Công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh tại ngân hàng, tuy nhiên việc thực hiện vẫn gặp phải những khó khăn, vướng mắc nhất định.. T
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRẦN THỊ TƯỜNG VÂN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN TẠI NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VIỆT NGA,
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRẦN THỊ TƯỜNG VÂN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN TẠI NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VIỆT NGA,
CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐOÀN GIA DŨNG
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các s ố liệu, kết quả phương án nêu trong luận văn là trung thực và chưa
t ừng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Thị Tường Vân
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1.1 Khái niệm về bảo đảm tiền vay 7
1.1.2 Vai trò của bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 8
1.1.3 Các hình thức bảo đảm tiền vay 10
1.1.4 Nguyên tắc và đặc trưng của bảo đảm tiền vay 11
1.2 BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN CỦA NGÂN HÀNG HƯƠNG MẠI 13
1.2.1 Khái niệm, vai trò của bảo đảm tiền vay bằng tài sản 13
1.2.2 Các hình thức bảo đảm tiền vay bằng tài sản 14
1.2.3 Nội dung công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản của NHTM 18
1.2.4 Các tiêu chí phản ánh hiệu quả công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản 25
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 29
Trang 51.3.1 Các nhân tố bên trong ngân hàng 29 1.3.2 Các nhân tố bên ngoài ngân hàng 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN TẠI NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VIỆT NGA - CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 36
2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VIỆT NGA - CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG (VRB) 36
2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển 36 2.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý của VRB - Chi nhánh Đà Nẵng 37 2.1.3 Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của VRB - Chi nhánh
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 76
Trang 6CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN TẠI NGÂN HÀNG LIÊN DOANH
VIỆT NGA - CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 77
3.1 MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA VRB - CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN TỚI 77
3.1.1 Định hướng chung về hoạt động cho vay 77
3.1.2 Định hướng của VRB – Chi nhánh Đà Nẵng về hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản 78
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN TẠI VRB - CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 80
3.2.1 Hoàn thiện công tác thẩm định và định giá TSBĐ 80
3.2.2 Đa dạng hóa danh mục tài sản bảo đảm 81
3.2.3 Phát triển và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức của cán bộ nhân viên Chi nhánh 82
3.2.4 Tăng cường xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin về bảo đảm tiền vay 83
3.2.5 Thường xuyên đánh giá lại giá trị TSBĐ 85
3.2.6 Các giái pháp khác 86
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 89
3.3.1 Đối với Chính phủ 89
3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 90
3.3.3 Đối với VRB 91
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 92
KẾT LUẬN 93
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao) PHỤ LỤC
Trang 8VRB Ngân hàng liên doanh Việt Nga
VRB-CN ĐN Ngân hàng Liên Doanh Việt Nga- Chi nhánh Đà Nẵng
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong cơ cấu thu nhập của ngân hàng thì hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động mang lại lợi nhuận cao và chiếm tỷ trọng lớn Tuy nhiên, lợi nhuận và rủi ro là hai vấn đề luôn song hành với nhau, lợi nhuận càng lớn thì rủi ro càng cao và ngược lại Đây là một nguyên tắc luôn đúng với hoạt động của mọi chủ thể kinh doanh, trong đó có NHTM Phát triển hoạt động kinh doanh và hạn chế rủi ro là yêu cầu tối quan trọng đối với NHTM, đặc biệt trong hoạt động cho vay, chỉ khi hạn chế được rủi ro NHTM mới thực sự phát triển và tạo sự ổn định cho nền kinh tế
Tình trạng khó khăn về tài chính của một ngân hàng thường phát sinh từ những khoản cho vay khó đòi bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan: cho vay không tuân thủ nguyên tắc tín dụng, quản lý yếu kém, tình trạng suy thoái ngoài dự kiến của nền kinh tế Kể từ cuối năm 2008 cùng với những tác động bất lợi của nền kinh tế thế giới, kinh tế trong nước
đã xuất hiện những dấu hiệu của suy giảm tăng trưởng, hoạt động sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn do thiếu vốn, lãi suất ngân hàng tuy đã giảm nhưng còn ở mức cao và khó tiếp cận, giá cả nguyên vật liệu và các chi phí đầu vào cho sản xuất tăng, sản phẩm tiêu thụ chậm, tồn kho cao dẫn đến nhiều doanh nghiệp bị phá sản, tình trạng nợ xấu của các NHTM có chiều hướng gia tăng nhanh Bản chất của nợ xấu ngân hàng là do khách hàng vay vốn sử dụng vốn vay không hiệu quả, không đúng mục đích, và nó thường phát sinh sau một chu kỳ vay vốn, thậm chí sau một thời gian dài Một khoản vay dù được đánh giá tốt nhưng vẫn hàm chứa một mức độ rủi ro nhất định, nằm ngoài khả năng phân tích và đánh giá của ngân hàng Chính vì vậy bên cạnh việc thẩm định đánh giá khách hàng và tính hiệu quả của dự án đầu tư thì bảo đảm tiền vay là một trong các nguyên tắc cơ bản được các ngân hàng
Trang 12sử dụng phổ biến Nguyên tắc này không những góp phần làm cho người đi vay ý thức trách nhiệm sử dụng vốn có hiệu quả mà còn là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng đề phòng khi khách hàng xảy ra rủi ro Việc cấp tín dụng sẽ
an toàn hơn nếu nó được bảo đảm bằng tài sản, nhất là các loại tài sản có giá trị và tính thanh khoản cao
Được thành lập khá trễ, ngân hàng liên doanh Việt Nga chi nhánh Đà Nẵng gặp không ít khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng trong môi trường mà các ngân hàng lớn đã chiếm lĩnh thị phần khách hàng của mình.Vì vậy bên cạnh tìm kiếm những khách hàng mới thì công tác bảo đảm cho các khoản vay phải luôn được chú trọng nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng Công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh tại ngân hàng, tuy nhiên việc thực hiện vẫn gặp phải những khó khăn, vướng mắc nhất định Do đó, việc hoàn thiện công tác này cần phải được thực hiện như một biện pháp làm bàn đạp để đẩy nhanh quá trình lành mạnh hóa hoạt động tài chính của ngân hàng Xuất phát từ thực
tế trên tôi đã quyết định chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay
b ằng tài sản tại Ngân hàng Liên doanh Việt Nga - Chi nhánh Đà Nẵng” để
nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp cao học
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản tại NHTM
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản tại ngân hàng liên doanh Việt Nga - Chi nhánh Đà Nẵng
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản tại ngân hàng liên doanh Việt Nga - Chi nhánh Đà Nẵng Đồng thời, đưa ra những kiến nghị nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thực thi hệ thống các giải pháp đã đề xuất
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực tiễn công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản của NHTM
Ph ạm vi nghiên cứu: Những vấn đề liên quan đến công tác bảo đảm tiền
vay bằng tài sản của ngân hàng liên doanh Việt Nga - Chi nhánh Đà Nẵng
Trên cơ sở khảo sát thực trạng với dữ liệu giai đoạn từ năm 2011 đến năm
2013 để đánh giá hoạt động công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản của ngân hàng liên doanh Việt Nga - Chi nhánh Đà Nẵng Từ đó đề xuất giải pháp và đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản tại Chi nhánh
4 Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Kinh tế học vĩ mô, vi mô, Lý thuyết tài chính - tiền tệ, Quản trị ngân hàng thương mại,
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở
sử dụng tổng hợp các phương pháp: thống kê, tổng hợp, so sánh và phân tích, kết hợp giữa lý luận với thực tiễn để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu
Trang 146 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay
b ằng tài sản tại Ngân hàng Liên doanh Việt Nga - Chi nhánh Đà Nẵng”,
trong quá trình này, tôi đã sử dụng một số kết quả nghiên cứu là các luận văn
thạc sỹ đã bảo vệ về bảo đảm tiền vay, hạn chế rủi ro tín dụng, cho vay có bảo
đảm bằng tài sản và không có bảo đảm bằng tài sản, những đề tài có nội dung
liên quan đến đề tài này để tham khảo và làm nền tảng lý luận cho những
nhận định được trình bày trong luận văn Cụ thể:
1 Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh “Hoàn thiện công tác bảo đảm
ti ền vay bằng tài sản tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam -
Chi nhánh Bình Định” năm 2013 của Nguyễn Văn Thạnh tại Đại học
Đà Nẵng
Đề tài đã giải quyết được các nội dung chủ yếu về cơ sở lý luận trong
hoạt động bảo đảm tiền vay, các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản,
trong đó nêu rõ được định nghĩa, các đặc điểm cũng như hình thức của các
biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản, hệ thống lại các nội dung chủ yếu và
quy trình công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản, những nhân tố ảnh hưởng
liên quan đến ngân hàng, khách hàng…Từ nền tảng đó, tác giả tập trung phân
tích được khá nhiều mặt thực trạng công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản tại
ngân hàng TMCP BIDV- chi nhánh Bình Định, đưa ra các giải pháp cũng như
những kiến nghị
2 Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh “Hoàn thiện hoạt động cho vay
có b ảo đảm bằng tài sản tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
t ỉnh ĐăkLăk ” năm 2012 của Nguyễn Văn Phụng tại Đại học Đà Nẵng
Đề tài đã nêu được các vấn đề lý luận về cho vay có bảo đảm bằng tài
sản, nguyên tắc trong cho vay, nguyên tắc bảo đảm tiền vay, điều kiện của
TSBĐ, cách xác định giá trị của TSBĐ, mức cho vay tối đa so với giá trị
Trang 15TSBĐ, đặc điểm, vai trò, thời gian và thủ tục xử lý tài sản, những nhân tố ảnh
hưởng đến rủi ro trong cho vay Tác giả đã nêu lên thực trạng về hoạt động
này tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh ĐăkLăk, thực
trạng và các nguyên nhân, hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng từ đó
đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động này
3 Luận văn thạc sỹ kinh tế “Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp
lu ật về bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương
m ại trên địa bàn Hà Nội ” năm 2008 của Phạm Hùng Thắng tại Đại học Quốc
gia Hà Nôi
Luận văn đã tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về cho vay và bảo
đảm tiền vay, nghiên cứu tổng quát các vấn đề liên quan đến hoạt động thực
hiện pháp luật và bảo đảm tiền vay như chủ thể tham gia bảo đảm tiền vay,
hình thức bảo đảm tiền vay, công chứng, chứng thực hợp đồng bảo đảm tiền
vay, đăng ký giao dịch bảo đảm, xứ lý TSBĐ; đánh giá việc thực hiện pháp
luật về bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho vay Thông qua việc phân tích
đánh giá thực trạng hoạt động bảo đảm tiền vay tại các NHTM trên địa bàn
Hà Nội tác giả đã đưa ra một số giải pháp, đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho vay
4 Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh “Hoàn thiện công tác bảo đảm
ti ền vay bằng tài sản tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn t ỉnh Quảng Nam” năm 2013 của Lê Thị Uyên Sa tại Đại học
Đà Nẵng
Luận văn đã làm rõ được một số vấn đề lý luận cơ bản công tác bảo đảm
tiền vay bằng tài sản tại các NHTM như: Chính sách bảo đảm tiền vay bằng
tài sản, phương pháp định giá tài sản cũng như những nhân tố ảnh hưởng
Trên cơ sở đó, tác giả đã đánh giá toàn diện thực trạng và những rủi ro trong
hoạt động tín dụng, phân tích chính sách bảo đảm tiền vay, đánh giá về thực
Trang 16trạng và kết quả trong công tác bảo đảm tiền vay, tìm ra được nguyên nhân của những mặt còn hạn chế trong công tác này Từ đó, tác giả cũng đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hơn
Bên cạnh các luận văn có nội dung liên quan, tôi đã tham khảo một số các bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành như:
- Tạp chí phát triển và hội nhập, Số 6 – Tr.16 - Tháng 9-10/2013, bài viết
“V ấn đề tài sản bảo đảm tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay”
của Hồ Thiên Thanh và Tiến sỹ Nguyễn Trí Đức
- Tạp chí Ngân hàng, Số 8, Tr 23 – 26 - Tháng 4/2013 bài viết “Quy
trình x ử lý tài sản bảo đảm nợ vay tại các chi nhánh ngân hàng thương mại
c ổ phần trên địa bàn thành phố Đà Nẵng - tồn tại và giải pháp khắc phục”
của Thạc sỹ Mai Thị Quỳnh Như
- Tạp chí Phát triển và Hội nhập, Số 7, Tr.17 - Tháng 11-12/2012, bài
viết “Hoạt động thẩm định giá trong việc quản lý nợ xấu tại hệ thống ngân
hàng th ương mại Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Kim Đức
Nhìn chung, các đề tài cũng như các bài báo liên quan đã hệ thống một cách khái quát về TSBĐ nợ vay, các biện pháp mà các NHTM hiện nay đang
áp dụng để bảo đảm an toàn cho khoản cấp tín dụng của mình Bên cạnh đó, cũng nêu lên vai trò, những khó khăn, hạn chế và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác cho vay có bảo đảm của các NHTM mà đặc biệt trong đó là bảo đảm bằng tài sản Tuy nhiên, phần cơ sở lý luận các đề tài còn chưa làm rõ các tiêu chí đánh giá cụ thể hoặc chỉ là những chỉ tiêu định lượng thiếu đi các chỉ tiêu định tính; hoặc nếu có thì còn thiếu đi một số chỉ tiêu quan trọng khác Trong phần phân tích thực trạng thì chưa nêu rõ sự ảnh hưởng của các nhân tố được trình bày ở chương 1, phân tích chưa sâu các nguyên nhân dẫn đến những mặt còn hạn chế trong công tác bảo đảm tiền vay
từ đó phần đề xuất những giải pháp còn khá nghèo nàn
Trang 171.1.1 Khái niệm về bảo đảm tiền vay
Trong xu thế hội nhập Quốc tế của đất nước, hệ thống ngân hàng thương mại nước ta đang đứng trước những cơ hội phát triển, áp dụng những tiến bộ của nhân loại trên thế giới, bên cạnh những thách thức to lớn, để có thể tồn tại và phát triển vững mạnh các ngân hàng trong nước phải nhanh chóng hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của mình để đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường Nhưng môi trường cạnh tranh càng lớn sẽ tiềm ẩn khả năng rủi ro cao, đặc biệt là hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn
tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng, trong đó cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác Theo đó nếu như nguyên tắc hoàn trả
bị vi phạm thì rủi ro tín dụng xảy ra Đó là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng Cụ thể là khách hàng không trả, không trả đầy đủ đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng Do vậy quan hệ tín dụng thường được thể hiện bằng các hợp đồng tín dụng, trong đó đưa ra các điều khoản thi hành, các cam kết mà hai bên tự nguyện thỏa thuận theo quy định của pháp luật Như vậy bảo đảm tiền vay được hình thành trên cơ sở hợp đồng tín dụng là việc ngân hàng áp dụng các biện pháp đối với khách hàng để khoản vay có
Trang 18Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ban hành ngày 29/12/1999 của chính phủ thì bảo đảm tiền vay được định nghĩa như sau:
“B ảo đảm tiền vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm
phòng ng ừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ
đã cho khách hàng vay” Như vậy thực chất của bảo đảm tiền vay là một trong những biện pháp để phòng ngừa rủi ro của TCTD, theo đó TCTD đưa ra các hình thức bảo đảm thích hợp áp dụng cho từng đối tượng khách hàng và biện pháp xử lý các bảo đảm đó nhằm hạn chế tổn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra
1.1.2 Vai trò của bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
Bảo đảm tiền vay là biện pháp để hạn chế rủi ro tín dụng, là cơ sở để bảo đảm an toàn cho hoạt động tín dụng nói riêng và hoạt kinh doanh của ngân hàng thương mại nói chung:
- Bảo đảm tiền vay là cơ sở bảo đảm an toàn cho hoạt động cho vay của các TCTD Trong cơ chế thị trường, sự ra đời và phát triển của các loại hình ngân hàng, các TCTD cùng với sự đa dạng của các hoạt động và các hình thức tín dụng đã tạo nên một thị trường tín dụng sôi động Nhưng điều đó cũng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro có thể xảy ra với các ngân hàng mà khả năng ngăn ngừa chống đỡ kém Hơn nữa, ngành ngân hàng là một ngành kinh
tế nhạy cảm, hoạt động ngân hàng với bản chất của nó chịu ảnh hưởng của rất nhiều loại rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng Rủi ro trong hoạt động tín dụng là tình trạng người đi vay không có khả năng hoàn trả được lãi hoặc gốc, hoặc cả lãi và gốc một cách đầy đủ, đúng hạn cho TCTD Nguyên nhân có thể là do hoạt động kinh doanh thua lỗ nên khách hàng không đủ tài chính để trả nợ, thậm chí có một số trường hợp người đi vay có khả năng tài chính nhưng chây
ỳ không trả nợ, hoặc tìm cách lừa đảo chiếm đoạt vốn ngân hàng Vì thế pháp
Trang 19luật của hầu hết các nước đều có quy định cụ thể về an toàn trong hoạt động tín dụng, theo đó các TCTD khi cấp tín dụng đều phải tuân thủ những điều kiện nhất định Thông thường để có thể tránh những rủi ro không trả được nợ của người đi vay, các ngân hàng quy định các điều kiện vay vốn, trong đó bảo đảm tiền vay được xem là một trong những điều kiện quan trọng nhất Bản chất của bảo đảm tiền vay là sử dụng những TSBĐ để trả nợ thay cho các khoản vay mà người vay đã dùng vào sản xuất kinh doanh nhưng không có khả năng trả nợ ngân hàng Như vậy tài sản làm bảo đảm tiền vay phải có giá trị, tức nó phải là hàng hoá và có thị trường tiêu thụ để thực hiện nghĩa vụ trả
nợ Do đó khi có rủi ro xảy ra thì TCTD có thể thu hồi được vốn thông qua tài sản mà bên vay đã dùng làm vật bảo đảm ngay cả trong trường hợp bên đi vay không có khả năng trả nợ, bảo đảm an toàn cho hoạt động cho vay
- Kích thích hoạt động cho vay của các NHTM: NHTM thực hiện hoạt động tín dụng trên cơ sở nguồn vốn huy động là chủ yếu, tức ngân hàng đi vay để cho vay Thông qua việc đi vay để cho vay này, ngân hàng phân phối các nguồn vốn cho các nhu cầu đầu tư của nền kinh tế Các quy định về bảo đảm tiền vay có tác dụng rất quan trọng trong việc kích thích hoạt động cho vay của các NHTM bởi vì nếu các bên tham gia quan hệ tín dụng ngân hàng tuân thủ các điều kiện vay vốn, đặc biệt là điều kiện về bảo đảm tiền vay thì rủi ro tín dụng sẽ được loại trừ
- Bảo đảm tiền vay có vai trò quan trọng trong việc hạn chế tranh chấp xảy ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia trong quan hệ tín dụng ngân hàng: bảo đảm tiền vay bằng tài sản được thể hiện bằng các hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh gọi chung là các giao dịch bảo đảm Bên trong các hợp đồng tín dụng, ngân hàng có quyền thoả thuận áp dụng biện pháp bảo đảm cũng như thoả thuận các điều khoản trong giao dịch bảo đảm Các giao dịch bảo đảm này là căn cứ pháp lý quan trọng để giải quyết tranh
Trang 20chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng ngân hàng
Do đó các tranh chấp được hạn chế, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động cho vay vốn của các NHTM cũng như sự phát triển của kinh tế – xã hội
1.1.3 Các hình thức bảo đảm tiền vay
Khách hàng đến với ngân hàng ngày càng đa dạng với nhu cầu ngày càng cao, do đó để phục vụ tốt hơn các ngân hàng cần sử dụng linh hoạt các hình thức bảo đảm tiền vay Mặc khác, mức độ rủi ro của các khoản vay là khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố như: thời gian, mục đích sử dụng vốn vay, tư cách của chủ thể vay vốn…nên đối với mỗi khoản vay, ngân hàng sẽ đưa ra biện pháp bảo đảm tiền vay thích hợp Thông thường có hai biện pháp bảo đảm tiền vay mà ngân hàng áp dụng đối với khách hàng khi vay vốn ngân hàng là bảo đảm tiền vay bằng tài sản và bảo đảm tiền vay không bằng tài sản Tuỳ từng khách hàng mà ngân hàng sẽ áp dụng biện pháp nào cho phù hợp bảo đảm an toàn và sinh lợi cho ngân hàng
a Bảo đảm tiền vay không bằng tài sản
Bảo đảm tiền vay không bằng tài sản là hình thức ngân hàng thương mại cho vay dựa trên uy tín, năng lực tài chính của khách hàng hoặc của người bảo lãnh mà không đòi hỏi phải có tài sản bảo đảm cho các khoản vay của người đi vay hay của bên thứ ba Ngân hàng cho vay với mức độ khác nhau tùy thuộc vào tín nhiệm của khách hàng hoặc cho vay theo chỉ thị của Chính Phủ để thực hiện các dự án đầu tư thuộc các chương trình kinh tế trọng điểm đặc biệt của Nhà nước; các chương trình kinh tế - xã hội và đối với một
số khách hàng thuộc đối tượng được hưởng các chính sách tín dụng ưu đãi về điều kiện vay vốn theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ; hay cho các cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn có bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể, chính trị
Bảo đảm tiền vay không bằng tài sản tiềm ẩn rủi ro khá cao đối với
Trang 21ngân hàng, vì vậy mà ngân hàng phải rất thận trọng khi cho vay, để bảo đảm
an toàn thì khi cho vay ngân hàng nên đưa ra một số quy định đối với khách hàng vay hoặc bên thứ ba nếu xét thấy khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, hoặc có dấu hiệu kinh doanh không hiệu quả
b Bảo đảm tiền vay bằng tài sản
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản là việc cho vay của ngân hàng cho vay theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được bảo đảm thực hiện bằng tài sản của bên cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hoặc của bảo lãnh của bên thứ ba
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản cho phép ngân hàng có được nguồn thu
nợ thứ hai bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất (từ quá trình sản xuất kinh doanh) không có hoặc không đủ Do khách hàng luôn phải đối đầu với những rủi ro trong kinh doanh, có thể mất khả năng trả nợ cho ngân hàng do thu nhập từ hoạt động giảm sút mạnh Vì vậy trừ những khách hàng có uy tín cao ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải có tài sản bảo đảm khi vay vốn ngân hàng nhằm hạn chế bớt các thiệt hại cho ngân hàng khi khách hàng có khó khăn không trả được nợ
1.1.4 Nguyên tắc và đặc trưng của bảo đảm tiền vay
• Nguyên tắc
- Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm và chịu trách nhiệm về quyết định của mình
- Khách hàng vay được tổ chức tín dụng lựa chọn cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, nếu trong quá trình sử dụng vốn vay, tổ chức tín dụng phát hiện khách hàng vay vi phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng, thì tổ chức tín dụng có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài sản hoặc thu hồi nợ trước hạn
Trang 22- Tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định để thu hồi nợ khi khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết
- Sau khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh vẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, thì khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết
• Đặc trưng
Xét một cách khái quát thì bất kỳ tài sản hoặc quyền về tài sản được phép giao dịch mà có khả năng tạo ra lưu chuyển tiền tệ đều có thể dùng làm bảo đảm Tuy nhiên từ góc độ của người cho vay bảo đảm phải thể hiện được
ba đặc trưng cơ bản sau:
- Giá trị của bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm: bảo đảm tiền vay không chỉ là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng mà còn có ý nghĩa thúc dục người đi vay phải trả nợ nếu không họ sẽ mất tài sản Nhưng nếu giá trị bảo đảm nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm thì người vay dễ có động cơ không trả nợ vay Nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm: vốn gốc, lãi (kể cả lãi quá hạn) và các chi phí khác trừ trường hợp các bên có thỏa thuận lãi và các loại phí không thuộc phạm vi bảo đảm được thực hiện nghĩa vụ Do đó, việc yêu cầu giá trị của bảo đảm phải thích hợp là cần thiết để khách hàng có trách nhiệm hơn trong nghĩa vụ trả nợ
- Tài sản bảo đảm phải có thị trường tiêu thụ: mức độ thanh khoản của tài sản có ảnh hưởng đến lợi ích của người cho vay Tài sản có độ thanh khoản cao sẽ mất ít chi phí khi xử lý hơn và có thể thu hồi được vốn nhanh hơn, do đó dễ dàng được ngân hàng chấp nhận làm bảo đảm Ngược lại, mức
độ thanh khoản thấp tức tài sản khó bán, khả năng thu hồi vốn thấp sẽ khó được ngân hàng chấp nhận làm bảo đảm Tài sản có mức độ thanh khoản
Trang 23trung bình có thể được ngân hàng chấp nhận nhưng phải tính đến chi phí do kéo dài thời gian xử lý
- Tài sản bảo đảm phải có đầy đủ cơ sở pháp lý để người cho vay có quyền ưu tiên về xử lý tài sản Đặc trưng này phải thể hiện được các mặt sau: tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người đi vay hoặc bên bảo lãnh và được pháp luật cho phép giao dịch, đồng thời phải có đủ các cơ sở pháp lý để ngân hàng - chủ thể cho vay được quyền ưu tiên xử lý tài sản khi người đi vay không thanh toán đúng hạn
Như vây, dựa trên các nguyên tắc và đặc trưng của bảo đảm tiền vay để TCTD xem xét trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng bảo đảm tiền vay, đồng thời cũng giúp khách hàng vay vốn biết được những quyền lợi và nghĩa vụ của mình để thực hiện hợp đồng đúng như đã cam kết Tuy nhiên, trong từng hình thức bảo đảm tiền vay khác nhau mà ngân hàng có những quy định riêng phù hợp
1.2 BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm, vai trò của bảo đảm tiền vay bằng tài sản
a Khái niệm
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản là việc ngân hàng cho khách hàng vay với điều kiện khách hàng phải có tài sản để làm bảo đảm rằng nếu khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng sẽ có quyền xử lý tài sản
ấy để thu hồi nợ
Đối với công tác bảo đảm bằng tài sản NHTM cần quan tâm tới biện pháp bảo đảm tiền vay, loại tài sản bảo đảm, giá trị TSBĐ cho hoạt động tín dụng, mức độ biến động của tài sản bảo đảm tiền vay trong thời gian vay vốn
b Vai trò
- Việc các ngân hàng yêu cầu khách hàng của mình phải có tài sản bảo
Trang 24đảm khi đi vay là nhằm bảo đảm món tiền cho vay có thể thu hồi về được nhiều nhất và tránh rủi ro tín dụng có thể xảy ra do mất vốn Tức nó là biện pháp để bảo vệ quyền lợi của người cho vay
- Nâng cao trách nhiệm thực hiện cam kết trả nợ của bên đi vay TSBĐ cũng có ý nghĩa tác động đến việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng,
nó giúp nhắc nhở khách hàng đi vay phải có kế hoạch trả nợ cụ thể và phải chịu trách nhiệm về món vay của mình
- Bảo đảm bằng tài sản còn giúp ngân hàng phòng ngừa được gian lận
1.2.2 Các hình thức bảo đảm tiền vay bằng tài sản [9]
tố môi trường tự nhiên Đối với hàng hóa, ngân hàng thường chấp nhận các loại ít chịu tác động của môi trường trong thời gian cầm cố
* Các hình thức cầm cố
- Căn cứ cào tính chất quản lý thì tài sản cầm cố được chia thành 2 loại:
có đăng ký quyền sở hữu và không có đăng ký quyền sở hữu Đối với tài sản
có đăng ký quyền sở hữu thì tài sản có thể do bên cho vay, bên đi vay hoặc bên thứ 3 giữ theo thỏa thuận của bên đi vay và bên cho vay, ngược lại, đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu thì tài sản cầm cố phải được chuyển giao cho bên cho vay
- Ngoài ra cầm cố tài sản cũng được phân thành cầm cố công bằng và
Trang 25Nhiều tài sản của khách hàng trở thành bảo đảm cho các khoản tài trợ của ngân hàng song vẫn phải tham gia vào quá trình hoạt động Những tài sản này khách hàng không thể cầm cố Ví dụ như máy móc, trang thiết bị, nhà đất đang trong quá trình sử dụng, hàng hóa đang trong quá trình luân chuyển Các loại tài sản này thường cồng kềnh, phân tán Hơn nữa việc bán hay chuyển nhượng cũng không đơn giản
Bảo đảm bằng thế chấp cho phép người nhận tài trợ sử dụng tài sản bảo đảm phục vụ cho hoạt động kinh doanh, đó là một thuận lợi Tuy nhiên, quá trình sử dụng sẽ làm biến dạng tài sản, hơn nữa do khả năng kiểm soát TSBĐ của ngân hàng bị hạn chế, khách hàng có thể lợi dụng phân tán, làm giảm giá trị tài sản, gây thiệt hại cho ngân hàng
* Các hình thức thế chấp
- Căn cứ vào số lần thế chấp
+ Thế chấp thứ nhất: là việc thế chấp tài sản để bảo đảm cho khoản vay thứ nhất Cần lưu ý rằng thế chấp thứ nhất không phải là lần đầu tiên đem tài sản đi thế chấp cho một khoản vay, mà thế chấp thứ nhất được xác định trong một mối tương quan giữa các khoản vay có thế chấp, tức là việc sử dụng một tài sản làm bảo đảm cho nhiều khoản vay và thế chấp cho khoản vay đầu tiên đang tồn tại gọi là thế chấp thứ nhất
Trang 26+ Thế chấp thứ hai: là hình thức thế chấp trong đó người đi vay sử dụng
phần giá trị tài sản thế chấp và khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản đó để bảo
đảm cho khoản nợ thứ hai
- Căn cứ theo tính chất pháp lý:
+ Thế chấp pháp lý: là hình thức trong đó người đi vay thỏa thuận
chuyển quyền sở hữu cho ngân hàng khi không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ
+ Thế chấp công bằng: là hình thức thế chấp mà trong đó ngân hàng chỉ
nắm giữ giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản hay giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất để bảo đảm cho món vay
- Ngoài ra thế chấp tài sản còn phân thành: thế chấp trực tiếp và thế
chấp gián tiếp; thế chấp toàn bộ và thế chấp một phần bất động sản
c Bảo đảm bằng tài sản hình thành trong tương lai
* Khái niệm: Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản thuộc sở hữu
của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm
được giao kết
Tài sản hình thành từ vốn vay dùng làm TSBĐ tiền vay phải có các
điều kiện: xác định được quyền sở hữu hoặc quyền quản lý, sử dụng; có căn
cứ để xác định được giá trị, số lượng và phải dễ chuyển nhượng; phải được
phép giao dịch, chuyển nhượng theo quy định của pháp luật; với tài sản mà
pháp luật có quy định phải mua bảo hiểm thì khách hàng vay phải mua bảo
hiểm trong suốt thời gian vay vốn khi tài sản đã được hình thành đi vào
sử dụng
* Các hình thức bảo đảm bằng tài sản hình thành trong tương lai:
Đây thực chất cũng là bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế chấp nhưng chỉ
khác là tại thời điểm ký kết, giải ngân vốn vay tài sản đó chưa được hình
Trang 27thành mà tài sản đó hình thành dần trong quá trình sử dụng vốn
d Tài sản bảo đảm thuộc sở hữu của bên thứ ba
* Khái niệm: Bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba là việc bên thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với TCTD cho vay (bên nhận bảo lãnh) về việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay khách hàng vay khi khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ
Bên bảo lãnh chỉ được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình TCTD và bên bảo lãnh có thể thỏa thuận biện pháp cầm cố, thế chấp tài sản của bên bảo lãnh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
* Các hình thức bảo lãnh
- Bảo lãnh có bảo đảm bằng tài sản hoặc bằng uy tín
+ Bảo lãnh có bảo đảm bằng tài sản là bên bảo lãnh phải có tài sản để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh Đây là hình thức bảo đảm kép nhằm để phòng khi người bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ thì ngân hàng có thể xử lý tài sản kèm theo bảo lãnh
+ Bảo lãnh bằng uy tín là hình thức bảo lãnh chỉ dựa vào uy tín của người bảo lãnh
- Bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ: Người bảo lãnh có thể bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ số nợ phải thanh toán cho ngân hàng Trong trường hợp bảo lãnh một phần thì phải ghi rõ số tiền bảo lãnh Những trường hợp pháp luật quy định cho vay phải có bảo đảm thì chỉ áp dụng bảo lãnh một phần trong trường hợp phần còn lại phải có tài sản cầm cố hoặc thế chấp, nếu không bắt buộc phải có bảo lãnh toàn bộ
- Bảo lãnh riêng biệt và bảo lãnh duy trì: Bảo lãnh riêng biệt được áp
Trang 28dụng cho một số tiền vay cụ thể theo hợp đồng tín dụng Bảo lãnh duy trì là bảo lãnh cho một loạt các giao dịch và mức bảo lãnh theo hạn mức tối đa
1.2.3 Nội dung công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản của Ngân hàng thương mại
a Chính sách bảo đảm tiền vay của ngân hàng thương mại
Nội dung đầu tiên và quan trọng nhất trong công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản là việc tổ chức thực hiện công tác bảo đảm tiền vay, bao gồm ban hành các quy định, quy trình thực hiện theo từng công đoạn, phân công thực hiện tiếp cận hồ sơ của từng khách hàng cá nhân, doanh nghiệp gắn với từng công đoạn Để thực hiện tốt việc này, ngân hàng phải thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau :
+ Các phòng ban chức năng tại hội sở chính đầu mối phối hợp soạn thảo văn bản hướng dẫn thống nhất trong toàn hệ thống về bảo đảm tiền vay,
từ khâu xem xét, thẩm định, đánh giá, chấp nhận biện pháp bảo đảm và tài sản bảo đảm cũng như kiểm tra, rà soát, đánh giá lại tài sản và xử lý tài sản, dựa vào đó các chi nhánh có cơ sở căn cứ thực hiện bảo đảm tiền vay theo đúng quy trình
+ Ban hành quy định về bảo đảm tiền vay áp dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng, của ngân hàng đối với khách hàng
+ Quy định về quy trình, trình tự thực hiện công tác bảo đảm tiền vay đối với khách hàng, trong đó quy định rõ trách nhiệm thực hiện cho từng cá nhân, tập thể thực hiện công tác này theo từng khâu, từng công đoạn thực hiện
+ Xây dựng, ban hành các chỉ tiêu đánh giá tính hợp lệ, hợp pháp và hướng dẫn đánh giá khả năng phát mại của TSBĐ, nhằm xác định giá trị khấu trừ của TSBĐ phục vụ công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng xử lý rủi
ro tín dụng theo quy định 493 của NHNN
Trang 29+ Xây dựng, ban hành danh mục, biện pháp bảo đảm và hệ số giá trị TSBĐ nhằm xác định mức cho vay
+ Quy định về định kỳ, đột xuất kiểm tra, rà soát đánh giá TSBĐ nợ vay tại chi nhánh Kiểm tra kết quả công tác bảo đảm tiền vay nhằm khắc phục kịp thời các tồn tại thiếu xót trong quá trình thực hiện
+ Tại các chi nhánh, các bộ phận, các cá nhân được phân công triển khai thực hiện phải tuân thủ theo những quy định đã được ban hành
b Quy trình thực hiện
- Tổ chức tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ vay vốn có bảo đảm bằng tài sản
Bộ phận tín dụng là người tiếp xúc và hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ bảo đảm tiền vay bằng tài sản Trong quá trình này bộ phận tín dụng có trách nhiệm xác định sơ bộ tính pháp lý, mức độ khả dụng của tài sản có phù hợp với điều kiện nhận bảo đảm tại ngân hàng và quy định của pháp luật, trong trường hợp:
- Nếu tài sản không đủ điều kiện dùng để bảo đảm thì thông báo cho khách hàng và đề nghị đổi tài sản khác
- Nếu tài sản đủ điều kiện thì bộ phận tín dụng gửi giấy đề nghị (kèm bản sao các giấy tờ sở hữu tài sản) cho bộ phận thẩm định
- Thẩm định tài sản bảo đảm
Thẩm định tài sản bảo đảm là việc mà các ngân hàng sử dụng các công
cụ và phương tiện kỹ thuật nhằm đánh giá được giá trị của TSBĐ mà khách hàng dùng bảo đảm cho khoản vay Thẩm định tài sản là một khâu hết sức quan trọng trong quy trình cho vay Để thẩm định, cán bộ QHKH căn cứ vào các thông tin làm cơ sở cho việc thẩm định:
- Hồ sơ tài liệu và thông tin do khách hàng cung cấp
- Thông tin lưu trữ tại ngân hàng
- Các cơ quan có thẩm quyền cấp các loại giấy tờ liên quan tới TSBĐ
Trang 30- Các nguồn thông tin khác: từ các tổ chức thông tin chuyên môn, chính quyền địa phương, công an, đối thủ cạnh tranh của khách hàng…
N ội dung thẩm định:
• Thẩm định bên bảo đảm
- Bên bảo đảm phải có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi theo quy định của pháp luật Cụ thể đối với tổ chức thì phải đủ tư cách pháp nhân, đối với thể nhân thì đủ tuổi quy định, không bị hạn chế quyền công dân, không mắc các bệnh về tâm thần
- Bên bảo đảm phải có đủ thẩm quyền về việc sử dụng tài sản đó để cầm cố thế chấp
- Bên bảo đảm phải có tài sản bảo đảm được pháp luật công nhận quyền
sở hữu, sử dụng hợp pháp để cầm cố, thế chấp
- Đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích thì chỉ được sử dụng tài sản được giao quản lý để thế chấp, cầm cố khi được cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp đó cho phép bằng văn bản Đối với công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn thì thẩm quyền cho phép sử dụng tài sản thế chấp, cầm cố là hội đồng quản trị, hội đồng thành viên Thậm chí tùy thuộc vào điều lệ của công ty cổ phần mà tùy từng mức độ, giá trị tài sản thế chấp, cầm cố phải được thông qua đại hội cổ đông
• Thẩm định tài sản bảo đảm
- Thẩm định giá trị pháp lý của tài sản bảo đảm nợ vay:
+ Xem xét tính hợp pháp của tài sản, có thuộc loại tài sản cấm hay không? + Tài sản có đang cầm cố, thế chấp ở một TCTD nào khác hay không? + Có bị tranh chấp pháp lý hay không?
- Thẩm định về tính sở hữu của tài sản: phải trả lời được câu hỏi tài sản thuộc sở hữu của ai?
Trang 31Đối với các loại tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì việc xác định tính
sở hữu của TSBĐ thông qua việc kiểm tra giấy tờ sở hữu tài sản Còn đối với những loại tài sản không đăng ký quyền sở hữu thì ngân hàng cần xem xét tính sở hữu của TSBĐ từ các nguồn thông tin khác như: tham khảo ý kiến của trung tâm phòng ngừa rủi ro…
- Thẩm định về tính hiện hữu của tài sản: Tài sản có thực sự tồn tại hay không, số lượng và chất lượng như thế nào?
- Thẩm định giá trị của TSBĐ: giá trị của tài sản là bao nhiêu? Bộ phận định giá thông báo cho bộ phận tín dụng thời gian đi định giá và yêu cầu bổ sung hồ sơ tài sản ( nếu có)
- Thẩm định về khả năng phát mại của tài sản: tính thanh khoản của tài sản đó như thế nào, về thị trường tiêu thụ, dự đoán trong tương lai có nhiều loại tài sản khác thay thế hay không?
- Thẩm định khả năng quản lý và kiểm soát của ngân hàng đối với TSBĐ
- Thẩm định khả năng giảm giá TSBĐ
- Định giá TSBĐ và xác định mức cho vay
Định giá có vai trò quan trọng trong việc giúp các ngân hàng đưa ra các quyết định về xác định mức cho vay
• Định giá tài sản bảo đảm
Nguyên t ắc định giá:
- TSBĐ phải được định giá tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm Đây
là cơ sở để ngân hàng xác định mức cho vay hợp lý
- Việc xác định giá trị TSBĐ phải được lập thành văn bản riêng hoặc ghi vào hợp đồng tín dụng Nguyên tắc này tạo ra sự chặt chẽ trong giao dịch bảo đảm Bên cạnh đó, việc định giá tại thời điểm ký kết chỉ là cơ sở để đưa ra mức vay vốn chứ không phải là cơ sở cho việc xử lý thu hồi nợ do trong thực tế thị trường luôn biến động và giá trị của tài sản cũng tăng giảm theo thời gian
Trang 32- Giá trị của TSBĐ lớn hơn hoặc bằng tổng giá trị nghĩa vụ trả nợ được bảo đảm trừ trường hợp có quy định khác
- Tài sản phải thường xuyên được định giá lại sau một khoảng thời gian nhất định tùy vào đặc điểm của từng loại tài sản
Phương pháp này áp dụng trong các trường hợp định giá các tài sản có tính đồng nhất như: các căn hộ, các chung cư, các dãy nhà được xây dựng cùng một kiểu, các ngôi nhà riêng biệt và bán riêng biệt, các phân xưởng và các nhà kho trên một mặt bằng, các nhóm văn phòng và các nhóm cửa hiệu, các mảnh đất trống
- Phương pháp chi phí: là phương pháp thẩm định giá dựa trên cơ sở chi phí tạo ra một tài sản tương tự tài sản cần thẩm định giá để xác định giá trị thị trường của tài sản cần thẩm định giá
Phương pháp này áp dụng trong các trường hợp định giá các loại tài sản chuyên dụng, ít hoặc không mua bán trên thị trường; tài sản đã qua sử dụng; các loại tài sản không đủ các yếu tố để sử dụng phương pháp so sánh
- Phương pháp thu nhập: là phương pháp thẩm định giá dựa trên cơ sở chuyển đổi các dòng thu nhập ròng trong tương lai có thể nhận được từ việc khai thác tài sản thành giá trị hiện tại của tài sản (quá trình chuyển đổi này
Trang 33còn được gọi là quá trình vốn hóa thu nhập) để ước tính giá trị thị trường của tài sản cần thẩm định giá
Phương pháp này áp dụng định giá trong lĩnh vực đầu tư để lựa chọn phương án đầu tư, định giá những tài sản mà có thể dự đoán được thu nhập ròng các năm trong tương lai
- Phương pháp thặng dư: là phương pháp thẩm định giá mà giá trị thị trường của tài sản cần thẩm định giá được xác định căn cứ vào giá trị vốn hiện
có bằng cách lấy giá trị ước tính của sự phát triển giả định của tài sản (tổng doanh thu) trừ đi tất cả các chi phí phát sinh để tạo ra sự phát triển đó Phương pháp thặng dư chủ yếu được áp dụng trong định giá bất động sản có tiềm năng phát triển
- Phương pháp lợi nhuận là phương pháp thẩm định giá dựa trên khả năng sinh lợi của việc sử dụng tài sản để ước tính giá trị thị trường của tài sản cần thẩm định giá Phương pháp này được áp dụng trong định giá các tài sản
mà việc so sánh với những tài sản tương tự gặp khó khăn do giá trị của tài sản chủ yếu phụ thuộc vào khả năng sinh lợi của tài sản như khách sạn, nhà hàng, rạp chiếu phim…
• Xác định mức cho vay
Sau khi xác định giá trị của TSBĐ, ngân hàng sẽ tiến hành cho vay dựa trên giá trị của tài sản và nhu cầu vốn của người vay để bảo đảm an toàn vốn cho ngân hàng và để cho khách hàng có khả năng hoàn trả nợ đúng hạn mà vẫn hoạt động kinh doanh có hiệu quả Giá trị của TSBĐ sẽ bao gồm: Mức cho vay tối đa, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, các chi phí phát sinh khác
và phần chênh lệch giữa thời điểm định giá và thời điểm xử lý tài sản
- Ký kết hợp đồng bảo đảm, thực hiện giao nhận tài sản và (hoặc) chứng từ
Sau khi thẩm định và định giá tài sản, hai bên thỏa thuận các điều kiện
Trang 34về tín dụng, bộ phận tín dụng có nhiệm vụ soạn thảo hợp đồng bảo đảm tiền vay trình cấp có thẩm quyền hoặc người được ủy quyền ký Các điều khoản
về bảo đảm tiền vay của khách hàng chỉ có giá trị pháp lý khi được thể hiện bằng một hợp đồng bảo đảm thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia Tùy theo từng hình thức và loại TSBĐ mà hợp đồng bảo đảm có thể nằm trong hợp đồng tín dụng hoặc có thể lập thành hợp đồng bảo đảm riêng Đối với TSBĐ hình thành từ vốn vay, khi tài sản đã đưa vào sử dụng các bên phải lập phụ lục hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay, trong đó
mô tả đặc điểm và xác định giá trị tài sản
Tùy theo hình thức bảo đảm mà hợp đồng bảo đảm tiền vay phải có những thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật như công chứng hợp đồng bảo đảm hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Khi hợp đồng bảo đảm đã được ký kết, các bên tham gia hợp đồng hoặc người được ủy quyền tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm sau đó giao tài sản
hoặc chứng từ cho ngân hàng hoặc bên thứ ba tùy theo thỏa thuận
- Quản lý tài sản và chứng từ
Quản lý tài sản và chứng từ bao gồm việc theo dõi, kiểm tra đánh giá nhằm bảo đảm cho tài sản, các giấy tờ vẫn trong tình trạng bình thường hoặc kịp thời phát hiện các sự cố liên quan Nếu phát hiện kịp thời khách hàng hay bên thứ ba vi phạm hợp đồng ngân hàng cần thực thi các biện pháp thích hợp
Trường hợp TSBĐ do khách hàng quản lý và sử dụng thì định kỳ cần kiểm tra theo các nội dung: tình trạng hiện tại của tài sản, số lượng, chất lượng, chất lượng so với hiện trạng khi nhận tài sản, tình hình sử dụng và bảo quản, các trường hợp vi phạm hợp đồng bảo đảm của khách hàng, bên thứ ba
- Xử lý hoặc giải chấp tài sản
Khi khách hàng thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi, ngân hàng sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc TSBĐ cho người vay đồng thời lập
Trang 35giấy xác nhận giải tỏa TSBĐ cho người vay để gửi tới các đơn vị có liên quan, tiến hành thanh lý hợp đồng bảo đảm, đồng thời tiến hành thông báo giải chấp tới các phòng ban như: phòng công chứng, trung tâm đăng ký giao dịch động sản…
Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ khi đến hạn, ngân hàng có thể tiến hành xử lý TSBĐ theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm Trường hợp các bên không xử lý được TSBĐ theo phương thức đã thỏa thuận thì các bên buộc phải xử lý tại tòa
V ề phương thức xử lý : Nếu các bên có thỏa thuận thì TSBĐ nợ vay có
thể xử lý theo một trong các phương thức sau đây:
1.2.4 Các tiêu chí phản ánh kết quả công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản của ngân hàng thương mại
a Quan niệm về hiệu quả công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản
NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, mục tiêu hoạt động thì nhiều và hiệu quả công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản là một trong những
Trang 36mục tiêu quan trọng mà ngân hàng luôn hướng tới Có thu hồi được nợ cho
vay, có lãi, ngân hàng mới tiếp tục có vốn để tiếp tục kinh doanh, không
ngừng nâng cao uy tín và chất lượng của mình trên thương trường, tìm tòi ra
những hình thức dịch vụ mới phục vụ khách hàng được tốt hơn từ đó thúc đẩy
nền kinh tế phát triển Đây chính là mục tiêu hoạt động ngay từ khi NHTM
mới thành lập Công tác bảo đảm tiền vay là việc các NHTM áp dụng các biện
pháp bảo đảm để nắm giữ các tài sản bảo đảm tiền vay của bên đi vay bằng
các bước quy trình nghiệp vụ kể từ lúc nhận TSBĐ cho đến khi hoàn trả lại nó
cho khách hàng hoặc ngân hàng phải xử lý TSBĐ để thu hồi nợ Công tác bảo
đảm tiền vay được đánh giá có hiệu quả khi ngân hàng cẩn thận, có trách
nhiệm cao trong hoạt động của mình, tất cả các khâu từ thẩm định, đánh giá,
phân tích tài chính cho đến ước lượng những biến động trong tương lai, quản
lý, định giá TSBĐ Điều này cũng biểu hiện là ngân hàng hiểu khách hàng và
công việc của họ, có trách nhiệm với khoản cho vay của mình, chịu khó thâm
nhập tìm hiểu kỹ thị trường Thu hồi được nợ cho vay để tái cho vay, tránh
được tình trạng thua lỗ, kể cả nguy cơ đổ vỡ Và điều quan trọng nhất là khi
đạt được hiệu quả trong công tác bảo đảm tiền vay thì ngân hàng mới có tiền
để trả nợ lãi cho những người gửi tiền, cho những tổ chức đoàn thể, cho các
khoản vay từ ngân hàng Trung ương và các TCTD khác Từ đó mới có thể thu
hút huy động vốn cho hoạt động kinh doanh của mình không ngừng phát triển
b Các tiêu chí phản ánh
i T ỷ lệ dư nợ cho vay có bảo đảm bằng tài sản so với tổng dư nợ
Dư nợ có TSBĐ
Tỷ lệ dư nợ có TSBĐ
trên tổng dư nợ = Tổng dư nợ x 100%
Chỉ tiêu này có ý nghĩa nói lên có bao nhiêu % dư nợ của TCTD được
bảo đảm bằng tài sản Chỉ tiêu này càng cao càng tốt vì khi đó khoản vay sẽ
Trang 37được bảo đảm an toàn hơn Thông thường tỷ lệ này trong khoảng 60% đến 80% là tốt Các ngân hàng luôn muốn tỷ lệ dư nợ có TSBĐ trên tổng dư nợ cao vì tỷ lệ này càng cao càng bảo đảm khoản vốn mà ngân hàng đã cho vay
sẽ thu hồi được nhiều nhất, giảm tỷ lệ rủi ro xuống mức thấp nhất
Tuy nhiên với tình hình kinh tế hiện nay thì không phải lúc nào tỷ lệ này cao cũng là tốt Vì nó sẽ hạn chế khả năng kinh doanh của ngân hàng, đánh mất những khách hàng tiềm năng Đây chính là trở ngại lớn nhất đối với các ngân hàng có chính sách kinh doanh thận trọng
ii C ơ cấu dư nợ theo hình thức bảo đảm tiền vay bằng tài sản
cố do hai hình thức bảo đảm này có mức độ an toàn cao hơn Tuy nhiên trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay thì các ngân hàng cần
mở rộng và phát triển đồng đều cả bốn hình thức bảo đảm trên
iii T ỷ lệ nợ xấu có bảo đảm bằng tài sản
Nợ xấu bảo đảm bằng tài sản
Trang 38xấu đối với khoản cho vay của mình Đối với khoản cho vay có tài sản bảo đảm mà vẫn có nợ xấu điều đó chứng tỏ rằng ngân hàng có nguy cơ sử dụng TSBĐ làm nguồn thu nợ thứ hai, công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản không tác động nhiều đến tâm lý của khách hàng trong việc trả nợ ngân hàng
iv T ỷ lệ trích lập dự phòng xử lý rủi ro cụ thể so với dư nợ có bảo đảm
b ằng tài sản
(DN quá hạn- giá trị TSBĐ)* tỷ lệ
ro sẽ thấp Vì vậy, đây là nguồn thu nợ dự phòng của ngân hàng trong trường hợp khách hàng không trả hoặc cố tình không trả
v M ức độ tổn thất, thiệt hại về vốn trong cho vay có ĐB bằng tài sản
Nợ xấu đã XLRR sau 5 năm không thu hồi được
Trang 39hàng thu hồi được nhờ việc thẩm định giá, đánh giá tính thanh khoản của tài sản cũng như việc quản lý tài sản….được cán bộ ngân hàng thực hiện khá tốt
và ngược lại
vi M ột số chỉ tiêu khác
Ngoài các chỉ tiêu cơ bản trên còn có một số chỉ tiêu khác cũng đánh giá chất lượng bảo đảm tiền vay bằng tài sản như: mức độ tuân thủ trình tự, thủ tục bảo đảm tiền vay, tuân thủ mức cho vay tương ứng với tỷ lệ tài sản bảo đảm; khả năng phát mại của TSBĐ: tài sản dễ phát mại, bình thường hay khó phát mại…
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Bảo đảm tiền vay là công tác để phòng ngừa rủi ro cho ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ Công tác này có được thực hiện hiệu quả hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cụ thể:
1.3.1 Các nhân tố bên trong ngân hàng
a Khả năng đánh giá khách hàng của Ngân hàng
Việc đánh giá khách hàng dựa trên khả năng thu thập và xử lý thông tin liên quan đến khách hàng vay Những thông tin chính xác về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, về tư cách vay vốn của khách hàng, dự báo về xu hướng sử dụng vốn vay của khách hàng sẽ là nền tảng cho việc thẩm định khách hàng Trên cơ sở đó, ngân hàng có thể đưa ra quyết định cho vay có bảo đảm dưới hình thức nào cho phù hợp
Để có thể cho vay, dù một khoản vay nhỏ hay lớn đều cần phải qua các công đoạn như thẩm định, quyết định cho vay, giải ngân, theo dõi, kiểm tra trong quá trình sử dụng vốn vay cho đến khi thu hồi được nợ và lãi Trong đó,
có thể nói thẩm định, đánh giá khách hàng là khâu rất quan trọng Nếu khâu này được thực hiện không tốt thì nó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ
Trang 40hoạt động cho vay nói chung và hoạt động bảo đảm tiền vay nói riêng Ví dụ như một khách hàng tốt được kết luận rằng khách hàng đó ở mức trung bình hoặc không tốt lắm khi đó dẫn đến chính sách cho vay của ngân hàng trở nên khắt khe hơn, gây mất thiện cảm của khách hàng đối với ngân hàng hoặc có thể dẫn đến mất khách hàng tiềm năng Ngược lại, có những khách hàng không tốt lại được đánh giá tốt dẫn đến giảm sự phòng ngừa rủi ro của ngân hàng, khả năng gây ra tổn thất cho ngân hàng là rất lớn
b Chiến lược kinh doanh, mục tiêu của ngân hàng
Trong mỗi giai đoạn, ngân hàng đều có những chính sách cho vay cụ thể,
có thể là mở rộng hay thắt chặt Đây là một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động bảo đảm tiền vay Nếu ngân hàng muốn đẩy mạnh hoạt động tín dụng,
sẽ mở rộng danh mục TSBĐ cũng như linh hoạt hơn trong công tác bảo đảm tiền vay nhưng vẫn phải bảo đảm an toàn Ngược lại, khi ngân hàng muốn thu hẹp quy
mô tín dụng, ngoài công cụ là chính sách lãi suất thì việc sử dụng những quy định khắc khe hơn về TSBĐ cũng là một công cụ sử dụng vô cùng hiệu quả
c Khả năng đánh giá và theo dõi tài sản bảo đảm
• Chất lượng công tác định giá TSBĐ
Để cạnh tranh, các ngân hàng không ngừng đưa ra nhiều chính sách ưu đãi, các gói sản phẩm, dịch vụ mới…một trong số đó là chính sách về tài sản bảo đảm - ngày càng đa dạng, phong phú hơn, với chính sách linh hoạt, thông thoáng hơn, đồng nghĩa với đó là yêu cầu việc định giá tài sản bảo đảm phải được tiến hành cẩn thận, chính xác hơn Vì bản thân TSBĐ đã rất khó để định giá cùng với những biến động khó dự đoán của thị trường thì công việc định giá lại trở nên khó khăn gấp bội Nếu công việc định giá không được thực hiện tốt, việc định giá cao hay thấp đều ảnh hưởng đến hoạt động bảo đảm tiền vay của ngân hàng Nếu định giá TSBĐ cao hơn giá trị thực tế của nó sẽ dẫn đến rủi ro cho ngân hàng khi phải xử lý TSBĐ, ngược lại định giá thấp