tổng kinh phí trợ cấp xã hội hàng năm rất lớn Như vậy, quan điểm này chỉ quan tâm đến chiều rộng mà chưa chú
trọng đến chiều sâu
Trang 22- Tiếp cận theo quan điểm mục tiêu
Vì nguồn lực hạn chế trong khi nhu cầu là rất lớn nên đòi hỏi cần có ưu tiên và lựa chọn một số nhóm đối tượng ưu tiên của chính sách, thông thường
ưu tiên nhóm khó khăn nhất Với quan điểm tiếp cận chính sách này, tiêu chí xác định đối tượng thường phức tạp hơn, phải gắn với những điều kiện giới hạn đối tượng hưởng lợi như nghèo, không tự bảo đảm được cuộc sống; do đó chi phí quản lý cao, độ bao phủ thấp Nhưng ưu điểm là mức trợ cấp cao hơn
và nguồn lực thấp hơn kiểu quan điểm phổ cập vì độ bao phủ thấp Quan điểm này được cụ thể hóa ngay cả trong các chính sách trợ cấp xã hội có nhiều mức trợ cấp khác nhau tùy theo điều kiện hoàn cảnh khó khăn và nhu cầu của từng đối tượng Quan điểm này phù hợp với các nước nghèo, khó khăn về ngân sách mà đông đối tượng cần trợ giúp
- Tiếp cận quan điểm tổng thể
Quan điểm này dựa trên các quan điểm tiếp cận khác nhau để lựa chọn
mô hình TGXH vừa kết hợp bảo đảm quyền, thực hiện các chức năng chính sách, phổ cập hoặc mục tiêu ưu tiên chính sách Việc lựa chọn mô hình phụ thuộc vào không gian, thời gian và các nhóm đối tượng cụ thể Quan điểm này vừa quan tâm đến việc mở rộng chính sách, nâng cao chất lượng chính sách, vừa đảm bảo thực hiện mục tiêu chính sách, thường tiết kiệm nguồn lực của Nhà nước, phát huy sự tham gia, vươn lên của chính đối tượng hưởng lợi, tránh ỉ lại vào Nhà nước, xã hội
1.1.2 Người khuyết tật
a Khái niệm người khuyết tật
Theo quan niệm của tổ chức y tế thế giới (WHO) thì có ba thuật ngữ có liên quan đến thuật ngữ khuyết tật đó là khiếm khuyết, giảm khả năng và tàn tật
- Khiếm khuyết : thuật ngữ này chỉ tình trạng bị mất hoặc tình trạng bất bình thường một hay các bộ phận cơ thể hoặc chức năng tâm sinh lý Khiếm
Trang 23khuyết có thể là hậu quả của bệnh tật, tai nạn, các nhân tố môi trường hoặc bẩm sinh
- Giảm khả năng: thuật ngữ này hàm ý nói ở cấp độ cá nhân là tình trạng giảm hay mất khả năng hoạt động do khiếm khuyết gây ra; hạn chế hay mất một phần hoặc nhiều chức năng của cơ thể (vận động, nói, nghe, nhìn hoặc giao tiếp)
- Tàn tật: thuật ngữ này hàm ý nói ở cấp độ xã hội là những thiệt thòi mà một người phải chịu do bị khuyết tật Hậu quả của sự tương tác giữa một cá nhân bị khiếm khuyết hoặc giảm khả năng với những rào cản trong môi trường xã hội, văn hoá hoặc vật chất, làm cho cá nhân này không thể tham gia một cách bình đẳng vào cuộc sống cộng đồng chung hoặc hoàn thành một vai trò bình thường để tồn tại trong cộng đồng mà phải phụ thuộc vào người khác Như vậy, trên thế giới quan niệm về người khuyết tật cơ bản là giống nhau về bản chất vấn đề, nhưng cách diễn đạt cũng không hoàn toàn giống nhau
Đại hội đồng Liên hợp quốc (2006) cho rằng “NKT bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của NKT vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác.” [18]
Ủy ban thường vụ Quốc hội (1998), định nghĩa người tàn tật “không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tàn tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn” [41] Quan điểm này tiếp cận người khuyết tật theo quan điểm y tế Nhưng hiện nay, quốc tế đã chuyển sang mô hình tiếp cận xã hội để nhìn nhận sự khuyết tật và người khuyết tật
Trang 24Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010) định nghĩa
“người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [31] Hiện nay, trong các văn bản pháp quy ở Việt Nam đã sử dụng cụm từ “người khuyết tật” dần thay thế cho cụm từ “người tàn tật”, phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề khuyết tật
Mặc dù khái niệm về người khuyết tật được tiếp cận dưới nhiều góc độ
và mục đích khác nhau, nhưng cũng cần khẳng định rằng định nghĩa về người khuyết tật dù tiếp cận ở bất cứ góc độ nào nhất thiết phải phản ánh thực tế là người khuyết tật có thể gặp các rào cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vào mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội Với cách tiếp cận nhằm tạo điều kiện cho người khuyết tật hòa nhập được cộng đồng và công bằng xã hội, thì có thể đưa ra khái niệm về người khuyết tật như sau:
NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dưới dạng tật dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của NKT vào các hoạt động một cách bình thường
b Phân loại NKT
Khuyết tật được phân loại dựa theo các quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu nhưng nhìn chung thường dựa trên tiêu chí về sự khiếm khuyết bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng Ở Việt Nam, việc phân loại NKT dựa trên quy định về dạng tật và mức độ khuyết tật, cụ thể là theo Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy đinh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật
Việc phân loại dựa vào dạng khuyết tật được quy định tại Điều 2 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP gồm có sáu các dạng tật cơ bản, cụ thể là: Khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật khác Mỗi loại khuyết tật này có những đặc
Trang 25điểm nhất định về tâm, sinh lý qua đó tác động đến các nhu cầu và sự hòa nhập của NKT
– Khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển[11]
Do đó, NKT vận động gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt cá nhân, vui chơi, học tập và lao động Tuy nhiên, đa số NKT vận động có bộ não phát triển bình thường nên họ tiếp thu được chương trình học tập, làm được những việc có ích cho gia đình, bản thân và xã hội Người khuyết tật về vận động cần được sự hỗ trợ về phương tiện đi lại như xe lăn, xe lắc… và đặc biệt là cần có không gian cần thiết, thuận tiện, phù hợp để di chuyển khi làm việc, đảm bảo các nhu cầu cuộc sống bình thường của con người và tham gia các hoạt động xã hội
– Khuyết tật nghe, nói là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói [11]
Theo quan điểm y tế thì NKT nghe là những người bị mất hoặc suy giảm
về sức nghe kéo theo những hạn chế về phát triển ngôn ngữ nói cũng như khả năng giao tiếp NKT nghe, nói là những người có khó khăn đáng kể về nói và/hoặc về nghe đọc viết làm ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình giao tiếp và học tập Khó khăn về nói, nghe, đọc của NKT ảnh hưởng trực tiếp đến giao tiếp từ
đó làm hạn chế sự làm việc, học tập, hòa nhập cộng đồng của họ Nhiều lúc khiếm khuyết của họ thay vì nhận được sự cảm thông thì lại vấp phải thái độ giễu cợt hoặc thiếu kiên nhẫn của người nghe Điều này làm họ dễ cảm thấy mất tự chủ, thiếu tự tin trong giao tiếp với những người xung quanh
– Khuyết tật nhìn là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường [11] NKT nhìn có trí tuệ phát triển bình thường, có hai
Trang 26cơ quan phân tích thường rất phát triển: thính giác và xúc giác, nếu được huấn luyện sớm và khoa học hoàn toàn có thể thay thế cơ quan thị giác bị phá hủy Ngôn ngữ, tư duy, hành vi, cách ứng xử của những người này cũng giống người bình thường Tuy nhiên, cũng có những tồn tại nhất định như ngôn ngữ thiếu hình ảnh, không thể viết và đọc bằng chữ phẳng Ít di chuyển nên thể lực giảm sút, cơ bắp thiếu linh hoạt nên dễ tự ti và thiếu niềm tin ở bản thân Môi trường cần thiết với họ là tránh tiếng ồn, đảm bảo đủ ánh sáng, dùng những màu tương phản, hợp lý trong sinh hoạt và các hoạt động khác, cung cấp thiết bị phóng đại hình ảnh, công cụ di chuyển hỗ trợ thông minh, lối đi thuận tiện và dễ nhận biết…
- Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường [11] NKT thần kinh, tâm thần thường không nhận thức được khuyết tật và sự bất thường của mình Với những người này, khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và làm việc đều giảm sút Tình trạng bất thường về tâm thần có thể xuất hiện đột ngột hoặc từ từ sau hàng tháng Người bị bệnh tâm thần đôi khi cũng có những lúc có những biểu hiện bình thường như trước khi mắc bệnh NKT thần kinh, tâm thần có thể gây xáo trộn cuộc sống gia đình, mất an ninh trật tự xã hội Do đó, ngoài việc được điều trị thường xuyên thì gia đình, người thân tiếp tục giành cho họ tình cảm, sự yêu thương, sự quan tâm chăm sóc và phải làm cho người khuyết tật cảm thấy họ thuộc về gia đình và đưa lại cho họ cảm giác được bảo đảm an toàn hơn
- Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc [11] Điển hình của dạng tật này là chậm phát triển trí tuệ, được xác định khi: có hoạt động trí tuệ dưới mức trung bình (chỉ
số thông minh đạt gần 70 hoặc thấp hơn 70 trên một lần thực hiện trắc nghiệm
Trang 27cá nhân); hạn chế các kỹ năng thích ứng (kỹ năng giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kỹ năng xã hội/cá nhân, sử dụng các tiện ích trong cộng đồng, tự định hướng, kỹ năng học đường, làm việc, giải trí, sức khỏe và an toàn) và khuyết tật xuất hiện trước 18 tuổi Xét về mức độ, đây là nhóm khuyết tật thường chịu nhiều sự thiệt thòi và khó khăn trong cuộc sống
- Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp nêu trên [11] Các dạng tật khác có thể bao gồm dị hình, dị dạng, nạn nhân chất độc da cam, di chứng bệnh phong, hội chứng down, tự kỷ Việc phân loại theo mức độ khuyết tật được quy định tại Điều 3 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP gồm có ba mức độ khuyết tật như sau:
- NKT đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt
cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn
- NKT nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc
- NKT nhẹ là NKT không thuộc hai trường hợp nêu trên
Việc phân loại này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện các chính sách TGXH của nhà nước đối với NKT Thực tế cho thấy, NKT khó có
cơ hội tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội do những khiếm khuyết
về cơ thể hay chức năng, song khó khăn đó sẽ tăng thêm do ảnh hưởng bởi những rào cản khác trong xã hội Do đó, chính sách đối với NKT không chỉ dừng lại ở việc chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng mà còn phải tiến tới
Trang 28xoá bỏ các rào cản đối với NKT nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của Nhà nước, xã hội, gia đình, cộng đồng và của mọi cá nhân đối với NKT, giảm thiểu hoặc xoá bỏ những rào cản, giúp NKT chủ động hòa nhập, có cơ hội tham gia một cách bình đẳng vào các hoạt động của xã hội
c Đặc điểm và nhu cầu trợ giúp của NKT
- Đặc điểm của NKT
Trước hết NKT là nhóm dân cư đặc biệt phải chịu thiệt thòi về mặt kinh
tế - xã hội và nhân khẩu học Những gia đình có NKT có xu hướng hoặc là thiếu nhân lực lao động hoặc có quá nhiều người sống phụ thuộc Học vấn của các thành viên trong những gia đình NKT thường không cao nên chất lượng lao động thấp Nhiều chủ hộ gia đình lại chính là NKT có sức khỏe yếu Tài sản của gia đình NKT thường nghèo nàn, thu nhập ở mức thấp Do vậy, điều kiện sống và sinh hoạt là không tốt, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, cuộc sống, phúc lợi của các thành viên trong gia đình
Bên cạnh đó, vì tình trạng do khuyết tật gây ra, NKT phải gánh chịu rất nhiều thiệt thòi trong mọi mặt cuộc sống Khuyết tật là nguyên nhân chính gây ra nhiều khó khăn cho NKT trong việc thực hiện các công việc sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục, việc làm, tiếp cận các dịch vụ y tế, kết hôn, sinh con và tham gia các hoạt động xã hội NKT từ 15 tuổi trở lên rất khó có việc làm, hầu hết họ hoặc chưa bao giờ đi làm hoặc đã từng đi làm nhưng lại bị thất nghiệp Khuyết tật cũng là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thất nghiệp của họ Để khắc phục những khó khăn này, NKT chủ yếu sống dựa vào gia đình, nguồn giúp đỡ chính đối với họ
Ngoài ra, phần lớn NKT là những người sống nội tâm, rất nhạy cảm, họ thường sống khép kín, mặc cảm tự ti, ngại giao tiếp với mọi người Nhưng cũng có một số NKT có ý chí, nghị lực cao cố gắng học tập, tìm kiếm việc làm để không phụ thuộc vào người khác Đây là ưu điểm cần quan tâm động
Trang 29viên để người khuyết tật xóa đi mặc cảm, tự ti và tự vươn lên hòa nhập cuộc sống xã hội
- Nhu cầu trợ giúp xã hội của NKT
Nhu cầu là đòi hỏi cá nhân về những cái cần thiết để sinh sống và phát triển Nhu cầu nào được con người nhận thức một cách đầy đủ, sâu sắc, có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của mình (không thể thiếu được) thì nhu cầu đó trở thành động cơ Không có nhu cầu thì không có động cơ hoạt động và phát triển
Theo Abraham Maslow (1908 – 1970), nhà tâm lý học người Mỹ, bậc thang nhu cầu của con người được ông thể hiện dưới hình Kim tự tháp, các nhu cầu bậc thấp (nhu cầu cho sự tồn tại) xếp phía dưới, trong khi những nhu cầu cho sự phát triển, sự hoàn thiện cá nhân được coi là quan trọng hơn, giá trị hơn, chúng được xếp ở các bậc thang trên cao của Kim tự tháp
Hình 1.1 Tháp thang bậc nhu cầu của Maslow
(Nguồn: www.ship.edu)
Ứng dụng vào đề tài nghiên cứu ta thấy đối với NKT thì năm nhu cầu này luôn tồn tại đối với họ
Tự thể hiện
Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu về xã hội
Nhu cầu về an toàn
Nhu cầu sinh lý
Trang 30Nhu cầu sinh lý: ăn, uống, ngủ, nghỉ…được coi là nhu cầu cơ bản và hết sức quan trọng đối với NKT Bởi đa phần NKT có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bản thân họ lại gặp phải những khó khăn do khiếm khuyết do vậy thu nhập từ chính khả năng lao động của chính họ là rất khó Bởi vậy, rất cần sự
hỗ trợ của cộng đồng đặc biệt là các chính sách của Nhà nước về trợ cấp xã hội hàng tháng đối với NKT và tùy theo mức độ khuyết tật mà NKT sẽ được hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước để có thể đảm bảo được nhu cầu sống tối thiểu và để họ có thể tồn tại được
Nhu cầu an toàn: tình yêu thương, nhà ở, việc làm, dịch vụ chăm sóc sức khỏe… Đối với người bình thường thì nhu cầu này rất quan trọng nhưng với NKT thì nhu cầu này càng được NKT quan tâm hơn Bởi không phải NKT nào cũng được gia đình, bạn bè, cộng đồng, quan tâm, chăm sóc và dành tình yêu thương Có không ít NKT đã phải chịu những tổn thương tâm lý từ chính người thân trong gia đình như ghẻ lạnh, chửi, mắng… Để NKT có thể tự nuôi sống bản thân thì việc làm đối với họ là hết sức quan trọng Chỉ khi họ có việc làm, họ mới không cảm thấy mình là người vô dụng, thừa thãi… Dựa vào những nhu cầu của họ mà Đảng và Nhà nước nên dành những chính sách dạy nghề và giới thiệu việc làm đối với NKT
Nhu cầu về xã hội: giao tiếp được coi là một trong những kỹ năng hết sức quan trọng của con người Nhờ có giao tiếp mà con người trở thành những con người năng động như ngày nay Trong quá trình giao tiếp, con người có thể chia sẻ những cảm xúc, tình cảm, kinh nghiệm… Đối với NKT nhu cầu này càng được quan tâm hơn Tùy vào từng dạng tật, mức độ khuyết tật mà NKT sẽ gặp cản trở trong quá trình kết bạn, giao lưu tình cảm, hòa nhập… Đôi khi khó khăn này xuất phát từ chính trong gia đình của NKT vì
họ hạn chế không cho NKT tiếp xúc với hàng xóm, người ngoài vì họ ngại, xấu hổ, và trong gia đình thì NKT không có tiếng nói… Chính những vấn đề
Trang 31trên đã làm tổn thương nhu cầu tình cảm, giao tiếp của NKT NKT chỉ có thể tốt hơn khi các thành viên trong gia đình, cộng đồng nhìn nhận họ là một con người, tạo điều kiện cho NKT có thể giao lưu với những nhóm đồng đẳng hay những người không bị khiếm khuyết Chỉ như vậy thì sức khỏe tinh thần, thể chất của họ mới được đáp ứng
Nhu cầu được tôn trọng: Điều này được thể hiện trong gia đình có NKT khi những người thân trong gia đình bàn bạc, quyết định một vấn đề nào đó thì cần có sự tham gia ý kiến, đóng góp của NKT Chính những hành động nhỏ này cũng khiến NKT cảm thấy mình được tôn trọng, mình vẫn là người
có ích trong gia đình và xã hội
Nhu cầu được thể hiện mình: NKT cũng muốn khẳng định tài năng và cũng muốn mọi người nhìn nhận đúng tài năng thực sự của NKT
Các nhu cầu này đối với từng NKT không cố định, biến động theo thời gian, không gian Phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của địa phương, phong tục tập quán của từng vùng Tuy nhiên, nhìn chung NKT luôn muốn được hòa nhập xã hội, muốn được học tập, giao tiếp ngoài cộng đồng, họ muốn được tôn trọng để xóa đi những mặc cảm tự ti, mặc cảm với bản thân mình Vì vậy, họ cần được học văn hóa, học nghề phù hợp với dạng tật; các công việc thủ công đòi hỏi sự tỷ mỷ, kiên nhẫn có thể phù hợp với họ; việc làm vừa đem lại cho họ niềm vui trong lao động vừa giúp họ có thu nhập điều này giúp họ giảm bớt tâm lý bị phụ thuộc kinh tế tâm lý bị bỏ đi… Để cho NKT có thể đáp ứng được các nhu cầu của mình thì Đảng và Nhà nước cần quan tâm hơn nữa trong công tác đề ra các chính sách, biện pháp thực hiện quyền của NKT
d Tác động của khuyết tật đến cá nhân, gia đình và xã hội
Tình trạng khuyết tật không những gây ảnh hưởng tới cá nhân NKT mà còn tác động tới các thành viên trong gia đình có NKT và xã hội
Trang 32- Tác động của khuyết tật tới bản thân người bị khuyết tật
Cuộc sống của một cá nhân sẽ gặp khó khăn, trở ngại khi phải mang khiếm khuyết, hoặc tổn thương, hoặc những biểu hiện phát triển không bình thường Sau đây là một số hậu quả mà khuyết tật gây ra cho cá nhân NKT: + Hạn chế về thể chất, sức khỏe: NKT thường phải chịu đựng những đau đớn, hạn chế về thể chất và sức khỏe do bệnh tật hoặc khiếm khuyết gây ra + Khủng hoảng, suy sụp về tinh thần: NKT thường phải trải qua những diễn biến tâm lý phức tạp như đau khổ cùng cực, lo âu, sợ hãi, cáu giận, buồn tủi, bất lực, mặc cảm tự ti… dẫn tới khủng hoảng, suy sụp cả về tinh thần lẫn sức khỏe
+ Giảm sút về sinh hoạt xã hội: Chính những khiếm khuyết mà NKT đang mang trên mình là những cản trở và khó khăn cho NKT được tiếp xúc, giao lưu và tham gia các hoạt động xã hội Bên cạnh những rào cản về thể chất này, chính những tư tưởng, ý nghĩ, tinh thần cũng là nhân tố gây cản trở
sự tham gia các sinh hoạt xã hội của NKT Thực tế là NKT luôn phải đối mặt với những đấu tranh trong tư tưởng của chính bản thân Một số người mặc cảm, tự ti nên lựa chọn lối sống khép mình, không tham gia các hoạt động xã hội hoặc không quan tâm đến mọi người và môi trường xung quanh Một số khác lại có xu hướng phụ thuộc, ỷ lại vào sự quan tâm, chăm sóc từ người khác, dẫn đến hạn chế trong sinh hoạt xã hội Cũng có một số người lại có những biểu hiện tiêu cực và khó khăn trong việc thích nghi với tình trạng khuyết tật của mình Họ thường trơ nên bi quan, lẩn tránh, sợ thương hại và vì vậy họ ít có được cơ hội để giao lưu và tham gia các hoạt động xã hội
+ Khó khăn và hạn chế trong tiếp cận giáo dục, học tập, đào tạo nghề và
cơ hội việc làm: NKT gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục vì bản thân các cơ sở cung cấp dịch vụ giáo dục chuyên biệt còn thiếu, những cơ
sở hiện có thì lại thiếu về trang thiết bị và kỹ năng phục vụ công tác giáo dục
Trang 33chuyên biệt cho NKT NKT còn gặp khó khăn trong việc đi lại hoặc thiếu phương tiện đi lại để được đến trường Các cơ sở dạy nghề và cơ hội làm việc cho NKT vẫn còn rất hạn chế để có thể đáp ứng nhu cầu việc làm phù hợp với khả năng của NKT
+ Khó khăn trong việc lập gia đình riêng: Từ những giới hạn mà tình trạng khuyết tật gây ra, NKT gặp rất nhiều khó khăn, rào cản để có được cơ hội có được cuộc sống hôn nhân gia đình, sinh con,… như những người lành lặn, khỏe mạnh khác
+ Đối mặt với kỳ thị, phân biệt đối xử: Khi mang trên mình những khiếm khuyết hặc biểu hiện khác thường, NKT trở thành trọng tâm của sự true chọc,
xa lánh, sợ hãi, ruồng bỏ, không chơi cùng,không cho đến gần hoặc né tránh… của người thân hoặc những người xung quanh
Những yếu tố trên tác động đến NKT ở những mức độ khác nhau và là nguyên nhân dẫn đến giảm và hạn chế cơ hội sống độc lập của NKT
- Tác động của khuyết tật tới gia đình có NKT
+ Khủng hoảng, suy sụp về tinh thần: Không chỉ bản thân NKT mà những người thân trong gia đình (như cha, mẹ, vợ/chồng, con, anh, chị, em của NKT) cũng phải đối mặt với những diễn biến tâm lý phức tạp trước tình trạng khuyết tật của người thân Các trạng thái tâm lý này thường ất đa dạng
và ở các mức độ nặng nhẹ khác nhau như: buồn rầu, đau khổ, oán than, mặc cảm, không thừa nhận thực tại, bi quan, lo âu… Khi trải qua các diễn biến tâm
lý nêu trên, một điều khó tránh khỏi là các thành viên trong gia đình bắt đầu nảy sinh bất đồng, thậm chí có thể bùng nổ mâu thuẫn trong nội bộ gia đình hoặc họ hàng
+ Hạn chế về thời gian để tham gia sinh hoạt xã hội: Khi trong nhà có NKT thì quỹ thời gian cũng như các sinh hoạt của các thành viên trong gia đình thường bị xáo trộn Mọi người phải sắp xếp thời gian, phân công chăm sóc NKT
Trang 34+ Khó khăn trong hoạch định công việc: Bên cạnh dành thời gian để chăm sóc NKT, các thành viên trong gia đình sẽ phải đối mặt với khó khăn trong việc hoạch định công việc và tương lai Rất nhiều người phải từ bỏ công việc đang làm, chuyển sang một công việc khác cho phù hợp với quỹ thời gian nhằm đảm bảo cả vai trò chăm sóc NKT và làm việc tạo thu nhập cho bản thân
+ Tốn kém về vật chất, suy giảm về kinh tế: Điều kiện kinh tế và thu nhập của gia đình có NKT thường bị ảnh hưởng nghiêm trọng Ngoài những tốn kém về chi phí khám chữa bệnh và quỹ thời gian cho NKT, người thân trong gia đình còn đứng trước nguy cơ mất hoặc giảm thu nhập do phải sắp xếp thời gian chăm sóc NKT
+ Ảnh hưởng về sức khỏe: Thay vì được nghỉ ngơi để tái tạo sức lao động sau ngày làm việc mệt mỏi thì người thân trong gia đình có NKT lại phải thay nhau chăm sóc NKT Khi sự việc kéo dài rong thời gian dài, bản thân người nhà cũng suy kiệt về sức lực và nệt mỏi về tinh thần
+ Đối mặt với kỳ thị, phân biệt đối xử: Trong cuộc song hằng ngày, tùy thuộc vào loại và dạng tật của NKT mà gia đình có NKT cũng có thể phải đối mặt với những định kiến và thái độ coi thường, khinh rẽ, xa lánh, sợ hãi, né tránh, thờ ơ… của những người xung quanh ở những mức độ khác nhau
- Tác động của khuyết tật đối với xã hội
Có rất nhiều quan điểm và thái độ trái chiều từ phía xã hội và những người xung quanh trước các vấn đề của NKT Có quan điểm cho rằng vấn đề của NKT
là vấn đề của cá nhân và gia đình có NKT, và xã hội không cần phải có trách nhiệm Nhưng cũng có quan điểm cho rằng đó là vấn đề xã hội, và xã hội phải có trách nhiệm và tạo điều kiện chăm lo cho NKT và gia đình có NKT Công ước Quốc tế về quyền của NKT (2006) và Luật NKT Việt Nam (2010) đã khẳng định rằng khuyết tật là vấn đề và là trách nhiệm của xã hội Bởi vậy, xã hội cần phải đầu tư các điều kiện để NKT có thể được tiếp cận và tham gia vào
Trang 35mọi hoạt động trong cuộc sống như chăm sóc y tế, giáo dục, việc làm, vui chơi giải trí,… Để làm được điều này, xã hội phải tập trung kinh phí để phát triển nhân lực với kỹ năng, chuyên môn chuyên biệt để chăm sóc NKT; đầu tư
và cơ sở hạ tầng như bệnh viện, trường học, địa điểm sinh hoạt, cơ sở chăm sóc, điều dưỡng, đường đi dành riêng cho NKT; xã hội phải chi một phần ngân sách để đầu tư cho việc hỗ trợ chăm sóc, tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hóa tinh thần cho NKT
1.1.3 Mục tiêu trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật
Mục tiêu tổng quát của TGXH là hướng vào phát triển con người, thực hiện công bằng xã hội, ổn định và phát triển bền vững của quốc gia Chính vì vậy, sự phát triển của chính sách TGXH phải hướng tới góp phần duy trì sự
ổn định xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững
Mục tiêu cụ thể của TGXH đối với NKT là giúp cho NKT bảo đảm các điều kiện sống ổn định, tự mình vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập, tham gia đóng góp tích cực vào quá trình phát triển xã hội
1.1.4 Các nguyên tắc cơ bản của trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật
a NKT có quyền được hưởng TGXH không có sự phân biệt theo tiêu chí nào
Nguyên tắc thực hiện quyền hưởng TGXH đối với NKT không có sự phân biệt theo tiêu chí nào cũng chính là nội dung nguyên tắc cơ bản của Luật NKT Nội dung nguyên tắc thể hiện ở việc quy định phạm vi và đối tượng áp dụng Theo đó, mọi thành viên xã hội bị khuyết tật đều có quyền hưởng TGXH mà không có sự phân biệt về địa vị, kinh tế, tôn giáo, giới tính, thành phần xã hội,… Nói các khác, rủi ro khuyết tật không loại trừ ai với tư cách là thành viên trong cộng đồng bất kể họ có sức khỏe, kinh tế hay công việc vì vậy sự phân biệt theo tiêu chí nào để loại bỏ quyền hưởng TGXH của NKT đều
là bất hợp lý Mặc dù vậy, đảm bảo thực hiện quyền này còn phụ thuộc nhiều
Trang 36vào điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia khác nhau, thậm chí phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển khác nhau của từng quốc gia Hơn nữa, cũng không thể coi trợ cấp xã hội là sự ban ơn đơn thuần hay sự cào bằng bình quân chủ nghĩa mà cần đảm bảo công bằng với đối tượng thụ hưởng có tính đến mức
độ rủi ro khuyết tật Vì vậy, pháp luật quy định cụ thể về điều kiện hưởng, mức hưởng các khoản trợ cấp, hỗ trợ cho người khuyết tật đảm bảo công bằng và phù hợp với từng giai đoạn phát triển nhất định Điều này lý giải cho thực tế là mặc dù quyền hưởng TGXH cho NKT được áp dụng cho tất cả mọi đối tượng, không có sự phân biệt theo tiêu chí nào nhưng để được hưởng các khoản trợ cấp, hỗ trợ thì NKT còn phải đảm bảo các điều kiện hưởng cụ thể
b Mức TGXH đối với NKT không phụ thuộc vào sự đóng góp, thu nhập hoặc mức sống của họ mà chủ yếu vào mức độ khuyết tật và nhu cầu thực tế của đối tượng
Xuất phát từ nguyên nhân rủi ro là những khiếm khuyết về sức khỏe khiến NKT có những hạn chế nhất định so với những đối tượng khác trong cộng đồng, thậm chí họ còn khó khăn trong việc đảm bảo sự tồn tại Những rủi ro này có thể xuất hiện ngay từ khi con người sinh ra hoặc trong quá trình sống vì vậy đòi hỏi một khoản tích lũy đóng góp hay nghĩa vụ tài chính nào cho phần thụ hưởng trợ giúp sẽ khiến khoản trợ cấp, hỗ trợ này không còn vai trò “lưới đỡ” cuối cùng của người dân cho sự tồn tại và không còn ý nghĩa đảm bảo quyền sống của con người, đảm bảo phân phối lại lợi ích xã hội Chỉ trong trường hợp cuộc sống thường nhật của họ bị đe dọa, hoặc cần có sự giúp đỡ, hỗ trợ để tồn tại vấn đề trợ giúp mới được đặt ra
Với mục đích nhằm giúp đỡ, hỗ trợ cho đối tượng thoát khỏi tình trạng cuộc sống thường nhật bị đe dọa, tạo cơ hội cho họ vươn lên khắc phục rủi ro, hòa nhập cộng đồng do vậy TGXH đối với NKT không gắn với bất cứ yêu cầu gì về nghĩa vụ tài chính cho việc thụ hưởng Nói cách khác, để được
Trang 37hưởng TGXH thì NKT không phải đóng góp tài chính đồng thời mức thu nhập, mức sống của họ trước khi bị khuyết tật cũng không phải là tiêu chí xác định mức hưởng Không phải trước khi bị khuyết tật đối tượng nào có thu nhập cao, mức sống cao hơn thì hưởng trợ cấp cao hơn và ngược lại Tiêu chí quan trọng để xác định mức hưởng trợ cấp cho NKT chính là mức độ của rủi
ro khuyết tật và hoàn cảnh sống thực tế của NKT Chẳng hạn, với những mức
độ khuyết tật khác nhau từ nặng, đặc biệt nặng, khuyết tật trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ khuyết tật mang thai… hay thậm chí có cùng mức độ khuyết tật nhưng hoàn cảnh sống có sự khác nhau nhất định như có người chăm sóc, kinh tế gia đình khá giả hay không cũng là những căn cứ quan trọng để xác định mức trợ cấp, hỗ trợ cho phù hợp Tức là mức hưởng trợ giúp phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tế của từng đối tượng, mức độ khuyết tật mà không tính đến sự đóng góp của đối tượng được thụ hưởng Điều này phù hợp với ý nghĩa, mục đích của trợ cấp và đảm bảo công bằng cho người thụ hưởng
c Thực hiện TGXH cân đối giữa nhu cầu thực tế của NKT và phù hợp với khả năng đáp ứng của điều kiện kinh tế xã hội
Nhu cầu TGXH của NKT và khả năng đáp ứng của điều kiện KT-XH là một bài toán mà hầu hết các quốc gia phải cân đối trong tương quan đảm bảo quyền của NKT và giải quyết các vấn đề xã hội, phát triển kinh tế Thực tế cho thấy với những đặc điểm riêng khác nhau mà số lượng và nhu cầu TGXH của NKT ở các quốc gia khác nhau có sự khác nhau nhất định Ở Việt Nam, với tỷ lệ đối tượng NKT chiếm tới 7,5% dân số cả nước [38], cộng với điều kiện KT-XH còn nhiều khó khăn khiến nhu cầu TGXH cho NKT là rất lớn
Để đảm bảo thực hiện TGXH đối với NKT có hiệu quả cần phải xác định được cụ thể nhu cầu của NKT và được chuyển tải bằng điều kiện hưởng trong các khoản trợ cấp, hỗ trợ Nhu cầu này phải được đặt trong tương quan chung của điều kiện KT-XH với mức sống của người dân
Trang 38Việc đáp ứng nhu cầu trợ giúp của NKT phải được tính toán cân đối với khả năng đáp ứng và điều kiện KT-XH của quốc gia trong từng giai đoạn, nếu không sẽ không đạt được mục đích của TGXH và ảnh hưởng đến các chính sách KT-XH khác Nếu trợ cấp quá cao so với khả năng đáp ứng thì thiếu tính khả thi, khó đảm bảo duy trì thực hiện và nếu thực hiện được có thể sẽ tạo tâm lý ỷ lại, trông chờ vào nguồn tài chính trợ giúp làm cản trở ý thức vươn lên, phát huy nội lực và kìm hãm sức phát triển của các cơ chế bảo vệ khác Ngược lại nếu mức trợ cấp, hỗ trợ cho NKT quá thấp sẽ không đảm bảo được
ý nghĩa và mục đích của TGXH bởi xét cho cùng đây là lưới đỡ kinh tế cận kề nhất với cuộc sống của NKT và cũng thể hiện rõ nét nhất thái độ của nhà nước đối với nhóm người “yếu thế” trong xã hội Mặc dù vậy, về cơ bản việc cân đối giữa nhu cầu của NKT và khả năng đáp ứng của điều kiện kinh tế cũng phải hướng tới yêu cầu đảm bảo nhu cầu tối cần thiết nhằm duy trì cuộc sống cho NKT trước những khó khăn của cuộc sống Tính chất của TGXH mang tính linh hoạt, đa dạng phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, phụ thuộc vào sự ủng hộ và quyên góp của cộng đồng
d Đa dạng hóa, xã hội hóa hoạt động TGXH đối với NKT, phát huy khả năng vươn lên hòa nhập với cộng đồng
Nguyên nhân rủi ro dẫn đễn tình trạng khuyết tật của con người là đa dạng vì vậy việc thực hiện TGXH đối với họ cũng cần phải xem xét đến mức
độ, hình thức và biện pháp hợp lý Ở phạm vi hẹp, TGXH cho NKT được thực hiện chủ yếu bằng tiền hoặc hiện vật đáp ứng nhu cầu tối thiểu cuộc sống, song cần hướng tới phát huy đa dạng các hình thức, biện pháp trợ giúp nâng đỡ tinh thần, tâm lý, chăm sóc sức khỏe,… Thông qua những hoạt động trợ giúp này đối tượng xóa đi mặc cảm, tạo cơ hội tự tin cho họ hòa nhập cộng động, phát huy những khả năng vươn lên đảm bảo cuộc sống
Từ việc xác định trách nhiệm chính của nhà nước đối với cuộc sống của
Trang 39huy động sự tham gia của cả cộng đồng và bản thân NKT Mỗi cá nhân trong cộng đồng đều có trách nhiệm với các thành viên khác và với chính mình trên
cơ sở thương yêu, đùm bọc, che chở lẫn nhau Đây trở thành nền tảng của xã hội hóa hoạt động TGXH đối với NKT Trong điều kiện hiện nay, việc xã hội hóa thực hiện TGXH đối với NKT được nhìn nhận theo hướng tiến bộ Không phải TGXH đối với NKT chỉ dừng lại ở những khoản trợ cấp do nhà nước thực hiện mang tính ban phát, bao cấp mà hướng tới việc huy động nguồn lực
và sự quan tâm của cả cộng đồng nhằm đưa đến sự bảo vệ cao nhất cho NKT Điều này thể hiện rõ trong những quy định mang tính tùy nghi, điều chỉnh hoạt động của các hiệp hội từ thiện, các trung tâm bảo trợ, chăm sóc NKT…
và cả những mô hình chăm sóc thay thế hiện đang thu hút sự quan tâm của cả cộng đồng
1.1.5 Vai trò của trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật
Mục tiêu hướng tới của mỗi quốc gia trên thế giới đều là vừa phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế, vừa phải đảm bảo phát triển xã hội Mà thước đo của phát triển xã hội là việc giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế, trong đó có việc chăm sóc bộ phân dân cư khó khăn và giải quyết vấn đề bất bình đẳng trong xã hội Vì vậy, TGXH nói chung, TGXH đối với NKT nói riêng ngày càng thể hiện vai trò to lớn đối với sự phát triển và
Họ có quyền sống và quyền phát triển như các nhóm xã hội khác Nhà nước và
xã hội, cộng đồng phải có trách nhiệm hỗ trợ, tạo cơ hội cho họ phát triển
Trang 40b TGXH góp phần đảm bảo công bằng xã hội
Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện, tuy nhiên phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo cũng có xu hướng tăng Lúc này TGXH trở thành chỗ dựa vững chắc cho các đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội, góp phần đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa đối với sự phát triển của đất nước Với chức năng này TGXH sẽ điều tiết phân phối thu nhập theo hướng có lợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người gặp bất hạnh, yếu thế trong cuộc sống Vì vậy, TGXH nói chung, TGXH đối với NKT nói riêng góp phần giảm bớt khoảng cách giữa các nhóm dân cư, đảm bảo công bằng xã hội
c TGXH đối với NKT có vai trò góp phần đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội
Kinh tế càng phát triển càng nảy sinh nhiều vấn đề xã hội, điều này đã dẫn đến sự gia tăng những người gặp bất hạnh, yếu thế trong cuộc sống, trong đó có NKT Bộ phận dân cư này thường chịu nguy cơ tổn thương cao, không tự chủ quyết định cuộc sống và phụ thuộc vào sự hỗ trợ của xã hội, Nhà nước TGXH trực tiếp giải quyết những vấn đề liên quan đến giảm thiểu rủi ro, hạn chế tính dễ
bị tổn thương và khắc phục hậu quả của rủi ro thông qua các chính sách và chương trình cụ thể nhằm giúp cho các thành viên xã hội ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng, đảm bảo mức sống tối thiểu cho dân cư khó khăn
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, bên cạnh những cơ hội cũng có nhiều thách thức, rủi ro Khi nói đến cơ hội, đến sự thuận lợi có được từ hội nhập quốc tế thường là cơ hội cho phát triển kinh tế, ngược lại sự thách thức, rủi ro lại là những vấn đề xã hội như bất bình đẳng gia tăng, phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội, nghèo đói, bần cùng hóa và ô nhiễm môi trường Do vậy, kinh tế thị trường càng phát triển mạnh thì vai trò TGXH nói chung, TGXH